Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Thursday, August 8, 2013

NẮNG KHÔNG TỰ LÀM RA MÙA THU ĐÂU EM! - Nguyễn Thu



Anh hiểu tấm lòng em rồi đó! Hiểu nỗi nhớ nào cũng thật dài theo những đêm mưa. Cái cầm tay ngày xưa dù có xa nhau ngàn ngày vẫn cứ êm đềm trong anh mãi mãi.

Bấy nhiêu năm đường trần xa ngái. Anh nơi nầy, em nơi kia nhưng lại là tình nhân, thường tình đâu phải dễ

Có những chiều bâng khuâng, rất bâng khuâng anh tự hỏi lòng mình sao thế? Xa nhau rồi đâu thể cơ may!

Ngồi ngắm những hạt mưa bay mới thấy lòng chợt lạnh - lạnh như khi ngủ mùa đông mà chẳng thấy em về.

Không biết có khi nào em băn khoăn hỏi con gió lang thang đi ngang qua hiên nhà bên ấy... rằng:  Tình yêu sao ghê gớm vậy, phải không?

Anh cứ nghĩ vẫn vơ về con vịt trời, loài chim mang tiếng vô tình bay đi mà không bao giờ nhìn lại, dù cũng muốn thử xem nơi vừa qua còn rơi rớt những gì.

Ô hay, vịt trời vẫn luôn là vịt trời có cần biết chi, ngoài đôi cánh luôn vỗ hoài trong gió. Chim mà, gió mà, vô tư đi như ai đã vô tư...

Một chút nắng vô tình rơi trên tay sáng nay, dù không nhiều cũng đủ làm cho lòng anh ấm lại.

Nếu có ai hỏi vì sao cỏ không chịu lìa xa mà cứ mọc nhoài dưới bước chân người giẫm đạp? Anh ngu ngơ. Thôi, mặc kệ thời gian!

Hỏi nhiều, nghĩ nhiều cũng chưa thể là yêu... Bởi,  nắng có bao giờ một mình tự làm ra mùa thu đâu, em nhỉ!

Nguyễn Thu
READ MORE - NẮNG KHÔNG TỰ LÀM RA MÙA THU ĐÂU EM! - Nguyễn Thu

Chùm thơ Nguyễn Ngọc Hưng - LẮNG NGHE MÙA KHAI TRƯỜNG - MAY HÃY CÒN XUÂN - DẤU CHÂN TRÊN CỎ

Trích từ thi phẩm
BÀI CA CON DẾ LỬA
NXB Hội Nhà văn 
Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Ngãi
2012
Tác giả gởi tặng VNQT











LẮNG NGHE MÙA KHAI TRƯỜNG

Có gì đó rất xa đang tiến lại rất gần
Hình như tiếng trống trường đi hoang chợt nhớ nhà gọi ai trong gió
Thằng cu Tý lon ton nắm chặt tay mẹ mình khe khẽ điều chi không thật rõ
Chút lo sợ phập phồng tuổi lên sáu lên năm

Mỗi giây phút trôi qua là mất tích mất tăm
Tưởng tan biến cả rồi hóa ra chúng rủ nhau chơi trốn tìm trong đáy sâu tiềm thức
Rộn rã nhịp tim bỗng âm vang đổ dồn trống ngực
Réo ngày xưa “tôi đi học” quay về

Cổ tích bắt đầu ôn lại chuyện nón mê
Mẹ hứng đỡ nắng mưa che giấc mơ mũ cánh chuồn con trẻ
Bàng bạc mây mùa dẫn thu về phía tôi thời thơ bé
Ngóng theo người những ngọn cỏ ven đường treo sương sớm rưng rưng

Nghe thầy xướng danh: Em Nguyễn Ngọc Hưng
Thằng cu Tý vẫn ngơ ngác mắt nai nép vào tay mẹ
Người âu yếm hôn tôi và nhắc tôi thật khẽ
Con ơi, “dạ, có” đi con, thầy giáo gọi con kìa!

Vào lớp học thôi đâu phải mãi mãi chia tay vĩnh viễn xa lìa
Mà mắt lệ tuôn dòng mà chân sáo ngập ngừng riu ríu bước
Rươm rướm nhìn theo dáng con bé bỏng nhỏ nhoi “tội” không chịu được
Mẹ len lén quay đầu như giấu vội điều chi

Khởi từ “khó đi mẹ dắt con đi”
Bao gian khổ “mùa thi” mẹ con mình đã vượt
Chợt nhớ câu cửa miệng xửa xưa “sự đời chẳng mấy ai lường trước”
Con xào xạc gió thu mà tưởng đâu xát chân mẹ từ thăm thẳm cõi không lặng lẽ bươn về…



MAY HÃY CÒN XUÂN

Con bướm nhụy chập chờn bông mướp
Mải mê vàng suốt buổi mai sương
Cánh dơi hun hút đêm chìm gió
Còn vẩn vơ hương ổi cuối vườn…

Quê cũ vẫn biếc trời xanh đất
Thắm hoa râm bụt đỏ dong riềng
Không dưng lòng bỗng bâng khuâng lạ
Đâu khói lam chiều ôm mái nghiêng?

Ơi cô bé ngày xưa tóc ngắn
Tóc đuôi gà, tóc xõa ngang vai
Hương chanh hương sả còn đâu đó
Hiu hắt bờ sông gió thở dài

Thương mẹ tháng mười đi quá vội
Bã trầu chưa giập đã qua chiều(*)
Đồi cao một nấm lam nham cỏ
Mộ chí bao mùa lốm đốm rêu

Lêu bêu bui lép đời trôi dạt
Rác phố mong gì ngược bến quê
May hãy còn xuân còn chim én
Thiết tha gom gởi nhớ thương về!
___________

(*) “Chiều qua/ Chưa giập bã trầu” (thơ Bình Giang).

         



DẤU CHÂN TRÊN CỎ

Bổ nhát cuốc xuống mặt đồng nứt nẻ
Cha lật lên từng tảng đất bạc màu
Bỏ đằng sau giọt mồ hôi mặn chát
Những vụ mùa chua ngọt gối vai nhau…

Xác rơm rạ hỏa thiêu hồn lúa lép
Khói đốt đồng hun ấm cả không gian
Trong cay xót con đi tìm cái đẹp
Mắt nhìn đâu cũng quá đỗi dịu dàng

Thằng bé dắt trâu theo cha cày ruộng
Nay đã thành một gã nửa thị dân
Lòng vẫn khôn nguôi nhớ mùi đất ải
Cơn gió nào ngai ngái vị tro phân

Ba thập niên bốn phương trời lưu lạc
Tôi vẫn hằng mơ một buổi quay về
Rào dâm bụt có còn chong sắc đỏ
Như mắt người mong đợi kẻ xa quê?

Thảng thốt giật mình sực tỉnh cơn mê
Tiếng chó sủa đêm trăng còn văng vẳng
Theo dấu mộng du lên đồi sương trắng
Chộ hài cốt cha im lặng mỉm cười!

Tôi lại gặp tôi lên chín lên mười
Châu chấu cào cào áo xanh áo đỏ
Con sáo sậu nghiêng nghiêng đầu huýt gió
Như giục bầy con xít lội sang sông…

Một sáng tinh mơ vác cuốc ra đồng
Tôi chợt thấy nhiều dấu chân trên cỏ
Không lẫn được - là dấu chân cha đó
Sao ướm vào lại mường tượng… chân con?!


NGUYỄN NGỌC HƯNG
Đội 10, thị trấn Chợ Chùa
huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi
ĐT: 055.3861.312
Email: nguyenngochung204@gmail.com







READ MORE - Chùm thơ Nguyễn Ngọc Hưng - LẮNG NGHE MÙA KHAI TRƯỜNG - MAY HÃY CÒN XUÂN - DẤU CHÂN TRÊN CỎ

Ngọc Châu giới thiệu phần 3 tập "108 BÀI THƠ ĐƯỜNG CHỌN DỊCH"

                                  
Dịch giả Phạm Đình Nhân
                  
   (Dịch giả Phạm Đình Nhân là Chủ tịch Quỹ Giải thưởng Phạm Thận Duật, nguyên Phó Giám đốc Trung tâm UNESCO Thông tin tư liệu LS&VHVN, hiện ở 110 Ngõ 158 Ngọc Hà, Ba Đình, Hà Nội
    Năm nay bác đã trên 80 tuổi, thuộc vào lớp người "xưa nay hiếm". Hiếm vì là nhà thơ cao tuổi đã đành, nhưng hiếm nhất chính là vi bác thông hiểu Hán tự. Lớp người như bác đúng là càng ngày càng ít đi đối với đất nước chúng ta hiện nay. Vậy nên khi nhận được tập "108 BÀI THƠ ĐƯỜNG CHỌN DỊCH" của bác gửi tặng tôi nghĩ mình có trách nhiệm phải giới thiệu càng rộng rãi càng tốt tới mọi người yêu thơ - nhất là với những người yêu thích thơ luật Đường (TLĐ), hiện đang sinh hoạt ở rất nhiều Câu lạc bộ TLĐ trên toàn quốc. Cũng là góp phần nhỏ vào việc lưu giữ cho thế hệ sau một tài liệu tham khảo cho kho tàng thơ Đường thu thập được từ trước đến nay.
    Tập thơ gồm 108 bài thơ chọn dịch, chia làm hai phần.
    Phần thứ nhất gồm 50 bài thơ Đường của 30 nhà thơ Trung quốc xếp theo vần A-B-C, phần thứ hai gồm 58 bài thơ chữ Hán của 36 nhà thơ Việt Nam xếp theo thời gian.
    Tuy Ngọc Châu có được học 6 năm Trung văn ở trường phổ thông nhưng từ ngày ấy đến nay ít dùng, tri thức về Hán học rất hạn chế nên chỉ mong muốn được giới thiệu tới nhiều độc giả mà không dám luận bình gì về các bản dịch. Phần này xin giành cho người đọc có những phẩm bình sau khi đọc tác phẩm thơ của dịch giả Phạm Đình Nhân (mail của bác Nhân:
(phdinhnhan@gmail.com ), điện thoai: 04.37221708 – 0987552467
    Do dung lượng tập thơ khá dài nên mỗi lần chỉ giới thiệu từ 1 đến 2 tác giả, Ngọc Châu cũng mạn phép làm theo người xưa là góp thêm một số bản dịch của mình chỉ để cho sự cảm nhận bài thơ nguyên tác được phong phú hơn mà thôi.)
                                             
                                                      (Tiếp phần 3)


6. ĐỚI THÚC LUÂN
(732 – 789)

          Đới Thúc Luân hiệu là Âu Công, quê Kim Đàn, Nhuận Châu, tỉnh Giang Tô. Làm Chủ vận tại Hồ nam, Tiết độ sứ ở Kiếm Nam, Giang Tây. Sau được phong tước Tiều Huyện nam, cử làm Thứ sử Phủ Châu, rồi được thăng làm Dong quản Tiết độ sứ, nổi tiếng về việc phủ dụ dân Mường, Mán. Về sau ông từ quan về làm đạo sĩ.

15. PHÙNG NHẬP KINH SỨ
Nguyên tác :                         使
           
           
           
           


Phiên âm :            Phùng nhập kinh sứ
Cố viên đông vọng lộ man man,
Song tụ long chung lệ bất can.
Mã thượng tương phùng vô chỉ bút,
Bằng quân truyền ngữ báo bình an.
Dịch thơ :            
                 Gặp sứ giả vào kinh

Phạm Đình Nhân
                                                                        Dịch 2007

Cố hương đường xá quá gian nan,
Áo ướt lệ rơi chẳng thể khoan.
Lưng ngựa gặp nhau không giấy bút,
Nhắn rằng tôi vẫn được bình an.

             Thượng kinh sứ giả gặp người
                  
Ngọc Châu
Dịch 2013

Cố hương đường xá gian nan
Lệ rơi áo ướt dám màng nghỉ ngơi
Không giấy bút lúc gặp người
Nhắn mồm, tôi vẫn ơn trời bình an
                
7. ĐƯỜNG MINH HOÀNG
(685 – 761)

          Đường Minh Hoàng tức vua Đường Huyền Tông đời nhà Đường, tên thật là Lý Long Cơ, con thứ ba vua Đường Duệ Tông, cháu của Võ Tắc Thiên. Làm vua từ năm 713 đến năm 756  qua hai niên hiệu Khai Nguyên và Thiên Bảo. Do tin dùng Lý Lâm Phủ và sủng ái Dương Quý Phi nên đưa đến loạn An Lộc Sơn, phải dời sang đất Thục, truyền ngôi cho thái tử lên là Đường Túc Tông. Về cuối đời Minh Hoàng sống rất cô đơn vì bị cách ly với những người thân cận. Bài thơ Trường hận ca của Bạch Cư Dị được lưu truyền lâu dài đã nói lên cuộc tình diễm lệ của Đường Minh Hoàng và Dương Quý Phi.
16. KINH LỖ TẾ KHỔNG TỬ  NHI
THÁN CHI
Nguyên tác :魯祭孔子而歎之
           
           
           
           
           
           
           
           
Phiên âm :Kinh Lỗ tế Khổng tử nhi thán chi
Phu tử hà vi giả,
Thê thê nhất đại trung.
Địa do Châu thị ấp[1],
Trạch tức Lỗ Vương cung[2] .
Thán phụng[3]  ta thân bĩ ,
Thương lân[4]  oán đạo cùng.
Kim khan lưỡng doanh điện,
Đương dữ mộng thời đồng.
Dịch thơ :
Cảm than khi qua nước Lỗ
                   tế Khổng tử
Phạm Đình Nhân
                                                              Dịch 2008
                     Khổng tử đã làm gì,
                   Cả đời đi cùng khắp
Quê hương Châu thị ấp[5],
Nhà định xây Lỗ cung[6].
Phượng than[7] thân khôn cùng
Lân đau[8] đạo mất thôi.
Nay xem hai miếu điện,
Thật như chiêm bao rồi.
Ngọc Châu
                                                              Dịch 2013

 Khổng Tử  xưa làm những gì
Cả đời bôn trải tỉnh quê trăm miền
Quê hương Châu thị ấp quen
Lỗ cung xưa định xây trên đất nhà
Phượng thở than chẳng an hòa
Lân đau oán việc đạo ra đứng đường
Nay xem hai miếu tỏ tường
Thật mà cứ tưởng mình đương ngủ vùi.
                  
8. GIẢ CHÍ
(718-772)
Tên tự Ấu Lâm , người Lạc Dương.
17. XUÂN TỨ
Nguyên tác :             
           
           
           
           
Phiên âm :               Xuân tứ
Thảo sắc thanh thanh liễu sắc hoàng,
Đào hoa lịch loạn, lý hoa hương,
Đông phong bất vị xuy sầu khứ,
Xuân nhật thiên năng nhạ hận trường.
Dịch thơ :            
  Ý xuân
Phạm Đình Nhân
                                                              Dịch 2007
Cây cỏ xanh tươi, liễu sắc vàng
Đào hoa tơi tả, mận đưa hương.
Gió đông không thổi sầu đi khỏi,
Xuân đến càng thêm nỗi hận trường.

Ý xuân
Ngọc Châu
                                                              Dịch 2013

Liễu vàng, cây cỏ xanh xanh
Hoa đào tan tác mận dành chút hương
Gió chưa tiễn sầu lên đường
Xuân về khiến nỗi hận trường thêm sâu.


9. GIẢ ĐẢO
(793 – 865)
         
Giả Đảo tên chữ là Lăng Tiên, hiệu là Kiệt Thạch sơn nhân, quê ở Phạm Dương, tỉnh Hà Bắc. Ông đi thi nhiều lần không đỗ. Xuất gia đi tu tại Lạc Dương, pháp danh là Vô Bản. Sau một thời gian tu tại chùa Thanh Long ở Trường An, Giả Đảo nghe lời khuyên của Hàn Dũ, ông phá giới, mặc áo nho sinh. Ông hay làm thơ ta thán và bài bác. Vì làm thơ chỉ trích Tể tướng (năm 821, đời Đường Mục tông), nên bị giáng chức.

18. ĐỘ TANG CÀN
Nguyên tác :                      
           
           
           
           

Phiên âm :            Độ Tang Càn
Khách xá Tinh Châu[9] dĩ thập sương,
Qui tâm nhất dạ ức Hàm Dương[10].
Vô đoan cánh độ Tang Càn thuỷ,
Khước vọng Tinh Châu thị cố hương.
Dịch thơ :            
Qua sông Tang Càn
Phạm Đình Nhân
                                                              Dịch 2006

Ở trọ Tinh Châu đã chục sương,
Hàm Dương ngày nhớ lại đêm thương.
Bỗng nhiên qua lại Tang Càn nhỉ,
Mong ước Tinh Châu là cố hương.

Tình cờ vượt sông Tang Càn
                                        Ngọc Châu
                                                              Dịch 2013
                   Tinh Châu ở trọ chục năm
Hàm Dương ngày nhớ đêm nằm lại mong
Qua Tang Càn chẳng đợi  trông
Tinh Châu giờ ước trong lòng cố hương

10. HÀN DŨ
(768-824)
          Hàn Dũ có tên tự là Thoái Chi, sinh quán ở Nam Dương nay thuộc tỉnh Hồ Bắc. Tổ phụ là người huyện Xương Lê, nên ông thường tự xưng là Hàn Xương Lê. Ông được xếp vào những tác gia của Trung Ðường. Mồ côi cha mẹ từ năm ba tuổi, rất thông minh, hai mươi bốn tuổi đỗ tiến sĩ. Bắt đầu bằng chức Thôi quan cho các Tiết độ sứ, rồi được thăng lên Ngự sử, rồi giữ chức Quốc tử giám Bác sĩ.
          Hàn Dũ viết bài Gián nghênh Phật cốt biểu (còn gọi là Luận Phật cốt biểu) dâng lên can gián Hiến Tông, lời lẽ rất đanh thép, cứng rắn, làm cho Hiến Tông vô cùng thịnh nộ, đã định đem ông ra chém. May nhờ có nhiều người can gián ông mới thoát chết, chỉ bị đày đến Triều Châu, thuộc Quảng Tây ngày nay. Ðây cũng chính là nơi ông để lại bài Tả thiên chí Lam Quan thị điệt tôn Tương và bài Tế ngạc ngư văn nổi tiếng. Bài Tế ngạc ngư văn đã khiến ông được Hiến Tông phục chức cho trở lại kinh đô giữ chức Quốc tử giám Tế tửu, sau đó được  thăng chức Binh bộ Thị lang.

19. TẢ THIÊN CHÍ LAM QUAN,
THỊ ĐIỆT TÔN TƯƠNG

Nguyên tác :   
                        
           
           
           
           
           
           
           
           


Phiên âm :   Tả thiên chí Lam Quan,
                     thị điệt tôn Tương
Nhất phong triêu tấu cửu trùng thiên,
Tịch hiếm Trào châu lộ bát thiên.
Bản vị thánh triều trừ tệ sự.
Cảm tương suy hủ tích tàn niên?
Vân hoành Tân lĩnh, gia hà tại.
Tuyết ủng Lam Quan, mã bất tiền!
Tri nhữ viễn lai ưng hữu ý,
Hảo thu ngô cốt chướng giang biên.
Dịch thơ :   
Bị đi đầy dến ải Lam Quan, nhắn gửi cháu Tương
Phạm Đình Nhân
                                                              Dịch 2007

Sớm còn khuyên giúp vua hiền,
Chiều đầy xa xứ tới miền Triều Châu.
Vì vua ngăn nạn mọt sâu,
Thương thay thân đã mái đầu hoa râm.
Nhà đâu dưới áng mây Tần ?
Lam Quan tuyết lạnh, bước chân ngựa chùn
Từ xa, cháu nhớ cho tường,
Ven sông cố nhặt nắm xương ta về.
                     
Đầy ải Lam Quan, nhắn cháu Tương                                                         
                                                                 Ngọc Châu
                                                                 Dịch 2013

Buổi sớm còn khuyên giúp chúa hiền
Triều Châu đầy ải tối qua miền
Những mong ngôi báu không sâu mọt
Cảm thán thân tàn đã lão niên
Tân Lĩnh mây chiều nhà nóc khuất
Lam Quan tuyết lạnh ngựa chân mềm
Xa xôi điệt nữ ơi, mong cháu
Lượm nắm xương tàn cõi viễn biên









[1] Châu thị ấp : quê Khổng tử nay là huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông.
[2] Xưa vua Lỗ định cho phá nhà cũ của Khồng tử để làm cung điện, nhưng khi đến nhà nghe thấy có tiếng vàng đá, tơ trúc, bèn thôi không phá nữa.
[3] Thán phụng : Con phượng than. Khổng tử có câu : “Đường Ngu chi thế hề, kim phi kỳ thời hề, lai hà cầu” (Thời Đường Ngu, lân phượng ra chơi, nay không phải thời thì đến làm chi) ngụ ý than thân lỡ vận.
[4] Thương lân : Con lân đau. Tương truyền khi Khổng tử sinh, có con lân xuất hiện. Khi đang soạn sách Xuân Thu nghe tin có người bắt được con lân què Ngài than rằng “Đạo ta cùng rồi” liền ngừng việc biên soạn sách.
[5] Xem chú thích 4
[6] Xem chú thích 5
[7] Xem chú thích 7
[8] Xem chú thích 6
[9] Tinh Châu : thành phố Thái Nguyên của Trung Quốc hiện nay.
[10] Hàm Dương : chỉ Trường An
READ MORE - Ngọc Châu giới thiệu phần 3 tập "108 BÀI THƠ ĐƯỜNG CHỌN DỊCH"

VỀ CUỐI CHÂN MÂY - Trương Nguyễn



Mỗi buổi sớm mai
Người thiếu nữ nhặt chiếc lá khô
Nhẫm tháng năm đợi chờ
Cây “sake”trong vườn tươi trẻ


Người tình đi xa đến thế
Lẫn vào đạn bom hơn phần tư thế kỷ
Những phong thư mang nhiều địa chỉ
Bước chân anh mòn khắp núi sông


Chị ngồi đây mắt dõi cánh đồng
Thân cò lẻ bạn
Bay thẩn thờ vào trong mây trắng
Mỗi năm thêm nỗi muộn phiền


Cây trong vườn
Ngày lại già thêm
Tiếng vạc khuya kêu lời ai oán
Mái tóc lờn vờn khói xám
Lời hứa buồn
“khi hết chiến tranh”


Bây giờ tới bến mong manh
Cây “sake” cỗi cằn đi
Ba mươi năm rồi còn gì?
Người vẫn xa xăm


Chị lần tìm khắp những nghĩa trang
Ngắm từng bia mộ
Mắt đục mờ - chiếc gương đã vỡ
Tím  lạnh hồn về cuối chân mây .
READ MORE - VỀ CUỐI CHÂN MÂY - Trương Nguyễn