Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Võ Quê. Show all posts
Showing posts with label Võ Quê. Show all posts

Sunday, October 27, 2013

CỔNG TRƯỜNG CHẢI MÁI TÓC XƯA - Võ Quê


Tác giả Võ Quê



 Ba mươi lăm năm, kể từ ngày tên trường Nguyễn Hoàng không còn nữa (1972), ngày 4 tháng 8 năm 2007, trên mảnh đất trường Nguyễn Hoàng xưa, (nay là trường Trung học phổ thông Thị xã Quảng Trị) đã có một cuộc hội ngộ, trùng phùng kỳ thú, đầy ấn tượng, đầy xúc cảm với nụ cười, với rưng rưng nước mắt. Thầy giáo, cô giáo, học trò các thế hệ thuở nào xưa chừ mừng mừng tủi tủi, ngỡ ngàng gọi tên nhau trong trạng thái nghẹn ngào hay òa vỡ, buồn, vui, mơ, thực...

     Ban vận động tổ chức cuộc họp mặt cựu thầy cô giáo, học sinh Nguyễn Hoàng chỉ mới dám mời chừng ba trăm  người về dự, nào ngờ số người về lên gần bảy trăm. Thầy trò trong tỉnh Quảng Tri, trong nước: Sài Gòn, miền Tây, Tây Nguyên, Nha Trang, Đà Nẵng, Huế... Nước ngoài... Bốn phương trời biển lại tìm đến tìm nhau bằng nghĩa khí Nguyễn Hoàng. Hôm ấy trời không mưa, không nắng. Trời còn thiếu gió Lào.  Ngọn gió từng xạc xào trên những rặng liễu trường tôi.

     Chuyện cũ bao giờ cũng mới. Những hồi ức. Những kỷ niệm về thầy, về cô. Về học trò một thời áo trắng, quần xanh lại hiện nguyên mẫu, nguyên hình trong từng câu chuyện kể. Trên ánh mắt. Trên nụ cười. Trong cái siết tay, trong vòng ôm trìu ái, ấm nồng. Thế ai còn? Ai mất? Ai đi đâu? Ai về đâu? Ai làm chi? Những câu hỏi dồn dập. Những câu hỏi ái ngại với thầm mong thầy cô, bằng hữu vẫn bình yên cho dù đang nơi chốn nào xa xôi, giờ đây không có mặt. Mấy chục năm rồi biền biệt. Cách ngăn. Mấy chục năm rồi tưởng không một lần nào gặp gỡ. Nhìn lên mái đầu nhau. Những mái tóc không còn tuyền một màu đen nữa. Sương năm tháng. Muối thời gian đã nhuộm trắng tuổi xuân thì. Rồi lại mi tau. Rồi lại tau mi vô cùng thân ái. Đã có dâu rể, con cháu nội ngoại đầy đàn rồi mà chừ vẫn mi tau. Tình cảm trong ngần thuở học trò đã bắt thời gian lùi lại, lùi lại trong khoảnh khắc thiêng liêng này. Có ai ngờ rằng những cô bé học trò ngây thơ ấy mấy chục năm sau là những bà mẹ, là những mụ gia (bà nhạc), là những bà nội, bà ngoại lại có một ngày như ngày hôm nay, hồn nhiên đứng chải mái tóc xưa trước cổng trường yêu dấu rồi ngẩn ngơ hỏi nhau khi mô mới có cái tên trường Nguyễn Hoàng lại mi hè? Câu hỏi vu vơ ấy với tôi nghe như tiếng thở dài. Biết khi mô cái tên Nguyễn Hoàng quen thuộc, dấu yêu kia mới được tái hiên trên cổng trường. Trước "ba quân thiên hạ". Không gian xưa còn đó. Người người năm trước về đây mà tên trường lẩn khuất nơi mô? Ngẩn ngơ là phải lắm. Nguyễn Hoàng ơi! Tại thời điểm này, khi nhìn hình ảnh những mái tóc dài, mượt với những cánh tay cầm lược chải của các cựu nữ sinh dưới tàng cây trước cổng trường tôi đã cầm lòng không đậu buột miệng kêu lên trời ơi đẹp quá và chạy tới gần, nhìn ngắm cho bằng được. Tôi lại còn kèo nài xin mấy o cho tui chụp ảnh mấy người chải tóc bằng thơ: Cổng trường chải mái tóc xưa. Mi tau cùng ngẩn cùng ngơ... Nguyễn Hoàng...

     Tôi hòa tôi trong dòng người đông tứ xứ, trong mạch nguồn thầy cô và hình dung những gương mặt, giọng nói của các thầy, cô đã từng dạy dỗ tôi là các cô Mai Thị Hảo, cô Bùi Ngọc Lan, cô  Phan Ngọc Lan, cô  Tường Vy, cô Táo, cô Toàn, cô Nhã, cô Nhũ Hương, cô Nhạn, cô Lê Thị Tránh, thầy Nguyễn Đăng Ngọc, thầy Nguyễn Diên... Tôi  hòa tôi trong láng lai tình học trò nhiều thế hệ. Từ đây, trong bối cảnh hội trường đông vui, hòa ái này, tôi cố lắng nghe. Lắng nghe hồn trường. Và hồn trường dường như lung linh, kỳ ảo trong nhịp thở mỗi người. Trong hoài niệm thầy trò. Nhớ lại, thời tôi học. Tiếng máy bay trực thăng lên xuống ầm ào sau sân vận động cách trường bằng một bức tường dài. Âm thanh của chiến tranh. Những giờ học bị ngắt quãng bởi âm thanh ấy. Từ bên trong lớp học, chỉ cần nhướng người lên là có thể chứng kiến những cuộc hành quân xuất phát hay trở về ở sân vận động này. Lớp học tôi thỉnh thoảng vắng một người và có lẽ những lớp học khác nữa trong trường cũng vậy. Lớp học tôi thường thì thầm với nhau khi có người bỏ học lên xanh. Những khoảng  trống thiếu trên bàn học thành những dấu hỏi lớn buồn. Nhức nhối. Những bài thơ của thầy Phan Phụng Thạch viết cho học trò thời chiến xoáy vào tâm thức tôi những dòng xốn xang:

     Rồi một mai nhìn mùa thu trở lại
     Các em về với tuổi thơ hồng?
    Hay cuộc chiến đưa các em đi mãi
    Và trường đời sẽ lắm núi nhiều sông.
    (Lưu bút mùa hạ - Phan Phụng Thạch)

       Hết hồi tưởng, tôi trở về thực tại. Từ một nhóm khác trong đám đông tú xứ ấy, bạn bè đang kháo nhau kể chuyện về những mối tình học trò thơ dại dưới mái ấm Nguyễn Hoàng ngày ấy... Những trường đoạn phim hồi ức được trình chiếu một cách dễ thương, chơn chất mà sinh động. Có mối tình lặng thầm của tay nớ tay kia. Có mối tình nổi tiếng trong thành phố nhỏ. Có mối tình thành trăm năm hạnh phúc chừ đang dắt tay nhau cùng về dự hội trường. Có mối tình dở dang như ả nọ, anh này... Hai ta thương chắc mần ri, mạ cha mần rứa anh thì mần răng? "Mạ cha mần rứa..." chỉ là một trong những lý do thôi. Tuổi học trò chúng mình có biết bao nhiêu điều, biết bao nhiêu chuyện làm cho đôi lứa cách ngăn, không được đến cùng nhau trong cuộc tình dài, đằm thắm. Hồi nớ đến với tình nhau, nhiều lá thư viết vội, vụng về trên trang vở học trò. Lúc giận nhau, lại tìm trả lại thư cho người tình đáng ghét, đáng hờn làm những lá thư tình tung tóe bay trên sân trường đang gió Lào mù bụi. Giờ đây những cuộc tình dang dở ấy lại gặp nhau bồi hồi, xuyến xao, thương cảm. Ôi chao! Những mối tình học trò thơ dại ban đầu thế mà cũng sâu lắng, vương mang. Họ ngại ngần một thoáng khi bạn bè kéo hai người vào chụp chung một khuôn hình. Liệu anh ở nhà có nói chi không? Rồi bà xã ông có ghen không? Ối dào! Chừ thì ai cũng đã có rể có dâu, có cháu, có chắt rồi. Nói chi mà nói. Ghen chi mà ghen. Tìm lại một vầng trăng nhớ. Một áng sao xưa. Một làn hương cũ. Một sắc phượng hồng ngày ấy. Có hề chi. Có can chi cái chuyện tình cảm học trò trong veo giọt nước. Đứng gần bên nhau. Thật gần. Thật gần. Và hãy cười tươi lên nhé. Ta ghi lại khoảnh khắc trang trọng này đi! Vì em ơi! Vì anh ơi! Vì bạn thân yêu ơi! Sau giây phút tái hiệp đoàn viên kỳ diệu này biết chúng mình có còn gặp lại nhau? Tình thơ dại ai ngờ sâu nặng thế. Mai cho dù tóc trắng với ngàn lau...

Trong một góc khuất. Có giọng nói sôi nổi nhắc tên vài người học trò cá biệt nổi tiếng của Nguyễn Hoàng dạo trước. Những người ấy hôm nay không có mặt nơi đây. Họ còn hay mất? Hay đang lang bạt mưu sinh chốn nào xa trên trái đất nầy? Với tôi,  hôm nay,  những người đó vẫn đang về đây trong các mẩu chuyện vui đang được kể về sự phá phách ngang tàng, rất anh chị nhưng trọng tình bằng hữu; ngỗ nghịch, hung hãn nhưng lại vô cùng nghĩa khí. Biết buồn. Biết thương. Biết giận để khi cần họ cũng thành người nghĩa hiệp diệt chằn tinh, bắn đại bàng cứu công chúa như ai.

Một đêm trước ngày họp mặt, sau bữa cơm tối thân mật tình cờ với thầy Nguyễn Viết Trác, thầy Đỗ Tư Nhơn, thầy Lý Văn Nghiên, thầy Lê Hữu Thăng (từ Mỹ về), thầy Phan Khắc Đồ  (Đà Nẵng) và các thầy cô từ Sài Gòn ra, với Tâm, Bích, Hậu, Bằng, Ngữ, Phương... tôi một mình lang thang qua những con đường trong thành phố Quảng Trị. Thành phố một thời nhỏ nhắn, bình yên như tranh lụa đã đùm bọc tôi, nuôi nấng tôi những năm tháng thiếu niên cùng khổ, bần hàn. Tại đây, tiếng rao mì, cà-rem tôi đã từng hòa thanh với tiếng rao của các bạn nghèo cùng trang lứa. Thuở thương nhau áo rách nên lành. Rạp xi-nê Đại Chúng, chùa Sắc Tứ, chùa Tỉnh Hội, nhà thờ La Vang... là những tên gọi thân quen, thùng cà-rem của tôi thường được hết nhanh từ đây. Phòng Đọc sách Công giáo tiến hành cũng là nơi tôi hay tới vùi đầu vào những trang truyện Tàu hấp dẫn, lôi cuốn để cố quên mình đã có năm năm dài thất học. Đêm ấy, tôi còn thơ thẩn trên con đường Quang Trung, Trần Hưng Đạo, Phan Bội Châu... cũ, độc hành dọc dòng sông Thạch Hãn - con đường Gia Long ngày trước với áo dài trắng Nguyễn Hoàng về chợ Sãi trong mỗi trưa, chiều tan học, với sắc phượng đỏ thắm gợi tứ cho tôi viết bài thơ Nơi con sông khi trở lại thành phố có chiều sâu kỷ niệm đã bị bom đạn chiến tranh tàn phá. Thành  phố - mối tình đầu hóa thân làm một. Mối tình đầu - thành phố đan quyện, nhức nhối, dằn xé tâm thức tôi trong mỗi đêm mơ. Đổ nát rồi thành phố thuở chiến tranh. Anh tiếc nuối thương từng con đường nhỏ. Như có máu trong màu hoa phượng đỏ rơi xuống đời từng mảnh đau thương. 

   Lại nhớ. Quảng Trị những mùa tranh đấu. Như mới hôm qua đây thôi. Quảng Trị bừng lên giữa mùa pháp nạn 63 rồi các mùa đấu tranh 64, 65, 66... Đấu tranh chống bạo quyền, đấu tranh chống bất công áp bức. Đấu tranh vì một ngày mai hòa bình, thống nhất. Và hôm nay đất nước mình đã thống nhất, hòa bình. Thầy và trò Nguyễn Hoàng chắc chắn đã có một quá khứ hào hùng, góp phần chung tay trong việc làm đổi thay vận nước. Thuở bằng hữu lên xanh thương người ở lại. Xuống đường. Hào khí tiếng loa vang. Quảng Trị rung lên mấy mùa tranh đấu. Em bên anh. Sát cánh Nguyễn Hoàng.

       Những câu chuyện tâm tình. Những hồi ức, những màn chụp ảnh quay phim cứ kéo dài không chịu dứt dưới khung trời râm mát trước hội trường. Ban tổ chức phải mời gọi nhiều lần đến khan giọng trên loa phóng thanh, gần bảy trăm con người ta mới chịu vào để tiến hành lễ gặp mặt chính thức. Trước phần đọc diễn văn, phát biểu của các thầy, cô, của các đoàn Thành phố Hồ Chí Minh, Huế,  Đà Nẵng... ban tổ chức đã bố trí một chương trình văn nghệ chào mừng phong phú để tạo không khí gồm các tiết mục cây nhà lá vườn thật dạt dào tình. Hay quá! Vui quá! Tiếng hát lời ca, giọng ngâm thơ của thầy, cô và trò đã ngân lên những hợp âm đồng điệu và từng độ rung truyền cảm, tâm huyết. Tất  cả được phát đi từ tiếng lòng rất mộc. Rất thật. Rất trẻ. Đã già rồi mà tiếng-hát-học-trò-một-thuở có già đâu!

       Điều làm tôi xúc động nhất là khi toàn thể mọi người có mặt trong hội trường chợt trầm, chợt trang nghiêm hẳn đi khi có một phút tĩnh mặc dành tưởng niệm về các thầy cô và học trò đã vĩnh viễn ra đi, hôm nay không hiện diện nơi đây. Lắng lòng lại thật sâu. Định tâm. Định huệ thật vi tế để vầng sáng đồng môn, sư đệ hồi quang giữa đất trời xứ Quảng thương yêu xua tan mọi dị biệt, mọi rào cản, mọi hoàn cảnh sống mà thầy, mà cô, mà học trò Nguyễn Hoàng đã sống, đã trải nghiệm; để chừ đây, trong không khí thuần khiết, vô ngại này thầy và trò chúng ta cùng thầm gọi lên hai tiếng thiêng liêng:  Nguyễn Hoàng!

Quá khứ đẹp câu hò Ái Tử
Nơi tiền nhân khai mở nước non nhà
Tên Nguyễn Hoàng đã hồng trang sử
Lại nhân từ trong tâm khảm học trò quê.

            Niềm vui của người về dự hội trường được trọn vẹn hơn khi có chương trình thể hiện tinh thần uống nước nhớ nguồn, tôn vinh ơn nghĩa các thầy cô đã một đời hy sinh, tận tụy dạy dỗ các thế hệ trẻ "ngày nay học tập, ngày mai giúp đời". Những ánh mắt học trò ngời lên niềm ngưỡng mộ kính yêu cùng hướng lên thầy cô đang nhân hậu môi cười. Những đài hoa thắm sắc, tỏa hương dâng tặng thấy cô trong xanh nguồn ân đạo. Phần tặng quà lưu niệm đến một số cựu học sinh Nguyễn Hoàng có hoàn cảnh khó khăn hiện nay trong cuộc sống cũng là một điểm nhấn quan trọng làm xúc động mọi người. Nguyên ơi! Tôi đã không giấu được khoảnh khắc mềm lòng của mình khi ướt mắt nhìn em với tà áo dài trắng trinh thơ đang nghẹn ngào, thổn thức trên chiếc xe lăn trong vòng tay bè bạn, anh em... Khi ấy tôi rất muốn em, Băng Tâm, em Tiên, chị Thúy, anh Ngân, anh Châu... trở lại một thời áo lam trên đồi La Vang lộng gió chiều chơi trò chơi lớn. Cỏ may chạm vào áo, chích vào tuổi thơ những cọng hồn nhiên. Nhưng không thể được rồi. Thương dĩ vãng qua rồi không trở lại. Từ một chéo sân trường, tôi chỉ biết thầm cầu nguyện cho em Nguyên và tất cả chúng ta thân tâm thường an lạc! Cầu nguyện tên trường Nguyễn Hoàng luôn là sợi chỉ điều bền bỉ và bao dung xâu kết chúng ta thành một chuỗi ngọc lành. Và chúng ta cũng phải ra sức trân trọng, bảo bọc, giữ gìn sợi-chỉ-điều-bảo-bối kia em nhỉ?

      Trong không khí trang trọng của buổi gặp gỡ, điều quý báu nữa đáng lưu tâm là nội dung các phát biểu trình bày trước hội trường. Hầu hết các bài viết đã phản ánh, thông tin tương đối đầy đủ, trung thực về sự nỗ lực không ngừng trên nhiều lĩnh vực của các thế hệ cựu giáo chức, học sinh Nguyễn Hoàng đang ở bên trong và ngoài tổ quốc. Các ban liên lạc, các hội ái hữu Nguyễn Hoàng được thành lập ở nhiều nơi, các ấn phẩm văn học nghệ thuật, các đặc san về trường Nguyễn Hoàng trong nước và hải ngoại được phát hành tạo nên những mối dây thân ái, nghĩa tình bền chặt, phần nào thỏa mãn nhu cầu nhớ, thương, hoài niệm của nhiều người dành cho ngôi trường Nguyễn Hoàng có quá nhiều chiều sâu, độ dày kỷ niệm. Bên cạnh những thành đạt sự nghiệp về kinh tế, chính trị, xã hội, giáo dục, y tế, khoa học kỹ thuật, văn học nghệ thuật... nhiều người thầy, cô, cựu học sinh Nguyễn Hoàng đã đào tạo, nuôi dưỡng con cháu noi gương cha ông trên các mặt: học hành xuất sắc, đời sống mẫu mực, đạo đức, làm ăn giỏi, có hiệu quả cao trên các ngành kinh doanh, thương trường, khoa học kỹ thuật, xã hội nhân văn, công nghệ thông tin... đóng góp nhiều công sức cho cộng đồng, nơi mình đang học tập, làm việc, sinh sống... Một mặt tích cực khác, tinh thần, tình cảm hướng về Quảng Trị quê nhà yêu dấu của thầy và trò Nguyễn Hoàng đang ngày càng tỏa sáng. Một số công trình văn hóa giáo dục, các dự án kinh tế đang được triển khai thực hiện trên quê nhà với ước muốn làm một chút gì đó, dù bé nhỏ cho mảnh đất mà mình đã từng học tâp, từng gắn bó. Việc huy động các nguồn quỹ học bổng dành cho học sinh xuất sắc của tỉnh Quảng Trị cũng đã và đang được thầy trò Nguyễn Hoàng quan tâm thực hiện từ nhiều năm nay. Của ít tình đầy. Tuy chưa là bao trong cái khó khăn chung của xứ sở, nhưng bạn ơi đó là cả trời thương, biển nhớ! Thời gian tới, sau cuộc hội ngộ lịch sử này chúng ta hy vọng, tin tưởng các thầy cô giáo, cựu  học sinh Nguyễn Hoàng bằng tâm huyết của mình sẽ có nhiều hoạt động ái hữu thiết thực hơn nhằm huy động có hiệu quả các nguồn tài lực, xây dựng thêm nhiều quỹ học bổng hiếu học cho tuổi  trẻ học đường của quê nhà. Riêng trong sáng hôm nay, hình ảnh các thầy cô, học trò Nguyễn Hoàng tươi cười, chen chúc nhau thả phong thư vào thùng gây quỹ học bổng từ năm 2007 về sau đã tạo thêm cho toàn cảnh một nét sinh động, đầy hứa hẹn.

      Trong buổi lễ hội trường trang trọng, ấm áp tình đồng môn, khi nhìn các em nữ sinh xuất sắc của trường Trung học phổ thông Thị xã Quảng Trị lên nhận phần thưởng trong tà áo dài trắng tinh khôi, không dưng lòng tôi bồi hồi, xuyến xao một tí. Tôi thoang thoáng có cảm giác mình trẻ lại thời đi học. Dễ thương, hiền thục và học giỏi quá các thế hệ học trò con gái xứ Quảng của tôi ơi! Cơ chi trên những tà áo dài trắng nguyên sơ kia của các em gái quê nhà chừ mang cái bảng tên trường Nguyễn Hoàng thì tôi và các thầy cô, học trò Nguyễn Hoàng cũ bốn phương tám hướng hạnh phúc biết bao! (Thật ra, tôi thầm biết tại không gian, thời điểm gặp gỡ đáng giá nầy, từ trong sâu thẳm thâm tâm thầy và trò Nguyễn Hoàng cũ ai cũng muốn trên cho khôi phục lại tên trường Nguyễn Hoàng nhưng còn e ngại, chưa chính thức kiến nghị, đề xuất. Và tôi cũng thầm trực nhận rằng lãnh đạo tỉnh Quảng Trị cũng đã hiểu, cảm thông trước nguyện vọng rất chính đáng, chí cốt, thiết tha ấy bấy lâu nay của chúng ta. Chúng ta cứ hy vọng và chờ đợi!). Chạnh lòng, bâng khuâng tôi nhớ câu chuyện kể của thầy Hiệu trưởng Thái Mộng Hùng mà tôi được đọc trên trang web http://www.nguyenhoang.org của Hội Ái hữu Nguyễn Hoàng Bắc California (Mỹ): Sau năm 1975, ông Nguyễn Hữu Kiểm, người Quảng Trị vào định cư tại Bà Rịa - Vũng Tàu khi đi mua nông sản ở một vùng quê Bà Rịa, tình cờ thấy trên dây phơi nhà một thiếu phụ nghèo có tà áo trắng còn mang nguyên cái bảng tên trường Nguyễn Hoàng.  Ông Kiểm vô cùng xúc động trước việc người thiếu phụ đồng hương nghèo lưu lạc kia đã trân trọng nâng niu tà áo dài còn nguyên bảng tên trường của mình học thời con gái ở quê nhà. Chuyện xảy ra đã lâu, đến năm 1999, ông Kiểm đã viết thư kể chuyện với thầy Thái Mộng Hùng và kèm một bài thơ về tà áo dài trắng Nguyễn Hoàng mời thầy cảm tác:

ÁO TRẮNG NGUYỄN HOÀNG

Bài xướng:

Tuổi dại thuở nào áo trắng bay
Ai về lướt thướt dưới heo may
Phố xưa Quảng Trị đâu rồi nhỉ?
Bạn cũ Nguyễn Hoàng hỡi có hay!
Sách vở đã xa từ dạo ấy
Ruộng vườn theo mãi đến hôm nay
Mái đầu điểm trắng bàn tay trắng
Áo trắng xưa còn cất mãi đây.
       LINH ĐÀM  NGUYỄN HỮU KIỂM


Bài cảm tác:

Rong ruổi miền quê một sớm mai
Phất phơ áo trắng giữa vườn ai
Đôi tà trinh bạch màu như mới
Hai chữ Nguyễn Hoàng nét chửa phai
Trường cũ đã xa từ dạo ấy
Áo dài còn giữ đến hôm nay
Xốn xang hồi ức thời thơ mộng
Thơ thẩn đường về mắt thoáng cay.
   THÁI MỘNG HÙNG


Kết thúc buổi hội trường là bữa cơm thân mật. Chắc chắn không có ai trong chúng ta ngờ được rằng mình sẽ có được một lần ngồi bên nhau ăn cơm uống nước ngay trên mảnh đất trường Nguyễn Hoàng tọa lạc ngày xưa. Hôm nay đây, đúng là bữa cơm hy hữu, độc đáo. Mà chỉ thầy, cô, học trò Nguyễn Hoàng mình mới có chuyện hy hữu ni thôi. Đúng là ba mươi lăm năm mới có cuộc vui này. Xin kính mời thầy cô! Nào! Xin mời các bạn! Nâng ly! Nâng ly! Nâng ly mừng hội ngộ. Nâng ly thương tưởng các thầy cô, anh chị em bạn bè ta hôm nay không có mặt. Nâng ly trân trọng đón mời dĩ vãng quý yêu từ mái trường xưa về thắp lửa trên lòng ta từng kỷ niệm buồn vui, sướng khổ học trò. Nâng ly! Nâng ly với nguồn hy vọng tràn trề cùng niềm tin yêu dành cho các thế hệ học trò đàn em thân yêu từ hiện tại này đến tương lai luôn học hành xuất sắc, tài năng, thành đạt và đức hạnh, mai lớn khôn chung tay xây dựng Quảng Trị quê nhà phồn vinh, giàu đẹp. 

Nâng ly! Nâng ly! Và đừng nói lời tạm biệt. Đừng nói lời tạm biệt. 

Nguyễn Hoàng ơi! Nguyễn Hoàng ơi! Hẹn nhé một ngày về!

Bạn đi rồi đâu phải đã chia tay!                                           

                                               
Huế, 1-8-2007.
VÕ QUÊ
READ MORE - CỔNG TRƯỜNG CHẢI MÁI TÓC XƯA - Võ Quê

Friday, December 28, 2012

“ĐỂ MÀ ĐI…” VIẾT NHỮNG TRANG ĐỜI - Võ Quê


                                                                                      
         Một ban mai bình yên, từ Huế vui mừng nhận tập sách “Bên triền sông Ô Lâu”, tản văn của nhà báo Hồ Sĩ Bình, NXB Hội Nhà Văn (10.2012).

     “Cảo thơm lần giở” từng trang… mới hay đây là 39 bài viết được chia làm 2 phần: Tạp bút – Tản văn (30 bài) và Những trang rời (9 bài), đã được đăng trên các báo Tuổi Trẻ cuối tuần, Tuổi Trẻ Chủ nhật, Cửa Việt, Thanh Niên, Thanh Niên Chủ nhật, Tuyển tập nhà văn Việt Nam thế kỷ XX-NXB Hội Nhà Văn, VNtimes, baodulich.net.vn, Doanh nhân cuối tuần, Đà Nẵng cuối tuần, Tạp chí Nhà Đẹp, Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online, Tạp chí Văn hóa Phật Giáo… Sở dĩ tôi kê đầy đủ tên các báo trên là muốn nói lên rằng với bút lực sung mãn, giàu sức sống Hồ Sĩ Bình đã tạo cho mình một chỗ đứng đầy uy tín đáng trân trọng trên làng báo chí trong cả nước.

Họa sĩ Hoàng Đăng Nhuận và nhà báo Hồ Sĩ Bình. Ảnh NKP
     Sinh trưởng từ Võ Thuận, một ngôi làng ở Triệu Phong, Quảng Trị, Hồ Sĩ Bình đã được tưới tắm biết bao nhiêu tình tự quê nhà dấu yêu một thuở; thấm đượm hồn phù sa chơn chất nhân văn dân dã từ mạch nguồn sông Hãn non Mai để từ ấy thành chất liệu sống linh hoạt, phong quang cho những trang đời anh thể hiện rất vi tế, giàu cảm xúc. Từng mảng hồi quang lung linh đa sắc từ thiên nhiên, cây cỏ, lá hoa, từng buồn vui phận người đất Quảng đều được Hồ Sĩ Bình chắt chiu, trân trọng trong từng trang viết, các tản văn sau đây đã phản ảnh trung thực hồn văn của Hồ Sĩ Bình: “Phố cây bàng”, “Hoang hoải chạt chìu”, “Lão mai của nội”, “Bên triền sông Ô Lâu”, “Sông hoa thành cổ”, “Những người sống với thủy thần”, “Nơi miền đất cù lao”… Và cũng chính từ chốn cũ thân quen mộc mạc ruộng đồng ấy mà khi trở về Hồ Sĩ Bình đã cảm nhận được nguồn thương cảm, sâu sắc, lắng đọng trong đời  rồi tiếc nuối: “cuộc sống đô thị quen cân đong đo đếm nên khi cận kề với nỗi lòng dân dã chân thật đến kỳ lạ mới ngộ ra rằng: ta đã đánh mất nhiều thứ tình cảm quý giá trong đời.”

“Quê quán ơi!
Bao lần trở lại
Trở lại bao lần
Cũng chỉ để mà đi”
   (Hồ Sĩ Bình)

     “Để mà đi…” Nhưng những cuộc đi của Hồ Sĩ Bình không phải là hành trình vô định. Vốn sống thực tế qua các lần lang bạt kỳ hồ đến nhiều miền, nhiều xứ từ đô thị phù hoa đến nông thôn hẻo lánh trên quê Việt trong tư thế một nhà báo, Hồ Sĩ Bình đã lần lượt gởi đến bạn đọc muôn phương những tản văn lôi cuốn, sinh động với đầy đủ vị, sắc, thanh, hương… Mỗi địa danh Hồ Sĩ Bình nhắc đến trong tập sách “Bên triền sông Ô Lâu”đều gợi lên trong người đọc một cảm giác chung nhất là rất sống động, đầy tình, giàu hình ảnh cùng những nhận định tinh ý có triết lý về người, về đời, có phản biện trước các vấn đề xã hôi đang quan tâm, chú ý; giúp người đọc hiểu, cảm và mong một lần tìm đến từng địa danh kia để cùng chan hòa mạch sống, để cùng được trải nghiệm, thưởng thức, đồng cảm với các giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể được định hình từ quá khứ cũng như đang được gieo hạt, ươm mầm từ hiện tại này. Các tản văn “Ký ức xe ngựa”, “Đảo chuông Bà Nà”, “Bụi phấn Đắc Nông”, “Đau với sông Hoài”, “ Ngọn đèn năm cũ”, “Tiếng gọi đò Ca Cút”, “Tâm cảm với rượu cần”, “Đường xưa áo lụa”, “Nỗi nhớ hoa hồng”, “Hẹn mùa hoa gạo đỏ”, “Dinh trấn Ái Tử và Trấn Đàng Trong, “Nếp làng xưa ở hạ nguồn Hương Giang”, “Miếng ngon ở hè phố Hội An”… với bút pháp tài hoa của Hồ Sĩ Bình đã thành những bức tranh đẹp, chân thực có sự tương phản sáng, tối của cảnh; có trong, đục, buồn, vui, cảm hoài, khát vọng của người ở nơi chốn anh qua.

Nhà báo Hồ Sĩ Bình và Võ Quê
Do có mối quan hệ chân thành, mật thiết trải lòng với bạn bè thân hữu thuộc giới văn nghệ sĩ trong quá trình sống, đi và viết, Hồ Sĩ Bình đã làm cho người đọc thấy sự trang trọng, trìu ái, đồng điệu, thâm tình của anh khi viết về các tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường: “Hoàng Phủ Ngọc Tường và nỗi đam mê phiêu lãng”, Nguyễn Ngọc Hưng: “Vịn câu thơ đứng dậy”, Đinh Tấn Phước: “Thơ nhặt vội trên đường”, Hoàng Đặng: “Họa sĩ Hoàng Đặng – Đời vẽ tôi , tên mục đồng”,  Phan Ngọc Minh: “Huế và Minh”,  Đông Trình: “Những bài thơ viết dưới giàn hoa giấy”… Sáu nhân vật tài danh trên đã được anh tái hiện một cách trung thực, thành tâm giúp người đọc cảm nhận sâu sắc về nhân thân, tính cách, tài hoa của từng nhà văn, nhà thơ, họa sĩ. Tôi tâm đắc với Hồ Sĩ Bình khi đọc những dòng anh viết về nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường: “Anh Hoàng Phủ Ngọc Tường cùng quê Quảng Trị với tôi, từng có lần tâm sự rằng: “Đất Quảng Trị mình lạ lắm, Hồi mình làm Cửa Việt, người Huế thường về ven thành cổ để mua chanh trong khi Huế không thiếu chanh vì chanh ở mình chua lắm. Tiêu Khe Sanh thì cay và thơm nổi tiếng, ớt thì thuộc loại cay nhất nước ở Triệu Phong, Cam Lộ, còn thơm không đâu ngọt bằng Tân Lâm. Mình là người đã lớn lên, bản chất đã mang nặng tận cùng cái cay đắng, ngọt bùi của quê hương, đã sống thì phải sống đến cùng”. Và cũng nói theo ngôn ngữ của anh. Nỗi buồn là mái nhà nơi mà thi sĩ cư ngụ, có lẽ đằng sau mọi cái làm nên con người anh còn phải kể đến là nỗi buồn vạn cổ”.

     Một ban mai bình yên, từ Huế đọc tập sách “Bên triền sông Ô Lâu”, tản văn của nhà báo Hồ Sĩ Bình. Đọc xong, tôi thầm hẹn: “Ô Lâu, mai mốt tôi về! Thời niên thiếu, mình đã từng là học trò đất Quảng…”

VÕ QUÊ
Huế, Noel 2012
voque_hue@yahoo.com.vn

READ MORE - “ĐỂ MÀ ĐI…” VIẾT NHỮNG TRANG ĐỜI - Võ Quê

Thursday, December 27, 2012

NGHỆ SĨ ĐÌNH HẠP: NỈ NON SÁO TRÚC, NHỊ CẦM - Võ Quê

Nghệ sĩ ĐÌNH HẠP



Nghệ sĩ Đình Hạp sinh năm 1938 tại làng Tả Kiên, xã Triệu Giang, huyện Triệu Phong, Quảng Trị. Từ nhỏ, Đình Hạp có năng khiếu âm nhạc khi được tiếp cận với các sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, tế lễ tại các đình, đám ở trong làng, xã quanh vùng. Do gia đình có truyền thống hoạt động cách mạng, đã có nhiều cống hiến vào các phong trào kháng chiến chống Pháp nên tình yêu nước, tình yêu quê nhà cũng được nung nấu, hình thành trong tuổi thơ Đình Hạp cho đến lúc lớn khôn.

Năm 17 tuổi (1955) Đình Hạp đã cùng người anh ruột vượt tuyến ra Bắc với tâm nguyện góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân, dành độc lập tự do, thống nhất tổ quốc. Xuất phát từ niềm say mê âm nhạc, trong khi ông anh theo học ngành múa thì năm 1958 đình Hạp thi vào ngành trung cấp nhạc dân tộc tại Trường Quốc gia Âm nhạc Việt Nam. Trong ba năm theo học ở nhà trường, Đình Hạp chuyên tâm rèn luyện hai loại nhạc cụ dân tộc là đàn nhị và sáo trúc, tập trung học hỏi phương pháp ký âm nhạc dân tộc.

Năm 1961, vừa tốt nghịêp trường Quốc gia Âm nhạc, Đình Hạp xin vào công tác tại Đoàn Ca kịch Trị Thiên (nay là Nhà hát Nghệ thuật Ca kịch Huế) đang đóng tại Mai Dịch, Từ Liêm Hà Nội, trong khi người anh của Đình Hạp đã là giảng viên Trường Múa Việt Nam. Trong quá trình ở Đoàn, Đình Hạp đã có điều kiện thực hành sở học nhà trường vào môi trường mới. Đình Hạp đã cùng các đồng nghiệp thường xuyên gặp gỡ, trình tấu, rèn luyện kỹ năng các nhạc cụ. Âm thanh réo rắt của đàn nhị, tiếng véo  von thanh thoát của sáo trúc cùng hòa âm với các ngón đàn của các nhạc hữu khác đã giúp Đình Hạp định hình tài năng cùng thực tiễn sân khấu, ca kịch Trị Thiên. Tại Đoàn, Đình Hạp căn cứ vào tính năng của từng loại nhạc cụ, các bài bản lớn của ca Huế, dân ca Bình Trị Thiên mà viết những bài nhạc cho riêng từng loại đàn tranh, tỳ bà, nguyệt cầm, nhị hồ... Đình Hạp đã có những thành công nhất định khi viết nhạc nền cho một số vở ca kịch Huế như "Con gà chân chì", "Phụng Nghi Đình", "Hoãn cưới" cùng nhiều hoạt cảnh ca kịch khác; Bên cạnh việc viết nhạc nền, Đình Hạp còn viết lời ca để nghệ sĩ Văn Lang đưa vào một số vở ca kịch Huế.

Việc sưu tầm, chỉnh lý, ký âm các điệu lý, dân ca lưu truyền trong dân gian từ trước đến nay là một trong những mối quan tâm của Đình Hạp. Anh đã chịu khó sưu tầm loại hình âm nhạc thuộc nhóm "nồi niêu", những bài bản "Xàng xê kép", "Lai kinh", "Chiến chiến", "Bông man", "Cơn roi mây tắt" ...  Nhiều đồng nghiệp, nhạc hữu ghi nhận công lao khó nhọc đầy trách nhiệm của Đình Hạp trên lĩnh vực này bởi qua các công trình nghiên cứu, sưu tầm, ký âm của Đình Hạp một bộ phận âm nhạc truyền thống trong dân gian không bị thất truyền mà được phục hồi, truyền bá một cách có hệ thống, phục vụ kịp thời các yêu cầu thưởng ngoạn của công chúng.

Năm 1964, nghệ sĩ Đình Hạp bắt đầu có một mối tình nghệ sĩ với Kim Vàng, diễn viên đoàn Ca kịch Trị Thiên cùng chung một sàn diễn với Đình Hạp. Mối tình đẹp đẽ ấy kéo dài đến 6 năm với nhiều kỷ niệm xuân thời. Năm 1970, Đình Hạp - Kim Vàng chính thức làm lễ cưới tại Hà Nội và họ đã sinh hạ được hai người con gái mà hiện nay đã trở thành hai nghệ sĩ : Mai Anh (đàn tranh), Mai Sao (diễn viên) đều đang công tác tại Nhà hát Nghệ thuật Ca kịch Huế. Từ năm 1980, nghệ sĩ Đình Hạp đã được Trường Nghiệp vụ Văn hóa tỉnh Thừa Thiên Huế mời giảng dạy âm nhạc cho nhiều thế hệ trẻ. Đã có nhiều học trò của Đình Hạp thành đạt sau khi ra trường, trong đó có nhạc công trẻ Minh Tuấn, hiện đang sử dụng đàn nhị ở Nhà hát Nghệ thuật Ca kịch Huế. Năm 1985, Đình Hạp ra công tác tại Phòng Văn Hóa Thông Tin Thị xã Đông Hà, tại đây dù đang trong giai đoạn gia đình gặp hoàn cảnh khó khăn nhưng Đình Hạp đã góp phần tích cực trong việc xây dựng các phong trào văn hóa văn nghệ tỉnh Quảng Trị.

Sau khi ở Đông Hà một thời gian, Đình Hạp trở lại Huế cùng gia đình tham gia sinh hoạt nghệ thuật cùng CLB ca Huế thuộc Nhà Văn Hóa Huế. Đêm đêm du khách trong và ngoài nước có dịp thưởng thức những giai điệu đẹp từ cây đàn nhị của Đình Hạp cùng hòa âm với giọng ca ngọt ngào của các nghệ sĩ Ca Huế.

Do có quá trình hoạt động cách mạng, hoạt động trên lĩnh vực nghệ thuật, nghệ sĩ Đình Hạp đã được Nhà Nước tặng Huân chương Kháng chiến hạng III, Huy chương Chiến sĩ văn hóa, Bằng khen Bộ Văn Hóa Thông Tin, UBTQLHCHVHNT Việt Nam tặng Huy chương Vì sự nghiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam... Hiện nay, gia đình nghệ sĩ Đình Hạp là một "mái ấm nghệ thuật" đúng nghĩa vì từng thành viên trong ngôi nhà ấy đã đi đúng định hướng của các nghệ sĩ lão thành thuộc thế hệ trước trong gia tộc. Tất cả một lòng cùng giới nghệ sĩ Huế ra sức bảo tồn, truyền bá đàn ca Huế, Ca kịch Huế, dân ca Bình Trị Thiên…

VÕ QUÊ
voque_hue@yahoo.com.vn
READ MORE - NGHỆ SĨ ĐÌNH HẠP: NỈ NON SÁO TRÚC, NHỊ CẦM - Võ Quê

Saturday, June 30, 2012

NGHỆ SĨ HỒNG TUYẾT: "SÂN KHẤU LÀ CHỖ ĐỨNG, KHÁN GIẢ LÀ NIỀM VUI" - Võ Quê

Nghệ sĩ Hồng Tuyết quê ở làng Văn Quỳ, xã Hải Phong, huyện Hải Lăng, Quảng Trị nhưng lại được sinh ra tại rạp hát Thái Mộng Đài (thành phố Vinh) vào ngày 20.10.1942 và sống những ngày thơ ấu cho dến lúc trưởng thành ở Huế. Xuất thân từ một gia đình nghệ thuật; Hồng Tuyết đã tiếp thu những giá trị nghệ thuật ca Huế từ người cha vốn là một nghệ nhân đàn nhị tài danh lúc bấy giờ. Khi còn là một cô bé 5,6 tuổi Hồng Tuyết thường được thân sinh cho di theo dự các buổi ca tri âm trong một số gia đình nhạc hữu hoặc những chương trình ca kịch Huế của các gánh hát biểu diễn trong thành phố Huế hay các vùng phụ cận. Từ những môi trường nghệ thuật đàn ca, ca kịch Huế cộng thêm sự dẫn dắt, truyền dạy các làn điệu ca Huế của thân sinh, Hồng Tuyết thấm nhuần, say mê rồi gắn bó một đời với bộ môn âm nhạc cổ truyền dân tộc ấy.

Năm 1957, Hồng Tuyết được tuyển vào Đoàn Ca Kịch Trị Thiên. Tại đoàn, bên cạnh sự dìu dắt của người cha đang phục trách dàn nhạc của đoàn, Hồng Tuyết còn may mắn được sự dạy dỗ, đào tạo ca Huế, các vũ đạo, cách biểu diễn sân khấu ca kịch …của các nghệ sĩ Ngọc Yến, Kim Oanh, Mộng Điệp, Kim Tha, Xuân Thiệu. Sau hơn một năm học tập, rèn luyện kỹ năng, Hồng Tuyết được đoàn  phân một số vai chính như: vai Điêu Thuyền ( vở Lã Bố hí Điêu Thuyền), vai Phúc (vở Ánh sáng mùa Thu của Ngọc Hùng), vai Mai (vở Người vợ miền Nam của Nguyễn Lượng), vai Bạch (vở Cây thanh trà của Lưu Trọng Lư), vai bà Thân ( vở Con gà chân chì của Châu Thành-Văn Lang), vai Lệ (vở Sông Hương từ ấy của Lưu Trọng Lư), vai Xiêm (vở Viên đạn súng kíp, Văn Lang chuyển thể từ Dấu chân người lính của nhà văn Nguyễn Minh Châu)…Theo Hồng Tuyết, khi đảm nhận các vai diễn trên, Hồng Tuyết đã rất tâm huyết thể hiện, nhập vai và đã cố vận dụng các sở học để luôn sáng tạo trong quá trình biểu diễn, chính sự kiên trì nỗ lực đó đã được các đạo diễn, nghệ sĩ trong đoàn và khán giả chấp nhận, quý mến. Bên cạnh những vai diễn chính, Hồng Tuyết còn tham gia bất cứ vai phụ nào mà đoàn phân công và cho dù là vai phụ nhưng Hồng Tuyết đều nghiêm túc tìm cho mình một phong cách biểu diễn riêng.

Thời gian công tác ở đoàn, ngoài việc biểu diễn, Hồng Tuyết còn tham gia dàn dựng một hoạt cảnh cho tốp ca nữ thể hiện tổ khúc “Nón quê em”, tiết mục này đã dược trình bày nhiều lần trong và ngoài nuớc với hiệu quả nghệ thuật cao; Hồng Tuyết cùng các ban văn nghệ nghiệp dư của một số cơ quan, đoàn thể dàn dựng các vở ca kịch phục vụ những cuộc hội diễn tỉnh, thành phố ; huấn luyện nghiệp vụ cho tốp diễn viên Đoàn B từ Quảng Trị ra xóm Cát, Vĩnh Linh học kịp trở vào phục vụ chiến trường (thời gian học 1 tháng hồi tháng 10.1966). Từ sự gắn kết lâu năm với ca Huế, ca kịch Huế cũng như Kim Vàng, Thái Hùng, Hồng Tuyết đã sáng tác, soạn lời nhiều bài ca Huế, điệu lý, hò…được phát trên các đài phát thanh, truyền hình tỉnh, khu vực và trung ương.

Từ tâm niệm “Nghệ thuật bao giờ cũng thanh xuân và chưa bao giờ tôi thỏa mãn với cái mình đã có, luôn say mê với nghề, tự rèn luyện bản thân, học hỏi bè bạn, cố gắng vươn lên với mong muốn phục vụ nhân dân nhiều hơn nữa…Khi mới vào nghề, tôi đã xác định cho mình con đường nghệ thuật là lẽ sống và thường nói với bạn bè rằng chỗ sân khấu là chỗ đứng, khán giả là niềm vui…”cho nên đến lúc nghỉ hưu (1982) và những năm về sau Hồng Tuyết vẫn tiếp tục hoạt động trên lĩnh vực, sân khấu ca kịch Huế, ca Huế. Hồng Tuyết được mời biểu diễn tại Hải Phòng, Nam Hà, Hà Tây, Hà Bắc, Hòa Bình, Phan Thiết, TP. Hồ Chí Minh…Thời gian ở Hà Nội, Hồng Tuyết đã hợp đồng với Đài Tiếng Nói Việt Nam phụ trách chuyên môn dựng một số tiết mục trích đoạn và kỹ thuật ca lý cho Tổ ca Huế đoàn ca nhạc của đài; Ban Liên lạc Đồng hương Thừa Thiên Huế, nhiều phường, quận, huyện tại Hà Nội liên tục yêu cầu biểu diễn. Hồng Tuyết được trường mù Nguyễn Đình Chiễu (Hà Nội) tham gia giảng dạy dân ca từ năm 1990 đến 1995.

Hiện nay, khi trở về sinh sống ở Huế, hoạt động ca Huế của Hồng Tuyết vẫn sôi nổi, phong phú. Hồng Tuyết được Trường Văn Hóa Nghệ thuật tỉnh mời giảng dạy dân ca, ca Huế, Đoàn Ca Kịch Huế mời tham gia cố vấn kỹ thuật ca lý cho các chương trình biểu diễn trong nước và Trung Quốc (2003); Hồng Tuyết được nhiều thế hệ học trò theo học ca Huế và một số em được thành danh. Về con cái, Hồng Tuyết có niềm vui lớn vì ba người con đã nối nghiệp nhà: Minh Tiến, nghệ sĩ đàn bầu tài hoa của Đoàn Ca Kịch Huế, Hồng Thu, Hồng Thanh là những ca sĩ đang có những cống hiến nhất định vào việc bảo tồn và phát triển loại hình đàn, ca Huế.

Với một quá trình hoạt động sân khấu ca kịch, ca Huế, Hồng Tuyết đã nhận được huy chương Chiến sĩ văn hóa, huy chương Vì sự nghiệp văn hóa quần chúng của Bộ Văn hóa Thông tin, 3 huy chương vàng trong các liên hoan nghệ thuật (1986, 1990, 1992) cùng nhiều bằng khen khác ngành, Hồng Tuyết xứng đáng với lời thơ tặng của một tri âm tại Hà Nội vì đã có cuộc đời nghệ thuật sinh động từ Huế đến Hà Nội và trên mọi miền đất nước:
               
Mừng nước non qua mấy dặm trường
Bạn hòa dòng Nhị quyện dòng Hương
Hồng tươi sắc thắm, hoa lộng lẫy
Tuyết điểm đầu xanh, đẹp tóc sương

Võ Quê
www.voque.org


ĐỌC THÊM

Nghệ sĩ Hồng Tuyết - Giọng ca một thời

Tình yêu Ca Huế trong bà đã trở thành máu thịt, cần thiết hàng ngày như hơi thở, như cơm ăn, nước uống. Ca Huế đã nuôi dưỡng tâm hồn bà, Ca Huế là chất men sống của bà trong suốt hơn 50 năm qua.
  Những giọng ca vàng của Ca Huế một thời nay họ đang làm gì? Câu hỏi ấy ít nhất một lần đã đến với mỗi chúng ta khi nghĩ về những người đã giữ nhịp cầu ca Huế từ những tháng năm trầm lắng để có bước thăng hoa của Ca Huế hôm nay. Trong số những gương mặt nghệ sĩ vang bóng một thời của ngày xưa ấy, hôm nay, chúng tôi xin giới thiệu đến quý vị và các bạn nghệ sĩ Hồng Tuyết- người đã có hơn 50 năm gắn bó cùng ca Huế với một giọng ca đặc biệt riêng và đầy cá tính.

 Năm nay đã gần 70 tuổi thế nhưng giọng hát của bà vẫn còn ấm và vang lắm. Tình yêu Ca Huế trong bà đã trở thành máu thịt, cần thiết hàng ngày như hơi thở, như cơm ăn, nước uống. Ca Huế đã nuôi dưỡng tâm hồn bà, Ca Huế là chất men sống của bà trong suốt hơn 50 năm qua.

Nghệ sĩ Hồng Tuyết sinh năm 1942, tính đến nay bà đã 68 tuổi. Sinh ra trong một gia đình có truyền thống về nghệ thuật: ông ngoại là một nghệ sĩ tài hoa, bố là nghệ sĩ Nguyễn Văn Giáo – một trong bốn nghệ nhân đàn nhị nổi tiếng của các đoàn hát Kim Sanh, Kim Thịnh, Thái Mộng Đài thời những năm 1950... nên từ nhỏ nghệ sĩ Hồng Tuyết đã gắn bó với tiếng đàn, tiếng hát, với ánh đèn sân khấu. Cuộc đời hoạt động nghệ thuật của bà được mở ra bằng vai tỳ nữ trong vở diễn An Tư quận chúa vào năm bà mười bốn tuổi. Năm 16 tuổi, bà là diễn viên của đoàn Ca Kịch Trị Thiên và từ đây, cuộc đời bà bắt đầu gắn chặt với những thăng trầm của dòng ca nhạc Huế.
Năm 1957, Đoàn Ca Kịch Huế được thành lập tại Khu 4, cha của bà được ngành văn hóa triệu tập về đoàn, lúc này bà mới 15 tuổi cũng theo cha vào Đoàn. Chỉ sau một năm vào Đoàn, lúc ấy mới 16 tuổi, bà đã được phân một số vai chính trong các vở có đề tài lịch sử cổ xưa cho đến thời hiện đại. Những năm 1960-1970 là khoảng thời gian nghệ sĩ Hồng Tuyết sống hết mình với nghệ thuật và vì nghệ thuật. Cùng với nhiều anh chị em  văn nghệ sĩ khác, bà xung phong vào phục vụ ở tuyến lửa nam Quảng Bình- Vĩnh Linh. Trong khó khăn của cuộc sống chung, tài năng của bà ngày càng chín. Năm 1963, bà vinh dự cùng Đoàn Ca Kịch Huế biểu diễn tại Phủ Chủ tịch trong dịp Bác Hồ tiếp phái đoàn quân sự của Trung Quốc. Bức ảnh này bây giờ đã trở thành niềm tự hào của gia đình bà.

Trong nghề Ca Huế, nghệ sĩ Hồng Tuyết được đánh giá là người có một chất giọng quý, trường hơi. Bà có giọng ca mượt mà truyền cảm dễ đi vào lòng người và có thể ca điêu luyện các làn điệu từ lý cổ bản, lý giao duyên, lý cây roi, lý quỳnh tương đến các điệu hò mái nhì, mái đẩy, nam ai, nam bình.

Năm 1976, nghệ sĩ Hồng Tuyết trở về Huế tham gia vào đoàn Ca Kịch Huế Bình Trị Thiên. Năm 1980, bà chuyển ra Hà Nội, công tác ở Đài Tiếng nói Việt Nam, phụ trách tổ ca Huế. Thời gian này bà đã đi diễn khắp Hà Nội. Một giọng ca Huế ngọt  ngào xuất hiện giữa lòng Hà thành, đem Ca Huế đến với Hà Nội , tiếng hát của bà đã góp phần giới thiệu vẻ đẹp cuả Ca Huế bên cạnh vẻ đẹp của Quan họ Bắc Minh, của Chèo, của Cải lương. Nhà thơ Vũ Đình Liên, nhà giáo nhân dân- khi nghe nghệ sĩ Hồng Tuyết ngâm Kiều đã viết lời đề tặng “ Nàng là ai! Tiếng hát thần tiên/ Núi Ngự sông Hương nhạc ảo huyền/ Có phải Nguyễn Du giọng hát ấy/ đã nghe hòa bạc mệnh Kiều thiên”.

 Không chỉ được khán giả ghi nhận tiếng hát của mình, Nghệ sĩ Hồng tuyết còn được nhận nhiều danh hiệu cao quý: Huân chương kháng chiến hạng nhì năm 1997, huy chương chiến sĩ văn hóa, huy chương vì sự nghiệp văn hóa quần chúng, 3 Huy chương vàng trong các liên hoan nghệ thuật  cùng nhiều bằng khen khác.

 Ngày nay, các con và cháu của bà cũng đi theo con đường nghệ thuật. Cả gia đình bốn thế hệ liên tiếp đang giữ lửa Ca Huế, đang góp phần vun đắt cây tình yêu Ca Huế, nhạc Huế .

Nguồn: Phòng Văn nghệ TRT
Đài Phát thanh Truyền hình Thừa Thiên Huế
Blog Tiếng Việt làng Văn Quỹ đăng lại
Lê Đăng Mành sưu tầm 

READ MORE - NGHỆ SĨ HỒNG TUYẾT: "SÂN KHẤU LÀ CHỖ ĐỨNG, KHÁN GIẢ LÀ NIỀM VUI" - Võ Quê

Friday, January 27, 2012

Võ Quê - TỰ TẶNG


Sáng xuân thơm tôi tự tặng tôi
Hạt sương mai lung linh ánh trời
Bóng hình em dịu dàng trong suốt
Đôi mắt hiền soi thấu lòng tôi


Trưa xuân hồng tôi tự tặng tôi
Sắc nắng vui óng ánh môi cười
Mái tóc em hương mùa dã thảo
Đa mang chi tình giữa cõi người


Chiều xuân tím tôi tự tặng tôi
Áng mây vương từng khoảnh khắc đời
Giọng chim hót gọi bầy về núi
Có lẽ nào em chợt xa xôi

                              
Đêm xuân nồng tôi tự tặng tôi
Ánh sao băng bất chợt lóe ngời
Em đến em đi từ huyễn mộng
Chỉ hồn yêu lưu ảnh tuyệt vời


Khuya xuân thầm tôi tự tặng tôi
Giọt mưa buồn da diết chơi vơi
Em ẩn hiện bập bùng lửa ấm
Vương víu chi tình một kiếp người

Huế
Mồng 1 Tết Nhâm Thìn
23.1.2012.

(Chép từ trang FB của Võ Quê)
READ MORE - Võ Quê - TỰ TẶNG

Thursday, November 24, 2011

VÕ QUÊ - VIẾT TRONG NGÀY GIỖ ĐẦU HIỀN THÊ (1-11 Tân Mão)



Một năm dài đăng đẳng không em
Anh hụt hẫng với nhiều khoảnh khắc
Gió vẫn thổi trên lòng u uất
Hạt mưa đan trong uẩn khúc tình
.
Qua làn hương gương mặt em xinh
Ánh mắt hiền nụ cười nhân hậu
Giận chi anh hiền thê yêu dấu
Mà bỏ anh đành đoạn một mình?
.
Em thường về bằng giấc mơ xanh
Anh cùng em dặm ngàn dong ruổi
Những góc phố, chợ quê ngày hội…
Trang sách hồi quang bút tích em
.
Giỗ đầu em anh ngẩn ngơ tìm
Từng ký ức xuân thì lấp lánh
Nguyệt quế thơm vườn trăng óng ánh
Em thì thầm: Em rất thương anh!
.

Một năm dài trần gian buồn tênh
Anh ngầm hiểu chắc em cũng thế
Là hiền thê, em còn là mẹ
Nhớ thương chồng thương nhớ các con!
.
Anh nguyện dù cách trở âm dương
Tình hai ta không hề chia cắt
Khói trầm hương nối hồn như nhất
Tiểu Kiều chỉ một cảnh một Quê!

.
Huế
25.11.2011

READ MORE - VÕ QUÊ - VIẾT TRONG NGÀY GIỖ ĐẦU HIỀN THÊ (1-11 Tân Mão)

Thursday, August 11, 2011

VÕ QUÊ – MẠ ƠI!



Nhìn ảnh mạ chao ơi là nhớ
Mùa Vu Lan về đó mạ tề!
Con dâng nén hương lòng lên mạ

Đóa hồng thơm ngan ngát chiều quê
Môi trầu mạ còn nồng vị ấm
Miếng cơm mem từ tuổi thơ con
Răng hạt huyền sáng nụ cười nhân hậu

Mạ cho con nguồn hạnh phúc ngời son
Nhìn ảnh mạ chao ơi là tiếc
Mùa Vu Lan về đó mạ tề!
Không còn mạ giữa đời bất tuyệt

Con một mình trăng khuyết trời khuya
Giọng ru mạ ngân trong con day dứt
Lời nghĩa nhân từ ký ức hồi quang
Tao nôi hiền dìu con vào mộng lớn

Quên khổ đau cái thuở cơ hàn
Nhìn ảnh mạ chao ơi là thích
Mùa Vu Lan về đó mạ tề!
Mạ thanh thản trên miền an lạc

Con hình dung mạ đang sánh vai ba
Đài sen trắng quyện làn hương mới
Con thì thầm hai tiếng mạ ơi!
Con vẫn nhỏ trước hình ảnh mạ

Mùa Vu Lan nguồn hiếu hạnh dâng người!
Võ Quê
Mùa Vu Lan
Huế 11.8.2011 (12.7 âm lịch)
Bài và ảnh từ trang voque.org
READ MORE - VÕ QUÊ – MẠ ƠI!

Wednesday, June 8, 2011

VÕ QUÊ – NHỮNG LỜI CHÚC – Tùy bút



...niềm vui phả vào tận mỗi căn phòng, mỗi thước tấc tâm hồn tôi.



Bình minh. Tiếng chim hót líu lo quanh vườn. Âm thanh chuông gió ngân nga hòa âm cùng rì rào lá biếc. Hương ngâu thoảng thơm nhờ gió sớm ban mai gửi tặng trần gian. Đàn ong không còn cần vầng sáng néon trong căn gác nhỏ của tôi đã bay đi tìm phấn hoa luyện mật trong ánh ngày đang tới. Mở đầu một trang đời mới tinh khôi. Hôm nay là thứ Bảy. Cuối tuần.

Khinh khoái. Hân hoan. Ngôi nhà tôi ngân nga tiếng nhạc. Bản hòa tấu lưu thủy kim tiền một thời chợt thánh thót cung bậc bổng trầm. Cánh cửa mở. Ánh sáng. Hương thảo hoa. Thanh âm buổi sáng mang niềm vui phả vào tận mỗi căn phòng, mỗi thước tấc tâm hồn tôi.

Từ ánh sáng pha lê ấy, trong phút chốc tôi thành người hạnh phúc. Không hạnh phúc sao được khi những lời chúc diệu kỳ được nâng niu đan kết từ những ngày qua đã hóa thân thành những đài hoa mẫu đơn tươi thắm. Rồi thành vườn hoa muôn hồng nghìn tía Hoa sang trọng, hoa dễ thương hiện hữu trước mắt nhìn. Chúc mỗi ngày vui! Chúc cuối tuần vui! “Chúc bình yên cho mọi người” (Măng Cụt), “Chúc thi sĩ và toàn gia quyến vui vẻ cuối tuần” (Võ Văn Hoa), "Chúc hạnh phúc!",“Vui mỗi ngày nhé ” (Miên Đáng), “Tình anh em mãi mãi màu xanh” (Như Ý), "Chúc thầy vui" (Minh Huế), "Chúc vầng trăng kia luôn có ánh vàng ấm áp" (Quỳnh Vy), "Đêm Huế đẹp gần bằng đêm Hà Nội. Chúc anh cuối tuần và kỳ nghỉ bên gia đình hạnh phúc" (Gió), "Con chúc chú tuần vui khoẻ!" (Chinh Nguyên), "Chúc anh mọi sự an lành" (Hoàng Ngọc Anh)… Chỉ chừng ấy từ ngữ thôi trong mỗi câu chúc lành nhưng là sự đồng điệu, đồng cảm, đồng tình của những người bạn quý từ gần gũi đến miền đất nào xa ngái. Và tôi hiểu có lẽ không riêng gì ngôi nhà tôi được hân hoan đón nhận những lời chúc đẹp, đầy tình mà những ngôi nhà các bạn tôi cũng đang sáng trưng lên nguồn vui mới. Cũng đón nhận những lời chúc mỗi ngày, lời chúc cuối tuần giàu ngữ điệu, chân thật, tin yêu, hào hoa.

Không ái ngại. Tin cậy và ngợi ca. Tôi thành tâm biết ơn các bạn! Những người bạn nam, nữ, lớn , đồng trang lứa hay nhỏ tuổi từ bốn phương tám hướng trên trái đất này đã gặp mặt và chưa gặp mặt. Những người bạn đã nghe tiếng nói hoặc chưa nghe tiếng nói của nhau. Những người bạn đã từng bút đàm hàn huyên và những người bạn tôi chưa một phút giây hàn huyên bút đàm... Tôi chỉ biết lời chúc cuối tuần vui, lời chúc mỗi ngày của các bạn dành cho tôi và lời chúc tôi thương yêu gửi về các bạn đã thành thiêng linh chuỗi. Thiêng linh chuỗi kết nối chúng ta trong một mạch nguồn trang trọng nhân nghĩa, cảm thông. Và rất nòi tình!

Chúc mỗi ngày vui! Chúc cuối tuần vui!

“Dây thân ái lan rộng muôn nhà…”
READ MORE - VÕ QUÊ – NHỮNG LỜI CHÚC – Tùy bút

Thursday, April 21, 2011

VÕ QUÊ - ĐỒNG HÀNH "BÊN KIA TÍT TẮP ĐẠI DƯƠNG"

Nhà thơ Võ Thị Như Mai



Bên kia tít tắp đại dương, tên tập thơ gợi hình ảnh một miền biển trời xa xôi ngút ngàn với nghìn trùng cách trở. Bên kia tít tắp đại dương. Dập dồn. Vời vợi tiếng sóng thơ ngân khắc khoải những cái nhớ da diết, cảm hoài về dĩ vãng thương quý một thời người thơ đã sống, đã gắn bó trong từng cung bậc buồn vui phận đời.

Bên kia tít tắp đại dương. Hồi ức đẹp, tuyệt vời nơi chốn quê nhà nắng mưa, thăng trầm, nổi trôi cùng thời gian hằng sống. Ngoại. Ba. Mẹ. Anh.Chị. Em. Thầy. Cô giáo… là tứ thơ đẹp cho từng hình tượng thăng hoa, hồi quang trên từng con chữ lấp lánh niềm kính yêu vô hạn, trang trọng mà bình dị, gần gũi vô cùng giữa cõi nhân gian trìu ái.


Bên kia tít tắp đại dương. Thế giới bạn bè đồng trang lứa đầy ắp kỷ niệm hồng, tràn trề khát vọng xanh. Người thơ đằm thắm, dịu dàng gọi tên từng người một. Những thước phim chậm đẹp, hiền lành tái hiện sinh động lên thơ. Thơ chuyển sắc thanh hương thành hồn, thành nội tâm ngợi ca tình bằng hữu. Bên kia tít tắp đại dương, người thơ không đơn độc. Vòng tay bè bạn luôn ấm áp ngày đông. Vòng tay bạn bè thường mát lạnh ban trưa mùa hạ. Thơ đồng cảm ngợi ca sự đồng điệu muôn nơi, muôn thưở rất tình người.


Bên kia tít tắp đại dương. Thơ vẽ nên nhiều bức tranh phong cảnh đẹp, trữ tình từ nhiều miền đất khác nhau trên quê Việt. Địa danh này. Địa danh kia. Mỗi tên đất. Mỗi tên phố thị… Thơ sáng lên những dấu chân qua cuar người thơ với muôn hồng nghìn tía đã được thu vào ánh mắt thi ca. Hừng đông. Hoàng hôn. Cỏ hoa. Bốn mùa thiên nhiên kỳ diệu… Thơ và họa. Ảnh và thơ trong Bên kia bờ tít tắp đại dương ngời lên những vầng sáng thực và hư.


Bên kia tít tắp đại dương. Chân dung người tình ẩn hiện. Nụ hôn hái tặng. Khúc yêu đầu điệu luân vũ thơ. Tình dan díu. Tình lãng mạn em và anh “vương mùi hoa trên áo”. Từ tình, thơ bay lên đôi cánh nạm óng ả những từ ngữ đã được người thơ chắt lọc, đan kết thật thuần khiết, dung dị nhưng sâu lắng ngọn nguồn yêu.


Bên kia tít tắp đại dương hay đại dương tít tắp bên kia? Người thơ đã níu đôi bờ biển lớn thẳm xanh kia gần lại. Thật gần! Hồn thơ giàu ý, cảm, chứa chan thương, bát ngát yêu của người thơ đã hình thành một tứ hay: Trái đất này đâu có rộng gì hơn! Cho nên từ bên kia tít tắp đại dương, người thơ mới tinh tế buông câu lục bát ngọt ngào:

Dường như bưởi đã trổ bông

Mưa đã ngớt phía hừng đông nắng đầy…

Hừng đông nắng đầy bên kia tít tắp đại dương. Hừng đông nắng đầy cũng ấm lành trên quê mẹ.


Xin cảm ơn người thơ đã cho tôi có dịp đồng hành Bên kia tít tắp đại dương!



Võ Quê

Huế, 20. 2011
READ MORE - VÕ QUÊ - ĐỒNG HÀNH "BÊN KIA TÍT TẮP ĐẠI DƯƠNG"

Wednesday, February 9, 2011

VÕ QUÊ – VIẾT ĐẦU NĂM MỚI

Mỗi sát na tôi nhủ mình vui
Cuộc sống lung linh màu sắc


Mỗi giây qua tôi nhắc mình tươi

Hoa cỏ ngát hương trời đất


Mỗi phút tới tôi dặn tôi cười

Đàn ngân tiếng trong veo sông suối


Mỗi giờ đến tôi nguyện thương đời

Vị sóng mặn trầm hùng biển núi


Mỗi ngày lên tôi thầm mong tôi

Ngọt lành thơ khát vọng tặng người...


2.2010

READ MORE - VÕ QUÊ – VIẾT ĐẦU NĂM MỚI

Sunday, October 17, 2010

VÕ QUÊ: LÊ ANH - NGƯỜI KẾT SÓNG TÌNH CA




TẠM BIỆT HUẾ
NHẠC :LÊ ANH
THƠ: THU BỒN
GIỌNG CA: BẢO YẾN



Trong những năm gần đây, công chúng yêu thích âm nhạc vui mừng đón nhận, thưởng thức các đĩa CD giới thiệu những ca khúc được dàn dưng một cách công phu của nhạc sĩ Lê Anh, đó là CD “Chơi vơi”, “Tình Quê”. “Giọng hò thương nhớ” do nhiều ca sĩ tên tuổi trong nước biểu diễn (Nhà xuất bản Âm Nhạc Việt Nam thực hiện). Nhạc sĩ Lê Anh sinh ngày 4.2.1937 tại xã Vĩnh Hiền, huyện Vĩnh Linh, Quảng Trị. Từ thời niên thiếu Lê Anh đã say mê và có năng khiếu bẩm sinh về âm nhạc. Mặc dầu hồn cảnh gia đình lúc bấy giờ tương đối khó khăn, chật vật nhưng Lê Anh cũng được bố mẹ chu cấp cho của Trường Âm Nhạc Việt Nam tại Hà Nội từ năm 1959 đến 1962.
Sau khi tốt nghiệp, Lê Anh trở về công tác tại Ty Văn hóa Thông tin Vĩnh Linh cho đến năm 1972. Đây là một giai đoạn khó khăn gian khổ nhất bởi cuộc kháng chiến chống Mỹ ngày một ác liệt. Vượt lên những thử thách một thời trẻ trai, bằng sở học của mình, Lê Anh tích cực tham gia, lăn lộn vào các hoạt động văn hóa văn nghệ quần chúng ở quê nhà. Phong trào “Tiếng hát át tiếng bom” của nhân dân miền Bắc đã giúp cho Lê Anh trưởng thành trong nghệ thuật. Khát vọng và ước mơ được sáng tác nên những ca khúc phục vụ chiến đấu, phục vụ chính cuộc sống của nhân dân, thể hiện trang trọng tình yêu lứa đơi, tình yêu quê hương đất nước luơn cháy bỏng trong anh. Năm 1972, lại một lần nữa anh được ra Nhạc viện Hà Nội học khoa sáng tác như điều anh mong muốn. Từ môi trường học tập chính quy này, Lê Anh đã sống những tháng năm quý báu. Các nghệ sĩ bậc thầy trong âm nhạc, các đồng nghiệp, đồng môn đã luôn tạo cho anh những khám mới trong khúc thức, ca từ. Hồn nhạc dân tộc, chất liệu dân ca từ miền Trung quê hương đã tiềm ẩn sinh động trong mạch nguồn sáng tạo của anh.
Năm 1976, rời Hà Nội Lê Anh trở về phụ trách phần âm nhạc của phòng văn nghệ thuộc Sở Văn hóaThông tin Bình Trị Thiên, năm 1985 làm chỉ đạo nghệ thuật rồi Trưởng Đồn Nghệ thuật Ca Múa Nhạc Bình Trị Thiên cho đến 1989 thì ra công tác một năm tại Hội Văn Học Nghệ thuật Quảng Trị. Tuy bề bộn với cơng tác quản lý, Lê Anh vẫn dành nhiều thời gian cho cơng việc tìm hiểu, nghiên cứu các thể loại dân ca, các điệu lý nhằm chuyển tải hồn dân nhạc một cách tinh tế vào trong từng ca khúc. Với phong cách trữ tình, những bài hát của Lê Anh được cơng chúng dễ dàng tiếp nhận bằng những rung động thật, sâu sắc. Trong các hội diễn, liên hoan nghệ thuật trong và ngồi tỉnh, các tác phẩm của Lê Anh luơn được nhiều cơ quan, đơn vị chọn vào dàn dựng trong chuơng trình và được khán giả yêu thích, thuộc lịng, tiêu biểu cĩ các ca khúc “Trên phá Tam Giang em hát”, “Màu xanh yêu thương”, “Thu Bồn ơi”, “Giọng hò thương nhớ”, “Ánh mắt Thành Huế”, “Đi cùng sông Hương” (phổ thơ Lâm Thị Mỹ Dạ)…
Trong những năm gần đây, khi đã nghỉ hưu, so với một số nhạc hữu cùng thời khác, bút lực Lê Anh càng sung mãn, tràn trề sức sống. Niềm say mê được đi và viết luơn thơi thúc Lê Anh làm những chuyến điền dã dài hơi trên nhiều địa phương khác nhau. Từ vốn liếng thực tế phong phú của thời trai trẻ cộng với những gì mà Lê Anh tiếp cận, thâu thập được trong thời gian cơng tác và hưu trí, Lê Anh đã sáng tác thành cơng nhiều ca khúc để đời. Đến thâm nhập thực tế, sáng tác tại Quảng Bình Lê Anh đã cho ra đời CD “Tình Quê” , một công trình nghệ thuật cò giá trị ngợi ca cuộc sống, con người Quảng Bình trong công cuộc đổi mới. xây dựng đất nước. Riêng với Quảng Trị, nơi anh đã được sinh ra và lớn lên; nơi anh từng hạnh phúc và khổ đau cùng người đất Quảng chịu khó chịu thương anh đã tâm huyết gửi đến bà con quê nhà và trong cả nước CD “Giọng Hò Thương Nhớ”. Trong những ca khúc của CD này những địa danh quen thuộc như Đông Hà, Gio Linh, Đa Krơng, Hải Lăng, Thành Cổ, sông Hiếu… được Lê Anh biến thành những ca từ ý vị, tâm huyết, lắng đọng, mượt mà và sâu thẳm một khối tình mong dành tặng quê hương.
Sống với Huế thơ mộng, miền đất Lê Anh đang sống, đã yêu thương, đã hy vọng và khổ đau cũng mang lại cho anh những tứ nhạc mới giúp anh viết lên những giai điệu trữ tình, da diết. Ngoài các ca khúc được giải thưởng của Hội Nhạc Sĩ Việt Nam, của UBTQLHCHVHNT Việt Nam, tại Thừa Thiên Huế nhạc sĩ Lê Anh đã được giải B Giải thưởng VHNT Cố Đô lần thứ II (1993). Với Huế, hiện nay Lê Anh đang mong khi có điều kiện, hoặc được sự quan tâm của Tỉnh và thành phố Huế , anh sẽ thực hiện CD những ca khúc viết về Huế trong những năm qua mà anh rất tâm đắc và người Huế cũng đã biết đến nhiều như “Ánh mắt Thành Huế”, “Qua Lăng Cơ”, “Thành Huế sáng nay”, “Đây thôn Vỹ Dạ” (phổ thơ Hàn Mặc Tử); “Tạm biệt Huế” (phổ thơ Thu Bồn), “Tháng Ba hoa nhãn”… Hiện nay về mặc in ấn ca khúc Lê Anh đã có trong nhiều tuyển tập nhạc thời Bình Trị Thiên, Nhạc viện Hà Nội, tuyển tập “Bài ca đất nước”, “30 năm ca khúc Việt Nam , 1975-2005 (Hội Nhạc Sĩ Việt Nam-NXB Âm Nhạc Việt Nam)… Nhạc sĩ Lê Anh mong cĩ những tuyển ca khúc riêng, những CD chuyên đề riêng cũng là nguyện vọng chính đáng của người nghệ sĩ. Theo nhạc sĩ Lê Anh, dòng sống, dòng tình, dòng nhạc trong Lê Anh cứ đan xen, hòa quyện, vọng ngân thành sóng tình ca hiến tặng đời.
Bài đã đăng trên: www.voque.org
READ MORE - VÕ QUÊ: LÊ ANH - NGƯỜI KẾT SÓNG TÌNH CA