Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, February 6, 2026

NHỊ THẬP LỤC QUÁN 二十六貫 (97.5 kg) - Nhờ Chat GPT dịch



Xem clip trên laptop tôi thấy một nữ nhân người Nhật nâng tảng đá nặng có dòng chữ 二十六貫 (97.5 kg). 

Đây cụm từ người Nhật dùng chữ Hán để thể hiện, theo dạng chữ Kanji (漢字, Hán tự). Bởi vậy, tôi đọc theo âm Hán Việt 二十六  là “nhị thập lục quán”, nhưng chữ QUÁN có nghĩa là “xâu, chuỗi”, nó không phải là đơn vị đo khối lượng.

Vì không biết tiếng Nhật nên tôi tra từ điển Hán Việt để tìm chữ  có chỉ về đơn vị đo khối lượng không? Kết quả như sau:

Âm Hán Việt: oan, quán
Tổng nét: 11
Bộ: bối 
Lục thư: hội ý
Hình thái: 
Nét bút: 

Nghĩa:
1. xâu tiền
2. xuyên qua, chọc thủng
3. thông suốt
4. quê quán. 

Tôi không thấy có chỗ nào cho biết  chỉ về đơn vị đo khối lượng cả.
Vì có chữ Hán cách viết hoàn toàn giống nhau nhưng có khi cách đọc lại khác và ý nghĩa khác nhau như:
 /shì/ THỊ : cái chợ 
hoặc 
巿 [fú] PHẤT : dây đeo lưng. 

Nên tôi tra từ điển Hán Việt các từ chỉ về đơn vị đo khối lượng như “cân, lượng, thăng, đấu, thạch...” dạng phồn thể, giản thể, dị thể... mãi cũng chưa  ra. Cuối cùng, tôi nhờ Chat GPT giải thích.

                    

Ban đầu, chỉ riêng chữ  gửi bằng hình chụp thì Chat GPT cho biết như sau:
Đó là chữ  (phồn thể).
Phiên âm Hán Việt: mại
Nghĩa: bán
(Giản thể tương ứng: )

Thế thì 二十六貫 không thể là “nhị thập lục bản” với nghĩa 26 mại (hoặc bán 26...)


Có lẽ do hình chụp chỉ riêng chữ  có vấn đề nên tôi gửi hình chụp nguyên cả cụm từ  二十六貫 (97.5 kg) hỏi Chat GPT, thì được trả lời như sau:

   二十六貫 (97.5 kg) 
     nhị thập lục quán (ở đây quy đổi ra 97,5 kg)

  貫 (quán) → đơn vị đo/đơn vị tiền cổ
  貫 (quán) vốn không phải đơn vị khối lượng cố định như kg, mà là đơn vị “xâu / chuỗi”, sau đó mới được quy ước sang trọng lượng tùy thời kỳ và địa phương.

*
1/ Nghĩa gốc của  (quán) : xâu, chuỗi (xâu tiền, xâu vật)

Ví dụ phổ biến nhất:
 一貫錢 (nhất quán tiền) 1 xâu tiền đồng (thường ~1000 đồng tiền cổ)

2/ Khi  được dùng làm đơn vị cân nặng
Trong thực tế (nhất là Trung Hoa – Việt Nam – Nhật Bản cổ), khi hàng hóa được bó / xâu lại, người ta dùng  như đơn vị quy ước trọng lượng.

3Một số quy đổi phổ biến theo từng bối cảnh

🔹 Trung Quốc (thường gặp)
→ Ví dụ trong hình bạn gửi:
     26  bằng 97,5 kg
       1  ≈ 3,75 kg

Đây là cách tính rất phổ biến, đặc biệt trong:
  - Buôn bán nông sản
  - Hàng hóa buộc bó (thóc, gạo, cá, hàng khô)
 
🔹 Nhật Bản (Kan = )
    1  ≈ 3,75 kg
     → trùng với cách tính trong hình của bạn
 
🔹 Việt Nam (thời phong kiến)  Quán hay (quan)
  貫 thường dùng cho tiền:
    1 quan tiền ≈ 600 1000 đồng tiền kẽm (tùy triều đại)
 
Khi dùng cho hàng hóa:
thường hiểu theo quy ước địa phương, hay gặp khoảng 3–4 kg
 
*
Tôi thử dùng thêm trí tuệ nhân tạo thông minh như AI và gửi chữ (không gửi hình chụp) thì có giải đáp:

  "" (guan4) đọc là "quán" trong Hán Việt.
  "二十六貫" (97.5 kg) đọc là "nhị thập lục quán" trong Hán Việt.

Cụ thể:
  二十 (nhị thập) = 20
  六 (lục) = 6
  貫 (quán) = đơn vị đo trọng lượng (1 quán = 3.75 kg)
Vậy, 二十六貫 26 quán =  97.5 kg

"" (quán) thường dùng để chỉ đơn vị tiền tệ trong thời cổ, tương đương với 1 chuỗi tiền (1000 đồng tiền xu). Trong ngữ cảnh này, "quán" thường được dùng để chỉ lượng tiền lớn.
Ví dụ: 一貫錢 (một quán tiền)
Tuy nhiên, như trong trường hợp trước, "" cũng có thể dùng làm đơn vị đo trọng lượng, tương đương 3.75 kg.
 
*
Vì đây cụm từ viết theo dạng chữ Kanji (漢字, Hán tự), người Nhật dùng chữ Hán để thể hiện nên tôi hỏi Google:

Kan () trong tiếng Nhật là gì?
 
Goole trả lời như sau:

Thông tin tổng quan do AI tạo
 
Kan ( - Quán) trong tiếng Nhật là một đơn vị đo lường cổ truyền thống, tương đương \(1.000\) monme hay \(3,75\) kg, được sử dụng phổ biến để đo trọng lượng ngọc trai nuôi cấy. Trong ngữ cảnh ẩm thực, "kan" (thường viết là ) còn là đơn vị đếm chuyên dụng cho sushi (2 miếng/suất) thể hiện sự sang trọng và truyền thống.
 
Các khía cạnh chính về Kan ():
 
Đơn vị đo khối lượng (Trọng lượng): \(1\) Kan = \(3,75\) kg (hoặc \(1000\) monme). Đơn vị này được Luật Cân đo Nhật Bản năm 1891 chính thức công nhận và vẫn phổ biến trong ngành công nghiệp ngọc trai.
Đơn vị đếm Sushi: Được dùng để đếm sushi, đặc biệt tại các nhà hàng cao cấp, tượng trưng cho một suất (thường là 2 miếng nhỏ hoặc một cặp).
 
Ý nghĩa khác (Hán tự ): Ngoài ra,  có thể chỉ sự "xuyên qua", "nối liền", hoặc trong ngữ cảnh cổ (quê quán, xâu tiền).
 
Khớp nối gỗ (Nuki): Trong kiến trúc,  còn được gọi là nuki, một loại mộng gỗ ngang nối cột và dầm trong xây dựng truyền thống Nhật Bản.
 
Kan () không nên nhầm lẫn với Kan (), là từ dùng để chỉ các loại lon, hộp kim loại hình trụ.

*
KAN () và CÂN () có tương quan với nhau không”
 
Tôi tra chữ cân  (đơn vị khối lượng) và các dị thể của nó, không hề thấy có nét tương đồng với Kan  (đọc theo âm Nhật) cả.

 CÂN / jīn/
Âm Hán Việt: cân
Tổng nét: 9
Bộ: giác 
Hình thái: 
Nét bút: 
 
Dị thể: 4
斤 筋 𧢼 𧣊
 
Âm đọc khác
 
Âm Quan thoại: jīn 
Âm Nôm: cân
Âm Nhật (onyomi): 
Âm Nhật (kunyomi): 
Âm Hàn: 
Âm Quảng Đông: gan1

*
Tôi hỏi Google thì được biết:

 CÂN  Hệ đo lường cổ, 1 cân cổ bằng 16 lạng, tương đương khoảng 0,604 kg. Đây cũng là nguồn gốc của câu thành ngữ "kẻ tám lạng, người nửa cân" (8 lạng = 0,5 cân)

Hiện nay, khi nhắc đến "cân Tàu", giá trị quy đổi chuẩn xác nhất sang hệ mét (kilôgam) là:
1 cân Tàu (1 jin) = 0,5968 kg (khoảng 596,8 gam).
Tuy nhiên, trong thực tế giao dịch và tùy theo ngữ cảnh, con số này có thể thay đổi nhẹ:
Giao dịch thương mại/Order hàng:
Các đơn vị vận chuyển thường làm tròn 1 cân Tàu = 0,5 kg hoặc 0,6 kg để thuận tiện cho việc tính phí cước.
 
Ở Việt Nam, cách gọi phổ thông hiện nay 1 cân là 1 kg.
Ở Trung Quốc 1 “công cân” 公斤 (1 kg) bằng “thiên công khắc” 千公克 (1000 g).
Như vậy,  CÂN với Kan  (đọc theo âm Nhật) không hề thấy có nét tương đồng nào cả.    

*
Tra chữ  (Quán) thấy có cụm từ “ác quán mãn doanh” 惡貫滿盈 lại nhớ đến nhân vật Đoàn Diên Khánh đứng đầu “tứ đại ác nhân” trong truyện kiếm hiệp Thiên Long Bát Bộ của Kim Dung, thú vị thật !

 là quan tiền thời xưa ở Việt Nam

Nhớ lời thơ của Nguyễn Bính:

“Một quan là sáu trăm đồng,
Chắt chiu tháng tháng cho chồng đi thi.
 
Chồng tôi cưỡi ngựa vinh quy,
Hai bên có lính hầu đi dẹp đàng.
Tôi ra đón tận gốc bàng,
Chồng tôi xuống ngựa cả làng ra xem.”
 
Cảm ơn các hệ thống trí tuệ nhân tạo thông minh như Chat GPT và AI nhiều. Tôi post lên cùng chia sẻ cùng quý bạn!
                                                                            
                                                                               La Thụy sưu tầm

Ghi chú:

Trang face có clip với dòng chữ 二十六貫 (97.5 kg) :
 
https://www.facebook.com/groups/1126577924381780/posts/2615586832147541/
 
Nội dung miêu tả trong clip:
 
“Cô gái nâng tảng đá nặng 97.5kg này là tân Bộ trưởng Onoda Miki, lúc đó là thượng nghị sĩ.
Cô này có lần còn thi đấu môn sumo nữ, cô cũng có đai đen Judo và cựu lực sĩ, nên có khác.”
READ MORE - NHỊ THẬP LỤC QUÁN 二十六貫 (97.5 kg) - Nhờ Chat GPT dịch

ĐỌC “GỬI LỜI THEO GIÓ BAY ĐI” - Hoàng Thị Bích Hà


ĐỌC “GỬI LỜI THEO GIÓ BAY ĐI”

Cuốn sách “Gửi lời theo gió bay đi” của dịch giả, nhà nghiên cứu Phật học Trần Tuấn Mẫn tập hợp các bài viết chuyên môn, chứa đựng tâm huyết, trải nghiệm và cái nhìn mới mẻ, sâu sắc của một học giả uyên thâm. Trong dòng chảy sách Phật học hiện nay, không thiếu những công trình khảo cứu đồ sộ, cũng không hiếm những tác phẩm thiên về diễn giảng tín tâm. Tuy nhiên, “Gửi lời theo gió bay đi” của Trần Tuấn Mẫn xuất hiện như một trường hợp khá đặc biệt: đó là một cuốn sách không chủ ý “giảng đạo”, không nặng tính giáo điều, mà lặng lẽ mở ra một cuộc đối thoại chân thành, dung dị nhưng thâm sâu giữa giáo lý Phật giáo với tư duy khoa học và đời sống con người hôm nay

 

Nhà nghiên cứu Phật học Trần Tuấn Mẫn

 
1.Vài nét về tác giả - nền tảng học thuật và căn cơ văn hóa

 Nhận định về cuốn sách này, không thể không nhắc đến con người tác giả. Trần Tuấn Mẫn sinh quán tại Huế (sống và làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh) Huế- vùng đất thấm đẫm Phật giáo và văn hóa truyền thống, lại xuất thân trong một gia đình có truyền thống văn chương lớn (Cha là nhà phê bình văn học Trần Thanh Mại, chú là nhà văn Trần Thanh Địch), Trần Tuấn Mẫn mang trong mình sự giao thoa giữa trí tuệ học thuật, cảm quan văn chương và chiều sâu tâm linh. Anh chọn một lối đi riêng: dấn thân vào con đường nghiên cứu, dịch thuật và giảng dạy Phật học. Sự kết hợp giữa căn cơ văn chương di truyền, nền tảng Hán học vững vàng (từ ông nội và bác đều là những đại quan triều Nguyễn). Sự thông thạo nhiều ngôn ngữ cổ và hiện đại (Hán, Anh, Pháp, Phạn…) đã tạo nên một lợi thế đặc biệt, giúp anh tiếp cận giáo lý nhà Phật từ nhiều nguồn tư liệu gốc, với tư duy phân tích khoa học cùng năng khiếu văn chương thừa hưởng từ gia đình đã tạo điều kiện thuận lợi trong lĩnh vực nghiên cứu và dịch thuật Phật học. Trần Tuấn Mẫn là một gương mặt quen thuộc trong giới nghiên cứu và giảng dạy Phật học. Hơn hai mươi năm giảng dạy triết học, Phật học và văn học Phật giáo; từng giữ những vị trí quan trọng như Tổng thư ký Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh, Tổng thư ký Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, Phó Tổng biên tập Thường trực kiêm Thư ký tòa soạn Tạp chí Văn hóa Phật giáo… cho thấy một nền tảng học thuật vững vàng, bền bỉ và nhất quán.

Khi có dịp gặp gỡ tác giả.Tôi hỏi anh:

-Thưa anh! Truyền thống gia đình là những nhà văn lớn thì cơ duyên nào anh lại rẽ hướng sang lĩnh vực khác: Đó là dịch thuật, nghiên cứu và giảng dạy, làm báo,…về Phật giáo?
Anh trả lời:

-Lúc 10 tuổi, bà nội tôi thường dẫn đi chùa. Có lần đi chùa Hiếu Quang (đường Phan Bội Châu, Huế) bà nội cho 10 đồng để tiêu vặt. Lên chùa, tôi rủ mấy chú tiểu cùng trang lứa đi ra quán ăn bánh bèo. Bà nội biết được, về phạt anh lạy 100 lạy trước bàn Phật vì tội cho các chú tiểu ăn mặn. Bà nói: “Phải sám hối không thôi mai sau bị đọa địa ngục”.

 Câu chuyện thời thơ ấu không chỉ là một kỷ niệm đời thường, mà dường như đã trở thành một dấu mốc tinh thần, là khởi điểm cho một sự thôi thúc nội tâm mãnh liệt hướng về đạo Phật. Từ đó Phật pháp không còn là điều gì trừu tượng, mà gắn với trải nghiệm sống, với ý thức sám hối, trách nhiệm và nhân quả. Tất nhiên sau này trưởng thành trong quá trình sống và làm việc anh thấy mình thuộc về lĩnh vực này.
Anh đã xuất bản nhiều đầu sách giá trị. Cuối năm nay, anh vừa xuất bản tác phẩm mới có tựa là: “Gửi lời theo gió bay đi”(Nxb Thế Giới, tháng 12/2025). Và tôi may mắn là một trong những người được tiếp cận tác phẩm khá sớm của anh. Những bài viết trong cuốn sách này rất thuyết phục, dưới góc nhìn khoa học có nhiều phát hiện mới.

2. Nội dung: Sự kết hợp hài hòa giữa học thuật sâu sắc và tinh thần phổ độ

Tác phẩm “Gửi lời theo gió bay đi” gồm có 20 bài viết, dày gần 200 trang kiến thức sâu rộng đề cập đến nhiều vấn đề cốt lõi của Phật học: Tứ hoằng thệ nguyện, Thiền định, Tái sinh, Từ bi, A-la-hán và Bồ-tát,… cho đến các vấn đề mang tính triết học và tâm lý học như vô ngã, duy tâm, linh hồn, công án thiền, hay những khảo cứu lịch sử như sự suy tàn của Phật giáo tại Ấn Độ.

Ngay từ nhan đề, “Gửi lời theo gió bay đi” đã gợi lên một tâm thế khiêm nhường. Không phải “truyền trao”, không phải “khẳng định chân lý”, mà chỉ là “gửi lời”- gửi đi những suy tư, những chiêm nghiệm, những hiểu biết trong khả năng của mình, để mặc cho gió - tức là duyên- đưa đến với người hữu duyên.
Trong lời nói đầu, tác giả viết một cách chân thành: “…chỉ mong gửi đến độc giả một số kiến thức căn bản của giáo lý Đức Phật, kèm theo những lập luận mới mẻ, sinh động, có thể khác với quan niệm của một số học giả hay hành giả”. Cuốn sách -lời tâm tình của tác giả, “Gửi lời theo gió bay đi” khiêm cung, chân thành nhưng đầy trách nhiệm trước tri thức bao quát nhiều chủ đề then chốt của Phật giáo. Chính điều đó tạo nên sức thuyết phục của tác phẩm.

Từ giáo lý căn bản (Tứ hoằng thệ nguyện, Từ bi, Vô ngã) đến những vấn đề triết học và lịch sử phức tạp (Tái sinh, Duy tâm trong Kinh Lăng Già, sự suy tàn của Phật giáo ở Ấn Độ), tác phẩm cho thấy tầm vóc của một nhà nghiên cứu toàn diện.

Điểm nổi bật và cũng là giá trị lớn của cuốn sách, nằm ở góc nhìn khoa học có nhiều phát hiện mới. Trần Tuấn Mẫn không chỉ trình bày kiến thức kinh điển mà còn đưa ra những lập luận, phân tích và đối chiếu riêng, có thể “khác với quan niệm của một số học giả, hành giả”. Chẳng hạn:

Khi bàn về “Tái sinh”, anh không dừng lại ở khái niệm nhân quả nghiệp báo trong kinh điển, mà còn điểm qua niềm tin phổ quát của nhân loại và đặc biệt nhấn mạnh đến “những bằng chứng xác đáng về tái sinh đã thể hiện trong thực tế”, mở ra hướng tiếp cận gần với khoa học hiện đại: “Tái sinh nghĩa là chết đi rồi sinh trở lại và mang một thân xác mới” (S/tr 31) “Đã có nhiều bài viết của nhiều tác giả về tái sinh trong ý nghĩa nhân quả, nghiệp báo, luân hồi trong giáo lý Phật giáo, bài này chỉ nhằm chứng minh tái sinh là ý niệm của con người từ nhiều ngàn năm trước cho đến nay và những bằng chứng xác đáng về tái sinh đã thể hiện trong thực tế. Tất nhiên bài viết này cũng phải dựa vào những điểm cơ bản của nhân quả, luân hồi, nghiệp báo, tái sinh, đồng thời thêm vài lời về lợi ích của niềm tin về tái sinh”.

 

Trong phần viết về “Thiền tông Việt Nam” Trần Tuấn Mẫn đưa ra một nhận định đáng chú ý: Thiền không phải là đặc quyền của Phật giáo. Thiền, xét cho cùng, là một phương cách tư duy, tập trung và tĩnh lặng tâm thức, mà bất kỳ con người nào, thuộc tôn giáo hay không tôn giáo, đều có thể tiếp cận. Thiền có nghĩa là tư duy, tập trung ý, tĩnh lặng thông hội tâm mình với ngoại cảnh, từ đó tập trung vào một đề tài, một đối tượng đấy là Định”. Như thế nếu không kể đến mức độ sâu cạn, thì thiền định là phương cách tư duy của mọi người thuộc một tôn giáo hay không tôn giáo nào chứ không riêng của Phật giáo”. Quan điểm này mở ra một cái nhìn cởi mở, hiện đại, giúp Phật học đối thoại được với đời sống đương đại cho thấy tư duy khai mở, vượt khỏi ranh giới tôn giáo để tìm đến bản chất phổ quát của tâm thức. Việc phân tích nguyên nhân suy tàn của Phật giáo tại Ấn Độ với nhiều góc độ (nội tại và ngoại tại) thể hiện cái nhìn khách quan, sử học của một học giả: Một số nguyên nhân:

- Sự sa đọa của các tu sĩ Phật giáo

-Sự cạnh tranh đố kỵ của Ấn Độ giáo

-Người Hồi giáo xâm lược

-Sự phân phái trong Phật giáo

Cuối bài nhận định liên tưởng thực tế: “Thấy người lại nghĩ đến ta”

Ở bài viết về “Tứ hoằng thệ nguyện”, tác giả không chỉ dừng ở việc giải thích bốn đại nguyện của Bồ-tát, mà nhấn mạnh ý nghĩa thực hành: thệ nguyện là quyết tâm thực hiện những việc vô cùng lớn lao, đòi hỏi dũng khí, sự kiên trì, trí tuệ và lòng yêu thương chúng sinh. Đây là cách nhìn đưa giáo lý ra khỏi không gian nghi lễ, để trở thành động lực sống.  

Bài viết “Tái sinh là sự thật hiển nhiên” cho thấy rõ cách tiếp cận khoa học của tác giả. Anh không né tránh những nghi vấn, cũng không áp đặt niềm tin, mà trình bày tổng quan các quan niệm về tái sinh từ cổ đại đến hiện đại, đưa ra những dẫn chứng thực tế, đồng thời nhấn mạnh lợi ích đạo đức của niềm tin về tái sinh đối với đời sống con người.

Những bài viết về Từ bi, A-la-hán và Bồ-tát, Bồ-tát Quán Thế Âm hay Vu lan báo hiếu đều được trình bày bằng văn phong trong sáng, mạch lạc, tránh tối đa thuật ngữ khó hiểu, giúp người đọc - kể cả những người không thuộc tôn giáo nào vẫn có thể tiếp cận và suy ngẫm.

Đặc biệt, các bài mang tính triết học như “Duy tâm và vô ngã trong kinh Lăng Già”, “Niêm hoa vi tiếu và các công án thiền”, hay “Lang thang một linh hồn” cho thấy khả năng dung hợp giữa Phật học và tâm học hiện đại, giữa kinh điển và tư duy phân tích.

3. Giá trị lớn nhất của “Gửi lời theo gió bay đi” không nằm ở việc cung cấp kiến thức mới lạ, mà ở cách tác giả trình bày những vấn đề quen thuộc bằng một góc nhìn mới: tỉnh táo, khoa học, nhưng vẫn đầy từ tâm. Dù đề tài đa dạng, các bài viết vẫn được liên kết bởi một tinh thần chung: tiếp cận Phật học bằng tư duy lý tính, khoa học, nhưng không đánh mất chiều sâu tâm linh và tính nhân văn. Với văn phong giản dị, giàu tính đối thoại, “Gửi lời theo gió bay đi” có thể xem là một nhịp cầu nối giữa Phật học hàn lâm và độc giả phổ thông; giữa truyền thống và hiện đại; giữa tôn giáo và khoa học. Sách đề cập đến những vấn đề học thuật cao thâm, văn phong vẫn trong sáng dễ hiểu. Điều này xuất phát từ mục đích phụng sự rõ ràng: lan tỏa tri thức Phật học đến đông đảo độc giả. Mỗi bài viết như một lời chia sẻ tâm huyết, một sự “trải lòng” của tác giả, khiến người đọc cảm nhận được sự ấm áp và chân thành, vượt lên trên những thuật ngữ khô khan.

Cuốn sách không đòi hỏi người đọc phải là Phật tử, càng không ép buộc niềm tin. Nó mở ra những gợi ý suy tư, để mỗi người tự đối thoại với chính mình về nhân quả, vô thường, từ bi, trách nhiệm và ý nghĩa của đời sống.

4. “Gửi lời theo gió bay đi” xứng đáng là một tác phẩm giá trị, đánh dấu bước chuyển mình của việc nghiên cứu Phật học Việt Nam theo hướng hiện đại, khoa học và hội nhập, nhưng vẫn giữ được cốt lõi tinh thần và giáo lý nguyên thủy. Cuốn sách không chỉ cung cấp kiến thức, mà còn truyền cảm hứng về một tinh thần học thuật nghiêm cẩn, một trái tim phụng sự nhiệt thành và một tầm nhìn rộng mở. Đó là món quà tinh thần quý giá không chỉ cho người nghiên cứu Phật học, mà còn cho bất kỳ độc giả nào muốn tìm hiểu về những giá trị triết lý sâu sắc, hướng thiện của đạo Phật dưới một ánh sáng mới mẻ và thuyết phục.

Là người yêu thích việc đọc sách, bao gồm cả sách về các tôn giáo, tôi dễ dàng cảm nhận được sự thuyết phục và thiện chí trí tuệ toát ra từ từng trang sách của Trần Tuấn Mẫn. “Gửi lời theo gió bay đi” không tìm cách thuyết giáo, mà lặng lẽ gieo vào lòng người đọc những hạt giống suy tư. Gió có thể bay đi, nhưng lời khi đã chạm đến tâm người có thể ở lại rất lâu. Ở nghĩa đó, đây là một cuốn sách đáng đọc, đáng ngẫm, và đáng được trân trọng trong đời sống tinh thần hôm nay.

Saigon, ngày 28/01/2026
      Hoàng Thị Bích Hà

<habich1963@gmail.com>

 

READ MORE - ĐỌC “GỬI LỜI THEO GIÓ BAY ĐI” - Hoàng Thị Bích Hà

NHỮNG MÙA TẾT CŨ - Bùi Hoàng Linh

 


NHỮNG MÙA TẾT CŨ


Những ngày cuối năm với chút se sắt của ngọn đông phong cứ làm lòng người mềm lại. Trước sự biến đổi của thiên nhiên qua sắc lá, như một sứ giả cần mẫn trở về mỗi độ để nhắc nhớ trời đất đã sang mùa, một cái Tết nữa lại về. Nhưng tại sao lòng mình lại có những mong mỏi khác lạ đến vậy? Phải chăng, đó là thời khắc bao nhiêu kỷ niệm thời thơ ấu ở quê hương lại lặng lẽ trở về trong tâm hồn, để cõi lòng cứ hoài vọng những mùa Tết xa xưa mà lòng thành khấn nguyện một năm mới an yên và thái hoà sẽ ghé lại những mái nhà Việt để luôn che chở và nuôi dưỡng hồn người trước những biến cải vô thường của kiếp phù sinh.

 

1. Những ngày còn là cậu sinh viên xa nhà, bao giờ gần tết lòng tôi cũng xốn xang nôn nao đến lạ. Tựa hồ có một ma lực vô hình nào đó thôi thúc, khiến tôi cứ khấp khởi chờ đến thời điểm bước lên chuyến tàu mùa xuân để trở về nhà. Có lẽ những tất bật của đời sống trong vòng quay bất tận của thời gian đã làm mình vơi bớt nỗi hoài hương. Chỉ khi vệt nắng vàng cam nghiêng xuống ở mảng tường nhà hàng xóm vào một chiều cuối đông nào đó, một cánh mai bất ngờ nở sớm thì lòng thương nhớ quê hương cứ nao nao trong dạ. Ngược thời gian để tìm lại những hoài niệm khó phai của tháng xưa năm cũ, bên những người thương yêu nhất, ấm áp nhất. Ký ức về những mùa tết xưa lại ùa về như tiếng gọi thăm thẳm từ đáy sâu tâm thức: “Trở về nhà đi! Những bước chân đã lỡ xa ngái quê nhà!”. 

 

2. Tôi nhớ có một cái tết mình cứ ở nhà, mẹ thấy lạ nên nhắc: “Sao con không đi chơi với bạn cho vui! Lâu lâu con mới về mà!". Tôi nói: “Dạ con đi xa mẹ đã lâu, nên tết này con không đi đâu nữa”. Có lẽ những tháng ngày rong chơi nơi chốn quê người với bao lăn lóc bụi đường đã làm gót lữ mỏi mòn và lòng người thêm héo hon, hiu hắt. Chỉ khi trở về bên mẹ thì như ngọn cây khô khốc đã tìm thấy mạch nước ngầm của yêu thương, như trẻ thơ tìm lại “chiếc nôi” đã từng nuôi lớn đời mình. Chín chữ cù lao như một món quà mà mùa xuân ban tặng cho mỗi một người để thấy mình bé nhỏ mãi thôi. Tết - một thanh âm ngắn chỉ một âm tiết nhưng cứ đồng vọng trong tâm khảm con người về nỗi khát khao đoàn viên sum họp vô cùng.

 

3. Tôi vẫn nhớ những ngày còn nhỏ, tết luôn ghé nhà vào nhà mình rất sớm. Đó là đầu tháng mười một dưới cơn mưa phùn bay nhẹ trong sương của ngày đông tháng giá xứ Huế, ông nội luôn tuốt lá mai sớm, vì sợ khí trời buốt lạnh thì mai sẽ không kịp nở đúng độ xuân về. Thuở đó, tôi thấy ông mong ngóng mai nở vào đúng dịp tết như một thứ hạnh phúc mà tuổi thơ tôi không tài nào hiểu được. Khi đã lớn tôi mới biết vì sao sắc mai vàng sân trước- một món quà được thiên nhiên đều đặn gửi tặng mỗi năm, và con người luôn đón nhận mà chưa từng thoáng chút ý niệm chán phai. Có lẽ bên trong ông tôi, thời gian đã chào thua trước một tâm hồn không chịu phai úa, nên ông lúc nào cũng có một mùa xuân của háo hức xen lẫn bâng khuâng khi ngày tết đang đến gần kề. Tôi nhớ lúc đó ông giống như một vị chỉ huy trưởng của giàn nhạc giao hưởng “dọn nhà”, nhắc ba tôi sơn cửa sửa điện bàn thờ, lớp cháu như tôi thì lau chùi các vật dụng đồ thờ cúng, dặn mẹ tôi mua bông chuối để trang trí, nói bà nội nhớ chuẩn bị nguyên liệu để nấu xôi chè cúng sớm đầu năm. Bà nội tôi thì lại đón tết bằng một cách khác, lặng lẽ hơn nhưng giữ lại thói quen của tuổi thơ đã theo bà biết bao năm tháng. Đó là luôn may sẵn một bộ đồ bà ba vải lụa màu trắng, và luôn để dành mặc vào ngày mồng một tết. Sao tôi lại nhớ đến vậy? Vì tuổi thơ tôi những sớm mai đầu năm chưa tỉnh ngủ hẳn đều được nhận tiền mừng tuổi từ túi áo bà ba của nội, một bên là túi thuốc cẩm lệ, một bên là những tờ tiền xếp cẩn thẩn trong túi ni lông. Không phải cầu kỳ bỏ trong bao đỏ lì xì, nhưng mỗi lần nhớ lại tôi luôn thấy lòng mình nức nở và bất lực trước thời gian, bỗng một sớm thức giấc thấy lau trắng trên những mái đầu sương tuyết và đời người như những ngọn mây trắng cứ bay về hướng của quê nhà sau một kiếp chơi đùa một bận với trần gian.

 

4. Những cái tết sau này, ba tôi là người thay ông cúng giao thừa cũng như mồng một tết, tôi thì đã được ba chỉ nối dây điện thay bóng đèn như ba ngày xưa. Cái không khí cũng như vòng luân chuyển của đất trời: xuân rồi lại xuân. Chỉ có đều cách hội ngộ đã không còn như cũ, nhưng tôi tin từ một cõi khác ông bà vẫn trở về và cùng hiện diện như những ngày chưa hề ly biệt. Có lẽ tết không giống những ngày nghỉ kéo dài là ở đây. Khi đốt một nén hương trầm với lòng kính nguyện, ba tôi chắc cũng có dịp gặp lại và trò chuyện trong tâm tưởng với ông bà nội, những khoảnh khắc đó có lẽ sẽ vỗ về tâm hồn tuổi thơ bên trong sâu thẳm một người. Để mỗi người như đang tìm lại mình của ngày chưa phải làm người lớn, dù tóc có chia hai màu thì vẫn còn có ba mẹ nhắc nhở mình từng chuyện nhỏ nhất thì còn gì hạnh phúc hơn. Tết thiêng liêng, nhưng gần gũi, mùa xuân đất trời thì rộng lượng cũng như lòng người luôn bao dung để ôm hết những yêu thương của cuộc thế để rồi san sẻ lại tình cảm đó cho từng nỗi đời riêng.

Sài Gòn 05/12/2025
      Bùi Hoàng Linh

 

 

READ MORE - NHỮNG MÙA TẾT CŨ - Bùi Hoàng Linh