Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Nguyễn Thanh Xuân. Show all posts
Showing posts with label Nguyễn Thanh Xuân. Show all posts

Thursday, November 20, 2014

THẦY TÔI - Nguyễn Như Xuân


 

Hể có chừng 3 học trò cùng khóa gặp nhau là chúng tôi nhớ và nói chuyện về thầy: THẦY TRỢ PHỨC. Thầy tên đầy đủ là Trần văn Phức, quê làng La Chữ, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Tôi lên bảy được mẹ dắt đến trường Tổng (trường của 4 làng: Văn Quỹ, Hưng Nhơn, An Thơ và Phú Kinh) đóng tại làng  Văn Quỹ, cách nhà khoảng 1,5 km. Mái trường lợp bằng ngói, nền cao, tôi đứng đến ngang cổ, có 6 – 7 bậc tam cấp. Trường dùng để dạy lớp 1, 2 và 3. Học sinh khoảng 60 đứa.

Tôi học lớp 1, học chung với các anh lớn 8-9-10, có anh tôi gọi bằng chú tuổi 14-15 (vì không có trường nên thất học). Niên khóa 1936-1937 chỉ mình thầy, năm sau có thêm thầy giáo Hồng.

Một mình thầy dạy 2 lớp. Ngôi trường mới làm chỉ mấy bộ bàn ghế, cái bảng đen. Thầy có tài huy động khả năng trong các gia đình con em học sinh để sắm đủ các loại học cụ. Tùy loại mà thầy nhờ bố mẹ làm cho thứ đó. Trên tường treo gọn học cụ thu nhỏ. Từ những thứ khó như chiếc xe đạp nước, chày giã gạo bằng chân, bằng tay, đôi quang gánh, cái thúng cái mủng, cái nơm chơm cá, bộ lừ dẹp v.v…nghĩa là công cụ nghề của làng quê. Học môn nào thầy đem học cụ giảng giải chu đáo cặn kẻ.

Mỗi tuần dạy 5 buổi (nghỉ thứ năm chủ nhật), gần như ngày thứ năm nào thầy cũng về thăm hỏi gia đình học sinh và kiểm tra học trò.

Ba năm học thầy dẫn dắt:

Đi tham quan đền thờ Câu Nhi, đền thờ La Chữ cột đình to ba đứa ôm mới khít .

Đi tham quan lò nấu dầu tràm (ở Hải Sơn bây giờ), lá cây tràm nghiêng một bên nên có tên nữa là khuynh diệp, vỏ cây không thấm nước. Tôi đã thấy ở nhà dùng xãm thuyền. Mùi dầu bay ra thơm cả vùng .

Đi đón Hoàng đế Bảo Đại và Nam phương Hoàng Hậu ra Hà Nội.  Chưa kịp hô câu đã thuộc thì xe đã vút đi rồi. Nhìn thầy dáng thầy như không bằng lòng. Ức quá.

Thi bơi lội ở Vực Nước Lụn (An Thơ). Nước chảy xiết. Thầy bố trí nhiều thuyền phía để vớt những ai bị trôi. Thi bơi lội được nhận bằng bơi lội.

Trò nào giỏi môn gi thầy thường gọi lên làm bài mẫu , khen và cho điểm cao tại chỗ. Ví dụ như thằng Ân đọc chữ Tây hay lắm.    

Thầy đi xem đá banh (thi) giữa đội học trò Văn Quý và học trò Hưng Nhơn. Có thầy chúng tôi đá hăng lắm.

Cãi nhau ầm ĩ, thoáng thấy thầy là im re làm hòa nhanh chóng.         Đi thi hêt cấp (lớp 3) tại Diên Sanh, thủ phủ huyện Hải Lăng, cách nhà gần 15 km. Hôm đó thầy mặc quần áo đẹp nghiêm trang. Tôi khoe với  bạn nào đó (trường khác) là Thầy tau đó và lấy làm sướng lắm.  

Thầy hiền lành mà nghiêm nghị, chúng tôi ai cũng trọng thầy pha chút sợ. Ở nhà khi có làm gì sai sợ nhất là câu: ông trợ Phức dạy mi rứa à! Nghe câu ấy là im thin thit và bảo chi làm nấy.

    Thời gian kháng chiến, gặp nhau chúng tôi hỏi về thầy, nghe đâu gia đình bị bom đánh sập và không biết thầy hiện nay ở đâu. Nhớ thầy thương thầy đứa nào cũng rơm rơm nước mắt. Thầy hơn tôi khoảng 30 tuổi. Tôi nhớ thầy có con gái đầu tên là Tiết, 7 tuổi học cùng lớp. Nếu đã về với tổ tiên xin thầy yên giấc.  Chúng con luôn kính trọng thầy, ngưởng mộ thầy.

                                               Học trò

             Lúc học với thầy:  Nguyễn Như Xuân

             Tên bây giờ:          Nguyễn Thanh Xuân

             Địa chỉ : 487/2 đường Cổ Nhuế, phường Cổ Nhuế, quận bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội.

            Email Nhuxuan29@gmail.com.

READ MORE - THẦY TÔI - Nguyễn Như Xuân

Friday, June 28, 2013

Trang thơ giao lưu của người cao tuổi: Nguyễn Thanh Xuân, Hồ Trọng Trí, Thế Lộc, Nguyễn Thanh Bá, Nguyễn Huy Vụ, Kha Tiệm Ly, Lê Văn Thanh, Hạ Thái-Trần Quốc Phiệt

Đố thơ, mời họa:
LÀ AI?                              

Khen rằng đẹp nhất cả hành tinh
Không tuổi, nhiều tên, thay dạng hình
Giờ đến ông, ông thường vắng mặt
Tuổi lên bà, bà vẫn nguyên trinh
Góp cho trời, nửa trời luôn sáng
Giúp với cháu, đời cháu trọn tình
Hầu hạ công khai, yêu nín chịu
Cả đời cô quạnh, chạy loanh quanh.

Nguyễn Thanh Xuân
nhuxuan29@gmail.com




Bài họa: 
CHỊ HẰNG

Tuyệt nhất thiên hà một vệ tinh
Khi tròn khi khuyết đổi thay hình
Ông trăng ngày vắng không ra mặt
Bà nguyệt đêm về vẫn vẹn trinh
Tối có trăng, trăng soi tỏa rạng
Chỉ xe duyên, duyên thắm chung tình
Gốc đa chú Cuội, yêu câm nín
Giá lạnh suốt đời mãi chuyển quanh

Hồ Trọng Trí

(BRVT)

***

KIẾP NHÂN SINH

Từ cõi không nào ta tới đây
Đấu tranh tranh đấu suốt đêm ngày
Lợi danh danh lợi lòng tham khởi
Thành bại bại thành dạ đắm say
Mê tỉnh tỉnh mê mờ đạo lý
Sắc sắc không không nghĩa nhân bày
Quay về bến giác tâm thanh thản
Rũ kiếp phong trần trí huệ thay

Hồ Trọng Trí
trongtri42@gmail.com  


Họa:        
NHÂN SINH TỊNH LẠC

      Mưa nắng chan hòa phúc ấm đây
      Âm dương dịch biến đêm qua ngày
      Lợi danh vị kỷ tham si khởi
      Thanh sắc buông tuồng ái dục say
      Vô niệm tâm khai chân lý hiện
      Hữu duyên ý đạt Pháp không bày
      Mê tình xả sạch thân yên tỉnh
      Bến giác đây rồi sung sướng thay!

                                          
Lê Văn Thanh
vanthanh44@gmail.com

*** 


THU VỀ NHỚ BẠN
Thương nhớ nhà thơ Huỳnh Ngọc Cương. 

Xào xạc rừng thu cuốn lá thu
Chờ ai mòn mõi ngọn đèn lu
Đường trăng mờ loãng như sương khói
Sáo trúc thanh trong tựa nhạc ru
Ông lão mơ màng nghe lá rụng
Nai tơ ngơ ngác ngắm sương mù
Đàn ôm lặng lẽ ngồi rơi lệ
Thương tiếc rừng thu rớt lá thu.

11.07.2004
Thế Lộc
theloc108@yahoo.com.vn


***

Thơ mời họa: 
NHỚ HẢI LĂNG

Lâu lắm chưa về thăm Hải Lăng
Đường chiều hun hút núi sông ngăn
Nhớ ơi! áo trắng thời đang học
Thương quá! xuân xanh thuở chớm rằm
Em tới Cu Hoan qua xóm Rú
Tôi về Đơn Quế ghé làng Xăm
Kể từ hạ ấy xa nhau mãi
Còn ước mong ngày hội ngộ chăng?
                  
Nguyễn Thanh Bá
thanhbaxb@yahoo.com.vn



Họa nương vận:
THĂM NHÀ THƠ NGUYỄN THANH BÁ

Gởi bạn... nhà thơ quê Hải Lăng
Viết bài mời họa có từ “ngăn”
Thi tài rọi xuống vầng dương sớm
Văn giỏi bừng lên ánh nguyệt rằm
Bảy chữ tám câu còn ngắn ngủi
Năm vần một đoạn vẫn xa xăm
Nhiều khi nghĩ mãi không ra ý
Tạm một lời thăm có được chăng?

Hạ Thái Trần Quốc Phiệt



Họa:
NHỚ QUẢNG TRỊ

Chưa về Quảng Trị bởi đi lăng
Quê cũ nào xa tuổi tác ngăn
Nhớ áo Nguyễn Hoàng thời học tập
Thương ai chung lớp tuổi trăng rằm
Bây giờ nhắc lại thời xưa ấy
Ký ức quay về mấy chục năm
“Đỏ lửa mùa hè” lưu dấu mãi
Bạn bè có thấu nỗi niềm chăng?

Hồ Trọng Trí



Họa:             
NHỚ HẢI LĂNG     

Hộ khẩu rành rành quê Hải Lăng
Rõ ràng lý lịch chẳng chi ngăn
Làm sao quên  được thời trai trẻ
Nhớ lắm em ơi những đêm rằm
Hải Thượng - Diên Sanh nào ngái mấy
Đường trăng cát trắng chẳng xa xăm
Cầu Nhùng, Thượng Xá qua bao bận
Chiến loạn cầu Dài còn nhớ chăng?

Lê Văn Thanh



***

Xướng: 
NỖI LÒNG

Hai tiếng quê hương rất đỗi là…
Mấy  người xa xứ nghĩ rằng ta…
Bao năm lăn lộn nhìn lên vẫn…
Nửa kiếp bôn ba ngó lại mà…
Sống gửi dương trần mai hẳn sẽ…
Thác về  địa phủ mốt thì ra…
Một chiều đất khách lòng ta bỗng…
Cạn chén hoang liêu nhỏ lệ và…

24/06/13
Nguyễn Huy Vụ
nguyenhuyvu62@gmail.com        


Họa: 
NHÃN TIỀN

Thế sự xem qua mới thấy là…
Nhân tình điên đão khiến lòng ta…
Gian thương dẹp mãi hình như vẫn…
Tham nhũng hô hoài ấy vậy mà…
Tệ nạn hoành hành mai hậu sẽ…
Đạo đời suy thoái chóng thành ra…
Nghĩ về đất nước lòng dân bỗng…
Mờ mịt tương lai thất vọng và…

Hồ Trọng Trí

 ***

Xướng: 
THAN ÔI!

Tình người ấm lạnh, nước đầy vơi
Sống giữa quần sinh lại lạc loài
Hương lửa dui vào tro, lạnh ngắt
Tào khang chà dưới háng đen thùi
Đã đem chữ tín lau trôn trẻ
Còn giả cái nhân trát mặt người
Nhìn trước, nhìn sau, nhìn trái phải
Khóc không ra khóc, chẳng ra cười

Kha Tiệm Ly 


Họa: 
BUỒN ƠI!

Trần gian chát đắng dạ nào vơi
Thế sự chông chênh khổ  giống loài.
Đạo lý suy đồi ai cứu vãn
Nhân tình tráo trỡ mãi lui thùi
Không còn thành tín tô nền nghĩa
Chẳng có lương tâm giữ nết người
Bát nháo xem ra là đại nạn
Chỉ còn biết mếu có đâu cười!

Hồ Trọng Trí
Kim Long, BR-VT
Đt 01667332652


***


THUỞ ẤY
(Thơ triệt hạ)

Thuở ấy êm đềm mộng vẫn đang...
Hai ta thường hẹn dưới ngay hàng...
Con tim rạo rực mong trăng gởi...
Anh mắt mơ màng đợi gió mang...
Từ lúc  người đi lòng bổng thấy...
Đến khi mộng vỡ dạ đâm sang...
Soi li rượu đắng thương màu tóc...
Đếm tháng ngày xa thấy lại càng...

Nguyễn Huy Vụ
(BÀ RỊA - VŨNG TÀU)



NGÀY NÀO

Kỷ niệm ngày nào ta cứ đang...
Bóng em thấp thoáng dưới hai hàng...
Người về chốn ấy tình mong gởi...
Kẻ ở phương nầy nghĩa muốn mang...
Môi liễu đã già sao vẫn thấy...
Má đào đương trẻ há còn sang...
Chim chiều mỏi cánh bây giờ tóc ...
Nhớ thuở xuân xanh lại thấy càng...

Trần Ngộ
(LÂM ĐỒNG)










READ MORE - Trang thơ giao lưu của người cao tuổi: Nguyễn Thanh Xuân, Hồ Trọng Trí, Thế Lộc, Nguyễn Thanh Bá, Nguyễn Huy Vụ, Kha Tiệm Ly, Lê Văn Thanh, Hạ Thái-Trần Quốc Phiệt

Sunday, June 9, 2013

ĐỜI VUI - Thơ xướng họa - Nguyễn Thanh Xuân và Lê Đăng Mành

Lê Đăng Mành và Nguyễn Thanh Xuân (Nguyễn Như Xuân)

Bài xướng:

ĐỜI VUI

Ngồi không ăn bám thế mà mừng
Trời bắt nhàn cư những lạ lùng
Sáng dậy huơ tay tay lẩy bẩy
Trưa ngồi cầm chén chén run rung
Câu đầu câu cuối ngờ câu bụng
Chén ngập chén tràn tưởng chén lưng
Trang lứa đã “đi”… Như giấc mộng
Nghe đề tài ấy, lại không ưng!

Nguyễn Thanh Xuân
Hà Nội


Bài họa: 

AN VUI TUỔI THỌ

Bát tuần như vậy quả vui mừng
Đức trí thong dong chẳng sợ lùng
Sáng nhàn tản cùng âm mỏ điểm
Chiều hành cước với tiếng chuông rung
Ghét ganh phiền não: lòng đong cạn
Danh lợi hơn thua: dạ tát lưng
Đi giữa vô thường tâm tự tại
Tám mươi như cụ thiệt là ưng.

Lê Đăng Mành
Quảng Trị

Biên tập và gởi đăng: 
Nguyễn Thanh Xuân 
nhuxuan29@gmail.com
READ MORE - ĐỜI VUI - Thơ xướng họa - Nguyễn Thanh Xuân và Lê Đăng Mành

Wednesday, May 1, 2013

BÁC HỒ - thơ Nguyễn Thanh Xuân



Ngày hai tháng chín năm bốn lăm (2-9-1945)
Hồ Chí Minh, tên Người vang trên bầu trời Việt Nam
Các bác già gọi Cụ, lớp trẻ chúng tôi gọi Bác
Không ai nghĩ gì khác

Bốn thế hệ đã qua
Trong chúng ta
Không gọi Ngài, chưa ai gọi Cố,
Khi gọi Cụ, khi gọi Người, có lúc gọi Cha
Hòa trong đó: “Bác” như điệp khúc bài ca mát rượi

Không trưng cầu dân ý,
Không biểu quyết giơ tay trái phải
Và “Bậc Bác” đi vào huyền thoại
Đi vào tâm linh đi vào chân lý
Mãi sau này không chỉ hôm nay.

NGUYỄN THANH XUÂN
Hà Nội
nhuxuan29@gmail.com
READ MORE - BÁC HỒ - thơ Nguyễn Thanh Xuân

Monday, January 28, 2013

Đôi điều về bài viết “Báu vật trong ngôi nhà thờ cổ” của họ Nguyễn Đức làng An Thơ, Hải Lăng, Quảng Trị - Nguyễn Như Xuân

Theo TRƯƠNG QUANG HIỆP (Quảng Trị Online) 

Nhà thờ họ Nuyễn Đức. Ảnh Như Khoa
  
                                                  

      Bài viết nhiều vấn đề. Tôi chỉ nêu những vấn đề theo hiểu biết của mình.
     1, Nhà thờ họ Nguyễn Đức xây dựng vào năm 1832 mà bài viết ghi ngày khánh thành năm 1829.
     2, 15 tấm ván khắc mỗi tấn 7 câu kép (5+3) vị chi 85 câu theo thể văn khác lạ, không thấy lưu truyền phổ thông trên văn đàn. Bài viết cho đó là 15 bài thơ theo thể thất ngôn bát cú Đường luât. Đúng, thể thơ Đường luật 8 câu mỗi câu 7 chữ, còn trên tấm ván 7 câu mỗi câu 8 chữ. Tôi cho rằng ngẫu nhiên mà có sự giống nhau 56 chữ nên tác giả nhầm. Đi vào cấu trúc thể văn chúng chẳng giống nhau tí nào. Đường luật (luật trắc bằng) mỗi bài có chủ đề, có niêm luật, có đối ngẫu, có khai, thừa, chuyển, hợp…Ở “kho báu” cứ mỗi câu (5+3) là một chủ đề độc lập và chỉ một luât (qui định số chữ trong câu ngắt làm hai đoạn) là 5+3.
     3, 85 câu trong kho báu không phải các cụ thông Nho trong làng sáng tác bởi tất cả không một câu nào nói về làng An Thơ. Chắc chắn là được tuyển tập từ những câu danh ngôn xuất sắc thời bấy giờ để giáo dục nhân dân trong cả nước. Câu hỏi đặt ra: tại sao An Thơ lại có?  Theo tôi vùng ta chi ở An thơ mới có điều kiện sở hữu tài sản quí giá này.

1 trang 15 tấm khắc ván những câu 5+3. Ảnh Như Khoa

    Ta thử xem báu vật:
    a, Nguồn tài liệu chỉ có cấp quốc gia (triều đình).
    b, Gia công sản phẩm cực kỳ tinh xảo: mài giũa rất trơn bóng, chữ rất đẹp, nét chạm khắc rất sắc, chất bảo quản quá tốt. Gần 200 năm trên chất liệu gỗ mà ảnh chụp nét chữ rỏ như mới.
     c, Trình độ tuyển chọn danh ngôn không dễ.
     d, Chi phí cho chừng ấy việc phải có số tiền rất lớn.
     v.v…
     Khả năng này chỉ có ở làng An Thơ thời bấy giờ. Thời đó 1820-1850 xuất hiện nhiều nhân tài: Thượng Thư Bộ Hộ  Nguyễn Đức Hoạt, Tuần phủ Nguyễn Đức Hoan, Biện tu Nội các Nguyễn Quang Huy, Tri phủ Nguyễn Đức Tư và nhiều vị nữa.
     Tầm nhìn và khả năng cỡ ấy mới dám nghĩ, dám làm, dám đưa “báu vật” từ chốn phồn hoa (có thể là ở kinh đô Huế) về nông thôn, để làm rạng rỡ nơi quê cha đất tổ.


     Trộm phép xin thưa: các vị tham gia Triều chính nói trên cũng biết rất ít người trong làng đọc và hiểu hết các câu mà họ đưa về thờ. Có hề chi! Dân làng chỉ nhìn tí thôi, tôi tin làng An Thơ tức khắc trở thành LÀNG VĂN HÓA.

      Tuy chưa được thấy hiện vật nhưng nhìn những tấm ảnh chụp, tôi dám khẳng định vùng quê ta không thể chế tác nổi SẢN PHẨM NÀY

***

    Nghe rằng: những câu trong “kho báu” đã được dịch. Thực lòng tôi rất mừng bởi tôi dịch mãi chưa một câu ưng ý.  Xin ví dụ tôi dịch câu đầu tiên:
     Nhân (nhơn) giả nan phùng tư  /  Hữu thường bình
     Tôi dịch:
-Người tốt khó gặp điều lo nghĩ / Có, chuyện thường tình
-Người tốt it gặp điều lo lắng    /  Có (đúng) thế thật.
     Có một nghĩa nữa người nhân (người hiểu đạo làm người) có liên quan đến câu 3 chữ: hữu thường bình. Thường là ngũ thường (nhân lễ nghĩa trí tín). Dịch thế nào đây? Tôi tự an ủi: chữ TQ càng ít chữ càng khó dịch.
     Trong tôi hiểu câu này là : Người nhơn đức trời luôn ban cho họ thanh thản, nhưng không diễn đạt nổi.

    Trong bài viết có một câu (không phải trong 85 câu) tác giả đã dịch, tôi muốn bàn lại là câu: “Tiên năng liễu tận thế gian sự/ Nhiên hậu phương ngôn xuất thế gian” (tác giả tạm dịch: Trước tiên hãy hiểu biết mọi việc trong thế gian/ Rồi sau mới nói đến việc ra khỏi thế gian)
     Dịch ra khỏi thế gian không chuẩn, dễ hiểu nhầm. Theo tôi nên dịch ra với thế gian

     Tôi không thấy chữ kính họa ở bản khắc. Ở thể văn này và ở đây ai thỉnh họa mà có người kính họa, xướng họa chỉ có ở thể Đường luật.
     Xin có lời đề nghị: Bản dịch hoàn chỉnh, kính đề nghị nhà xuất bản Quảng Trị phát hành rộng rải trong cả nước. Tôi lắng tin để tìm cho được một tập và giới thiệu rộng rải với bạn bè.
     Trong bài viết có điều gì thất lẽ xin tha cho.

Nguyễn Thanh Xuân
Đ/c: 487/ 2 Đường Cô Nhuế Từ Liêm Hà nội
Email: nhuxuan29@gmail.com

***
Mời các bạn đọc thêm bài:
BÁU VẬT TRONG NGÔI NHÀ CỔ 
trên báo Người Lao Động Online
và trên trang Blog của Nguyễn Như Khoa có liên kết trong danh sách WEBLOG bên phải của trang VNQT.
READ MORE - Đôi điều về bài viết “Báu vật trong ngôi nhà thờ cổ” của họ Nguyễn Đức làng An Thơ, Hải Lăng, Quảng Trị - Nguyễn Như Xuân

Saturday, January 26, 2013

RỘN RÀNG TẾT - Nguyễn Thanh Xuân họa thơ Lê Đăng mành

Thư pháp trên máy tính của Lê Đăng Mành



                    RỘN RÀNG TẾT!
                    Nguyễn Thanh Xuân
                    Họa bài XUÂN ĐẦY của Lê Đăng Mành


Bố con dảy điệu tởng tờng tơng
Chộ vợ về bui, vợ cũng mờng
Bụng đói tay quơ không chia chác
Ưng chi ăn nấy chẳng cần dường
- Thứ ni xếp đủ lưa đem nếm  
- Hàng nớ y nguyên chớ có quờng
Cả mấy đứa đem lên dọn sặn
Hai ta vô chựa mấy thang chờng.

      NTX



XUÂN ĐẦY!
Lê Đăng Mành mời họa
Quý tặng đồng hương QT miềng

  
Tết đến không tiền bụng dẹ tơng
Muôn hoa khoe sắc dạ bui mờng(*)
Chộ người hạnh phúc nên hoan hỷ
Dặn tớ tang thương chớ hoảng quờng
Ngoài ngọ đèn treo Nga phải thẹn
Trong dà điện lóe Nguyệt e dường
Hững hờ khúm núm  cung tay đón
Ôông mụ(**) co ro xuân khẳm chờng***.

                                 LĐM

Chú thích (Phương ngữ Quảng Trị):
dẹ: nhẹ
bui mờng:   vui mừng
chộ: thấy
ngọ: ngõ
dà: nhà
Ôông mụ:  ông bà
khẳm chờng:  đầy giường  
READ MORE - RỘN RÀNG TẾT - Nguyễn Thanh Xuân họa thơ Lê Đăng mành

Friday, January 25, 2013

HÒA VIỆN-VĂN QUỸ-HƯNG NHƠN: DUYÊN NỢ BA LÀNG - Nguyễn Thanh Xuân


Tác giả Nguyễn Thanh Xuân (trái) và các cụ làng Hưng Nhơn

Hòa Viện - Văn Quỹ - Hưng Nhơn
(Duyên nợ ba làng)

     Nhân đọc bài của tác giả Lê Ngoc Quốc http// queme quangtrihưngnhon.blospot.com 2012/05 Ô Lâu dòng sông quê hương (đăng ngày 14-12-2012)

     Sông Ô lâu dài gần 70 km từ dải Trường Sơn về phá Tam Giang nơi giáp ranh giữa hai tỉnh Quảng Trị-Thừa Thiên Huế có sự xen kẻ giữa làng xóm bờ Bắc-bờ Nam:

    Làng Câu Nhi- Quảng Trị ở bờ Bắc có xóm Câu Nhi Hòa ở bờ Nam; làng Hòa Viện Thừa Thiên Huề có bốn xóm thì  hai xóm ở bờ Nam, hai xóm ở bờ Bắc; làng An Thơ Quảng Trị có ngôi miếu và một sổ ruộng ở bờ Nam.

     Hai đoan ở Câu Nhi và An Thơ tôi chưa đề cập đến mà chi trình bày hiểu biết của mình về làng Hòa Viện-Hưng Nhơn-Văn Quỹ (trong bài “Tầm vóc làng Hưng Nhơn” – tập NHỚ LÀNG, tôi đã nêu lên và có lời xin tìm hiểu sau). Nhân đây tôi xin trinh bày suy nghĩ của mình.

   Tôi có may mắn là cả ba làng tôi đều thuộc từng ngõ (Hưng Nhơn làng tôi rõ rồi; làng Văn Quỹ lúc nhỏ học ở đó - đã nói trong bài “Ký ức về chuyện hai làng VQ-HN trong tập “NHỚ LÀNG”); làng Hòa Viện, quê ngoại tôi có bốn xóm rất cách trở nhau (tên từng xóm tôi không nhớ). Để tiện nhận vị trí tôi gọi theo số thứ tự kèm theo đặc điểm: Xóm 1 có nhà thờ Công giáo, đình làng, nơi có nhà ngoại tôi ở; xóm 2 có Ngôi chùa, nhà thờ họ Hồ và họ Trần, bến đò Mụ Tú hằng ngày tôi sang xóm 3 giáp chợ Ưu Điêm để đi học; còn xóm 4, từ cầu Mụ Tú bờ Nam xuống và giáp làng Vĩnh An. Ở đó tôi có Mụ O (xóm O Bộ, chồng O làm Hương Bộ) và chị gái sang lấy chồng.

    Diện tích hai xóm 1-2 ở bờ Bắc tôi ước chừng như một TAM GIÁC ĐỀU, mỗi cạnh ~ 1000m; giới hạn (hiện nay) bởi cạnh 1 là con sông nhỏ Văn Quỹ - Hòa Viện; cạnh 2 là con sông nhỏ chạy dọc làng Hưng nhơn và cạnh 3 là bờ sông Ô Lâu từ bến Ngã Ba làng Hưng Nhơn lên giáp cuối làng Văn Quỹ.

     Tôi cho rằng cạnh 1, cạnh 2 là dòng sông Ô LÂU trước đây còn cạnh 3 là đào mới để nắn dòng. Trên nhận diện như thế,tôi nêu mấy cứ liệu:

    1. Những di tích cũ:

    Cả ba làng đều chung một mô tuyp cổ điển cấu trúc đền đài nhà cửa là hướng ra sông.

    Ta thử xem nhà dân từ sau xóm Đông An –Văn Qũy đến giáp đầu làng Hưng Nhơn (cả nhà thờ Giáo xứ Văn Quỹ) đều hường ra sông.

     Ở Hòa Viện có đình làng miếu (khuôn viên này rất sầm uất, nhiều cây cổ thụ tường bao chiếm một diện tích rộng). Hướng Đình làng, nhà thờ, miếu đều hướng ra sông; nhà thờ Công giáo cũng hướng ra sông và nhà dân cũng vậy.

     Ở Hưng Nhơn: Tất cả nhà thờ, nhà dân đều hướng ra sông

    2. Những dấu hiệu mới:

    Tôi cho rằng cạnh 3 là đào mới nên bờ sông xuất hiện lở bồi.

    Bợc lở: Ở phía bờ Nam đoạn từ đầu xóm 4 bị nước xói lở và ở cuối xóm 2 gần giáp Hưng Nhơn cũng bị lở. Do đất mới đào, bờ của nó chưa được “thuần hóa” với cường độ và lưu lượng dòng chảy khi mà nước dâng cao (tức nước vở bờ).

    Bãi bồi: Đối diện với bên lở, xuất hiện hai bãi bồi (trước mặt họ Hồ và Họ Trần xóm 2 và trước mặt nhà của xóm 4).

    Xin nói thêm là đôi với những con sông hình thành ngàn đời rất it có hiện tượng lở bồi.

Phác thảo sơ đồ nắn dòng Ô Lâu


     Tôi cho đây là công trình vĩ đại, xem ra cả nước ta ít  nơi nào có chuyện nắn dòng sông lớn như Ô Lâu. Lợi ích thật lớn lao, trí tuệ của cha ông ta thật tuyệt vời. Bên cạnh đó cũng để lại những hệ lụy mà con cháu đời sau không hiểu sao lại như vậy. Ví như làng Hòa Viện lại 2 bờ Bắc -Nam và 3 xóm cách trở, một làng diện tích nhỏ mà phải có 3 nghĩa địa; xóm 1 không có bến nước Ô Lâu; xóm Hội-Văn Quỹ mất bên Ô Lâu; làng Hưng Nhơn có sông chảy ngược (chảy từ hướng đông lên hướng tây). Đáng ra Hưng Nhơn cả làng được trực tiếp với dòng sông Ô Lâu, nay chỉ  chưa tròn trăm mét, và chi một bến Ô Lâu (bến Ngã Ba) cả Làng dùng một bến.

    Qua nghiên cứu về sông Ô Lâu , nếu dòng chảy như trên thì có thể xác định làng Hưng Nhơn đến vùng đất này để lập làng trước làng An Thơ.

     Liên tưởng trong Ô Châu Cận Lục của Thượng Thư Dương Văn An công bố năm 1553 có ghi trường hợp Ngài Nguyễn Quận người làng An Thơ theo vua Lê Thánh Tông 1477  đi đánh Chiêm Thành và được phong đến chức Đô Tổng binh sứ đạo Quảng Nam.

     Làng An Thơ đã có thời đó thi Hưng Nhơn không thể đến năm 1558 mới theo Nguyễn Hoàng vào ven sông Ô Lâu lập làng.

    Vấn đề tồn nghi, đề nghị quý học gỉả có tư liệu tin cậy bổ sung, xin cám ơn.

NguyễnThanh Xuân
Email: nhuxuan29@gmail.com

READ MORE - HÒA VIỆN-VĂN QUỸ-HƯNG NHƠN: DUYÊN NỢ BA LÀNG - Nguyễn Thanh Xuân

Monday, December 3, 2012

ĂN TẾT XA NHÀ - Nguyễn Thanh Xuân

            
                Ăn Tết xa nhà                                   


Ăn Têt lần đầu ở Thủ đô

Xa nhà trăm thứ tự mình lo

Chuối xanh ốc xoắn xào chua ngọt

Đậu phụ cá mè rán ướt khô

Ấm bụng sẵn sàng đòn bánh tét

Dễ tiêu giảm hẳn món chân giò

Để không say, rượu ba mươi độ

Bữa tiệc oai thỏa mãn ngáy khò.



  
Chơi Tết xa nhà                                    



Xa nhà cái Tết đến lần ba

Đi đón giao thừa đã quá ta!

Đền Ngọc Sơn người chen hương khói

Hồ Hoàn Kiếm, pháo đủ màu hoa

Hội trường Thống Nhất: vang lời chúc

Khách sạn Phú Gia: dự tiệc trà

Bạn hữu gặp nhau xoay quẹo cổ

Chung lời cất nhịp hát âu ca.

Nguyễn Thanh Xuân
nhuxuan29@gmail.com 
READ MORE - ĂN TẾT XA NHÀ - Nguyễn Thanh Xuân