Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Minh Tứ. Show all posts
Showing posts with label Minh Tứ. Show all posts

Tuesday, November 15, 2011

NGƯỜI ĐÀN BÀ Ở CUỐI RÌA LÀNG - Truyện ngắn của MINH TỨ


Chiếc xe u oát chạy băng trên con đường mới mở rộng mờ mịt bụi. Gió Tây Nam thổi ào ạt qua bao núi đồi hung dữ bỗng dịu ở phía bờ sông bên này. Ông Lê ngồi ở ghế trước đang kể chuyện thời chiến tranh ông hoạt động ở vùng này bỗng ngoái lại hỏi tôi:

- Này nhà báo, cậu thấy buổi tiếp xúc cử tri hôm nay như thế nào ?

- Dạ, rất thú vị. Dân vùng này họ nói hay quá. Tôi sẽ lọc lại để đưa các ý kiến thẳng thắn của họ vào bài viết...

Nhớ lại buổi sáng nay ở hội trường uỷ ban xã, bà con cử tri nói rất thẳng. Họ nói: “Mấy ông làm chính sách ở tận đẩu tận đâu trên cao, chẳng ngó ngàng gì đến bầy tui. Bầy tui trải qua kháng chiến gian khổ không kể làm gì, giờ chỉ mong chộ mấy ông, để mấy ông nghe bầy tui nói cũng khó khăn lắm. Đầu kỳ bầu bán thấy mấy ông lỉnh kỉnh xe về gặp gỡ tiếp xúc, trúng xong cả nhiệm kỳ biến đi đâu mất tăm hơi...”.

Lại nữa, một cử tri nói như trút nỗi niềm tâm sự: “Hôm rồi nhớ đồng đội quá, tôi lên thành phố thăm thằng bạn cũ. Mới gặp hắn đã vô đề: Anh cần gì ? Chứng nhận thành tích hả ? Xong, rẹc rẹc. Nhậu chứ, làm ly đã. Đời sống ở quê cực lắm phải không ? thì ráng qua cái đận khó khăn chung. Tui nghe chưa hết, nghĩ không phải là bạn cũ, tui biến về ngay...”

- Nhưng đó là cậu mới nghe - Ông Lê cự lại - Tôi đi về với dân thường xuyên, nghe dân họ “chửi” quen rồi. Ý kiến họ gửi gắm, tôi có ghi chép cẩn thận, sau mỗi chuyến đi có báo cáo với cấp trên, với các ngành liên quan. Họ nghe rồi, chắc bận nhiều việc quên giải quyết. Thế là hết. Lần sau về gặp lại, dân họ lại “chửi” tụi tôi nói mà không làm, hứa với dân mà nuốt lời hứa. Biết làm sao được. Cậu thấy hôm nay tôi nghe, im lặng từ đầu đến cuối. Bây giờ với dân, cái gì chưa làm được thì tốt hơn hết là đừng nên hứa, cứ im lặng mà tiếp thu đã.

Tôi chìm đi trong ý nghĩ: Làm đại biểu dân cử không đơn giản.

- Dừng, dừng lại... - Ông Lê bảo cậu lái xe.

Chiếc xe u oát phanh kít. Mấy người cùng đi trên xe nháo nhào. Qua khung kính cửa xe, tôi thấy một người đàn bà cầm mê nón rách chạy thục mạng về ngôi nhà ven sông nằm cuối rìa làng. Ông Lê xuống xe vụt chạy theo người đàn bà. Mấy đồng nghiệp của tôi trên xe ngớ người ra. Bị thúc bách máu nghề nghiệp, tôi liền xuống xe chạy theo ông Lê.

Một ngôi nhà tranh tre thấp lè tè hiện ra. Nhà không có cửa, chỉ có một tấm tranh lớn được chống lên bằng cây tre đực. Nhà có hai gian. Gian bên có kê một chiếc bàn thờ, trên bàn có tấm ảnh mờ mờ ảo ảo. Gian bên này có một chiếc thùng phi mà mãi sau tôi mới biết chứa toàn khoai sắn khô. Gian này chìa ra một chái nhà để làm bếp, có chiếc kiềng ba chân, xung quanh có mấy chiếc nồi đen kịt. Cả tôi và ông Lê đứng như trời trồng. Giữa nhà, người đàn bà ngồi bệt xuống đất, úp mê nón rách khóc rưng rức. Tôi ghé tai ông Lê hỏi nhỏ “Ai vậy ?”, ông vẫy tay “Lính cũ của tôi đấy mà”. Lại thêm một lính cũ. Đi với ông Lê, ở đâu cũng gặp toàn lính cũ với cơ sở cũ thời nảo thời nào. Chán thật !

Ông Lê vỗ nhẹ vào vai người đàn bà:

- Này, răng mà khóc, về đây công tác, tôi rẽ thăm o đây.

Không nói không thưa, người đàn bà càng khóc to hơn. Lát sau chị với tay qua chái lấy ấm nước, hai cái ca pha cho tôi và ông Lê hai ca nước chè xanh.

Ông Lê lại dỗ người đàn bà:

- O đừng khóc nữa. Mình thế nào thì vẫn thế ấy. Xung quanh đây vẫn còn nhiều người tốt, rồi người ta sẽ hiểu ra. Gắng mà sống đã.

Nói đoạn ông Lê chậm rãi tiến đến bàn thờ thắp một nén hương. Lui ra, ông lấy ví rút mấy tờ bạc xanh dúi cho người đàn bà. Chị xua tay.

- Eng về thăm là tui mừng rồi, nhưng tủi quá eng ơi, mấy chục năm nay tui không cất mặt lên được với xóm làng.

- Cầm lấy ít tiền. Tiền lương tôi đó. Bữa trước tôi có gặp bên bộ phận chính sách, người ta đang nghiên cứu hồ sơ. Chờ vậy thôi.



Chị cầm lấy mấy tờ bạc ôm lấy ông Lê. Khuôn mặt chị xanh xao, gầy gò, nổi lên hai hốc mắt trũng sâu. Hai cánh tay chị quắt queo, đen cháy. Tấm áo bà ba đen có nhiều mảnh vá. Chị kể vụ này làm mấy sào bắp ven sông, hạn quá cháy sạch, còn mấy sào ruộng cũng coi như mất trắng. Ông Lê lơ đãng nhìn ra vườn. Nắng như dội lửa vào ngôi nhà thấp kín. Mồ hôi trong người cứ tứa ra. Tôi kiên nhẫn chờ đợi bằng cách lánh ra sân để hai người ở lại với nhau


*
Phải thật lâu sau chuyến đi ấy, nhớ lại chuyện cũ, tôi mới biết thêm về người đàn bà ở cuối rìa làng ven sông ấy qua những chắp nối quá khứ của người cùng thời.


Người đàn bà mà tôi gặp hôm ấy tên là Thoa. Hồi kháng chiến chị là một nữ du kích rất hăng hái nhiệt tình. Chị là lính của ông Lê. Cả  vùng này hồi đó đều tham gia hoạt động cách mạng. Thanh niên trai tráng thì lên đường đầu quân chủ lực, quân địa phương, số ở nhà thì vào du kích. Chị Thoa được cử làm liên lạc và lo hậu cần nuôi quân. Việc gì được cấp trên giao chị cũng cố gắng làm tròn. Nhà chị cha mẹ đã già, chỉ có hai anh em chị Thoa đều tham gia kháng chiến. Anh trai chị bị hy sinh do biệt kích phục bắn chết trong một đợt từ rừng về đồng bằng xây dựng cơ sở.


Lần ấy lính “Cộng hòa” càn xuống xóm Rú. Ngay hôm đó cấp trên lệnh cho toàn lực lượng phải rút đi, chỉ để lại một số ít cán bộ án binh bất động trong hầm bí mật. Xoá xong mọi dấu vết thì toán lính ập đến. Chị Thoa bị bắt ngay khi chưa kịp xuống hầm bí mật bỏ trống từ lâu ở gốc cây bông gòn.

Mấy tên lính trói chặt chị vào một gốc cây, đánh đập tra khảo chị chết đi sống lại nhiều lần. Một lính mặc sắc phục rằn ri sau khi dùng báng súng AR15 bổ liên tiếp vào chị, rồi ra lệnh cho một tên khác dội nước vào mặt chị.


Chị tỉnh lại. Hắn lại khảo: “Đ. mẹ cái con Việt cộng này. Hầm bí mật ở đâu khai ra để còn đường sống”. Chị trả lời: “Tui không biết, không biết”. Lại đấm, lại đạp, thân hình chị bê bết máu hoà với nước lạnh. Sau nhiều đợt như thế chị không chịu nổi. Những khuôn mặt quỹ sứ cứ chập chờn trước khuôn mặt tím bầm của chị. Một ý nghĩ yếu ớt sót lại trong đầu, chị chỉ đại căn hầm bỏ hoang lâu nay ở gốc cây bông gòn mà chị định xuống ẩn nấp khi nãy.

Miệng chị lắp bắp: “Chẳng có ai cả, chỉ có mình tôi và một cái hầm của tôi ở đằng gốc cây bông gòn kia”.


Lập tức, cả toán lính như vồ được mồi, đồng loạt lên đạn răng rắc. Một tiểu đội được lệnh bò tới căn hầm phía gốc cây. Căn hầm bỗng nhiên bật nắp, liền theo là một quả lựu đạn tung lên nổ chát chúa. Ba tên lính chết ngay tại chỗ. Một bóng đen nhảy lên khỏi hầm quét một băng đạn rồi chạy nhanh vào rừng.


Nhìn thấy cảnh này, chị Thoa chết điếng người đi, không ngờ dưới căn hầm bỏ không lâu nay lại có đồng đội của chị. Chị khuỵu xuống ngất đi. Trời nhá nhem tối, toán lính lôi chị về căn cứ dưới thị xã. Những ngày bị giam cầm, chị lên cơn điên dại. Không khai thác được gì, ít lâu sau chị được thả về. Về làng, mọi người đều xa lánh chị. Cấp trên quyết định kỷ luật chị vì khai lộ hầm bí mật, buộc phải đưa ra khỏi lực lượng.


Chiến tranh đi qua, ngày đất nước rợp cờ hoa mừng chiến thắng, chị thui thủi sống một mình trong bóng tối của thời gian. Cha mẹ chị đã chết trong nỗi đau uất nghẹn vì có đứa con phản bội quê hương. Một đôi lần chị có giải thích với gia đình và đoàn thể rằng do bị đánh quá đau nên chị chỉ khai căn hầm không có người, chứ không ngờ lần ấy có người xuống nấp dưới căn hầm của chị, nhưng chẳng có ai tin chị cả. Ngay cả cha chị vì nhục với làng nước không cho chị về ở chung với gia đình. Chị phải dọn ra ở túp lều của gia đình làm để nuôi vịt ở cuối rìa làng.


Khi cha mẹ chị mất, chị không chồng, không con, không người thân nương tựạ, chị vái tổ tiên xin được rước vong linh ông bà và di ảnh người anh về thờ tự ở căn nhà xiêu vẹo của mình. Nhiều lúc quá buồn, tuyệt vọng về thân phận, nghe một số người tốt bụng khuyên, chị định bỏ đi xa, tẩy xoá quá khứ để sống, làm ăn ở một vùng đất khách quê người, nhưng cuối cùng chị cũng chẳng thể ra đi được. Ai sẽ là người hương khói cho ông bà. Ngay cả chị nữa, cũng chẳng thể kiếm nổi tiền tàu xe để ra đi. Chị lại tiếp tục sống, làm lụng thui thủi một mình trong sự ghẻ lạnh của xóm làng, cho đến bây giờ khi đầu đã hai thứ tóc trong căn nhà quạnh quẽ ở cuối rìa làng.
*


Tôi hỏi thật cậu nhé - Ông Lê chất vấn tôi - Cậu đi nhiều, gặp nhiều, cậu nghĩ gì về trường hợp o Thoa ?


Tôi thú thực:


- Hoàn cảnh chị ấy thật đáng thương, nhưng khó quá. Cũng phải biết thông cảm và chia sẻ.

- Cậu nói rõ xem sao ?

- Là nói về đạo lý con người phải biết tha thứ cho nhau những lỗi lầm ngày đã qua. Ở đây chưa nói là lỗi lầm không cố ý...

Ông Lê im lặng không nói gì thêm. Bóng ông đổ xuống thẳm sâu. Làm người chỉ huy có bề dày như ông trong kháng chiến, nay lại làm đại biểu của dân, tôi biết ông có nhiều suy tư trăn trở. Thân tình với ông qua bao chuyến đi, tôi rất hiểu ông. Những lúc như ngồi với tôi đây, ông lại đang hướng nghĩ suy của mình về một nơi khác trong cõi người mênh mông mà ông đã dấn thân và ghé vai gánh vác.


Bất giác ông bảo tôi: “Ngày kia tôi lại đi vùng sâu. Cậu đi với mình chứ”.
Vâng, tôi nhận lời ngay vì đi với ông tôi hiểu thêm được nhiều điều, tìm đến được nhiều số phận của đời người và thấy rằng: Trăm ngã đường, có nhiều nẻo vui nhưng cũng lắm nẻo buồn.
Nguồn: vanchuongviet.org, đăng lại trên 4phuong.net
READ MORE - NGƯỜI ĐÀN BÀ Ở CUỐI RÌA LÀNG - Truyện ngắn của MINH TỨ

Tuesday, June 7, 2011

MINH TỨ - BẠN CŨ



Truyện ngắn



Tôi có cố tật không sửa được là hay về nhà muộn. Làm cái anh công chức làng nhàng lương ba cọc ba đồng không đủ sống nhưng rất mê văn chương và có tham gia viết lách đủ thứ. Hầu như tuần nào tôi cũng có cuộc tề tựu với cánh văn nghệ để đàn đúm thơ ca, và dĩ nhiên cuộc nào cũng phải lai rai cho đẫm chất thăng hoa, tìm cảm hứng cho cái dây thần kinh bị chùng xuống từ lâu lắm rồi do dùng quá nhiều thuốc lá, bia rượu.



Mà nghĩ cho cùng vướng vào cái nghiệp viết lách cũng hay hay. Viết được cái gì dù to hay nhỏ cũng đem khoe ngay với bạn bè. Bạn khen thì giả vờ như không nhưng bụng thì tỏ ra thích thú, tỏ ra hào phóng. Khi bạn chê thì dù có khó chịu, bứt rứt cũng phải cố nén vào trong để nở nụ cười thân thiện. Vui nhất là khi bốc lên, viết được cái gì, nốc bia rượu vào, cái tôi trỗi dậy, cứ tưởng mình là trung tâm vũ trụ, có thể đứng trên thiên hạ. Khi tỉnh lại mới thấy giật mình. Về nhà vợ hỏi lương tiền, cứ cào đầu bứt tai. Tuần này anh gặp anh bạn thân, thầy giáo cũ, tuần kia chơi với anh em ở báo này, tạp chí nọ...để quan hệ in cái này cái kia. Rồi cố an ủi vợ, nay mai tác phẩm in xong, tha hồ mà lĩnh tiền nhuận bút, rồi danh tiếng nổi lên như cồn, rồi người ta mời mọc, đặt hàng...có mà việc làm không hết. Vợ nghe ngao ngán chỉ biết lườm nguýt cái gã chồng vô tích sự, không lo nỗi cái nồi cơm cho vợ con lúc nào cũng đòi tiền ăn, tiền học, tiền chơi.



Cánh bạn bè cùng trang lứa bây giờ làm doanh nghiệp giàu phất lên thì nhìn tôi với con mắt vừa nể phục vừa lo lắng. Có dạo chúng tụ tập nhau lại khuyên tôi nên bỏ thơ ca, đàn đúm để lo làm kinh tế, kiếm tiền nuôi vợ con, có gì chúng giúp thêm cho, nhưng tôi thì khăng khăng không từ bỏ cái thiên chức cao quý mà người đời đã gán cho tôi. Tôi nguyện sống chết với cái nghiệp "Người hát rong", như tiêu đề tập thơ của một nhà thơ tặng tôi. Mà nghĩ suy gì cho mệt mỏi, nói cho cùng thì tôi có thể làm được gì kia chứ. Trời sinh ra tôi là để vắt óc làm thơ, viết văn, làm đẹp cho đời chứ không thể xắn tay sấp mặt để kiếm tiền như người ta. Tôi còn cao giọng tuyên chiến với đám bạn bè rằng: "Sống như tụi mày tao không sống nổi. Làm gì mà suốt ngày đêm sấp mặt nô lệ đồng tiền. Tiền tỉ chúng mày làm ra để làm gì, xe ư, nhà ư...tất cả với tao đều vô nghĩa. Tao không có nhiều tiền nhưng tao sướng, có chết ai đâu". Bực quá, thằng bạn nói như thét vào mặt tôi, không biết vì giận hay vì say: "Thôi, chào ông nhà văn nhé. Sống như các ông chúng tôi cũng không sống nổi. Thơ ca văn vẻ nghe bóng loáng, bước ra đường cưỡi xe cọc cạch, vợ con xin đồng tiền lẻ mua rau, vét túi mãi không có, thế mà sĩ, chỉ có uống là nhanh, là hào phóng. Thôi xin chào. Ai trả tiền đây ?" - Hắn buông một câu lơ lửng, ném mấy trăm bạc trước mặt chủ quán rồi biến ngay. Tôi không giận nó. Ừ, suy cho cùng sướng khổ là do quan niệm của mỗi người.



Một chiều như bao buổi chiều, tôi trở về nhà muộn trong men say chếnh choáng. Hôm qua thằng bạn thân "trúng quả", hắn bao một chầu bí tỉ. Trời chập choạng tối, tôi mò lên cầu thang tối lần về căn hộ của mình. Bỗng xuất hiện một cái gì đó lù lù trước mặt. Một lũ trẻ nít chạy ùa ra: "Chú T. ơi! Chú có bạn đến là hay, ơ...ơ...ơ". Cái đống lù lù kia bỗng nhiên bật dậy bay đến ập vào người tôi.



Tôi sững sờ nhận ra Long, thằng bạn thời chăn trâu cắt cỏ ở quê. Đúng là hắn rồi. Tôi ôm lấy hắn, có chất men trong người, nước mắt cứ thế tuôn. Nhìn hắn thật thảm thương, mặt sạm đen vì nắng gió, bộ áo quần sờn cũ te tua. Một tay nải bằng bao tải đựng đồ với cây gậy bẻ vội nhành cây dọc đường, nhìn có vẻ như dân "cái bang". Sau vài câu chào hỏi qua loa, tôi vội lôi hắn vào nhà để tránh những ánh mắt nhìn chằm chặp của lũ trẻ.



Vợ tôi chưa về, chắc là lại tranh thủ làm thêm giờ để kiếm thêm thu nhập. Con trai tôi chạy chơi đá banh đầu phố về lấm lem mặt mày nhìn khách lạ. Tôi ra lệnh cho nó:

- Chào bác Long đi con, bác Long là bạn của ba thời ở quê.

Nó sợ tôi la mắng về tội chơi nghịch ngoài phố, khép nép ở góc nhà vòng tay chào bác rồi chạy biến về phòng. Chờ vợ về làm bếp, tôi sai thằng nhỏ ra phố xách bia về mời bạn. Qua mấy lượt cạn ly thì vợ tôi về. Ý chừng nhìn thấy nhà cửa bề bộn chai lọ, tay nải hành trang của bạn, nàng chau mày tỏ ý khó chịu. Tôi chủ động vừa to tiếng vừa dịu ngọt:

- Này em, đây là anh Long bạn anh hồi ở quê. Lâu không gặp nay anh ra chơi. Em ra chợ coi có cái gì mua về chiêu đãi bạn một bữa.



Nàng thay đổi sắc diện, ý tứ chào hỏi rồi xin phép ra chợ đêm. Khi còn lại tôi với Long, tôi phấn khích cao giọng rằng trong nhà này tôi là nhất, nói gì vợ phải nghe nấy. Tôi làm không nhiều tiền nhưng là thằng đàn ông, tôi phải là chủ nhà, là quyền lãnh đạo chi phối toàn bộ gia đình. Long không nói gì, vẫn kiệm lời như thời nào còn chơi với nhau. Thỉnh thoảng Long nhắc tôi uống vừa thôi, ý chừng còn nể vợ con. Tôi được thể làm tới, nâng lên đặt xuống trăm phần trăm: Ly này mừng ngày tao ngộ, ly này mừng vẫn mạnh khỏe, ly này mừng tao vừa in tập sách, ly này...



Vợ tôi bưng mâm cơm lên. Tôi và Long chống đũa nhìn. Nàng xới cho tôi và Long mỗi đứa một bát cơm đầy. Tôi đổ cơm lại vào nồi vì không thể ăn được nữa. Long có vẻ đi đường xa bụng đói và mệt nên ăn được lưng bát. Tôi lại rót bia, nâng lên đặt xuống. Long nể tôi cứ ngoan ngoãn làm theo. Nàng can ngăn tôi thôi uống nữa để mời bạn ăn cơm. Tôi gạt đi. Xem chừng lườm nguýt không hiệu quả, nàng bèn sớm vào phòng trong để hai chúng tôi dốc bầu tâm sự.



Long bảo thôi uống bia, chuyển qua nước chè để nói chuyện. Ừ, thì uống nước vậy. Mắt tôi bắt đầu hoa lên, đầu cứ nghe ong ong. Mở chiếc bị lè kè bỏ ở góc nhà, Long kể:

- Lâu quá rồi, nhớ bạn bè, nghĩ cậu không khinh mình nghèo hèn nên quyết định bán ít dạ lúa mua vé tàu lên thăm chơi. Biết cậu bận việc ít dịp về quê nên hôm rồi đi chăn vịt qua đồng mình có rẽ thăm các cụ. Ông cụ đau ốm thường xuyên, yếu lắm rồi, vợ chồng cậu thu xếp mà về thăm. Lên thăm cậu, vợ chồng mình con đông, cực quá không có gì, chỉ có ít gạo nếp làm mùa được biếu vợ chồng cậu.



Tôi sực tỉnh:

- Cảm ơn vợ chồng cậu, thăm nhau là được rồi, quà cáp gì, ở đây cũng có đủ cả. Lên chơi thôi chứ còn có việc gì nữa không ?

Nói xong tôi thấy lỡ lời bởi quen với cảnh nhiều người nhờ vả nói cho tiếng to tiếng nhỏ với ông này bà kia giúp đỡ đủ thứ việc.



Long ôn tồn:

- Lên thăm gia đình cậu thấy vợ chồng con cái khỏe mạnh là mừng rồi. Ngày mốt mình về sớm để còn làm công ruộng vụ hè thu, cũng tiện ra chợ trung tâm tính sắm cho mấy thằng nhóc ở nhà mấy bộ áo quần vào năm học mới. Ở nhà quê cái gì cũng thiếu.



Đêm về khuya, tôi bảo Long đi nghỉ để mai còn đi thăm bạn bè cũ giờ đang làm ăn khấm khá. Nhà chật, chỉ có mỗi phòng ngủ, tôi mắc màn ngủ cùng Long ở sàn phòng khách. Khuya, sương xuống lành lạnh làm tôi tỉnh giấc, giật mình. Tôi vào phòng ngũ, vợ tôi nằm quay mặt vào tường. Tôi xin lỗi nàng vì hơi quá chén rồi nhỏ nhẹ với nàng:

- Này mình, ngày mai mình rẽ chợ mua cho mấy nhóc của Long mấy bộ áo quần làm quà. Trưa mình làm cơm mời khách, tôi mời thêm thằng Lũy, thằng Chiến bạn học đến ăn cơm cho vui. Chiều cả nhà đi ngoại thành ăn đặc sản cho biết...



Nàng trở mình:

- Nhà này anh muốn làm gì thì làm, tôi hết chịu nổi với anh rồi. Anh xem trong túi tôi còn đồng nào nữa không. Thằng cu Tý đang đòi tiền đi học thêm, rồi sắm đàn, sắm máy, anh xem lấy tiền đâu ra ?



Ngoài phòng khách có tiếng trở mình. Tôi nói khẽ với nàng:

- Mình giúp tôi, giật đâu đó ít tiền tạm cho tôi đã rồi tính sau. Mai tôi qua nhà xuất bản xin ứng tiền nhuận bút cuốn sách vừa phát hành. Có gì nói sau nhé.

Nàng yên lặng không nói gì nữa. Tôi thiếp đi.



*

Trời hửng sáng, ánh nắng chói chang xuyên qua tấm cửa kính. Cả nhà ngủ khuya nên dậy muộn. Tôi lồm cồm bò dậy khỏi chăn dụi mắt. Giật mình, Long đi đâu rồi nhỉ ? Hỏi vợ, nàng cũng vừa dậy, bảo có thể bác ấy đi quanh đâu đó. Nhưng túi xách, gậy bị đâu rồi. Một mảnh giấy nhỏ chữ ngoằn ngoèo viết vội được đặt trên bàn trà đập vào mắt.



"Gửi vợ chồng T.

Xin lỗi hai bạn, sáng nay mình dậy sớm, tranh thủ ra chợ rồi về luôn cho kịp chuyến tàu trưa. Khi nào ra chơi lại hoặc hai bạn về quê, có thời gian tâm sự nhiều hơn - Long".



Tôi chưng hửng. Vợ tôi cũng hốt hoảng lên: "Tìm bác ấy ở đâu nhỉ ?". Qua hàng xóm nhờ gửi cu Tý đi học, tôi với vợ phân công nhau, nàng ra chợ trung tâm, tôi ra đón lõng ở ga.



Phố xá tấp nập người qua lại, làm sao có thể tìm được thằng bạn thuở thiếu thời giữa dòng đời xuôi ngược. Khi chuyến tàu rời ga, tôi thẫn thờ nhớ bạn, nhớ quê. Bao năm phù du chốn thị thành, tôi như quên lãng bạn bè, quê kiểng. Lửng thững trở về, tôi bắt gặp thằng bạn văn. Mời tôi vào quán uống cà phê, hắn cho biết tin vui vừa kiếm được hợp đồng viết kịch bản sân khấu. Hắn bảo tôi tranh thủ thời gian tham gia viết kiếm ít tiền. Nhưng lúc đó trong tôi chỉ còn ám ảnh hình ảnh của Long với tay xách tay mang trốn chạy khỏi cõi người ở phố...


Minh Tứ

Nguồn: www.vanchuongviet.org/
READ MORE - MINH TỨ - BẠN CŨ

Tuesday, February 1, 2011

MINH TỨ - VỀ BÊN MÁI NHÀ XƯA

Có những lúc mệt nhoài trên những nẻo đường rong ruổi, bỗng thèm được quay về bên mái nhà xưa, để được tĩnh tâm, chìm đắm trong miền ký ức thời thơ ấu hồn nhiên trong trẻo, để quên hết những nhọc nhằn trong gánh nặng mưu sinh. Thực ra tôi cũng đã từng ra đi, có lúc cũng muốn chen chân vào chốn phồn hoa đô hội, nhưng cuối cùng lại quay về nơi tôi đã ra đi.

Sống trên đời ai cũng mong có một mái nhà bình yên để đi về sớm tối. Ngôi nhà là nơi trú thân gắn bó với những kỷ niệm tuổi thơ cho đến khi lớn lên, kể cả khi nằm xuống của mỗi đời người. Một ngôi nhà rường cổ xưa nằm ở vùng ngoại vi thành phố Đông Hà của tôi cũng chẳng có gì đáng nói, nhưng mỗi lúc đi xa tôi lại trông về. Ngày ba tôi còn sống, sợ sau này các con không giữ lại ngôi nhà cổ, ông quyết định nâng cấp tu sửa ngôi nhà. Hồi đó tôi muốn can ngăn vì ông đang bệnh nặng, nhưng ông đã quyết nên đành nhượng bộ. Cũng may nhà vừa tu bổ xong, ba tôi yếu dần, rồi trút hơi thở cuối cùng trong ngôi nhà mà ông bà đã một đời tạo dựng. Ba tôi mất, mẹ tôi vẫn đi về trong căn nhà đơn chiếc. Tôi biết mẹ khó có thể nguôi quên nỗi nhớ về ba, về bao kỷ niệm nơi mái nhà xưa hai người đã sống với nhau đến tuổi thất thập của đời người.

Cũng căn nhà này của gia đình tôi có lẽ là ngôi nhà duy nhất của cả vùng ngoại vi thành phố Đông Hà còn tồn tại sau những đợt không kích của Mỹ trong chiến cuộc mùa hè đỏ lửa Quảng Trị năm 1972. Hai quả đạn pháo từ Hạm đội 7 ngoài khơi đã rơi trúng căn nhà, cùng 5 quả bom tọa độ ở 4 phía cách nhau chỉ mấy chục mét. Thế mà kỳ lạ, ngôi nhà 4 mái như cái bánh ít vẫn đứng vững, đất đá của bom đạn hất lên phủ kín căn nhà, trở thành một chiếc hầm cho bộ đội trú quân. Sau Hiệp định Paris, gia đình tôi từ nơi di tản trở về, sửa sang lại nhà để ở. Hồi đó có phái đoàn các nước phương Tây đến thăm tỉnh Quảng Trị giải phóng, chính quyền tỉnh đưa đoàn đến thăm nhà tôi, một ngôi nhà còn sót lại sau chiến tranh. Ngày đó tôi mới lên chín tuổi, thấy thực đơn mời khách của tỉnh chỉ có dưa hấu, kẹo Hải Hà và nước chè Bắc Thái (khi khách ra về chị tiếp tân có để lại cho gia đình một ít làm quà).

Tôi nhớ trong khi một vị khách phương Tây hỏi chuyện chủ nhà, người phiên dịch của đoàn định phiên dịch thì bất ngờ ba tôi nói chuyện trực tiếp với vị khách ấy bằng tiếng Pháp, đại ý là sau chiến tranh, tất cả đều bị hủy diệt, duy chỉ lũy tre và ngôi nhà rường này còn trụ vững được như là một tinh thần Việt không thể khuất phục trước bạo tàn. Cả phía lãnh đạo tỉnh lẫn các vị khách nước ngoài ngớ ra, không ngờ rằng một nông dân ở vùng giải phóng lại nói chuẩn tiếng Pháp đến thế. Sau này khi lớn lên, tôi biết thêm nhiều người bạn của ông rất nể phục ông về vốn tiếng Pháp và chữ Hán nôm, mặc dù hồi trước ông chỉ mới học hết chương trình tiểu học thời Pháp thuộc.

Ra đi từ lũy tre làng, nghề làm báo đã đưa tôi đến nhiều vùng đất, được biết thêm bao điều mới mẻ cảm thấy yêu thêm đất nước, quê hương của mình. Những chuyến đi xa cho tôi có thêm nhiều bạn bè, càng thấy mình có may mắn được trở về sống và viết trên quê hương. Quê hương với tôi thật có cái gì đó rất đỗi thân thương tưởng như có thể cầm nắm được, thế mà với bao người vẫn cứ thấy xa xôi, hiển hiện trong nỗi nhớ khôn nguôi.

Nhớ lần ra công tác ở quần đảo Trường Sa, bất chợt giữa bạt ngàn sóng gió trùng dương tôi bắt gặp bác sĩ Nguyễn Hoàng Phong, Trạm trưởng quân y đảo Trường Sa Đông. Hỏi chuyện mới biết Phong là bạn đồng niên, quê gốc ở huyện Triệu Phong, nhưng quê hương chỉ còn là chấm nhạt nhòa trong ký ức vì bố mẹ Phong đi tập kết, sinh ra anh ở ngoài Bắc. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, bố mẹ anh về công tác ở thành phố Hồ Chí Minh. Làm việc với chỉ huy đảo, tôi biết được anh là bác sĩ giỏi được tăng cường cho đảo và anh đã xử lý rất nhiều ca mổ khó cho lính đảo cũng như ngư dân đi biển thành công trong điều kiện thiếu thốn nhiều bề ở đảo. Khi chia tay, Phong hẹn có dịp sẽ về thăm quê, nhưng ba năm qua rồi, anh vẫn còn ở lại với đảo xa.

Lại nhớ lần vào thăm đất mũi Cà Mau, anh em đồng nghiệp kết nối cho tôi gặp một bác sĩ quê ở Gio Linh, Quảng Trị là anh Trương Quang Thận. Anh em ở Báo Cà Mau đùa anh là bác sĩ “thận” nhưng lại giỏi mổ “ngoại”. Mà thật, ở đất mũi này, anh nổi tiếng là bác sĩ ngoại giỏi chuyên môn và có tấm lòng nhân từ, chăm lo cho sức khỏe của người bệnh như người thân của mình. Hôm thức trắng với anh ở Cà Mau, anh nói nhiều về tình quê, về nỗi nhớ da diết của người con tha hương. Cái vùng đất Cát Sơn ở Trung Giang đã gắn bó với anh thuở hoa niên đầy gian khó nhưng cứ trăn đi trở lại trong anh không thể dứt ra được. Tôi an ủi anh bằng câu thư pháp của một người bạn: “Có anh đi bốn phương trời/Nơi đâu anh đến cũng trời quê hương”, chợt thấy khóe mắt anh ngân ngấn nước.

Vâng, cũng có những năm tháng xa quê, mới thấy nỗi hoài hương là hình bóng không thể dứt ra được. Nhà báo, nhà văn Phan Quang từ quê nghèo Quảng Trị đi ra, rồi thành danh ở đất Hà thành, đã từng đi qua không biết bao nhiêu vùng đất trên thế giới, thế mà quê hương trong tác phẩm văn học cũng như tác phẩm báo chí của ông mới thiết tha và diệu vợi làm sao. Dù bận trăm công nghìn việc, năm nào ông cũng dành thời gian về thăm quê nhà Hải Thượng, Hải Lăng; khi thì ông về để thắp hương cho tổ tiên ông bà; khi thì ông về với những thùng sách của chính ông viết để tặng cho con em trong làng, trong xã, như là sự tri ân của ông với đất mẹ quê hương...

Quê hương, hai tiếng ấy với tôi bình dị như bờ tre gốc rạ, như cái giếng đầu làng, nguồn nước mà cả làng dùng chung; là hình ảnh lam lũ của cha mẹ ta, của người anh, người chị trên cánh đồng xa; là mái nhà chật chội, đụng đâu cũng thấy cột kèo, không còn phù hợp với nếp sống hiện đại. Nhưng quê hương gắn với mái nhà xưa, với bà con lối xóm, là nơi chúng ta đã sinh ra và lớn lên, nếm trải qua những năm tháng gian khó nhưng bình yên bên mái ấm gia đình.

Cứ mỗi khi thấy bất an trong lòng, tôi lại quay về bên mái nhà xưa. Nơi ấy chỉ còn bóng mẹ đổ xuống mỗi buổi sáng chiều. Bây giờ tôi đã chuyển đến ở căn nhà mới, nhưng hôm nào cũng về bên mái nhà xưa yêu dấu để thắp nén tâm hương, bởi như người ta nói: “Có ngôi nhà hoàn thiện nhưng con người thì chớ để dở dang”. Hình như đó là ý của giáo sư Huỳnh Như Phương thì phải.

M.T.


Nguồn: vn.360plus.yahoo.com/minhtuqtri
READ MORE - MINH TỨ - VỀ BÊN MÁI NHÀ XƯA

Tuesday, September 7, 2010

MINH TỨ - MÂY TRẮNG BAY TRÊN ĐỈNH TRƯỜNG SƠN



Ảnh từ trang www.varchi.com


Bút ký


"Trường Sơn đông nắng tây mưa

Ai chưa đến đó như chưa rõ mình."

Câu thơ của nhà thơ Tố Hữu viết thời chiến tranh mà bây giờ đọc lại vẫn thấy xốn xang kỳ lạ. Với Trường Sơn, chúng tôi cứ đi đi, về về với các bản làng đồng bào dân tộc Vân Kiều, Pa Cô, và mỗi lần như thế luôn thắp lên ước vọng về một cuộc đổi đời cho miền tây gian lao nhưng anh dũng kiên cường.

Chắc có lẽ nhiều người chưa quên chuyện ông Kbo, nhà dân tộc học người Hunggari hồi những năm tám mươi của thế kỷ hai mươi đã đến với vùng đồng bào dân tộc miền tây Quảng Trị. Quá say mê với phong tục, tập quán của đồng bào dân tộc Vân Kiều, Pa Cô Hướng Hóa nên ông quyết định làm nhà sàn ở lại nghiên cứu dân tộc học, để rồi vợ ông phải thân chinh qua Việt Nam nhờ Đại sứ quán tìm tung tích.

Ngày trở về, chia tay với bản làng và những người dân miền tây hào hiệp, mến khách, khi được các lãnh đạo huyện hỏi: "Qua thời gian thâm nhập thực tế dài như thế, theo ông làm thế nào để miền núi tiến kịp miền xuôi?", ông Kbo nói rằng: "Tôi không phải là kinh tế gia, cũng không phải là chính trị gia mà chỉ là một nhà dân tộc học, nhưng nếu được phép nói thì theo tôi phải có một con đường". Con đường mà ông đề cập ở đây là yếu tố để chuyển tải nền văn minh, có con đường là có tất cả.

Lời ông Kbo nói vậy ai cũng thấy được bởi có sống với miền tây hồi ấy mới thấy việc dịch chuyển đi lại ở miền núi khó khăn đến mức nào. Chuyện cũ có thật, có lần huyện gửi công văn mời cán bộ xã ra huyện họp, công văn gửi đi mười ngày sau mới đến đến được xã thì cuộc họp đã diễn ra cách đó lâu lắm rồi. Mà có nhận được sớm hơn thì ở vùng sâu Hướng Hóa, Đakrông phải cơm đùm, cơm vắt lội bộ bao nhiêu dặm đường rừng ra đến huyện mất hơn ba ngày đường, cả đi lẫn về mất một tuần chỉ để họp có một ngày.

Còn sản phẩm hàng hóa của dân làm ra thì khỏi phải nói, một quả dứa nặng một ký ở Abung, Ango, Đakrông bán 500 đồng cũng chẳng ai mua bởi không ai có thể gánh gồng trèo đèo, lội suối ra được đến chợ thị trấn để bán. Có khi đến mùa thu hoạch bà con phải bỏ đi sản phẩm mà biết bao công sức của mình đã đổ ra.

Nhắc lại một vài chuyện cũ như thế để thấy rằng đầu thế kỷ hai mươi mốt khi nhà nước mở con đường Trường Sơn thời công nghiệp hóa đã mở ra "con đường tương lai giàu có của Tổ quốc ta". Một thuận lợi là đường Trường Sơn từ miền tây Quảng Bình qua Quảng Trị có hai nhánh đi song song theo Trường Sơn Đông và Trường Sơn Tây với điểm gặp gỡ là cầu Đakrông theo đường 14 chạy dài vào Thừa Thiên- Huế có tổng chiều dài 180 km. Và, như thế những vùng núi đồi hàng ngàn năm u tịch ở miền tây của các huyện Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ, Đakrông và Hướng Hóa được đánh thức.

Cách đây mươi năm về trước, để đến được Sen Bụt, Cù Bai, chúng tôi phải đi xe ba cầu băng qua hàng chục cây số đường rừng hiểm trở, quanh năm vắng bóng con người, còn bây giờ dọc đường vào đã thấy thấp thoáng những điểm dịch vụ của dân từ Khe Sanh, Lao Bảo vào bán hàng nhan nhản khắp bản làng. Con đường khai mở đến đâu là có sự giao thương đến đó. Dọc đường lên Cù Bai chúng tôi phóng xe chạy băng băng trên con đường thảm nhựa, tha hồ ngắm nhìn những cánh rừng nguyên sinh miên man với đủ loại cây đẹp đến mê hồn.

Đã nhiều lần lên với Trường Sơn nhưng lần này tôi mới có dịp cảm nhận đầy đủ hơn vẻ đẹp của những cánh rừng. Khi nắng xuân lan tỏa xua tan màn sương mỏng buổi sớm mai, cũng là lúc tiếng chim hót líu lo chào buổi sáng vang động tạo nên một bản đại hợp xướng của rừng. Thi thoảng trên đường bắt gặp những chú sóc nhảy ngang qua đường. Thú vị hơn cả là khi đoàn chúng tôi bắt gặp đôi gà lôi lam mào trắng trên đường đi Cù Bai với bộ lông thật sặc sỡ, loài gà được ghi trong sách đỏ và còn rất ít ở Việt Nam.

Một thành viên đi trong đoàn chúng tôi tỏ ý lo ngại cho những cánh rừng nguyên sinh quý giá này liệu có được gìn giữ, bảo tồn nếu không có kế hoạch bảo vệ ngay từ bây giờ. Đường Trường Sơn đâu chỉ là con đường chiến lược phát triển kinh tế, an ninh quốc phòng mà còn là con đường của du lịch sinh thái rất hấp dẫn.

Anh bạn ở Văn phòng Huyện ủy Hướng Hóa cùng đi nói với tôi rằng hãy chờ đêm xuống ở nơi này mới thấy hết cảnh đẹp của miền tây. Quả thật ở tây Trường Sơn đêm xuống trời se lạnh, sương giăng giăng cả triền núi. Mùa này cà phê bắt đầu nở hoa trắng cả những quả đồi bạt ngàn. Có thể nói nếu như đất Hướng Hóa rất phù hợp cho việc phát triển trồng cà phê thì Hướng Phùng là nơi có tập trung với diện tích cà phê khá lớn với hơn 1500 ha. Nguồn lợi từ trang trại, nương rẫy cà phê mang lại không chỉ cuốn hút người dân miền xuôi lên đây lập nghiệp mà còn làm cho bà con dân tộc Vân Kiều bấy lâu nay chỉ quen với tập quán canh tác lạc hậu: phát, đốt, cốt, trỉa cũng chuyển sang làm cà phê với kỹ thuật canh tác mới. Đã có 80% hộ đồng bào dân tộc Vân Kiều ở Hướng Phùng có vườn cà phê chè từ 2-3 ha.

Trong khi nhiều người trồng cà phê trong cả nước phải lao đao thì cà phê chè ở Hướng Hóa vẫn được giá. Sản phẩm chế biến của Công ty cà phê- dịch vụ đường 9, Công ty hồ tiêu Tân Lâm, Công ty chế biến cà phê Thái Hoà vẫn có thị trường tiêu thụ tốt không chỉ ở Tây Âu mà còn xuất sang cả Mỹ. Chỉ có điều còn phân vân của bà con nông dân hôm chúng tôi dừng lại ở Hướng Phùng là cách tổ chức thu mua của các công ty chế biến chưa tốt, nên gây ra cảnh nông dân bị ép giá. Giá sụt một tí là người trồng cà phê chết đứng bởi công chí phí đầu tư chăm sóc cho cây cà phê rất lớn.

Mà thôi, chuyện cây cà phê thì nói bao nhiêu cho hết, trong khi chuyện đồng bào các dân tộc miền tây sống trên đất đai màu mở, bạt ngàn mà phải chịu cảnh đói nghèo là chuyện đáng bàn. Cũng cần phải nói rằng Nhà nước đã đầu tư nhiều cơ sở vất chất hạ tầng để cải thiện đời sống cho đồng bào các dân tộc, nhưng nhìn chung cuộc sống của bà con vẫn chưa khá lên được. Những năm trước đây hầu như năm nào cũng vậy, cứ vào cử này lên miền tây là nghe chuyện đồng bào dân tộc thiếu đói. Cái đói của đồng bào dân tộc được hiểu là thiếu gạo ăn, phải ăn ngô, ăn sắn thay cơm. Đó là cái đói triền miên chưa dứt được bởi tập tục canh tác lạc hậu: phát, đốt, cốt, trỉa; là diện tích lúa rẫy, ruộng nước còn quá ít, chưa được tích cực khai hoang để canh tác; là cái sự thiếu căn cơ tự thân của đồng bào khi làm được chừng nào lương thực đều dốc vào ghè rượu uống suốt mùa ăn mừng lúa mới.

May mà mấy năm trở lại đây có nhà máy chế biến tinh bột sắn ra đời, người dân trồng sắn bán được giá nên đời sống có nhiều cải thiện. Tôi đã gặp trên dọc hành trình Trường Sơn những nhân tố điển hình. Đó là những ông chủ trang trại đã làm chủ được cái nương, cái rẫy của mình, như Hồ Cài ở bản Trằm, xã Hướng Tân, Hướng Hóa có trang trại cà phê với diện tích 5 ha, mỗi năm thu hơn 70 tấn cà phê, cùng với cơ sở chế biến và các nghề phụ khác mỗi năm thu nhập lên đến hàng trăm triệu đồng. Tôi đã gặp Pảtahơn ở xã Thanh, người du kích gan dạ năm xưa trở thành ông chủ giàu có nhờ rẫy sắn, vườn ươm cà phê thu nhập hàng năm lên đến hàng chục triệu đồng, là hình mẫu cho nhiều người làm theo...

Nhưng với miền tây hiện nay, trước hết dân trí là một nhân tố hết sức quan trọng. Đã qua rồi cái thời nhận thức lạc hậu của bà con dân bản rằng con cái chỉ cần biết cái nương, cái rẫy. Hôm chúng tôi rẻ lại Abung, Ango, hai xã biên giới vùng sâu, vùng xa thuộc huyện Đakrông, kiến nghị đầu tiên của Hồ Liên, chủ tịch xã Ango và Ađeng Thiếu, chủ tịch xã Abung là mong muốn tỉnh, huyện quan tâm mở thêm trường lớp cho con em học lên bậc học cao hơn tại cụm Tà Rụt, vì hiện nay ở địa phương mới chỉ có mới có lớp nhô. Còn Hồ Thị Lý, Chủ tịch Hội phụ nữ xã Hướng Phùng, Hướng Hóa thì nói với tôi rằng chị muốn được học lên thêm nữa mặc dù chị đã từng được đào tạo để làm cô giáo, bởi theo chị không có tri thức thì không làm được cán bộ tốt.

Khát vọng đó càng được nhân lên khi Hồ Thị Ân, ở bản Saly, Hướng Lập thổ lộ cùng tôi: "Mình lấy chồng sớm nên thấy tiếc cái thời trẻ không chịu học, bây giờ muốn học lên thì không có điều kiện". Tôi chia sẻ với suy nghĩ của Ân, bởi mới 28 tuổi đầu Ân đã có ba con nhỏ. Ân cho biết đã kiên quyết kế hoạch hóa để có điều kiện chăm sóc con cái và sắp tới có điều kiện đi học thêm cho có tri thức để về xã làm việc tốt hơn.

Khi con đường nối hai phía Trường Sơn, dự phóng về miền tây phát triển đang hiển hiện từng ngày. Và hôm nay dọc theo con đường Trường Sơn huyền thoại, khi lên thăm cột mốc biên giới R16 ở cửa khẩu quốc gia La Lay trong một buổi trưa mây trắng bay lãng đãng qua dọc triền núi, đứng ở cột mốc, nơi có độ cao hơn 500 m so với mặt biển, cảm giác sóng mũi cứ cay cay. Bất chợt tôi lại nghĩ đến lòng dân miền tây, nghĩ đến những người lính biên phòng, những thầy cô giáo đang cắm bản dọc khắp nẻo Trường Sơn mà tôi từng gặp. Có các anh các chị, có lòng dân miền tây, biên giới luôn trường tồn, cho những áng mây trắng như buổi trưa này cứ mãi bình thản bay qua trên đỉnh Trường Sơn hùng vĩ nắng lắm mưa nhiều.

Minh Tứ

Nguồn: vn.360plus.yahoo.com/minhtuqtri

READ MORE - MINH TỨ - MÂY TRẮNG BAY TRÊN ĐỈNH TRƯỜNG SƠN

Saturday, May 2, 2009

MINH TỨ - CÓ MỘT GIÒNG SÔNG






Bút ký


Giữa cái thị xã gió nắng có thể xếp vào nơi khắc nghiệt bậc nhất của miền Trung này bỗng dưng tạo hóa ban cho một dòng sông chảy vắt qua. Sông Hiếu của quê tôi như một dải lụa đào làm duyên thêm cho một vùng đất, tưới tắm cho bao số phận của đời người.

Mỗi dòng sông cũng như mỗi đời người, đều có gốc gác, cội nguồn, cả tình yêu và nỗi nhớ đan cài. Sông Hiếu không rộng dài như bao dòng sông nổi tiếng, nhưng là ân tứ của thiên nhiên cho mảnh đất này, để rồi một ngày nào đó ta quay về bỗng thấy yêu thêm dòng sông ký ức của tuổi thơ chảy muôn đời qua bao tháng năm trĩu nặng ân tình.



Sông Hiếu là hợp nguồn của nhiều con suối đầu nguồn ở Cam Lộ, nơi đường phân thuỷ của những núi đồi giáp với Đakrông. Bên kia đường phân thuỷ, nước chảy ngược xuống sông Đakrông, chảy về Thạch Hãn. Bên này suối nước đổ về hình thành nên sông Hiếu chảy về Cam Lộ, qua Đ ông Hà, ngày xưa đoạn qua nơi này còn được gọi là Điếu Giang (theo "Phủ biên tạp lục" của Lê Quý Đ ôn, bởi nó chảy qua làng Điếu Ngao, nay địa danh này là phường 2, thị xã Đ ông Hà). Từ đây sông Hiếu chảy xuôi về Gia Độ, Triệu Phong thì hợp lưu với sông Thạch Hãn rồi chảy ra Cửa Việt.



Nếu nói về sông Hiếu thì có thể phải viết cả cuốn sách mới chuyển tải được phần nào, bởi con sông nhỏ nhưng đã oằn mình gánh trên nó bao biến thiên của lịch sử. Phía thượng nguồn sông ngày xưa có một cái chợ rất nổi tiếng là chợ Phiên - Cam Lộ, từng là nơi diễn ra giao thương lớn của người Việt khắp nơi theo sông Hiếu mà lên với cư dân trong vùng, mở rộng lên tới đất nước Triệu Voi (Lào). Thời chiến tranh, nơi đây có những cứ điểm quan trọng, xảy ra nhiều trận đánh lớn đi vào lịch sử, mà cao điểm 544 là nơi đối phương chọn làm trung tâm xử lý tư liệu của "con mắt thần" hàng rào điện tử Mc.Namara. Còn hạ nguồn sông là nơi từng xảy ra trận thuỷ chiến được gọi là trận " Bạch Đ ằng Giang trên sông Hiếu" vừa tròn 40 năm về trước.



Dòng sông Hiếu là chứng nhân lịch sử bi hùng của một vùng đất đã bị tàn phá hơn 200%, như lời của một phóng viên phương Tây khi đến Đ ông Hà sau ngày thị xã này được giải phóng. Nhưng từ trong thẳm sâu, sông Hiếu còn là nơi nuôi dưỡng, tắm mát cho bao tâm hồn, mà nhà thơ Chế Lan Viên là một trong những nhà thơ ra đi từ mảnh làng bên dòng sông này. Khi đã trở thành nhà thơ lớn của dân tộc, trong sâu thẳm nhà thơ vẫn mãi thương nhớ con sông quê, vùng đất quê nghèo khó với "những đồi sim không đủ quả nuôi người"...



Nhà tôi không ở gần sông, nhưng những năm tháng tuổi thơ, ngôi trường tiểu học của tôi lại nằm bên sông Hiếu. Đấy là những năm sau Hiệp định Paris -1973, tôi được trở lại đi học ở vùng giải phóng. Trường tiểu học thị xã được xây dựng tạm ở Tiểu khu 3, hồi ấy còn gọi là làng Đ ông Hà (nay là Phường 3, Đ ông Hà). Ban đầu lớp học của chúng tôi học trong một ngôi nhà dân đã đi di tản, rồi mới chuyển ra ngôi trường được xây dựng sau đó ít lâu. Trường hướng mặt ra sông, cách một con đường nhỏ, chỉ mấy bước là có thể ra được bến sông nghịch nước. Những ngày gió Tây Nam thổi mạnh, trời nóng bức, đi học về chúng tôi thường rủ nhau ra bờ sông, cả con trai, con gái cởi áo quần nhảy ùm xuống tắm. Hồi đó quá hồn nhiên nên chúng tôi chẳng biết ngượng là gì. Sau đó ít lâu vì có người chết đuối trên sông nên nhà trường cấm không cho chúng tôi tắm sông nữa, vậy mà có đứa vẫn lén xuống sông tắm, bị thầy phạt đòn vẫn không chừa.

Người thầy đầu tiên của tôi ở vùng mới giải phóng cũng rất đặc biệt - thầy Nguyễn Văn Sự. Học xong tú tài, không có sự chọn lựa nào khác, thầy phải đi học trường sĩ quan Thủ Đức của chế độ cũ. Dạo đó về thăm nhà năm 1972, thầy bị kẹt lại sau giải phóng, còn gia đình thầy thì đã di tản vào các tỉnh phía Nam. Thầy được ngành giáo dục trưng dụng dạy học cho chúng tôi khi vùng giải phóng còn thiếu các thầy cô giáo. Thầy rất hiền lành, buổi đầu tiên lên lớp thầy bảo chúng tôi đừng gọi thầy là thầy mà gọi chú như ở nhà cũng được. Thầy dạy học theo chương trình sách giáo khoa mới rất nghiêm túc và thương học trò như các em của thầy, vì hồi đó thầy còn trẻ và chưa có gia đình. Quê thầy ở Gio Linh, một mảnh đất nằm ở bờ bắc sông Hiếu.

Năm ấy tôi học lại lớp hai, mặc dù trước đó tôi đã học xong lớp nhì Trường tiểu học Trung Chỉ của chương trình giáo dục miền Nam. Có lẽ những bài thơ của các nhà thơ cách mạng chúng tôi cũng bắt đầu được học từ đây. Tôi nhớ nhất là bài thơ "Nhớ con sông quê hương" của Tế Hanh. Bài thơ là ký ức, là kỷ niệm của nhà thơ về con sông quê hương, có lẽ là sông Trà Khúc thì phải, nhưng không hiểu sao tôi cứ ngỡ như viết cho dòng sông quê mình: "Quê hương tôi có con sông xanh biếc /Nước gương trong soi tóc những hàng tre /Tâm hồn tôi là một buổi trưa hè / Toả nắng xuống dòng sông lấp loáng"... ừ, thì dòng sông quê mình cũng có luỹ tre soi bóng, có nước biếc trong xanh, có thuyền ai đó nhẹ lướt buông câu...nhưng có lẽ chỉ nhà thơ mới có thể nói lên tình cảm đối với con sông quê hương của mình với nỗi nhớ vời vợi, thao thiết đến nao lòng. Tế Hanh cũng là nhà thơ có nhiều bài thơ, câu thơ rất hay viết về vùng giới tuyến mà sau này làm chúng tôi nhớ mãi: "Trời vẫn xanh một màu xanh Quảng Trị/ Tận chân trờimây núi có chia đâu"...



Chúng tôi học với thầy Sự đâu được hai năm lớp hai, lớp ba thì giải phóng miền Nam. Hồi đó thầy tìm lại được gia đình và đưa cả nhà về quê. Tình cờ hôm thầy đưa gia đình từ Đ à Nẵng về, đang nghỉ lại ở bên đường thì gặp tôi. Tôi lễ phép mời thầy và gia đình vào nhà uống nước. Trong đôi triêng gióng, hành trang ít ỏi người di tản của cha mẹ thầy trở về còn có cả ảnh thờ của thầy. Thì ra khi thầy về tìm gia đình để đi di tản, bị kẹt lại thì gia đình thầy đã vào Đ à Nẵng. Cứ nghĩ thầy đã mất nên gia đình lập bàn thờ để "thờ" cho thầy trong suốt ba năm trời. Từ dạo ấy thầy không trở lại trường nữa và bao nhiêu năm trôi qua tôi vẫn bặt tin thầy.



Người thầy kế tiếp của chúng tôi là thầy Trương Quang Thanh, dạy chúng tôi hai năm lớp tư, lớp năm cho đến khi chúng tôi chuyển về học ở trường trung tâm thị xã. Thầy Thanh người làng Mai Xá, cũng là một làng quê bên dòng sông Hiếu. Thầy có dáng người dong dỏng cao, mắt sáng, nước da trắng, tác phong rất lanh lẹ. Những bài giảng của thầy thật sôi động, nhất là môn lịch sử, được đan cài vào nhiều câu chuyện đánh giặc giữ nước rất bi hùng ở quê thầy, nghe tưởng như thầy là người trong cuộc vậy.



Ngoài giờ học chính khóa, hồi đó tuần nào chúng tôi cũng có buổi đi lao động xã hội chủ nghĩa. Hình thức lao động của lớp tôi chủ yếu là lên những quả đồi bát úp ở phía đầu nguồn sông Hiếu để bứt lá cây đưa về làm phân xanh. Mỗi lần đi lao động là mỗi lần chúng tôi được tha hồ chạy nhảy trên bạt ngàn đồi núi, thích nhất là được hái sim mua. Mà hồi đó không hiểu sao những đồi sim trái chín nhiều đến thế. Chúng tôi đua nhau hái, ăn thoả thích đến tím cả môi, xong còn hái dành bỏ vào mũ, vào túi quần áo mang về nhà ăn tiếp, hay cho bọn nhỏ trong xóm. Cuối buổi lao động, mỗi đứa chúng tôi ôm một bó lá cây chất đầy lên chiếc xe bò hò reo đẩy chạy về. Phía sau trường, thầy Thanh đã cho một tốp bạn lấy đá quây thành một vòng tròn, chúng tôi xếp từng bó lá vào giữa để cho thời gian hoai mục, trở thành nguồn phân xanh ủng hộ cho hợp tác xã nông nghiệp bón ruộng. Có lẽ hình thức lao động hồi đó của chúng tôi chủ yếu để rèn luyện tinh thần là chính, chứ hiệu quả đem lại thì chẳng được là bao.



Có một điều thú vị là sau khi về học cấp hai ở thị xã, rồi lên cấp ba, tôi gặp lại thầy Trương Quang Thanh, cũng là thầy dạy chúng tôi ở bậc học cấp ba. Thì ra trong những năm đó thầy đi học tiếp trường Đ ại học Sư phạm Huế, trở về dạy lại chúng tôi. Bây giờ thầy vẫn đang dạy ở trường THPT Đ ông Hà và tôi luôn biết ơn thầy, là người thầy đã dạy tôi suốt hai cấp học. Hơn thế, chính thầy đã động viên khích lệ tôi rất nhiều trong học tập và định hướng nghề nghiệp cho tôi khi vào đời.



Bạn bè tôi cùng học ở ngôi trường bên sông Hiếu bây giờ mỗi đứa trôi dạt mỗi phương trời, bao nhiêu đứa là bấy nhiêu số phận. Đứa bây giờ tảo tần ngoài chợ, đứa chạy xe ôm, con cái đầy đàn, nhọc nhằn trong gánh nặng mưu sinh, đứa thành công chức, cũng có đứa đã công thành danh toại...



Tôi nhớ Hoàng Việt Hùng, bạn cùng học phổ thông ngày trước, sau đó vào Đ ại học Tổng hợp Huế cũng học chung lớp. Học giỏi nên một năm sau Việt Hùng được trường chọn qua Liên Xô du học. Biền biệt hơn hai mươi năm ở Đ ông Âu, bất ngờ mới đây Hùng đường đột trở về. Câu hỏi của bạn bè rằng sao bây giờ mới về làm Hùng bối rối. Mà thôi, mỗi người có một nỗi niềm riêng phong kín, nhắc chi để thêm buồn. Quê hương, đi xa ai mà không nhớ, nhưng về thăm nhà mấy hôm, Việt Hùng lại đi, trở qua bên ấy - ở Kiép, Ucraina để lập nghiệp, bởi Hùng không tìm được việc làm phù hợp ở cái thị xã nhỏ bé này.



Nhà Việt Hùng ở làng hoa An Lạc, bên dòng sông Hiếu trong xanh. Giờ đây trở về, Hùng nuối tiếc mãi một con đường làng ven sông rợp bóng tre xanh, vẫn hoài nhớ những buổi trưa hè gió Tây Nam quạt lửa, sau buổi học về nhảy ùm xuống sông trầm mình trong dòng nước mát; là hình ảnh cô thôn nữ mỗi trưa hè gánh đôi gánh tong tả đi về trên đường làng với nụ cười tươi vui sau mỗi phiên chợ... Bây giờ tất cả chỉ còn là ký ức, vì thị xã trên đường phát triển, có một cái gì đó thuộc về ngày đã qua sẽ mất đi. Những khóm tre làng đã nhường chỗ cho những con đường lớn chạy băng qua thị xã với tấp nập người và xe cộ ngược xuôi. Cô thôn nữ ngày nào giờ cũng má phấn môi son đứng quầy tạp hoá. Và, cả một thời trai trẻ của chúng tôi cũng đã đi qua lúc nào không hay khi đứa nào cũng phải tất bật với công việc của một cư dân thị xã, nếu không muốn bỏ mình lại ở phía sau.



Cuộc sống cứ như một guồng quay mà ai cũng phải lao vào. Từng ngày qua người ta tất bật với bao gánh nặng trong cuộc mưu sinh cơm áo gạo tiền. Ký ức của tôi chỉ là chấm nhạt nhòa hoang hoải của ngày đã qua. Bạn bè tôi vì gánh nặng mưu sinh mà phiêu dạt khắp bốn phương trời. Còn lại tôi, người tìm về và ở lại với cố xứ, mỗi ngày qua là thêm một nỗi buồn thương tiếc nuối. Trên con đường mỗi ngày tôi vẫn đi qua, những nhành phượng đỏ, điệp vàng khoe sắc thắm; những chú ve rỉ rắc thả giọt sầu vào thinh không, còn gió, gió Tây Nam vẫn thổi miên man trong nắng hạ vàng.



Đêm mùa hè, ở thị xã nhỏ nhoi của tôi có một gương mặt khác. Khi bóng đêm sập xuống, người thị xã như đổ hết ra đôi bờ sông Hiếu để hóng gió. Đ ường Bà Triệu, đường Hoàng Diệu người xe đi lại như nêm. Có lẽ chuyện ăn uống ở nơi này chỉ là cái cớ để người ta thưởng thức gió từ bờ sông. Bờ sông bao nhiêu đêm hè nay gió vẫn thổi ào ạt, làm dịu đi cái nắng nôi như chảo lửa của thị xã giữa khúc ruột miền Trung này. Không kiêu sa, lộng lẫy, sông Hiếu vẫn âm thầm trôi xuôi với một nét duyên thầm.



Có lúc ngồi nhìn con nước mải miết xuôi về Cửa Việt, bất chợt tôi nghĩ lẩn thẩn rằng nếu Đ ông Hà của mình không có con sông Hiếu chảy qua giữa lòng thị xã thì sao nhỉ? Đất nước có nhiều dòng sông, nhưng chỉ có một dòng sông để thương, để nhớ - ai đó đã viết như thế trong lời bình của một bộ phim. Không hoành tráng như sông Tiền, sông Hậu, không dữ dội gầm réo sục sôi như sông Mã, Thu Bồn, hay lặng lờ dùng dằng không chảy như sông Hương..., sông Hiếu quê tôi vẫn khiêm nhường, nép mình bên thị xã nhỏ hẹp, chuyên cần đưa nước trôi xuôi về với biển.

Bây giờ mỗi khi có khúc mắc trong lòng, tôi thường tìm đến một quán nhỏ bên sông vắng, một mình âm thầm thả những cọng cỏ vàng xuống dòng nước trong xanh để rồi gặm nhấm những nỗi buồn riêng mang, để nuối tiếc cho ký ức một thời đã đi qua không bao giờ trở lại. "Quê hương ai cũng có một dòng sông êm đềm...".



M.T

READ MORE - MINH TỨ - CÓ MỘT GIÒNG SÔNG

Thursday, September 11, 2008

MINH TỨ - BUỔI CHIỀU SAU CƠN MƯA



Trương Đức Minh Tứ

Sinh năm: 1964

Quê quán: Đông Hà, Quảng Trị

Hiện công tác tại Báo Quảng Trị (Phó tổng biên tập)

Hội viên Hội Văn học- nghệ thuật Quảng Trị

Hội viên Hội Nhà báo Việt Nam

Đã xuất bản các tập bút ký: "Cỏ xanh dưới chân Thành Cổ" (1999); "Thông điệp cho mai sau" (2002) và tập truyện ngắn: "Hương rừng" (2005) - Hội VH-NT Quảng Trị xuất bản, cùng nhiều tác phẩm in chung trong các tuyển tập của các Nxb: Phụ Nữ, Kim Đồng, Thuận Hóa...





Buổi chiều sau cơn mưa

Truyện ngắn




Mùa mưa năm nay đến chậm. Những ngày cuối mùa khô trên trời thỉnh thoảng có một vài đám mây lướt qua, cơ hồ như trêu tức những người sống trong những căn nhà nóng bức ở triền đồi.

Căn hộ của anh chị cũng nằm trong khu nhà ấy nhưng những người láng giềng không bao giờ thấy đôi vợ chồng ấy thốt lên một lời ca thán khi phải chịu cái oi nóng bức bối, điện nước cắt cúp lia chia. Quả là họ đang hạnh phúc, cái hạnh phúc của người biết lấy sự dịu dàng làm dịu đi cái tù túng của sinh hoạt đời thường. Bạn bè ai cũng tấm tắc khen, có lúc đến ghen với cái hạnh phúc bình dị của họ. Người tuổi tác, có chút từng trải thì tỏ ra phớt lờ, quá lắm họ cũng nhận xét, họ còn trẻ mà.



Mà thật, anh chị mới cưới nhau đang còn trong thời kỳ chưa hết men ngây ngất của yêu đương. Anh chị yêu nhau từ dạo còn là sinh viên ở thành phố. Ra trường công tác, không hẹn mà gặp nhau ở thị xã này. Anh làm việc ở Trung tâm thể dục thể thao và nhận làm huấn luyện viên cho đội bóng đá của một công ty. Chị là cô giáo trẻ dạy ở một trường vùng ven thị xã. Họ sống hòa thuận, êm ấm.



Thời buổi lương tiền công chức có hạn, giá cả cứ leo thang từng ngày một nhưng anh chị biết sống khiêm tốn. Tiền anh em bạn bè cho ngày cưới, anh chị bỏ ra nuôi một đôi lợn để dành. Thỉnh thoảng anh chị đưa nhau đi chơi đây đó đôi ba lần gọi là cho thoải mái của tuổi vợ chồng trẻ còn son rỗi. Mỗi bữa ngồi vào bàn ăn cơm, anh kể cho chị nghe những vui buồn về công việc ở cơ quan, về đội bóng công ty do anh huấn luyện. Chị thì tâm sự với anh về chuyện trường lớp với những đứa học trò nghịch ngợm, dễ thương. Cuộc sống như thế hỏi còn gì hơn, trông lên thì không bằng ai nhưng biết mình biết ta thì như thế cũng mĩ mãn rồi. Và có lẽ chẳng kể lại chuyện này làm gì nếu như không có một sự việc xảy ra.



Một buổi chiều anh đi làm về muộn. Ở nhà, chị đi ra đi vào trông ngóng. Cơm canh đã nguội ngắt. Số là chiều hôm đó đội bóng công ty do anh huấn luyện bị thất bại trong vòng loại của giải. Vốn gặp nhiều thuận lợi trong cuộc đời nên anh coi trận thua này là một sự nhục nhã chưa từng thấy. Trước đây đội bóng của anh tiếng tăm vang khắp vùng, từng được mệnh danh là bất khả chiến bại. Mọi người ai cũng nể trọng anh, một ông bầu có nhiều kinh nghiệm mặc dù tuổi đời, tuổi nghề chưa có bao nhiêu. Ông Váng, Giám đốc công ty là người nổi tiếng quan liêu và kiêu ngạo, thế mà với anh ông tỏ ra trọng vọng và tin tưởng tuyệt đối. "Anh là tất cả niềm kiêu hãnh của công ty. Vinh quang của công ty này có hay không là một phần ở anh đấy"- Có lần ông đã cầm tay anh nói to như thế giữa đám đông sau trận đấu đại thắng. Cứ mỗi lúc vào phòng họp của công ty, nhìn thấy những chiếc cúp của những mùa giải trước là anh ngầm thích thú đến ngẩn ngơ...



Thế mà giải bóng năm nay, bước vào vòng loại, con đường vào bán kết, chung kết mà anh kỳ vọng đã bị nghẻn lại khi bị loại ngay từ vòng đầu. Đã đành, trận này anh em cầu thủ thi đấu có phần uể oải, để nhiều pha bóng sơ hở, về cuối trận lại thiếu tích cực gỡ bàn thua, nhưng ai sẽ hiểu cho anh điều đó. Trách nhiệm cuối cùng rồi cũng đổ lên đầu anh. Trận đấu kết thúc, anh lững thững im lặng rút lẹ để tránh trả lời các câu hỏi của cánh nhà báo thể thao.



Buồn quá, anh rẽ vào quán Phong Lan uống nước. Ngồi chờ những giọt cà phê rơi tí tách xuống ly, anh vạch ra những nhược điểm của trận đấu ban chiều. Phải rồi, anh nghĩ phải nghiêm khắc kiểm điểm tay Vĩnh thủ môn vì cậu này không đoán định được đường bóng, không xử lý ra vào hợp lý khi bóng về đột ngột. Còn tay Phương tiền đạo làm mất bàn thắng như dọn cỗ ở phút thứ hai mươi lăm là do chủ quan chứ hầu như chỉ một mình một bóng đối diện thủ môn đối phương mà hắn ta không ăn nỗi trái ấy. Lại nữa, cái tay Lâm hậu vệ không kèm được tiền đạo đối phương để nó lướt qua dễ dàng... Phen này nhất định phải trị cho ra trò cả nút. Nhưng mà làm căng lên bây giờ để làm gì nhỉ- Anh nghĩ lại. Đằng nào đội bóng của anh cũng đã bị loại khỏi mùa bóng năm nay. Ức, ức quá không chịu nỗi. Đầu anh quay cuồng bao ý nghĩ. Anh trở về nhà trong tâm trạng ấy.



Thấy anh bần thần ủ dột, chị hỏi:

- Có việc gì mà trông anh buồn dữ vậy ?

- Hôm nay đội bóng của anh đại bại. Ôi thật là nhục nhã, nhục không thể chịu được !

- Đã thi thố thì phải có thắng, có bại chứ anh, thua keo này ta bày keo khác - Chị cố an ủi chồng - Gì mà anh phải sầu thảm đến thế. Mà gì đi nữa cũng nhớ bữa mà về cơm nước chứ. Để em chờ mãi chờ hoài à.

- Thì ở nhà cứ ăn trước đi, người ta đang khùng lên đây.

- Thế anh nghĩ em không khùng khi chờ anh đến mười một giờ đêm à.

- Cô nói thế mà nói được - Anh bắt đầu cáu bẳn - Cô thì chờ vài tiếng đồng hồ đã kêu ca còn tôi thì phải chờ đến một mùa bóng nữa may ra mới gỡ gạc được danh dự, uy tín. Thật là bao công sức bỏ ra.

- Thế anh lo cho quả bóng nhiều hơn em.

- Cô thì lúc nào cũng nhai đi nhai lại câu ấy. Tôi thật không sống nổi với cô. Cô không biết gì cả, tất cả đời tôi ở đó, quả bóng, niềm tin, nghĩa là tất cả - Anh gào lên, chị thấy vậy hoảng hồn lựa lời nói dịu:

- Em xin lỗi anh, em quả có quá lời với anh...



Đang cơn giận dữ, anh bỏ cơm đi qua nhà anh bạn ngũ qua đêm. Cứ thế anh lang thang hết nơi này đến nơi khác. Một tuần sau, anh trở về nhà loạng choạng trong cơn say bí tỉ. Ma men bốc lên, anh không chịu để chị săn sóc, khuyên lơn. Lại những trận cãi vả, thực ra chỉ mình anh to tiếng. Khi cơn giận tẩm thêm chất men bốc lên, anh bắt đầu lục lại quá khứ những tháng ngày chung sống. Ừ, mình đã nhầm lẫn khi chọn cô ấy. Cô ấy chẳng biết thông cảm, chia sẻ với niềm vui và nỗi buồn của mình. Cô ấy chỉ biết duy nhất cái việc gõ đầu trẻ và đóng khung trong cái xó bếp chật hẹp. Đàn bà thời nay phải năng động và nhạy cảm chứ.



Trong chếnh choáng cơn say, anh lờ mờ nghĩ đến Lan- một cổ động viên tích cực, có mặt trong tất cả các trận đấu của đội anh. Lan là nhân viên bán hàng của công ty, trẻ, đẹp, hâm mộ thể thao. Và, bất chợt thức dậy trong anh cảm xúc cái bắt tay, nụ cười duyên dáng tỏ lòng mến mộ anh, coi anh như người hùng có một không hai ở cái thị xã nhỏ bé này. Có hôm, anh còn bắt gặp ở Lan ánh mắt khác thường của phụ nữ. Phải rồi, chính Lan mới là người hiểu mình, mới có thể cảm hết nỗi đau của mình. Bất chợt anh quyết định tìm đến với Lan.



Ngay từ đầu, anh biết mình đã không lầm. Lan dịu dàng đón anh, tỏ ra đau khổ thực sự, sẵn sàng chia sẻ với anh. Đêm đó, anh ở lại căn phòng lẻ loi trống vắng của Lan. Khi đã nguôi ngoai cảm xúc, cảm thấy mệt mỏi rã rời, anh chợt thấy mình đã đi hơi quá. Giữa cái thanh vắng đáng sợ của đêm tĩnh mịch nằm bên một người đàn bà cháy bừng nỗi khát khao dục tình, anh nhớ đến vợ và thấy mình như có lỗi. Nhưng cảm giác đó thoáng qua nhanh, anh lại ôm ấp Lan trong vòng tay lực lưỡng của mình.



Anh trở về với chị và cái thời đã qua không còn nữa. Bỗng dưng tất cả với anh đều nhạt dần, nhạt dần. Cuối cùng anh đâm đơn ra Tòa án xin ly dị. Việc ấy làm chị đau khổ lắm. Chị cố khuyên răn anh, mong níu kéo lại cái hạnh phúc mong manh đã qua, nhưng rồi đến một lúc chị cay đắng nhận ra rằng, không thể sống nỗi bên sự ruồng rẫy, lạnh lùng của anh được nữa. Cuối cùng anh chị ra tòa và chia tay trong lạnh lẽo, dù bây giờ đang là mùa khô, trên trời tịnh không một đám mây. Ngay sau đó, anh về sống chung với Lan. Ban đầu dư luận bàn ra, tán vào cũng nhiều nhưng chuyện lâu hóa nhàm, đến một lúc không còn ai để ý.



*

Một mùa bóng nữa lại đến. Anh lao vào chuẩn bị phục thù. Mùa bóng này, anh đề đạt với giám đốc công ty dốc toàn bộ sức lực cho đội bóng với quyết tâm giật cúp. Anh bắt anh em cầu thủ tập luyện không kể giờ giấc, mưa nắng. Có một số anh em phản đối, anh dùng quyền lực giám đốc trao cho kỷ luật ráo. Từ tình cảm gắn bó trước đây với anh em cầu thủ, nay cuồng vọng say mê thắng lợi đã làm anh khô khốc đi. Nhiều cầu thủ đã nhìn anh lắc đầu, ngán ngẫm. Lan thì một mực ủng hộ anh, có hôm cô ra cả sân bãi coi anh em tập luyện. Cô chờ đón vinh quang mà không bao lâu nữa anh sẽ mang lại.



Nhưng một lần nữa vinh quang lại khước từ anh. Mùa bóng này tuy có đầu tư lớn về sức người, sức của nhưng rồi đội bóng của anh cũng trầy trật, không lọt được vào vòng bán kết. Anh thất vọng hoàn toàn, cả tinh thần lẫn thể chất đều sụp đổ. Anh nghĩ hình như trời sinh ra anh để hành hạ anh hay sao ấy. Tờ báo Thể thao trong ngày viết về đội bóng của anh với hàng tít lớn: "Về một đội bóng xuống cấp".



Chán nản, tuyệt vọng, anh lại tìm đến với men say. Trước đây, anh nổi tiếng là một huấn luyện viên giỏi, giờ nổi tiếng là tay nát rượu. Anh bỏ bê việc cơ quan, lang thang khắp các nhà hàng, quán nhậu. Ban đầu còn có người chia sẻ, dần dần ai gặp anh cũng lắc đầu, ngó lơ. Nhiều lúc anh đến phát điên lên vì không còn ai nhắc đến anh, quan tâm đến anh, người đã từng vang bóng một thời. Ngay cả Lan cũng chẳng coi anh ra gì. Không thể ngồi mãi bên ông chồng hờ suốt ngày bê tha rượu chè, cô tích cực đi theo làm cổ động viên cho đội bóng đá Câu lạc bộ Thanh niên, một đội bóng mới nổi tiếng đang có triển vọng đi sâu và giải và giật cúp. Bây giờ, anh không còn có người vợ ngồi thao thức ngóng chờ anh về như thời anh sống với người vợ cũ mà là bữa cơm do anh vụng về nấu rồi ngồi chờ Lan. Một bữa thấy Lan về chưa tới cửa đã bô bô ca ngợi đội Câu lạc bộ Thanh niên, anh nổi giận quát:

- Vào mà ăn đi còn loa cái nỗi gì nữa.

- Ô hay !- Lan kênh kiệu- Đá hay thì người ta mê, người ta ca chứ việc gì đến anh. Cứ như đội bóng của anh thì có thuê bạc triệu cũng chẳng có một tiếng vỗ tay.

- Cô im đi !- Bị xúc phạm, anh thét lên - Đàn bà gì mà suốt ngày bóng ban mãi, đến bữa không về lo nhà lo cửa.

- Thế anh lo không được à. Chính anh từng nói, thưởng thức văn nghệ thể thao nam nữ bình đẳng mà.



Cứ nghe cái giọng đanh đá chanh chua ấy, anh không nói năng gì nữa chỉ cắm cúi và vội miếng cơm rồi đi ngủ sớm.



Đêm, anh thao thức mãi. Có những lúc như thế này anh mới có dịp nghĩ lại tất cả những gì xảy ra từ khi chia tay Hiền về sống với Lan. Chẳng có gì cả, cô ta chỉ là một người hay bốc đồng, nông nổi, cạn hẹp. Cô ta yêu anh khi anh hãy còn danh giá. Còn bây giờ khi anh mất hết, cô ta lại đi tìm cái mới, cái khác lạ của cuộc đời. Anh cũng thừa biết cô đang say mê tay Hoàng, cầu thủ tiền đạo của đội Câu lạc bộ Thanh niên. Nhiều khi không cần giữ ý tứ, cô ca ngợi hết lời về hắn trước mặt anh. Có bữa anh định tát tai cho bỏ ghét nhưng rồi nghĩ lại, thôi nín nhịn cho xong.

Cho đến một hôm anh không còn nín nhịn được nữa. Anh từ bỏ căn nhà của Lan không một lời từ giã. Anh lại đi lang thang từ nhà người bạn này đến người bạn khác. Một hôm anh say mèm không biết trời trăng mây gió gì nữa, khi người ta kêu xích lô chở anh về, không hiểu sao anh nhờ bác xích lô đưa về căn hộ cũ của mình. Trong cơn mê man, anh vẫn nhận ra bàn tay ấm nóng và sự chăm sóc ân cần của Hiền. Chị chườm khăn mặt ướt lên đầu anh, nấu cháo hành cho anh ăn chóng tỉnh.



Buổi chiều tỉnh dậy, bên ngoài trời mưa giăng giăng khắp nẻo. Cơn mưa như gieo vào lòng người nỗi buồn man mác. Anh cảm thấy bối rối ngay cả trong mái nhà xưa yêu dấu của mình. Ấp úng mãi, anh kể lại tất cả cho chị nghe với sự ân hận, dằn vặt của mình. Anh mong chị rộng lòng tha thứ cho anh được trở về bên mái nhà xưa. Chăm chú nghe, mãi sau chị nghiêm túc khuyên anh:

- Anh Trường ạ, anh hãy trở về với chị ấy đi. Anh đã một lần gây đau khổ cho tôi, bây giờ đừng gây đau khổ thêm cho người khác. Anh về đi kẻo chị ấy lại chờ...



Dù đã tỉnh táo trở lại, anh vẫn loạng choạng khi bước ra khỏi căn hộ, nơi anh đã từng có Hiền - người vợ yêu quý, nơi anh đã từng có một hạnh phúc nho nhỏ mà có lẽ vĩnh viễn không còn tìm lại được. Cây lá đỏ trước nhà không biết rụng lá từ khi nào đã bắt đầu trơ trọi. Một vài chiếc lá khô vàng úa lả tả rơi trước mặt anh. Tới gần đầu phố, cơn mưa trở nên nặng hạt bắt đầu đổ xuống. Nấp trong hè phố chờ mãi cơn mưa vẫn không ngưng. Cơn mưa đầu mùa thật dữ dội. Một làn gió lạnh lẽo vô hình len vào tim anh nhức nhối, thật sâu./.



Minh Tứ

Nguồn : www.vanchuongviet.org/




READ MORE - MINH TỨ - BUỔI CHIỀU SAU CƠN MƯA