Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Wednesday, November 7, 2012

CHÙM THƠ NGUYỄN THANH BÁ



SẮN  KHOAI

Bóng mẹ nhoà trong đám sương mai
Đồng xa rướn bước - sải chân dài
Đầu xuân vừa nghỉ ba ngày tết
Tất tả ra đồng trồng sắn khoai

Mẹ bảo: “Sắn khoai vàng kẻ khó"
Phòng mà độ nhật buổi giêng hai
Lúa không giáp hạt - nhờ chất độn
Để kéo cho qua hết tháng ngày

Tôi lớn lên từ củ sắn, củ khoai
Cố công học tập kiếm tương lai
Bây giờ hết cảnh cơm khoai độn
Vẫn nhớ ngày xưa mẹ miệt mài

Sơn hào hải vị vẫn không bằng
Khoai sắn ngày nào mẹ mớm ăn
Chan chứa hương nồng tình nghĩa mẹ
Mẹ ơi ! khoai sắn quý hơn vàng.


MƯA

Ra về - trời chợt đổ cơn mưa
Ướt áo em rồi - Tội nghiệp chưa!
Đường xóm dẫy bùn chân vội vã
Tre làng oằn ngọn gió đong đưa
Lom khom bấm gót đôi giày mỏng
Khúm núm che đầu vạt áo thưa
Ta cũng dầm thân trong biển nước
Lòng thương em biết mấy cho vừa!

NGUYỄN THANH BÁ
thanhbaxabang@yahoo.com.vn

READ MORE - CHÙM THƠ NGUYỄN THANH BÁ

BÌNH YÊN CUỐI ĐỜI - thơ Hoàng Yên Lynh




Về đây câu nhớ câu thương
Mái nhà loang nắng mãnh vườn ven sông
Tháng Năm lúa trĩu ngoài đồng
Rộn ràng khúc hát thong dong lúa về
Mấy thằng ra cuối chân đê
Chiều lên lộng gió, trời quê cánh diều
Rồi để nhớ để thương yêu
Theo tôi xuôi ngược nẻo miền quê hương.

                    &

Câu hò sao cứ vấn vương
Đường đời lưu lạc tha phương xứ người
Đã nghe tóc trắng mây trời
Mà quê xưa vẫn ngậm ngùi trong tim
Tháng năm mòn gót phiêu linh
Còn đây đọng lại chút tình người ơi
Sông quê bên lở bên bồi
Bến đò ngày ấy bao người ra đi
Bao người mỏi kiếp chim di
Và bao ai nữa biệt ly không về
Còn cô bạn gái tóc thề
Xa xôi cách trở mãi mê xứ người ...

                 &

Con đường xưa vẫn lá rơi
Bên hiên vẳng tiếng ru hời con thơ
Về đây bước lạ ngẫn ngơ
Hỏi người năm cũ hỏi bờ rêu xanh
Còn đây dăm ba mái tranh
Mấy thằng bạn cũ mong manh phận đời
Gặp lại nhau chuyện đầy vơi
Chiến chinh dâu bể tình người còn đây
Nắm bàn tay ấm lòng tay
Mấy mươi năm lại có ngày bên nhau
Dẫu buồn vui dẫu thương đau
Còn đây quê cũ còn câu ví dầu
Ví dầu tình đã xa nhau
Bậu đi bậu để tình sầu ai mang
Đò đưa một bước sang ngang
Bước đi thôi hết xóm làng quạnh hiu ...
Để giờ chim vịt kêu chiều
Để ca dao ấy trọn niềm tương tư ...

                &

Về đây mòn gót phiêu du
Mấy thằng gặp lại suy tư chuyện người
Ứ thôi vinh nhục đầy vơi
Về quê cũ ngóng trăng rơi ... Cuối đời.


* 40 năm ngày về lại cố quê
HOÀNG YÊN LYNH
hoangmylinh@live.com
                  
READ MORE - BÌNH YÊN CUỐI ĐỜI - thơ Hoàng Yên Lynh

BẾN XƯA - CHIỀU LẠI NHỚ CHIỀU - thơ Trần Ngộ và Thanh Phong

Cổng xưa rêu phong bên dòng sông Ô Lâu - Hải Sơn, Hải Lăng, Quảng Trị.
Ảnh Nguyễn Bá Văn


BẾN XƯA
Trần Ngộ
Thơ viết tặng quê


Ô Giang nước lững lờ trôi
Chiều quê gió lạnh ai ngồi buông câu
Hỏi mình nguồn chảy về đâu ?
Chùm mây ngũ sắc in sâu bóng chiều
Mưa làm cơn sóng liêu xiêu
Trời chắc muốn ghé nói điều chi đây
Bến xưa in dấu trăng gầy
Con đò đợi khách tháng ngày chờ trông
Gió đưa rụng lá ngô đồng
Như là rụng cả cõi lòng của em.


Bài họa: 
CHIỀU LẠI NHỚ CHIỀU
Thanh Phong (Lê Chí Phóng)

Chiều về nước cuộn bèo trôi
Nhặt khoan nhớ giọng bồi hồi từng câu
Tiếng hò thưở ấy còn đâu
Ai mong mỏi nhớ tình sâu hởi chiều
Trời chiều vệt nắng bóng xiêu
Như tan mộng đẹp yêu kiều từ đây
Xót thương thân mẹ hao gầy
Chuyện xưa tình cũ đong đầy đợi trông
Mùa quê lúa chín ươm đồng
Hạt no hạt mẩy nặng lòng thương em
Thì thầm gọi gió bên thềm
Buồn trông chất ngất chiều thêm nhớ chiều!


READ MORE - BẾN XƯA - CHIỀU LẠI NHỚ CHIỀU - thơ Trần Ngộ và Thanh Phong

TẤM GƯƠNG VĨNH MAI - Phạm Xuân Dũng


Nhà thơ Vĩnh Mai. Hình từ trang sachxua.net
   
Trong số các nhà thơ, nhà văn quê hương Quảng Trị, Vĩnh Mai không phải là một tên tuổi lớn như Chế Lan Viên hoặc Hoàng Phủ Ngọc Tường, nhưng ông vẫn là một tác gia đáng ghi nhận, một nhân cách đáng kính, một người trí thức đầy lòng tự trọng, một người yêu nước  chân chính.

   Nhắc đến Vĩnh Mai, người đọc nhớ ngay đến bài thơ "Khóc Hoài" nổi tiếng của ông. Nó hoàn toàn xứng đáng đủ tư cách đứng ngang hàng với bài thơ "Viếng bạn" của Hoàng Lộc và những thi phẩm khóc bạn, khóc người cùng chí hướng lưu danh trong lịch sử văn học Việt nam. Bài thơ này đã làm nên danh xưng của Vĩnh Mai -"nhà thơ một bài" dù sự nghiệp sáng tác của ông không chỉ là ngần ấy. Nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường khi nói về "Khóc Hoài" đã nói rằng bài thơ gợi đến chất lấm láp, khỏe khoắn của hội vật làng Sình, cứ "mi mi tau tau" tỉnh bơ mà tình cảm như xoáy vào gan ruột. Cũng xin nói thêm rằng cho đến nay khi thời gian sáng tác bài thơ đã qua hơn nửa thế kỷ mà nhiều người cao tuổi ở Bình Trị Thiên vẫn nhớ đến tiếng thơ khóc bạn, có người còn đọc thuộc. Đó là hạnh phúc đích thực đối với một người cầm bút.

                                    Tau với mi hẹn nhau từ khu bộ
                                    Lúc trở về cố sáng tác văn chương
                                    Đến tỉnh nhà lại mỗi đứa mỗi đường
                                    Lo công việc không một ngày được nghỉ
                                    Tau ao ước giữa văn nhân nghệ sĩ
                                    Gặp lại mi để bàn chuyện lâu dài
                                    Nhưng một hom như sét đánh ngang tai
                                    Tau sửng sốt nghe tin mi đã chết
                                    Tau buột miệng kêu lên "thế là hết"
                                    Tau mất thêm một thằng bạn văn chương ...

                                  ...Mi lại chết ! Trời ơi là uất ức
                                     Mi táo bạo về ngay chi Phú lộc
                                     Để cho Tây phục kích bắn mi đi !
                                     Tau biết rồi tính mi vốn khinh khi
                                     Coi mạng sống như đồ chơi con trẻ.

      Bằng những nét tạo hình chắc khỏe, thô mộc, sần sùi đã khắc họa được chân dung một trí thức hiến trọn đời mình cho độc lập tự do và  hy sinh lẫm liệt trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Một trí thức hòa mình vào cuộc chiến tranh nhân dân trường kỳ với dáng vẻ ngang tàng coi thường nguy hiểm. Đó là tượng đài hiếm hoi bằng thơ về người trí thức xả thân vì nghĩa lớn trong văn học Việt nam hiện đại. Một điều không thể không nói thêm là cho đến nay giá trị của bài thơ này vẫn chưa được các nhà nghiên cứu phê bình nhìn nhận và đánh giá đúng mức.

    Bạn đọc biết ít về Vĩnh Mai thường có cảm nhận rằng tác giả bài thơ "Khóc Hoài " chắc hẳn là một nông dân thích sáng tác văn chương. Đó cũng là một thành công của bài thơ khi mang đầy hơi thở của kháng chiến và đời sống của những người áo vải. Nhưng nếu đọc tiểu sử của ông thì mới biết Vĩnh Mai là một tú tài Tây thứ thiệt, thi đỗ thứ nhì vào trường Quốc học Huế lừng danh, một trí thức thực sự. Ông tên thật là Nguyễn Hoàng, người làng An Tiêm, Triệu Thành, Triệu Phong. Ông là một nhà hoạt động cách mạng chuyên nghiệp, vào Đảng năm 1939, năm 1940 bị giặc bắt bỏ tù ở nhà đày Buôn Ma Thuột. Sau  cách mạng Tháng Tám ông đã giữ các chức vụ quan trọng như bí thư thành ủy Huế, phó bí thư tỉnh ủy Quảng trị. Khi hòa bình lập lại, ông sống ở miền Bắc, công tác ở hội nhà văn Việt Nam với mong muốn hoạt động văn nghệ chuyên nghiệp. Cuộc đời ông gặp nhiều biến động, trắc trở, lao đao cho đến khi qua đời. Nhưng cho dù trong mọi tình huống, ông vẫn là người yêu nước chân chính luôn ưu dân ái quốc, là một trí thức ngay thẳng, chân tình, luôn suy nghĩ, chiêm nghiệm bằng bộ óc của mình, giữ trọn chính kiến và niềm tin cho đến phút cuối cùng. Dù cuộc đời gặp nhiều khó khăn, sóng gió nhưng Vĩnh Mai đúng là người mà uy vũ bất năng khuất, bần tiện bất năng di như người xưa đã nói. Huân chương Độc Lập cao quý truy tặng cho ông, dù muộn, cũng đã ghi nhận phần nào cuộc đời của một trí thức văn nghệ sĩ đích thực.

   Bây giờ trong không khí cởi mở hơn nhiều, chúng ta hay nói đến phản biện. Nhưng trong không khí thời chiến căng thẳng của thời kỳ chống Pháp, Vĩnh Mai đã không rập khuôn mà có lối tư duy độc lập, luôn có đầu óc phản biện để làm sáng tỏ chân lý. Chẳng hạn như khi học chính trị về kháng chiến trường kỳ nhất định thắng lợi,Vĩnh Mai đã thuyết phục cả hội trường bằng lý luận sắc sảo của mình rằng điều đó sẽ là hiện thực. Nhưng khi đổi bên để tranh luận, thì một mình Vĩnh Mai cũng đã lập luận rằng kháng chiến trường kỳ nhất định sẽ không thắng lợi và cả hôi trường cũng đã chịu thua. Tất nhiên trước sau Vĩnh Mai vẫn là người cộng sản trung kiên, tin và chung thủy với điều mình đã chọn. Nhưng ví dụ trên cho thấy sinh động về một trí thức năng động trong tư duy và biện luận, luôn biết trăn trở tìm tòi để làm sáng tỏ chân lý, không thụ động nghe theo những tín điều đóng gói, dù nó được nhiều người coi là đúng đắn. Còn trong cải cách ruộng đất, nhà thơ Vĩnh Mai của chúng ta đã mạnh dạn bác bỏ việc quy định chỉ tiêu điạ chủ cho từng làng, coi đó là biểu hiện chủ quan duy ý chí. Vì chuyện này ông bất đồng ý kiến nghiêm trọng với một phái viên cao cấp do trung ương phái xuống khu bốn chỉ đạo công tác cải cách ruộng đất. Thực tế sau này đã chứng minh chính kiến Vĩnh Mai cũng như nhiều người tỉnh táo khác là đúng đắn. Những sai lầm trầm trọng của cải cách ruộng đất đã được Hồ Chủ Tịch và Đảng cộng sản nhận khuyết điểm về sau cũng đã minh chứng điều này.Tuy nhiên vào một thời điểm sóng gió như trong thời kỳ cải cách ruộng đất mà bày tỏ công khai ý kiến của mình đối với cấp trên đầy quyền uy như vậy kể cũng có được mấy người. Hơn nữa những hệ lụy mà ông và gia đình gánh chịu vì những câu chuyện tương tự như trên thật quá nặng nề. Cũng như trong sinh hoạt, có người phê bình ông là thích uống cà phê Tây, thích nhiều thứ tiện nghi của văn minh châu Âu, theo đuôi tư sản! Vĩnh Mai, bằng cuộc đời và nhân cách của mình đã chứng thực ông là người chống thực dân, đế quốc đến cùng, một lòng vì dân vì nước. Còn chuyện sinh hoạt đời thường khẩu vị thích gì nói nấy, chứ đừng giả bộ nói không thích ăn ngon mặc đẹp để tỏ vẻ ta đây giữ vững lập trường! Lý tưởng mà người cộng sản đưa ra là đánh đuổi xâm lược, đem lại cuộc sống độc lập tự do và sung sướng cho con người đó hay sao? Một trí thức tự trọng, có tư duy độc lập như Vĩnh Mai khó chấp nhận mối lối mòn rập khuôn máy móc, giáo điều, không thực tế trong suy nghĩ, lý luận cũng như những biểu hiện cụ thể trong cuộc sống hàng ngày, hay tệ hại hơn là những lời dối trá!

   Cũng chính ngày nay, chúng ta nói nhiều đến cải cách hành chính, giảm bớt những cuộc họp không cần thiết, điều mà nhà thơ Xô viết thiên tài Maiacôpxki đã từng kêu lên trong bài thơ "Những người loạn họp" thì nhà thơ Vĩnh Mai cách đây hơn nửa thế kỷ đã than phiền bằng thơ trào phúng, một mảng sáng tác khác của ông chưa được nhiều người biết đến:

                               Ngang lưng thì thắt phương châm
                               Đầu đội chính sách, tay cầm chủ trương
                               Đôi chân đứng vững lập trường
                               Hữu thân hữu họp không đường mà ra?

    Một tính cách ngay thẳng, cứng cỏi như Vĩnh Mai dĩ nhiên là coi thường, khinh ghét những kẻ cơ hội, xu nịnh, giả dối, bất tài mà luồn lọt, hại người.Vì vậy ông đã có bài thơ châm "Có một chàng":
                               Trời đất sinh ra có một chàng
                               Chỉ tài nịnh hót với huênh hoang
                               Gặp trên khúm núm lưng tôm bạc
                               Thấy gái nho nhoe đít cá vàng
                               Viết chẳng ra văn nhưng lách giỏi
                               Làm không được việc lại chơi sang
                               Suốt đời chỉ một anh dang dở
                               Chính trị nửa mùa văn nghệ lang!
     Cũng với cá tính như thế nên Vĩnh Mai hay bị góp ý phê bình, thậm chí nhiều lúc phải ngồi viết kiểm điểm. Một hôm như vậy, ông bèn ngồi viết bài thơ tự trào có tên là "Cái lưng":

                               Cái lưng anh giống cây chò
                               Đứng giữa mưa dầm, giữa gió to
                               Không biết nghiêng qua không biết uốn
                               Chả hay còng lại chả hay bò
                               Lắm khi thiên hạ leo lên cưỡi
                               Nhiều lúc người đời xúm đánh cho
                               Mới biết ngay lưng là khổ thế
                               Đêm đông cũng không được nằm ...co !

    Trí thức chân chính là người hay nghĩ, trước hết là nghĩ về vận mệnh đất nước, số phận nhân dân. Ngay khi miền Bắc trở lại hòa bình sau cuộc kháng chiến chống Pháp, nhà thơ đã nhìn thấy những căn bệnh của hòa bình, những nguy cơ phải được nhìn thấy và giải quyết. Trong nhật ký của mình (đã được trích trong hồi ký văn học "Sống với nhà thơ Vĩnh Mai", của phu nhân nhà thơ là Phương Chi, nhà xuất bản Thuận hóa năm 2003), nhà thơ trăn trở viết:

   "Sao ngày nay về đến nông thôn, ngoảnh mặt vào đâu cũng có thể thấy tự tư tự lợi, cá nhân ích kỷ, hep hòi, cằn cọc. Cùng đảng viên với nhau trong một tổ, cùng ăn sương nằm đất với nhau trong hồi kháng chiến, cùng xã viên trong một hợp tác xã với nhau, cùng bà con thôn xóm với nhau, sao họ nỡ vì một giòng rau muống, vì một cụm lúa, nỡ đánh chết của nhau con gà, con vịt? Vì sao chỉ vì ít nước, đường cày, bờ ruộng mà họ nỡ chửi bới nhau suốt mấy ngày ..."

   Cũng trong cuốn hồi ký này, nhìn thấy nguy cơ của căn bệnh khao khát làm quan, tham danh, hám lợi, nhà thơ của chúng ta đã thốt lên: "Thuốc nào chữa được bệnh khanh tướng?"

    Năm 2001 nhà thơ Vĩnh Mai được chủ tịch nước truy tặng huân chương Độc lập hạng nhì, một sự vinh danh tưởng thưởng được xem là cao quý dù như đã nói cũng có phần muộn màng. Nhưng cuộc đời và nhân cách của ông từ lâu đã được nhiều đồng nghiệp, bằng hữu và hậu thế ngưỡng vọng. Nên nhiều người vẫn ao ước rằng: Giá như đời này có được nhiều hơn một Vĩnh Mai!  

PHẠM XUÂN DŨNG 
dpthachthao@gmail.com
Đài PT-TH tỉnh Quảng Trị
   ĐT: 0985.972.975     
                

READ MORE - TẤM GƯƠNG VĨNH MAI - Phạm Xuân Dũng

CHÙM THƠ VÕ VĂN LUYẾN

Tác giả VÕ VĂN LUYẾN



BÀI HỌC TỪ CÂY

Thiết tha như cây cỏ
Sống tự biết tìm xanh
Đất cằn và nắng nỏ
Lặng lẽ vươn lá cành

Thấy mà thèm trời đất
Tự tại đến hồn nhiên
Chẳng cầu chi được mất
Lẽ thường và vô biên.

            12/5/2011


GIÂC MƠ ẢO HUYỀN

Đêm ta mơ giấc mơ con lật đật
Trên bàn tay em năm ngón muốt dài
Nụ cười sáng bay lên cùng lá hát
Con dế uống sương lặng lẽ ban mai

Nhận ân sủng từ trong veo ngọn gió
Tâm thảo nguyên cất tiếng thưa rằng:
               Em vó ngựa.
                             Ta ước làm ngọn cỏ
Chết hồn nhiên cuối con mắt thời gian.

                                   9/6/2011


HẸN

Người hẹn ta về thăm thẳm ấy
Sao như ngược chuyến chở hao gầy
Nắng hạ trầm thiêng ngày gỡ rối
Đêm tịnh bùa mê chững thang mây.

                                    26/7/2012

LÁ BIẾC
            Tặng các sơn nữ GL

Núi thôi đứng trầm ngâm
Núi thành rừng xanh thẳm
Ngày thôi đợi mưa dầm
Ngày nắng về hồng thắm

Như em tuổi mười tám
Gió một trời nguôi ngoai
Như ta điềm nhiên ngắm
Mây nõn dừng hai vai

Ừ thì mưa thì nắng
Ừ thì gió thì mây
Có sao đâu em nhỉ
Lá vẫn biếc trên cây!

             9/5/2011
           Võ Văn Luyến
READ MORE - CHÙM THƠ VÕ VĂN LUYẾN

Tuesday, November 6, 2012

TỘI NGHIỆP - Nguyên Viên Lê Duy Đoàn




Thứ bảy vừa qua, tôi đi cùng với nhóm đạo tràng Làng Mai lên chùa Toàn Giác, gần thác Giang Điền, huyện Trảng Bom, thuộc tỉnh Đồng Nai. Hàng tháng, nhóm thường tổ chức ngày cuối tuần sống trong chánh niệm và tỉnh thức tiếp nối theo truyền thống tu tập của những người học Phật và thực hành Pháp theo tinh thần của Tăng thân Làng Mai.
                                                    
Đất của Chùa Toàn Giác rộng bạt ngàn, nghe nói là cả hàng trăm mẫu đất, trồng nhiều cây bạch đàn, ít cây ăn quả, có lẻ vì không ai có công trông coi. Rộng như thế nhưng sau 1975, thầy trú trì lên đây dựng chùa mua đất chỉ trả có 3 triệu đồng (khoảng 10 lượng vàng). Có thể hình dung chùa rộng lớn chừng nào thì cứ tính quãng đường đi trong buổi thiền hành. Từ thiền đường mới xây dựng đi thiền hành đến chánh điện mất gần hai giờ đồng hồ.

Chương trình sinh hoạt chiều bao gồm pháp thoại, ăn trong chánh niệm, niệm Phật, ngủ. Sáng hôm sau, dậy lúc 3 giờ sáng, vệ sinh, thực tập thiền định, ăn sáng, thiền hành, ăn trưa, chiều nghe thầy trú trì thuyết pháp. Ra về.

***
                                              
Thầy trú trì Thích Minh Nghĩa người Nam bộ, là người đạo cao đức trọng, pháp tướng uy nghi. Khi thầy đi đâu, một con chó nhỏ chạy theo lăng quăng bên chân thầy. Khi thầy ngồi, chó nằm bên ghếch chân lên bàn chân của thầy ngước nhìn thầy tựa như đang nghe thầy thuyết pháp.

Thấy tình thương của thầy có vẻ cảm hóa con chó, bác Xuân, một đạo hữu chừng 70 tuổi ngồi cạnh tôi chép miệng: "Tội nghiệp"

Lúc ngồi trong thiền đường, tôi có phần thắc mắc vì sao bác Xuân lại nói tội nghiệp khi nhìn con chó cưng của Thầy nhưng không tiện hỏi. Ra ngoài sân, ngồi dưới gốc cây, tôi hỏi bác, bác bồi hồi kể chuyện. Câu chuyện bác kể thật là một chuyện lạ.

Bác nói như vậy không phải là nói tội nghiệp con chó của thầy Trú trì. Nhìn con chó này được yêu thương chăm sóc và quấn quít Thầy như vậy, bác lại chạnh lòng nhớ hai con chó Nhật Bản mà Sư bà trú trì chùa Diệu Pháp nuôi. Nhà bác ở sát nách chùa Diệu Pháp. Bác thường qua chùa làm công quả nên Sư bà trú trì quý mến bác, mọi chuyện trong chùa bác đều biết. Câu chuyện bác kể xảy ra năm 1972 mà hệ lụy của nó kéo dài mãi về sau này. Hai con chó sống trong môi trường đạo hạnh, thường xuyên nghe kinh nghe kệ và được tưới tẩm tình yêu thương của Sư bà và quý sư cô trong chùa. Nó cũng ngủ dưới chân giường Sư bà, chạy lăng quăng vui đùa theo chân Sư bà và nép đầu vào chân khi Sư bà nói chuyện. Dường như nó cũng có duyên tu.

Một hôm, không biết ăn phải thức ăn gì mà cả hai con chó lăn quay ra, quằn quại, tiêu chảy. Mấy sư cô cho uống nước đậu xanh giả nát, rồi nước lá ổi, rồi đem tới thú y. Mọi cố gắng chữa trị đều không kết quả. Cả hai con chó đều chết. Nhà chùa thương tiếc hai chú chó nên tụng kinh cầu siêu và tẩm liệm trong hai cái quách đàng hoàng rồi đem chôn trong hai nấm mộ nhỏ sau lưng chùa. Trước khi tẩm liệm, mấy ni cô còn nhỏ tỏ lòng thương yêu hai con chó bằng cách lấy son đỏ bôi dưới mấy ngón chân của hai chân sau.

Câu chuyện tưởng chừng rơi vào quên lãng nếu không xảy ra chuyện hơn mười tháng sau đó.

Một buổi sáng mùa đông năm 1972, sau thời công phu sáng, Sư bà nghe tiếng bé sơ sinh khóc trước cổng chùa. Buổi sáng tinh mơ, tiếng khóc nghe rõ mồn một. Sư bà sai sư cô quản tự ra xem thì thấy một cái khăn lông quấn hai hài nhi song sinh có một miếng giấy viết nguệch ngoạc mấy chữ ghi ngày giờ sinh của hai bé.

Động lòng từ tâm "con ai đem bỏ chùa này, nam mô Di Phật con thầy, thầy nuôi", Sư bà bảo các đệ tử đem vô chùa nuôi nấng. Lạ một điều, khi tắm rửa cho hai bé, mấy sư cô thấy bên dưới hai bàn chân bé nào cũng có năm chấm đỏ như son tụm lại có dạng một bàn chân chó.

Những đứa bé lớn lên được thương yêu và nuôi dạy chu đáo. Tánh cũng ngoan và học hành cũng được. Sau 75, đời sống khó khăn nhưng các cháu cũng đầy đủ và dần dần lớn lên thành hai thiếu nữ xinh xắn. Thế rồi, có hai người đàn ông bạn với nhau là thủy thủ tàu viễn dương đến thăm chùa, đem lòng yêu thương hai cháu. Đám cưới tổ chức đơn giản mà thân mật tại chùa dưới sự chứng minh của Sư bà trú trì.

Thương hai cháu như con, Sư bà cắt đất chùa cho hai cặp tân hôn che nhà để ở.

Đất nước thời kỳ bao cấp khó khăn vô cùng. Thiếu đủ mọi thứ. Nhưng những thủy thủ tàu viễn dương lại giàu có lên nhanh nhờ nhập lậu hàng nhu yếu. Trên hai mảnh đất chùa cho, mọc lên hai căn nhà lầu khang trang với đầy đủ tiện nghi. Ai cũng mừng cho hai cháu có phước.

 Nhưng chuyện đời lại oái oăm. Ơn dưỡng dục, dựng vợ gả chồng, cho đất cho đai như thế mà các cháu không nghĩ chút gì đến chuyện đền ơn đáp nghĩa, cứ se sua nếp sống nhà giàu hưởng lạc, chẳng quan tâm hỏi han những người đã cho mình cuộc sống tốt đẹp như ngày hôm nay. Thậm chí ở trong khuôn viên chùa mà chẳng đoái hoài chi chuyện tụng kinh niệm Phật, hương khói rằm mồng một mà cũng chẳng cúng dường.

Khi hai cháu sinh em bé đầu lòng thì chưa thôi nôi, hai anh chàng thủy thủ viễn dương kia thay lòng đổi dạ. Chúng theo người đàn bà khác thường xuyên về nhà đánh đập vợ. Chuyện gây tức tối đến nổi cả hai phẩn chí là khi hai chàng thủy thủ dắt hai người tình mắt xanh mỏ đỏ về nhà gây sự. Tối hôm đó, cả hai chị em buồn quá rủ nhau cùng uống thuốc ngủ liều cao tự tử. Hai đứa con mồ côi mẹ của họ lại được chùa Diệu Pháp nhận nuôi.

                                                        *   *  *
                                                          
Bác Xuân kể đến đây, giọng Bác chùng xuống. Lòng tôi cũng xúc động mạnh. Bác nói tiếp như một lời kết cho một chuyện hay có thật: "Nghiệp báo hết! Mọi chuyện trên đời đều có duyên có nghiệp. Dấu son dưới chân mấy đứa này rõ ràng là hai con chó Nhật bản có duyên tu với Phật nên hóa kiếp đầu thai thành người. Đã thành người được rồi mà không chịu tu hành lại tham sân si quá nên lại bị đọa như vậy. Bác nói TỘI NGHIỆP là vậy đó, Không biết bây giờ tụi hắn ở cõi nào ??!!"

Bóng đêm thâm u phủ trùm lên rừng núi. Tiếng chuông công phu tối ngân nga trong không gian tĩnh lặng. Không biết có ai quanh đây ?

06/11/2012
Nguyên Viên Lê Duy Đoàn
doanduyle@yahoo.com
READ MORE - TỘI NGHIỆP - Nguyên Viên Lê Duy Đoàn

CHẮP CÁNH BAY LÊN - truyện ngắn Ngô Diệu Hằng

                                    
                                                                            
     Nó đang cùng đám bạn đi học về giữa trưa hè nắng gắt. Những tà áo trắng nghịch đùa trên phố. Bỗng nhiên, có bóng ai như mẹ nó từ trong nhà chạy ra khóc nức nở. Bà ta cúi nhặt chiếc túi xách trên đường. Rồi một người đàn ông kéo mẹ nó bước lên chiếc xe hơi đỗ ở gần đó. Nó cố đạp xe thật nhanh đuổi theo gọi mẹ, cũng là lúc chiếc xe bắt đầu chuyển bánh. Bố nó từ trong nhà lao ra, gào lên trong cơn tức giận “Bà ta không xứng đáng là mẹ của con đâu”. Tay người đàn ông siết chặt lấy đứa bé đang vẫy vùng, gào khóc. Chiếc BMW-520 mất hút trong dòng xe cộ tấp nập, chỉ còn lại hai con người tội nghiệp và chiếc xe đạp nằm chỏng chơ trên phố. Tà áo dài trắng tinh quấn vào chiếc bánh xe, rách toạc…

  Nghe xong câu chuyện cảm động ấy tôi tưởng đâu chị Hà đang kể về bộ phim nào chị vừa xem. Thì ra, cô bé kia chính là sếp.

  Hồi đó, chúng tôi cứ thấy sếp là thần kinh căng như dây đàn. Con gái gì mà suốt ngày ngồi hì hục trong phòng làm việc. Ăn mặc quá ư nghiêm túc. Làm việc thì lúc nào cũng nguyên tắc, tỉ mỉ.

  Thế đấy. Vậy mà tôi cũng quen và cảm thấy có cái gì đó thiêu thiếu mỗi lẫn sếp đi công tác nước ngoài. Rồi khi trở thành trợ lý của sếp, lúc nào cũng làm việc cùng sếp, tôi mới phát hiện ra sếp cũng hết sức vui tính và thân thiện.

  Nhớ lần đầu tiên khi nghe sếp bảo xuống nhà máy. Tôi ăn mặc thật chỉnh tề, cố gắng đúng giờ. Nhưng vừa đến nơi đã thấy sếp đứng ở đó, mặc bộ đồ công nhân, đi ủng, đội mũ bảo hộ và đeo găng tay, đang vừa đi vừa nói chuyện với anh đội trưởng. Tôi luống cuống chạy theo họ. Giữa cái màu xù xì, đen đen của máy móc, bụi bặm và tiếng máy gầm gừ…tôi tự thấy mình quá sạch sẽ, chỉnh chu, chẳng hợp với nơi đây chút nào. Khi ra về, sếp còn hỏi tôi: “Cậu đang quảng cáo cho hãng bột giặt nào thế?” Mặt tôi lúc ấy chín đỏ, chỉ biết gãi đầu cười.

  Tôi cùng sếp đi Nha Trang gặp đối tác.

  Thật có lỗi vì chưa một lần tôi ngắm nhìn chị với đôi mắt của một người đàn ông trước phái đẹp. Và dĩ nhiên đây là lúc tôi nên xóa bỏ định kiến của mình. Buổi chiều cuối cùng, hai chúng tôi cùng nhau đi dạo dọc bờ biển. Đằm thắm trong bộ đầm quyến rũ, đôi chân trần nhẹ nhàng bước đi giữa biển chiều thênh thang lộng gió. Đôi vai mảnh mai của chị khẽ rung rung khi chị cười. Mắt mở to rẽ ra hai hàng mi cong vút đăm chiêu nhìn về phía khơi xa … Và hoàng hôn đổ xuống mặt nước thứ phẩm màu hồng hồng, tim tím đẹp lạ lùng, níu chân chúng tôi chần chừ trước biển.

  Chúng tôi gặp anh Tuấn đang đi nghỉ mát cùng em gái và người bố ngồi xe lăn đã mười năm nay. Anh Tuấn là tiền bối của tôi ở trường đại học, một chàng trai tài năng. Hiện anh đang quản lý một trung tâm môi giới bất động sản và kinh doanh nhà hàng COCOA cùng em gái. Chúng tôi chào hỏi và hẹn buổi tối gặp nhau uống trà. Sếp và anh Tuấn quả là giống nhau, sẽ phát điên nếu một ngày họ không được làm việc. Đến nỗi ngồi uống trà cũng toàn nói về kế hoạch, dự án, công ty này, doanh nghiệp nọ... Tôi bỗng trở thành cây đàn viôlông kéo qua kéo lại suốt cả buổi tối.

  Cuối cùng thì ngày Valentine cũng đã đến. Anh chị em trong công ty đã về hết cả. Tôi thấy sếp vẫn ngồi làm việc trong phòng.
-         Em vào được không chị ơi?
-         Vào đi. Cậu chưa về hẹn hò à?
-         Em tính rũ chị nè.
-         Thôi, chị không đi đâu. Khỏi lo đi mà.
-         Đi mà sếp. Đừng bắt thằng em năn nỉ nữa. Chỗ cũ nhé?
-         …Ok.

  Đêm tình nhân, đường phố cũng trở nên lấp lánh! Thỉnh thoảng lại thấy có vài anh chàng chạy vụt qua, chở theo một em gấu bông to tướng và bó hoa hồng thật tươi trước ngực. Tự nhiên bánh xe tôi quay chầm chậm, rồi tự thấy buồn cười.

  Bảy giờ tôi có mặt ở Red Bar. Ngồi đợi sếp và nhâm nhi ly Malboro (*), ngắm những em xinh tươi qua lại. Red Bar thường ngày rợn ngợp thứ màu đỏ nóng bỏng của những cô nàng tô son lúng liếng, những bông hồng cắm nghiêng đầy gai. Giờ ấm áp bởi sắc màu sôcôla và thanh âm nồng nàn của tình yêu đôi lứa.

  Ba mươi phút sau sếp đến. Tôi gọi cho sếp ly Green Fairies (*) và rút từ trong lọ hoa trước mặt một bông hồng tặng cho chị. Cả tôi, sếp và anh Bin – chủ quầy bar đều gật gật, cười xòa.

  Cuối cùng thì nhân vật chính của cuộc gặp gỡ này cũng đã đến. Tôi lại quay về vị trí cây đàn viôlông kéo nhiệt tình.

  Lúc tôi đưa tay vẫy anh Tuấn và bảo chính tôi hẹn anh, sếp nhìn tôi vẻ dò hỏi trong khi tay vẫn đang chỉnh lại cổ áo. Anh Tuấn đến, nở nụ cười thân thiện rồi để lên bàn một hộp sôcôla mời mọi người. Ba chúng tôi ngồi nói chuyện vui vẻ, chẳng có ai là tỏ ra quá quan tâm đến ai. Chỉ những thanh Boniva đẹp đẽ đang tan ra trong miệng thì quá đỗi ngọt ngào!

   Tôi giới thiệu anh Tuấn lên hát. Như ngày nào ôm cây đàn ghita ngâm nga nơi gác trọ, anh chỉ biết mình đang hát với tất cả trái tim, khép mi mắt buông phím đàn ngọt dịu. Và khi những giai điệu đằm thắm của bài Hello cất lên thì tất thảy những cô gái trong quầy bar đã không ngớt trầm trồ tán thưởng. “Anh đã được bên em trong tâm trí. Và trong những giấc mơ, anh đã hôn lên đôi môi em ngàn lần. Đôi khi anh thấy em đi ngang qua cửa. Xin chào! Có phải anh là người mà em đang kiếm tìm chăng? …Anh muốn nói với em thật nhiều, rằng: anh yêu em.” Tôi để ý thấy sếp ngồi lắng nghe rất say sưa. Dường như từ trong sâu thẳm đôi mắt sếp thoáng vẻ buồn…rồi chị uống cạn luôn ly rượu trên tay lúc nào không hay.

  Trời hơi se lạnh. Tôi và sếp ghé vào một quán vỉa hè. Sếp bảo gọi rượu. Rồi lần đầu tiên tôi thấy sếp xỉn. Tôi đưa sếp về nhà. Có lẽ đó cũng là lần đầu tiên sếp cởi bỏ hết cái vẻ ngoài mạnh mẽ thường ngày và tuôn ra bằng hết: Cậu biết bây giờ đây tôi nhớ ai nhất không? Bố tôi đấy, đấy… (Sếp chỉ lên bức ảnh trên bàn thờ) Vì hăm hở đi đón tôi ở bến xe mà ông đã... Vậy mà đứa con gái này suốt những năm tháng ở xa chỉ biết nghĩ về bố với biết bao oán trách… Vì bố quá yêu, quá hận mà mẹ tôi buộc phải ra đi. Oán trách, để rồi tôi thương bố biết bao nhiêu, nhưng đến khi ông trút hơi thở cuối cùng tôi vẫn chưa kịp thốt ra ba từ “con yêu bố”. Đêm đêm bố lại về đứng cạnh giường đợi tôi ngủ xong mới đi. Bố đã đi đâu? Đi tìm mẹ hay tìm lại những ký ức ngày xưa đang phảng phất tan trong sương lạnh giá? Nhiều đêm tỉnh dậy không thấy bố đâu, tôi gọi mẹ nhưng tiếng mẹ đã không bao giờ vọng lại. Trời đất! Lần đầu tiên tôi cảm thấy xao xuyến, bối rối và cảm động đến ngạt thở. Nhưng tôi sợ! Sợ người ta bảo tôi bị điên. Đêm đến lại ngập ngụa trong những cơn ác mộng, bật dậy ôm lấy tách cà phê ngồi đến sáng. Tôi nói chuyện với bố hàng giờ, để rồi giật mình nhìn quanh chỉ thấy có mỗi mình trong toilet, xấu xí, vô hồn…

  Nói rồi sếp khóc như một đứa trẻ, miệng mếu máo gọi bố ơi. Trái tim tôi rưng rức nỗi xót xa mà cánh tay sao thấy vô dụng quá. Chỉ biết lặng yên và cảm nhận những dòng nước mắt như đang đốt cháy bờ vai tôi.

  Khi tôi kể cho anh Tuấn nghe, anh đã không hề tỏ vẻ bàng hoàng hay lo lắng. Trái lại, từ trong ánh mắt anh tôi nhận thấy có một dòng xúc cảm mênh mang khó tả.

  Tình yêu quá diệu kỳ! Đó là thứ nước sôcôla vẫn âm ỉ chảy trong trái tim mỗi chúng ta chỉ chờ ngày hòa quyện vào nhau để tạo nên viên sôcôla tuyệt nhất! Tình yêu ấy không hề bồng bột, cũng không phải là thứ hoa hồng đầy gai đâm vào tay ta rớm máu.

  Chưa bao giờ tôi thấy sếp hạnh phúc như vậy. Chị đẩy chiếc xe lăn đưa bố chồng đi dạo và chăm sóc ông như chính bố đẻ của mình. Có lẽ ở nơi nào đó bố chị cũng đang dõi theo con gái và mỉm cười hạnh phúc.

  Đêm nay, một mùa Valentine nữa lại về. Vẫn dãy phố ấy, con đường ấy và khung cảnh lấp lánh ấy. Nhưng lạ thay đêm nay, bánh xe tôi cứ bon bon hòa vào dòng người sung sướng. Chẳng phải như ngày nào đó tự thấy mình bị lạc lỏng giữa phố xá tấp nập, chạnh lòng, thơ thẩn…Vì có lẽ hạnh phúc chỉ đơn giản là cái cảm giác được nhìn thấy tình yêu nở rộ quanh mình.

 __________________

(*) Malboro: rượu Malboro, nghĩa là “tôi có quá nhiều bạn gái bám theo”.
(*) Green Fairies (những nàng tiên xanh): một loại cocktail màu xanh trong, vị trái cây rất dịu.


NGÔ DIỆU HẰNG
dieuhang.ngo@gmail.com


      



READ MORE - CHẮP CÁNH BAY LÊN - truyện ngắn Ngô Diệu Hằng

Châu Thạch đọc NẮNG ƠI CÓ VỀ?! - thơ Vĩnh Thuyên



                                              
NẮNG ƠI CÓ VỀ ?!
Thơ VĨNH THUYÊN 

Nắng đừng đưa anh sang bên ấy
Vì bên này trời sắp đổ mưa
Gió có theo buồn xin ở lại
Một mình em khổ lắm ! trăm chiều...

Chiếc cầu vòng bắc ngang xóm nhỏ
Một lần đi không hẹn lần về
Chiếc cầu tre lắc lư ai nở
Để mưa chiều nhớ nắng chiều xưa

Sớm mai dậy nắng về không nhỉ ?
Buồn đu đưa như nước lớn ròng
Vui cũng sống đắng cay vẫn sống
Tóc nhạt màu mấy lượt sang đông.
                                                        


Lời Bình : Châu Thạch

“Nắng ơi có về” đánh dấu hỏi rồi đánh dấu than :Ta biết ngay đó là tâm trạng của người đang khắc khoải chờ mong.

“Nắng đừng đưa anh sang bên ấy”:  Một lời cầu xin chắc chắn không thành, vì đã thành thì sẽ không có bài thơ.

“Vì bên nầy trời sắp đổ mưa”: Nghịch cảnh rất gần nhau. Nắng và mưa, bên ấy, bên nầy. Theo bài thơ thì chỉ cách một cây cầu bắc qua xóm nhỏ.

“Gió có theo buồn xin ở lại” : Một lời thỉnh nguyện xin buồn. Bởi vì còn biết buồn là còn chút niềm tin. Nếu hết buồn thì con tim dẫy chết.

“Một mình em khổ lắm! trăm chiều…”: Một tiếng kêu than đau thương chứa tất cả hình ảnh của cô đơn, của khó nhọc trong đời.
 Đọc lại bốn câu thơ trên, và nếu ta không dậy lên một nỗi buồn, một nỗi đau, một nỗi bất bình thì quả thật lòng ta rất cứng, nhưng cứng không phải vì vô tình mà cứng là vì bốn câu thơ làm cho nỗi đau cô đọng lại trong hồn. Quả thật, vì nắng mưa ở đây không phải là  mưa nắng bình thường, mà nó chính là ánh sáng của đời người, của hạnh phúc, của tình yêu.

Qua vế hai của bài thơ.

 “Chiếc cầu vòng bắc ngang xóm nhỏ”: Một hình ảnh quá thân thương và đẹp không thể phai nhòa trong dòng ký ức đời người.

“Một lần đi không hẹn lần về”: Hình ảnh thân thương và đẹp của cây cầu biến nhanh tức khắc thành hình ảnh u ám, nhớ thương và đau khổ.

“Chiếc cầu tre lắc lư ai nở”: Nỗi trách móc xao động trong lòng giống như cây cầu lắc lư mỗi khi gánh chịu sự tác động của đời.

“Để mưa chiều nhớ nắng chiều xưa”: Mưa là nỗi buồn, nắng là niềm vui. Đây là những ẩn dụ về những biến chuyển tâm hồn, mà cũng bày tỏ hết được nghịch cảnh trong đời người con gái.

  Đọc bốn câu thơ trên đây ta thấy sự đau thương quyện trong hình ảnh thân yêu, ướp vào đó màu sắc ảm đạm của muôn vàn trách móc, nhớ thường và dằn vặt.

Qua vế thứ ba của bài thơ.

“Sớm mai dậy nắng về không nhỉ?”: Một trông chờ, một ao ước nhưng cũng là một lời cầu xin tội nghiệp.

“Buồn đu đưa như nước lớn ròng”: Trông đợi, mong chờ và truyệt vọng. Buồn không còn ở trong lòng. Buồn đã trở nên bát ngát như “Sóng gợn trường giang buồn điệp điệp”, như “Sông dài trời rộng bến cô liêu”. (Thơ Huy Cận).

“Vui cũng sống đắng cay cũng sống
 Tóc nhạt màu mấy lượt sang đông”

Một câu nói bình thường nhưng đặt vào đây thành một trái núi khổng lồ trên đôi vai bé bỏng.

 Thơ Vĩnh Thuyên mỗi câu đều hàm xúc một ý nghĩa và mỗi ý nghĩa làm cho một biến chuyển xảy ra trong tâm hồn người đọc.

  Trong bài nầy mỗi khổ thơ bốn câu là một bài tứ tuyệt  trọn vẹn ý nghĩa, mang lại cho ta cảm xúc đau nhè nhẹ, buồn êm ái, sầu mênh mông và thương yêu trách móc hòa quyện trong nhau khó mà phân biệt.

   Toàn bộ bài thơ “Nắng ơi có về?!” như một tiếng hát vọng bên sông bay vào lòng người, bay lên bầu trời buồn và bay xa đến vùng bên kia có nắng nhưng nắng cũng đìu hiu.

                                                                 Châu Thạch
truongvantran@hotmail.com
READ MORE - Châu Thạch đọc NẮNG ƠI CÓ VỀ?! - thơ Vĩnh Thuyên