Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Nguyễn Bàng. Show all posts
Showing posts with label Nguyễn Bàng. Show all posts

Saturday, March 1, 2025

GÃ KHỜ HAY THẰNG NGỐC CÒN SÓT LẠI Ở ĐẦU THẾ KỶ 21 NÀY? – Nguyễn Bàng

  

Nhà giáo, nhà văn Nguyễn Bàng

 

    Biết tôi hay lò dò lên mạng để tìm đọc dăm ba thứ thay vì phải đọc báo in, nghe đài hay xem nghe truyền hình thời sự nhưng lại là một ông già không biết chơi Phây, không biết Gúc để tìm tòi các trang mạng hay, nhà văn Đặng Xuân Xuyến đã gửi Mail chỉ đường dẫn mời tôi đọc CHUYỆN CỦA GÃ KHỜ, một truyện ngắn anh viết năm 2006, ra sách năm 2007 (in chung) nhưng giờ mới post lên blog của anh và gửi một số trang và như anh nói gửi để tôi đọc cho vui. Chính vì thế, khi nhìn vào tên truyện, tôi ngỡ mình sẽ được đọc kiểu truyện chàng khờ với hình tượng nhân vật trung tâm là các anh chàng ngốc nghếch với những hành động, việc làm… ngây ngô ngớ ngẩn dại khờ đã đem lại tiếng cười sảng khoái và những trải nghiệm vô cùng lí thú để từ đó người nghe, người đọc rút ra những bài học cho bản thân. Nhưng đọc xong CHUYỆN CỦA GÃ KHỜ, tôi chẳng được vui tý nào mà lại cảm thấy đắng lòng khi nhận ra gã Khờ này phải chăng là một THẰNG NGỐC VIỆT NAM còn sót lại ở đầu thế kỷ 21 này.


    Đúng là gã Khờ của Đặng Xuân Xuyến không giống những chàng ngốc, những thằng dại khờ như trong các truyện dân gian của ta với cái ngốc cái dại không biết để đâu cho hết khiến mọi người phải ca thán bảo nhau:
 

    Một đêm quân tử nằm kề

    Còn hơn thằng ngốc vỗ về quanh năm.

 

    Hay:
 

    Con vợ khôn lấy thằng chồng dại

    Như bông hoa lài cắm bãi cứt trâu

 
mà gã đã từng là một thằng ngốc đại gia trong xã hội Việt Nam đương thời “đã từng vụt sáng chói lóa trong mắt mọi người”.
 
    Những chàng ngốc trong truyện dân gian vì ngốc quá nên luôn bị lừa như có anh mười năm đi ở cho lão trọc phú chỉ được ba nén vàng giả nhưng cầm trên tay, anh ngốc cứ tưởng là vàng thật. Rồi chàng hí hửng muốn đi du ngoạn khắp nơi, đầu tiên có kẻ gạ chàng ta đổi 3 lạng vàng lấy sáu nén bạc mà thực ra chỉ là sáu miếng chì, rồi có kẻ gạ đổi 6 miếng chì lấy bó "lụa đinh kiến" quý hiếm mà thực ra chỉ là bó giấy dó, rồi đổi bó giấy dó lấy cái “thiên địa vận” biết trước mọi việc trên thế gian mà thực ra chỉ là cái chong chóng, rồi đổi cái chong chóng lấy viên ngọc lưu ly chưa chắc vua đã có được mà thực ra chỉ là một con niềng niễng có đôi cánh xanh đỏ.
 
    Gã Khờ trong truyện của Đặng Xuân Xuyến bị lừa tiền, lừa nhà đi đến cảnh “bây giờ, hắn tiều tụy, thảm thương còn hơn mèo đi kiết” hiển nhiên không phải vì gã ngu đần như chàng ngốc kia mà chỉ vì gã có tính thương người và lòng trắc ẩn. Với tấm lòng tốt đẹp ấy, gã rất tin vào tình người nên đã cho thằng bạn nối khố mượn tiền mà không cần giấy ghi nợ, cũng không cần có người làm chứng, vì vậy khi cần đến đòi lại thì được thằng bạn “nhướng đôi lông mày thô đậm, xoăn tít, nhìn hắn từ đầu xuống chân rồi hô hố cười, bảo hắn là thằng khùng, nếu đói quá, không có chỗ xoay sở thì cầm lấy vài chục nghìn mà đắp đổi qua ngày, việc gì phải diễn trò ngớ ngẩn như thế”. Tiền không đòi được, hắn tìm về lấy lại ngôi nhà nho nhỏ ở ngoại ô đã giao cho thằng em kết nghĩa trông coi. Thằng em kết nghĩa này là một thằng bé đánh giày nhem nhuốc mà gã đã lầm tưởng là người lương thiện nên đã cưu mang đem nó về nhà nuôi ăn học. Nhưng khi đến ngôi nhà, chạy ra đón hắn không phải là thằng em kết nghĩa mà là con chó có tên là “Tình Nghĩa”. Rồi thằng em ấy, khi biết ý định của gã, nó đã không ngượng mồm, nói trắng phớ ra rằng: “Vâng, nhà này mua bằng tiền của anh nhưng em đã làm sổ đỏ đứng tên là chủ sở hữu rồi” và đuổi hắn đi như đuổi một con chó.
 
    Hai cái khờ dại, hai cái sai lớn nhất về sự ngộ nhận tình người đến nỗi gã bỏ ngoài tai những nhận xét tinh tế của vợ gã về ông bạn nối khố và thằng em kết nghĩa, không để tâm đến những lời can ngăn của thị, dẫn đến cảnh “nhà hắn thưa dần rồi mất hẳn nụ cười hạnh phúc của người vợ” và đưa tới cảnh “vợ hắn nằng nặc nộp đơn ly dị”.
 
    Trong một xã hội mà mọi chuẩn đạo đức đang bị băng hoại, dối trá lừa đảo phát triển như nấm độc khắp nơi nơi như: lừa đảo qua mạng, lừa đảo bán hàng đa cấp, lừa đảo xin việc làm, lừa đảo chiếm đoạt tài sản …, gã Khờ đã không thèm nhớ đến lời mọi người vẫn thường bảo nhau: Cho bạn vay tiền: "Đứng" cho vay, "quỳ" đòi nợ, cho thằng bạn nối khố vay tiền mà không cần giấy ghi nợ cũng không cần có người làm chứng. Trong lúc chưa bao giờ câu nói “tấc đất tấc vàng” đúng cả nghìn lần như bây giờ khiến cháu giết bà vì sổ đỏ, anh em ruột thịt đâm chém nhau vì nhà đất, thì gã Khờ lại giao hết giấy tờ và nhà đất cho thằng em kết nghĩa trông coi hộ. Gã Khờ tuy không ngu đần, không kém về trí khôn nhưng đã suy xét, ứng phó, xử sự chỉ với thứ lòng tốt đơn thuần và cao thượng của riêng gã nên mới ra nông nỗi thảm hại hơn cả những thằng ngốc trong truyện cổ dân gian. Thế chẳng phải là một thằng ngốc còn sót lại ở đầu thế kỷ này thì sao! Và thế thì làm sao mà vui được khi nghe chuyện về gã? Họa chăng có một chi tiết làm người đọc vui gượng tý chút, ấy là thấy gã tinh thông về tử vi lý số, biết về mình: “Thôi thì cũng là do số phận. Cung nô của hắn chẳng ra gì thì đành chấp nhận. Đã Tham Lang hãm địa lại đồng cung với Thiên Diêu hãm địa thì đời hắn tàn vì chữ tình là phải.” mà vẫn mù quáng đi đến chữ “tàn”. Thật đúng là “Số thầy thì để cho ruồi nó bâu”!
 
    Kiểu truyện chàng ngốc trong dân gian thường có hai xu hướng kết thúc, hoặc là chàng ngốc phải chết hoặc là chàng ngốc gặp may mắn tìm được hạnh phúc, trở thành người giàu có, khôn ngoan hơn. Gã Khờ trong truyện ngắn của Đặng Xuân Xuyến đã không phải chết vì gã không phải là nhân vật xấu, không bị người đời căm ghét; gã cũng không phải chết để khắc sâu bài học kinh nghiệm sống của con người là: Đừng ngốc nghếch làm việc một cách máy móc thụ động, không biết suy xét vấn đề một cách kĩ lưỡng, không hiểu gì về cuộc sống cả mà phải biết làm chủ được những suy nghĩ và hành động của mình để tránh phải sẽ gặp sự thất bại.
 
    Không bắt gã Khờ phải chết mà rốt cục, Đặng Xuân Xuyến cũng cho gã được gặp may, nhưng trước khi đến với vận may, gã còn phải ê chề nếm thêm ít nỗi nhục nhã đắng cay của thời đại mới.
 
    Ấy là, sau khi biết bình đã vỡ rồi, gã Khờ cũng nhận ra là phải lấy thân mà trả nợ đời cho xong. Đầu tiên, gã vùi mình trong men rượu rồi tự nguyện làm một “Thằng đàn ông bán thân nuôi miệng, một thằng điếm”.
 
    Như đã nói, gã Khờ trong truyện ngắn của Đặng Xuân Xuyến là một kẻ có học. Vậy gã thừa hiểu, ở Việt Nam từ xưa đến nay người ta đã không mấy ưa loại người làm đĩ, cho dù là đĩ cái. Thì kia, cô Kiều của Nguyễn Du trong văn chương Việt Nam tuy đã được Kim Trọng khen ngợi là: “Như nàng lấy hiếu làm trinh - Bụi nào cho đục được mình ấy vay?”, và cô đã sống trong niềm yêu mến của bao lớp người Việt từ bậc thức giả đến kẻ bình dân xưa vậy mà cũng vậy, thế mà mấy lần cô Kiều đã bị cụ Huỳnh Thúc Kháng, một chí sĩ yêu nước gọi là "Con đĩ Kiều""Cái giống độc con đĩ Kiều”
 
    Ấy là đĩ cái vốn đã cùng với mại dâm xuất hiện và phát triển từ thời nguyên thủy huống chi đĩ đực mới chỉ đến thế kỷ này mới xuất hiện. Gã Khờ bất chấp mọi giá làm một thằng điếm, một con đĩ đực vì “Hắn cần tiền. Hắn cần tạo dựng lại cơ nghiệp. Hắn cần được tung hô, cần được trọng vọng như ngày trước. Đời hắn không thể thiếu thứ hàng xa xỉ đó”.
 
    Làm đĩ đực, ấy là con tàu tốc hành để gã nhanh chóng đi tới ga nhặt tiền.
 
    Ngay lần đầu tiên làm thằng điếm đực, gã đã may mắn không phải hầu hạ một máy bay bà già đã sồ sề, nhăn nhúm nhưng thèm khát tình dục mà là gặp một “ả” có “Khuôn mặt đẹp, da lại trắng hồng”. Mới đầu, thấy “Ả đẹp. Hắn cũng thích” nhưng khi vào cuộc gã mới nhận ra ả là một “con vợ đĩ lên đĩ xuống, đĩ ngang đĩ dọc mà thằng chồng cấm dám ho he”, một “con đàn bà đĩ thõa đang lên cơn động đực”. Thế là “Hắn không thích cuộc chơi này nhưng hắn không còn sự lựa chọn” vì gã cần tiền như trên đã nói và thêm nữa vì gã sợ cái thằng vừa dẫn mối vừa bảo kê cho ả mua dâm gã, với “Một giọng nói sắc gọn, rờn rợn vang lên”:
 
    - Làm bổn phận đi. Muốn chết à?
 
ở đằng sau cánh cửa.
 
    Hầu hết các truyện dân gian về các chàng ngốc đều kết thúc có hậu như gặp vua được vua ban thưởng một chức quan trong triều đình và sống cuộc đời giàu có sung sướng hoặc nhờ nói mò mấy câu văn chương học lỏm mà cuối cùng được hưởng hạnh phúc. Nhưng phổ biến nhất là các chàng ngốc đều may mắn có được cô vợ thông minh hết lòng vẽ đường chỉ lối cho chồng làm ăn nhưng ngốc vẫn hoàn ngốc, hết lần này đến lần khác đều thất bại khiến người vợ bị người đời mỉa mai muốn tự tử cho xong đời nhưng rồi vì lòng thương chồng các nàng đã bỏ ngay ý định tiêu cực đó, quyết tâm tìm cách giúp chồng trở thành người khôn ngoan hơn.    
 
    Đặng Xuân Xuyến cũng dành cho gã Khờ của mình một kết cục có hậu tuy rất khác các truyện dân gian. Gã được một người 12 năm trước đã chịu ơn gã. Người ấy, khi xong việc để lại cho gã một bức thư: “lấy lại đầy đủ giấy tờ ngôi nhà từ tay thằng em kết nghĩa” của gã bằng cách làm cho: “Nó thua bạc, gán nhà trả nợ theo đúng kịch bản mà em cùng nhóm bạn thân dàn dựng”. Người ấy cũng cũng lấy lại “sợi dây chuyền “bảo bối” mà anh rất quý, bị thằng bạn nối khố của anh chiếm đoạt” cùng “Số tiền thằng bạn nối khố lừa đảo, em cũng đã đòi lại và chuyển vào tài khoản cá nhân của anh”. Bằng cách: “dùng các chứng cứ phạm pháp “uy hiếp”, bắt tên khốn kiếp phải trả lại anh số tiền đã chiếm đoạt, bọn em đã chuyển cho nhà chức trách những bằng chứng phạm pháp của nó, bắt nó phải trả giá cho những tội ác đã gây ra”
 
    Một cái hậu tưởng như mơ, đẹp quá sức tưởng tượng khiến CHUYỆN CỦA GÃ KHỜ như một cổ tích hiện đại và nhân vật Gã Khờ thấy lại lòng yêu trời, yêu đất và yêu cuộc sống: “Hắn bước ra sân, ngước mắt nhìn bầu trời xanh ngắt. Tiếng họa mi nhà ai lảnh lót làm hắn lặng người, rồi bất chợt hắn mỉm cười.”
 
    Một số bạn đọc cho rằng: “kết thúc truyện lộ bàn tay sắp đặt của tác giả quá”, nói như các nhà phê bình văn học là tô hồng quá. Thì tác phẩm văn học là đứa con tinh thần của nhà văn nên nhà văn tạo dáng cho đứa con tinh thần ấy của mình ra sao là tùy thích. Vì vậy tôi có phần đồng ý với nhận định trên của người đọc. Nhưng đọc xong CHUYỆN CỦA GÃ KHỜ, tôi có cảm nhận trong sự sắp đặt lộ liễu ấy, Đặng Xuân Xuyến đã rất muốn giải trình cùng bạn đọc những suy nghĩ ẩn dấu bên trong mà tác giả không thể nói trắng ra được. Theo tôi, thì đó là:
 
    Đành rằng thời đại ngày nay ở nước ta không còn vua nên gã Khờ sao còn được vua cứu giúp và ban thưởng. Đành rằng, vợ gã Khờ đã cám cảnh kiểu thương người một cách mù quáng của chồng, đã ly dị gã nên gã đâu còn được cô vợ thương yêu giúp chồng khôn ngoan hơn trong cách sống của một xã hội đang loạn chuẩn đạo đức để xóa bỏ ảo tưởng về sự lãng mạn của tình yêu và sự chân thành của tình huynh đệ, bằng hữu. Không có vua ban thưởng, không còn vợ giúp khôn nên phải có một người 12 năm trước đã chịu ơn gã nay ra tay cứu giúp gã. Như thế cũng hợp lý.
 
    Nhưng hà cớ gì người đó không phải là một người Việt đang sống cùng gã trên giải đất hình chữ S này mà lại phải là một người Nhật gốc Việt, nói một cách khác là một người Việt đã dời xa xứ sở Thiên đường Xã hội chủ nghĩa của mình để đến sống ở “Đất nước Mặt trời mọc” tư bản đang giãy chết. Bao nhiêu luật lệ để đâu, bao nhiêu người Việt đứng về lẽ phải đi đâu mà phải để người Nhật gốc Việt đó về nước và như có phép lạ, lấy lại cho gã tiền bạc đã bị thằng bạn nối khố bất lương quỵt nợ và nhà cửa đã bị thằng em kết nghĩa chó chết chiếm đoạt. Đã thế người đó còn để lại trong thư cho gã những lời lãng mạn đẹp như hoa hồng buổi sáng:
 
    “Vâng! Nhất định khi trở về Việt Nam em sẽ đưa vợ con đến chào anh. Lúc bấy giờ, em sẽ thoải mái được nói lời cám ơn anh, cám ơn vị ân nhân đặc biệt của mình.
 
    Ps: Anh!
 
    Chị vẫn còn yêu anh nhiều lắm. Hãy đến làm lành với chị để các cháu được sống trong vòng tay yêu thương của cả bố, cả mẹ.”
 
    Và vì thế tôi coi nhân vật GÃ KHỜ trong truyện ngắn của Đặng Xuân Xuyến là một THẰNG NGỐC VIỆT NAM còn sót lại ở đầu thế kỷ 21 này. Một thằng ngốc hiện đại nên mới có được sự may mắn từ những phép màu hiện đại như khả năng kỳ tài của anh chàng người Nhật gốc Việt kia. Tôi thấy mình cần phải đọc CHUYỆN CỦA GÃ KHỜ này kỹ hơn và ngẫm nghĩ sâu hơn?
 
                                             Sài Gòn, thứ sáu 09-09-2016
                                      Tác giả, nhà giáo NGUYỄN BÀNG
                             
                                           Email: bnguyen37@gmail.com

 

READ MORE - GÃ KHỜ HAY THẰNG NGỐC CÒN SÓT LẠI Ở ĐẦU THẾ KỶ 21 NÀY? – Nguyễn Bàng

Wednesday, February 19, 2025

“CÔ” SƯỚNG CƯỚI VỢ -TRUYỆN NGẮN ĐẦY ẮP TÍNH NHÂN VĂN - Nguyễn Bàng

Tác giả Nguyễn Bàng


“CÔ” SƯỚNG CƯỚI VỢ 

-TRUYỆN NGẮN ĐẦY ẮP TÍNH NHÂN VĂN

*

Cuối tuần trước, nhà văn Đặng Xuân Xuyến gửi cho tôi truyện ngắn "CÔ" SƯỚNG CƯỚI VỢ”, anh viết từ năm 2015 và mới đưa lên mạng. Anh nói với tôi “viết tặng vợ chồng cậu em họ, cùng làng”, lại thêm lời đề tặng ở đầu truyện, thì đúng là chuyện thật người thật rồi. Vì thế tôi thích thú đọc ngay và nhận được từ câu chuyện đầy ắp những tiếng cười vui vẻ.

Truyện vui ngay khi nhìn thấy cái tên của nó: “CÔ” SƯỚNG CƯỚI VỢ”.

Nói như câu ca dao “Vợ tôi con gái đàn bà nữ nhi” thì hiển nhiên người vợ của “cô” Sướng là nữ giới rồi. Đúng vậy, đó là nàng Ngân, một gái quê “không mỏng mày hay hạt nhưng  thùy mị, nết na, không sắc nước hương trời nhưng nét dịu dàng đủ khiến trai làng phải thầm mơ trộm nhớ. Ngân được người. Ngân được nết.”

Thế thì chồng của nàng Ngân phải là con trai, đàn ông, nam nhi  chứ sao lại là cô Sướng? Thắc mắc này cũng chính là cái thắc mắc của người kể khi mở đầu câu chuyện “Vâng! Thì hẳn là “cô” Sướng lấy vợ chứ làm sao có chuyện “cô” Sướng lấy chồng!”. 

Một kiểu vào đề thật khéo, đánh vào trí tò mò của người đọc khiến họ không thể không đọc tiếp để xem sự thể nó ra sao.

Và rồi đầu đuôi của chuyện cứ dần dần được hé mở trong những câu chữ tưng tửng của người kể không theo một trình tự thời gian nào cả.

Thì ra cô Sướng không phải là cô mà là cậu Sướng, là anh Sướng, con trai cụ Bống làng Đỗ Hạ. Một gã trai “Tuy không được cao ráo, mạnh mẽ nhưng bù lại rất khéo tay, chịu khó lam làm và đặc biệt là người rất tốt nết”. Nhưng cha mẹ sinh con trời sinh tính, anh Sướng con cụ Bống mang trong mình nhiều thói nữ tính: Thuở bé, Sướng thích nhảy dây, thích chơi ô ăn quan, thích chơi trò búp bê, thích buôn hàng, thích cãi lộn. Lớn lên, Sướng thích được gọi là cô, là chị và khoái nhất khi được mọi người mắng yêu bằng câu: “Con đĩ Sướng này xinh phết!”. Rồi, không hiểu sao Sướng lại còn dấp phải tính khí đanh đá chua ngoa và phát triển khiếu chửi nhau lừng danh thôn xóm.  

Nhưng đó chỉ là những dị tính phát tiết ra ngoài mà thôi, còn trong thâm tâm của Sướng thì: “Thích là thế nhưng Sướng ghét cay ghét đắng kẻ nào lại thực tâm coi Sướng là phụ nữ, là phận liễu yếu đào tơ, là thân gái chân yếu tay mềm”. Và để thể hiện điều đó, “Sướng vẫn chưa bao giờ phải tụt quần ngồi xổm mà tiểu tiện”. (Sao không dùng chữ đái dân giã đời thường thay hai chữ tiểu tiện tao nhã này nhỉ?)

Tuy là đàn ông thật nhưng với cái thích là thế, trong mắt dân làng, Sướng không còn là đàn ông nữa mà là cô Sướng, chị Sướng và mắng yêu anh là “con đĩ Sướng”, như anh hằng thích. Đã thế Sướng lại chơi thân với Kiên mà dân làng gọi là Kiên “ái”, một gã trai hẳn hoi nhưng lại “dửng dưng chuyện yêu đương trai gái, cứ khó chịu ra mặt khi có người nhắc đến chuyện lấy vợ”, cùng Sướng nhận nhau là hai “chị em”, thích được Sướng gọi là “dì” vì Kiên ít tuổi hơn và cái chính là vì Kiên “ái” rất yêu Sướng. Chả thế mà khi nghe tin Sướng sắp cưới vợ, Kiên đã nắm tay Sướng, đăm đắm nhìn thẳng vào mắt Sướng, nũng nịu:

Nhớ. Sướng đừng lấy vợ nữa nhớ. Sướng mà lấy vợ là em xuống tóc đi tu đấy.

Một “Cô” Sướng khắp làng điều tiếng thị phi “dở ông dở bà” như thế, sao nàng Ngân nết na thùy mị lại nhận lời lấy làm chồng? Có phải vì chơi thân với nhau từ nhỏ, cả 2 cùng thích chơi nhảy dây, chơi chắt chuyền, chơi ô ăn quan, chơi búp bê, chơi buôn hàng... nên đã trở thành lứa đôi thanh mai trúc mã đẹp như đôi trẻ trong thơ Lý Bạch:

Tóc em mới kín trán,

Trước cửa bẻ hoa đùa.

Chàng cưỡi ngựa trúc lại,

Quanh ghế tung mơ chua.

Cùng ở xóm Trường Can,

Đôi trẻ vui tha hồ,

Để rồi:

Mười bốn làm vợ chàng,

Thơ ngây em hổ thẹn

Bên vách cúi gầm đầu,

Mặc cho chàng gọi đến.

Mười lăm mới bạo dạn,

Quấn nhau không muốn rời.

(Trường Can hành - Trúc Khê dịch)

Hoàn toàn không có chuyện thơ mộng ấy vì “chưa bao giờ Ngân nghĩ Sướng là con trai cả.” 

Nhưng hiển nhiên là “cô” Sướng lấy vợ và nhà cụ Bống đang mổ lợn để làm đám ăn hỏi Ngân cho Sướng. Thế thì duyên do tại sao?

Câu chuyện vui nhất chính là ở trường đoạn này. Ta hãy lần theo lời kể hóm hỉnh của Đặng Xuân Xuyến:

Trước những lời đồn ra đồn vào về chuyện thằng con chín phần gái nửa dại phần đàn ông của mình chuẩn bị cưới vợ; trong lúc đông vui người đang ngả lợn để làm đám hỏi cho nó, cụ Bống vẻ cũng lo lắng lắm. Vừa lúc đó Sướng đi mời khách về đến nhà.

Cụ Bống kéo Sướng vào, hỏi dồn:

“- Thầy hỏi, con phải trả lời thật nhé. Con có yêu cái Ngân không? Con có làm chuyện đàn ông với đàn bà được không? Còn chuyện con với thằng Kiên “ái” nhà ông Vận thế nào? Thầy nghe thằng cháu đích tôn nói con với thằng Kiên “ái” yêu nhau, thề thốt nếu không được sống cùng nhau sẽ cắt tóc đi tu. Đã thế, còn bày đặt chuyện lấy vợ làm gì hả con?”

Sau khi mắng chửi té tát thằng cháu trưởng hay hớt lẻo chuyện của mình với ông nội, Sướng chưa biết trả lời bố ra sao thì cụ Bống đã ra tối hậu quyết định:

“- Thôi, không cưới xin gì nữa. Để tôi ra thưa chuyện với bên nhà, nói rõ “chị” là đàn bà để xin hủy hôn.” 

Đến đây thì Sướng cuống lên:

“- Thầy! Thầy đừng làm thế. Con yêu Ngân thật mà. Con là đàn ông thật mà! Con thề! Tiên sư bố đứa nào mà con nói điêu!”

Chưa thấy cụ Bống phản ứng ra sao thì “Vừa lúc đấy, Ngân bước vào. Như chết đuối vớ được cọc, Sướng vội kéo Ngân vào cuộc.”. Sau khi nghe con trai mình luôn mồm chị chị Ngân Ngân xin nàng nói cho bố mình biết mình là đàn ông thật, Cụ Bống nhìn Ngân, nhẹ giọng:

“- Ngân này. Con đẹp người đẹp nết lấy đâu chả được thằng chồng tử tế sao lại chọn thằng Sướng nhà bác làm chồng? Lấy nhau về, không có con cái thì sao được hả con? Rồi sẽ khổ cả đời, con ạ. Nghe bác, hủy đám cưới với thằng Sướng nhà bác đi.

Vấn đỏ mặt, nhìn thật nhanh xuống bụng, rồi nhỏ nhẹ:

- Dạ! Con nghe lời thầy nhưng còn cháu nội của thầy thì sao ạ?”

Thì ra chuyện thâm cung bí sử của họ là ở chỗ cái thằng cháu nội của cụ Bống đang nằm trong bụng Ngân. Và đầu đuôi chuyện là như vầy: “Trong suy nghĩ của Ngân, Sướng là một người chị tốt, người chị không giống chị em khác chỉ một điều duy nhất là khi đi tiểu, chị Sướng không bao giờ phải ngồi xổm”. (Lại đi tiểu!). Thì nghĩ như vậy nên Ngân mới chủ quan. Tối ấy, sinh hoạt chi đoàn về, trời lất phất mưa lại còn rét đậm, đường về nhà Sướng thì xa, sợ “chị” Sướng ngấm mưa ngấm rét sẽ khổ nên Ngân mới rủ “chị” Sướng ngủ lại. Ai ngờ, đêm ấy thành đêm định mệnh, thành đêm gạo nấu thành cơm, ván đóng thành thuyền”

Và:

“Ngân không ngờ “chị” Sướng tưởng là thằng lại cái, tưởng là thằng vứt đi, chỉ giỏi mấy trò nhảy dây, chơi chắt chuyền, chơi búp bê, chơi buôn hàng... và giỏi hăng máu chửi lộn với đám đàn bà con gái,... ấy thế mà khi làm cái chuyện của thằng đàn ông thì lại thật đâu ra đấy, ra tấm ra đẫn, ra ngô ra khoai, ăn đứt khối thằng vẫn khoác loác tự nhận là giỏi về chuyện thầm kín của đấng mày râu! …”

Nghĩ thế, Ngân bằng lòng đón nhận tình yêu của Sướng, nhận lời lấy Sướng.

Khỏi phải nói cụ Bống vui sướng ra sao khi biết thằng con của mình tiếng thế mà đàn ông đích thực và cũng khỏi nói đám “CÔ” SƯỚNG CƯỚI VỢ sẽ tưng bừng vui vẻ ra sao ở cái làng Đỗ Hạ.

Khi gửi cho tôi thiên truyện này, nhà văn Đặng Xuân Xuyến bảo để tôi đọc giải trí. Truyện của anh đã đem lại cho tôi đầy ắp tiếng cười vui nhưng không phải là tiếng cười mua vui giải trí như những truyện khôi hài phê phán cái ngược đời, cái trái lẽ tự nhiên, lầm lẫn, hớ hênh của người đời mà là những tiếng cười tán thưởng, biểu thị niềm vui, sự yêu mến với con người như “cô” Sướng, nàng Ngân và cụ Bống, trong đó phần lớn nhất dành cho Cô Sướng!

Một số người trong làng Đỗ Hạ, điển hình nhất là cụ Vận bố Kiên “ái” đã không ngớt lời miệt thị khinh bỉ “cô” Sướng. Nào là con dở ông dở thằng, nào là đồng cô, pha gái, lại cái… Ấy là những tiếng dân giã của những năm xưa trước. Giờ đây, người ta nhập ngoại về một lô các tên gọi khác như: gay, pê-đê, bóng, chuyển giới, ái nam ái nữ. Không cần hiểu biết nguồn gốc của các từ ấy, không cần biết nó là tiếng Hy Lạp, tiếng Anh, tiếng Pháp hay tiếng Hán, trong tư tưởng của đa số người dân Việt Nam, những từ kể trên đều bị hiểu theo một nghĩa là đồng tính luyến ái. Mà đã là đồng tính luyến ái thì bị đánh đồng với sự sa đọa, bệnh tật, tệ nạn xấu xa, đều đáng khinh bỉ, đáng bị lên án, nhẹ nhất thì cũng bị phớt lờ, không thèm quan tâm. Hiểu sai dẫn đến ứng xử sai, khiến một số người như “cô” Sướng trở nên mặc cảm, sống co cụm lại.

Nhưng “cô” Sướng trong truyện ngắn của Đặng Xuân Xuyến đã không phải chịu những tai hại của những ứng xử sai như thế vì “cô” có được mấy cái may mắn:

Một, số người dân làng Đỗ Hạ đã miệt thị khinh bỉ “cô” Sướng, tiêu biểu như cụ Vận không nhiều. Mà cụ Vận có quá lời chửi Sướng thì ta cũng dễ bề thông cảm vì cụ mang nỗi khổ ấm ức con trai mình là “Kiên ái” thực sự là đứa đồng tính luyến ái. Đa phần người dân làng Đỗ Hạ đều nhìn Sướng bằng con mắt thiện cảm, họ mở lòng chiều cái tính hây hấy của anh, gọi anh là cô, là chị và sẵn sàng mắng yêu anh: “Con đĩ Sướng này xinh phết!”. Và họ đều thừa nhận: “Nếu không dấp phải tính khí đanh đá chua ngoa thì hẳn “cô” là người hiền thục nhất nhì làng xã”. Và vì vậy, khi nghe tin “cô” Sướng cưới vợ, dân làng đã mừng cho “cô”: “tính khí của “cô” nửa gà nửa vịt như thế mà có người đồng ý lấy “cô” làm chồng là may lắm rồi, phúc đức lắm rồi”. Dân làng đông vui đến ngả lợn giúp nhà "cô" và chuyện trò rôm rả cũng vì cái sự mừng chân tình ấy!

Hai, Sướng không phải là ái nam ái nữ hay người đồng tính luyến ái, mà chỉ là một người dị tính bị thu hút hấp dẫn đặc biệt, “khác thường” bởi những người khác giới nên thích được gọi là cô là chị, thích chơi các trò chơi của con gái, thích thể hiện sự đanh đá chua ngoa của những người đàn bà lắm mồm. Trong anh vẫn nguyên vẹn khí chất đàn ông, khi có dịp nó sẽ bừng dậy đưa anh trở về cuộc sống thật với con người thật của mình.

Nhưng hai cái may kể trên chưa cái nào là điều may nhất cho Sướng mà cái may nhất cho anh là anh có được Ngân, người bạn thân từ tuổi thơ ấu đến cả lúc đã trưởng thành, mặc điều tiếng thị phi của người làng, Ngân không bao giờ tìm cách xa lánh Sướng. Đã vậy, Ngân còn rất ngây thơ trong suy nghĩ coi “Sướng là một người chị tốt, người chị không giống chị em khác chỉ một điều duy nhất là khi đi tiểu, chị Sướng không bao giờ phải ngồi xổm”. Và nhờ cái ngây thơ thành thật ấy, Ngân và Sướng đã có một đêm mà tác giả gọi là cái đêm định mệnh.

Ô hay, sao nhà văn Đặng Xuân Xuyến lại coi đó là cái đêm định mệnh nhỉ? Bởi lẽ, định mệnh là số mệnh của con người, do một lực lượng huyền bí định sẵn, không thể cưỡng lại được khiến nhiều người phải thụ động cam chịu dù nó rủi ro đến đâu. Cái đêm Ngân - Sướng ấy đâu có phải là cái đêm cả hai hoặc một người trong họ phải cam chịu mà phải nói, nó là cái đêm kỳ thú nhất trong đời của họ tựa như cái đêm trong thơ Cung oán:

Cái đêm hôm ấy đêm gì

Bóng dương lồng bóng đồ mi trập trùng

Tuy Sướng không phải là bóng dương và Ngân cũng không phải là một đóa đồ mi nhưng cái đêm hôm ấy, Sướng đã làm cho lửa dục vọng trong Ngân sáng lên rồi được đốt cháy mãnh liệt khiến Ngân sung sướng thỏa thuê và hiểu chân tơ kẽ tóc cái nam tính trong con người Sướng. Thử hỏi, nếu trong cái đêm ấy, Sướng không làm được, “quá được” cái chuyện ấy, cho dù Ngân đã dành cho Sướng biết bao tình cảm cảm tốt đẹp từ thời chăn trâu cắt cỏ đến nay, sẽ chẳng bao giờ Ngân chịu lấy Sướng làm chồng. Bởi lẽ, người phụ nữ lấy chồng trước hết là để có được “lời lãi đứa con”: Lấy chồng mà chẳng có con / Khác gì hoa nở trên non một mình

Và còn bởi, tình dục là một vấn đề rất đời thường và luôn luôn hiện diện trong cuộc sống của con người nhưng đã mấy ai trung thực không màu mè nói ra chuyện ấy. Mấy ai được như Ngân, thẳng thắn thừa nhận với cụ Bống rằng, Sướng con trai cụ đã làm chuyện ấy với mình, rồi nhìn xuống cái bụng đang mang hình hài đứa cháu nội của cụ.

Vì vậy, “CÔ” SƯỚNG CƯỚI VỢ không chỉ đầy ắp tiếng cười vui mà còn rất đẹp tính nhân văn. Tác phẩm vừa miêu tả thực cuộc sống thực của con người vừa vun vào cho khát vọng hạnh phúc của họ, tán thưởng và biểu thị niềm vui, sự yêu mến với họ. Tác phẩm cũng không quên phê phán những cái xấu có thể phá vỡ hạnh phúc tự do vốn có của con người. Đó không chỉ là cái xấu của một số người như cụ Vận luôn tỏ ra khinh bỉ, miệt thị cay nghiệt một người như “cô” Sướng mà ngay cả Sướng cũng phải lãnh một phần sự phê bình nhẹ nhàng vì đã để cho cái dị tính trong anh phát triển quá đà, nếu không được Ngân đưa vào cái đêm định mệnh ấy đưa Sướng về với đời thực của mình thì không biết số phận đời anh sẽ ra sao?

Khi gửi cho tôi truyện ngắn “CÔ” SƯỚNG CƯỚI VỢ, nhà văn Đặng Xuân Xuyến nói với tôi về tác phẩm của anh: “Cháu viết cũng vội nên chất lượng không được như  ý”.

Nhưng, ngoại trừ hai tiếng tiểu tiện tao nhã quá, tôi thấy đây là một truyện ngắn hay, rất đáng đọc.

 *

Sài Gòn, ngày 12/12/2016

Tác gia, Nhà giáo NGUYỄN BÀNG

Email: bnguyen37@gmail.com

 

READ MORE - “CÔ” SƯỚNG CƯỚI VỢ -TRUYỆN NGẮN ĐẦY ẮP TÍNH NHÂN VĂN - Nguyễn Bàng

Friday, August 19, 2022

CHIẾC ĐINH THUYỀN - Truyện ngắn Nguyễn Bàng

 

Nhà văn Nguyễn Bàng

Truyện ngắn Nguyễn Bàng

CHIẾC ĐINH THUYỀN

*

Khi hai người đã ngồi bên bộ ghế mây bóng màu nâu vàng, cụ giáo Nhâm mới khoan thai nhìn người khách trẻ để tìm lại dấu vết tuổi mười ba mười bốn của người hoc trò cũ. Lòng già xôn xao một niềm vui khó tả.

Mười lăm năm trước, khi Vũ Hưng chào thầy, theo gia đình vào Nam, thầy Nhâm cũng thôi cầm phấn lên bục giảng, rời thành phố về nghỉ hưu ở quê nhà. Ai ngờ lại có hôm nay, từ đầu kia cách trở tới 2000 cây số, người học trò cũ lặn lội lần tìm về tận cái làng quê hẻo lánh này thăm cụ.

- Em ra Bắc có việc gì thế? Cụ giáo Nhâm đầm ấm hỏi.

- Dạ thưa thầy - Vũ Hưng lễ phép trả lời, vẫn chăm chú nhìn cụ giáo, lòng vui mừng vì thấy bóng dáng tuổi già mới in trên mái tóc bạc phơ còn mọi dáng vẻ thầy vẫn như xưa: mảnh khảnh, tinh anh và phúc hậu - Con được ra Thủ đô họp mặt các nhà doanh nghiệp trẻ tài năng. Họp xong, mọi người lên Sapa nghỉ mát, riêng con xuôi xuống biển, về lại thành phố tuổi thơ của con với mong muốn chính là đươc gặp lại thầy. Con thật xúc động vì đã ngần ấy năm, mà thoạt nhìn, thầy đã nhận ngay ra con, cái thằng “Hưng Đinh thuyền’’ đã làm thầy nhọc lòng dạy dỗ.

Nghe Vũ Hưng tự goi minh bằng biệt danh “Hưng Đinh thuyền”, cụ giáo Nhâm mỉm cười, vụt nhớ lại lần đầu tiên cụ nghe thấy cái tên đó.

Cuối hè năm ấy, cô hiệu trưởng đưa cho thầy Nhâm một bản danh sách học sinh mới trúng tuyển vào lớp 10 của trường kèm theo một nụ cười rất tươi: “Chỉ hết năm hoc tới là thầy nghỉ hưu. Lẽ ra phải để thầy thôi làm chủ nhiêm lớp để hưởng chút thanh nhàn. Nhưng theo báo cáo của địa phương, hoc sinh ở khu vực Cầu Sắt rất phức tạp, vì vậy lại xin thầy ra tay cầm quân ở khu vực ấy năm đầu cấp hộ chúng em.” Thầy Nhâm vui vẻ nhận ngay. Cô hiệu trưởng phấn khởi nói thêm: “Nhưng em không bắt thầy ăn cả khúc đầu cùng xương cùng xẩu mà đã cắt cho thầy ba học sinh thuộc diện khá, giỏi ở khu vực khác, trong đó có một em được tuyển thẳng đấy ạ!

Hôm nhận lớp, kiểm đủ tên 62 học sinh, thầy Nhâm cho chúng ngồi tại chỗ dưới gốc cây bàng ở sân trường rồi lên Văn phòng làm như phải hội họp gì trong đó để xem lũ gà mới thấy vắng chúa nhà sẽ làm những trò gì. Quả nhiên chúng ồn lên ngay như họp chợ. Bọn con gái túm tụm vào nhau nói cười ồn ã. Lũ con trai nhấp nhổm trêu chọc nhau chí choé. Bỗng có tiếng kêu ré lên: ”Ối đứa nào ném đấy!” Một đứa con gái ở hàng đầu vừa xoa má trái vừa quay nhìn lại phía sau. Từ hàng cuối, một thằng con trai mặt mũi nom sáng sủa ngang nhiên đứng thẳng người, cười toe toét: “Xin lỗii nhé!” rồi chạy thoắt lên chỗ con bé vừa bị ném, xà xuống bên cạnh, chớt nhả hỏi: “Có đau không, để mình xoa đền?” Miệng nói tay làm, nó vuốt nhanh lên má con bé.

- Đồ đểu!

Con bé phản ứng ngồi giật lại rồi chồm lên vả cho thằng kia một cái tát.

Thầy Nhâm vội vã ra khỏi phòng, Cả lớp như một đoàn tàu dồn toa rất nhanh, trật tự ngay trở lại. Bỗng trong đám con trai nghe có tiếng thì thào: “Chết cha thằng Hưng Đinh thuyền rồi!” khiến thầy Nhâm sững người lại vì Hưng Đinh thuyền hay Vũ Hưng, theo danh sách chinh là hạt giống đỏ mà nhà trường đã ưu tiên cho lớp thầy. Nhưng thầy tảng lờ như không nghe thấy gì rồi cho lớp vào phòng học để xếp chỗ ngồi.

Hết buổi, thầy gặp riêng lớp trưởng được tạm cử, nhà ở cùng phố với Vũ Hưng, hỏi vì sao Vũ Hưng lại có tên là Hưng Đinh thuyền? Nó thưa, tuy ở cùng phố, nhưng nó phải học ở trường theo địa bàn, còn Vu Hưng xin được vào trường chuyên của Thành phố nên không rõ lắm. Nhưng nghe mấy đứa chơi với Vũ Hưng kể thì Vũ Hưng bị một đứa ngồi cùng bàn thù ghét. Thằng này tên là Chiến còn gọi là Chiến Búa vì nó thường thủ trong cặp một chiếc búa nhỏ dùng để đánh nhau. Một lần Chiến Búa gây sự với Vũ Hưng rổi rút chiếc búa ra doạ đánh khiến Vũ Hưng bỏ chạy. Bị rượt đuổi đến bờ sông thì tình cờ Vũ Hưng trông thấy một chiếc đinh thuyền của những người thợ chữa thuyền bỏ quên trên bãi cát, vội nhặt lên đánh lại làm Chiến Búa bị thương ở cổ tay, rơi văng cả búa. Cái tên "Hưng Đinh thuyền" có lẽ từ ấy mà ra.

Buổi tối, thầy Nhâm đang căm cụi xếp danh sách học sinh thì có tiếng gõ cửa. Khách là một phụ nữ trẻ, gọn gàng duyên dáng trong bộ quần áo cán bộ sang trọng, tự giới thiệu là mẹ của Vũ Hưng, cán bộ phòng kế toán Công ty Vận tải biển. Thầy Nhâm niềm nở tiếp vị phụ huynh học sinh đầu tiên của lớp và không hề đả động gì đến việc đùa nghịch tinh quái của đứa con nên bà mẹ chuyện trò với thầy rất tự nhiên và luôn tỏ ra hãnh diện về nó: “Bố cháu là sĩ quan quân đội đóng ngoài đảo xa nhưng cháu ngoan lắm ạ, bốn năm liền học cấp hai, cháu đều là hoc sinh giỏi!”  Rồi đặt lên bàn thầy một chiếc túi nylon màu đỏ căng phồng, nét mặt tươi cười: “Gọi là chút quà kính thầy nhân buổi cháu được nhận thầy nhận lớp mới!”

Thầy Nhâm đã nhã nhặn chối từ.

Ba hôm sau trường kiểm tra chất lượng hai môn Văn và Toán lớp 10 để phân loại học sinh. Kết quả, lớp thầy Nhâm kém nhất khối không làm thầy ngạc nhiên nhưng điểm riêng của Vũ Hưng: Văn 5, Toán 4! Lẽ nào một học sinh được tuyển thẳng lại thế? Thầy vội mượn học bạ của Vũ Hưng và như bị lóa mắt bởỉ các con số ghi điểm tổng kết cuối năm lớp 9: Tất cả các môn đều từ 8,5 trở lên. Riêng môn Toán 9,1. Đúng là giỏi toàn diện! Gần 40 năm dạy học cho thầy thấy có cái gì đó rất nghiêm trọng ở đứa học trò này!...

Cụ giáo Nhâm bỗng ân cần hỏi:

- Bố mẹ em có mạnh khỏe không?

Giọng Vu Hưng bỗng đượm buồn:

- Cám ơn thầy, Mẹ con vẫn khoẻ mạnh. Nhưng bố con... bố con đã mất năm ngoái rồi ạ!

- Sao lại thế? - Cụ giáo Nhâm thảng thốt hỏi - Bố em còn trẻ mà.

- Bố em bi ung thư phổi!

- Thầy thành thật chia buồn với gia đình em!

Thầy giáo Nhâm khẽ nói và cúi thấp mái đầu bạc phơ để tưởng niệm người đã mất. Căn phòng như có một luồng khí lạnh thổi vào khiến cả hai thầy trò cùng ngồi thu mình lại. Giây phút sau cụ mới ngẩng đầu lên:

- Thầy chỉ gặp bố em có một lần nhưng ấn tượng lần gặp ấy thật sâu sắc.

Suốt một tuần, cả trường nhộn nhịp chuẩn bị lễ khai giảng năm học mới, cuốn hút thầy Nhâm vào các công việc khiến thầy quên bẵng đi những uẩn khúc về Vũ Hưng. Mà nó cũng tham gia tốt mọi sinh hoạt tập thể lớp về mọi  mặt. Lớp thầy luôn được biểu dương dưới cờ về mọi mặt thi đua nên thầy thấy thanh thỏa trong lòng. Nhưng thật bất ngờ, khi cô hiệu trưởng vừa dứt hồi trống đón chào năm học mới thì có tin Vũ Hưng bị công an bắt về tội đánh nhau có vũ khí. Tang vật là một chiếc đinh thuyền nhọn hoắt. Đối thủ của nó là Chiến Búa đã chạy thoát. Thầy Nhâm phải đích thân lên Công an phường bảo lãnh cho Vũ Hưng được thả ra. Vụ việc ồn lên trong Hội đồng giáo viên. Nhiều người lo lắng cho cái danh hiệu “Trường tiên tiến cấp Thành, đòi đình chỉ học tập Vũ Hưng và đưa ra Hội đồng kỷ luật. Cô hiệu trưởng hỏi ý kiến thây Nhâm. Thầy thành thật nhận mình có lỗi khi không sát sao với Vũ Hưng và xin thêm một thời gian nữa để giáo dục nó.

Thầy cho Vũ Hưng đến nhà, nhẹ lời hỏi vì sao nó đánh nhau. Nó mạnh dạn thưa ngay, nó bị Chiến Búa đón đường đánh trước. Nhưng khi thầy hỏi vì sao Chiến Búa thù ghét nó thì nó thẫn người ra mới ấp úng trả lời vì nó không cho Chiến Búa chép bài kiểm tra cuối năm học

Chiến Búa chắc là học rất kém nhưng qua kiêm tra chất lượng mới đây thì Vũ Hưng đâu phải là học sinh giỏi. Để cho rõ ngọn ngành, thầy Nhâm lần tìm đến nhà Chiến Búa. Thấy thầy hỏi, Chiến Búa tức tối nói luôn: “Cháu ghét thằng Hưng Đinh thuyền lắm. Mẹ nó quen cô giáo chủ nhiệm lại mời riêng một số thầy cô đến dạy thêm nó nên bài kiểm tra nào nó cũng được biết trước, lúc làm bài che che giấu giấu không cho cháu chép một chữ!”

Tuy lời Chiến Búa là lời con trẻ nhưng cũng làm sáng tỏ đôi điều thầy phán đoán. Thầy đến ngay nhà Vũ Hưng gặp mẹ nó và được đón tiếp trang trọng trong căn phòng khách bầy toàn những tiện nghi hiện đai. Khi biết bài kiểm tra của con bị dưới điểm trung bình, bà mẹ không tỏ ra lo lắng mà lại đon đả đặt ngay vấn đề sẽ mời thầy chủ nhiệm và một số thầy cô nữa đến dạy thêm cho nó, rồi hồ hởi kể về sự đối xử chu đáo của mình với các thầy cô. Đến khi hay việc Vũ Hưng bị Công an bắt, mặt mẹ nó vụt tái đi, nhưng đôi môi vẫn run rẩy đổ lỗi cho Chiến Búa là đứa bạo nghịch và lêu lổng đã gây ra mọi chuyện oan  cho con mình, rồi nhìn thầy bằng đôi mắt van lơn, xin thầy lo giúp cho ổn thỏa, gia đình xin đội ơn và hậu tạ. Thầy Nhâm tế nhị trao đổi một số biện pháp giáo dục gia đình rồi ra về.

Tối hôm ấy, thầy quên hết sự mệt nhọc ban ngày, nghĩ cách làm thế nào để phối hợp tốt giữa nhà trường và gia đình Vũ Hưng trong việc giáo dục nó. Nhưng cốt cách mẹ nó như thế, thật là khó. Còn bố nó, ở ngoài hải đảo, ông ta biết những gì về con minh trong thành phố? Lại dễ gì gặp được ông ta? Là một quân nhân, biết đâu ông ta sẽ có những ý kiến tốt để dạy dỗ con mình? Băn khoăn nghĩ thế, thầy quyết định viết một bức thư gửi ra hải đảo và chỉ hy vọng sẽ được bố nó có thư phúc đáp. Nào ngờ, thư gửi đi chưa đầy tuần lễ đã thấy ông Vũ Hải, bố Vũ Hưng hiện diện ở nhà thầy. Sau cái bắt tay chào hỏi xã giao, ông Vũ Hải oang oang bộc tuệch nói ngay: “Cảm ơn thầy đã gửi thư cho tôi. Nếu không có thư của thầy, tôi sẽ không bao giờ biết được con tôi đang tụt dần xuống con dốc của sự hư hỏng. Mặc dù đang mùa luyện quân, tôi cũng xin phép đơn  vị về gặp ngay thầy. Thưa thầy bao năm nay, tôi đã sống trong hạnh phúc vì nghĩ mình có có đứa con trai chăm ngoan, học giỏi. Cuối năm học nào mẹ nó cũng gửi ra cho tôi giấy khen của nó. Tôi kiêu hãnh khoe với đồng đội, báo cáo lên đơn vị để lĩnh phần thưởng gửi về cho nó. Nào ngờ, chiều nay, mẹ nó đã khóc vì xấu hổ và ân hận khi nói ra sự thật. Thì ra ở các cơ quan công sở bây giờ, người ta không dùng sự giàu sang để khoe mẽ nhau nữa mà chuyển sang cách khác: Khoe con! Ai cũng muốn khoe con tôi học trường chuyên, lớp chọn, con tôi là học sinh giỏi, Kỳ nghỉ hè nào công đoàn các cơ quan cũng long trọng tổ chức lễ phát phần thưởng cho các con cán bộ, công nhân viên chức đơn vị mình đã đạt danh hiệu “học sinh Tiên tiến”. Các bà mẹ cũng thơm lây, được nhận giấy khen “Phụ nữ đảm việc nhà, giỏi việc cơ quan”! Vợ tôi cũng bị lôi cuốn vào cái vòng xoáy hư danh ấy. Đáng lẽ phải khổ công tốn sức day bảo con cái thì cô ấy lại tìm cách đi ngắn nhất là lo lót cho nó, biến nó thành một thứ cây tầm gửi trong học tập và tu dưỡng.

Cảm động trước tấm lòng ngay thẳng chân thật của một vị phu huynh học sinh, thầy Nhâm đã bàn bạc cặn kẽ với ông Vũ Hải cách kéo Vũ Hưng lên khỏi con dốc nó đang bị tụt rồi đưa cho ông chiếc đinh thuyền bên Công an đã giao lại cho thầy, bảo ông đưa về cho Vũ Hưng để nó tự xử lý.

- Ồ! Thế thày không sợ cháu nó lại dùng chiếc đinh này đẻ đánh nhau nữa hay sao?

- Tôi tin nó không dám như thế! - Thầy Nhâm vui vẻ khẳng định....

- Thưa thầy! - Vũ Hưng vẫn trong tâm tư tưởng nhớ người bố đã khuất, cắt ngang đòng hồi tưởng của cụ giáo - Bố con vẫn nhắc đến thầy luôn. Trước khi mất, bố con còn dặn con, hễ có ra Bắc là phải tìm thăm thầy. Hôm nay chắc vong linh bố con thoả nguyện lắm. Nhưng con còn muốn xin thầy một điều...

- Em cứ nói đi! – Cụ giáo sốt sắng nói

- Tuần sau là đến ngày giỗ đầu bố con. Con muốn mời thầy vào Nam thắp cho bố con một nén hương, cũng là dịp thầy cho con đưa thầy đi thăm đất nước một chuyến!

Cảm động trước tình nghĩa của người học trò cũ, cụ giáo trầm ngâm giây lát rồì gật đầu:

- Thầy cảm ơn em!

*                          *

*

Giỗ đầu ông Vũ Hải được gia đinh tổ chức đơn giản nhưng nghiêm túc sâu sắc. Khách mời khoảng hai chục người, toàn là ruột thịt và bạn bè thân thiết của nhà họ Vũ đang ở miền Nam. Cụ giáo Nhâm là vị khách cao niên và được trọng vong nhất.

Sau khi tiễn hết khách ra về, Vũ Hưng mời cụ lên nghỉ trên chiếc sập khảm trai kê cạnh bàn thờ rồi mở tủ mở ngăn kéo lôi ra một cái hộp gỗ nhỏ lại bên cụ, bẽn lẽn như một đứa trẻ hỏi:

- Thầy con nhớ chiếc đinh thuyền đã đưa cho bố con không?

- Thầy nhớ!

- Dạ! Nó đây!

Vũ Hưng từ từ mở chiếc hộp để lộ dưới đáy một chiếc đinh thuyền màu xám đen bọc trong một lớp nylon bóng trắng.

- Em vẫn còn giữ nó cơ à?

- Vâng ạ! Vũ Hưng thưa rồi lấy ra chiếc đinh thuyền đưa lên ngang mặt ngắm nghía - Nó là một vết nhơ trong thời niên thiếu của con nhưng nó cũng là một người ban thân thiết luôn nhắc nhở con phải tu thân. Trước hôm ra đảo, bố con đã thức trọn đêm bên con, kể lại cuộc gặp mặt với thầy và khuyên nhủ con mọi nhẽ rồi đưa chiếc đinh thuyền này cho con và bảo thầy gửi lại để con tự xử lý. Thú thật con cũng chưa biết làm gì với nó thì hôm sau có giờ sinh hoạt lớp, thầy kể cho lớp một câu chuyện ngoại khoá đến nay con vẫn nhớ như in:

“Ngày xưa có một nhà hiền triết, khi thấy mình làm một việc xấu thì tự đóng một chiếc đinh lên cột nhà khi làm một việc tốt thì tự nhổ đi một chiếc đinh. Sau một thời gian, nhà hiền triết giật mình thấy trên cột nhiều đinh bị đóng quá. Ông lo lắng rồi quyết chí tu thân từng ngày từng việc. Chẳng bao lâu, trên cột đã nhổ hết đinh. Nhưng vẻ mặt nhà hiền triết vẫn buồn rười rượi. Có người thấy vậy, hỏi vì sao thì hiền triết đáp:

Đinh dù đa nhổ được ra,

Vết kia còn đó dễ mà sạch ru?

Rồi tiếp: Nếu mà hiểu sớm điều này thì chiếc cột kia đã không có vết đinh! Con có cảm tưởng, thầy kể câu chuyện ấy vừa cho cả lớp nghe vừa riêng cho con, Về nhà, con kể lại với me con rồi nghe lời khuyên của mẹ, con tới nhà Chiến Búa xin lỗi nó, cùng nó giảng hòa. Nó bảo, thế thì hai thằng đem chiếc búa và chiếc đinh thuyền vứt xuống sông cho khuất mắt. Con lại kể cho nó nghe câu chuyện đó và bảo hãy giữ chúng lại để chúng nhắc nhở mình đừng bao giờ làm việc xấu nữa!

Vũ Hưng nhẹ đăt chiếc đinh thuyền vào hộp rồi đem cất vào tủ. Cụ giáo Nhâm trìu mến nhìn theo người học trò cũ:

- Và cuối năm học đó, em đã quyết phấn đấu trở thành một học sinh giỏi thực thụ.- Cu giáo Nhâm nói.

- Vâng! - Vũ Hưng lễ phép ngoảnh mặt lại nghe. - Đó là nhờ lòng bao dung và công ơn của thầy!!

- Không! - Cụ giáo Nhâm điềm đạm nói – Công ơn của bố em đấy!

Rồi cụ rời khỏi chiếc sập đến bên bàn thờ ông Vũ Hải đang tàn tuần hương đốt lên một nén hương thơm mới!

*

NGUYỄN BÀNG

Địa chỉ: 61B, ngõ 311, đường Đằng Hải,

quận Hải An, thành phố Hải Phòng.

Emailbnguyen37@gmail.com

 

READ MORE - CHIẾC ĐINH THUYỀN - Truyện ngắn Nguyễn Bàng

Monday, July 25, 2022

CỤC ĐẤT, CỤC VÀNG - Truyện ngắn của Nguyễn Bàng


Tác giả Nguyễn Bàng
 
Chị Hòa đang cho mấy con gà ăn thì thằng Sơn, con chị đi học về. Khác hẳn mọi ngày, hôm nay vừa cất túi sách xong, thằng bé nhao ngay về góc chuồng gà, hớn hở khoe với mẹ:
- Tối nay sinh nhật con cô giáo đấy, mẹ ạ!
- Ai bảo con thế? – Chị Hòa vừa nghe con vừa rũ gói cơm nguội cho sạch.
- Cô giáo con bảo thế mà! – Thằng Sơn vẫn hồn nhiên đáp, - Cô bảo từ đầu giờ học và khi sắp tan, cô còn nhắc lại: “Tối nay, sinh nhật em Vũ Cương con cô. Các em bảo bố mẹ cho đến nhà cô vui với em nhé !” Cô còn cho cả lớp ghi số nhà của cô vào vở nháp kia mà ! Mẹ cho con đi mẹ nhé !
 
Chị Hòa chưa biết trả lời con ra sao, chỉ ậm ừ bảo:
- Đi tắm nhanh lên rồi vào ăn cơm kẻo tối đấy!
 
Thằng Sơn tưởng mẹ đã bằng lòng. Nó nhảy phốc chân thỏ đi tìm quần áo tắm, mồm hát toáng lên ; “Mẹ của em ở trường là cô giáo mến thương...” Người mẹ thấy con tươi vui nhanh nhẹn, sung sướng như nở từng khúc ruột. Nhưng nhớ tới lời xin của con, chị bỗng băn khoăn tự hỏi: “Có cho con đi không nhỉ ?”
 
Chị Hòa là lao công quét rác đường phố. Chồng chị làm thợ xây  cho một chủ thầu tư nhân, mỗi khi có công trình, người ta mới gọi đi làm nên thu nhập thất thường. Hiện anh đang theo đội thợ về một huyện cách xa thành phố ba chục cây số nên ăn ở ngay tại lán. Gia đình chị tuy sống trong một căn hộ nhỏ bé ở một ngõ cụt ven sông nhưng lại thuộc địa bàn của phường Một, cửa ngõ lớn nhất của thành phố hiện vẫn còn y nguyên cả một khu phố Tây cũ với những con đường rợp bóng mát và những tòa nhà kiến trúc theo kiểu châu Âu rất đẹp từ đầu thế kỷ trước. Nhờ sự may mắn ngẫu nhiên đó, gần mười năm nay, chị được quét rác ở mấy con đường vào loại sạch đẹp nhất thành phố, loáng thoáng một ít nhà dân còn toàn là cơ quan hành chính; trong khi các bạn của chị phải quét dọn ỏ những phố dân cư đầy ngõ ngách tối tăm chật hẹp hay những phố chợ tồi tàn, vừa buông chổi ra đã lại ngập tràn rác rưởi bẩn thỉu.
 
Nhưng có lẽ may mắn nhất là, theo hộ khẩu, thằng Sơn con chị đã được học trọn vẹn ba năm ở một trường Mẫu Giáo to đẹp nhất thành phố, giờ lại nghiễm nhiên vào lớp Một của một trường Tiểu Học cũng to lớn và danh giá nhất thành phố. Ngôi trường này do người Pháp xây dựng gần một trăm năm trước để dành riêng cho con em người Tây đi học. Thời Tây, trường mang tên một tên quan năm thực dân. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, khi lính pháp cuốn khỏi thành phố, nó được đổi sang hai tiếng “Điện Biên”.
 
Hôm đầu tiên đưa con vào lớp, về đến đầu ngõ chị Hòa gặp cô Mai, tốt nghiệp Đại học sư phạm đã hai năm chưa xin được chỗ dạy, phải phụ việc cho quán Rượu mực buổi tối trên lề con đường lớn mới mở xuống sân bay để kiếm sống và có tiền thuốc thang cho bà mẹ quanh năm đau yếu và nuôi thằng em đang học Đại học trên Hà Nội.
 
- Con được học ở trường Quốc tử giám sướng nhỉ? – Cô Mai tươi cười hỏi chuyện nhưng chị Hòa chả hiểu cô nói gì, chị thật thà hỏi lại:
- Sao lại là trường Quốc tử giám, hả cô?
- Quốc Tử Giám là trường ngày xưa, ban đầu chỉ dành riêng cho con vua và hoàng tộc. Về sau mở rộng thu nhận cả con cái nhà dân thường có sức học xuất sắc. Trường Điện Biên chẳng phải là Quốc Tử Giám của thành phố mình hay sao ? Con cháu các ông to bà lớn đều học ở đây cả. Con chị mà không đúng địa bàn thì đến hết kiếp cũng chẳng được đặt chân vào đấy, Những đứa trẻ trái tuyến, ở phường hay quận khác, muốn vào học trường này, bố mẹ chúng phải tốn nhiều công của lắm. Người thì nhờ thân quen, người thì tìm “cò học”. Ngoài tiền tự nguyện ký vào “Sổ vàng xây dựng” được trên cho phép là hai triệu, tiền quà cáp biếu xén người quen hay cho ‘cò’ còn tốn kém thêm gấp bội. Ấy vậy mà khối người đã bị người quen hứa hão hay bị ‘cò’ nó lừa mất tiền mà con không được vào học.
 
Nghe Cô Mai giảng giải, chị Hòa nửa tin nửa ngờ nhưng trong lòng lại thầm sung sướng vì mình chẳng phải bận tâm và mất mát một đồng nào cho con mình vào lớp Một.
- Thế thằng cu học lớp nào? – Cô Mai lại vồn vã hỏi.
- Lớp cô Hà Ly, em ạ! – Chị Hòa đáp.
- À! Cô Hồ Ly
 
Thấy cô Mai nhếch mép cười nhắc lại, chị Hòa tưởng mình nhớ sai tên cô giáo, vội hỏi:
- Sao, cô ấy họ Hồ à?
- Không! Nhưng để em nói cho mà nghe. Nó học xong trung học cùng với em đấy. Lười và dốt có đuôi nhưng được cái xinh gái nên khối thằng ở trường bị nó hút hồn. Nhưng nó đâu thèm để ý đến lũ chíp hôi ấy mà nhằm vào ông Chánh văn phòng Ủy ban nhân dân thành phố, đã một lần bỏ vợ và hơn nó hơn hai chục tuổi. Hết Trung học, nó không dám thi vào Đại học, ở nhà học may cắt thời trang. Thế mà chẳng hiểu sao nó lại cùng vào học trường Sư phạm như em nhưng học khoa cấp Một. Trong khi em phải học bốn năm thì nó chỉ học hai năm, vèo cái tốt nghiệp, về thẳng trường Điện Biên rồi cùng làm đám cưới với ông Chánh văn phòng ngay sau ngày khai giảng năm học đó,
 
Thấy chị Hòa im lặng nghe, cô Mai hạ thấp giọng:
- Em thấy nhiều người có con học nó kêu ca lắm. Coi khinh con nhà nghèo như rác, xách nhiễu con nhà giàu đủ điều nên có kẻ ác mồm gọi nó là cô Hồ Ly, Hồ Ly tinh ấy mà!
- Thế à! – Chị Hòa ừ hữ cho qua chuyện. Chị không tin như vậy và nghĩ, cô Mai đang phận hẩm hiu nên cay ca thế thôi.
 
Sau đó khoảng ba tuần, quét xong ca rác chiều, chợt nhớ ra tối nay là Tết Trung thu, chị vội đi mua cho thằng Sơn một chiếc bánh nướng hình con cá, một quả bưởi và một chiếc đèn ông sao đẻ nó góp phần phá cỗ  với trẻ con trong ngõ. Chị chắc mẩm thằng bé sẽ vui sướng lắm. Ai ngờ nó như không nhìn thấy mấy thứ mẹ đem về mà lại cuống quít hỏi:
- Thế mẹ không mua gì Tết trung thu  cô giáo con à?
Tưởng con ngây thơ hỏi, chị Hòa cười xuề xòa, đáp:
- Trung thu là Tết của Thiếu nhi, ai lại đi tết cô giáo!
- Mẹ sai rồi! – Thằng Sơn cãi lại – Chiều nay, lớp con chúng nó rối rít khoe nhau đã được bố mẹ cho đi Tết Trung thu cô giáo. Toàn bánh nướng, bánh dẻo Kinh Đô, Thanh Lịch, Như Ý.
 
Chị Hòa ngớ ngưởi ra, không biết phân bua với con như thế nào. Từ tuổi Thiếu nhi đến nay đã ngoài ba mươi, chị chưa hề được biết mùi vị của bánh nướng bánh dẻo ở những cửa hàng nổi tiếng như con chị vừa nói. Có chăng là thấy những cái hộp đựng bánh bằng giấy bóng lộn màu sắc chữ và hình ảnh người ta vứt ra ngoài đường chị đã quét nhặt rồi gom lại để bán giấy vụn kiếm thêm những đồng tiền lẻ. Đêm Trung thu ấy, thằng Sơn không vui mà mẹ nó cũng buồn. Hôm nay nó lại đòi đi dự sinh nhật con cô giáo, có nên bắt nó buồn thêm một lần nữa
- Mẹ ơi! Con tắm xong rồi. Ăn cơm xong mẹ cho con đi nhé!
 
Tiếng thằng Sơn cắt đứt dong băn khoăn của chị Hòa. Thấy con háo hức như sắp được đi xem hội, người mẹ tặc lưỡi trả lời:
- Ừ, thì đi!
 
Cơm xong, chị Hòa mặc cho con bộ quần áo đồng phục mới giặt sạch sẽ. Bản thân chị cũng trút bộ quần áo xanh môi trường và thay bằng bộ quần áo tươm tất chỉ những dịp lễ Tết chị mới mặc. Thằng Sơn nhanh nhảu mở cuốn vở nháp ra cho mẹ xem địa chỉ nhà cô giáo. Thì ra nhà cô xây theo kiểu biệt thự Hàn quốc mới cách đây ba năm ở mặt tiền một con phố đẹp nhất phường. Sáu bảy năm trước, chị Hòa đã được phân công quét rác ở khu vực có con phố ấy. Mặt bằng chỗ tòa biệt thự bấy giờ còn là một dãy khu nhà trệt mái lợp fibrô xi măng dùng làm nhà trẻ của khối Dân chính, Sau hơn một năm không được phân công quét ở đó, một lần có việc đi qua, chị đã phải đứng lại ngây người nhìn tòa biệt thự thay thế cho dãy nhà trẻ cứ như một phép lạ trong cổ tích. Bỗng dưng chị thấy sợ phải đến tòa biệt thự đó. Nhưng đã trót hứa với đứa con rồi còn biết làm sao được.
 
Ra khỏi ngõ, chị Hòa đưa con rẽ vào một quầy hàng mua một gói kẹo Hải Hà. Nghe đâu nó là hàng Việt Nam chất lượng cao nổi tiếng. Rồi chị đưa nó tới quán hoa hỏi xem mừng sinh nhật trẻ con thì mua hoa loại gì? Cô bán hàng cười tươi như hoa, liến thoắng giới thiệu hàng chục mốt khác nhau, có mốt giá tới ba trăm nghìn khiến chị Hòa lạnh cả người. Cuối cùng chị bấm bụng mua một lẵng nhỏ mười hai đóa hồng vàng giá sáu chục. Cô bán hoa bảo, đó là 12 bà mụ với bàn tay vàng đỡ đầu cho đứa trẻ.
 
Gói kẹo với lẵng hoa vị chi là bẩy chục nghìn, hơn hai ngày lương của mình. Hơi tốn nhưng chắc sẽ đẹp mặt hai mẹ con! Thằng Sơn, con mình đã bao giờ được tổ chức sinh nhật đâu. Mõi năm đến ngày sinh của nó, mình chỉ dắt nó đi chơi vườn hoa Kim Đồng rồi cho nó ăn bát chè cốm hay cái kem ốc quế hoặc chiếc bánh bao nóng chưa đến năm nghìn bạc! Nghĩ thế chị Hòa phấn chấn kéo tay con rảo bước.
 
Nhưng vừa đến đầu phố nhà cô Hà Ly, chân chị Hòa bỗng khựng lại. Trước mắt chị, một vùng sáng lung linh trùm lên tòa biệt thự kiểu Hàn Quốc ở giữa phố làm mờ nhạt cả ánh đèn cao áp hai bên đường. Loang loáng những chiếc xe máy bóng nhoáng những nước sơn xanh, vàng, trắng, đỏ chở những đứa trẻ bằng tuổi thằng sơn từ hai đầu phố lao vào vùng sáng đó. Thi thoảng lại thêm một chiếc ô tô mới cáu sang trọng.
 
Chợt bừng lên tiếng nhạc và lời ca vui tươi bằng tiếng nước ngoài từ một dàn âm thanh cõ lớn, thằng Sơn reo cuống lên:
- Bài hát “Hép pi bớc đê” chúc mừng sinh nhật đấy! Nhanh lên mẹ ơi !
 
Rồi nó dứt ra khỏi tay mẹ, như con ngựa non tế lên phía trước, chị Hòa lập cập đôi dép nhựa vội lao theo, túm lấy con:
- Chờ mẹ đã!
 
 Không ngờ hai mẹ con đã đứng bên cổng tòa biệt thự. Hai cánh cổng sắt với cao rộng với những họa tiết rất đẹp và lạ mắt đã được mở hêt cỡ dưới mấy chùm đèn sáng như ban ngày vừa như mở lòng đón khách vừa như cố ý phơi ra vẻ tưng bừng náo nhiệt của cái phòng khách rộng đang nêm chặt người nhìn ra ngoài cổng. Mà họ mới đẹp và sang trọng lám sao ? Những bộ com lê đát tiền, những chiếc váy áo đủ màu. Vải xù xì, lụa óng ả, nhung tơ mềm mại. Tất cả đều như cố phơi hết ra mọi vẻ thanh lịch, mặn mà, duyên dáng và gợi cảm của khách với chủ nhân và của khách với khách. Quà của họ đem đến xếp đầy trên hai chiếc bàn to ở hai góc phòng. Những con thú nhồi bông đủ loại, đủ màu sắc. Những đồ chơi điện tử hiện đại. Những hộp bánh óng ánh nước sơn và cả những chiếc phong bì toàn màu hồng. Tất cả như làm tôn lên hình ảnh hai nhân vật trung tâm ở chính giữa phòng. Đó là hai mẹ con cô giáo Hà Ly. Thằng bé con cô, ba tuổi đứng trên một chiếc đôn giả da hổ, trong bộ sa tanh trắng muốt bó chen lưng, cổ cài nơ nhung đỏ đang thích thú nhìn ba ngon nến lung linh xanh, đỏ, vàng cắm trên một chiếc bánh ga tô to như một cái mâm ba tầng. Quây quanh nó, có tới ba chục đứa trẻ lớn hơn nó vài tuổi, vừa trai vừa gái, quần bò váy tầng đẹp như tiên đồng, ngọc nữ. Đó là học sinh lớp Một của cô giáo. Bọn này chắc đã đến nhà nhiều lần nên có vẻ rất thân vời thằng bé. Còn cô giáo Hà Ly, váy ngán, áo tay dài có dây kéo cổ viền ren màu xanh ngọc bật lên vẻ đẹp đài các, đang đi lại tiếp khách từ bàn này sang bàn khác, Giúp việc tiếp nước và mời bánh kẹo là hai cô gái trẻ đồng phục trong hai bộ quần áo dài  dân tộc.
 
Nhìn cảnh tượng đó, chị Hoà thấy chân mình run lên như bị cóng rét. Chị kéo giật tay con lại:
- Đi về thôi, con!
- Ơ! Sao lại về! – Thằng Sơn co người lại kêu lên – Con không về đâu!
- Đừng nói to, con ! Chị Hòa lúng túng xòe bàn tay ngăn miệng con lại, Vừa lúc đó, từ trong phía tòa biệt thự vang lên tiếng đồng ca của bầy trẻ nhỏ làm thằng Sơn như phát cuồng, gạt phắt tay mẹ ra:
- Các bạn lớp con đang hát đấy. Vào nhanh lên, mẹ!
Thấy mẹ bất động, nó tỏ ra quyết liệt:
- Mẹ không vào thì con vào một mình đây!
 
Rồi nó giật phắt gói kẹo và cái lẵng hoa trong tay mẹ và như con sóc nhỏ biến thoắt ngay vào trong cổng tòa biệt thự. Không ngăn nổi con, nhưng không thể bỏ mặc nó đẻ về nhà, chị Hòa đành  ngồi thụp xuống bên gốc cây vỉa hè mặc cho hai dòng nước mắt tủi phận và lo lắng tràn lan trên hai gò má
 
Khi không còn nước mắt để khóc, chị Hòa mới nhận ra lời ca tiếng nhạc trong tòa biệt thự đã ngừng im, nhường lại cho những tiếng chào chia tay hoan hỷ. Rồi tiếng ô tô, tiếng xe máy sôi lên trong những ánh đèn pha rực sáng. Chừng mười phút sau, đoạn đường phố mới được trả lại yên tĩnh. Nhưng sao chưa thấy thằng Sơn ra nhỉ? Chị Hòa thầm hỏi rồi đứng dậy và hốt hoảng thấy con mình như đang bị ma đuổi, chạy lao ra khỏi hai cánh cổng sất.
 
Người mẹ run rẩy và lo lắng hỏi:
- Sao thế con?
- Ai bảo mẹ mua gói kẹo này? – Thằng Sơn tức tưởi vứt toẹt gói kẹo Hải Hà còn nguyên bao xuống vỉa hè.
- Mẹ chả hiểu ra làm sao cả. Con phải nói cho mẹ biết chuyện gì đã xảy ra chứ?
 
Thằng Sơn đưa tay quệt ngang mũi, xụt xịt:
- Con vào nhà cô giáo, nhưng thấy mọi người đang ăn những miếng bánh gatô cắt từ cái bánh ba tầng nên con không dám bước lên phòng khách mà đứng ở một góc sân. Chờ lúc mọi người ra về hết, con mới đem gói hoa và gói kẹo lên chào cô giáo. Cô đang mải thu nhặt những chiếc phong bì nên chỉ liếc qua con và bảo người giúp việc: “Xem còn bánh ga tô, cho thằng bé kia một miếng”. Con đâu có thèm ăn, con chỉ muốn tặng quà mừng sinh nhật em bé.
 
Con đem gói kẹo và lẵng hoa lại gần nó và nói: “Anh chúc mừng sinh nhật em”. Thằng bé dửng dưng nhìn lẵng hoa chỉ giơ tay đón gói kẹo, nhưng vừa nhìn thoáng qua, nó vứt toẹt ngay vào sọt rác: “Ứ phải sô cô la!”. Cô giáo Ly thấy thế bảo cô giúp việc: “Nhặt gói kẹo trả thằng bé và bảo nó về đi
 
Chị Hòa nghẹn ngào lau mũi cho con:
- Mẹ đã bảo nhưng con có nghe đâu. Thôi đi về!
 
Trẻ con mau nhớ mau quên. Đêm ấy, thằng Sơn vẫn ngủ ngon trong lòng mẹ nhưng chị Hòa thì không tài nào chợp được mắt. Qua ánh trăng suông dọi vào song cửa gỗ đã long lở nước sơn xanh, chị thấy chập chờn hiện lên hình ảnh trên chiếc đôn giả da hổ, một đứa bé trai ba tuổi trong bộ sa tanh trắng muốt bó chẽn lưng, cổ cài cái nơ đỏ đang thích thú nhìn ba ngon nến lung linh xanh, đỏ, vàng cắm trên một chiếc bánh ga tô như một cái mâm đồng. Quây quanh nó có tới trên ba chục trẻ lớn hơn nó ba tuổi, vừa trai vừa gái quần bò váy tầng đẹp như tiên đồng ngọc nữ. Chúng đúng là những cục vàng còn con mình có khác gì một cục đất. Chị chạnh lòng nghĩ thế và không biết làm sao cho đôi mắt khỏi nhòe nhoẹt dưới ánh trăng.
 
Qua đêm thì hết mộng. Sáng hôm sau vừa quét rác, người mẹ vừa cầu mong cho đứa con mình sẽ lại như con chim nhỏ hồn nhiên đến trường đến lớp.
 
Nhưng buổi chiều hôm ấy, đi học về, mặt thằng bé nom buồn rười rượi, mẹ hỏi mãi nó mới mở miệng:
- Trước giờ vào học, các bạn lớp con hớn hở cùng nhau kể lại buổi sinh nhật con cô giáo. Chúng khoe nhau bố mẹ chúng đã mua tặng con cô giáo những gì. Đồ chơi, bánh kẹo, áo quần toàn đồ nhập ngoại của Mỹ, Nhật, Hàn quốc... Thằng Hiên ngồi cạnh con hỏi: “Hôm qua, mày không đi sinh nhât con cô giáo à?”. Thấy con không trả lời, nó cười: “Tao biết rồi, nhà mày đếch có tiền chứ gì!” Tối qua, con thấy thằng Hiên trong bộ quần áo bò màu xanh rêu sáng loáng khuy đồng.
 
Chị Hòa giật mình nghĩ: “May mà chưa đứa nào nhìn thấy con mình trong bộ quần áo đồng phục đã dây mực với lẵng hoa hồng “mười hai bà mụ vàng” nhỏ xíu và gói kẹo nội rẻ tiền nêu thấy thì không biết hôm nay chúng sẽ làm tình làm tội thằng bé đến đâu. Lại còn chuyện thằng bé con cô giáo ném gói kẹo vào sọt rác nữa!
 
Thằng Sơn lại ấm ức kể tiếp:
-  Con buồn nhất là đến tiết Toán, con giơ tay cả chục lần mà cô giáo không gọi con lần nào. Cô toàn gọi những đứa hôm qua đã hát hò quấn quít bên con cô thôi!
Chị Hòa có nuốt tiếng thở dài, động viên con:
- Con cứ hăng hái giơ tay, thế nào cô cũng gọi con mà!
 
Người mẹ thật lòng khuyên con như thế và thầm mong con mình sẽ được như thế. Nhưng hôm sau đi học về, thằng Sơn vứt phịch ba lô sách vở lên bàn, phụng phịu:
- Con không đi học nữa đâu!
- Sao thế con? – Chị Hòa lo lắng hỏi.
 
- Chả có đứa nào chơi với con cả. Thằng Hiên ngồi cạnh huých vào vai con bảo: “Mẹ mày quét rác nên người mày hôi lắm, tao đếch thèm chơi với mày!” Rồi nó lấy bút chì vạch lên bàn học và ghế băng cấm con lấn sang chỗ nó. Con thưa cô thì cô lại mắng con mất trật tự khi cô đang giảng bài.
 
Chị Hòa xót xa như bị muối xát vào lòng. Sau ca quét rác chiều, chị vơ vẩn tìm đến con đường xuống sân bay, ghé vào quán Rượu mực cô Mai giúp việc. Cô Mai vừa căng lều, trải chiếu, bày khay xong.
 
- Hôm lâu cô bảo chị, con học trường Quốc tử giám sướng nhỉ. Nhưng có sướng gì, đâu cô?
- Sao lại thế? – Cô Mai ngạc nhiên hỏi.
- Mình nghèo, con mình như cục đất học lẫn với con người ta như những cục vàng, tủi nhục lắm!
 
Rồi nước mắt ngắn, nước mắt dài chị kể lể mọi chuyện mới xảy ra với thằng Sơn khiến cô Mai cũng chạnh lòng nghĩ đến thân phận mình:
- Cây khô xuống nước cũng khô, em có hơn gì cảnh hai mẹ con chị. Đã hai năm ra trường, em vẫn không xin được một chỗ dạy. Chỉ chìa ra mảnh bằng, không nói ở nội thành, kể cả mấy huyện xa nhà vài chục cây số, người ta đều lắc đầu từ chối.
- Chị tưởng em làm ở chỗ này thu nhập khá chứ?
- Cũng được ông chủ cho dăm bẩy chục mỗi tối nhưng khổ tâm lắm chị ạ. Khách bia rượu mực về đêm toàn bọn choai choai đã kém tiền lại dở ông dở thằng. Vài đứa một chiếu ngồi lỳ đến đêm khuya với hai con mực nướng và vài lít rượu. Có tí hơi men, chúng bốc giời không văn tự, rồi buông những lời tục tĩu, trêu ghẹo cả em nữa. Có đêm, đến độ sương sương, hai chiếu rượu cửa hai quán kề nhau lời qua tiếng lại, không bên nào chịu bên nào, dẫn đến đánh nhau chảy máu, vỡ đầu. Em buồn lắm, nhưng vì kế sinh nhai, đành im lặng cho qua.
 
Thấy chị Hòa im lặng, cúi nhìn xuống đất, cô Mai hỏi:
- Thế chị định thế nào? Em cũng mong nó mỗi ngày đến trường là một niềm vui, ai ngờ nó lại không được công tâm trong quan hệ ứng xử. Thời buổi này, người ta chỉ có thể chia đều tiền bạc, chứ khó chia đều tình cảm lắm. Hay là chị gặp cô giáo nó, nói thật với cô ấy về nỗi niềm của thằng bé, may ra cô ấy thông hiểu phần nào chứ cứ để nó mặc cảm vì bị coi là con vịt con xấu xí trong đàn thiên nga như thế, làm sao nó có thể học cho tốt được.
- Chẳng ăn nhằm gì đâu em ạ! – Chị Hòa buồn bã đáp – Thân phận cục đất như con mình, ai người ta thèm quan tâm.
 
Cô Mai ngẫm nghĩ rồi nói:
- Hay là xin cho nó chuyển trường!
- Thế là thế nào hả em?
- Bây giờ, nhiều kẻ giàu sang đã chán khoe của mà chuyển sang mốt khoe con. Vì thế, họ như thiêu thân chạy cho con vào trường điểm tạo nên một cuộc chạy đua tàn khốc trong giáo dục. Muốn con học ở trường có cái mỹ từ “Trường điểm” ấy thì phụ huynh học sinh phải chấp nhận bị “hành” Không kể bị một số thầy cô giáo “hành” như kiểu sinh nhật con cô Hà Ly hôm rồi mà còn bị nhà trường “hành” công khai bởi những quy định khắt khe khó tin như đồng phục áo quần cặp sách và giày dép công phu, cầu kỳ màu sắc đến kiểu cách mà chị đã phải nộp tiền cho thằng Sơn. Rồi chị sẽ phải đóng góp những khoản thu hết sức phi lý nữa như tiền học tiếng Anh, tiền lắp điều hòa, mua máy tính, máy chiếu và bàn ghế mới để nâng cấp trang bị phòng học... Liệu chị có bơi được trong môi trường chạy theo thành tích đó không? Nếu không thì sao? Con chị sẽ bị liệt vào loại: “Con sâu bỏ rầu nồi canh” của lớp. Vì vậy, em nói là nên xin cho thằng Sơn chuyển sang trường khác, một trường... không điểm!
- Nghĩa là thôi học trường Điên Biên?
- Đúng thế!
- Nhưng chị có biết trường nào với trường nào đâu mà xin? Em giúp chị việc đó được không?
 
Cô Mai khẽ gật đầu
- Em có con bạn dạy ở trường Tiểu học Hạ Giang bên kia cầu. Trường này mới có khoảng chục năm nay, được xếp vào “tốp” dưới của quận vì nhỏ bé và cơ sở vật chất còn nghèo nàn thiếu thốn nhiều thứ lắm.  Dân ở đó vẫn quen mồm gọi là trường “Bãi Rác” vì trường xây trên bãi rác cũ từ thời Pháp. Con bạn em nó bảo, lần đầu tiên quen nhau, người yêu nó hỏi:“Em dạy trường nào?”, nó ngượng ngập trả lời “trường Hạ Giang”. Vừa nghe xong, người yêu nó buột miệng: “À, trường Bãi Rác!” Nó bật khóc rồi suốt buổi thằng kia hỏi gì nó cũng câm như hến. Sau thằng kia hiểu ra, xin lỗi nó mãi nó mới chịu cho làm lành. Nhưng được cái, mọi người công tác ở trường ấy đều ý thức được phận mình nên từ ông bảo vệ, bác lao công đến chị em giáo viên và hiệu trưởng, không ai bảo ai đều thực sự tôn trọng lẫn nhau, đói xử tử tể và thân thiết với nhau, cùng nhau tay xây dựng trường. Bọn trẻ trường này cũng biết là dân Bãi Rác nghèo nàn nên bảo nhau chăm học và rất ngoan. Máy năm nay, thầy trò cùng phụ huynh học sinh đã tự nâng cấp nhà trường như trồng cây xanh, lập thư viện, tổ chức các hoạt động văn nghệ, thể thao, các hình thức vui chơi  sinh hoạt câu lạc bộ... tất cả đều hướng đến việc nâng cao chất lượng  dạy và học. Nhờ thế, trường đã có học sinh đạt giải nhất nhì trong các kỳ thi học sinh giỏi của quận. Con bạn em bảo, trường không có dạy thêm tràn lan và mọi khoản thu chi rất minh bạch.
 
Vì thế em nghĩ, chuyển thằng Sơn sang đó học sẽ tốt cho nó và đỡ gánh nặng kinh tế cho nhà chị!
- Nếu thế, cô xin cho cháu về đấy học thì còn gì bằng!
- Em chỉ ngại nó phải qua cầu lại xa hơn cây số đấy!
- Thì chị sẽ đưa đón cháu cho đến khi nào nó cứng cáp tự đi học được!
- Vậy để em nhờ con bạn em xin cho cháu.
 
Chị Hòa mừng quá, toan nói lời cảm ơn thì thấy cô Mai khẽ thở dài:
- Chị ạ! Là cục đất nhưng đừng để mình thành đất thải!
 
*     
 
Mấy ngày nay, những bà nội trợ không thấy cô quét rác quen thuộc rung chuông vào giờ đổ rác cuối chiều. Có người tò mò hỏi bác quét rác già thay thế thì được biết, chị Hòa đã xin đổi đi nơi khác để làm ca trưa và tối.
 
- Tưởng làm ca chiều tốt hơn ca tối chứ nhỉ?
- Vâng đúng thế!- bác lao công già trả lời – Nhưng làm ca chiều thì không thể đưa đón con đi học được. Chả hiểu sao đang học ở cái trường to đẹp nhất thành phố lại đùng đùng xin chuyển sang cái trường bé tí tẹo ở tít bãi rác cũ bên kia cầu. Vậy mà nó có vẻ vui lắm, bảo thằng bé sang đấy được cô giáo và lũ trẻ cùng lớp rất yêu thương, chăm chỉ và hoạt bát hẳn lên.
 
Cũng tối hôm ấy, trong một chiếu rượu mực trên vỉa hè đường xuống sân bay, một người khách trẻ hỏi ông chủ quán:
-  Sao không thấy cô Mai phụ việc cho bác?
-  Cô ấy ra huyện đảo dạy học rồi! – Ông già vừa quạt than nướng mực vừa trả lời – Tốt nghiệp Đai học sư phạm đã hai năm, giờ mới thành cô giáo đấy!
- Thảo nào cô ấy nói năng rất văn hóa. Giờ chỉ tội phải đi xa quá!
Không thấy ông chủ quán trả lời, người khách trẻ dốc cạn chén rượu rồi hướng mắt về phía đảo xa mịt mùng trong đêm tối.
                                                                             
NGUYỄN BÀNG
 
Địa chỉ: 61B, ngõ 311, đường Đằng Hải, 
quận Hải An, thành phố Hải Phòng.
Email: bnguyen37@gmail.com
 
READ MORE - CỤC ĐẤT, CỤC VÀNG - Truyện ngắn của Nguyễn Bàng