Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Lê Duy Đoàn. Show all posts
Showing posts with label Lê Duy Đoàn. Show all posts

Saturday, January 18, 2020

TRÒ CHƠI NGÀY TẾT XỨ HUẾ: XĂM HƯỜNG (tiếp theo và hết) – Lê Duy Đoàn



Bấm vào liên kết sau để đọc Phần 1:

TRÒ CHƠI NGÀY TẾT XỨ HUẾ: XĂM HƯỜNG, PHẦN 1 



TRÒ CHƠI NGÀY TẾT XỨ HUẾ: 


XĂM HƯỜNG 
(Phần 2 - tiếp theo và hết) 

Lê Duy Đoàn

Những qui ước trong trò chơi Xăm Hường:
Người  chơi được nhận thẻ xăm theo những gì xuất hiện trong 1 lần đổ hột vào tô.
1.   Nhất Hường (1 mặt tứ) : lấy 1 thẻ một.
2.   Nhị Hường (2 mặt tứ) : lấy 1 thẻ 2 hoặc 2 thẻ 1 khi không còn thẻ 2.
3.   Tứ Tự (hay còn gọi là Tứ Tấn): khi có 4 mặt giống nhau trừ mặt Hường (mặt bốn) thì lấy 1 thẻ 4. Nếu ngoài 4 mặt giống nhau đó có thêm 1 hường hay 2 hường thì lấy thêm 1 thẻ 1 hoặc 1 thẻ 2.
4.   Tam Hường (3 mặt tứ): lấy thẻ 8. Nếu Tam Hường đi với 3 hột súc sắc còn lại cùng 1 mặt (ví dụ 3 tứ, 3 tam) thì gọi là Phân Song Tam Hường, lấy được 1 Trạng em và 1 thẻ Tam Hường (trị giá 24 thẻ)
5.   Trạng em: có nhiều trường hợp xuất hiện được lấy Trạng Em (tức là Bảng Nhãn, Thám Hoa)
     a. Suốt: 6 hột theo thứ tự nhất - nhị - tam - tứ - ngũ - lục.
     b. Phân Song: là chia hai, 3 hột mặt này, 3 hột mặt kia (ví dụ 3 tam, 3 nhị)
     c. Thượng Mã, Hạ Mã: theo chữ là “Thượng mã đề kim, hạ mã đề ngân” trong tích Tào Tháo đãi ngộ Quan Công trong truyện Tam Quốc Chí.
          - Thượng mã là 3 đôi: 2 nhất, 2 nhị, 2 tam
          - Hạ mã là 3 đôi: 2 tứ, 2 ngũ, 2 lục
     d. Tứ Tự Cáp:  Cáp nghĩa là ghép với nhau. Tứ tự là 4 mặt giống nhau, hai hột còn lại mà tổng số bằng với mặt tứ tự thì gọi là Tứ Tự Cáp.
Ví dụ: Tứ tự là 4 mặt ngũ, 2 hột còn lại có thể là 3 và 2 hoặc là 4 và 1 thì đều gọi là tứ tự cáp.
Có 2 trường hợp đặc biệt của tứ tự cáp:
 - 4 mặt nhất và 2 mặt ngũ, lục thành ra 11 là tứ tự cáp của mặt nhất.
- 4 mặt nhị và 2 mặt nhất hoặc là 2 mặt lục cũng là cáp.

Bốn trường hợp trên, người chơi được quyền lấy thẻ trạng Em. Khi hết thẻ trạng Em giữa làng thì lấy tương đương giá trị 16 thẻ.
6. Trạng Anh (Tức là Trạng Nguyên) có 2 trường hợp:
     a. Trạng Tứ hường (còn gọi là trạng Đỏ) bao gồm 4 mặt hường. 2 hột súc sắc còn lại cộng với nhau thành ra tuổi của Trạng.
Ví dụ: 4 hường và 2 mặt còn lại là 3 và 5 thì gọi là trạng 8 tuổi.
Khi một người đã lấy được trạng 8 tuổi, mà có người khác đổ hột súc sắc ra trạng Anh 9 tuổi trở lên thì người đó được lấy trạng anh từ tay người kia gọi là cướp trạng.
Ngoài tuổi của trạng xác định như trên còn có 2 trường hợp đặc biệt là Trạng cáp xiên và Trạng cáp chính.
Trạng cáp xiên là 4 tứ, 1 tam, 1 nhất.;
Trạng cáp chính là 4 tứ, 2 nhị.
Trạng cáp xiên cướp trạng có tuổi. Trạng cáp chính cướp được cả trạng cáp xiên.
     b. Trạng ngũ tử (Trạng anh Đen): bao gồm 5 mặt giống nhau trừ hường. Hột xúc sắc còn lại là số tuổi.
Ví dụ: 5 mặt ngũ một mặt nhị thì gọi là Trạng ngũ tử 2 tuổi. Nếu người khác cũng ra ngũ tử mà tuổi lớn hơn thì cướp trạng.
Trạng ngũ tử có một trường hợp đặc biệt là ngũ tử đại ấn tức là 5 hột cùng một mặt, hột còn lại là mặt tứ. Trạng ngũ tử đại ấn cướp trạng ngũ tử có tuổi.
Có một quy định đặc biệt là loại trạng nào chỉ được cướp trạng loại đó. Trạng đỏ không được cướp trạng ngũ tử và ngược lại.
Trường hợp đổ ra trạng mà không cướp được trạng thì người ấy sẽ lấy 32 thẻ giữa làng.
Nếu người có trạng mà đổ ra trạng nhiều tuổi hơn thì chỉ được tăng tuổi trạng chớ không được phép lấy thêm thẻ giữa làng.
7. Ngũ hường đoạt tam khôi: Tức là 5 mặt hường thì được lấy cả 3 trạng (1 trạng anh và 2 trạng em) dù trạng đã nằm trong tay người khác. Hột súc sắc còn lại là số tuổi của ngũ hường.
8. Lục phú: Có 2 trường hợp:
     a. Lục phú đen: 6 mặt giống nhau trừ hường.
Khi có lục phú thì không kể ai có bao nhiêu thẻ, tất cả người chơi đều đồng loạt chung cho người lục phú giá trị theo quy định (nếu 6 hoặc 7 người chơi, mỗi người phải chung 1 trạng).
     b. Lục phú hường: 6 mặt tứ
Tất cả đều chung cho người có lục hường trị giá gấp đôi quy định (nếu chơi 6 hoặc 7 người thi 1 người phải chung 2 trạng).
Trong trường hợp, người chơi đổ hột văng ra ngoài thì xem như bất hợp lệ và phải bị phạt một thẻ hường thêm vào trạng.
Trường hợp người có trạng đổ hột những lần đầu không có hường thì mỗi lần bị phạt 1 thẻ thêm vào trạng.

Số lượng người chơi và cách tính số lượng thẻ của mỗi người chơi:
1. Từ 2 đến 7 người:
- Hai người: mỗi người phải đủ 32 x 3 = 96 thẻ.
- Ba người: mỗi người phải đủ 32 x 2 = 64 thẻ.
- Bốn người: mỗi người phải đủ 32 x 1,5 = 48 thẻ.
- Năm người: Có 2 cách:
      + Nếu chia đều thì bỏ bớt 2 thẻ, còn 190 thẻ, mỗi người phải đủ 38 thẻ.
      + Bán trạng: người có trạng anh được quyền bán trạng và những thẻ khác trên tay mình, không giữ lại thẻ nào. Như vậy, mỗi người khác phải đủ 48 thẻ.
- Sáu người: mỗi người phải đủ 32 thẻ.
- Bảy người: người nào có trạng anh sẽ bán hết thẻ trên tay mình cho người nào còn thiểu (mỗi người phải đủ 32 thẻ).
2. Bắt đầu 8 người chơi trở lên thì cách tính có phần phức tạp hơn. Số người chơi có thể nhiều nhưng nên chơi tối đa 12 người.
Từ 8 đến 12 người chơi, chúng ta áp dụng lối bán trạng 2 lần.
Nhiều người nghĩ rằng, bán trạng 2 lần là người có trạng được bán gấp đôi giá trị của thẻ trạng (32 x 2 = 64)
Thật sự, nếu chơi theo cách đó thì chỉ có 1 người vui vì ăn nhiều mà những người khác sẽ buồn vì ai cũng thua cả.
Theo tôi đã áp dụng và cách bán trạng 2 lần này hay hơn.
Bán trạng hai lần có nghĩa là cả trạng anh và 2 trạng em đều được bán.
Người có trạng em được xem như đủ thẻ, số còn lại mà người có trạng em lấy được thì được quyền bán.
Sau khi người có thẻ trạng em bán xong, thì người có trạng anh sẽ ăn hết phần còn lại
Số lượng thẻ cần có của những người chơi không có trạng giảm dần khi số người chơi tăng lên:
8    người chơi, mỗi người không có trạng chịu 32 thẻ
9                                                                          28 thẻ
10                                                                        25 thẻ
11                                                                        22 thẻ
12                                                                        20 thẻ

Số lượng thẻ này tùy theo sự giao ước của những người chơi. Con số trên đây chỉ là con số để tham khảo mà thôi.

Một số cải biến để trò chơi thêm hấp dẫn:
1. Đấu thẻ rời: Khi còn lại chỉ trạng anh, người ta tạo thêm hào hứng bằng cách đấu 1, 2 thẻ hường. Ai nhiều hường hơn sẽ ăn hết. Lối đấu này chỉ căn cứ theo mặt hường.
2. Hạ giá trạng: Khi đã hết thẻ nhỏ mà đổ nhiều vòng không lên trạng, để cho nhanh có thể hạ giá trạng. Thông thường là phân song tam hường, có thể là trạng em trừ suốt (Có nghĩa là phân song, tứ tự cáp, thượng hạ mã.)
3. Cướp Trạng Em: Khi có 8 người chơi trở lên, người chơi chấp nhận bán trạng 2 lần thì giá trị của trạng em tăng lên nhiều. Có thể chia ra 3 cấp để cướp trạng em.
Cấp I: Phân song tam hường
Cấp II: Phân song, tứ tự cáp, thượng mã, hạ mã
Cấp III: Suốt
Như vậy phân song tam hường có thể cướp trạng em cấp II và III, cấp II có thể cướp trạng em của Suốt.
Người lấy trạng em trước thì bị cướp trước.
4. Không lấy thẻ: Người chơi có quyền không lấy thẻ giữa làng vì không ai cấm 1 người từ chối quyền lợi mình được hưởng. Như vậy người chơi có cơ hội cướp trạng nhiều hơn.
Bằng cách chơi mới lạ này mà bạn bè Quốc Học 61-64 đã áp dụng trong buổi họp mặt đầu năm Đinh Hợi. Nó tạo nên niềm vui vô kể.
Hầu như trò chơi nào cũng có những biến thái thích hợp để tạo nên hào hứng và vui vẻ nhiều hơn. Do đó chúng ta không nên câu nệ lề thói cũ mà thử áp dụng những cải biến trong trò chơi xăm hường để trò chơi vui hơn, hấp dẫn hơn.  

Chế tác thẻ Xăm Hường
Trong nội cung triều Nguyễn và các gia đình quan lại trước đây, thẻ xăm hường có thể làm bằng ngà voi. Sau này, thẻ xăm hường được làm bằng vật liệu khác dễ kiếm hơn. Vật liệu có thể là sừng bò, sừng trâu trắng, xương, tre, gỗ để làm xăm. Có thể in, vẽ hình trạng và ghi chữ Hán, cũng có thể ghi chữ số, miễn sao có đủ thẻ lớn nhỏ để chơi.
Bộ thẻ xăm hường của tôi được chế tác từ đũa nhựa melamine của Trung Quốc. Chỉ cần cắt dài ngắn khác nhau ta có thẻ nhất hường, nhị hường, tứ tự. Ghép 2 thẻ tứ tự cho dài hơn 1 tí ta có thẻ tam hường, ghép 3 thẻ dài hơn ta có trạng em, dài hơn chút nữa ta có trạng anh. Dùng keo dán Super Glue để gắn các thẻ đũa lại với nhau. Cách chế tác này dễ dàng, ai cũng làm được vì đơn giản vô cùng mà âm thanh của thẻ va chạm nhau cũng thanh tao “nghe ra tiếng sắt, tiếng vàng chen nhau” vui tai lắm lắm.
Xăm hường là một trò chơi mang đậm nét văn hoá đặc sắc. Trò chơi phổ biến rất rộng rãi trong xã hội Huế và các vùng lân cận. Trò chơi vô cùng tao nhã và thân thiết.
Cứ mỗi lần Tết đến, được nghe âm thanh các hột súc sắc đỗ dòn trong cái tô kiểu, lòng người tự nhiên thấy rộn rã một không khí vui tươi, đầm ấm của một gia đình người Huế đón xuân.
Mỗi gia đình người Việt dù ở Việt Nam hay xa xứ nên kiếm mua hoặc tự làm một bộ xăm hường để gia đình được quây quần vui vẽ trong ba ngày Tết với trò chơi tao nhã: XĂM HƯỜNG.

LÊ DUY ĐOÀN
Mồng 8/1/Đinh Hợi.

READ MORE - TRÒ CHƠI NGÀY TẾT XỨ HUẾ: XĂM HƯỜNG (tiếp theo và hết) – Lê Duy Đoàn

Friday, January 10, 2020

GIỌNG HUẾ - GẦN CẢM, XA THƯƠNG - Lê Duy Đoàn



Tác giả Lê Duy Đoàn


Giọng Huế- Gần cảm, xa thương
Lê Duy Đoàn

I. Những chuyện bên lề:
1. Cô gái Huế hỏi: Bài "Giọng Quảng - Gần thương xa nhớ" của anh, em đã đọc nhiều lần, nhưng lần nầy đọc lại vẫn bị cuốn hút vào câu chuyện! Giọng Quảng thì gần thương xa nhớ, còn giọng Huế thì ra răng anh hè? Anh lậm tình cô gái Quảng rứa chơ có lậm tình với O gái Huế mô không? Có phải như người ta thường nói "Huế đi để mà nhớ, chứ không phải ở để mà ..."!
Chàng trai Huế trả lời: “Giọng Huế thì gần cảm, xa thương” em à. Ở gần nghe giọng Huế thấy thấm, có thấm mới cảm thương … nàng. Trai gái Huế thì "xa càng nhớ, ở càng thương" giống như anh với em ri nì!
Cô gái Huế nói: “Anh nói rứa cho vừa lòng em thôi, chứ giọng Bắc sắc sảo, trau chuốt, chuẩn mực, giọng nói như rót mật vào tai, giọng Nam ngọt như mía lùi như tai được rót mật răng anh không nói cảm nói thương mà cảm và thương chi “giọng Huế trọ trẹ của miềng” hở anh?
Chàng trai hơi lúng túng một chút trước câu hỏi ngược bất ngờ của cô gái, rồi cũng tìm được câu trả lời: “Người dân ở xứ nào cũng yêu mến giọng quê của mình. Dù là người Bắc, người Nam hay người miền Trung, cứ nghe giọng nói quê mình là thấy động lòng. Người Quảng động lòng giọng Quảng, người Huế động lòng giọng Huế. Giọng quê qua miệng nói, qua tai nghe rồi đi qua tim. Giọng quê theo máu đi đến toàn thân, len lỏi qua từng tế bào rồi đi đến trú ngụ trong tâm hồn của mỗi con người. 
Giọng quê miền nào cũng được người dân miền đó xem là vốn quý. Vốn quý đó được truyền thừa, bảo lưu và có tính chất bảo thủ. Như thế, giọng nói riêng của từng vùng miền không bị đồng hóa, mai một, hòa lẫn, hòa tan vào một giọng nói miền khác.
Mình là người Huế nên giọng Huế được nghe, được nói, được thấm trong máu thịt từ thuở nằm nôi. Trong gia đình và ngoài xã hội, người Huế được tưới tẩm tâm hồn bằng giọng Huế. Lớn lên đi học, giao tiếp cũng nghe cũng nói giọng Huế. Yêu cô gái Huế cũng nghe thỏ thẻ giọng Huế, cũng tỏ tình bằng giọng Huế… Như rứa, người Huế cảm giọng Huế là chuyện bình thường như mối liên hệ giữa sự sống và  hơi thở. Thiếu hơi thở thì sự sống ngất ngư, thiếu chất giọng quê mình thì như người thiếu đói, què quặt. Đôi khi người ta ơ thờ với chuyện thở và sự sống đến khi tắt nghẻn hơi thở, mạch nguồn sự sống cũng đảo điên, khi đó người ta mới giật mình. Ví như người Huế xa quê chợt nghe lại giọng Huế đâu đó, cảm thấy thương giọng nói của quê mình, lòng bỗng dưng ấm áp như được nối lại với mạch nguồn xứ Huế, rồi chợt bồi hồi xúc cảm thân thương.”
Em đọc mấy câu thơ trong bài “Mơ tình xứ Huế” của nhà thơ Trần Dzạ Lữ thì thấy liền:
     Cứ mỗi lần nghe giọng của em
        Anh lại nhớ vô cùng giọng mạ
        Cố đô mình trong trái tim mô lạ
        Răng thẩn thờ như thuở mới quen?
Câu đầu “nghe giọng của em” là gần cảm. Câu hai “nhớ vô cùng giọng mạ” là xa thương đó em à.

Cô gái nghe chàng trai nói về “giọng Huế của miềng” có “gần cảm, xa thương” ra chiều cảm khái… trái tim non chợt rung lên nhè nhẹ, hơi loạn nhịp!
Mẫu đồi thoại ở trên là của một cô gái và một chàng trai Huế chay, cả hai cũng xấp xỉ…bảy mươi tuổi rồi!!

ĐI TÌM NHÀNH HOA THẠCH THẢO,
TÁC GIẢ: LÊ DUY ĐOÀN,
 NXB THANH NIÊN, 2014.
2. Năm 1970, trong thời gian đi quân trường Thủ Đức, tôi ở trong nhóm 6 người họa sĩ của tiểu đoàn. Khi tôi dẫn một người bạn trong nhóm đó là họa sĩ Nguyễn Trí Hải, người Sài gòn tốt nghiệp trường Mỹ thuật Gia Định đến thăm một cô bạn gái Huế sống ở khu Trương Minh Giảng, quận 3, cô gái rất vui, nói chuyện tíu tít. Anh chàng ngại ngùng không biết nói chuyện chi đành ngồi nghe hai chúng tôi nói chuyện bằng giọng Huế. Khi ra về, chàng ta nói: “Ông nói thì tui còn nghe được, chứ cô ấy nói tui chỉ nghe như tiếng chim hót ríu ra ríu rít chứ chẳng biết cô ấy nói chi!”. “Nhưng ông có thích không?” “Thích quá đi chứ! Gái Huế nói năng dễ thương thật”. Không nghe được chi cả mà vẫn kết luận gái Huế nói năng nhẹ nhàng, dễ thương, nghe như rứa thiệt là mát lòng mát dạ.
Trí Hải sau này cưới được một cô vợ người Huế, cũng là họa sĩ tốt nghiệp trường Cao đẳng mỹ thuật Huế. Cô gái Huế này- một O Tôn Nữ, là cô giáo dạy môn hội họa, bạn thân cùng dạy một trường với em gái anh ấy. Gia đình Hải rất quý cô dâu này vì ngoài những phẩm chất tốt đẹp của một người đẹp xứ Huế thuộc con nhà gia giáo, nề nếp, với cốt cách sang trọng quý phái, tánh nhu mì, biết ăn biết ở, nội trợ đảm đang còn góp cho không khí gia đình họ một giọng Huế thanh tao dịu dàng nữa. Còn Hải thì hàng ngày được gần gũi giọng nói êm tai nghe như tiếng chim hót ríu ra ríu rít và đã biết cô ấy nói chi …khỏi đoán mò!
3. Năm 1973, hai vợ chồng chúng tôi lên Đà Lạt lần đầu. Một buổi sáng, chúng tôi vào chợ Đà Lạt. Chợ vắng người. Chúng tôi đến một quầy bán trái cây, hỏi thăm một người bà con trong họ Lê. Bà xã tôi vừa nói đúng một câu: “Bác ơi, bác cho con hỏi thăm, bác có biết Mụ Bưởi cũng bán trái cây ở chợ ni, ngồi chỗ mô không?”. Không trả lời trực tiếp vào câu hỏi, bác ấy hỏi ngay, không một chút ngần ngừ: “Cháu là dân Kế Môn phải không?” .
Thật là lạ, bà xã tôi theo mẹ “lên Dinh” từ hồi nhỏ xíu, lúc mới ba, bốn tuổi, giọng nói nghe ra giọng Dinh rõ ràng, vậy mà một người xa lạ chưa hề quen biết vẫn nhận ra giọng nói quê gốc Kế Môn của bà xã tôi dù giọng quê đó chỉ còn sót lại chút xíu. Tài thật.
4. Nhà văn Võ Hương An viết bài “Tiếng Huế-một ngoại ngữ” có đoạn: Trong bài viết Áo Rộng Khăn Vành, Tiếng Sông Hương 1990, Túy Hồng có một nhận xét rất đúng: "Giọng Huế không phải là giọng nói trước đám đông, mà có thể chỉ là một giọng nói trong phòng khách.” Nói trước đám đông thì dở nhưng rỉ rả trong phòng khách thì rất dễ lọt tai.
5. Giới thiệu CD nhạc Trịnh Công Sơn “Một cõi đi về” Nguyễn Hạnh Hoài Vy viết vào tháng12/2001(trích bài viết) đề cập đến một người “thuyết văn” bằng giọng Huế ở Paris. …Đó là giọng nói của anh Cao Huy Thuần… Thuyết văn, là dùng lời nói văn chương để làm sáng tỏ tính chất của mỗi bài nhạc. Mà lời nhạc Trịnh Công Sơn, như mọi người đã đồng ý, là những lời thơ –là nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ, cho nên sự làm tỏ sáng lời nhạc là công việc cần thiết. Qua đó, người nghe mới hiểu hết cái ý sâu sắc của cách dùng lời.
Người thuyết văn có giọng nói của miền sông Hương, núi Ngự. Nói tới giọng Huế, người ta hay nói là giọng "trọ trẹ". Có thể mượn ý của nhạc sĩ Phạm Duy để mô tả đó là  một "âm vực cạn hẹp", do "tiếng trầm và bỗng không quá cách biệt" trong quảng âm Ngũ Cung . Đó là thứ giọng nói "bình thản!".
Trong sự "bình thản" ấy, giọng Huế có thể xoay chiều: dõng dạc như tướng quân giữa chốn sa trường hay tiếng thầm thì bên tai người yêu dấu.
Giọng "thuyết văn" của anh Cao Huy Thuần lơ lửng giữa hai cực nói trên. Cho nên, người nghe đã gặp phải cái cứng cỏi thứ gỗ quý của rừng nhiệt đới, xen với cái mượt mà sâu lắng của giòng sông Hương….

6.Thời gian vừa qua, việc Biên tập viên Anh Phương dẫn chương trình thời sự bằng giọng Huế trên VTV (Đài truyền hình VN) đã tạo nên nhiều ý kiến trái chiều của khán giả.

Anh Phương, sinh năm 1987, đã tốt nghiệp Đại học kinh tế Huế và nhận bằng thạc sỹ Kinh tế năm 2012. Cô vừa được chuyển ra công tác ở  Đài truyền hình trung ương tại Hà nội một thời gian.
Ngoài vẻ đẹp dịu dàng, nữ tính, Anh Phương còn là một người đa tài. Cô biết chơi nhiều nhạc cụ như: piano, organ… Đặc biệt, cô có thể chơi được nhiều môn thể thao như bơi lội, tennis, bóng bàn, khiêu vũ, taekwondo.
Ngay sau khi chương trình thời sự được phát sóng, nhiều ý kiến tranh luận được đưa ra. Bên cạnh một số ít những ý kiến cho rằng, chương trình thời sự của đài quốc gia cần phải sử dụng giọng chuẩn Hà Nội thì đa phần những ý kiến khác đều tỏ ra thích thú với sự xuất hiện của một BTV nữ nói giọng Huế….
Theo Thuỳ Phương (Gia đình & Xã hội)
7. Nhận xét chung: <Trích bài viết Các đặc-điểm ngữ-âm của tiếng Huế của tác giảVương-Hữu-Lễ- Thông tin Khoa học và Công nghệ, số 1, năm 199>
Tóm lại, các đặc điểm nổi bật của tiếng Huế là:
- Những khoảng cách phân biệt các thanh điệu là nhỏ bé, cao độ thì không bổng quá cũng chẳng trầm quá, khiến cho giọng nói nghe đều đều đơn điệu.
- Sự chuyển hoá âm lại có xu hướng thu hẹp độ mở, làm giảm đi âm lượng khiến cho độ vang sút kém…
- Các phụ âm cuối lợi (?) được thay bằng các âm mạc (?) khiến cho giọng nói không bị dằn mạnh.
Tất cả những đặc điểm đó tạo ra một hiệu quả âm học chung là “nhỏ nhẹ”, một từ khá chân xác thường được người ở các vùng khác dùng để miêu tả tiếng Huế theo sự cảm nhận bình thường của họ.
Phải chăng đặc trưng “nhỏ nhẹ” đó một phần nào là do hoàn cảnh xã hội đặc biệt của Huế. Phú Xuân xưa đã từng là thủ phủ của các chúa Nguyễn trong khoảng 200 năm, và Huế là kinh đô của một triều đại phong kiến lớn nhất trong lịch sử nước ta từ đầu thế kỷ XIX. Ở đây, con vua cháu chúa rất nhiều, quan lại lớn nhỏ cũng không ít, chắc chắn cách sinh hoạt của tầng lớp quý tộc thượng lưu đó – trong đó có cách ăn nói của họ – đã gây một ảnh hưởng đáng kể..
…Hơn nữa, từ đầu thế kỷ XIX, tiếng Huế chịu tác động rất mạnh của phương ngữ Nam. Vua Gia Long, người sáng lập ra nhà Nguyễn, đã sống ở miền Nam suốt cả cuộc đời lưu lạc của mình; vả lại, “từ đời Minh Mạng trở xuống, các bà vợ vua phần lớn là người Nam, vì các công thần hầu hết là người Nam cho nên đã dâng con lên cho vua” và chính vua “Minh Mạng sinh trưởng ở miền Nam, cho rằng giọng nam nhẹ nhàng dễ nghe, cho nên vua bắt ai nấy phải nói giọng lơ lớ nửa Nam nửa Huế” vì thế “trong Đại Nội không được nói hoàn toàn theo giọng Huế mà phải nói giọng Phường Đúc [*], nghĩa là  giọng Huế pha giọng Nam”.
 (*)Chú thích về giọng phường Đúc: “Phường Đúc là khu quần cư tập trung các người thợ đúc đồng tài giỏi do triều đình tuyển từ Bắc vào hoặc trong Nam ra. Họ là tác giả của chuông chùa Linh Mụ, Cửu vị Thần Công và Cửu Đỉnh ở Huế. Những sản phẩm của họ dãi nắng, dầm mưa, trải bao tuế nguyệt đến nay vẫn chẳng chút nứt rạn hay có tì vết gì. Họ mang theo gia đình ra làm ăn sinh sống lâu ngày ở Huế nên hòa đồng ngôn ngữ với dân địa phương. Dân Phường Đúc không nói rặt một giọng nào mà pha trộn nửa nọ, nửa kia. Các cung phi trong Nội phải bắt chước giọng Phường Đúc, nghĩa là vừa nói nửa Trung, nửa Nam, ai không tuân thì bị tội. Tại sao lại có hiện tượng này? Kể cũng khó hiểu. Và lệnh này có từ đời nào? Có người đưa ra giả thuyết: có lẽ chuyện này xuất phát từ thời bà Từ Dũ vốn là một phụ nữ Nam Bộ, con gái của Đại thần Phạm Đăng Hưng, người Gia Định, bà được phong Nghi Thiên Chương Hoàng hậu, lấy vua Thiệu Trị, đứng đầu bộ phận “hậu cần” của Hoàng đế, có nhiều quyền uy đối với các cung phi khắp ba cung, sáu viện. Có lẽ và muốn những người dưới tay mình phải dùng giọng nói pha âm sắc Nam Bộ để trao đổi cho dễ hiểu chăng, bởi vì người Tân Hòa-Gia Định nghe giọng Huế “đặt sệt” có thể không hiểu mô tê chi cả.”
II. Các đặc điểm của giọng Huế:
1. Phân vùng địa lý các chất giọng Huế:
Theo các trích dẫn bài viết nhiều tác giả và các mẫu chuyện cá nhân ở phần trên, chúng ta ghi nhận các nhận xét về giọng Huế trái chiều như sau:
- Nhỏ nhẹ, nhẹ nhàng hay dõng dạc, hùng biện.
- Trọ trẹ hay dễ nghe.
- Mượt mà sâu lắng hay nặng nề, thô ráp.
- Giọng phòng khách hay giọng trước đám đông.
- Giọng dịu dàng hay cứng cỏi.
- Giọng dỡ hay giọng hay.
- Giọng nặng hay giọng nhẹ.
Qua từng cặp đối lập ở trên người ta thường chỉ nói đến một vế trong cặp đối lập đó. Chê thì nói giọng Huế trọ trẹ, dỡ, nặng, giọng phòng khách. Khen thì nói giọng Huế nhỏ nhẹ, nhẹ nhàng, dễ nghe, hùng biện.
Trong những cặp đối lập đó, thực tế giọng Huế đều có đủ mọi tính chất. Điều đó hầu như đúng với mọi phương ngữ nếu chúng ta so sánh giọng từng vùng miền trong địa phương đó. Giọng người ở nơi thị tứ thường nhẹ hơn giọng người ở nơi vùng ven. Giọng người ven thành phố nhẹ hơn giọng người ở vùng trung du, núi non hay ven biển, ven đầm phá.
 Ờ Huế có giọng Dinh (đất kinh đô, nơi thị tứ), giọng miền biển, giọng miền ven núi hay miền núi và giọng trung gian.
a. Giọng Dinh hay giọng phố là chất giọng của người Huế - sinh ra và lớn lên ở ngay trong thành phố Huế . Giọng Dinh nói chung là nhỏ nhẹ, nhẹ nhàng, thanh tao.
Giọng Dinh có những tính chất đó do các "vĩ thanh" - âm đuôi, ở chữ cuối cùng trong câu nói - chỉ có độ kéo dài chừng mực. Nó không co lại và cứng dần như giọng người dân về  hướng Bắc Thừa Thiên, tiếp giáp Quảng Trị...
Mặt khác, giọng Dinh cũng không có lắm vĩ thanh dài, mềm mại như giọng người dân phía Nam Thừa Thiên.
Nhiều bài viết cho rằng giọng Huế “nhỏ nhẹ”. Có lẽ người viết đang nói đến giọng Dinh của Huế. Họ gắn chất giọng của người Huế với nguồn nước sông và mạch nước giếng, có lẽ họ quan sát hai bên bờ sông Hương, sông An Cựu, sông Bồ, sông Truồi... có nhiều người đàn ông lịch lãm, nhiều con gái đẹp, nhu mì, nói năng nhẹ nhàng, chậm rãi, chừng mực rồi vội vã kết luận như thế? Thật ra, các phủ đệ của các vương tôn, quan lại và các gia đình gia thế, người danh giá, người giàu có của Huế phần nhiều nằm dọc hai bờ sông. Những vùng nổi tiếng bên bờ sông có nhiều phù đệ và biệt thự vườn cảnh là Kim Long, Nguyệt Biều, Xuân Hòa, Phú Mộng, An Cựu, Vỹ Dạ. Những khu vườn này hoặc là được ban, được cấp hay người ta bỏ số tiền lớn ra mua sắm.
Nếp sống, nếp nghĩ, lối ăn nói, cách ứng xữ hàng ngày của họ được người dân xung quanh ngưỡng mộ. Cung cách khoan thai, đường bệ, sang trọng; phong thái ung dung, hòa nhã; ứng xử, giao tiếp bặt thiệp và lời ăn tiếng nói nhỏ nhẹ, nhẹ nhàng, từ tốn là vốn quý của văn hóa Huế, con người Huế mà những nếp nhà gia phong, giáo dục con cái học tập và giữ gìn. Những điều tốt đẹp đó có khả năng cảm hóa và lan tỏa như “hữu xạ tự nhiên hương” trong xã hội, dần dần thành những mực thước trong đời sống của người Huế.
Tôn giáo nói chung và Đạo Phật nói riêng cũng có vai trò tích cực trong việc hình thành nhân cách và hun đúc những phẩm chất tốt đẹp của con người Huế trong đó có giọng nói nhỏ nhẹ, hiền hòa.


b. Giọng người Huế ở ven biển, ven đầm phá thường có những vĩ thanh trĩu xuống khác thường. Nhất là những từ có thanh bổng, mang "dấu sắc"... Những từ nầy khi nói ra, người ven biển thường có thanh âm thiên về "dấu nặng" hơn là "dấu sắc". Ví dụ, khi nói mắm ruốc thì họ phát âm thành mặm ruộc .
Giọng Huế ở đây thường trầm thấp hơn cách phát âm của chất giọng Dinh. Đại đa số người dân các miền biển Thừa Thiên, nhất là Trung Thừa Thiên đều có chất giọng đặc biệt - vĩ thanh trầm - như thế.
c. Chất giọng người dân ven núi hay miền núi nói chung có điểm nghịch với chất giọng của người dân ở miền biển. Thay vì các phần vĩ thanh - âm cuối, chữ cuối câu - đột ngột hạ xuống thấp so với tự nhiên, thì bây giờ chất giọng của họ lại đột ngột được nâng cao, rất bổng. Ngoài ra, vĩ thanh "bổng" ấy rất thường được "nhấn" y như một "trọng âm" cuối vần và ngay cả cuối câu. Với chất giọng nầy, câu nói của người ven núi hay miền núi gần như một tiếng hô thán, gây ấn tượng thân tình hơn, sôi nổi hơn.
d. Giọng trung gian giữa giọng Dinh và hai chất giọng của người ven biển và người ven núi: Những làng xóm ở quanh thành phồ Huế, người dân nói giọng nặng hơn dân thành phố nói giọng Dinh một chút. Càng xa thành phố, giọng Huế của người dân quê càng nặng dần.
Ở Thừa thiên, có làng Mỹ Lợi nằm phía bên kia sông Vinh Mỹ (thuộc xã Vinh Mỹ, huyện Phú Lộc), trên một vùng chắn bãi ngang của biển Vinh Mỹ. Người dân ở đây nói giọng Quảng Nam, nên không xếp được vào giọng nào trong bốn giọng Huế nói trên (dựa ý bài “Chất giọng Huế có mấy sắc thái” của Trần Hạ Tháp)
2. Những thành tố của giọng Dinh: Giọng Dinh hình thành dựa trên các yếu tố sau: giọng nhỏ nhẹ, khoan hòa, từ tốn (chậm rãi nhưng không rề rà), câu chữ rõ ràng, mạch lạc, khúc chiết, khẩu âm đi theo đúng cao độ của các dấu bình thanh, sắc, huyền, nặng và hỏi ngã (thường không phân biệt rõ trong giọng Huế). Giọng Dinh thường hướng tới lời nói và câu chữ theo chuẩn mực tiếng Việt trong giọng Nam, giọng Bắc hiện hành.
Giọng Dinh thường gắn liền với xuất thân, nơi ăn chốn ở và tầng lớp trong xã hội của mỗi người.
Những gia đình quyền quý, gia thế, những gia đình giàu có, giới trí thức thường gọt dũa giọng nói của mình để có giọng Dinh. Giọng Dinh cũng có ảnh hưởng rõ rệt trên những người quê nhưng học tập và làm việc trong thành phố Huế. Nghĩa là họ làm cho giọng nhẹ hơn bằng cách làm mềm chữ (lối nói phụ âm cuối chữ T thành C, N thành NG, ví dụ: hát thành hác, cắt thành cắc, hoan lạc thành hoang lạc…) và gạt đi những phương ngữ Huế quê rặt, để câu nói nhẹ nhàng hơn, thanh cảnh hơn.
3. Những thành tố của giọng biển, giọng núi: Môi trường âm thanh và điều kiện sống có ảnh hưởng không nhỏ tới giọng nói. Người vùng biển suốt ngày vật lộn với sóng to, gió lớn không thể có giọng nói nhỏ nhẹ,nhẹ nhàng của các cô gái chốn lầu son. Người miền quê quanh năm tất bật làm ăn, tâm lực dồn vào cuộc mưu sinh trong nắng lửa và tiếng gào réo của những trận lụt lội triền miên, thì ngôn ngữ hằng ngày mục đích chính là truyền đạt thông tin nên thường ngắn gọn có khi dẫn tới cộc lốc. Hoàn cảnh ấy kéo dài hàng trăm, hàng ngàn năm thì mới hình thành một chất giọng trầm thô, mộc mạc khó lẫn với những vùng quê khác. (Nhà thơ Vương Trọng)
Quê mùa thường đi với cục mịch. Giọng biển, giọng núi có thể nói nôm na là “Giọng quê rặt”. Tính chất nặng, thô, khan, vang, đục là những thành tố của giọng quê rặt.
Hãy xem một đoạn diễu giọng nói sau đây: (người có giọng quê rặt Bình Trị Thiên hầu như dùng từ quê rặt giống nhau)
  “Bựa ni tui mới ra đàng, chộ hai mụ sương triêng độộc độộc đập chắc, tụi chộ rứa can ra bơ mụ tê vác đòn triêng hoại dầm vô trôốc cúi, tính lọi cẳng eng nờ”
 Dịch: Hôm nay tôi mới ra đường đã thấy hai bà gánh chum vại đánh nhau, thấy vậy nên hòa giải, không ngờ một bà cầm đòn gánh đánh vào đầu gối suýt nữa gãy chân anh ơi.
Câu trên được dẫn chứng cho vui nhưng trong thực tế, khi sử dụng ngôn ngữ giao tiếp, người dân các vùng quê xa thành phố còn dùng nhiều từ, nhiều phương thổ ngữ mà ngay chính những người Huế còn không hiểu được, huống hồ là người ngoài xứ.
Có người nói vui “Tiếng Huế- một ngoại ngữ” có lẽ họ nói về chất giọng quê rặt và trong câu nói sử dụng nhiều phương ngữ quê mùa, cục mịch nên người xứ khác nghe không hiểu được. Đi song hành, vẫn có một tiếng Huế-giọng Dinh trong trẻo, nhẹ nhàng, khoan hòa, dễ nghe.
III.Kết:  Tôi lấy bốn câu Kiều của thi hào Nguyễn Du tả sắc thái thanh âm tiếng đàn của Thúy Kiều khi đàn cho Kim Trọng nghe trong buổi đầu tương ngộ làm lời kết.
………….
481. "Trong như tiếng hạc bay qua
          Ðục như tiếng suối mới xa nửa vời
          Tiếng khoan như gió thoảng ngoài

   485  'Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa"
………..
Giọng Huế tùy vùng mà có giọng trong, giọng đục và có giọng khoan, giọng nhặt.
Có giọng Huế Dinh nhỏ nhẹ, thanh tao, dễ nghe, có giọng Huế quê rặt nặng, thô, khan, vang, đục khó nghe.
Nhìn chung, giọng nói của người Huế không dõng dạc, hùng biện. Điều đó do âm vực hẹp nên giọng nói nghe đều đều, ngang ngang và ngữ điệu không diễn cảm, uyển chuyển theo ngữ trạng và ngữ cảnh như giọng Bắc, giọng Nam.
Đã có rất nhiều người mê tiếng nói Dạ Lan, sau này mê giọng đọc của Bích Huyền trên làn sóng điện dù chẳng thấy người, nhưng chưa nghe có một giọng đọc hay giọng nói nào nổi tiếng của người Huế khiến nhiều người say nghe.
Thực tế, như nhận xét của nhiều người, khi nói giọng Dinh, giọng người đàn ông Huế nhỏ nhẹ, nhẹ nhàng và giọng con gái Huế thì nhỏ nhẹ thanh tao. Chất giọng như thế cọng với sự trầm mặc của đàn ông Huế và sự dịu dàng e ấp của con gái Huế đã tạo một nét riêng của người Huế. 
Dù trong, dù đục, dù khoan, dù nhặt, dù Dinh hay quê rặt, giọng Huế vẫn là giọng nói được nhiều người yêu mến. Có chê là giọng trọ trẹ, giọng nặng thì cũng là cách nói thương, nói mến. Có khen giọng nhỏ nhẹ thanh tao thì cũng là lời khen thật tình.
Không kể giọng Huế, phần nhiều người ta thương mến Huế là thương mến cả cảnh quan hữu tình với một bề dày văn hóa đậm chất nhân văn và con người Huế với nhiều tố chất đậm nét nhân bản.

Giọng Huế- Gần cảm, xa thương.

Lê Duy Đoàn,
Sài Gòn, 11/11/2014

READ MORE - GIỌNG HUẾ - GẦN CẢM, XA THƯƠNG - Lê Duy Đoàn

GIỌNG QUẢNG - GẦN THƯƠNG, XA NHỚ - Lê Duy Đoàn

Tác giả Lê Duy Đoàn

GIỌNG QUẢNG - GẦN THƯƠNG, XA NHỚ 
Lê Duy Đoàn 

Năm 1984. Quận 3, Sài gòn. Một buổi chiều mùa hè. 

Mây thấp. Mưa giông đột ngột xô tới dội nước ào ạt. Gió thốc thổi bụi nước bay ngang tạt vào nhà tôi dù nhà có mái hiên rộng. Một nhóm năm sáu người đàn ông trung niên vội vã chạy vào đứng chen chúc nhau tránh mưa dưới hiên nhà. Cánh cửa sắt xếp khép hờ. Thấy họ bị mưa tạt, tôi ân cần mở rộng cửa nhà: “Vô đây, vô đây. Đừng ngại. Mấy anh đứng hẳn vô trong nhà để tránh mưa, không khéo ướt hết chừ.” “A, người Huế. Cám ơn. Tui cũng người Huế đây nì. Răng vô đây lâu chưa mà không đổi giọng hay rứa hè. Nghe giọng Huế đặc sệt, bức sướng.” Tôi hỏi ngược lại: “Rứa răng anh ở đây lâu rồi mà không pha giọng?”

“Người Huế mình, dân ở mô nói mình nghe cũng được, cũng hiểu. Khó nghe, khó hiểu như giọng Quảng, giọng Bình Định, Phú Yên dân mình đều nghe được hết và biết họ nói cái gì. Rứa thì mình nói họ phải ráng nghe, ráng hiểu. Người ta cho là giọng Huế mình trọ trẹ khó nghe, lạ tai khó hiểu. Họ nghe không được thì thôi. Kệ. Mình cứ nói giọng Huế của mình, cần chi phải thay đổi. Không hiểu thì nếu họ cần, họ hỏi lại, tới khi mô hiều được thì thôi. Người Huế đổi giọng nhại theo giọng xứ khác, miền khác nghe nửa đực nửa cái, kỳ cục lắm”.

Hỏi ra, anh chàng là một đạo diễn nỗi tiếng của đài truyền hình thành phố, du học ở Úc chuyên ngành truyền hình về nước trước 1975.

Anh chàng có nghề và có tài nên được trọng dụng. Lối ăn nói của anh chàng có vẻ ngang tàng nhưng lập luận cũng dễ nghe, cũng lọt lỗ tai… người Huế. Nghe ra tự ái dồn dập.

“Họ nghe không được thì thôi. Kệ. Mình cứ nói giọng Huế của mình.”
                                                                     *         *
Nói thật lòng, dạy học bốn niên khóa ở trường trung học Đại Lộc, tôi thấy mình gần gũi thân tình với thầy trò và người dân ở đó nhiều lắm. Thị trấn Ái Nghĩa nhỏ nhắn, dân cư thưa thớt nhưng học trò có chí cầu học và nhiều em thông minh học giỏi. Các em biết rằng chỉ có con đường đó mới dẫn các em lên cao và đi xa . Người dân Quảng Nam nhiều người học giỏi, đi xa và thành danh trong nhiều lãnh vực xã hội. Vì các em cần cù và chịu khó học tập nên về phía học trò và phụ huynh việc thương mến, kính trọng thầy cô giáo như là lẽ đương nhiên. Tôi được dạy dỗ trong cái lẽ đương nhiên đó nên thấy vui với nghề mặc dù lúc tôi dạy ở đó thì dân cư tại chỗ không khá giả lắm, tình hình chính trị nhiều rối rắm, chiến sự ác liệt, kinh tế có phần sa sút,  vật giá leo thang và dân tình nhiều nỗi hoang mang.

Mới đầu, tôi làm quen với giọng Quảng và học sinh làm quen với giọng Huế chay của tôi. Tôi thường hỏi các em: “Các em có nghe giọng thầy được không? Em nào nghe không được thì cứ tự nhiên hỏi lại, thầy không phiền hà gì đâu.”

Giọng Quảng Nam ở vùng Đại Lộc có lối phát âm và âm sắc có phần nặng hơn ở Đà Nẵng và Hội An. Hai nơi ấy là nơi tôi thường về ở lại sau những ngày dạy học.

Buổi sáng, tôi dạy các lớp đệ nhị cấp. hai môn là Vạn vật và Lý hóa, buổi chiều tôi dạy Sử Địa và Việt văn ở các lớp đệ nhất cấp. Kể ra, thời đó thầy cô cũng đa năng và đa hiệu thật. Môn gì cũng dạy được. Dạy tuốt và dạy tốt.

Học trò lớp 11 ban A, ban B chăm học vì cuối năm thi tú tài bán phần là một mốc quyết định của cuộc đời. Đời các em lên hương hay không tùy thuộc nhiều vào việc vượt qua được kỳ thi này hay không.

Dạy mấy lớp 6,7,8 rất vui. Học trò ngoan hiền, ngây thơ nhưng lanh lợi và sinh động. Giọng Quảng của các em nữ sinh nghe thanh tao và ríu rít như tiếng hót chim non. Có hôm vào dạy lớp 6 môn Việt văn, tiết chính tả, tôi đọc một đoạn để các em chép vào vở rồi chờ vì sợ các em chưa quen giọng của tôi. Tôi cố ý đọc chậm và rõ… kiểu Huế để các em nghe và nhận ra chữ nghĩa. Mấy em nữ sinh xinh xắn ngồi ở mấy bàn đầu sát bục giảng viết đoạn đó xong rồi, nhao nhao: “Kêu đi thài, kêu đi thài.”  Ủa, mình là con chi đây mà học trò nói mình kêu!? Tự nhiên, tôi thấy mắc cười quá, phải ra đứng ngoài cửa giả bộ ngó quanh như tìm kiếm ai, để cười mà không dám cười lớn. Nín cười xong, vào dạy tiếp, suốt giờ học mấy em cứ nói kêu đi thài, kêu đi thài miết.

Về ngồi nghỉ ở phòng giáo sư 15 phút giờ ra chơi, tôi kể chuyện vừa xảy ra trong lớp, mấy thầy cô giáo người Quảng cười vang: “Thầy nghe lần đầu chưa quen chứ ở đây học trò nói thầy nhắc bài, đọc bài đều nói là kêu cả.” À ra thế!

Dạy môn Sử lớp 8, có giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc nói về vua Quang Trung đại phá quân Thanh. Diễn tiến lịch sử cuốn hút sự lưu tâm của các em. Giảng đoạn đó, người thầy cảm thấy tự hào như là mình đang xung trận đánh giặc Tàu. Nghe đoạn đó, học trò thấy sôi trong lòng dòng máu anh hùng chống kẻ thù truyền kiếp Bắc phương.

Lịch sử có đoạn:          
                                 
Vua Quang Trung Đại Phá Quân Thanh.

Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ được tin quân nhà Thanh đã sang đóng ở Thăng Long, lập tức hội các tướng sĩ để bàn việc đem binh ra đánh, các tướng đều xin hãy chính ngôi tôn, để yên lòng người rồi sẽ khởi binh.

Bắc Bình Vương bèn sai đắp đàn ở núi Bàn Sơn, ngày 25 tháng mười một năm mậu thân (1788), Vương làm lễ lên ngôi Hoàng Đế, rồi tự mình thống lĩnh thủy bộ đại binh ra đánh giặc Thanh. Ra đến Nghệ An nghỉ lại 10 ngày để kén lấy thêm binh, cả thảy được 10 vạn quân và hơn 100 con voi. 

…Quân số của vua Quang Trung chỉ có 10 vạn quân, có nhiều quân mới tuyển, chỉ trong mấy ngày mà quân Việt đã đánh tan 29 vạn quân Tàu do tổng đốc Lưỡng Quảng là Tôn Sĩ Nghị chỉ huy khiến hắn ta không kịp mặc áo giáp và không kịp thắng yên cương, lên ngựa đem mấy tên lính kỵ chạy trốn lúc nửa đêm. Quân các trại nghe tin như thế, xôn xao tan rã chạy trốn . Lính Tàu dồn đạp nhau chạy qua cầu phao bắt ngang sông Nhị Hà làm sập gảy cầu phao, ngã xuống sông chết đuối nhiều vô kể làm nghẻn cả một khúc sông. Vua Quang Trung dẫn quân vào thành Thăng Long ngày mồng 5 Tết Kỷ Dậu sớm hơn dự định hai ngày.

Thế mà khi làm bài thi đệ nhất lục cá nguyệt, mười học sinh thì có đến 6,7 em viết “100 con voi” thành ra “100 con vua”. Người Quảng nói âm OI thành UA nên học sinh nói sao viết vậy. Vua Quang Trung ra nghỉ ở xứ Nghệ có 10 ngày mà ở đâu ra đến 100 con vua!? Tài thật.


           *        *
Gần gũi thầy cô giáo và học sinh trong một thời gian dài, tiếp cận những người dân chơn chất thật lòng, nghe quen giọng Quảng với ngữ điệu lên giọng xuống giọng vui tai, tôi chẳng còn thấy xa lạ với giọng nói ấy. Trong giòng chảy tình cảm của mình có một giòng của giọng Quảng. Có lẽ sống lâu ngày cùng với giọng Quảng, người Huế như tôi thấy giọng Quảng cũng dễ thương. Hay là vì tôi lậm tình với cô giáo Quảng nên yêu luôn giọng nói ấy không chừng? Sao mà qua làn môi mọng và nét môi khi phát âm giọng Quảng, tôi thấy giọng Quảng của mấy cô nàng đáng yêu thế.

“Chửi choa khơng bèng phoa giạng” (Chưởi cha không bằng pha giọng) là câu mấy cô giáo hay nói để trách cứ một người nào đó không phải là người Quảng nhưng lại giả giọng Quảng theo kiểu nói “ba rọi”. Tôi chẳng dám “núa” giọng Quảng ở giữa đám đông. Chỉ ở nơi riêng tư, ngồi với nàng (không biết là mấy nàng) tôi thỉnh thoảng pha giọng để thấy nàng ngúng nguẩy làm mặt giận và có cớ dỗ dành.

Người xứ khác bắt chước giọng Quảng thì nói là nhại giọng, pha giọng. Chính người Quảng diễu giọng nói của họ thì chẳng ai bắt bẻ, chẳng ai phiền lòng mà đôi khi còn phụ họa nhau cho vui.  

Nguyễn Nhật Ánh, nhà văn nổi tiếng xứ Quảng nói đùa trong bài “Về giọng nói ở một nơi không có xe lam, xe đạp” vì ở Quảng Nam chỉ có xe lôm, xe độp.

Trong bài này ông kể hai câu chuyện hài hước về giọng Quảng :

1.      Một người Quảng Nam đi vào một cửa hàng bán phụ tùng xe ở Sài Gòn, cố uốn giọng để phát âm cho chuẩn, oái ăm sao rốt cuộc lại thành: “Bán cho tôi một cái... láp xe độp”. Người bán sau một hồi gặng hỏi, bực mình: “Lốp xe đạp” thì nói đại là “lốp xe đạp” ngay từ đầu, còn bày đặt... nói lái là “láp xe độp”. Nào có cố tình lái liếc gì đâu, thật oan còn hơn oan Thị Kính!   

2.      Khách đòi mua bánh bèo đem về, con Cúc kêu con Lệ:
- Chị kiếm cho em cái “bô”!      
Chữ “cái bao” qua cái giọng Quảng  nguyên chất của con Cúc biến thành “cái bô” khiến con Lệ thừ ra mất một lúc. Rốt cuộc, tuy không hiểu con Cúc kiếm cái bô làm chi, con Lệ vẫn vào toa lét cầm cái bô đem ra: 
-Nè.
Con Cúc ré lên:
- Trời, lấy cái ni đựng bánh bèo cho khách răng được?”(1)


Thêm một câu chuyện sau đây do ông Trần Tuyết, một thầy giáo người Quảng Ngãi (trước đây là hiệu trưởng trường trung học Tỉnh Hạt, thị xã Quảng Ngãi) kể tôi nghe:
Khám bịnh xong bác sĩ nói với cô bệnh nhân trẻ:
- Cô cho tôi xin số điện thoại của cô để khi nào có kết quả khám sức khoẻ thì tôi sẽ gọi điện báo cô hay.
Cô gái trẻ trả lời:
- Dợ, hai ba bửa tém một bửa !
Bác sĩ lắc đầu:
- Không! chuyện tắm rửa của cô thì tôi không cần biết. Số điện thoại của cô á!
Cô gái trẻ trả lời:
-Dợ, hai ba bửa tém một bửa!
Bác sĩ lắc đầu mạnh hơn:
- Cô tắm mỗi ngày 2, 3 bận hay là 2,3 tuần cô tắm một lần thì tôi không cần biết..... Số điện thoại của cô kìa..
Cô gái trẻ tức tối trả lời:
- Dọa! em đỏa núa sớ của em lòa hai ba bửa tém một bửa.( Dạ, em đã nói số của em là 237.817)

Nhiều người Quảng đọc chuyện này cho rằng nói như vậy là không đúng giọng Quảng.

Nói đúng giọng Quảng là như thế nào?

Ông Nguyễn Cao Kỳ có lần đã phải xin lỗi vì nhái giọng Quảng tại một cuộc họp báo khi hỏi các nhà báo rằng báo chí có còn “théc méc” gì nữa không...

Giáo sư Nguyễn Hưng Quốc, cũng có lần tự thú nhận trên một trang blog của Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ là ông không thích cái giọng Quảng của ông, và ông nói thẳng tiếng Việt giọng Quảng không đúng, nhất là các nguyên âm a, ă và o.

Giọng Quảng rất riêng trong hệ thống giọng nói người Việt. Trước 1975, khi người Huế chưa di dân trên diện rộng vào Sài gòn hay các tỉnh thành Nam Bộ, dân Nam Bộ có nhiều người nói là dân nước Huế, có nghĩa là có tiếng nói riêng họ nghe không được. Nếu thế thì cũng có một nước Quảng nữa đấy. Cái riêng tây đó là lối phát âm lệch những nguyên âm hay những nguyên âm vần ghép.

Giọng Quảng phân biệt một cách rõ ràng giữa âm TR và CH, S và X, D và V, R và G... Nhưng âm giữa và âm cuối, người Quảng thường phát âm chệch. (Nói trật giọng chuẩn tiếng Việt mà được gọi là đúng giọng Quảng vì họ có chuẩn riêng.)

Âm phổ thông (toàn dân)
Âm địa phương
Lỗi nhầm lẫn vần hoặc phát âm lệch chuẩn (đọc trại âm)
bao gạo
bô gộ
Vần ao với ô
gặt lúa
gẹt lúa
Vần ăt - et
chim sẻ
chiêm xẻ
Âm  s - x        im-iêm
chích choè
chích chè
Vần oe - e
bài toán
bài tán
Vần oan - an
văng ra xa
văng roa xoa/ dăng roa xoa
Vần a - oa
bi luỵ
bi lị
Vần uy - i
con cừu
con cùi
Vần ưu - ui
chắc chắn
chét chén
Vần ăc - et, ăn - en
tên tuổi
tên tủi
Vần uôi - ui
chai rượu
chai rụi
Vần ươu - ui
thỉnh thoảng
thỉnh thảng
Vần oang - an
vô duyên
dzô diên
Vần uyên - iên
mùa xuân
mùa xưng
Vần uân - ưng
xe đạp
xe độp
Vần ap - ôp
Quảng Nam
Quoảng Nôm
Vần ang - oang, am - ôm
cái thuổng
cái xuổng
Âm th – x
cái xẻng
cái xảng
Vần eng - ang
hỏi
hủa
Vần oi - ua
lâm thâm
lâm dâm
Âm th - d                                                               
( trích “vài thổ âm, thổ ngữ Quảng Nam”)(2)

 Vô Quảng Nam thời gian dài, nói chuyện với nhiều người, tôi nhận ra là những chữ tưởng chừng như là phương ngữ của riêng người Huế, thật ra người Quảng cũng nói y chang. Cũng là một gốc những người di dân khai hoang lập ấp từ  Thanh, Nghệ, Tỉnh thời vua Lê, chúa Nguyễn, người dân miền này đi đến xứ khác làm ăn sinh sống đem theo cả phương ngữ của mình dần dần người ở đó nghe quen tai và dùng quen miệng những từ  đó thành ra  không còn riêng biệt nữa. Đó là sự giao thoa, pha trộn phương ngữ trong tiếng Việt.

Bài này không có mục đích đi sâu vào việc nghiên cứu ngôn ngữ học. Điều đó vượt quá xa tầm hiểu biết của người viết. Tôi chỉ ghi nhận. Dưới đây là một số từ ngữ người Quảng nói giống người Huế. Nghe giọng thì khác mà lối nói, chữ nghĩa quen tai nên mấy năm trời giọng nói thấm dần vào tôi như mưa lâu thấm đất và tôi cảm thấy gần gũi với giọng nói này .

Khi đặt câu hỏi người Quảng cũng như người Huế thường dùng từ ngữ: ri (như thế này), rứa (vậy, thế), răng (sao), mô (đâu), hỉ (hả) v.v...; khi nghe thế người kia trả lời: nớ (kia), tê (kia), ni (đây), trển (trên), chừ (bây giờ), chi (gì) , nì ( này)v.v...

“Tui” là tôi, "Tau" là "tao", "chưn" là chân; "dị òm" là mắc cỡ, mắc cỡ lắm; "ưng" là thương; "nhớ hung" là rất nhớ, nhớ lắm;; "xí nữa" là chút nữa; "y nguy" là y nguyên; "răng" là sao, làm sao..."không reng (răng)" là không sao.

Khách tới nhà, chó xồ ra sủa inh ỏi, nhe răng như muốn táp khách mà chủ nhà tỉnh rụi"- Chó sủa thôi chớ không reng mô". Nhe cả hàm răng nhọn hoắt mà nói chó không răng. Núa chi lọa rứa ?

Người Huế cũng nói như rứa, có khác chi mô!

"Gò gái" “ cua gái” là tán tỉnh con gái", "hú hí" là nhỏ to với nhau; "in" là giống nhau như đúc; “lợt” là nhạt, "lợt nhớt" là quá nhạt; "rượng" là "ngứa nghề" ham chơi theo trai, gái; "sít rịt" là sít với nhau không hở; "trịt" là tẹt "- Cái mũi trịt là cái mũi tẹt, thấp", “trịt mũi” lại là nghẹt mũi;"ngẳng" để chỉ sự nghịch ngợm, "kỉnh" là biếu, "lia" là ném, là vứt. "làm phách" là lên mặt, phách lối, kiêu căng, kiêu ngạo; "yểu xìu" là quá yếu; "tổ chảng" là to lớn,"mập ú" là mập quá cỡ; trái cây mua về, chưa chín, người ta bỏ vào trong hũ gạo, đợi chín thì gọi là "giú"; "cái ảng" là cái lu ,"giả đò" là "giả vờ", tương tự "làm bộ làm tịch". “Bổ” là té.        "vịn" là "dựa vào","cụi" là tủ đựng thức ăn, đặt dưới bếp ,"lủm" là từ chỉ hành động bốc một vật gì đó bỏ vào trong miệng; "kiệt" là hẻm, ngõ; "kiết" là keo kiệt; "đầu dầu" là đầu trần cò lẽ là vì hồi trước người ta chải tóc bằng dầu brillantine nhìn đầu tóc phủ một lớp dầu “láng xà coóng, ruồi đậu lên là bị trợt chân!!” "ướt nhẹp" là ướt đẩm, ướt dầm..., "dúng" là giống; "mướt rượt" là rất mượt mà, hết chỗ chê."trơn lu" là rất trơn, "biểu" là bảo; "phỉnh" là dụ dỗ, gạ gẫm; "ngọt xớt" là rất ngọt. “một chặp” là một lát…

Có vài chữ nghe rất riêng giọng Quảng và lạ tai: "thọa" là cái hộc tủ; "thụng" là túi, "trã" tương tự như cái chảo, làm bằng đất, dùng để kho cá; "hục" là "hố" ,"ở dổng" là ở truồng , "dịt" là dệt , “ủm" là thu hết về cho mình, như để chỉ hành động ôm em bé vào lòng mình làm cho bé ấm áp, người ta nói: "Ủm em", "nói xanh xảnh" là nói hỗn, thiếu lễ phép. "hẹp tré" là hơi hẹp, "nói lung" là nói giỡn; "gướm" là "gớm"…

 *         *
Năm ngoái, tôi nghe có bộ đĩa Duyên kiếp gồm hai CD.

Ở CD 1, các ca khúc được hát theo lối pha trộn giữa nét bi lụy rất quen thuộc của dòng bolero cùng cách hát thính phòng, đậm chất Bắc của giọng nữ cao Ánh Tuyết.


CD 2, được Ánh Tuyết gọi là "phiên bản đặc biệt" dành tặng khán giả, nhất là cho những người con sinh ra từ xứ Quảng. Mười bài hát có nhan đề:

Chiều Cuối Tuần, Chuyến Tàu Hoàng Hôn, Đừng Nói Xa Nhau, Duyên Kiếp, Em Chờ Anh Trở Lại, Em Về Kẻo Trời Mưa, Mưa Chiều Kỉ Niệm, Mưa Rừng, Nỗi Buồn Hoa Phượng, 
Tình Bơ Vơ

Có lẽ Ánh Tuyết cũng dành tặng phiên bản này cho tôi. Tôi nghe đi nghe lại nhiều lần những bài hát quen. Thập niên 1960, những bài hát điệu bolero này, giới sinh viên chúng tôi ít người nghe và ít người thích vì chất bi lụy ướt át của nó. Những bài hát đó được xếp vào loại nhạc "sến”. Có cảm giác nghe loại nhạc này mình cũng “sến” luôn!

Sau 75, thỉnh thoảng nghe lại đâu đó những bản nhạc này, con người mình dường như có phần bớt khắc khe, lòng mình cũng dễ dãi hơn nên nghe những bản nhạc “ sến” tôi thấy lời chơn chất, thấy nhạc cũng hay hay.

Đến khi nghe CD giọng Quảng của Ánh Tuyết, tôi thật sự xúc động, tưởng như mình gặp lại người quen mấy mươi năm cách biệt. Nghe đi nghe lại nhiều lần, tôi lắng nghe để phân biệt chữ nào là giọng Quảng và cười một mình như đang gặm nhấm niềm vui.

Ví dụ trong bài “ Duyên kiếp”

Em ơi nếu mợng khơng thành lồm reng, (mộng không, làm răng)
Non cô đất rợng biết mô mòa tìm.  (cao, rộng, mô mà)
Đường đời mịch mờ doạng nẽo dề mô, (mịt, vạn, về mô)
Mang chờ diên kíp đưa lối bét cầu. (mong, duyên kiếp, bắt)
Em ơi, nhéc lợ phút xưa gẹp nha, (nhắc lại, gặp nhau)
Trên đê déng ngừi lúc ton chợ chiều, (vắng người, tan)
Ngạ ngùng mỗi lần anh tới lồm quen,  (ngại, làm)
Móa em ửng hờng dì quá thẹn thùng… (má, hồng vì)

Trong bài “Đừng nói xa nhau”:   
Đừng núa xoa nha cho tâm hồn đa khổ, (nói xa nhau, đau)
Đừng núa xoa nha cho mét lệ hoen mờ. (nói xa nhau, mắt)
Lời thiết thoa qua tâm tư tràn mộng tràn mơ, (tha, tròn, tròn)
Vết tình khéc lên môi đưa mấy tủi yêu dẫn chờ… (khắc, tuổi, vẫn)
Mười bài hát được hát bằng giọng Quảng như thế: (dốm-dám);(làng-lòng);(phơ-phai);(báng-bóng);(boạc-bạc);(ưa-ai);(xô xiến-xao xuyến);(ta đon ta-tay đan tay);(sô đành-sao đành);(mon moác- man mác);(ton dỡ-tan vỡ)…

Chú thích: ( chữ in nghiêng là giọng Quảng, chữ in đứng là lời bài hát).

Nghe thì giống như chế diễu nhưng vì ca sĩ Ánh Tuyết là người Quảng đem tâm tình trân trọng của mình để hát nên hàm chứa cái tình tự quê hương trong lời bài hát đã thay đổi.  Qua đó, người Quảng đem tiếng lòng mình nồi với giọng nói thân thương của quê nhà truyền thừa từ thuở cha sanh mẹ đẻ theo người Quảng đến tận bây giờ nên người Quảng nghe là thích. Không biết sao tôi cũng thích mấy bài hát giọng Quảng này vô cùng. Có một mạch nguồn nào đó chảy âm ỉ nay sống dậy trong tôi?

Người Quảng biết rất rõ là họ nói sai những âm nào so với lối phát âm chuẩn của tiếng Việt nhưng họ cứ nói như thế từ đời này qua đời khác. Họ có chuẩn giọng Quảng mà họ tự hào. Âu đó cũng là một tính cách đặc trưng của người Quảng?

Có lẽ họ cũng suy nghĩ như anh chàng đạo diễn người Huế tránh mưa ngoài hiên nhà tôi chiều hè năm 1984:
“Họ nghe không được thì thôi. Kệ. Mình cứ nói giọng Quảng của mình”.
                                                                 *          *      
Tháng 9 năm 2013.

 Chúng tôi lên Đà Lạt một tuần nhân kỷ niệm 40 năm ngày cưới. Tuần trăng mật hồi xưa của chúng tôi cũng ở Đà Lạt vào tháng 9 năm 1973.

Chuyến xe khách giường nằm của hảng Thành Bưởi từ Đà Lạt về Sài gòn.

Hai vợ chồng tôi nằm ghế số 4 và số 5. Sau lưng tôi là mấy người đàn bà đứng tuổi. Họ nói chuyện với nhau rổn rảng. Bà xã tôi nói: “Mấy bà này người ở mô mà nói giọng gì em nghe không được?” Tôi đùa: “Mấy bà này là người ngoại quốc. Nước Quảng Nam, Quảng Ngãi gì đó.”

Trong câu chuyện của họ tôi nghe họ nhắc đến Đại Lộc, Duy Xuyên. Họ nói chuyện xưa chuyện nay, chuyện nhà chuyện cửa, chuyện gia đình, con cái, chuyện người này người nọ… Không biết sao mà chì có bốn bà người Quảng và một bà người Huế mà họ nói chuyện với nhau không dứt suốt cả chặng đường ba trăm cây số?! Tôi cười, nói với bà xã tôi:
“Trên xe thiếu một con vịt.”
Bà xã tôi không hiểu. Tôi nói thêm:
“Chỉ còn thiếu một con vịt là thành ra một cái chợ.”
 Tuổi của họ, nếu họ ở Đại Lộc thì không chừng, biết đâu họ là học trò của tôi.
Trong giấc ngủ chập chờn, qua giọng Quảng của họ, tôi như trở về với trường xưa “một thời để yêu”, có thầy cô thân quý và có học trò thân yêu. Có một thứ để yêu thương nữa: Giọng Quảng.
Giọng Quảng- Gần thương, xa nhớ.
Tiếng lòng tôi.


Sài Gòn, 01/6/2014.
Lê Duy Đoàn.

Chú thích:
      1. Trích “ Ở một nơi không có xe lam” của Nguyễn Nhật Ánh.
2. Bài viết này có trích những từ trong bài “Vài thổ âm, thổ ngữ của người Quảng Nam” đăng trên internet.
Lời thêm:  Nhiều người Quảng Nam mong có ai đó chịu bỏ công ra làm một quyển Từ điển tiếng Quảng Nam giống như một số địa phương khác đã có người làm Từ điển tiếng địa phương của họ. Trần Hữu Thung, Thái Kim Đỉnh đã làm Từ điển tiếng Nghệ (NXB Nghệ An, 1998), Bùi Minh Đức làm Từ điển tiếng Huế (NXB Văn Học và Trung tâm Nghiên cứu Quốc học XB năm 2004), Nguyễn Văn Ái chủ biên Phương ngữ Nam bộ (NXB TP. SG, 1994)…


READ MORE - GIỌNG QUẢNG - GẦN THƯƠNG, XA NHỚ - Lê Duy Đoàn