Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Châu Thạch. Show all posts
Showing posts with label Châu Thạch. Show all posts

Friday, December 12, 2025

ĐỌC "THEO MỘNG TA VỀ” THƠ VŨ ĐỨC TÔ CHÂU - Châu Thạch

  
    


THEO MỘNG TA VỀ
 
Ta thấy ta từ Sông Núi cũ
Trôi như con suối biệt xa nguồn
Rơi như chiếc lá không về cội
Chạm tới vô biên những nỗi buồn!
 
Trôi đ! Như thể chim lìa tổ
Bỏ lại máu, xương bọc giống nòi
Bỏ cả tình quê yêu dấu mãi
Búc ruột mà đi… hỡi Đất Trời!
 
Ta đi như trốn ta vào núi
Thắp lửa rừng xanh tóc bạc rồi
Đốt than nửa gánh ta vào chợ
Nửa gánh “Hoàng hoa” sưởi mộng đời
 
Ta đi! như bóng ma lìa xứ
Lẫn khuất mười năm bóng dại khờ
“Dâu biển” tang thương sông núi hởi!
Khúc tàn chinh lệ hóa thành thơ
 
Rồi mai! Gửi xác bên trời vắng
Đất lạ hồn linh cũng dật dờ
“Theo mộng ta về” Sông Núi cũ
Quê mẹ xanh rờn những giấc mơ.
  
                        Long Khánh 1994
                         Vũ Đức Tô châu
  
ĐỌC ‘THEO MỘNG TA VỀ” THƠ VŨ ĐỨC TÔ CHÂU
                        Châu Thạch
 
Mộng là một giấc mơ, một giấc chiêm bao trong khi ngủ. Ngoài ra mộng còn có ý nghĩa là một mơ tưởng, một ước vọng, mong muốn hay hoài bảo thành hiện thực một vấn đề gì đó. “Theo Mộng Ta Về” là cụm từ xuất hiện trong ngữ cảnh văn học, thường để diễn tả hành trình trở về cội nguồn tìm lại cảm hứng tình yêu và tâm hồn mình. Bài thơ “Theo Mộng Ta Về” của Vũ Đức Tô Châu là giấc mộng không quay lại quê hương, nhưng  lại mộng thấy thuở mình bỏ quê hương ra đi lưu lạc. Đây là một bài thơ chan chứa nỗi niềm cố xứ, nơi sông núi trở thành biểu tương của cội nguồn, của ký ức, của sự thiêng liêng nhất thuộc về mẹ .
 
Sông núi cũ hiện lên tổng quát trong khổ đầu bài thơ, để trên sông núi đó, một khúc tống biệt hành xảy ra trong đời nhà thơ mà nỗi buồn chạm tới vô biên:
 
Ta thấy ta từ Sông Núi cũ
Trôi như con suối biệt xa nguồn
Rơi như chiếc lá không về cội
Chạm tới vô biên những nỗi buồn!
 
Khổ thơ đầu có 4 câu thơ, thì 3 câu là 3 bức tranh gợi hình tổng quát, cho ta ý niệm về một cuộc ra đi bất đắc dĩ. Nhà thơ theo giấc mộng để về lại quê hương nhưng không thấy ngày tái ngộ mà thấy ngày mình ra đi. Sông và núi hiện lên trong mơ.  Nhà thơ là một phần rất lớn mà cũng rất nhỏ trên sông núi đó. “Trôi như con suối biệt xa nguồn” là phần rất lớn mà nhà thơ muốn nói, đó là phần tinh thần gắn bó với quê hương. Phần tinh thần ấy phải rời quê hương, như dòng sông trôi đi ra biển, để phải “Nước non vẹn một lời thề/Nước đi đi mãi không về cùng non”.  “Rơi như chiếc lá không về cội” là phần rất nhỏ. Rất nhỏ nhưng cũng rất quan trọng vì đó chính là thân thể của nhà thơ. Thân thể ấy rơi như chiếc lá nhưng không về gốc của cây, mà bay biệt  xa cây. Câu thơ “Chạm tới vô biên những nỗi buồn” so sánh hình ảnh nỗi buồn bao la như không gian, như vũ trụ. Cả bốn câu thơ cho ta cảm giác đánh mất những điều thiêng liêng nhất, và hiểu được tấm lòng hoài hương của thi nhân da diết đến nhường nào.
 
Khổ thơ thứ 2 như những nhát dao cắt vào tâm hồn, vết cắt ấy xẻ thịt xé lòng, quay quắt trong tim, làm tím luôn dòng máu:
 
Trôi đ! Như thể chim lìa tổ
Bỏ lại máu, xương bọc giống nòi
Bỏ cả tình quê yêu dấu mãi
Búc ruột mà đi… hỡi Đất Trời!
 
“Chim lìa tổ” ở đây không phải là chim thiên di mà là chim vỡ tổ. “Máu, xương bọc giống nòi” chớ không phải giống nòi bọc máu, xương, nghĩa là tình quê hương có sẳn trong máu trong xương, mà giống nòi che chở, bao bọc, chớ chưa dùng tình yêu thương đó phụng sự gì quê hương. Cũng có thể “Bỏ lại máu, xương bọc giống nòi” là bỏ lại mồ mả, đền thờ cha ông đã từng xây đắp quê hương.  Hai câu thơ sau “Bỏ cả tình quê yêu dấu mãi? Búc ruột mà đi…hởi Đất Trời” là tiếng rên thảm thiết, không phải trách đất trời, mà hỏi đất trời có hiểu thấu cho tôi không!
 
Toàn khổ thơ thứ 2 mang âm hưởng bi tráng, bày tỏ sự bất bình khôn nguôi trong lòng tác giả, như tiếng kêu của loài chim vỡ tổ, như tiếng rống của con hổ bị lìa hang động. Bốn câu thơ không chứa ẩn dụ nhưng chứa tâm tư buồn bực, phẩn uất, của người bị đuổi đi như con suối xa nguồn, như chiếc lá không về cội, như con chim lìa tổ ấm, mãi mãi bay đi không về. Nếu có về được chăng, chỉ về bằng mộng mà thôi.
 
Ở khổ thơ thứ 3, nhà thơ cho biết mình đi “như trốn ta vào núi”. Núi nầy không phải núi ở quê hương mà núi ở một miền xa cách quê hương. Bởi vì nếu ở trên quê hương thì nhà thơ không thể “Theo Mộng Ta về” quê hương được. Nói thế thôi, nhưng cũng có nhiều người trốn vào chính núi quê hương mình, nhưng tâm tư họ luôn nghĩ mình đang lưu vong trên chính quê hương mình:
 
Ta đi như trốn ta vào núi
Thắp lửa rừng xanh tóc bạc rồi
Đốt than nửa gánh ta vào chợ
Nửa gánh “Hoàng hoa” sưởi mộng đời
 
Câu “Thắp lửa rừng xanh tóc bạc rồi” mang ý nghĩa sâu sắc về sự hoài niệm. Thời gian trôi qua không ngừng và nhiệt huyết vẫn cháy bỏng dầu tuổi đã cao. Hình ảnh rừng xanh là biểu tượng cho lý tưởng tuổi trẻ, còn tóc bạc là dấu hiệu của năm tháng. Hình ảnh lửa vẫn cháy, thể hiện một tâm hồn không bao gờ nguôi lạnh lý tưởng của mình. “Đốt than nửa gánh” không có nghĩa đen là chỉ đốt một nửa gánh than, mà có nghĩa bóng gợi lên sự lam lủ, là biểu tương của sự nhọc nhằn. “Nửa gánh” là không hoàn thành đủ một gánh, nói lên sự khó khăn trong mưu sinh. “Đốt thang nửa gánh ta vào chợ” có ý nghĩa về cuộc sống nghèo khó, vất vả của người lao động nhưng vẫn kiên trì bám trụ với cuộc đời, đồng thời ẩn chứa tấm lòng sắc son, thủy chung theo đuổi lý tưởng của mình. “Nửa gánh Hoàng Hoa sưởi mộng đời” là một ẩn dụ sâu sắc, đặc biệt liên quan đến tác phẩm “Gánh Hàng hoa” của Khái Hưng, thể hiện một khát vọng tình yêu bình dị. “Gánh hoàng hoa” tượng trưng cho cuộc mưu sinh vất vả nhưng cũng là nét đẹp văn hóa. Nửa gánh chỉ sự dang dở trong tình trường, hay nỗi cô đơn, sự chia cách của mối tình. Ở đây nhà thơ lấy tình yêu dang dở đó để sưởi ấm cho mộng của đời mình. Cả bốn câu thơ nói lên một kiếp đời phiêu bạc, dường như nhà thơ càng đi xa thì càng thấy mình lạc lỏng quê hương và lạc lỏng chính nơi mình trú ngụ.
 
Vào khổ thơ thứ tư, Vũ Đức Tô Châu dùng hình ảnh đầy u tối, diễn tả sự mất mát của người xa quê hương. Người đó vất vưởng trong cuộc sống như một chiếc bóng dại khờ. Những nỗi bi thương đó kết thành thi ca, phần nào cứu rỗi được linh hồn của người biệt xa xứ:
 
Ta đi! như bóng ma lìa xứ
Lẫn khuất mười năm bóng dại khờ
“Dâu biển” tang thương sông núi hởi!
Khúc tàn chinh lệ hóa thành thơ
 
“Ta đi như bóng ma lìa xứ” là sự rời đi một cách âm thầm, đột ngột, không để lại dấu vết, không chia tay với ai. Câu thơ gợi cho ta cảm giác trống vắng, chia ly trong nỗi buồn như sự chết. “Lẫn khuất mười năm bóng dại khờ/ “Dâu biển” tang thương sông núi hởi!” là vòng biến thiên nghiệt ngả mà quê hương, núi sông, những điều bất biến cũng nhuộm màu tang thương. “Tàn chinh” là cuộc chinh chiến đã hết. Với nhà thơ, lệ chảy nhiều sau cuộc chinh chiến, và lệ ấy đã biến thành thơ. Cả khổ thơ là của người lưu lạc, ra đi như bóng ma, chịu đựng sống dật dờ, hồi quang một thời trôi nổi. Khổ thơ vang lên như tiếng quê hương than thở. nhưng ở câu cuối thơ bật sáng. Câu thơ cuối  tạo độ nặng, làm toàn bộ vượt khỏi sự bi lụy để chạm đến sự thăng hoa.
 
Cuối bài thơ, khổ thơ thứ năm là khát vọng trở về với núi sông quê mẹ:
 
Rồi mai! Gửi xác bên trời vắng
Đất lạ hồn linh cũng dật dờ 
“Theo mộng ta về” Sông Núi cũ
Quê mẹ xanh rờn những giấc mơ
 
Khổ thơ nầy là một dự cảm, dầu thân xác chết đi nằm nơi miền đất lạ, linh hồn vẫn không nằm yên nếu chưa về với quê hương. Hai câu thơ kết như một lời thệ nguyện, dầu sống hay chết ta vẫn sẽ “Theo mộng ta về” an trú nơi quê hương.
 
Toàn bộ bài thơ “Theo Mộng Ta Về” Của Vũ Đức Tô Châu bày tỏ nỗi nhớ quê hương da diết của người tha phương. Nỗi đau bị đánh bật khỏi cội nguồn. Khát vọng trở về trong giấc mơ và trong tâm linh, lấy hình ảnh giàu tính biểu tượng: suối xa nguồn, chim lìa tổ, bóng ma lìa xứ. Ngôn ngữ thơ mộc mạc nhưng giàu sức gợi cảm. Giọng thơ bi thiết, giàu nhạc tính. Cách lặp điệp từ “Ta đi!” tạo nhịp thơ dồn dập, nhấn mạnh. Đây là tiếng nói của hàng triệu người xa xứ bất đắt dĩ mà lòng luôn đau đáu với quê hương.                                                                                                                
Châu Thạch

READ MORE - ĐỌC "THEO MỘNG TA VỀ” THƠ VŨ ĐỨC TÔ CHÂU - Châu Thạch

Tuesday, December 2, 2025

ĐỌC “THÁNG MƯỜI MỘT” THƠ HÙNG BÀNG LONG - Châu Thạch



Hôm nay là là 9/10 năm Ất Tỵ (2025), như vậy có thể xem như thời khắc chuyển mùa thu sang mùa đông đối với âm lịch
Đọc bài thơ “Tháng Mười Một” của Hùng Bàng Long ta thấy có một cảm xúc giao mùa thú vị. những hình ảnh trong thơ không có lá vàng rơi hay con nai vàng ngơ ngác. Nhưng cũng không quá băng giá của mùa đông, mà hiển hiện một thời khắc giao thoa se sắt cả không gian thời gian và lòng người. Bài thơ khiến lòng tôi cảm động và khiến tôi phải viết để thổ lộ những rung cảm cúả tâm hồn tôi.

Ta hãy đi vào bài thơ “Tháng Mười Một” thật êm dịu và da diết của Hùng Bàng Long ở khổ thơ đầu tiên:
 
Anh vội giấu mùa thu bên ngực trái
Để ngày đông trang trải chút ưu phiền
Mười một rồi, nắng ấm chẳng ghé hiên
Tháng của gió của mưa miền rét ủ
 
Ngực trái là nơi có con tim, nhà thơ dấu mùa thu vào ngực trái là một câu thơ ẩn dụ như giữ ký ức dịu dàng của anh và em vào con tim của anh. Tiếng thơ vang vọng lời tự sự, chứa đựng nỗi hoài niệm sâu thẳm trong lòng. Câu thơ làm ta nhớ lại thi sĩ nào đó đã viết “Một mình ngồi với ban mai/ Một mình mình biết  một mình mình hay”. 

Với Hùng Bàng Long thì chữ “giấu” chứng minh là nhà thơ đã một mình mình biết một mình mình hay suốt cả mùa thu êm đềm qua mùa đông giá lạnh. Qua thơ, nhà thơ Hùng Bàng Long đã vẽ điểm xuyết một bức tranh mùa đông bằng cảm giác, ngôn ngữ giàu nhạc điệu, khiến người đọc dễ hòa nhập vào bầu không khí se lạnh ấy: “Mười một rồi nắng ấm chẳng ghé hiên/ Tháng của gió của mưa miền rét ủ”.
 
Bây giờ xin mời bước qua khổ hai của bài thơ để thấy tháng của giao mùa, thiên nhiên biến động và tâm trạng con người cũng suy nghiệm sâu sắc hơn khi nhìn thấy biến động đó:
 
Mùa biến động chim thôi về trú ngụ
Tiếng côn trùng ru ngủ những chồi xanh
Vết đạn xuyên thân gỗ đá khó lành
Nhựa sẽ tích trên nhánh cành khoe sắc
 
 Sự sống biến động rõ ràng, chim thôi về trú ngụ trên cây, dự báo một chu kỳ đổi thay, côn trùng sinh sôi dưới những lá xanh vừa mới đâm chồi. Nhà thơ thổ lộ vết thương trong lòng mình, gởi vào hai câu thơ  “Vết đạn xuyên thân gỗ đã khó cành/ Nhựa sẽ tích trên nhánh vàng khoe sắc” thật là tuyệt diêu. Không thấy một nhà thơ nào viết cụ thể về sự đau khổ sẽ làm thơ hay như Hùng Bàng Long. Nhà thơ Hàn Mạc Tử viết bài thơ “Đây Thôn Vĩ Dạ” cũng chỉ thể hiện chung sự cô đơn và tuyệt vọng bằng bài thơ bóng bẩy. Nhà thơ Diệp Ly thể hiện nỗi buồn triền miên  và tâm trạng cô đơn  bằng hai câu thơ “Đêm có biết vì sao tôi thao thức/Mảnh tình riêng ray rức cả bồn tim”. Cả thơ Hàn và thơ Diệp Ly đều tuyệt vời, nhưng đều không diễn tả rất cụ thể nỗi đau khổ sẽ tích trên thân cây để thành nhựa nguyên cho cành cây khoe sắc, tức là sẽ sáng tác thơ hay đối đối người thi sĩ . Đây là một ý thơ thông minh, tứ thơ hầu như chưa có ai nghĩ tới.
 
Mời tiếp tục vào thăm hai luống hoa (khổ 3 và khổ 4) của bài thơ, ta thấy cảm xúc dâng cao khi tình yêu đặt vào sự chuyển mùa. Nhà thơ ôm ấp những cảm xúc đó và suy nghiệm cho tình yêu của mình, ngộ được một chân lý siêu việt mà Trời ban cho vết thương tình:
 
Anh vội giấu mùa thu vào đôi mắt
Của người thương trong vắt những mong chờ
Mười một rồi, nắng nhạt phía trang thơ
Đông đã đến hửng hờ bên bậc cửa
 
Anh vội giấu mùa thu về một nửa
Một nửa em rụng kín lối hao gầy
Mười một rồi, ấm lạnh đôi bàn tay
Tháng trăn trở, tháng của ngày tri kỷ
 
- Mùa thu đang sang đông, bây giờ nó biến hóa thành đôi mắt em, để cho anh giấu vào con tim, để cho anh mong chờ. Tình anh giấu trong tim sẽ trong vắt như mắt mùa thu của em. Ôi hai câu thơ làm cho mùa thu, mắt em và tình anh đẹp vô vàn!
- Mùa thu tuy đẹp nhưng mùa đông mới là mùa mà tinh của nhà thơ dang dở, cho nên nhà thơ mới trăn trở, nhớ thương và thành thơ trong mùa dang dở ấy: “Mười một rồi nắng nhạt cả trang thơ/Đông đã đến hửng hờ trên bậc cửa”. Ở đây cảm xúc lên cao hơn khi nhìn mùa đông thong thả đến, tưởng như hửng hờ khiến cho cái mong chờ trở nên dài hơn, da diết hơn.
 
- “Anh vội giấu mùa thu về một nửa/Một nửa em rụng kín lối hao gầy” không có nghĩa là nhà thơ chỉ giấu một nửa tình yêu vào con tim của mình. Ở đây nhà thơ bày tỏ sự lưu luyên trong thời tiết không gian, đem tới sự lưu luyến trong mắt mình. Vì giao mùa giữa thu và đông nên lá vẫn còn rụng kín lối đi, nhà thơ nhớ tình em trọn vẹn trong tim khi nhìn mùa thu còn sót lại lá rơi.
- Tháng 11 trong thơ là tháng tác giả ngồi sưởi ấm, có nhiều thời gian để ôn cố mối tình, nhớ thương người tri kỷ: “Mười một rồi ấm lạnh đôi tay/Tháng trăng trở, tháng của ngày tri kỷ”.
 
 Vào khổ thơ thứ 5, Hùng Bàng Long dùng hình ảnh cây trầm, là linh mộc, làm biểu tượng cho nỗi đau biến thành thơ của mình, khép lại bài thơ bằng một tứ thơ sâu nhiệm, đẹp và cao sang:
 
Rừng trăm tuổi có ngàn thân gỗ quý
Cớ sao riêng mỗi Dó hóa kỳ trầm?
Cũng như người thầm lặng giữ hư tâm
Cho thơ lắng những giọt trầm thánh thót.
 
Khổ thơ chót như một bài giảng triết lý, con người khi biết hóa giải những tổn thương thành những điều cao quý thì sống trên đời, dầu đơn sơ, bình dị nhưng sẽ như cây Dó trên rừng kia, trầm hương sẽ kết tụ trong lòng nó để dâng cho đời.
 
Đọc bài thơ “Tháng Mười Một” của Hùng Bàng Long ta thấy tác giả dùng mùa để nói lòng mình, dùng thiên nhiên để soi chiếu tâm tình, và dùng hình ảnh trầm hương cho sự biến hóa nỗi đau của mình. Bài thơ “Tháng Mười Một” mang vẻ đẹp của một bức tranh giao mùa lạnh nhưng không buốt, buồn nhưng rất dịu, triết lý mà không nặng nề, thắm thiết tình yêu mà không bi lụy. Đây là một bài thơ hay khó tìm thấy ở thời đại này, thời đại mà lắm nhà thơ thích dùng chữ bí hiểm, ý tứ cầu kỳ và tiếng thơ như nhạc kích động.
                                                                                         
 Châu Thạch

THÁNG MƯỜI MỘT
 
Anh vội giấu mùa thu bên ngực trái
Để ngày đông trang trải chút ưu phiền
Mười một rồi, nắng ấm chẳng ghé hiên
Tháng của gió của mưa miền rét ủ
 
Mùa biến động chim thôi về trú ngụ
Tiếng côn trùng ru ngủ những chồi xanh
Vết đạn xuyên thân gỗ đá khó lành
Nhựa sẽ tích trên nhánh cành khoe sắc
 
Anh vội giấu mùa thu vào đôi mắt
Của người thương trong vắt những mong chờ
Mười một rồi, nắng nhạt phía trang thơ
Đông đã đến hững hờ bên bậc cửa
 
Anh vội giấu mùa thu về một nửa
Một nửa em rụng kín lối hao gầy
Mười một rồi, ấm lạnh đôi bàn tay
Tháng trăn trở, tháng của ngày tri kỷ
 
Rừng trăm tuổi có ngàn thân gỗ quý
Cớ sao riêng mỗi Dó hóa kỳ trầm?
Cũng như người thầm lặng  giữ hư tâm
Cho thơ lắng những giọt trầm thánh thót.

                                    Hùng Bàng Long

READ MORE - ĐỌC “THÁNG MƯỜI MỘT” THƠ HÙNG BÀNG LONG - Châu Thạch

Wednesday, November 26, 2025

NHÂN NGÀY ĐẠI TƯỜNG NHÀ THƠ TUỆ SỸ (24/11/2925) ĐỌC ‘TỐNG BIỆT HÀNH” THƠ TUỆ SỸ - Châu Thạch TỐNG BIỆT HÀNH




TỐNG BIỆT HÀNH
 
Một bước đường thôi nhưng núi cao
Trời ơi mây trắng đọng phương nào
Đò ngang neo bến đầy sương sớm
Cạn hết ân tình, nước lạnh sao?
 
Một bước đường xa, xa biển khơi
Mấy trùng sương mỏng nhuộm tơ trời
Thuyền chưa ra bến bình minh đỏ
Nhưng mấy nghìn năm tống biệt rồi
 
Cho hết đêm hè trông bóng ma
Tàn thu khói mộng trắng Ngân hà
Trời không ngưng gió chờ sương đọng
Nhưng mấy nghìn sau ố nhạt nhòa
 
Cho hết mùa thu biệt lữ hành
Rừng thu mưa máu dạt lều tranh
Ta so phấn nhụy trên màu úa
Trên phím dương cầm, hay máu xanh
                                            Nh.Tr. 77
 
NHÂN NGÀY ĐẠI TƯỜNG NHÀ THƠ TUỆ SỸ (24/11/2925) ĐỌC ‘TỐNG BIỆT HÀNH” THƠ TUỆ SỸ
                   Châu Thạch
 
“Hành” là một thể loại thơ không phổ thông lắm, nhưng nó từng giữ một vị trí đáng kể trong lịch sử thi ca Việt Nam. Một bài thơ ở thể “Hành” thường đề cập đến những sự việc với tâm trạng bức xúc. Nếu so sánh “Hành” với những thể thơ khác ở giai đoạn thơ mới (Thập niên 1930 đến nay) thì thể “Hành” không được sáng tác nhiều. Tuy thế dầu ít, “Hành” cũng có được ngôi vị trân trọng trong nền văn học giai đoạn nầy. Cụ thể là “Tống Biệt hành” của Thâm Tâm, “Hành Phương Nam” của Nguyễn Bính và một số bài thơ thể “Hành” ít nổi tiếng hơn.
 
Tống biệt hành của Tuệ Sỹ là một bài thơ nằm trong tập thơ Giấc mơ Trường Sơn của ngài Tuệ Sỹ. Một số nhà phê bình văn học đã viết về Tống Biệt Hành của Tuệ Sỹ như sau:
 
“Tống biệt hành của Tuệ Sỹ, tác giả đồng thời là một vị hành giả cô đơn, cô đơn ngay trên chính đất nước của mình, cô đơn ngay trên chính quê hương của mình, mặc dù, nơi đây, ông đã nguyện dành hết cuộc đời mình yêu thương và hy sinh tận tụy”.
 
“Tống biệt hành của Tuệ Sỹ là một nỗi buồn lớn lao từ bước đường dằng dặc trải dài phía trước, nơi không biết, ngày mai, sẽ dẫn ông về đâu; là nỗi buồn từ mây trời, chẳng biết đến từ phương nào, mà bây giờ, đã quá chừng chừng tụ nơi bến đỗ; từ con nước dửng dưng buông trôi về chân trời vô định, dửng dưng như lòng người trong một sớm đổi thay, thay hết cả ân tình xưa bằng dòng lạnh lùng, xa vắng”.
 
“Tống biệt hành của Tuệ Sỹ, là một bài thơ, với hơi thơ trầm mặc, với giọng thơ buồn đau mà vẫn lưu được vẻ hiền hòa, từ bi của một vị hành giả, lấy đất trời làm nơi tạm dung, lấy đức tin làm chốn nương vào để đi trọn vẹn con đường mà vị khách lữ hành đã chọn lựa”.
 
Với Châu Thạch tôi, Tống Biệt Hành của Tuệ Sỹ là một tiếng kêu của sự ấm ức chất chứa trong lòng, là một tiếng than cho nỗi đau triền miên của một con người có chí lớn nhưng bị đời ngăn trở, chèn ép, vây bọc muôn khó khăn như sông lớn, như núi cao khiến người ấy phải giam mình trong chốn chật hẹp mà nhìn thấy mây bay.
 
Ta hãy lần lượt đi vào 4 khổ của bài Tống Biệt hành để nghiên cứu sâu hơn nữa nỗi lòng tác giả và sự hay kỳ vỹ của thi ý thi tứ mà nhà thơ hàng đầu của đất Việt gởi vào đó. Ta hãy đọc khổ thơ đầu tiên của Tống Biệt hành:
 
Một bước đường thôi nhưng núi cao
Trời ơi mây trắng đọng phương nào
Đò ngang neo bến đầy sương sớm
Cạn hết ân tình, nước lạnh sao?
 
Ở câu thơ đầu tiên tác giả đã than van vì sự ngăn trở của núi cao, chỉ một bước đường thôi là đến nơi tác giả mong muốn đến, nhưng đã bị núi cao chận lối. Vậy nơi nhà thơ muốn đến là đâu?. Câu thơ thứ hai nói rõ nơi muốn đến: “Trời ơi mây trắng đọng phương nào”. Vậy nơi nhà thơ muốn đến là nơi có mây trắng, mây đó “đọng phương nào” thì nhà thơ chưa biết được, thế nhưng đối với Tuệ Sỹ, con người có chí lớn thì đến với mây trắng không khó, chỉ là “một bước đường thôi” nếu không bị ngăn trở bởi “núi cao”.
 
Trong Phật gíao, mây trắng tượng trưng sự thanh tịnh, vô nhiểm và trí tuệ, là một trong những màu sắc của mây ngũ sắc mang ý nghĩa phước lành. Ngoài ra, mây trắng còn đại diện cho sự tự do, nhẹ nhàng, tỉnh tại và thong dong, nhắc nhở về khả năng buông bỏ để tìm thấy bình an. Tóm lại, có thể hiểu mây trắng tượng trưng cho cõi giải thoát. Bởi vậy thiền sư Thích Nhất Hạnh viết tựa đề cho quyến sách của ông là “Đường Xưa Mây trắng” với ý nghĩa là con đường xưa của Đức Phật với những dấu chân và sự kiện xảy ra trên chặng đường ấy, để ngài tìm đến chân lý là chố Mây Trắng, biểu thị chốn giải thoát. Vậy ta có thể hiểu hai câu thơ “một bước đường thôi nhưng núi cao/Trời ơi mây trắng đọng phương nào” là ngài than thở cho trở ngại chận con đường tu tập của ngài quá lớn, lớn như núi cao, không cho ngài có thể vượt qua để đạt đạo.
 
Hai câu thở tiếp theo “Đò ngang nếu bến đầy sương sớm/Cạn hết ân tình, nước lạnh sao?” có ý nghĩa là con đò ngang để đưa người qua bến mê đến miền mây trắng cũng như cạn hết ân tình vì nước cũng đã lạnh băng, thuyền không rời bến được. Hai câu thơ bày tỏ sự bất lực, thiên nhiên và phương tiện đều không thuận tiện cho sự lên đường.  Cả khổ thơ trên, tuy nhà thơ chỉ nói đến trở ngại do núi sông nhưng thật ra, nhà thơ dùng núi sông làm ẩn dụ để đề cập đến sự ngăn trở của cuộc đời đem đến cho bước đường tu tập của ngài trùng trùng như núi, mênh mông như biển như sông kia.
 
Khổ thơ thứ hai nhà thơ nói rõ, chi một bước đường thôi nhưng gặp sự ngăn trở làm cho bước đường trở thành xa, xa như xa biển khơi:
 
Một bước đường xa, xa biển khơi
Mấy trùng sương mỏng nhuộm tơ trời
Thuyền chưa ra bến bình minh đỏ
Nhưng mấy nghìn năm tống biệt rồi
 
“Một bước đường xa, xa biển khơi” nghĩa là chỉ một bước đường nhưng bước đó xa lắm, xa và rộng như biển khơi. “Mây trùng sương mỏng nhuộm tơ trời” nghĩa là trên bước đường đó có mây trùng trùng điệp điệp, có sương mù vây phủ bốn phương nhuộm hết tơ trời. “Thuyền chưa ra bến bình mình đỏ” có nghĩa là thuyền chưa có cơ hội rời bến một lần nào trong thời tiết bình minh tươi đẹp. “Nhưng mấy ngàn năm tống biệt rồi” có nghĩa là sự chia tay, tiển biệt đi kèm với cảm xúc đã xảy ra mấy ngàn năm trước. Đây là câu thơ khó, có thể hiểu qua ngàn kiếp, nhà thơ đã lên đường nhiều lần từ ngàn năm trước, ở kiếp nầy, tác giả cũng lên đường nhưng gặp vạn khó khăn.
 
Trong khổ thơ nầy ta thấy nhà thơ Tuệ Sỹ bi quan, ngài bất lực trước những trắc trở gây ra trước biến động thiên nhiên, mà những trở ngai ấy không chỉ bây giờ mà đã gây ra hàng ngàn năm trước, trong hàng ngàn lần tống biệt ở ngàn kiếp trước đến nay. Cả khổ 1 và khổ 2 của bài thơ là nỗi trăn trở chứa trong thơ, uất nghẹn trong lời bày tỏ, là sự bi quan trước nghich cảnh, nghịch cảnh ấy trong thơ là do thiên nhiên gây ra, nhưng rõ ràng với phương tiện bây giờ thì thiên nhiên không gây khó khăn cho sự đi lại. Vậy nhà thơ muốn ám chỉ đến nghịch cảnh do con người đem đến trên bước đường tu tập tâm linh của mình.
 
Vào khổ thơ thứ ba, nhà thơ bày tỏ sự tù túng trong bốn vách tường để nhìn bóng ma đi ngoài xã hội, để thấy chí lớn của mình chỉ thành mộng tan như mấy khói trắng sông Ngân Hà, để thấy sương gió phù du, và lo lắng đến ngàn năm sau trời đất sẽ thành ô uế hơn:
 
Cho hết đêm hè trông bóng ma
Tàn thu khói mộng trắng Ngân hà
Trời không ngưng gió chờ sương đọng
Nhưng mấy nghìn sau ố nhạt nhòa
 
Nhà thơ Tuệ Sỹ không nhắc đến mùa xuân và mùa đông trong khổ thơ nầy, có lẽ nhà thơ chỉ đề cập đến cái tuổi hoạt động của một đời người, tuổi xuân thì còn hoc tập, tuổi đông thì đã già, chỉ có tuổi mùa hạ và mùa thu của một đời người thì xông xáo trong cuôc sống, tạo sự nghiệp cho  mình.  Thế nhưng với Tuệ Sỹ, trong thơ ta thấy “Cho hết đêm hè trông bóng ma” nghĩa là phải đối phó với ma vương, đến nỗi ngài không chống cự được mà chỉ ngồi trông nó hoành hành. Qua mùa thu của tuổi đời thì Tuệ Sỹ viết “Tàn thu khói mộng trắng Ngân Hà” nghĩa là mộng lý tưởng của ngài bi tan thành mây khói hết.  Câu thơ thứ ba “Trời không ngưng gió chờ sương đọng” nghĩa là bão táp thổi vào đời nầy không ngừng nghĩ, nó còn kéo lê đến mấy ngàn năm sau làm hoen ố dòng lịch sử: “Nhưng mấy nghìn sau ố nhạt nhòa”.
 
Khổ thơ thứ tư là nỗi bi quan cho phút cuối, nhà thơ tưởng tượng mộng lữ hành tan biến, nhà thơ từ biệt mộng lữ hành. Lúc đó rừng thu mưa máu, mưa máu trong ẩn dụ văn học để miêu tả sự kiện kinh hoàng đang xảy ra hay báo hiệu sắp xảy ra:
 
Cho hết mùa thu biệt lữ hành
Rừng thu mưa máu dạt lều tranh
Ta so phấn nhụy trên màu úa
Trên phím dương cầm, hay máu xanh
 
Cả khổ thơ cuối là một tiếng thở dài não nuột, nhà thơ tưởng tượng mình tống biệt cuộc lữ hành mà mình mơ tưởng như đưa một người sang sông trong Tống Biệt hành của Thâm Tâm: “Đưa người ta không đưa sang sông/Sao có tiếng khóc ở trong lòng”, “Ly khách! ly khách! con đường nhỏ/ Chí lớn chưa về bàn tay không/Thì không bao giờ nói trở lại/Ba năm mẹ già cũng bằng không”. Nhà thư Thâm Tâm thì tống biệt người có chí lớn, còn nhà thơ Tụệ Sỹ thì tống biệt chí lớn của mình, cả hai đều mang nỗi niềm đau đớn như nhau. Tuệ Sỹ khóc cho lý tưởng của mình  đã nuôi từ mùa hạ sang mùa thu của cuộc đời không thành, qua tuổi mùa đông nhà thơ bị quản thúc trong nhà để thấy tài năng của mình như phấn nhụy trên hoa đã tàn úa: “Ta so phấn nhụy trên màu úa”, hay sự tàn úa đó rõ nét trên tiếng đàn lạc điệu hay trên sự nóng cháy của dòng máu xanh đã nguội: “Trên phím dương cầm, trên máu xanh”.  Máu xanh là một cách diễn tả mang nhiều ý nghĩa tùy ngữ cảnh. Ở đây máu xanh có thể là dòng máu cao quý, dòng máu đầy tình yêu và cao thượng.
 
Tóm lại “Tống Biệt Hành” của Tuệ Sỹ là bài thơ bi quan trước nghịch cảnh, Tuệ Sỹ tập trung khai thác thế giới tiềm thức, bằng cách sử dụng các hình ảnh kỳ lạ, bát ngờ để biểu đạt những cảm xúc và nội tâm sâu sắc bằng những liên tưởng tự do không bị gò bó của mình. Đọc bài thơ thấy khó hiểu nhưng nếu suy nghiệm để hiểu ra thì ta vô cùng thán phục sức tưởng tưởng và ý niệm cao thâm của một bậc hiền triết Việt Nam bằng tất cả lòng kính trọng của mình.                                                                                       
                                                                                         Châu Thạch

READ MORE - NHÂN NGÀY ĐẠI TƯỜNG NHÀ THƠ TUỆ SỸ (24/11/2925) ĐỌC ‘TỐNG BIỆT HÀNH” THƠ TUỆ SỸ - Châu Thạch TỐNG BIỆT HÀNH

Thursday, October 9, 2025

HAI BÀI THƠ ĐẠO - Châu Thạch


   
             Tác giả Châu Thạch


TRÊN ĐỈNH SIN SUỐI HỒ
 
Đỉnh núi cao hơn trên đỉnh mây
Bài tôn vinh Chúa thật là hay
Cả bản H'Mong đều nên thánh
Một góc Thiên Đàng ngay chốn đây
 
Tôi đã cùng em đến một ngày
Rừng thiên nước độc lại lành thay
Tưởng đâu như có nhiều thiên sứ
Đi lại trên trời như bướm bay
 
Mới biết niềm tin hạnh phúc thay
Đại ngàn bình tịnh ánh trăng đầy
Mặt trời qua núi như ru võng
Đêm ngủ cùng ta giấc mộng say!
 
 
DƯỚI CHÂN LẦU CHUÔNG
 
Dưới chân lầu chuông ngày Chúa nhật
Hai ta chuẩn bị lễ tôn thờ
Đầu tháng, hôm nay là tiệc Thánh
Trong lòng thanh thoát tựa như mơ
 
Thơm ngát trong ta bông trái nở
Thánh Linh tràn ngập cả hồn thơ
Trên cao chuông vọng lời muôn thuở
Chúa gọi nhân gian đến phụng thờ
 
Ta sẽ vào trong ngôi Thánh Đường
Nghe bài rao giảng những yêu thương
Thánh ca huyền nhiệm ban êm ái
Tiệc thánh năng quyền thân Thánh Vương
 
Dưới chân lầu chuông ngày Chúa Nhật
Mượn màu hoa đỏ trọn màu yêu
Cầm tay xin nguyện lời chân thật
Trung tín thờ Cha đến xế chiều!
                    
                                          Châu Thạch

READ MORE - HAI BÀI THƠ ĐẠO - Châu Thạch

Wednesday, October 1, 2025

ĐỌC BÀI THƠ “QUA PHỔ” CỦA HÀ VŨ GIANG CHÂU - Châu Thạch


Tác giả Hà Vũ Giang Châu


QUA PHỐ
                    
Rảo qua phường phố tìm người                    
Phố hằng vết phố người cười lạ chưa                   
Buồn trong ta mấy cho vừa                     
Đường xưa giờ cũng đã thưa thớt người                    
Chợt nhìn em nở nụ cười                    
Ô hay                    
Sao giống dáng người ngày xưa.
                                    
                                 Hà Vũ Giang Châu
 
ĐỌC BÀI THƠ “QUA PHỔ” CỦA HÀ VŨ GIANG CHÂU
                            Châu Thạch
 
Nhà thơ Hà Vũ Giang Châu, một tên tuổi của diễn đàn thi ca từ trước năm 1975 cho đến nay tại miền Nam Việt Nam. Dầu tôi có viết thêm về ông bao nhiêu đi nữa thì cũng không thấm gì đối với gia tài văn chương đồ sộ và những bài bình thơ khen tặng trên văn thi đàn, của những cây bút ái mộ thơ ông.
 
Tuy biết thế, nhưng bài  thơ  “Qua Phố” của Hà Vũ Giang Châu là một bài thơ ngắn ông viết từ thời còn sinh viên mà đến nay tôi mới vô tình đọc được, bài thơ cũng là một bức tranh diễn đạt giàu cảm xúc, thể hiện nỗi nhớ nhung da diết về một mối tình xưa, đã đưa tâm hồn tôi quay về với những con phố cũ của tôi, khiến cho tôi muốn viết bài cảm nhận nầy không phải để cho ông, mà để cho những rung cảm trong lòng tôi thành lời, giống như ai đó muốn cất tiếng ca hay muốn khảy một cung đàn khi cảm thấy lòng mình khoan khoái.
 
Bài thơ “Qua phố” của Hà Vũ Giang Châu là một bức tranh nhỏ gọn nhưng giàu cảm xúc, gói ghém nỗi nhớ, sự nuối tiếc và khát vọng tìm lại bóng hình xưa trong dòng đời hiện tại.
Hai câu thơ mở đầu bài thơ phát họa một bức tranh đẹp về một người, hay ý nghĩa hơn nữa là một thi nhân đi lang thang qua các con phố cũ. Đi qua để làm gì? Tất nhiên để tìm về những kỷ niệm của một thời xa xưa nào đó:
                                         
Rảo qua phường phố tìm người                    
Phố hằng vết phố người cười lạ chưa
 
Nhà thơ bước đi giữa lối xưa với tâm hồn tràn cảm xúc, nhà thơ thấy “phố hằng vết phố”, là thấy vết thời gian làm phai mòn cảnh cũ. Hai câu thơ vẽ thành một bức tranh thể hiện được tâm trạng bồn chồn, khắc khoải của người quay lại. Hai câu thơ cũng vẽ lại đường phố trở nên “hồn thu thảo” bởi những vết hằng trên cảnh cũ yêu thương.
 
Hình ảnh phố hằng lên những vết cũng thể hiện nhừng gì xảy ra trong cuộc tình tác giả đang giữ trong lòng. Nhà thơ mang vết hằng của tình yêu trong lòng mình và đi tìm lại người xưa trong vết hằng của đường phố năm xưa. Chi hai câu thơ mà như cơn gió lạnh bên ngoài thổi vào tâm hồn ta cái lạnh của nó, chất chứa sự cô đơn lạc lõng giữa những nụ cười tuy vẫn tươi vui nhưng của người xa lạ.
 
Hai câu thơ kế tiếp là tiếng thở dài não nuột dưới bóng cánh hoang liêu của đường phố cũ:
 
Buồn trong ta mấy cho vừa
Đường xưa giờ cũng đã thưa thớt người
 
Ngày xưa có em thì đường đông đúc, ngày nay không em lại vắng bóng người. Buồn cứ lên cứ lên trong lòng không biết mấy cho vừa. Hai câu thơ cọng hưởng lủy thừa sự cô đơn, sự trống vắng trong nội tâm và trong ngoại cảnh, khiến cho ai đọc thơ thì thẩm thấu vào lòng mình nỗi nhớ đang trùm cả không gian và thời gian hiện tại.
 
Thế rồi bất ngờ thay, trong khoảnh khắc, bóng dáng quen thuộc người xưa thoáng xuất hiện lại trên nụ cười của ai đó, chắc là của một thiếu nữ qua đường. Nụ cười đó làm cho tác giả cảm động, bồi hồi, nó hiện thực bởi vì nó ở trước mắt, nó mơ hồ bởi vì nó không phải của người năm xưa:
 
Chợt nhìn em nở nụ cười
Ô hay
Sao giống dáng người ngày xưa.
 
Cả bài thơ chỉ có 6 câu, bốn câu thơ đầu bình thường, câu thơ cuối “Sao giống dáng người ngày xưa” như một thiên thần đưa cả bài thơ bay vút lên cao, trên  cao ấy là một rừng hoa thơm ngát có niềm vui như gió làm dịu đi nỗi nhớ, làm vơi đi nỗi buồn, làm phấn chấn niềm hy vọng, làm sống lại những gì tưởng chết rồi trong ký ức.
 
Bài thơ “Qua Phố” của Hà Vũ Giang Châu ngắn gọn mà hay. Hay là vì nó chỉ cho một niềm vui rất đơn sơ nhưng rất bất ngở trong một tâm hồn đang hoài niệm về một mối tình trong qúa khứ làm “buồn trong ta mấy cho vừa”.  Bài thơ chỉ dùng một ý thơ xuất sắc đánh vào tâm lý của người đang hoài niệm, đang lạc lỏng, đang bơ vơ, đang thương nhớ và đang tìm về quá khứ. Nụ cười trong thơ như một dóa hoa nở tươi trong sương giá, như một giọt cam lồ trên môi người đang khát, như một phép lạ làm dịu mát một tâm hồn thất vọng trong quê hương tình yêu cũ năm xưa.
 
Ôi tình yêu thật lạ kỳ, trong ngàn vạn vết hằng của quá khứ, chỉ còn sót lại đơn sơ một điểm giống xưa, dủ làm cho ta sống lại, đủ làm cho ta hạnh phúc trong lòng. Bằng một bài thơ ngắn, Hà Vũ Giáng Châu đã cho ta vui lại trong nỗi đau của những cuộc tình tan vỡ!                                                                                                                                                                                             
Châu Thạch

READ MORE - ĐỌC BÀI THƠ “QUA PHỔ” CỦA HÀ VŨ GIANG CHÂU - Châu Thạch

Friday, June 27, 2025

KIM NGÂN CA SĨ - Thơ Châu Thạch


 

Xưa em là ca sĩ
Lẫy lừng trên sân khấu
Em chính là người mẫu
Trong ánh đèn lưu ly
 
Nay em thành tiều tụy
Trên đường phố Hoa Kỳ
Em làm người homeless
Lang thang bàn chân đi
 
Xưa em là ngọc quý
Nay em là viên bi
Lăn bên bờ bên bụi
Tóc bạc màu kaki
 
Thương em còn tiếng hát
Vang vọng một thời xưa
Qua trăm gió ngàn mưa
Vẫn mang hồn ca sĩ
 
Khen em không quỵ luỵ
Vẫn ngạo nghễ giữa đời
Vẫn hát và rong chơi
Như cây tùng sương gió
 
Nhìn em anh sáng tỏ
Một triết lý giữa đời
Em KIM NGÂN sáng ngời
Em mới là ca sĩ!
 
Cho đời lời tinh túy
Cho đời lời lung linh
Cho đời lời chí tình
Không cần đời trả lại!
    
               Châu Thạch
 
READ MORE - KIM NGÂN CA SĨ - Thơ Châu Thạch

Monday, April 14, 2025

ĐỌC “LOẠN THỊ” THƠ TUỆ SỸ - Châu Thạch




VÀI LỜI PHI LỘ:

Đại lão hòa thượng Thích Tuệ Sỹ, người mà bất ký tôn giáo nào cũng kính phục. Ngài viên tịch, để lại vô vàn nỗi niềm thương tiếc cho những ai biết đạo lý làm người. Chúng tôi không phải là nhà phê bình thơ, không phải là người có học, không phải là người Phật tử, chỉ là người yêu thơ. Bởi kính trọng nhân cách làm Người của ngài và nhân cách thơ của ngài, chúng tôi rung động đặc biệt với 7 bài thơ của ngài, nên viết cảm nhận về 7 bài thơ ấy. Đó là những bài thơ:
- Khung Trời Cũ -Mưa Cao Nguyên -Hận Thu Cao -Ác Mộng -Bài Thơ Cuối Cùng - Loạn Thị -Tống Biệt Hành.
Hôm nay mời quý vị đọc cảm nhận bài thơ “Loạn Thị”. Mong góp cho đời chút hương vị thi ca. Trân trọng!
                      Châu Thạch
 
LOẠN THỊ
 
Cắt gân máu chiêm bao quỉ hiện
Ai làm gì bên chiếc ghế mây
Vách tường trắng bàn tay năm ngón
Một bông hồng năm cánh đang xoay
Chồng gối cao không thấy mặt trời
Trên khung cửa con chim thắt cổ
Đàn kiến bò hạt cát đang rơi
Tôi nhắm mắt trầm ngâm ánh lửa
                                         Tuệ Sỹ
 
ĐỌC “LOẠN THỊ” THƠ TUỆ SỸ 
                                                               Châu Thạch
 
Loạn thị là gì? Loạn thị (Astigmatism) là tật khúc xạ ở mắt do giác mạc ghi nhận những hình dạng khác thường so với hình thực tế… Những tia sáng khi đi vào mắt thay vì hội tụ lại một điểm lại bị khuếch tán trên võng mạc, khiến hình ảnh thu được có hình dạng méo mó và nhoè. Bài thơ trên đây tuy lấy tựa đề là “Loạn Thị” nhưng ta không thấy gì là loạn thị như định nghĩa ở trên mà có vẻ như là tác giả đang bị rối loại tâm thần nên cái nhìn thấy toàn ảo giác
 
Rối loạn tâm thần là bệnh gây ra những nhận thức cùng suy nghĩ lệch lạc, đặc trưng bởi triệu chứng ảo giác và ảo tưởng. Trong đó, ảo giác là người bệnh thấy những hình ảnh hoặc nghe được âm thanh không có thật. Có rất nhiều dạng rối loạn tâm thần gây ra nhiều triệu chứng khác nhau, cũng không có biện pháp chắc chắn nào để ngăn ngừa các căn bệnh này một cách hoàn toàn.
 
Nhà thơ Tuệ Sỹ là một thiền sư đức cao trọng vọng, ngài có tinh thần thép được minh chứng qua những năm tù tội nhưng vẫn tỉnh táo, được người Phật tử tôn vinh là đại trí đại bi, như thế việc nói ngài bị rối loạn tâm thần thì không thể có.
Vậy bài thơ “Loạn Thị” chắc chắc là một bài thơ có ý nghĩa sâu xa siêu việt.
 
Chưa thấy một nhà phê bình văn học hay một học giả nào đề cập đến bài thơ nầy. Châu Thạch tôi mạo muội viết những cảm nhận về bài thơ nầy chỉ theo cảm quan hẹp hòi và thiển cận của mình. Kính mong qúy vị, đọc và xem như câu chuyện mạn đàm để tưởng nhớ một vị thầy đáng kính của nhân gian, vì khó ai hiểu được bài thơ nầy cho tường tận, nhưng trong đáy lòng, ai cũng biết bài thơ nầy là “Lời lời châu ngọc hàng hàng gấm thêu”.
 
Đọc câu thơ đầu tiên : “Cắt gân máu chiêm bao quỷ hiện”:

Sách vở đề cập đến nhà thơ Tuệ Sỹ tuyệt thực nhiều ngày nhưng không có ai nói đến ngài cắt gân máu mình mà tự tử.
Trong Phật giáo người tự sát phạm vào 3 tội nặng:
1 - bất hiếu với song thân.
2 – phụ bạc phúc báu có được thân người.
3- ngu si, vô tri, làm cho thần thức chìm trong thống khổ triền miên.
Vậy Tuệ Sỹ là một vị thượng tọa, ai cũng biết ngài có gan đội đá vá trời, bị kết án tử hình, nhà nước biểu viết đơn xin tha mới trả tự do nhưng ngài không viết, thì ngài không cắt gân máu mình để chết vô ích bao giờ. Như thế ta có thể hiểu câu thơ “Cắt gân máu chiêm bao quỷ hiện” chỉ nằm trong một giấc chiêm bao nào đó của ngài Tuệ Sỹ mà thôi.
 
Câu thơ thứ 2 “Ai làm gì bên chiếc ghế mây”:

Nhà thơ thấy một người loay hoay đang làm gì bên chiếc ghế mây. Trong cơn mơ mình thấy mình rất hay xảy ra với mọi người. Đọc câu thơ nầy ta có thể hiểu ngài Tuệ Sỹ thấy chính phách của ngài trong một trạng thái chăm chỉ vào một công việc nào đó. Ta có thể tưởng tuợng nhà thơ mơ thấy mình đang đan một chiến ghế mây, là đang tạo hình một đồ vật, đồ vật đó bằng mây, mây mang hình ảnh có sức chịu đựng dẻo dai bền bỉ. Với Tuệ Sỹ có thể hiểu là ngài đang chiêm bao thấy hình ảnh của ngài kham nhẩn tu tập và đấu tranh cho công bằng xã hội, cho đất nước quê hương.
 
Câu thơ thứ 3 và thứ 4 “Vách tường trắng bàn tay năm ngón/ Một bông hồng năm cánh đang xoay”:

Hai câu thơ nầy có thể hiểu nhà thơ Tuê Sỹ chiêm bao thấy có một bàn tay như đóa hoa hồng 5 cánh đang xoay trên vách tường. Bàn tay mang nhiều biểu tượng cảm xúc tùy theo hình ảnh của nó. Bàn tay mở ra, bàn tay đưa cao, bàn tay úp lại đều có ý nghĩa khác nhau. Bàn tay đang xoay tượng trưng cho sự vận hành của một công việc hay một lý tưởng. Bàn tay đang xoay lại là một bàn tay giống đóa hoa hồng 5 cánh thì ta có thể hiểu nó tượng trưng cho một tình yêu đang vận hành. Tuệ Sỹ là một nhà sư, còn là một nhà ái quốc, vậy ngài mơ thấy bàn tay như đóa hoa hồng đang xoay là mơ thấy lý tưởng của chính ngài đang thực hiện, đang ấp ủ trong lòng mình.
 
Qua hai câu thơ thứ 5 và thứ 6 “Chồng gối cao không thấy mặt trời/Trên khung cửa con chim thắt cổ”:

Hai câu thơ nầy đối chọi nhau. Nhà thơ thấy một hiện tượng rất to lớn xảy ra. Đó là hiện tượng những chiếc gối chồng lên nhau che cả mặt trời, và hiện tượng một con chim nhỏ bị thắt cổ nằm trên khung cửa. Chồng gối che khuất mặt trời là hình ảnh của những khó khăn, nghịch cảnh, bất công làm che đi mặt trời công lý. Con chim bị thắt cổ là thân phận bé nhỏ của chính ngài, bị bóp chết tình thương yêu tha nhân và ái quốc của mình, như con chim kia không được bay vào không gian mà đem thắt cổ nó trên khung cửa, khung cửa là nơi chỉ nhìn thấy bầu trời tự do mà mơ ước.
 
Hai câu thơ cuối cùng, nhà thơ mang niềm hy vọng cho lý tưởng và cho dự phóng tương lại: “Đàn kiến bò hạt cát đang rơi /Tôi nhắm mắt trầm ngâm ánh lửa”:

Đàn kiến đang bò tượng trưng cho hệ sinh thái môi trường không tốt, vừa tượng trưng cho sự đoàn kết, kiên trì, đấu tranh cho cuộc sống. Hạt cát tượng trưng sự nhỏ bé nhưng cứng cỏi và bền bỉ giữa sự vô thường của chuyển dịch trong đời mà cát phải gánh chịu. Nhà thơ Tuệ Sỹ cuối cùng không còn loạn thị nữa, ngài đã hiểu ý nghĩa giấc chiêm bao của mình, và ngài nhắm mắt trầm ngâm trong ánh lửa, để thấy ánh sáng cuối chân trời là sự thành công của đàn kiến về tổ, nhờ nó kiên trì và cứng cỏi như hạt cát kia, hay đúng ra, nhà thơ hy vọng một tương lai tốt đẹp cho dự phóng của mình:
 
Đàn kiến bò hạt cát đang rơi
Tôi nhắm mắt trầm ngâm ánh lửa
 
“Loạn Thị” là một bài thơ được sáng tạo thuần túy tâm linh, đọc nó ta cảm nhận được hình ảnh chói lòa của giấc mơ, nó làm ta rợn người như thấy ma quái, nhưng nó có thể đưa ta qua nhiều tâm trạng lo sợ, buồn đau, uất ức, suy tư và hy vọng xa vời. Đây là một bài thơ chất chứa nỗi lòng của một bậc hiền sĩ mang chí lớn, đang vùng vẩy trong thân phận bị quản thúc, tù đày, buồn tê tái. Đọc bài thơ dễ làm cho con tim ta quặn thắt, đồng cảm với giấc chiêm bao như cắt gân máu thấy quỷ hiện ra của ngài Tuệ Sỹ.
                                                                                                               Châu Thạch
READ MORE - ĐỌC “LOẠN THỊ” THƠ TUỆ SỸ - Châu Thạch