Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Người Hải Lăng. Show all posts
Showing posts with label Người Hải Lăng. Show all posts

Friday, October 23, 2026

LÀNG VĂN QUỸ TRONG TÔI - Người Hải Lăng



 Làng Văn Quỹ trong tôi


Tôi xa quê đã hơn bốn mươi năm.


  Bốn mươi năm, nghe thì dài như một đời người. Vậy mà lạ lắm, chỉ cần ai nhắc hai tiếng Văn Quỹ, lòng tôi bỗng mềm xuống như gặp lại bóng mạ đứng chờ con trước ngõ. Quê hương nhiều khi không cần hiện ra bằng hình hài rõ rệt. Chỉ một giọng nói Quảng Trị, một tiếng “răng”, tiếng “mô”, tiếng “chừ”, tiếng “rứa”, là cả một trời ký ức lại lặng lẽ trở về, ngồi xuống bên tôi như người bạn cũ.


  Tôi sinh ra ở làng Văn Quỹ, xã Hải Tân cũ, nay là xã Nam Hải Lăng, huyện Hải Lăng cũ, tỉnh Quảng Trị. Một làng quê nhỏ thôi, không phồn hoa chi, cũng chẳng nổi danh bằng những điều lớn lao, nhưng với tôi, đó là chốn thiêng liêng nhất của đời mình. Nơi ấy có những con đường làng quen dấu chân người, có mái nhà thấp nép bên vườn, có tiếng gà gáy trong sương sớm, có bóng tre, bờ ruộng, có những mùa gió Lào thổi qua nghe khô cả lòng mà vẫn thương chi lạ.


  Văn Quỹ quê tôi là làng của nón. Những chiếc nón trắng từng đi qua tay bao người phụ nữ quê nhà, nhẹ như một vầng trăng non, mà chứa trong đó biết bao nhiêu công sức và sự nhẫn nại của người làm ra nó. Tôi nhớ những buổi ngồi chằm nón, tay đưa kim qua từng lớp lá, mắt nhìn theo đường chỉ nhỏ mà lòng cứ mơ màng đâu đó ngoài đồng xa. Cây kim, sợi chỉ, vành tre, lá nón; toàn những thứ bình thường rứa thôi, nhưng khi vào tay người Văn Quỹ lại hóa thành vẻ đẹp dịu dàng. Chiếc nón không chỉ che nắng che mưa, mà còn che chở cả một phần hồn quê tôi.


  Tôi nhớ Hải Tân những buổi sớm. Trời còn chưa sáng hẳn, làng đã thức dậy bằng những âm thanh rất đỗi thân quen. Tiếng ai gọi nhau ngoài ngõ. Tiếng bước chân đi chợ, đi đồng. Tiếng gió lùa qua mái tranh cũ. Tiếng đời sống quê nghèo bắt đầu một ngày mới bằng sự cần mẫn lặng thầm. Người quê tôi không hay nói lời hoa mỹ, nhưng cái tình thì sâu. Gặp nhau chỉ hỏi một câu: “Mi ăn cơm chưa? “Bữa ni mần chi? “Ở mô về rứa?” nghe mộc mạc mà ấm hơn bao nhiêu lời sang trọng.


  Tuổi thơ tôi ở Văn Quỹ không đủ đầy, nhưng đẹp theo cách riêng của nó. Đẹp như một bông hoa dại mọc bên bờ ruộng, không ai chăm mà vẫn nở. Có những ngày làm ruộng, bàn chân lấm bùn, áo quần bạc màu nắng gió. Có những mùa trồng sắn, đi ngược từ Mỹ Chánh lên phía Tây Hải Chánh, đường xa ba bốn cây số, bụi đỏ bám đầy chân mà người vẫn cứ đi. Chừ nghĩ lại, tôi thấy những củ sắn, thửa ruộng, con đường rẫy ngày xưa không còn là nhọc nhằn nữa; chúng đã hóa thành hạt ngọc trong ký ức, càng xa càng sáng.


  Tôi cũng nhớ những ngày đi làm thủy lợi ở đập Trấm, bên dòng Thạch Hãn. Con sông ấy trong trí nhớ tôi như một dải lụa dài vắt qua năm tháng. Nước cứ trôi, mây cứ bay, còn tuổi trẻ chúng tôi cũng trôi theo những ngày lao động giản dị. Không cần nói nhiều về cực khổ, vì đời quê hồi nớ ai mà chẳng từng nếm qua. Điều tôi nhớ hơn cả là tình người. Là lúc cùng nhau làm, cùng nhau nghỉ, cùng chia nhau hớp nước, củ khoai, củ sắn, câu chuyện. Cái nghèo có thể làm bữa cơm vơi đi, nhưng không làm lòng người quê tôi vơi nghĩa.


  Văn Quỹ trong tôi còn là tiếng quê. Thứ tiếng nghe lên là biết người mình. Xa quê lâu rồi, giữa Hà Nội đông đúc, có khi nghe ai nói giọng Quảng Trị, tôi quay lại liền. Không biết người đó là ai, ở làng mô, xã mô, nhưng chỉ nghe tiếng “mạ”, tiếng “ba”, tiếng “o”, tiếng “eng”, tự nhiên thấy gần. Tiếng quê giống như sợi dây mềm buộc người xa xứ với nơi chôn nhau cắt rốn. Đi mô thì đi, ở mô thì ở, sợi dây ấy vẫn không đứt.


  Có người hỏi tôi: xa quê hơn bốn mươi năm, nhớ nhất điều chi? Tôi cũng không biết trả lời răng cho hết. Nhớ làng. Nhớ nhà. Nhớ con đường đất. Nhớ mùi rơm. Nhớ vành nón. Nhớ gió Hải Lăng thổi hun hút qua đồng. Nhớ những buổi chiều đứng nhìn về phía xa, trời đỏ lên sau lũy tre, lòng con gái quê khi ấy còn trẻ mà đã biết thương đời, thương nhà, thương đất.


  Quê hương lạ lắm. Khi còn ở đó, ta thấy mọi điều bình thường. Một bờ tre, một giếng nước, một lối ngõ, một phiên chợ, một tiếng gọi nhau cũng chỉ là chuyện hằng ngày. Nhưng khi đi xa, tất cả bỗng hóa thành báu vật. Cái bờ tre ngày xưa thành bóng mát trong lòng. Con đường đất cũ thành lối về trong mộng. Tiếng mạ gọi con thành âm thanh không chi thay thế được. Và làng Văn Quỹ nhỏ bé của tôi, càng xa lại càng lớn lên trong nỗi nhớ.


  Tôi thương Văn Quỹ không phải vì quê tôi giàu sang. Tôi thương vì quê tôi đã ôm tôi vào lòng từ thuở lọt lòng. Thương vì đất ấy đã cho tôi tiếng nói, nết người, sự chịu thương chịu khó, sự thủy chung với nguồn cội. Thương vì nơi ấy có những người đàn bà chằm nón lặng lẽ như chằm cả ánh trăng vào đời. Có những người đàn ông chân chất, ít nói mà nặng nghĩa. Có những đứa trẻ lớn lên trong nắng gió, rồi đi xa, rồi suốt đời vẫn ngoái đầu về quê cũ.


  Hải Lăng quê tôi là vậy đó. Nắng thì nắng đến cháy vai, mưa thì mưa đến thắt ruột, nhưng đất và người đều đằm sâu tình nghĩa. Cái tình ấy không phô trương, không nói lớn, mà thấm như nước mưa ngấm vào đất. Một lần chạm vào rồi thì cả đời khó quên. Cho nên, dù tôi đã sống ở Hà Nội hơn bốn mươi năm, đã quen với phố phường, với những mùa đông xứ Bắc, trong lòng tôi vẫn có một miền Hải Lăng rất rõ. Miền ấy có Văn Quỹ, có Hải Tân, có nón lá, có ruộng đồng, có rẫy sắn, có đập Trấm, có dòng Thạch Hãn, có bao nhiêu gương mặt thân quen của một thời không trở lại.


  Chừ tuổi đã xế chiều, tôi không mong chi nhiều. Chỉ mong có dịp trở về, đi chậm trên con đường làng cũ, nhìn lại nơi mình từng lớn lên, nghe lại giọng quê mình giữa xóm. Muốn được đứng giữa Văn Quỹ mà hít một hơi thật sâu, để mùi đất, mùi gió, mùi rơm rạ, mùi lá nón ngày xưa lại ùa vào lòng. Muốn được nghe ai đó hỏi: “O Thơm về đó à?” chỉ một câu rứa thôi chắc cũng đủ làm mắt tôi cay.


  Người ta có thể rời quê, nhưng quê không rời khỏi người. Quê nằm trong tiếng nói, trong dáng đi, trong nếp nghĩ, trong cả những giấc mơ bất chợt lúc đêm về. Với tôi, Văn Quỹ không chỉ là một làng quê trên đất Hải Tân, Hải Lăng. Văn Quỹ là chiếc nôi đầu đời, là vầng trăng cũ treo mãi trong tim, là nơi mỗi lần nhớ tới, lòng tôi lại nghe dịu xuống như được trở về ngồi bên hiên nhà xưa.


  Văn Quỹ ơi, quê hương ơi, tôi đi xa đã lâu, nhưng chưa bao giờ thôi nhớ. Dẫu đời có đưa tôi qua bao nhiêu con đường, thì trong sâu thẳm, vẫn có một con đường nhỏ dẫn tôi về làng cũ. Ở cuối con đường ấy, có tiếng gió Quảng Trị thổi qua vành nón, có bóng mạ, bóng ba, có tuổi thơ tôi đứng đợi.


Và có một miền quê, nghèo mà đẹp, xa mà gần, lặng lẽ mà thương đến tận cùng.


Người Hải Lăng viết tặng cô @Ngô Thơm https://www.facebook.com/ngo.thom.5494 theo lời kể của cô thành lời văn.


Ảnh: Thanh Lê Đăng

READ MORE - LÀNG VĂN QUỸ TRONG TÔI - Người Hải Lăng

Monday, June 1, 2026

LÀNG HỘI KỲ - MIỀN CỔ TÍCH BÊN DÒNG Ô LÂU - Người Hải Lăng




 Làng Hội Kỳ – miền cổ tích bên dòng Ô Lâu

Người Hải Lăng

 

Giữa dải đất miền Trung đầy nắng gió, nơi những mùa hạn khô rang đi qua rồi lại nhường chỗ cho những mùa mưa trắng trời, có một ngôi làng lặng lẽ nép mình bên dòng Ô Lâu hiền hòa. Đó là làng Hội Kỳ, thuộc xã Hải Chánh, huyện Hải Lăng cũ, nay thuộc xã Nam Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị — một miền quê không ồn ào phô diễn, không rực rỡ sắc màu đô hội, nhưng lại có sức níu giữ lòng người bằng vẻ đẹp cổ kính, trầm mặc và sâu thẳm như chính ký ức của bao đời cư dân nơi đây.

 


Hội Kỳ không chỉ là một địa danh trên bản đồ. Hội Kỳ là một miền di sản. Một miền quê mà mỗi mái nhà, mỗi hàng cây, mỗi lối ngõ, mỗi bờ tre đều như còn cất giữ trong mình hơi thở của thời gian. Dòng Ô Lâu chảy qua làng không chỉ đem phù sa bồi đắp ruộng đồng, mà còn bồi đắp nên hồn cốt của một vùng văn hóa. Con sông ấy như một dải lụa mềm vắt ngang ký ức, ôm lấy làng bằng sự dịu dàng, chở che và lặng thầm chứng kiến bao cuộc đổi thay của đất trời, của con người, của lịch sử.

 


Từ hơn bốn trăm năm trước, những bậc tiền nhân đã đặt chân đến vùng đất này, khai hoang lập ấp, dựng nên xóm làng, chọn nghề nông làm kế sinh nhai và gửi lại cho con cháu một gia tài quý giá: đó không chỉ là ruộng đồng, bến nước, lũy tre, mà còn là nếp nhà, nếp sống, nếp nghĩ và đạo lý gia phong. Trải qua bao biến thiên dâu bể, Hội Kỳ vẫn giữ được trong mình dáng vẻ của một làng quê Việt cổ — nơi con người sống thuận theo thiên nhiên, kính trọng tổ tiên, gắn bó với dòng họ, với xóm làng và với từng tấc đất quê hương.

 



Điều làm nên vẻ đẹp riêng có của Hội Kỳ chính là những căn nhà rường cổ. Đó là những ngôi nhà không chỉ được dựng lên bằng gỗ, bằng ngói, bằng bàn tay tài hoa của người thợ mộc xưa, mà còn được dựng nên bằng tâm thức văn hóa, bằng sự chắt chiu của nhiều thế hệ. Những mái ngói liệt phủ màu rêu phong, những cột kèo bằng gỗ mít sẫm màu thời gian, những hoa văn rồng phượng chạm trổ tinh xảo, những cánh cửa bản khóa mở ra khép lại như từng trang sách cổ — tất cả làm nên một không gian vừa mộc mạc, vừa sang trọng, vừa gần gũi, vừa linh thiêng.

 


Bước vào một căn nhà rường ở Hội Kỳ, người ta có cảm giác như bước vào chiều sâu của quá khứ. Gian giữa trang nghiêm là nơi đặt bàn thờ tổ tiên, nơi khói hương nối liền người đang sống với những người đã khuất. Hai bên là không gian tiếp khách, sinh hoạt, là nơi câu chuyện gia đình được tiếp nối qua từng thế hệ. Những bức hoành phi, câu đối, án thờ, khán thờ, vật dụng cũ… không chỉ là đồ vật, mà là chứng nhân của một thời. Chúng kể cho ta nghe về nề nếp gia đình, về đạo hiếu, về sự học, về lòng kính trọng nguồn cội và về cách người xưa gìn giữ phẩm giá trong từng nếp sống thường ngày.

 


Những ngôi nhà ấy thấp, chắc, kín đáo mà bền bỉ. Mùa đông thì ấm, mùa hè thì mát, bão giông đi qua vẫn lặng lẽ đứng đó như một biểu tượng của sự vững chãi. Có lẽ, đó cũng chính là dáng dấp của con người Hội Kỳ: hiền hòa mà cứng cỏi, chân chất mà sâu sắc, lặng thầm mà bền gan trước mọi thử thách của thiên nhiên và lịch sử.

 

Không gian bên ngoài những căn nhà cổ cũng mang một vẻ đẹp rất riêng. Đó là vẻ đẹp của hàng rào cây xanh, của vườn tược sum suê, của bóng mát cây trái, của lối nhỏ quanh co dẫn ra bờ sông. Ở Hội Kỳ, kiến trúc không tách rời thiên nhiên, con người không đứng ngoài cảnh vật. Mái nhà, khu vườn, dòng sông, bến nước, đình làng, miếu cổ, nhà thờ họ… hòa quyện với nhau thành một chỉnh thể yên bình, dung dị, đậm chất làng quê Bắc Trung Bộ.

 

Hội Kỳ còn là nơi lưu giữ những thiết chế văn hóa truyền thống của làng Việt. Đình, miếu, nhà thờ các dòng họ không chỉ là công trình kiến trúc cổ, mà còn là nơi neo giữ hồn làng. Ở đó có lễ nghi, có gia phả, có ký ức tổ tiên, có sự kết nối giữa các thế hệ. Mỗi dịp xuân thu, mỗi ngày giỗ chạp, mỗi lần con cháu trở về thắp nén hương trước bàn thờ họ tộc, là một lần mạch nguồn văn hóa được khơi lại, là một lần người ta tự nhắc mình rằng: dù đi đâu, làm gì, quê hương vẫn là nơi bắt đầu.

 

Đặc biệt, Hội Kỳ còn có những dấu tích làm nên niềm tự hào riêng của làng: lăng bà Dương Thị Ngọt — người con gái tài sắc của quê hương từng là phi tần của vua Thành Thái; cây xoài cổ thụ hàng trăm năm tuổi; những ngôi nhà thờ họ cổ kính; những mái nhà rường còn sót lại sau bao mất mát của chiến tranh, thiên tai và thời gian. Mỗi dấu tích ấy giống như một mảnh ghép của ký ức, góp phần tạo nên chân dung một ngôi làng vừa bình dị, vừa đáng quý.

 

Nhưng vẻ đẹp của Hội Kỳ hôm nay cũng khiến lòng người không khỏi bâng khuâng. Bởi những mái nhà cổ từng một thời hiện diện nhiều hơn thế. Có những ngôi nhà đã xuống cấp, có những ngôi nhà không còn đủ điều kiện trùng tu, có những giá trị đã mất đi trong lặng lẽ khi đời sống hiện đại cuốn con người vào những lựa chọn mới. Thời gian không chỉ phủ rêu lên mái ngói, mà còn âm thầm thử thách khả năng gìn giữ di sản của mỗi thế hệ.

 

Vì vậy, Hội Kỳ không chỉ cần được ngợi ca, mà còn cần được nâng niu. Những căn nhà rường cổ không đơn thuần là tài sản riêng của từng gia đình, mà là tài sản văn hóa chung của quê hương Quảng Trị. Mỗi cột gỗ, mỗi vì kèo, mỗi mái ngói, mỗi bức hoành phi đều chứa đựng một phần lịch sử. Nếu mất đi, không chỉ mất một ngôi nhà, mà mất cả một lớp ký ức, một phần hồn cốt của làng quê.

 

Giữa nhịp sống hiện đại, khi nhiều làng quê đang đổi thay từng ngày, Hội Kỳ càng trở nên quý giá. Quý không chỉ vì tuổi đời hơn bốn thế kỷ, không chỉ vì những căn nhà rường cổ hiếm có, mà còn vì nơi đây vẫn giữ được cái thần thái thanh bình của một làng quê xưa: có sông nước, có vườn cây, có đình làng, có nhà thờ họ, có khói hương tổ tiên, có lòng người mộc mạc và có một vẻ đẹp khiến ai đã một lần ghé qua cũng muốn chậm lại.

 

Hội Kỳ là nơi để người xa quê tìm về nguồn cội. Là nơi để người yêu văn hóa lắng nghe tiếng nói của thời gian. Là nơi để những ai đã quá quen với phố thị ồn ào được chạm vào sự tĩnh lặng, vào màu rêu cũ, vào bóng tre, mái ngói, vào hơi thở của một miền quê còn giữ được linh hồn.

 

Dòng Ô Lâu vẫn chảy. Mái ngói Hội Kỳ vẫn trầm mặc dưới nắng mưa. Những căn nhà rường vẫn đứng đó, khiêm nhường mà kiêu hãnh, như những người già minh triết ngồi bên hiên kể chuyện trăm năm. Và Hội Kỳ, trong dáng vẻ lặng lẽ của mình, vẫn mãi là một miền cổ tích bên sông — nơi quá khứ không hề mất đi, mà đang sống tiếp trong từng nếp nhà, từng bóng cây, từng câu chuyện và từng tấm lòng biết nhớ về quê hương.

 

Hình ảnh: Sưu tầm từ nhiều nguồn

READ MORE - LÀNG HỘI KỲ - MIỀN CỔ TÍCH BÊN DÒNG Ô LÂU - Người Hải Lăng

Friday, May 29, 2026

KÝ ỨC VỀ LÀNG QUÊ HẢI LĂNG XƯA - Người Hải Lăng



Ký ức về làng quê Hải Lăng xưa

Người Hải Lăng

 

Có những miền quê không chỉ nằm trên bản đồ, mà còn nằm sâu trong ký ức của mỗi con người. Với những ai sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Hải Lăng, Quảng Trị, quê hương không chỉ là nơi chôn nhau cắt rốn, mà còn là một phần máu thịt, là tiếng gọi âm thầm theo ta suốt cả cuộc đời.

 

Hải Lăng xưa trong ký ức của bao người là những con đường làng nhỏ quanh co, hai bên là hàng tre, bụi chuối, bờ rào dâm bụt. Mùa nắng, con đường phủ một lớp bụi trắng, mỗi bước chân đi qua lại để lại dấu vết của tuổi thơ. Mùa mưa, đường làng lầy lội, bùn đất bám đầy gót chân, vậy mà đám trẻ con ngày ấy vẫn cười vang, vẫn chạy nhảy, vẫn thấy quê mình đẹp đến lạ.

 

Nhớ nhất là những cánh đồng Hải Lăng trải dài dưới nắng. Đất quê mình không được ưu ái nhiều, nắng thì gắt, gió thì rát, cát trắng mênh mông, mùa màng có khi nhọc nhằn hơn nơi khác. Nhưng chính trên mảnh đất ấy, bao thế hệ cha ông đã cần cù cày cấy, chắt chiu từng hạt lúa, củ khoai để nuôi con khôn lớn. Hình ảnh mẹ lom khom cấy lúa giữa đồng, cha gánh phân, gánh lúa dưới trời nắng chang chang, đến bây giờ nghĩ lại vẫn thấy sống mũi cay cay.

 

Tuổi thơ ở Hải Lăng xưa nghèo mà vui. Trẻ con đâu có nhiều đồ chơi như bây giờ. Một cánh diều giấy, một trái bóng nhựa, vài viên bi, cái mo cau, con trâu ngoài đồng… cũng đủ làm nên cả một bầu trời hạnh phúc. Chiều chiều, sau buổi học, lũ trẻ lại rủ nhau ra đồng bắt cào cào, hái rau, mò cua, bắt cá. Có đứa quần áo lấm lem bùn đất, có đứa chân tay trầy xước, nhưng gương mặt lúc nào cũng rạng rỡ tiếng cười.

 

Những buổi trưa hè ở quê cũng là một miền ký ức khó quên. Tiếng ve ran trên tán cây, tiếng võng kẽo kẹt dưới hiên nhà, tiếng mẹ gọi con về ăn cơm vang qua ngõ nhỏ. Bữa cơm quê ngày ấy giản dị lắm: khi thì cá kho, khi thì rau luộc, bát canh tập tàng, chén mắm ớt cay nồng. Vậy mà ngon đến lạ. Có lẽ cái ngon không chỉ nằm ở món ăn, mà nằm ở tình thương của mẹ, ở sự sum vầy của gia đình, ở cảm giác bình yên mà sau này đi xa mới thấy quý vô cùng.

 

Hải Lăng xưa còn là những phiên chợ quê mộc mạc. Người bán, người mua đều quen biết nhau. Ra chợ không chỉ để mua bó rau, con cá, đấu gạo, mà còn để hỏi thăm nhau vài câu chuyện mùa màng, con cái, xóm làng. Tiếng nói cười, tiếng mặc cả, tiếng gọi nhau bằng giọng quê thân thuộc tạo nên một thứ âm thanh rất riêng, càng đi xa càng nhớ.

 

Rồi những ngày Tết, ngày giỗ, ngày làng có việc, quê mình lại rộn ràng hơn bao giờ hết. Con cháu đi xa trở về, nhà cửa được quét dọn sạch sẽ, bàn thờ tổ tiên nghi ngút khói hương, mâm cơm đoàn tụ tuy không cao sang nhưng ấm áp nghĩa tình. Người Hải Lăng xưa nghèo vật chất nhưng giàu tình làng nghĩa xóm. Nhà ai có việc, cả xóm cùng đến giúp. Nhà ai khó khăn, bà con sẻ chia từng lon gạo, bó rau, con cá. Chính cái tình ấy đã nuôi dưỡng tâm hồn bao người con quê hương.

 

Thời gian đi qua, làng quê Hải Lăng hôm nay đã đổi thay nhiều. Đường làng được bê tông hóa, nhà cửa khang trang hơn, cuộc sống đủ đầy hơn. Nhưng trong sâu thẳm trái tim của những người con xa quê, Hải Lăng xưa vẫn còn nguyên vẹn: vẫn là bờ tre, ruộng lúa, mái nhà tranh, tiếng gà gáy sáng, tiếng mẹ gọi con, dáng cha lặng lẽ ngoài đồng.

 

Có lẽ, càng lớn tuổi, người ta càng hay ngoái nhìn về quá khứ. Không phải để tiếc nuối, mà để biết mình đã được nuôi lớn từ đâu, đã đi qua những năm tháng nào, đã nhận từ quê hương bao nhiêu yêu thương và nhọc nhằn. Hải Lăng xưa tuy nghèo khó, nắng gió, lam lũ, nhưng chính nơi ấy đã dạy cho con người biết chịu thương chịu khó, biết sống nghĩa tình, biết thương cha mẹ, nhớ ông bà, quý trọng quê hương nguồn cội.

 

Dẫu sau này có đi đâu, sống ở nơi nào, trong lòng mỗi người con Hải Lăng vẫn luôn có một góc nhỏ dành cho quê nhà. Bởi quê hương không chỉ là nơi ta sinh ra, mà còn là nơi mỗi khi mỏi mệt, ta muốn được trở về. Trở về để nghe lại giọng quê thân thương, để đi trên con đường làng cũ, để nhìn cánh đồng xưa, để thắp nén hương cho tổ tiên, và để thấy lòng mình bình yên như thuở còn thơ bé.

 

Người Hải Lăng - 28/05/2026

READ MORE - KÝ ỨC VỀ LÀNG QUÊ HẢI LĂNG XƯA - Người Hải Lăng