Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Văn học dân gian. Show all posts
Showing posts with label Văn học dân gian. Show all posts

Thursday, August 6, 2015

Lê Văn Trạch - Tản mạn về THIÊN CHỨC CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ qua Văn học Dân gian


Lê Văn Trạch

Tản mạn về

THIÊN CHỨC CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ
                                            
qua Văn Học Dân Gian 


Trong sách Sáng Thế Ký: “Người phụ nữ được tạo dựng từ xương sườn người nam, vì cùng thân xác nên đưa đến một liên hệ khắng khít hơn cả liên hệ giữa người nam và cha mẹ  mình. Sự tạo dựng này như để đem lại cho nhân loại một yếu tố “không hoàn hảo”. Nếu không có yếu tố ấy thế giới sẽ không chạy tốt và khi người đàn bà nghe lời con rắn  để  ăn trái cấm trong Vườn Địa Đàng để không phải chết như đã có lời răn trước đó là: Ông Bà sẽ không chết, nhưng Thiên Chúa biết rằng ăn trái cấm xong, mắt Ông Bà sẽ mở ra với biết bao sự hiểu biết và cảm nhận và  rồi Bà Eva đem trái cấm ấy cho Ông ADong cùng ăn!


Điều hiểu biết và cảm nhận đầu tiên là những biểu hiện về Tình Yêu và như thế chúng ta cũng tự hiểu rằng nhân vật chủ động trong vấn đề này không ai khác hơn là Eva, người phụ nữ. Tuy nhiên, do yếu tố vật lý cấu thành thể chất và để ứng phó với môi trường chung quanh mà tồn tại, người đàn ông đã biểu lộ khả năng chinh phục của mình, từ đó tạo ra những quyền lực tuyệt đối, không chế toàn bộ cơ cấu tổ chức xã hội, đồng thời để thỏa mãn những tham ái, họ đặt ra những luật lệ ràng buộc, độc đoán, dưới nhiều nhãn hiệu, mỹ từ khác nhau, làm nên một tường thành kiên cố giam hãm, không cho người phụ nữ phát huy, thực hiện thiên chức của mình lúc ban sơ mà chỉ biết cúi đầu chấp nhận:

Cha mẹ đặt gióng sửa triêng
Phải sao chịu vậy chớ trùng triềng mà  đau vai!

Người Mẹ là nạn nhân ban đầu nhưng khi nhập vào guồng máy rồi thì phải tiếp tục quay vòng theo nó, có  khi rất hăng say và quyết liệt trong việc áp  đặt những tư tưởng kiểm soát tình cảm vào  đời con, đời cháu mình. Cha mẹ ở đây là  đại diện cho cả một quyền lực khổng lồ trong xã hội phong kiến.


Xin mở một dấu ngoặc để trở về lịch sử thời dựng nước: Vào đời Vua Hùng Vương thứ 3, công chúa Tiên Dung - người con gái độc nhất được Vua thương yêu nuông chiều, một hôm nàng đến bãi biển làng Chử Xá để tắm, tình cờ  gặp Chử Đồng Tử và bị ngay “tiếng sét ái tình”. Nàng cho người về cung trình báo với Vua cha để xin làm lễ thành hôn với chàng, nhưng đời nào nhà vua chấp thuận: Một  “cành vàng lá ngọc” lại đi kết nghĩa trăm năm với một kẻ chẳng có “khố rách áo ôm"! Mặc kệ, chàng và nàng vẫn cứ chung sống và lập thái ấp riêng rất trù phú. Vua tức giận cho quân lính đến hỏi tội, nhưng Chử Đồng Tử có thần thông và thế là chàng và nàng cùng bay về tiên cảnh, đó cũng là một cách thăng hoa, vượt thắng! Có thể nói Công Chúa Tiên Dung là người tiên phong trong thế chủ động tình yêu của người phụ nữ Việt Nam.


Trở về thời gian gần hơn, hãy nghĩ đến Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du, tuyệt tác một thời bị lên  án và cấm đọc (đàn ông chớ đọc Phong Thần, đàn bà chớ đọc Thúy Vân, Thúy Kiều). Nguyên nhân tại vì Thúy Kiều do tình yêu thôi thúc mà  đã dám cả gan hai lần chui tường qua gặp Kim Trọng, một hành động bị cho là  đồi trụy (nữ đáo nam phòng nữ tắc dâm!)

Nàng rằng:“Khoảng vắng đêm trường           
Vì hoa nên phải đánh đường tìm hoa           
Bây giờ rõ mặt đôi ta  
Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao!”

            

Kiều đã nắm bắt yếu tố: “Thiên - Địa – Nhân”  sau khi gặp nhau trong hội Đạp Thanh, hai bên “tình trong như đã, mặt ngoài còn e" nên Kim Trọng đến thuê nhà trọ gần nhà Kiều. Nàng biết, làm bộ đánh rơi trâm cài cho chàng nhặt  được rồi được trả lại và sau đó, lúc gia đình về quê ngoại, Kiều khai bệnh ở  nhà để tự do gặp Kim Trọng - nên trước mặt, qua mắt được cha mẹ để khởi đầu mối tình bất diệt với chàng.


...... Chứ  không có như cô gái nào đó:


Hôm qua anh đi trước cửa nhà nàng           
Thấy cha mẹ đập nàng, nàng khóc nàng than           
Nhà nàng cửa sổ song loan           
Anh muốn ghé lưng vô chịu 
Trận đòn oan cho nàng         


Nàng bị đòn là vi “đêm hôm” dám lén đi chơi với trai, một việc làm ngoài vòng lễ giáo, phải trừng trị thích đáng, đối với cha mẹ, chẳng oan chút nào cà. Nhưng điều gì đã kkiến cô liều mạng thế:


Em cứ  tưởng cha mẹ đập em vài ba roi
Chớ ai ngờ lại đập đến chín chục, một trăm roi            
Em bò lăn, bò lóc           
Em khóc đứng, khóc ngồi           
Anh ơi, dù bầm lưng máu chảy  
Em vẫn nguyện trọn đời yêu anh
          

Thật dễ sợ, sự rung động của con tim đã vượt qua tất cả mọi đớn đau của thân xác, trong bối cảnh của thời ấy mà dám khẳng định như  thế, chứng tỏ cường độ của tình yêu trong cô  gái đã đạt đến mức độ nào! Sự biểu lộ ấy làm chàng trai vô cùng xúc động, để diễn bày những động thái tình yêu cho lòng nàng ấm lại:

Cha mẹ đập em chín chục, một trăm roi
Đều vô một chỗ, máu đổ bầm da
Em ơi, đừng khóc, đừng có la
Rồi ta tìm nơi mô vắng vẻ           
Để ta bóp với thoa lần lần

            

Hai người đã tìm một nơi đồng không mông quạnh để tránh con mắt dị nghị của thiên hạ, nhưng chẳng có chuyện gì dấu được sau lũy tre làng. Chuyện thoa bóp đêm qua, sáng ra cả làng đều biết, chàng và nàng lại gặp nhau, kiểm chứng xem có sơ  suất ở “khâu” nào để ai đó thấy không, nhưng cả hai nhìn nhau mà lắc đầu:


Con mèo, con chó cũng không 
Bụi tre một chắc, ngoài đồng chẳng có ai!
       
Thế nhưng vẫn có những anh chàng đã không “ghé lưng vô chịu” mà khi nghe người yêu kể lể  sự đau đớn của mình lại không tin hay là giả  đò thế để được nhìn ngắm những lằn roi trên da thịt nàng?


Vì chàng thiếp bị đòn oan  
Không tin thì  dở áo: ngó lằn dọc lằn ngang trên mình

Mỗi cô gái có một thế đỡ khác nhau, nhưng tựu trung vẫn một lòng son sắt với người đã thệ ước.


Thầy mẹ đánh thiếp đàng trước           
Thiếp chạy ngõ sau 
Đạo can trường há dễ bỏ nhau sao đành!
            

Cũng có cô gái liều lĩnh bỏ ngoài tai cái chuyện  “Nam nữ thọ thọ bất thân”, thấy chàng rơi xuống nước đã không ngại ngùng:


Anh đi mô mà trợn trạo, trợn trạc           
Trúc cổ  xuống sông           
Em đây liều ướt áo 
Nhảy xuống sông bồng anh lên!


Nàng đâu biết đó là thủ đoạn của chàng trai!


Anh giả đò lộn cổ xuống sông           
Để  được em ôm, em bế, em bồng anh lên 


Trong thời xa xưa ấy, chuyện tình yêu gắn liền với hôn nhân, chứ không “văn nghệ” như bây giờ. Không yêu thì thôi, đã yêu thì phải nên vợ thành chồng chứ không lơ tơ mơ gì cả:


Đã thương thì thương cho chắc           
Đã trục trặc thì trục trặc cho luôn           
Đừng như con thỏ nọ  đầu truông 
Khi vui đùa bóng, lúc buồn giỡn trăng

 Và  có một chuẩn mực cân nhắc trước khi thực hiện vấn đề đó là “môn đăng hộ đối”. Những chàng trai khốn khổ thương cảm cho thân phận: ngại ngùng, lúng túng - nhất là những người tứ  cố vô thân - mặc dầu trong lòng đã yêu nàng da diết:


Một tay anh cầm chai rượu           
Một tay anh xéc buồng cau           
Đi ngõ sau cha mẹ chê anh khó           
Đi ngã trước chú bác nói anh nghèo           
Nhắm chừng duyên nợ cheo leo           
Sợ  nước to sóng vẫy           
Liệu có chống chèo chi được không?
          
Nhưng trái tim thì không biên giới và có một ngôn ngữ riêng của nó, cô gái không bận tâm đến những vinh hoa tầm thường, sẽ tìm mọi cách để thuyết phục:

Cha mẹ không thương anh           
Em đây miệng bẩm chân quỳ           
Em lựa lời năn nỉ  vân vi           
Rồi thương em chừng mô  thì thương anh chừng nấy 
Nỏ  can chi mô mà anh phiền
     
Cho dù là kín cổng cao tường với bao nhiêu răn  đe nghiêm cấm, chuyện yêu đương vẫn cứ xảy ra theo những tình tự hẹn hò, trông ngóng, nhớ  những ray rứt:


Trách anh sao vội ra về 
Để cho giông bão ê chề trong em

Đôi khi chỉ xảy ra một phía: Tình yêu đơn phương, nàng yêu thầm, nhớ trộm nhưng chàng đâu có hay, đành ấp ủ hình bóng ấy trong suốt cả cuộc hành trình và đến khi “trăng tàn bóng xế” lại hạnh ngộ, biết ăn nói gì đây:


Tuổi thanh xuân thiếp nỏ gặp chàng
Bây giờ ông sóm, mụ sém, hai đàng gặp nhau!
      
Không ai biết thời gian từ khi Bà Eva dâng trái Cấm cho ADong ăn đến bây giờ là bao nhiêu triệu năm?! Trí óc con người cũng đã làm thay đổi hoàn toàn bộ  mặt của trái đất chừng ấy lần !? Diễn tiến  đó cũng đã tạo ra trong xã hội, nhiều khu vực, nhiều giai tầng có những cách sống, nhu cầu phục vụ  và thụ hưởng hoàn toàn cách biệt.  Nhưng có một điều hình như không thay đổi, vẫn nguyên vẹn như ngày nào và hàng tỉ người đều có những động thái giống nhau, đó là Trái Tim với những yêu thương của nó do sự khởi  động từ người phụ nữ.

       
Trải qua chặng đường thật dài thăng trầm dâu bể của kiếp nhân sinh, yếu tố đó có những lúc như  chỉ âm ỉ dưới đống tro tàn, thân phận của họ, đôi khi bị đặt ở vị trí  thấp kém nhưng vẫn nuôi dưỡng được hạt giống để có cơ duyên là nẩy mầm, đơm hoa kết trái. Chính họ là người thừa hưởng và mang hạt giống ấy từ Bà Eva để đi vào tương lai.

       
Vinh danh không phải chỉ là những lời nói suông, khi đưa ra những thực chứng về sinh hoạt lứa đôi trong một giai đoạn cực kỳ khó khăn để hiểu được niềm tin, son sắt vào thế chủ  động của mình như là người giữ lửa, người nắm thiên chức tình yêu. Phải ghi nhận và thực sự  chia sẻ những điều ấy. Dâng tặng một bó  hoa cũng chẳng nghĩa lý gì bởi vì chính người phụ nữ là một đóa hoa tuyệt đẹp của nhân loại rồi và phấn hoa đã tỏa ra để tạo nên môi trường mát dịu cho quả đất.  

       
Ở khía cạnh vinh danh khác, xin mượn một câu nói của một người Mỹ: Women are half the population and the mothers of the other half ! (Người đàn bà chiếm một nửa tổng số của nhân loại và là Mẹ của một nửa còn lại). 
                              
                                                                           Lê Văn Trạch letrach@yahoo.com
READ MORE - Lê Văn Trạch - Tản mạn về THIÊN CHỨC CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ qua Văn học Dân gian

Tuesday, July 14, 2015

CON VỊT QUA CA DAO - Nguyễn Khắc Phước


Mùa hè, bạn thường về miền quê để du ngoạn hay thăm bà con, làng xóm, quê cha đất tổ. Thật thoải mái biết bao khi đi ngang qua cánh đồng lúa xanh rì, gợn sóng bồng bềnh mát rượi nhờ ngọn gió nồm êm ái. Nhưng cảm giác thoái mái tràn trề hơn hơn khi thấy trên cánh đồng ấy có một hồ nước điểm những hoa sen trắng hồng, hoa súng tím vàng và một đàn vịt đang bơi hiền hoà trên mặt nước. 

Cảm giác thoải mái lên đến tột cùng khi bạn nghe văng vẳng đâu đây giọng hò của anh nông dân đang đạp guồng nước và chị thôn nữ đang nhổ cỏ lúa trên đồng. Câu hò như thế này:

- Con vịt nó kêu "cặp, cặp"
Nó kêu không hồi không chặp, kêu khắp dòng sông
Kêu "Đào hoa giang thượng tương chiếu hồng"
Kêu trai chưa vợ, gái chưa chồng thành đôi
Kêu rồi nước chảy hoa trôi
Tiếng thời kêu "cặp" nhưng mồ côi một mình 

- Con gà nó kêu "chiếc, chiếc"
Hắn kêu tha thiết, kêu cả năm canh
Kêu: "Cô sản lưu thủy bất vị thần"
Trời kia khéo để duyên lành nhở nhơ
May mô ngộ gặp tình cờ
Tuy rằng kêu "chiếc" nhưng bây giờ thành đôi.

Vịt lội trên đồng, vịt trong câu hò, câu hát. Con vịt gắn liền với đời sống đời sống kinh tế cũng như tình cảm của người nông dân. Nơi nào có đồng, có ruộng, có cái ao nho nhỏ là nơi ấy có vịt, thứ gia cầm dễ nuôi, ít bệnh tật hơn gà.


Không kể những người nuôi vịt chạy đồng để làm kinh tế, bất cứ hộ gia đình nào cũng nuôi dăm con vịt chủ yếu để lấy trứng hoặc giết thịt. Người nông dân hằng ngày qua bữa bằng dưa cà còn vịt thì dành cho những dịp quan trọng:


Ra công trồng một vườn cà

Cà đem muối mặn cả nhà ăn chung

Vịt gà nuôi béo nhốt lồng

Chờ khi giỗ chạp, vặt lông cúng thờ.


Đôi khi ông chồng muốn làm một con để ăn cho đỡ thèm thì bà vợ khoát tay:


Thôi thôi đừng vịt đừng gà

Cà non chắm mắm, cà già làm dưa


Hoá ra thịt vịt đối với người nông dân là một món ăn sang trọng, chỉ dành để cúng ông bà. Cụ Nguyễn Khuyến viết :"Vườn rộng rào thưa khó đuổi gà", bỏ lơ chuyện đuổi vịt vì có lẽ cụ không nuôi vịt (nếu có vịt thì rất dễ đuổi bắt, dù vườn rộng rào thưa), còn những người nông dân mặc dù hiếm khi tự cho phép mình ăn thịt vịt nhà nhưng khá rộng rãi với khách khứa :


Ao ta ta thả cá chơi

Vườn rộng nuôi vịt, vườn khơi nuôi gà

Quanh năm khách khứa đến nhà

Ao vườn sẵn có lọ là tìm đâu.


Hay là : Khách đến nhà không gà thì vịt.


Vịt nuôi đại trà là vịt thương phẩm. Người thành phố không mấy ai nuôi vịt nhưng có thịt vịt để ăn quanh năm. Thịt vịt là món bình dân. Sáng ra mới mở mắt thì đã nghe rao:


Cháo gà cháo vịt cháo thịt cháo cua

Cháo rùa cháo ếch cháo lệt cháo lươn

Mới ra đường nóng hổi, vứa thổi vừa ăn

Cháo đây!


Ngoài thịt vịt, trứng vịt lộn cũng là món ăn khoái khẩu của người Việt ở thành phố. Nhà văn Lê Phi đã viết về nghề bán trứng vịt lộn ở Huế như sau : Thành phố Huế vào khuya, lẫn trong tiếng động cơ thưa thớt là những lời rao: “Ai lộn đây… lộn nào…” nhọc nhằn của những phụ nữ nghèo mưu sinh chốn thị thành nhờ thúng trứng vịt lộn . (Lê Phi, Dân Trí, 20-4-08).


Những cái tên của các bà, các chị đã đi vào ca dao :


Ở Phú bài có cô Chín, cô Hai

Ở An Cựu có bà Tú , bà Cai, bà Nghè

Trong thành nội có mấy o bán chè

Ngoài thành nội có mấy bà bán hột vịt lộn rao rè cả đêm.


(Bà Tú, bà Cai, bà Nghè mà phải đi bán trứng vịt lộn thì các bạn có thể đoán câu ca dao nầy xuất hiện vào thời điểm nào.)


Người sành ăn thịt vịt biết chọn vịt nào để làm thịt:


Vịt già, gà non.


Thịt vịt thì hiền nhưng trứng vịt thì người đang ốm phải coi chừng :


Gà độc thịt, vịt độc trứng.


Thịt vịt và trứng vịt là thực phẩm cho người, còn vịt con thì :


Bao phen quạ nói với diều

Ngả Kinh Ông Hóng có nhiều vịt con.


Con vịt không chỉ là thực phẩm hay thương phẩm mà hình ảnh hiền hoà dễ thương của nó xuất hiện trong nhiều tình huống, làm vật trung gian tạo điều kiện thuận lợi để con người giao tiếp với nhau.


Ao bèo, hồ sen với đàn vịt lội là nơi nhiều mối tình quê nẩy nở:


Chiều chiều vịt lội bàu sen

Để anh lên xuống làm quen với nàng


Và


Chiều chiều vịt lội bờ làng

Thương người áo trắng vá quàng nửa vai


(Vịt lội bàu sen mà em cũng có thể đang lội bàu sen, đang chăn vịt hay hái bèo. Có em thì có vịt. Em và vịt, hai hình ảnh gắn liền nhau. Vịt dễ thương mà em cũng dễ thương.)


Và là nơi hẹn hò của bao cặp tình nhân:


Ngập ngừng vịt lội ao sen

Bữa nay gặp lại người quen tôi mừng.


(Vịt xuất hiện thì em cũng có mặt. Vịt là dấu hiệu của em. Vịt là cầu nối, là kẻ mối mai se kết cho tình duyên của anh và em. Thương em, thương cả... đàn vịt của em.)


Thế nên khi phải xa nhau thì hình ảnh con vịt  gợi nhớ đến người mình yêu.



Nếu là phụ nữ có chồng đi xa thì:


Vịt nằm bờ mía rỉa lông

Cám cảnh thương chồng nhạn lạc đằng xa.


Người đi xa lại cảm thấy lo lắng cho người yêu, người vợ đang ở quê nhà vào mùa nước nổi:


Chiều chiều vịt lội mênh mông

Cầu trôi ván nổi ai bồng em qua.


Khi nước lớn, con vịt lội tung tăng chẳng có gì nguy hiểm còn người con gái một thân một mình bên giòng nước xiết thì biết bao là hiểm nguy.


Khi đôi uyên ương quyết định thành vợ chồng thì con vịt cũng là món sính lễ :


Người ta giàu thì đầu heo nọng thịt

Tụi mình nghèo thì cặp vịt, đôi bông

Sao mai mọc buổi hừng đông

Ước sao nên vợ nên chồng thì thôi.


Hình ảnh con vịt còn đi vào ngôn ngữ dân gian.



Khi uống vào mấy xị thì ông nào cũng hăng tiết vịt, phê bình bạn mình là đá gà đá vịt, nghĩa là làm ăn qua loa. Hai bên cãi nhau, ông nói gà bà nói vịt, chẳng ai hiểu ai. Nói quá đến khi khan cổ thì nói khàn khàn như vịt đực.


Có cô gái Miên lai Tàu đi ngang qua, các ông chê là đầu gà đít vịt và thấp lè tè như vịt.


Các thầy cô giáo thường khổ sở vì các học sinh lười biếng, nói không chịu nghe, khuyên bảo gì cũng như nước đổ đầu vịt. Nhiều học trò thời nay suốt đêm thức chơi game và tới lớp thì ngủ gà ngủ vịt. Nếu lỡ quát mắng hay đánh học trò thì không dưng phải vạ vịt. Trẻ con cùng lứa tuổi thì xấp xỉ ngang nhau, như trứng gà trứng vịt. Có đứa thông minh, nhưng trò ra trò, thầy ra thầy, trứng không thể nào khôn hơn vịt.


Tội nghiệp những đứa trẻ mất mẹ phải sống với mẹ kế, bởi vì: Mẹ gà con vịt chít chiu. Mấy đời dì ghẻ mà yêu con chồng.


Mẹ gà yêu con khác giống nhưng dì ghẻ lại ghét con của chồng - người mình yêu thương; như vậy con người tệ hơn con vật. 

(Ca dao thì vậy nhưng thực tế thì khác: Lúc nhỏ không nhận ra, nhưng sau một hai tuần trộng trộng, gà mẹ biết là không phải con mình, thường mổ cắn để đuổi đi.)


Trong bức tranh miền quê, hình ảnh con vịt trên hồ sen đem lại cảm giác an bình. Hình ảnh ấy gắn liền với miền quê, gắn liền với những tình cảm thật thà chơn chất, gắn liền với với những gì thân thương nhất như người yêu, người vợ, người chồng và đôi khi cả người mẹ nửa :


Lắng nghe chim vịt kêu chiều

Bâng khuâng nhớ mẹ chín chiều ruột đau.


Mặc dù đó là con vịt trời nhưng cũng là vịt đấy thôi.


Con vịt có nhiều ý nghĩa như thế, thịt vịt đối với người dân quê quý giá đến thế nên mẹ của bạn và cả gia đình bà con đang trông ngóng bạn về để thết bạn một bữa thịt vịt, thứ vịt đã được vổ béo bằng lúa chín rụng sau mùa gặt, bằng con tôm con tép dưới ao' bằng con giun, con dế trong vườn, là thứ thịt vịt ngon không thể nào tả được, và đặc biệt thơm tho tình cảm quê hương.


Mai bạn có về quê, cho tôi về cùng với nhé.


                                                  Nguyễn Khắc Phước
READ MORE - CON VỊT QUA CA DAO - Nguyễn Khắc Phước

Thursday, May 14, 2015

Lê Văn Trạch - TỪ MỘT CÂU HÒ


Tác giả Lê Văn Trạch


TỪ MỘT CÂU HÒ
 
  Lê Văn Trạch

  
            Tiếng hát lời ru quê mẹ như một điều mặc nhiên có sẵn trong mỗi một chúng ta, đôi lúc do môi trường sống, nó lặng đi, nhưng chỉ cần một gợi nhắc nho nhỏ, niềm xúc cảm lại hiện về - giống như cây cỏ chỉ ở đất Quảng Trị:  lây lất khô héo nhưng dai dẳng, cần một con mưa là xanh ngắt.

            Lời ca lắm khi phổ thông tự nhiên qúa nên chúng ta thường dễ dãi và ít thắc mắc về ngôn từ hay ý nghĩa như những loại thơ văn khác, bình thường như kiểu:
  
            Nửa đêm giờ tý canh ba
            Vợ tôi con gái đàn bà nữ nhi

           Có lần tôi đem nhận xét này trình bày với các bậc Trưởng Thượng, những người rất tâm đắc với thi phú và có trí nhớ tuyệt vời.  Qúy vị ấy cũng có ý nghĩ như vậy bởi mọi người đều biết đây là sản phẩm của nông dân với ngôn ngữ đời thường, bình dị đôi khi dung tục và truyền khẩu nên theo thời gian sai lạc đi mà không có ai sửa chữa hiệu đính...

            Có một câu hò, được phổ biến rộng rãi, tôi thuộc nằm lòng, nhưng đến khi nhắc lại từng lời, ta mới chú ý thấy cái qúa bình thường của nó:

            Con mèo, con chó có lông
            Cây tre có mắt, nồi đồng có quai.  

             Những điều ai cũng biết… nhưng thực tế, theo sự suy diễn, nguồn gốc nó không phải như vậy:  câu chuyện có đầu có đuôi, có xuất xứ đàng hoàng…: từ một chuyện tình: là tâm sự,  là thắc mắc, là ngạc nhiên của một đôi tình nhân, vào một đêm thanh vắng, lén gặp nhau ngoài đồng, nhỏ to tâm sự dưới bụi tre kín đáo, thế mà sáng ra, cả làng đều biết!  Chàng và nàng lại gặp nhau, kiểm tra từ lúc xuất phát cho đến khi tới điểm hẹn xem thử có thấy, có gặp bóng dáng nào?
 Cả hai đều lắc đầu và thảng thốt:

            Con mèo, con chó cũng KHÔNG
            Bụi tre MỘT CHẮC, ngoài đồng CHẲNG CÓ AI!

           Thế thì tại sao mọi người đều rõ ?!
           Sự thực việc xuất xứ của câu hò không biết như thế nào và chúng ta cũng không nên bận tâm về việc suy diễn để có được ý thứ hai.
            Dù sao thì từ một câu hò bình thường nó đã trở nên sắc sảo, sinh động và rất Quảng Trị !

                                                                                                                                                             Lê Văn Trạch
                                           letrach@yahoo.com
READ MORE - Lê Văn Trạch - TỪ MỘT CÂU HÒ

Wednesday, May 15, 2013

MẤY CÂU ĐỐI BÌNH DÂN Ở QUẢNG TRỊ - Nguyễn Hồng Trân (sưu tầm và giới thiệu)


                        
1.Thầy thuốc hay ho, không uống rượu
Bệnh nhân sốt sắng, được ăn chè.

2.Thuốc sơ sơ, nhờ thần hiệu
Thầy dở dở, đỡ xóm giềng.

3.Bánh ít nhiều đường, bánh ít ngọt
Chè kê vừa mật, chè kê ngon.

4.Cháo bột Diên Sanh, thơm cay hấp dẫn
Bánh gai Thượng xá, ngon ngọt đậm đà

5.Rượu trắng Kim Long, uống rồi, thích uống nữa
Nem chua Chợ Sãi, ăn đã, thèm ăn thêm.


Lưu ý: Năm câu đối bình dân nêu trên, khi đọc lên chắc nhiều người đã dễ hiểu. Riêng vế câu đối đầu tiên rất hay; không những hay về ý nghĩa chuyện ẩm thực dân gian mà trong đó còn ẩn ý về tính chất, thái độ xử sự tình thế của người đời.

Cụ thể là chữ “hay ho”: nghĩa đen là bị chứng bệnh ho luôn, nhưng từ láy “hay ho” có nghĩa khác là thầy thuốc giỏi.

Câu thứ hai trong vế đối 1, có từ láy “sốt sắng” thì “sốt” cũng là một chứng bệnh sốt, và từ láy “sốt sắng” cũng nói nên tính chất hoạt bát đã phục hồi được sức khỏe của bệnh nhân.

Ghi chú: Những cặp câu đối 1, 2  là do cụ Giáo Tiềm (thầy thuốc Bắc ở chợ Diên Sanh) sáng tác. Còn lại các cặp câu đối khác là từ dân gian không rõ có từ khi nào và do bà cụ Phan Thị Cúc (làng Thượng Xá) kể lại và Nguyễn Hồng Trân ghi chép.
READ MORE - MẤY CÂU ĐỐI BÌNH DÂN Ở QUẢNG TRỊ - Nguyễn Hồng Trân (sưu tầm và giới thiệu)

Wednesday, April 18, 2012

MỘT SỐ ĐIỆU VÈ CỦA NGƯỜI QUẢNG TRỊ - Ngô Duy Hưng sưu tầm

Ngô Duy Hưng



Cũng như nhân dân các địa phương khác trong cả nước, người dân Quảng Trị từ xưa đã sáng tác nhiều điệu vè, góp phần tạo nên sự phong phú, đa dạng của loại hình văn học dân gian nước nhà. Những điệu vè này kể lại những sự kiện lịch sử, những câu chuyện để khen cái tốt, mĩa mai thói xấu, miêu tả hoạt động và cảnh vật,... đã tạo nên những vần thơ sâu sắc, mang đậm hình ảnh quê hương và tình cảm con người Quảng Trị. Rất mong nhận được những sưu tầm thú vị khác. (NDH)
  
1. Vè Địa danh 
 
VÈ QUẢNG TRỊ

Đồng bào lẳng lặng mà nghe
Tôi kể chuyện về Quảng Trị lầm than
Năm tư hữu chiến thái hòa
Lấy sông Bến Hải vạch đôi sơn hà
Nghĩ rằng chiến trận Đông Hà
Đẩy lui đẩy tới tỉnh nhà rồi yên
Cộng hòa biệt động trâu điên
Ra công chống cự tìm đường rút lui
Khổ cho dân chúng lầm than!
Mẹ bồng con dại khúc nôi đoạn trường
Kẻ thì tuôn chạy đường quan
Người thì băng ruộng tìm đường mà vò
Khổ cho dân chúng than ôi!
Có người bị pháo ô hô cuộc đời
Đã đi thấu Huế đây rồi
Đoái nhìn chốn cũ hai hàng lệ rơi

VÈ BA LÒNG
Quê hương - chiến khu Ba Lòng, thuộc huyện Đakrông, Quảng Trị. Một miền quê thanh bình lúa ngô tươi tốt, đò thuyền đầy sông.


 Thanh trời rạng thấy núi xây
 Rừng xanh suối bạc đáo vầy tứ phương
 Trà Trì, Văn Vận hai phường
 Đá Nầm, Chinh Thạch giao lương thuận hòa
 Tháng năm bắp đã tới mùa
 Chè thơm mít chuối bên Cùa gánh sang
 Bao nhiêu thao vải, lụa hàng
 Vật gì phường chợ cũng băng ngàn trải lên
 Đò thì mắm nục, mắm nêm
 Đò thì cá khô, muối ruốc cũng mang lên tại phường
 Đò thì gạo, nếp, trứng, đường
 Đò thì vàng bạc, lược, gương, cau trầu
 Đò thì ghè, đục, ang, âu
 Tréc, om, trình thống, dĩa dầu, bình vôi
 Buôn chi thì nỏ có lời
 Lưỡi cày, lưỡi cuốc, núc, nồi, đá, dao
 Buôn chi than, vải lụa thao
 Nhuộm màu xanh lục, rêu rao thêu thùa
 Bao nhiêu cũng nhờ hột bắp mà thôi
 Rồi mùa ngó lại, giơ cồi với mao

2. Vè nói ngược

VÈ NÓI NGƯỢC (1)

Ve vẻ ve ve là vè nói ngược
Con chim làm tổ dưới nước 
Con cá làm tổ trên cây
Thằng nhác dắt trâu đi cày
Thằng siêng nằm ngay dưới lộ
Thuyền thời đi bộ
Ngựa chạy dưới sông
Cá nhám lên ăn côi đồng
Cá cưỡng xuống ăn dưới nước
Cái vè nói ngược thôi đã khó nghe
Ông tru ấp trứng sau hè
Mạ gà cao bành dễ cưỡi
Con heo ra ăn Đồng Hới
Bầy dê vô ăn cám trong truồng
Tháng năm lấy nước xối buồng
Tháng mười chờ lụt
Lão thợ rèn hông xôi chạp hụt
Ông xã đi đập sắt cả ngày
Chồng đền cắn cổ muông săn
Cái đời chuột lắt chạy ra cắn mèo
Mấy đời cho em cám ăn heo
Cho chuột ăn mè, cỏ lá ăn trâu


VÈ NÓI NGƯỢC (2)

Nghe vẻ nghe ve
Nghe vè nói ngược
Chim thì đẻ dưới nước
Cá thì đẻ trên cây
Thằng chết thì dậy đi cày
Thằng sống nằm ngay dưới lộ
Thuyền chèo trên bộ
Một trộ mưa giông
Mối lại ăn gà
Bao giờ đàn bà
Đánh giặc trả vua
Con tôm con tép
Thì lùa chim ăn
Chồn đèn cắm trả muông săn
Gà con cắp quạ lên ngồi trên cây
Đầy tớ trở lại mắng thầy
Trấy cam trấy quýt
Chảng rầy hôm mai.


Ngô Duy Hưng
duyhungdkr@yahoo.com.vn
                                                                            Mobi: 0915.716.778

READ MORE - MỘT SỐ ĐIỆU VÈ CỦA NGƯỜI QUẢNG TRỊ - Ngô Duy Hưng sưu tầm

Monday, February 27, 2012

NHỚ LẠI MỘT BÀI VÈ Ở QUÊ TÔI - Nguyễn Hồng Trân


Trong những năm trước chiến tranh chống giặc Pháp, có một bài vè ngắn xuất hiện ở quê tôi mà dân làng ai cũng biết. Đó là bài vè: “LÊN PHƯỜNG ĐỐN BỔI”.

Bài này do truyền miệng của các chàng trai làng Trà Trì từ miền xuôi lên miền ngược thôn Phú Long làm thuê đốn bổi để phủ lên các luống vồng sắn mới cắm trồng nhằm cho đất có độ ẩm và ngăn chặn cỏ mọc,  làm cho cây sắn phát triển tốt hơn.

Bài vè rất đơn sơ mộc mạc nhưng cũng đã nói lên cái tính cần cù, chịu khó lao động của các nông dân vùng xuôi ít ruộng đồng; đời sống vất vả thiếu ăn hàng năm nên phải đi làm thêm ở nơi khác để có thêm thu nhập cho gia đình.

Bài vè này được lan truyền khắp cả vùng gồm mấy thôn: Phú Long, La Vang, Phường Sắn… Giờ đây nhiều người vẫn còn nhớ thuộc lòng.

Giêng hai không biết mần chi,

Lên phường đốn bổi rú  ri phải lòn.

Ăn rồi chân chạy bon bon,

Cây gai cũng đạp, vai mòn dơ xương.

Ông trời ăn ở thất thường,

Sáng mưa, trưa nắng, tối sương dầm dề.

Đêm năm chân chắc ủ  ê,

Mai thì đốn bổi lên kề Phước Môn.

Có khi thất sắc, hại hồn,

Ngửi mùi khét cọp lo chuồn chạy ngay.

Về thì triêng bổi chưa đầy,

Rất lo nhà chủ la rầy tốn công.

Thôi đành chịu bớt mấy đồng,

Còn hơn mất xác trong vòng hiểm nguy!

Ăn uống thì chẳng có chi,

Cơm toàn sắn độn, canh thì toàn rau.

Rứa mà sì sụp như nhau,

Cơm canh đều hết, gật đầu khen ngon.

Chiều tối vang tiếng cười dòn,

Cùng nhau chuyện tiếu bà  con cười khà…

Bây giờ ở làng tôi nhiều ông bà già  vẫn còn nhớ bài vè đó như các ông Nguyễn  Đợi,  Trương Mẫn, Phạm Vãn, Nguyễn Bá Căn, bà Trương Thị Song, v.v… và thỉnh thoảng lại đọc vè cho các con cháu nghe cho vui.

Khi đọc bài vè này lên, chúng ta hình dung được cuộc sống lao động vất vả của những người nông dân ở miền quê nghèo nàn luôn luôn lo miếng cơm manh áo mà chịu khó, chịu khổ tìm việc làm thêm kiếm kế sinh tồn. Tuy công việc hàng ngày  đầy nặng nhọc, khó khăn nhưng họ vẫn an phận cuộc đời lam lũ nhọc nhằn ở thôn quê mà không kêu ca than phiền chút nào. Trái lại, họ cũng biết đùa vui thư giãn tinh thần sau những ngày giờ lao động mệt nhoài thân thể.


Nguyễn Hồng Trân
nghongtran38@gmail.com

Ảnh minh họa của Hoàng Tuấn: Chiều quê
READ MORE - NHỚ LẠI MỘT BÀI VÈ Ở QUÊ TÔI - Nguyễn Hồng Trân