Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Võ Văn Luyến. Show all posts
Showing posts with label Võ Văn Luyến. Show all posts

Thursday, March 12, 2026

VÕ XUÂN HUY, NGƯỜI ĐI XUYÊN BÓNG TỐI - Võ Văn Luyến

 VNQT đăng lại bài của nhà thơ Võ Văn Luyến nhân ngày giỗ lần thứ 10 của họa sĩ Võ Xuân Huy (15/3/2016 - 15/3/2026)


Họa sĩ Võ Xuân Huy tại biển Mỹ Thủy.

VÕ XUÂN HUY,

NGƯỜI ĐI XUYÊN BÓNG TỐI


Không ít người nghĩ rằng đời người khép lại bằng hành trình viễn du trong bóng tối, cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Hình hài bằng xương bằng thịt của chính anh trở về cát bụi, đó là thực thế khó cưỡng của quy luật vô thường. Nhưng một hiện hữu khác, vô hình mà mang sức mạnh hơn trăm hữu hình, là anh cầm cây linh trượng đi xuyên bóng tối, đến đâu tỏa phát ánh sáng đến đó. Một thứ ánh sáng trí tuệ được bao quanh bởi những vòng sóng cảm xúc làm cho người ta tự tin , quên đi sự sợ hãi của đau đớn. Đấy là những gì anh để lại cho đời, dưới bất kỳ hình thức nào.

Khi ngụp lặn trong cõi nhớ quên ấy, anh là một trong số hiếm hoi từng ở cõi nhân gian gieo lạ lẫm, bất ngờ từ sự kiện này đến sự kiện khác, bằng sự xuất hiện mới mẻ và gây không ít hứng thú. Non một phần tư thế kỷ dõi theo con đường nghệ thuật tạo hình, mới thấy không chỉ có những gì đã thực hiện mà ở anh luôn ôm áp, luôn hoài thai, luôn chất chứa những khát vọng chóng mặt, những dự án mang tầm nhìn, tầm tư tưởng có tính vẫy gọi và ngẫm ngợi về một cuộc sống mang ý nghĩa tích cực. Anh quan niệm, thực thể tự nhiên và con người không có gì xa lạ, nó ở trong ta và quanh ta, gần gũi thân thiện và gắn bó với đời người như máu thịt. Mặt trời, mặt trăng, vì sao trên cao cùng với hoa cỏ dưới thấp kia là thế giới hiện thực khách quan, tồn tại ngoài ý muốn của con người. Nhưng dưới con mắt và tài nghệ của người nghệ sĩ, nó sinh thành vẻ đẹp của sự tạo tác, tạo nghĩa, tạo ý niệm của thế giới mới: Thế giới độc sáng “xuống đất gặp trời”. Ngỡ tưởng cái thông điệp làng hầm ngủ yên sau chiến tranh lại bừng thức, kết nối quá khứ với hiện tại trong cách tạo đường truyền mang màu sắc hiện thực huyền ảo. Cái cách thăng hoa bay lượn của cánh diều nghệ thuật được điều khiển bằng sợi dây lịch sử “một đi không trở lại”. Cái cách “ôn cố tri tân” truyền thống cách mạng của họa sĩ Võ Xuân Huy bằng lối mở sáng tạo này có thể nói không quá rằng ít ai nghĩ tới và làm được. Sáng tạo là mở đường, là hành xác nếu anh thực sự dấn thân. Sự lười biếng, dẫm chân tại chỗ hay theo lối mòn đồng nghĩa với việc đặt dấu chấm hết. Theo tôi được biết, đến giờ phút này, những người theo đuổi đam mê nghệ thuật tạo hình rất ít ai/ít khi hướng đến nghệ thuật sắp đặt. Dễ thấy trước tiên là sự tốn kém thời gian, tiền bạc lại phi lợi nhuận; trong lúc đó, rất cần đến ý tưởng táo bạo, đến thông điệp, đến sự lựa chọn thời điểm đặt trong sự tương tác, tương giao nhằm khai thác triệt để tiềm năng lợi thế, phát huy tối đa hiệu ứng nghệ thuật đi vào cuộc sống và trở lại, làm giàu giá trị cuộc sống trên một nhãn quan mới mẻ. Đấy là cách tiếp cận hiện đại trên nền truyền thống. Bằng cách này, Võ Xuân Huy cũng đã tạo ra “biến thể” trong tranh sơn mài. Sơn mài truyền thống lấy sơn son thếp vàng làm nền tảng căn bản của sáng tạo nên hầu như người họa sĩ hướng đến tìm tòi khám phá nội dung là chủ yếu. Tất nhiên, cuộc sống không ngừng vận động phát triển, đòi hỏi nghệ thuật bám sát thực tiễn sau những trải nghiệm, chiêm nghiệm, siêu nghiệm. Dầu vậy, cuộc sống thay đổi theo nhiều hướng thuận nghịch, đặt ra nghệ thuật cũng phải đổi thay mới đáp ứng, mới thỏa mãn yêu cầu, nhu cầu tiếp nhận cùng với sự hứng khởi đón nhận. Nhận thức sâu sắc con đường gai chông khó dựng được đài tháp nghệ thuật nếu anh vẫn cặm cụi đi theo lối cũ, nhà nghệ thuật tạo hình của chúng ta không ngại ngần “tháo khoán” những gì đã mặc định để kiến tạo lại. Biến trơn nhẵn láng bóng thành nứt nẻ, lồi lõm, đôi chỗ gần với thô ráp để nói lên sự tàn phá của thời gian, của biến cố, của cuộc sống vốn phơi phóng sự trần trụi tự nhiên nhi nhiên. Có khi, anh còn đưa tranh sơn mài đi xa hơn bằng cách “động” hóa loại hình nghệ thuật vốn “tĩnh” này. Đó là việc tạo tác cánh đồng chữ bằng cách “bắn” vào tranh chữ số chữ viết, chất thải vỏ bia hoặc cây súng bị hoen gỉ được bới lên từ lòng đất nơi cuộc chiến ác liệt từng đi qua. Và anh cho rằng đó là cách kiến trúc “ngữ pháp mới” cho dòng tranh sơn mài. Có lúc tôi nghĩ sự bày biện tâm hồn của người mà theo cách nói của Xuân Diệu là “con chim đến từ núi la./Ngứa cổ hót chơi”. Võ Xuân Huy chơi trò chơi tài hoa, sang trọng không dễ ai cũng nghĩ đến. Họa sĩ luôn hướng đến những gì cao vời cao cả nên dường như không còn rào cản chật hẹp nào gián cách anh với cuộc đời. Quả không hổ thẹn khi nói rằng, hai mươi năm của họa sĩ tài hoa này bằng mấy mươi năm cho người tạo đà bước nhảy quyết định.

Ở đời, có những chuyến đi để trở về. Có những chuyến đi siêu thăng vào cõi khác. Võ Xuân Huy có cả hai. Dù đã vào cõi Vô cùng, nhưng tâm hồn, trí tuệ, di sản sáng tạo của anh mãi còn trong trí nhớ. Trong giao tiếp, anh luôn cho thấy khả năng triết luận những vấn đề nhân sinh sâu thẳm, khéo cù người khác cùng đối thoại, đàm thoại và thường đồng cảm ở sự chia sẻ mà không cần phải khoa ngôn lộng ngữ, cao đàm khoát luận. Không chút nghi ngờ, điều này được nhiều người trong giới trí thức, văn nghệ từng đánh bạn với anh thừa nhận.

Tôi với Huy là bạn vong niên. Một tình bạn, với tôi, khó có được sự thay thế. Mỗi lần tôi vào Huế hay anh ra Đông Hà, không thể không gặp nhau (trừ những lúc bận công hay tư việc khó sắp xếp). Và những lúc ấy, câu chuyện văn chương nghệ thuật dường như khó có điểm dừng. Nó cuốn hút đến độ hơn cả đọc một cuốn sách hay, vì những luận bàn hoặc dẫn truyền đủ để bồi đắp tri thức mới mà đời sống mỗi người không dễ có cơ hội tiếp cận (cả vốn sống lẫn sách vở).

Võ Xuân Huy là người đi xuyên bóng tối. Bóng tối, ẩn tượng của sự mờ mịt che khuất với những ai thuộc trường phái “bi kịch lạc quan” sách vở sẽ sống cầm chừng, sẽ yêu mức độ, nghĩa rằng người ta mãi thụ động kiểu vọng nguyệt “sau cơn mưa trời sẽ sáng”. Anh thì không, sống là cuộc chạy đua thời gian. Tiếc thay, cuộc đua tiếp sức đành dang dở, dù người họa sĩ bồi thấn cho đời nhiều thêm sự giàu có của con mắt và trí tuệ.

16.9.2021

Võ Văn Luyến


READ MORE - VÕ XUÂN HUY, NGƯỜI ĐI XUYÊN BÓNG TỐI - Võ Văn Luyến

Tuesday, February 24, 2026

Tưởng niệm Họa sĩ VÕ XUÂN HUY- Võ Văn Luyến

 (Đây là bài viết của nhà thơ Võ Văn Luyến đã viết đăng báo 17 năm về trước và in lại trong tập tiểu luận - phê bình :ĐỐI NGỌN ĐÈN KHUYA - NXB THUẬN HÓA- -2014 của tác giả . Chủ nhân Tri Âm Các post lại để tưởng niệm một họa sĩ tài hoa nhiều người ngưỡng mộ)

VNQT chép từ trang Facebook của nhà thơ Võ Văn Hoa.

 

.

Võ Văn Luyến

QUÊ CỦA HUY

 

Họa sĩ Võ Xuân Huy.

Hình từ website: thethaovanhoa.vn


      Những người chưa hề cầm cọ như tôi thì chỉ biết xem tranh. Nhưng qua 30 tác phẩm triển lãm giữa tháng sơ đông năm qua tại Huế của hoạ sĩ Võ Xuân Huy đã tạo không khí ấm áp và sâu đằm tâm tưởng. Ngôn ngữ hội hoạ của anh khéo dựng dậy trong con người ta tình yêu xứ sở và ngầm đánh thức, trước hết là lòng mình, chớ “di cư sang cõi khác” mà quên đường về. Đó là quê hương. Quê hương mới là mối tình thứ nhất nguyên vẹn, thuần khiết và khi xa rời, mối “tương tư hương đồng gió nội” vừa dịu ngọt vừa da diết không nguôi.

     Cái khác lạ của Huy là không khoác lên mình hào nhoáng mà đâu đó vẫn còn bám víu vào lô - cốt - tinh - thần - thành - thị thời thượng khi không phải máu thịt đời người. Mới hay sự sang trọng đâu phải ở đề tài mà ở hoạ pháp. Tranh của Huy phần lớn thiên về trường phái biểu hiện, đường nét thô mộc nhưng tinh tế trong sự biến hoá giàu tính tương phản và chất ngụ ngôn. Ý nghĩa triết lý vì thế trở nên lung linh sinh động và đầy ấn tượng.

     Nghệ thuật vốn đa sắc. Tranh của hoạ sĩ Võ Xuân Huy cho thấy những suy tư sâu thẳm và khi cần, cũng rất bạo liệt, thách thức với những cọ xát và va đập đời thường. Đêm loạn là sự phản tĩnh, cảnh báo con người trước những dụ dẫn vật hoá. Ngay cả khía cạnh đồng tiền cũng làm trào dâng nỗi xót xa từ những đứa bé bán rong vây quanh “Thượng đế” mắt xanh, mũi lõ. Dường như những gì ở ngoài đời thật bình thường vào tranh của Huy nội tâm bỗng trở nên toả sáng một vấn đề nào đó của cuộc sống: rưng rức những niềm thương hoặc cồn cào con sóng lòng vỗ vào bờ đá, sôi sục tung lên muốn xoá đi những chấm than không đáng có.

     Đánh bạn với Huy, nhiều lúc tôi lẩm cẩm nghĩ rằng anh là con người sách vở, xa thực tế (vì anh nói rất hay về tài tình ông nọ bà kia như đang nói trước học trò của mình) nhưng trong nghệ thuật thì rất nhạy cảm nắm bắt hồn vía của cuộc sống xung quanh và nhờ thế, những thông điệp chuyển tải tác động mạnh vào trí nhớ người tiếp nhận. Mảng tranh tập trung, dồn nhiều tâm sức của anh là miền quê yêu dấu đắm sâu hoài vọng về dòng sông ký ức vàng son một đi không trở lại, “Không ai có thể hai lần tắm nước một dòng sông” - điều mà  triết gia cổ đại Heracolit đã từng nói. Đó là các bức quê I, II, III, IV, v.v...như những nốt láy thanh âm của im lặng. Các hình ảnh quen thuộc kết hợp trong những hình khối, đường nét, màu sắc như: người nông dân, nơm, cá, mèo, diều giấy, con trâu, cái lu, cái gáo...Được tác giả đẩy tới phạm trù mỹ học mang ý nghĩa biểu trưng, cài đặt nên những mâu thuẫn kỳ diệu của sự sinh tồn. Đó là sự đồng hành tồn tại trong đối lập như chú chuột Mickey với chú mèo trong phim hoạt hình của Walt Disney. Nói đối lập lý thú là bởi sự rượt đuổi đến tận cùng nhưng không tạo ra cái ác. Đấy mới chính là con đường tìm tòi lặng lẽ của Võ Xuân Huy và chắc chắn trên hành trình cam go nhưng đầy đam mê vươn tới cái đẹp, thời gian sẽ ủng hộ cây cọ trẻ tuổi, chí lớn này.

        Huế, 1999

        VVL

READ MORE - Tưởng niệm Họa sĩ VÕ XUÂN HUY- Võ Văn Luyến

Friday, April 2, 2021

"MÂY TRẮNG BÊN TRỜI" HOÀI VỌNG - Võ Văn Luyến đọc thơ Nguyễn Văn Trình


Nhà thơ Nguyễn Văn Trình và nhà thơ Võ Văn Luyến.


"MÂY TRẮNG BÊN TRỜI" HOÀI VỌNG

Võ Văn Luyến, Nhà thơ-Ths-Gv trường CĐSP Quảng Trị

       

          Thơ, ở khía cạnh nào đó, là sự trở về bản ngã hồn nhiên nhất của con người. Trần Mạnh Hảo xác quyết, “thơ chính là tuổi thơ của loài người”. Người làm thơ mang con mắt trần gian thanh lọc những che khuất rối nhiễu, trả lại nguyên khôi điều ước trong veo như trời xanh mây trắng. Đấy là cái nhìn của tôi khi đọc Mây trắng bên trời của nhà giáo – thi sĩ Nguyễn Văn Trình. Chưa vội bàn câu chữ, chỉ dừng lại ở tình cảm, cảm xúc xuyên suốt trong thơ anh không thôi đã thấy lấp lánh một tinh cầu ấm áp, một tươi rói yêu thương và chia sẻ. Đã ngoài cái tuổi tri thiên mệnh, người thơ nuôi dưỡng được trạng thái chồi non lộc biếc đến nhường ấy đáng để bầu bạn cùng trang lứa như chúng tôi thán phục.

Tổng quan thì như thế, nhìn sâu hơn  không hẳn. Thơ anh không thiếu những miên trường thao thức, những băn khoăn day dứt, và tất nhiên, lắm khi ta bắt gặp những chiêm nghiệm đúc ra từ cuộc sống. Dầu vậy, ta vẫn yêu hơn những câu thơ sáng trong lặng lẽ của anh. Đó mới thực sự là những tín hiệu tâm hồn nhấp nhánh nguồn sáng dịu êm đính lên khung trời hoài niệm:

Nhớ mùa xanh lá vẫy môi chào

Ôi hồn nhiên nắng ngọt chiêm bao

             (Nắng chiêm bao)

 Hay:    

Em về buốt tím hoa mua

Đường côi mấy nẻo gió lùa hồn anh

                (Em về bên ấy)

 

Hình bìa của tập thơ "Mây trắng bên trời"

          Có thể nói, nội cảm hóa thế giới thực tại làm nên hồn vía và sức sống câu thơ. Gần gủi hơn, làm cho cuộc sống quanh ta thêm phần thú vị bởi trên dòng đời lũ cuốn làm ta tỉnh thức những nhớ quên giữa ngổn ngang sấp ngữa.

          Không gian tự tình trong Mây trắng bên trời mang những ảnh hình thân thương, thân quen, thân thuộc với nghề cầm phấn, với nõn mây thấp thoáng dưới bóng phượng hồng, với cánh bướm bâng khuâng chập chờn vẫy gọi ở nơi xa nào, với những bông hoa chớm nở vội rã rời trước nắng mưa cuộc đời dội xuống... Tất thảy được người thơ nâng niu, trân trọng trong cảm thức miên man trăn trở thường trực.

          Lặng lẽ viết, lặng lẽ tự tình với những con chữ tí tách nẩy mầm yêu thương và khát vọng, Nguyễn Văn Trình đến với thơ bằng hiển tâm của người mang sứ mạng chở đạo. Chính thiên chức nhà giáo – thi sĩ đã giúp anh hái được những bông thơ sắc thắm bên trời. Và bạn đọc sẽ thấy nhiều vẻ đẹp khi dạo vườn thơ của anh.

Tác phẩm thơ, tự thân nó làm nên một định nghĩa; mỗi chủ thể sáng tạo, đến lượt mình, cũng có thể được xem như vậy. Người đọc có quyền đòi hỏi người thơ nhiều thứ nhưng không thể không ghi nhận một tấm lòng trải ra trên trang giấy. Đấy là cái định nghĩa lung linh sinh động bằng sự sáng tạo lại vẻ đẹp thế giới của riêng mình. Riêng điều ấy thôi, thơ của nhà giáo – thi sĩ Nguyễn Văn Trình đủ để gầy dựng một một sẻ chia với người đọc, tôi tin như thế.

                         Đông Hà, ngày 20/ 07/2011.                             Nhà thơ  V.V.L.


READ MORE - "MÂY TRẮNG BÊN TRỜI" HOÀI VỌNG - Võ Văn Luyến đọc thơ Nguyễn Văn Trình

Tuesday, January 9, 2018

THƠ VÕ VĂN LUYẾN NHƯ LÀ MỘT ĐAM MÊ TAO NHÃ MÀ NHỌC NHẰN… * Lê Thiên Minh Khoa


Hai nhà thơ mới gặp nhau tại nhà LTMK, TP Bà Rịa.         

Bình thơ:
                        
THƠ VÕ VĂN LUYẾN NHƯ LÀ MỘT ĐAM MÊ TAO NHÃ MÀ NHỌC NHẰN…

                                LÊ THIÊN MINH KHOA
            
   … Tôi chưa từng gặp nhà thơ Võ Văn Luyến, nhưng khi vừa nhận được tập thơ mới nhất của anh - “Người Câu Bóng Mình” qua EMS, tôi đọc ngay, đọc nhanh như tác giả đã cho chuyển phát nhanh tặng tôi.
       Ấn tượng đầu tiên là tên tập thơ. Cũng như hai tập thơ trước:  Trầm Hương Của Gió (NXB Thuận Hoá, 2003), Sự Trinh Bạch Của Ngọn Nến (NXB Hội Nhà văn, 2007), tên tập thơ “Người Câu Bóng Mình” (NXB Hội Nhà văn, 2011) mang tính ẩn dụ, nhưng lạ lẫm, không tượng trưng- ước lệ, là ẩn dụ “phi giao tiếp”; nó  "ám ảnh”, “khích động” hứng khởi trong tôi…
        Đoc xong tập thơ, tôi lại “bảo lưu” ý kiến trước đây khi tôi  viết về phong cách thơ VVL: “Ngày càng lắng sâu vào triết học với tâm thái vừa tự thoại – vừa đối thoại. Như là một đam mê tao nhã mà nhọc nhằn (những câu thơ ngấu bùn/ tạc người nông dân lấm láp/ và nụ cười in trên gương mặt– Thơ VVL) để tiếp cận, chiêm nghiệm hiện thực hầu  tung phá, đột phá, sáng tạo nên những hình tuợng thơ đắt địa, táo bạo, tươi rói, mà lắng động cảm xúc và trí huệ….”
      Qua tập thơ nầy, tôi cảm nhận thêm nhiều điều về/ở thơ anh (thực ra, đã có từ trước trong thơ anh). Với ngôn ngữ dung dị, chân quê, chất thơ bay bổng mà rất khúc chiết, anh gói ghém trong thơ những khám phá mới lạ, những tứ thơ độc đáo, “không giống ai”, cả về những đề tài quá quen thuộc sáo mòn mà các thi nhân đã đi “mòn đuờng, chết cỏ”. Chẳng hạn, về đề tài quê hương Quảng Trị. Đã hình thành mấy lối mòn.  Hoặc tự sự theo kiểu “đi bộ”: Ta đã về đây Quảng Trị ơi!… rồi kể lể các địa danh: Thành Cổ, Cam Lộ, Gio Linh, Bến Hải … được phân bố đều cho các câu thơ, khổ thơ trong bài. Hoặc cũng viết về một vùng đất, con người cụ thể ở Quảng Trị mà chỉ để ôn lại kỷ niệm rồi yêu thương, luyến tiếc, ân hận, tự hào…v.v.. và v.v … Dĩ nhiên không phải ai cũng men theo các “lối mòn” đó. VVL cũng thế. Riêng về câu chữ, anh không những kể, tả kết hợp mà còn “nén”,  nên rất gợi – gợi nhiều tầng. Như là vùi sâu, nhấn chìm tâm tình , suy tưởng xuống để rồi do sự “cựa quậy” của hồn chữ, lại tự nổi lên với người đọc đồng điệu.
            Trong thơ VVL, nhiều ý tưởng tâm trạng, cũng có người đã trải qua, nhưng không nắm bắt được, diễn tả được. Tôi cũng vậy, đọc thơ của Luyến có khi tôi thấy “bóng mình” trong đó, có điều tôi chưa “câu” được, chưa viết ra được thôi. À… đến đây, tôi lại nhớ đến câu nói nổi tiếng của nhà thơ Gamzatôp: “Nhân dân sản sinh ra nhà thơ để nói hộ nhân dân những điều mà nhân dân không nói được”. Mà thú thiệt, có những bài thơ của Luyến khơi gợi rất mơ hồ, mới đọc tôi chỉ “cảm” mà chưa “hiểu” hết được.  Cảm, chưa hiểu nhưng xúc động và thấy hay. Có người cho rằng thơ anh gây “đốn ngộ”, tôi đọc thơ anh lại “tiệm ngộ” dần về cảm thức chìm sâu trong tình, từ và tứ thơ của anh…
                                    LÊ THIÊN MINH KHOA


(*):Trích trong “ Đối ngọn đèn khuya” (Võ Văn Luyến, nghiên cứu  và phê bình, NXB Thuận Hóa, 2014)
READ MORE - THƠ VÕ VĂN LUYẾN NHƯ LÀ MỘT ĐAM MÊ TAO NHÃ MÀ NHỌC NHẰN… * Lê Thiên Minh Khoa

Wednesday, November 8, 2017

NÀY EM CÓ NHỚ - chùm thơ Võ Văn Luyến

Tác giả Vo Văn Luyến


Thơ Võ Văn Luyến

 NÀY EM CÓ NHỚ

Này em có nhớ đường về
Ngày thiêp thiếp, giấc mơ quê ngõ chờ
Mây chùng thả một ngẩn ngơ
Nắng lưng lửng nắng, môi ngờ ngợ môi
“Này em có nhớ gì tôi”*
Thuở nghiêng vai gánh tiếng cười qua sông
Câu thề giạt phía bờ sông
Chìa tay vớt chút bềnh bồng khói sương
Này em có nhớ
đoạn trường
Gập ghềnh bóng lẻ tà dương nuông chiều
Đá vàng giờ có xanh rêu
Lượng tình còn lại bao nhiêu cầm lòng?


CON VỀ BÃO GIÔNG
                        Kính dâng Hương hồn Mẹ

Con về thăm nhà
Nụ cười giãn nếp thời gian trên trán mẹ
Gió trong vườn lao xao chuyện kể
Rằng ngày xửa ngày xưa
Đêm nằm mơ
Mẹ gánh con đi dưới trời pháo sáng
Xót cây lúa năm mất mùa đại hạn
Chân quấn rạ khô vấp ngã mấy lần
Ngọn đèn dầu và sách “Bé học vần”
Thương thằng út ngọng nghịu bám qua vai đọc thuộc
Thương con gái ở nhà người khó nhọc
Thương con trai xa ngái thị thành
Bom đạn mù trời, nương đất Diên Sanh
Mẹ chạy chợ, cha vá may sớm tối
 u lo đốt miên trường khắc khoải
Lòng khôn nguôi bái vọng ông bà
Về thăm nhà
Trơ một bóng lặng yên trên vách
Nhìn nơi mẹ nằm chăn nghiêng gối lệch
Nhìn chỗ mẹ ngồi trống không lạnh ngắt
Tức tưởi con ôm mặt khóc
Mẹ ơi!
Bốn mươi chín ngày khăn tang đầu con
Bốn mươi chín ngày thương nhớ nghẹn dòng
Bốn mươi chín ngày đường xa vạn dặm
Bốn mươi chín ngày con về bão giông.
                                          30/7/2011
                                     Võ Văn Luyến


READ MORE - NÀY EM CÓ NHỚ - chùm thơ Võ Văn Luyến

Wednesday, July 8, 2015

GẶP ĐỒNG HƯƠNG Ở NAKHON PHANOM - Thơ Võ Văn Luyến





Gặp Đồng Hương
ở Nakhon Phanom 

Lặng lẽ phù sa
chở tin yêu đầy lên khát vọng
Nakhon Phanom
có khác chi quê nhà
chỉ thiếu lũy tre buông làn tóc xuống ban mai gió lộng

Hơn mười nghìn trái tim mang dòng máu Việt
hòa trong nhịp điệu lăm vông
hòa trong hoa văn thổ cẩm
hòa trong câu chào nhẹ đến nao lòng

Này các em Phương, Thanh, Nguyệt, Sớm…
mắt chớp nghe kể chuyện nước mình
qua miền thương đau
hết mùa dông bão
bao lần về nhận mặt quê hương?

Hỡi ngọn triều Mekong
tuổi thơ thuyền giấy theo nước xuôi giòng
những giấc mơ xưa không còn trong cổ tích
một ngày ăn cơm ba nước
hai phía Trường Sơn như cùng nhịp tâm đồ

Nakhon Phanom
nắng trắng trời nhưng lòng tôi râm mát
em hoa đại bên hồ
thả thơ dại lên đầu mày cuối mắt
tôi thành một ngẩn ngơ.

                      03/7/2015

                  Võ Văn Luyến
READ MORE - GẶP ĐỒNG HƯƠNG Ở NAKHON PHANOM - Thơ Võ Văn Luyến

Thursday, March 5, 2015

Đến với bài thơ hay: MÙA XUÂN - Hoàng Tấn Linh đọc thơ Võ Văn Luyến


ĐẾN VỚI BÀI THƠ HAY:  MÙA XUÂN
Hoàng Tấn Linh đọc thơ Võ Văn Luyến


Nhà thơ Võ Văn Luyến
Gương mặt Võ Văn Luyến không còn xa lạ với bạn yêu thơ, nhất là thơ trẻ Quảng Trị, bởi anh đã đến với thơ từ khi còn mặc áo lính, khi đắm mình trên tầng ba trường Đại học Sư phạm những năm 80 của thế kỉ trước. Nhẹ nhàng, trầm mặc, dung dị, cổ kính là biểu hiện thường thấy ở những trang anh viết. Bài thơ Mùa xuân trong tập Sự trinh bạch của ngọn nến, (NXB Hội nhà văn, 2007) là lời xuân ca tình tự đằm thắm, ngọt ngào trong dư vị tiếng nói xuân thì đưa anh đến niềm sống, tình yêu trong sự vần vũ của thời gian.

Đến với Mùa xuân của Võ Văn Luyến, ấn tượng đậm nhất gieo vào lòng người chính là cảm giác lạ. Không câu nệ, không khuôn sáo, anh đến với hương xuân bằng sự lắng đọng của tâm hồn nhạy cảm, tinh tế.

Mùa xuân dắt tay qua đồng cỏ
Nắng vàng như em đủ nhớ một đời
Ta nghêu ngao bài ca du mục
Bầy chim ri rỉa cánh bên trời
Ngọn gió nào kết nên hương lạ
Ta cỗi cây đành vẫy bút thiên di
Em tơ nõn, kiếp ta đòi xanh lá
Cháy trăm năm da diết tuổi xuân thì

Ngày xuân thuần khiết trong thơ là không gian sáng rỡ; rất sáng của một tâm hồn đa cảm. Thế giới xuân như một di ảnh đa tình, đồng cỏ đầy nắng vàng, ngọn gió đậm hương lạ, lộc biếc trên cành tơ nõn, bầy chim ri rỉa cánh bên trời. Vẻ cao rộng vừa xa vừa gần lâng lâng một cảm giác mê hoặc được tạo bởi một thanh âm rất trong, hoặc tưởng chỉ có tâm hồn thi sĩ lắng đọng trước tạo vật.

Vài nét chấm phá bức tranh xuân của anh đã khiến lòng người rộn ràng, thổn thức. Đồng cỏ rộng ươm đầy nắng, chất chứa trong cái dắt tay đầy niềm dấu ái. Mùa xuân dắt tay, bạn nghi ngại gì về điều đó, hãy lắng hồn mình trong khúc ca diệu vợi. Xuân là em, ta bên em đồng điệu song hành; em đưa ta về bên xuân trải rộng. Ta đi trên đồng cỏ xuân, nơi vi diệu của tâm hồn ta là khúc tự tình xuân ca.

Mùa xuân dắt tay qua đồng cỏ
Nắng vàng như em đủ nhớ một đời
Ta nghêu ngao bài ca du mục
Bầy chim ri rỉa cánh bên trời

Xuân ca rạo rực, rộn ràng loa toả trong tâm hồn thi nhân. Hình ảnh nắng vàng như em là một phát hiện lạ, rất lạ khi tơ tình mùa xuân của nhà thơ tan loãng, phân thân trong khúc điệu của xuân. Nắng xuân của niềm dấu ái, nắng đủ nhớ một đời; nắng của sự cảm nhận, sự chiêm nghiệm độc đáo. Độ lắng của ngôn từ được đo bằng sự rung cảm và chan hoà. Trên cao, đàn chim ri rỉa cánh bên trời hay là sự hiện hữu của không gian cao xanh. Bầu trời trong vắt, thanh âm đàn chim rỉa cánh không làm lay động nắng vàng mà ngược lại là sự điểm tô, khắc hoạ thêm một thanh điệu xuân ca. Bức tranh thật đẹp, đẹp cả trong độ lắng tâm hồn thi nhân. Cái ta của tác giả là sự mặc nhiên của cái tôi tự tại; hai tiếng nghêu ngao không dừng lại ở việc thưởng ngoạn mà là sự tan loãng. Ngày lên, xuân đến thật ý vị, mang một dấu ấn khó phai.

Bất chợt trong hương xuân của Võ Văn Luyến là “thanh sắc thời tươi” (Lời thơ Xuân Diệu). Hương xuân thật lạ nhưng đằm thắm: Ngọn gió nào kết nên hương lạ

Ta cỗi cây đành vẫy bút thiên di
Em tơ nõn, kiếp ta đòi xanh lá
Cháy trăm năm da diết tuổi xuân thì

Không gian mùa xuân hiện ra gần hơn, gần đến nội tại tâm hồn tác giả. Lần này em không dừng lại ở nắng vàng nữa mà là sự tơ nõn của lá; lá tơ nõn để ta ngẩn ngơ một kiếp. Sức xuân trỗi dậy mạnh mẽ hơn bao giờ!. Tôi nhớ, có lần bên bờ sông Đà lặng tờ, Nguyễn Tuân cũng đã dùng hai tiếng nõn búp để diễn tả sức sống, màu xanh đang trỗi dậy của miền Tây Bắc. Võ Văn Luyến thì khác, cái ta (cái tôi hiện hữu của tại ngã) hoá thân vào cỏ cây để lắng mình trong sự tơ nõn, cảm nhận trong từng khoảnh khắc sức xuân đang trào dâng. Tận đáy lòng của tâm hồn yêu đời của thi nhân trỗi dậy bằng ta cỗi cây, kiếp ta đòi xanh lá. Ta lắng mình, ta đi trong kiếp cỏ cây để lắng nghe từng tiếng tơ lòng của mùa xuân đang đến. Chỉ có cỏ cây, chỉ có em tơ nõn mới giữ được hồn ta. Ta bỏ lại tất cả, ta vẫy bút thiên di mà không một ngôn từ nào đánh đổ, mã hoá được kiếp ta đòi xanh lá.

Mùa xuân trong thơ Võ Văn Luyến thật lạ, thật đẹp. Đẹp đến nao lòng, bởi đó là sự hòa hợp giữa hương đất trời xuân ca và độ lắng đến chân xác tâm hồn nhà thơ. Câu thơ cuối hiện ra kết nối tình yêu đất trời và hương xuân của con người. Mùa xuân đã cảm hoá được cái ta ngêu ngao an nhiên giữa nắng của tác giả, đã soi vào gương mặt xuân xanh hương lạ mỗi người.


Tác giả Hoàng Tấn Linh
Xuân lòng. Lòng thi nhân đã hướng về cuộc đời. Nên chăng xuân đất trời cũng là xuân của con người. Ta đi trong xuân, nghe trong đó kiếp xuân thì và cả những gì nhuận sắc nhất ta dâng cho đời. Ngọn lửa tình rạo rực hương xuân rồi sẽ cháy hết, sáng rực lẽ sống cho đời. Phải chăng, đó là thông điệp mà Võ Văn Luyến dành cho cuộc đời, mỗi người vào độ xuân về. Hình ảnh thơ cháy trăm năm da diết tuổi xuân thì một lần nữa đánh thức ở chúng ta ý thức về niềm sống, ý thức về chính mình, tuổi mình trước tạo vật.

Tứ thơ Mùa xuân của Võ Văn Luyến thật nhẹ nhàng, dung dị mà sâu sắc, bằng lặng nhưng lại rất mãnh liệt dữ dội; dường như đó là chuỗi kết nối của những trải nghiệm, bởi ngoài Mùa xuân, anh còn đến với hương đất trời bằng Mùa xuân gõ cửa, bằng Bất chợt mùa xuân, Mẹ ơi xuân đến rồi kìa. Tin rằng những vần thơ đó là minh chứng của tâm hồn tha thiết cháy trăm năm da diết tuổi xuân thì.

                                                        Hoàng Tấn Linh 


Trích từ tập sách: 
ĐỐI NGỌN ĐÈN KHUYA, 
tác giả Võ văn Luyến,
NXB Thuận Hóa,
2014.
(Tác giả gởi tặng)

READ MORE - Đến với bài thơ hay: MÙA XUÂN - Hoàng Tấn Linh đọc thơ Võ Văn Luyến

Friday, January 23, 2015

VÕ VĂN LUYẾN THỨC CÙNG TRANG VĂN - Phạm Xuân Dũng


Nhà thơ Võ Văn Luyến



Võ Văn Luyến thức cùng trang văn

(Nhân đọc cuốn sách “Đối ngọn đèn khuya” - tập nghiên cứu và phê bình văn học của Võ Văn Luyến, NXB Thuận Hóa, Huế 2014)

Bên cạnh chân dung con người sáng tác với diện mạo của một nhà thơ, Võ Văn Luyến còn có gương mặt thứ hai của một người làm khoa học: nghiên cứu và phê bình văn chương.

Phần đầu cuốn sách, tác giả nghiên cứu về “Đặc điểm nghệ thuật thơ tứ tuyệt Việt Nam hiện đại”. Đề tài mang tính học thuật này cũng là một thử thách không nhỏ đối với những ai lao tâm khổ tứ từ góc nhìn thể loại. Hơn nữa, thơ tứ tuyệt tuy là thể thơ truyền thống có tuổi đời ngang ngửa ông Bành Tổ, nhưng lại không phải nhất thành bất biến hoặc ít thay đổi trong nội dung và hình thức biểu hiện. Thể loại “bé hạt tiêu” này vận động liên tục và ngày càng tung hoành, thể hiện một nội lực ghê gớm và không ngừng biến hóa trong đời sống văn học hiện đại. Đây là địa hạt thú vị nhưng lại không hề đơn giản, nó đòi hỏi sức đọc, sức nghĩ và sức viết của người làm khoa học. Chính vì thế, người viết đã dành nhiều tâm can và bút lực cho những trang viết giàu chất lý luận nghiên cứu phê bình.


Ngay trong lời nói đầu của công trình khoa học về thơ tứ tuyệt, nhà nghiên cứu Võ Văn Luyến đã nhìn nhận sức sống mãnh liệt và sự bùng nổ của thể loại này trong văn chương Việt ngày nay. Theo đó, tác giả đã chỉ ra: “Thơ tứ tuyệt là hiện tượng độc đáo của đời sống văn học. Sự quay trở lại rầm rộ với thể thơ tứ tuyệt (sáng tác, vận động dư thi, in tập của từng tác giả, in tuyển...) là dấu hiệu của sự thích ứng, phù hợp tâm lý sáng tác và tiếp nhận của thời hiện đại” (Đối ngọn đèn khuya, trang 8).

Chương một “Thơ tứ tuyệt-cổ điển và hiện đại” đã khái quát một số quan niệm về thơ tứ tuyệt. Trong phần này, tác giả đưa ra một cách nhìn về thể loại không nên quá câu nệ vào hình thức tứ tuyệt theo cách hiểu truyền thống, vì như vậy nó vừa gò bó, máy móc “họa bì” chưa “họa cốt” dễ dẫn đến nguy cơ đẽo chân cho vừa giày, lại vừa không bao quát hết những sáng tác hiện đại với những tìm tòi thể hiện vượt thoát khỏi những “khuôn vàng thước ngọc” cổ điển: “Quả thực, văn hóa tri thức ngày càng đóng vai trò biểu cảm. Thơ suy tưởng mỗi ngày một nhiều hơn, biểu hiện thơ đa phức, đa tầng hơn. Tính triết lý là dấu hiệu nổi trội trong thơ, nhưng nhìn toàn cục thì độ đậm đặc triết lý trong thơ tứ tuyệt thấy rõ hơn, dường như tứ tuyệt là một thể thơ đắc địa, một mô hình cho tư tưởng giãi bày. Có phải vì thế mà thơ tứ tuyệt đang có chiều hướng gia tăng và ra đời với một gia tốc đáng được chú ý vào cuối thế kỷ XX này” ( tr.17, sđd ).

Từ đó, nhà nghiên cứu đề xuất một quan niệm tương đối mới về thơ tứ tuyệt: “Theo chúng tôi, tứ tuyệt là một thể thơ bốn câu bao gồm nhiều dạng (ngoài năm, bảy chữ còn có cả bốn, sáu, tám, lục bát, tự do) chứa nhiều vấn đề nhưng trong mỗi vấn đề chỉ chọn ra một khoảnh khắc bất ngờ, đầy tính khám phá phát hiện, tính triết lý bằng việc đặt đối tượng phản ánh trong các mối quan hệ để bật ra một khía cạnh nào đó thuộc về bản chất” (tr.18, sđd).

Trong chương hai: “Diện mạo thơ tứ tuyệt Việt Nam hiện đại qua các chặng đường văn học”, tác giả bằng thao tác khoa học đã đưa ra bảng thống kê về sự thay đổi của các thể tứ tuyệt, từ năm chữ, bảy chữ, bốn chữ, sáu chữ, tám chữ, lục bát, thơ tự do qua các giai đoạn: 1900-1945, 1945-1975, 1975 đến nay. Sự thắng thế của thể thơ bốn chữ, sáu chữ, tám chữ và thơ tự do từ năm 1975 về sau đã cho thấy xu hướng tự do hóa trong hình thức thể hiện ngày càng rõ nét trong thơ nói chung và trong thơ tứ tuyệt nói riêng. Phần này cũng đã phân tích và khẳng định sự đóng góp về phương diện sáng tác của các nhà thơ Việt Nam sau năm 1975 như Trần Mạnh Hảo và đặc biệt là Chế Lan Viên. Sự nở rộ của thể thơ cô đọng, hàm súc này chứng tỏ sức sống lâu bền và sự nở rộ của thơ tứ tuyệt trong quá trình cách tân. Nhận xét của Võ Văn Luyến cũng rất đáng lưu ý: “Chủ thể trữ tình được ẩn giấu (do hạn chế ngôn từ) trong thơ tứ tuyệt nhưng lại tỏa ra từ nhiều cái tôi khác nhau nên người ta tìm đến tứ tuyệt, ở phương diện thưởng thức, như tìm tới sự thức nhận cuộc sống giàu trí tuệ, tình cảm cho mình. Rút cục tính triết lý của tứ tuyệt dù ở giai đoạn nào cũng cần điều bổ ích mà lý thú đó” (tr. 60, sđd).

Chương ba và cũng là chương trọng tâm: “Đặc điểm nghệ thuật thơ tứ tuyệt” đã có những đóng góp khá quan trọng trong việc nghiên cứu hình thức biểu hiện của thể thơ này. Võ Văn Luyến đã minh định về cấu trúc thơ tứ tuyệt với những đặc điểm như: một cấu trúc nhỏ nhìn ra thế giới rộng lớn khi phân tích những bài thơ của Chế Lan Viên, Vũ Hoàng Chương, Yến Lan, Nguyễn Bính, Nguyễn Đức Mậu, Vũ Quần Phương, Nguyễn Trung Thu...để thấy được quan hệ ánh xạ đặc biệt giữa nghệ thuật và thế giới khách quan, giữa thơ và hiện thực cuộc sống; hay sự tìm tòi vai trò, ý nghĩa của mỗi đơn vị câu thơ trong một bài thơ chỉ có bốn câu trong cấu trúc tứ tuyệt. Sự tháo dỡ “ngôi nhà thơ” tứ tuyệt để tìm ra đặc điểm của từng câu chính là sự tìm tòi về hình thức mang tính nội dung, giúp người đọc hiểu sâu hơn “thiết kế” của thể loại này. Tác giả thông qua phân tích, dẫn chứng, sáng tác cũng đã có những tiểu kết khoa học cần thiết về ngôn ngữ thơ: “Tứ tuyệt hiện đại giải phóng ngôn từ ra khỏi các công thức khô cứng để hướng tới cái đẹp khác, cái đẹp của giọng điệu, của tình cảm tự nhiên, của sắc thái, cá tính, của sự miêu tả cụ thể, tinh tế” (tr.87, sđd).

Kết luận công trình nghiên cứu này, tác giả khẳng định và dự báo lạc quan về sứ mệnh thể thơ vi diệu: “Trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay, thơ tứ tuyệt nhất định sẽ không ngừng phát triển trên cả hai phương diện: chất và lượng. Cũng như đời sống vật chất, tinh thần ngày càng cao, người ta cần chất hơn lượng mà ở tứ tuyệt “chất thống trị lượng”. Điều này cho thấy “ai không biết tự hạn chế mình thì không bao giờ biết viết văn” (Boileau). Tứ tuyệt là một cách biết hạn chế đúng mực vậy” (tr.104, sđd).

Phần hai cuốn sách phê bình giới thiệu tác phẩm thơ văn. Có thể nhận ra ở đây những cây bút từng sống và viết ở Quảng Trị như Nguyễn Văn Đắc, Nguyễn Văn Chức, Trần Đình Thành, Lê Văn Hoan, Minh Tứ, Đức Tiên, Nguyễn Văn Trình, Nguyễn Tài Mỵ, Võ Văn Hoa... hay đã xa quê như Trần Xuân An, Võ Thị Như Mai...

Dù còn đôi điều cần phải bàn thêm về thơ tứ tuyệt, hay góp ý nên chọn lọc hơn đối với tác giả thơ, để tránh sự ôm đồm trong một tập sách phê bình đúng nghĩa, thì người đọc tựu trung, vẫn đồng cảm nhiều và trân trọng lao động của cây bút Võ Văn Luyến. Trong tình hình viết lách hiện nay, độc giả thêm trân trọng một cây bút nghiên cứu phê bình lặng lẽ và nghiêm túc, một mình đối ngọn đèn khuya, thức cùng trang văn để góp nhặt những gì đồng điệu.

PHẠM XUÂN DŨNG




From:  HOA VÕ VĂN <vovanhoahlqt@gmail.com>
READ MORE - VÕ VĂN LUYẾN THỨC CÙNG TRANG VĂN - Phạm Xuân Dũng

Saturday, January 3, 2015

VÕ VĂN LUYẾN THỨC CÙNG TRANG VĂN - Phạm Xuân Dũng




VÕ VĂN LUYẾN THỨC CÙNG TRANG VĂN.
                                                                                         
(Nhân đọc cuốn sách  "Đối ngọn đèn khuya" - Tập nghiên cứu và phê bình văn học của Võ Văn Luyến, NXB Thuận Hóa, Huế 2014)
 
                                                                       Phạm Xuân Dũng


    Bên cạnh chân dung con người sáng tác với diện mạo của một nhà thơ, Võ Văn Luyến còn có gương mặt thứ hai của một người làm khoa học: nghiên cứu và phê bình văn chương.
    Phần đầu cuốn sách, tác giả nghiên cứu về "Đặc điểm nghệ thuật thơ tứ tuyệt Việt Nam hiện đại". Đề tài mang tính học thuật này cũng là một thử thách không nhỏ đối với những ai lao tâm khổ tứ từ góc nhìn thể loại. Hơn nữa thơ tứ tuyệt tuy là thể thơ truyền thống có tuổi đời ngang ngửa ông Bành Tổ, nhưng lại không phải nhất thành bất biến hoặc ít thay đổi trong nội dung và hình thức biểu hiện. Thể loại "bé hạt tiêu" này vận động liên tục và ngày càng tung hoành, thể hiện một nội lực ghê gớm và không ngừng biến hóa trong đời sống văn học hiện đại  Đây là địa hạt  thú vị nhưng lại không hề đơn giản, nó đòi hỏi sức đọc, sức nghĩ và sức viết của người làm khoa học. Chính vì thế, người viết đã dành nhiều tâm can và bút lực cho những trang viết giàu chất lý luận nghiên cứu phê bình.
   Ngay trong lời nói đầu của công trình khoa học công trình khoa học về thơ tứ tuyệt, nhà nghiên cứu Võ Văn Luyến đã nhìn nhận sức sống mãnh liệt và sự bùng nổ của thể loại này trong văn chương Việt ngày nay. Theo đó, tác giả đã chỉ ra "Thơ tứ tuyệt là hiện tượng độc đáo của đời sống văn học. Sự quay trở lại rầm rộ với thể thơ tứ tuyệt (sáng tác, vận động dư thi, in tập của từng tac giả, in tuyển...) là dấu hiệu của sự thích ứng, phù hợp tâm lý sáng tiếp nhận của thời hiện đại." ( Đối ngọn đèn khuya, trang 8)
   Chương một " Thơ tứ tuyệt-cổ điền và hiện đại" đã khái quát  một số quan niệm về thơ tứ tuyệt. Trong phần này, tác giả đưa ra một cách nhìn về thể loại không nên quá câu nệ vào hình thức tứ tuyệt theo cách hiểu truyền thống, vì như vậy nó vừa gò bó, máy móc "họa bì" chưa "họa cốt" dễ dẫn đến nguy cơ đẽo chân cho vừa giày, lại vừa không bao quát hết những sáng tác hiện đại với những tìm tòi thể hiện vượt thoát khỏi những "khuôn vàng thước ngọc" cổ điển. Cũng bởi  Nàng Thơ Tứ Tuyệt bây giờ: "em hát khác xưa rồi, khóc cũng khác xưa"  như tác giả lý giải một cách xác đáng:" Qủa thực, văn hóa tri thức ngày càng đóng vai trò biểu cảm. Thơ suy tưởng mỗi một ngày nhiều hơn, biểu hiện thơ đa phức, đa tầng hơn. Tính triết lý là dấu hiệu nổi trội trong thơ, nhưng nhìn toàn cục thì độ đậm đăc triết lý trong thơ tứ tuyệt thấy rõ hơn, dường như tứ tuyệt là một thể thơ đắc địa, một mô hình cho tư tưởng giãi bày. Có phải vì thế mà thơ tứ tuyệt đang có chiều hướng gia tăng và ra đời với một gia tốc đáng được chú ý vào cuối thế kỷ XX này" ( tr 17, sđd ).
   Từ đó, nhà nghiên cứu đề xuất một quan niệm tương đối mới về thơ tứ tuyệt:"  Theo chúng tôi, tứ tuyệt là một thể thơ bốn câu bao gồm nhiều dạng (ngoài năm, bảy chữ còn có cả bốn, sáu, tám, lục bát, tự do) ôm chứa nhiều vấn đề nhưng trong mỗi vấn đề chỉ chọn ra một khoảnh khắc bất ngờ, đầy tính khám phá phát hiện, tính triết lý bằng việc đặt đối tượng phản ánh trong các mối quan hệ để bật ra một khía cạnh nào đó thuộc về bản chất." (tr 18,  sđd)
   Trong chương hai:"Diện mạo thơ tứ tuyệt Việt Nam hiện đại qua các chặng đường văn học"  tác giả bằng thao tác khoa học đã đưa ra bảng thống kê về sự thay đổi của các thể tứ tuyệt, từ năm chữ, bảy chữ, bốn chữ, sáu chữ, tám chữ, lục bát, thơ tự do qua các giai đoạn : 1900-1945, 1945-1975, 1975 đến nay. Sự thắng thế của thể thơ bốn chữ, sáu chữ, tám chữ và thơ tự do từ năm 1975 về sau đã cho thấy xu hướng tự hóa trong hình thức thể hiện ngày càng rõ nét trong thơ nói chúng và trong thơ tứ tuyệt nói riêng. Phần này cũng đã phân tích và khẳng định sự đóng góp về phương diện sáng tác của các nhà thơ Việt Nam sau năm 1975 như Trần Mạnh Hảo và đặc biệt là Chế Lan Viên. Sự nở rộ của thể thơ cô đọng, hàm súc này chứng tỏ sức sống lâu bền và sự nở rộ của thơ tứ tuyệt trong quá trình cách tân. Nhận xét của Võ Văn Luyến cũng rất đáng lưu ý:" Chủ thể trữ tình được ẩn giấu (do hạn chế ngôn từ) trong thơ tứ tuyệt nhưng lại tỏa ra từ nhiều cái tôi (lemoi) khác nhau nên người ta tìm đến tứ tuyệt, ở phương diện thưởng thức, như tìm tới sự thức nhận cuộc sống giàu trí tuệ, tình cảm cho mình. Rút cục tính triết lý của tứ tuyệt dù ở giai đoạn nào cũng cần điều bổ ích mà lý thú đó." (tr 60, sđd)
   Chương ba và cũng là chương trọng tâm :" Đặc điểm nghệ thuật thơ tứ tuyệt"  đã có những đóng góp khá quan trọng trong việc nghiên cứu hình thức biểu hiện của thể thơ này. Võ Văn Luyến đã minh định về cấu trúc thơ tứ tuyệt với những đặc điểm như : một cấu trúc nhỏ nhìn ra thế giới rộng lớn khi phân tích những bài thơ của Chế Lan Viên, Vũ Hoàng Chương, Yến Lan, Nguyễn Bính, Nguyễn Đức Mậu, Vũ Quần Phương, Nguyễn Trung Thu...để thấy được quan hệ ánh xạ đặc biệt giữa nghệ thuật và thế giới khách quan, giữa thơ và hiện thực cuộc sống; hay sự tìm tòi vai trò, ý nghĩa của mỗi đơn vị câu thơ trong một bài thơ chỉ có bốn câu trong cấu trúc tứ tuyệt. Sự tháo dỡ "ngôi nhà thơ" tứ tuyệt để tìm ra đặc điểm của từng câu chính là sự tìm tòi về hình thức mang tính nội dung, giúp người đọc hiểu sâu hơn "thiết kế" của thể loại này. Tác giả thông qua phân tích dẫn chứng sáng tác cũng đã có những tiểu kết khoa học cần thiết về ngôn ngữ thơ :" Tứ tuyệt hiện đại giải phóng ngôn từ ra khỏi các công thức khô cứng để hướng tới cái đẹp khác, cái đẹp của giọng điệu, của tình cảm tự nhiên, của sắc thái, cá tính, của sự miêu tả cụ thể, tinh tế." (tr 87, sđd)
   Kết luận công trình nghiên cứu này, tác giả khẳng định và dự báo lạc quan về sứ mệnh thể thơ vi diệu:" Trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay, thơ tứ tuyệt nhất định sẽ không ngừng phát triển trên cả hai phương diện; chất và lượng. Cũng như đời sống vật chất-tinh thần ngày cang cao, người ta cần chất hơn lượng mà ở tứ tuyệt "chất thống trị lượng" . Điều này cho thấy "ai không biết tự hạn chế mình thì không bao giờ biết viết văn" (Boileau). Tứ tuyệt là một cách biết hạn chế đúng mực vậy." (tr 104, sđd)
   Phần hai cuốn sách  phê bình giới thiệu tác phẩm thơ văn. Có thể nhận ra ở đây những cây bút từng sống và viết ở Quảng Trị như Nguyễn Văn Đắc, Nguyễn Văn Chức, Trần Đình Thành, Lê Văn Hoan, Minh Tứ, Đức Tiên, Nguyễn Văn Trình, Nguyễn Tài Mỵ, Võ Văn Hoa...  hay đã xa quê như Trần Xuân An, Võ Thị Như Mai...
   Thi sĩ Nguyễn Văn Đắc từng nổi tiếng với bài thơ "Cái rốn" đầy cảm hứng nhân sinh đọng lại trong mắt nhìn của cây bút phê bình Võ Văn Luyến: " Tác giả biết dựng dậy cơn ngái ngủ đời người trên trò chơi bập bênh con chữ bởi sứ mệnh thi ca đòi hỏi sự trầm tư trong hồn nhiên, sự cay đắng trong ngọt ngào ..." (tr 116, sđd)  Còn nhà thơ Trần Xuân An nhớ về cố hương bằng tâm cảm :" Nơi cho giọng nói chưa pha phách. Chốn yêu thương, về bỗng khóc ròng" (Tặng một người...) được đánh giá "Dù đi xa nhưng lòng vẫn hướng về nơi chôn nhau cắt rốn. Đấy là lúc tình cảm câu thúc để có được những câu thơ dung dị, thật lòng mà thấm thía, cảm động." (tr 187, sđd)  Con mắt phê bình của Võ Văn Luyến đã tinh tế nhận ra một Lê Thị Mây đầy nữ tính trong "Đám cỏ xanh" khi người yêu lỡ hẹn:"Qúa trình từ vô thức "bứt cỏ" đến hữu thức "đau cây" hóa ra có ngọn nguồn cơn nhói của tim. Đấy là nỗi thất vọng  có cái gì đe dọa hơn cả sự thất tín, bởi linh giác đánh động sự mất yên tĩnh (phụ nữ thường sợ những  biểu hiện gơi cái mong manh, dễ vỡ)..." (tr 203, sđd)
   Cảm nhận  tập bút ký, phóng sự "Dòng sông ký ức" Võ Văn Luyến luận bình:" Có thể nói, Minh Tứ là cây ký có khả năng thâu tóm, lật xới sự kiện, làm nổi bật những vấn đề nóng hổi, xã hội quan tâm hay vấn đề xưa cũ nhưng tươi nguyên "chất sống" và lay thức tâm cảm người đọc." (tr 122, sđ d). Còn khi chiêm nghiệm truyện ngắn Hòa Vang, tác giả phê bình gọi tên lối viết đó là "dòng ý thức phản huyền thoại". Và truyên ngắn" Sự tích  ngày đẹp trời" viết lại câu chuyện truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh thực ra là một phản đề văn chương, vì thế Võ Văn Luyến   đã có lý khi  viết: "Thông điệp mà Hòa Vang muốn gửi tới  độc giả không như ngọn gió đi tìm sự đồng cảm mà là lời khẩn cầu về một lẽ công bằng cho cuộc sống, tình yêu và hạnh phúc. Hơn cả chiêu tuyết, minh oan cho Thủy Tinh, nhà văn cố gắng làm thay đổi cái nhìn đơn giản một chiều, duy lý về nhân vật luôn bị xem là tội đồ đáng nguyền rủa." (tr 109, sđd)
   Dù còn đôi điều có thể cần phải bàn thêm về thơ tứ tuyệt; hay góp ý  nên chọn lọc hơn đối với tác giả thơ, để tránh sự ôm đồm  trong một tập sách phê bình đúng nghĩa, thì người đọc tựu trung, vẫn đồng cảm nhiều và trân trọng lao động của cây bút Võ Văn Luyến. Trong tình hình viết lách hiện nay, độc giả thêm trân trọng một cây bút nghiên cứu phê bình lặng lẽ và nghiêm túc, một mình đối ngọn đèn khuya, thức cùng trang văn để góp nhặt những gì đồng điệu.

                                                                    Phạm Xuân Dũng
READ MORE - VÕ VĂN LUYẾN THỨC CÙNG TRANG VĂN - Phạm Xuân Dũng

Friday, July 4, 2014

TRẦN XUÂN AN "HÁT VỚI ĐỜI ƠI THƯƠNG MẾN" - Võ Văn Luyến giới thiệu



Trích từ ĐỐI NGỌN ĐÈN KHUYA, tác phẩm Nghiên cứu & Phê bình của Võ Văn Luyến, NXB Thuận Hóa, 2014, tác giả gởi tặng.

Trần Xuân An làm thơ và thơ Trần Xuân An khởi đầu là những giọt nước trong veo chắt từ ruột đất quê nhà. Lớn lên, anh cùng bạn bè cuốn theo cuộc lữ hành số phận để đến lúc ngoảnh lại, nỗi hồi cố cồn cào, dồn sâu thương mến ngọt ngào thấm đẫm tình người trong thơ anh.

“Hát với đời ơi thương mến” (1) (thi phẩm thứ 6) của Trần Xuân An đã thoát khỏi giãi bày buồn vui kiếp người vốn không suôn sẻ và không gặp nỗi đau nào, ngay cả bi kịch chính bản ngã vô ý gây nên. Cuộc đời vô thường, mà nghiệm chứng được điều đó thì việc gì tự làm khổ mình và hiển nhiên, khát vọng vươn tới chóng mặt lý giải sự hiện hữu mỗi cá – thể – con – người trong dòng sống cuộn chảy. Trong bi kịch có lạc quan, dù sao đời vẫn đáng yêu, bởi nhựa đời không ngừng lưu chuyển cho cây đời đâm chồi nẩy lộc, đơm hoa kết trái và trở lại gieo mầm cuộc sống. Có lẽ vì thế mà An từ trầm tư mặc tưởng “Lặng lẽ ở phố” (2) đến những phút rạo rực “Tôi vẫn ở trên đường” (3) và bây giờ bỗng cất tiếng “Hát với đời ơi thương mến” chăng?

Lần đọc những bài thơ, dõi theo những chạm khắc ngôn ngữ của An lên trang giấy, ta bắt gặp không ít những hoài niệm và suy tưởng về một thời và muôn thuở. Với anh, cuộc sống mang gương mặt tình yêu, nếu tìm tới một lẽ sống tích cực; đồng thời với nó là không chấp nhận sự dụ dẫn ma mị trong “thú đau thương” không ích gì hoặc giả tạo. Anh “nhìn thẳng” đồng nghĩa với nói thẳng mà thật khẽ, thật dễ thương:

Đánh thức dậy đánh thức dậy đi em 
Và gọi đúng tên khát vọng học trò 
Hãy thôi gương mặt muộn phiền hờ hững 
Ném vỡ cái vô hồn bằng sáp dưới hừng đông 
                                 (Nhìn thẳng)

Trần Xuân An tâm niệm “không thể chạy trốn hư vô thì phải vượt thắng”. Rõ ràng đó không phải “lạc quan tếu” mà là sự lựa chọn mọt mất một còn. Sự lựa chọn đặt ra cho cộng đồng dân tộc trước hiểm họa vong quốc cơ bản đã được giải quyết nhưng thao thức vượt vũ môn thì còn ở phía trước. Điều đó không loại trừ vai trò mỗi chủ thể sáng tạo. Người làm thơ băn khoăn nhưng ở đấy đã có lời giải:

Lẽ nào thơ là trò đùa ma quỷ 
Dắt nhau hoàn lương giữa cõi riêng chung? 
                                    (Trải nghiệm)

Ở tuổi “tứ thập bất hoặc” cùng yêu tin và thủy chung với thơ từ hơn 20 năm nay, anh đa xchins nhiều trong cách cảm, cách nghĩ. Dù đi xa nhưng lòng luôn hướng về nơi chôn nhau cắt rốn. Đấy là lúc tình cảm câu thúc để có được những câu thơ dung dị, thật lòng mà thấm thía, cảm động:

Nơi cho giọng nói chưa pha phách 
Chốn yêu thương, về bỗng khóc ròng 
                                 (Tặng một người…)

Rồi ra, dòng sông cuộc đời không ngừng chảy. Trần Trân An như tôi biết, anh đi nhiều (đã khép lại mọt thời ốc đảo- nằm đọc sách và chiêm nghiệm)- cái sự đi của con người ta cũng có 1001 lý do, mục đích. An thì muốn làm “hành giả của tình yêu” và nhờ thế, tâm hồn thăng hoa bất ngờ và đầy thú vị:

Giữa đồng bằng của hồn anh 
Đột ngột em vút cao xanh núi tình 
                          (Với những hành giả của tình yêu)

Bằng tình yêu, thi sĩ tin vào khả năng hóa hiện màu nhiệm của niềm hy vọng:

Hát tin đáy rác bùn dơ 
Mầm sen sẽ ngát câu hò, hương ngân 
                        (Hát lên với mỗi đời thường tỏa sáng)

Vâng, “còn da lông mọc, còn chồi nảy cây” (ca dao). Từ lòng mẹ anh hát, từ bấy đến giờ. Không phải ngẫu nhiên sự dồn nén đã đến lúc anh cho ra đời liên tục 6 tập thơ và dự định một trường ca dài hơi. Càng không phải là chuyện số lượng mà còn là vấn đè chất lượng. Điều đó đáng để chúng ta quan tâm và suy nghĩ về bút lực của cây thơ dồi dào sức sáng tạo.

                                                     1996 
                                           Võ Văn Luyến

(1) Tên tập thơ của Trần Xuân An, NXB Trẻ, 1996.

(2), (3): Tên các tập thơ của TXA đã xuất bản. 
READ MORE - TRẦN XUÂN AN "HÁT VỚI ĐỜI ƠI THƯƠNG MẾN" - Võ Văn Luyến giới thiệu