Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Lê Thị Tâm. Show all posts
Showing posts with label Lê Thị Tâm. Show all posts

Tuesday, November 3, 2020

KÝ ỨC VỀ NGƯỜI THẦY CŨ – Lê Thị Tâm

 

                     Tác giả bài viết Lê Thị Tâm



KÝ ỨC VỀ NGƯỜI THẦY CŨ

 

Ngày 20 tháng 11 hằng năm đã trở thành tâm điểm của các bạn già chúng tôi. Chỉ một cái bật máy: “A lô…” thế là cả mấy đứa tụ tập. Tuy đã già nhưng cái tính trẻ con ngày nào lại ùa về với bao kí ức. Mấy đứa oang oang giành nhau, chuyện như ngô rang. Kể tên những đứa còn, đứa mất…rồi nhắc đến những thầy cô đã từng dạy. Mắt bỗng cay xè, ươn ướt.. Trong số thầy cô tôi đã học, tôi không sao quên được hình ảnh thầy giáo dạy văn - chủ nhiệm lớp của tôi. Thầy giáo Lim.

Thầy bước vào lớp với cái dáng cao, gầy. Cặp kính lão đeo sệ xuống hốc mũi. Thầy vẫy tay chào cả lớp, chúng tôi cùng đứng dậy lễ phép chào thầy. Thầy chủ nhiệm tôi là giáo viên dạy văn . Năm đó là năm 1974, khi tôi mới bắt đầu vào học lớp 5(cấp II- hệ 10 năm).

         Đầu giờ học thầy gọi học sinh lên bảng để kiểm tra bài cũ. Những bạn nào trả lời chưa tốt thầy uốn nắn, nhắc nhở. Thầy lại đến bên tôi, nhẹ nhàng thầy hỏi: “Em đã học bài chưa?”. Hôm nào thuộc bài tôi đều dõng dạc, tự tin: “Dạ! Em thuộc bài, thầy cho em lên bảng ạ”. Hôm qua, mẹ ốm, tôi phải chăm mẹ, bài không được thuộc nên tôi ấp úng: “Dạ. Thầy tha lỗi cho em, mẹ em ốm ạ”. Tôi cứ tưởng thầy sẽ phê bình nhắc nhở, nhưng không, thầy chỉ nhìn tôi với ánh mắt thông cảm. Tôi nhẹ nhàng ngồi xuống và cảm ơn thầy, tự hứa mình sẽ cố gắng hơn. Thầy rất vui vẻ với học sinh, coi chúng tôi như con của mình. Nhưng tính thầy nghiêm nghị. Những học sinh nào lười học, nghịch phá thầy đều nghĩ cách để rèn luyện. Tôi là đứa con gái rụt rè, nhút nhát nên khi thấy sự nghiêm túc của thầy đâm ra lo lắng, sợ thầy lắm. Nhưng một thời gian, nhờ tính tình vui vẻ của thầy mà tôi  gần gũi, quí mến thầy hơn. Mọi sợ sệt tiêu tan, tôi tự tin hơn với những gì mình học được ở thầy. Khả năng học môn văn của tôi có khá hơn một số bạn, thầy nhận xét như vậy. Tôi cảm nhận được mình đang đỏ mặt, phổng mũi trước các bạn. 

Năm tôi lên lớp 6, tôi tưởng thầy sẽ  không chủ nhiệm nữa. Nhưng khi cái dáng cao, gầy bước vào lớp, chúng tôi nhận ra là thầy giáo chủ nhiệm cũ. Tôi không vui. Thầy ân cần đến bên tôi hỏi: “Sao gặp thầy em không vui?”. Tôi nhìn thầy không nói. Là vì tôi đang giận thầy. Âý là chuyện của năm học trước. Khi đó tôi được nằm trong diện bồi dưỡng học sinh giỏi văn. Nhưng đến khi thi thử để tuyển chọn học sinh chính thức, tôi đạt điểm thấp hơn các bạn. Thầy buồn lắm: “Tôi cứ hi vọng vào năng lực học văn của em, thế mà lần này tôi thất vọng quá”. Vậy là tôi không có danh sách đi thi học sinh giỏi. Nhưng thầy có biết đâu trước khi đi thi tôi đã bị lên sởi, sốt mấy ngày. Sau này thầy biết được thì đã muộn.

Rồi năm học  lớp 6 trôi qua êm đẹp, nhưng trầm lặng. Một năm học chứa đầy nỗi buồn, vui với kết quả học tập. Buồn vì năm đó Phòng Giáo dục không tổ chức thi học sinh giỏi cho học sinh khối 6, vì vậy tôi không được đi thi. Vui vì kết quả tổng kết môn văn của tôi đứng tốp đầu. Chắc chắn đạt danh hiệu học sinh giỏi là đúng quá đi rồi, vì tôi học đều các môn.

Tôi lên lớp bảy, thầy giáo dạy văn vẫn là thầy giáo chủ nhiệm cũ. Năm đó tôi  được thầy chọn đi thi học sinh giỏi môn văn của huyện. Được thầy giúp đỡ, các bạn động viên nên tôi lao vào ôn tập suốt ngày đêm. Nhiều khi quên ăn, mặt tái mét đi vì thiếu chất. Mà nói thật ra, hồi đó ăn cho no  khoai, sắn chứ đâu có cá thịt mà có chất. Nhiều khi thèm một bữa thịt, cứ tưởng tượng ra như đang là tết để rồi nuốt nước bọt cái ực cho đã.  Tôi thường xuyên đến trường để thầy dạy thêm. Thầy đưa các bài văn mẫu cho tôi đọc. Rồi thầy giảng giải những cái hay, cái cần ghi nhớ trong các bài văn tôi được học thêm. Giọng thầy đã già nhiều khi nghe thều thào nhưng sao tôi thấy ấm áp lạ thường. Bên tai tôi luôn văng vẳng lời dặn của thầy trước khi đi thi: “Hãy bình tĩnh nghe, và tiết kiệm thời gian. Cố lên! Thầy tin tưởng ở em”. Lời dặn dò ân cần của thầy đã theo tôi đi vào phòng thi, vào từng câu từng chữ trong bài làm. Thật phấn khởi và tự hào, năm đó tôi đạt giải học sinh giỏi môn văn cấp huyện. Kết quả đó không chỉ đem lại niềm vui cho tôi mà đó còn là niềm vui của cha me, bạn bè và của thầy.  Không những thế, tôi còn được tuyển thẳng vào cấp III. Thầy nhìn tôi bằng ánh mắt tin tưởng, trìu mến và lấy tôi làm gương cho các bạn học tập. Lúc đó, tôi thấy xấu hổ, mặt cứ đỏ lựng lên. Thấy vậy, thầy sờ tay lên trán tôi và hỏi: “Em bị ốm à”. Tôi nhìn thầy rất lâu như nói lời cảm ơn, mà tự nhiên miệng tôi không phát ra được. Bàn tay thầy sao thấy êm êm, mát mẻ như có ngọn gió thổi làm cho tâm hồn tôi lâng lâng đến lạ. Đã lâu, bây giờ tôi mới có thời gian để ngắm nhìn thầy. Chắc lúc trẻ, thầy đẹp trai lắm. Vẫn cái mũi thẳng, cái cằm chẻ tạo nên một khuôn mặt tài hoa, dễ mến. Cái dáng cao, gầy gầy nhưng cứng cáp như thân cây lim, hợp với  cái tên của thầy.

Năm học này cũng là năm học cuối cấp, năm có nhiều thi cử, vừa thi tốt nghiệp, vừa thi chuyến cấp nên việc học hành cũng nghiêm túc lắm. Thầy dạy chúng tôi chu đáo và nhiệt tâm. Cả lớp ra chơi, tôi cứ cắm cúi bên quyển sách truyện, dù sao tôi chỉ cần tốt nghiệp là tuyển thẳng cấp III(THPT) nên tôi có chút lơ là. Thầy đến bên tôi nhẹ nhàng: “Thầy cảm ơn em về kết quả thi học sinh giỏi. Em đã phấn đấu tốt không phụ lòng của thầy”. Tôi đáp lí nhí: “Dạ”. Rồi thầy nhìn thấy quyển sách  của tôi đang giấu dưới bàn. Đó là một quyển sách  nói về tâm lý lứa tuổi và tình yêu. Thầy nhìn tôi mặt như đanh lại: “ Em chưa nên đọc sách này. Đang còn nhỏ, hãy chú tâm vào học tập, lớn lên chút nữa, đọc chưa muộn. Thầy yêu cầu em không được mang đến lớp, làm ảnh hưởng đến học tập của các bạn”. Nói xong thầy lẳng lặng bỏ đi. Lúc đó tôi bỗng bật khóc. Tôi thấy như mình có lỗi với thầy. Giờ nghĩ lại thấy lúc đó sao cái khóc đến hồn nhiên;  bồng bột mà sâu thẳm với những gì sắp bước qua tuổi vươn lên làm người lớn.

Ngày hè cũng đến, lớp chúng tôi tổ chức liên hoan để chia tay ra trường. Gọi là liên hoan cho vui, bởi có mâm cỗ gì đâu, chỉ là những chiếc kẹo cau làm bằng đường đen ngào bột, ổi, mía, khế ngọt… Vậy mà, không khí chia tay sao cứ vui nhộn đến thế. Nhưng vui chưa xong thì nỗi buồn trong lòng cứ tuôn trào trên đôi mắt của mọi người. Ai cũng bồi hồi cảm xúc, vì ngày mai, ngày mai thôi chúng tôi sẽ chia tay nhau. Thầy cũng không cầm được nước mắt, khóe mắt thầy nhòe đi. Buổi chia tay lớp hôm nay cũng là buổi chia tay thầy về nghỉ hưu. Thầy nghẹn ngào nói: “ Thầy rất quí mến các em. Rồi đây, xa các em thầy nhớ lắm. Thầy chúc các em không ngừng học tập phấn đấu để trở thành người tốt…” Thầy dừng lại nhìn từng đứa, như khắc sâu trong lòng những hình ảnh thân thương. Chúng tôi cũng lặng đi giây lát nhìn thầy. Rồi đây mỗi đứa mỗi phương. Đứa thi đỗ vào học cấp III, đứa đi học nghề, đứa về đồng ruộng… Rồi có lúc nào lại được sum họp bên nhau; được gặp lại người thầy, người cha của mình?

Mượn chiếc xe đạp của thầy đi trả dụng cụ sau buổi liên hoan. Tôi và đứa bạn đang chuyện trò tíu tít trên xe. Xe lao xuống dốc, tôi phanh gấp. Chiếc xe loạng choạng rồi hai đứa ngã nhào nằm sóng soài. Chiếc xe phượng hoàng mới tinh của thầy sang vành không đi được. Vác xe về trả cho thầy, vừa sợ, vừa xấu hổ vì áo quần lấm lem. Thầy thấy vậy chạy ra đỡ xe xuống, tròn mắt: “Bắt đền cho thầy nhé. Đó là cơm gạo áo tiền của nhà thầy”. Vậy là tôi òa khóc nức nở. Mấy đứa bạn dỗ mãi không nín. Đến khi thầy nói: “Không sao đâu. Thầy đùa thế thôi”. Nói xong thầy lấy cờ lê vặn một lúc, xe lại đi êm. Khi đó tôi mới thút thít và nín dần. Bây giờ nghĩ lại thấy bật cười.

Tôi vào học cấp III, thầy giáo cũng về hưu. Thỉnh thoảng chúng tôi mới gặp thầy. Tôi vừa chú tâm việc học, vừa làm  đồng áng để giúp bố mẹ nên việc giao lưu bạn bè, gặp thầy cũng thưa dần. Những kỷ niệm về thầy giáo chủ nhiệm cũng có phần nhạt nhòa theo.

Tôi không thi vào Đại học, làm đơn xin vào bộ đội. Khi biết tin, thầy đạp chiếc xe “cơm gạo áo tiền” đã tróc nước sơn đến thăm và chia tay. Thầy nói như có ý trách: “ Mỗi người đều có con đường đi riêng cho mình. Nhưng thầy tiếc cho em, một tài năng về văn học. Nếu em vào Đại học sư phạm văn, chắc em sẽ trở thành cô giáo giỏi để dạy dỗ tốt học sinh. Thôi, dù sao cũng đã quyết rồi, chúc em lên đường sức khỏe, phấn đấu tốt”.

Khi tôi vào bộ đội, huấn luyện xong thì được điều động sang Lào làm nghĩa vụ Quốc tế. Đơn vị tôi được biên chế làm con đường hữu nghị Việt – Lào. Những năm tháng quân ngũ, kỷ niệm đời học sinh nhí nhảnh, vô tư cứ ùa về sau những ngày làm đường vất vả. Hình ảnh thầy chủ nhiệm cứ đau đáu trong lòng. Dáng đi, cử chỉ lời nói, lời dặn dò của thầy cứ hiện hữu trong tâm khảm tôi. Và cũng là động lực giúp tôi hoàn thành nghĩa vụ.

Tôi ra quân sau gần 4 năm quân ngũ. Việc đầu tiên là đến thăm thầy giáo cũ. Nhưng khi bước chân đến nhà thầy lòng tôi như thắt lại. Di ảnh thầy trên bàn thờ với cặp mắt dung dị đang nhìn tôi như mừng vui khi tôi hoàn thành nghĩa vụ trở về. Tôi xin phép gia chủ thắp lên ban thờ cho thầy một nén hương từ biệt, hai hàng lệ trào tuôn. Tôi cúi đầu xin thầy tha lỗi vì không về kịp. Lòng tôi nghẹn ngào thốt lên: Thầy ơi!


Lê Thị Tâm

Hội viên Hội CCB Thôn 2, Trịnh Nga, xã Hoằng Trinh, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa

DĐ: 0354273830; 0923057569


READ MORE - KÝ ỨC VỀ NGƯỜI THẦY CŨ – Lê Thị Tâm

Thursday, May 30, 2019

KÍ ỨC TRƯỜNG SƠN TÂY - Bút ký - Lê Thị Tâm


KÍ ỨC TRƯỜNG SƠN TÂY
Lê Thị Tâm

Sau bao năm dài lo toan với cuộc sống đời thường, vậy mà đã hơn ba mươi lăm năm trôi qua kể từ khi xuất ngũ.  Hôm nay trời mưa, những cơn mưa kéo dài dầm dề không ngớt làm cho tôi nhớ lại những cơn mưa trên đất bạn Lào. Mưa ở Lào cũng dầm dề suốt ngày mới tạnh. Những năm quân ngũ trên đất bạn Lào là những năm tháng để lại nhiều kỉ niệm đẹp của một thời được mang trên mình áo xanh màu lính và là những tháng ngày lăn lộn để xây dựng con  đường chín trở thành con đường nối liền tình hữu nghị Việt – Lào.
Tuổi 19, sau những ngày trên ghế nhà trường, tôi đã tình nguyện viết đơn nhập ngũ quân đội. Trong thời gian này, đất nước ta đang bước vào năm tháng thăng trầm với những khó khăn kinh tế, rồi giặc ngoại xâm đang đánh chiếm phía Bắc của Tổ quốc. Đến tháng 4 năm 1980, tôi mới được đứng vào hàng ngũ quân đội, trở thành cô tân binh mặc trên mình chiếc áo màu xanh mà tôi hằng mong ước. Sau 3 tháng huấn luyện đầy vất vả, dưới cái nắng “chang chang” trên đất lửa Quảng Bình, đơn vị tôi được điều động sang đất bạn Lào, hoàn thành tiếp  những con đường mà các anh cha ta đã mở.
Xe đưa chúng tôi vượt qua bao đồi núi, đường vòng vèo khi lên đỉnh cao, khi chạy  xuống khe suối làm cho ai nấy nôn nao. Sau một ngày đêm xe cũng đưa chúng tôi đến đơn vị nhận quân, đó là sư đoàn 384, đóng quân trên đất bạn lào.  Rồi chúng tôi bịn rịn chia tay nhau, mỗi đứa được phân công về từng đơn vị khác nhau. Tôi được biên chế về C11 trực thuộc trung đoàn 509. Lúc bấy giờ đơn vị nằm sâu trong núi vì đơn vị tôi thuộc Đại đội khai thác đá để phục vụ các đơn vị đổ cầu, đổ mặt đường. Tuy vất vả nhưng tôi cũng thấy rất tự hào vì chúng tôi là lính Binh đoàn Trường Sơn, nối nhịp cầu cho đôi bờ thương nhớ.
Tôi ở đơn vị C11 được mấy tháng thì đơn vị cử đi học chuyên môn ở trung đoàn bộ.  Sau khi kết thúc khóa học, tôi được phân về công tác tại tiểu đoàn bộ Tiểu đoàn 38 thuộc trung đoàn 509. Công việc của tôi là làm nhân viên thống kê, nắm bắt tình hình thi công của các đơn vị, tổng hợp rồi báo cáo cho trung đoàn.
Đơn vị chúng tôi đóng quân bên dòng sông Sê Pôn, quanh năm nước chảy hiền hòa trong xanh. Chỉ mỗi khi cơn mưa về nước đục ngầu đất đá, nhưng chỉ hơn ngày sau nước lại trong vắt như chưa có gì xảy ra. Ở D bộ, chỉ có hai chị em là nữ, còn lại toàn là các anh con trai. Tôi được các anh làm cho một chiếc cầu tre nhỏ khuất sau lùm cây le  để chúng tôi tắm giặt cho tiện. Sợ sệt và buồn cười, mỗi lần đi tắm phải đi cả hai đứa, phần vì sợ “ma”, phần thì bị các anh con trai trêu chọc. Nào là, không biết bơi để anh các anh theo dạy cho, nào là tắm xong về ngày không thì bị “ma bản” nó bắt đi mất, các anh tìm không thấy…. Những lúc như thế tôi vừa thấy xấu hổ, nhưng cũng thấy vui vui vì đó là các anh ấy đùa thôi.
Rồi tết đến, hoa ban nở trắng rừng lòng nao nao nhớ mẹ, chắc mẹ đang cắm cúi với mấy sào ruộng khoán để kịp lo tết, nhớ mấy đứa em xúng xính áo hoa, nhớ nồi bánh chưng to đùng bố nấu ăn đến rằm mới hết.  Tết ở đơn vị cũng có đầy đủ bánh chưng, thịt lợn…nhưng một số anh em về tết, còn lại chỉ vài chục người nên không khí cũng có phần trầm lắng hơn. Các anh thì bày ra nhiều trò để chơi như đánh bài quẹt nhọ nồi, đá bóng…chỉ có hai chị em nữ thôi nên cũng buồn. Đôi lúc cũng xin các anh cho đánh bài. Các anh đánh bài toàn ăn gian nên hai chị em tôi bị quẹt nhọ nồi đầy mặt như mọc râu vậy. Giờ nghĩ lại thấy hay hay.
Mùa mưa, chúng tôi thay nhau đi hái rau tàu bay, đào măng le về làm thực phẩm. Ở đơn vị thực phẩm mùa mưa khan hiếm vì vận chuyển bên nước ta sang Lào đường đi khó khăn.  Le ở đây mọc thành rừng, đi mõi chân không hết. Măng ở đây nhiều lắm, sau một đêm mưa nhú lên như cắm chông. Chỉ sợ muối và vắt cắn. Muỗi thì không sao, chúng tôi mặc áo dài tay, mặt che kín là được. Còn vắt, eo ôi sợ lắm. Có lần bị vắt cắn vào chân chảy máu, sợ quá không dám bắt, nhờ mấy anh bắt hộ. Có anh bắt xong còn khen, chân “cẳng” lính cầu đường gì mà trắng thế! Ngượng ơi là ngượng! Bấy  giờ tôi mới sang tuổi 20 đang bồng bột trẻ con nên cứ hay xấu hổ, bẽn lẽn, làm việc gì cũng e ngại, được thể, các anh cứ trêu nhiều hơn. Vui nhất là những đêm sinh hoạt đơn vị. Những lời ca tiếng hát của các anh ngân vang trong đêm dội vào vách núi nghe như có người nhại lại. Rồi những câu chuyện tếu được các anh thêu dệt kể râm ran. Những câu trêu đùa vui vẻ xua tan không khí thanh vắng nơi núi rừng. Đêm về, ở núi rừng yên tĩnh, bóng đêm tràn ngập không có ánh điện, ánh đèn như bên nước mình, thĩnh thoảng có tiếng cú mèo ăn đêm kêu lên thảng thốt nghe hãi hùng. Những lúc như thế hai chị em chúng tôi phải sang nằm chung giường, đêm không ngủ kể cho nhau nghe chuyện quê nhà. Quê tôi ở Hoằng Hóa, Thanh Hóa có đồng ruộng phì nhiêu, màu mở. Tôi ước sau này về sẽ trở thành cô nông dân đảm đang trên cánh đồng năm tấn, làm thật nhiều thóc kẻo quê tôi mấy năm mất mùa đói kém. Thự, bạn cùng phòng quê ở Thiệu Hóa, nó bảo tôi; “Sao mày không ước đi làm kỉ sư, bác sĩ cho cao sang luôn”. Còn nó, nó bảo chẳng cần gì cả, chỉ cần lấy tấm chồng về đấm lưng cho nó kẻo nó có cái tật đau lưng. Rồi hai đứa ôm nhau cười rúc rích, cho giấc ngủ được sâu hơn.
Tôi làm nhân viên thống kê, mọi con số báo cáo của các đại đội được tổng hợp thông qua anh Trưởng bộ phận tham mưu duyệt rồi báo cáo cho Trung đoàn về các thông số vật liệu, nhân công, máy móc sử dụng trong ngày. Có đợt, do bản đốt rẫy, dây thông tin bị cháy mất liên lạc, phải đi bộ hàng chục cây số lên trung đoàn bộ để báo cáo. Con đường lên Trung đoàn bộ gập ghềnh. Đường đang mùa thi công nên đất bụi mù mịt. Nhìn các anh em đồng đội tay cuốc, tay xẻng, mồ hôi nhuễ nhoại mà thương. Tuy là lính gián tiếp, nhưng những đợt cao điểm mùa thi công chúng tôi cũng được điều động ra công trường. Dù sao là nữ nên các anh nhường cho công việc nhẹ nhất là xúc cát. Có hôm thử vác mấy hòn đá để xây móng cầu, nặng quá thả bịch, hòn đá lăn vào chân chảy máu, đau mất mấy ngày, bị các anh mắng cho. “Yếu mà còn đòi ra nắng”.
Giờ ngẫm lại, thấy cuộc đời lính thật vất vả, thiếu thốn trăm bề. Các anh con trai còn đỡ chứ phụ nữ chúng tôi thật phức tạp về sinh hoạt, biết bao thứ cần ước ao, cần thiết cho người phụ nữ mà ở đây không thể đáp ứng được. Nhưng bù lại, trong lòng mỗi người lính chúng tôi luôn tự hào vì đã đem tuổi thanh xuân của mình hiến dâng cho con đường Trường Sơn một thời huyền thoại. Là cô gái năm xưa đi mở đường đã có một tình yêu Trường Sơn mãnh liệt. Và càng thấy tự hào hơn về những thế hệ cha anh đi mở đường Trường Sơn trong chiến tranh mới hào hùng biết bao.
Tháng 3 năm 1984, đơn vị chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ, bàn giao tuyến đường cho nước bạn Lào. Chúng tôi lại bồi hồi, lưu luyến chia tay, người thì chuyển đi đơn vị khác, người xuất ngũ và tôi cũng xuất ngũ về với quê hương, nơi có mẹ đang ngày đêm mong ngóng đứa con mấy năm biền biệt xa nhà.
Sau khi rời quân ngũ, chúng tôi lại trở về cuộc sống đời thường. Người thì thi vào các trường Đại học trở thành kĩ sư, bác sĩ, người làm công nhân…còn tôi, tôi trở về miền quê yêu dấu, về với ruộng đồng như đã hằng mong ước. Cuộc sống quê nhà lăn lộn đồng áng vất vả càng làm cho tôi thấu hiểu Trường Sơn là nơi đã tôi luyện mình thành con người vững vàng trong cuộc sống, trong lao động. Trường Sơn đã để lại cho tôi dấu yêu trong cuộc đời, để lại tình cảm đồng chí, động đội thiêng liêng nhất .  Cảm ơn tất cả các anh đã giúp đỡ và dìu dắt tôi trong cuộc sống để giờ đây thêm trưởng thành. Hình ảnh những người đồng chí, đồng đội năm xưa, hình ảnh những tuyến đường Trường Sơn Tây mãi mãi in đậm trong kí ức của tôi - người lính Trường Sơn,/.

Lê Thị Tâm
Hội viên Hội CCB, thôn 2 Trịnh Nga, xã Hoằng Trinh, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa.



READ MORE - KÍ ỨC TRƯỜNG SƠN TÂY - Bút ký - Lê Thị Tâm