Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Nguyễn Hữu Liêm. Show all posts
Showing posts with label Nguyễn Hữu Liêm. Show all posts

Wednesday, January 11, 2012

Nguyễn Hữu Liêm – TRẦM TƯ VỚI SÓNG BIỂN LĂNG CÔ



 ( Hi hành gi bên b bin xanh, hãy tìm ra viên Ngc nm ngoài v sò Không và Thi! (Hafiz)


Trong một ngày đậm đông tháng trước, trên đường từ Đà Nẵng ra Đại học Huế để làm việc với Phân khoa Luật, tôi thấy như mình đang đi qua hai cõi.  Từ một nơi nắng nhẹ, ấm mát của sông Đà, biển Non Nước, bên này rặng Hải Vân, chỉ cần đi qua khỏi đèo là mây mù bao phủ, mưa phùn, gió bấc cuộn lấy núi rừng, sông biển, con người xứ Huế.  Khi xe vừa ra khỏi hầm đèo, nhìn xuống thị trấn Lăng Cô, tôi nói với người lái xe chở tôi, một Giáo sư luật từ miền Bắc, rằng theo tôi thì Lăng Cô có lẽ là thị trấn đẹp nhất Việt Nam. Vị Giáo sư thì cho rằng Đà Lạt mới đẹp.  Tôi bảo vị ấy, “Hãy xem kìa!”

Chúng tôi ghé vào một quán cà phê bên bờ biển để nhìn núi, nhìn mây.  Trong lúc chờ cà phê nhỏ giọt vào ly, chúng tôi ra đứng trên một đồi cát cao, nhìn về phía đông và nam.  Mây, biển, hồ, núi xanh bao phủ lẫn nhau tạo nên một nét huyền diệu, hùng vĩ.  Đẹp lạ lùng.  Vị Giáo sư bây giờ nói lên, “Bây giờ tôi mới thấy là Lăng Cô đẹp thật, dù tôi đã lái xe đi qua đây gần như hằng tuần!”  Có những cái đẹp hiển nhiên cần phải được nhắc nhở người ta mới nhận thấy được.

Ở đây có nhiều khu resorts nằm ẩn trong các rặng phi lao, dừa biển.  Một số đang được xây cất dang dở.  Cơn suy thoái kinh tế mấy năm qua đã làm những dự án nghỉ dưỡng này dừng lại.  Nhìn xuống bên kia quốc lộ, các ngôi nhà, tiệm, khách sạn, theo kiến trúc tỉnh nhỏ Việt Nam cũng còn đang vươn lên từ nghèo khó, cũng đang dang dở, mang nhiều nét thô sơ và đơn giản.  Nhìn lên trên núi cao vời, nhìn xuống phố thị bên đường, một đằng thì siêu thực như mây trời, một đằng thì tất bật, luộm thuộm như cảnh đồng ruộng đầu mùa. 

Thiên nhiên như một ân huệ tinh thần đến từ cao; con người như là cơ năng ý chí thân xác từ dưới thấp.  Có lẽ rằng xứ Lăng Cô đang là nơi đồng quy của hai hướng.  Từng lớp lớp thanh niên ở đây đã từ bỏ, giã từ trời đất này mà ra đi, để rồi cuối cùng cũng mong tìm về với khoảng nước non đất trời này.  Tôi cảm thức như rằng đây là một vùng đất tinh thần, vừa linh thiêng, vừa huyền hoặc lạ lùng, dù là trên đường quốc lộ vẫn đang tràn ngập tiếng xe cộ bụi đời chật vật.  “Nature allows man the vicarious grasping of Truth.”  Nếu không có núi biển kia, cái gì sẽ cứu vớt những tâm hồn đơn sơ đầy vật vã này?

Chợt như tôi cảm thấy mình bay cao vào mây trên đỉnh núi – và tự nói cho mình nghe. Hãy nhìn đó!  Thiên nhiên và con người như là sự đồng hiến thân của Ý Niệm Tuyệt Đối, “the logos becoming flesh.” Tôi nghĩ đến Hegel, Tân ước.  Và Hoa Nghiêm.  Khi Pháp tính trải hiện qua không gian, vũ trụ thành hình; khi Ý Niệm trở trăn trong thời gian, lịch sử chuyển động.  Tất cả chỉ là những hiện tượng Tâm thức mà con người là giới kịch sĩ bi tráng.  Ta khao khát, vật lộn với chính mình để trải thân trong lịch sử, tiến hóa qua thiên nhiên và thân xác, tìm lối đi ra khỏi cơn tha hóa lạc loài trong hiện tượng sinh hữu nghìn trùng. 

Trong tiếng gió, tôi nghe mơ
hồ vang tiếng gọi Tự Do và Giải Thoát.  Tất cả như những cơn gầm phẫn nộ, ầm ầm của từng đợt sóng biển Thái Bình liên tục vỗ vào bờ không ngừng nghỉ.  Từng vết bùn dưới ruộng kia, từng hạt cát bên bờ sông nọ, từng viên đá trên rặng núi cao, từng cây dương liễu cong mình dưới gió, từng con thú run lạnh bên vườn, và tất cả cái khối nhân loại tràn trề và triền miên gian nan này - vâng, tất cả, một tổng thể “lạc loài trong kiếp luân hồi” đang gào thét trong khổ đau, đang mải mê quay cuồng, để tìm về chân trời Tự Do.  Ta thấy được điều đó ở mọi nơi và cả trong chính ta!

Một ly cà phê thật đậm sau, tôi lại rơi xuống trần gian. Một mình đi ra đứng bên cây dương liễu cằn cỗi, già nua, cong mình dưới gió đông bắc từ biển, tôi đưa tay đụng vào thân cây cằn cỗi của “hắn”. Tôi thấy như mình đang nắm tay một ông già xứ Quảng, da mặt thân hình hắn nhăn nheo, vươn tay ra níu áo tôi, nở nụ cười đầy tâm sự.  Tôi nhớ đến một ý niệm học được trong trường đạo Rosicrucian rằng, “Man is the inverted plant” - Con người là thân cây đảo ngược.  Cây nhận thực phẩm từ dưới rễ; người từ bên trên mặt.  Cây phô trương cơ phận sinh sản ngửa ra với trời; con người giấu kín hướng về phía dưới.  Ôi ông già dương liễu ơi, ta với người cùng chia trái đất, nhưng đi về hai hướng. Xương sống ta với ngươi đều thẳng đứng nhưng lại đi hai ngả. Ta đi lên kêu trời; ngươi đi xuống mò đất.  Hai chúng ta cần bộ xương sống nằm ngang của thú vật để cấu thành một điệp trúc trần gian.  Hèn gì ta thấy như đang thiếu cái gì đó, sâu thẳm, vô cùng.  Ta nhớ những con thú của cõi động vật giữa bao la trời đất này.  

Chỉ có bên muông thú thì ta mới tìm ra ngã tư thập tự trong tâm thức đầy mâu thuẫn này.
Gần quán cà phê có một đám thợ đang xây một con đường đi dạo bằng đá bên đồi cát.  Những thợ nề, thợ mộc đang chuyển cát đá thành cảnh quan. Chỉ có con người mới có tự do ý chí chuyển hóa đất đá thành cái đẹp cho ý thức.  Tất cả phải chuyển động về chân trời Tự Do.  Kể cả sỏi đá, đất cát ngàn trùng kia.  Hằng tỷ tỷ “Hằng hà sa số” đều phải đứng dậy mà đi.  Qua bàn tay con người lao động, qua ý thức thẩm mỹ, nhân loại phải hoàn tất dự án Tự Do vô vàn này.  Tất cả phải sống lại, phải đứng lên từ cõi chết, để cái Đẹp, cái Thiện, và Sự Thật được hoàn tất trong sự tương giao, từ tính vô tri của đất đá, vô cảm của cỏ cây, đến sự khổ đau đầy hồn nhiên của cõi người.  Mỗi viên đá mà con ngươi đắp lên thành con đường chính là mỗi nấc thang tiến hóa được hoàn tất.

Hoặc là con người phải có chủ đích và đứng dậy để tìm Tự Do cho mình hay là họ sẽ mãi đọa đày trong vô thức như cây cỏ, sỏi đá kia.  Chỉ có chúng ta qua hành trình làm người mới có kinh nghiệm cuộc đời – cây cỏ, muông thú, cát đất không có lịch sử, không khổ đau, dù đang cùng chung đường cứu cánh.  Nhưng mà, tôi tự nhủ, con người Việt Nam, như một góc nhân loại ở xứ miền Trung này, như tôi đây, còn cả một xa lộ dài đằng đẵng, đầy khổ đau nằm chờ trước mặt, trải dài về chân trời Giải Thoát.  Sẽ còn nhiều gian truân lắm bạn ạ.  Cái đất nước và con người miền Trung này, họ còn thô sơ lắm, với tâm thức còn dính quá sâu trong cõi thấp vật thể.  Họ sẽ phải được văn minh hóa qua con đường và phương tiện vật chất trước đã.  Khối tâm thức Việt Nam, ôi thân yêu hỡi những anh chàng nhà quê mới lên tỉnh, phải tiêu thụ và giải tỏa hết cái năng lực dục thức, trước khi lý tính và ý chí cõi cao hơn được làm chủ sự sống.  Vâng, dân tộc này đang là của thân xác trong cõi dục thức.  Chúng ta đang cùng nhau trăn trở, ngụp bơi trong một thời quán tiến hóa xác thể sắc tướng để mong được thoát ra ngoài khoảng không gian nặng ẩm này. 

Trưa đến, chúng tôi về tới Phân khoa Luật, Đại học Huế.  Ra đây lần này, tôi tham dự thỉnh giảng môn Logic và Tư duy phản biện. Về với miền đầy cảm xúc, the realm of feeling, của đất Thần kinh, sông Hương, núi Ngự, của con người với giọng nói ngọt nhẹ, tôi mong góp chút gì bằng năng thức từ cõi lý tính, the realm of rationality - ôi biết đâu, tôi vọng tưởng - nhằm giúp quân bình tâm hồn Huế, vốn đầy ắp trong tôi.  Biết đến bao giờ, Huế và miền Trung mới bước qua cõi cảm xúc ngập tràn để được vượt thoát. Tôi nhớ đến Pythagoras, một triết gia Hy lạp 2.500 năm trước, đã bắt buộc đệ tử phải học toán trước khi truyền dạy bí mật huyền nhiệm.  Muốn tiến lên cõi tinh thần con người trước hết phải đi qua cõi lý tính.To be spiritual is to be rational. Chỉ có lý tính mới cứu Huế ra một lịch sử triền miên đầy cảm xúc - và khổ đau, Huế ạ!



Tác giả (thứ 3 từ trái) cùng các thầy cô Phân khoa Luật Huế. Ảnh: NHL.

Khoa Luật bây giờ rất khác với trước 1975.  Giọng nói thầy cô không còn đặc Huế như thưở trước.  Tâm hồn dịu dàng của Huế đang được khuấy động bởi những con người năng động với giọng nói sắc bén hơn của thầy cô từ phía Bắc.  Trường Luật đang được xây dựng trên một khu đất ở ngoại ô.  Cơ sở vật chất vẫn còn đang trong giai đoạn bắt đầu. Các thầy cô chân tình đón tiếp chúng tôi, vui vẻ chia sẻ, làm việc, trao đổi những trăn trở, suy tư. Tất cả đều nhắn nhủ và mong các cựu sinh viên, các thầy cô Khoa Luật của Huế trước 1975, dù ở phương xa nào, dù có chính kiến khác biệt về chuyện đất nước, hãy cùng về tiếp tay với các thầy cô hôm nay mà xây dựng Phân khoa Luật cho Huế ngày mai. Nhìn các khuôn mặt ngây thơ, chất phác của sinh viên luật khoa trong lớp học, tôi có cảm tưởng thế hệ mới của các em như là một mảnh đất hạn hán kiến thức và kỹ năng pháp lý đang chờ cơn mưa thời đại đến từ các phương trời.

Sáng sớm tôi đi ra góc phố, co ro ngồi bên vĩa hè, trong cơn mưa lạnh, ăn tô bún Huế cay và nóng để mà cảm thức xứ Huế. Trước 1975, người xứ Quảng đã đến đây, mang cám dỗ cho dân Thần kinh với chiếc bánh cách mạng đầy máu xương.  Nay thì người Bắc và Thanh Nghệ đang thách thức tâm hồn Huế bằng con đường thực dụng thời đại. Nhưng chắc là Huế còn lâu mới thay đổi – như tô bún giò rất nặng hương vị trong một buổi sáng mưa phùn, gió bấc ngập tràn ẩm ướt cả tuần nay, sẽ vẫn còn đó dưới gốc cây nơi từng góc phố. Với cơn mưa rét buốt này, với giọng nói, với thức ăn cay xé lưỡi này, chắc Huế sẽ còn nhiều gian truân lắm. “Oh the Truth that prunes and purges!” Tôi mong Huế sẽ còn nhiều bình an.

Hai ngày sau, tôi lên xe đò rời cơn mưa dầm dề, không dứt của Huế để trở lại Đà Nẵng. Vừa qua khỏi đèo Phú Gia, thì thị trấn Lăng Cô lại hiện ra ngay trước mắt. Lạ thật, chỉ qua một dãy núi mà khác biệt vô vàn. Trời trong, mây cao.  Một chàng sinh viên mời tôi về làng để ở qua đêm.  Buổi chiều, chúng tôi bơi chiếc thuyền ra đầm lớn, câu cá, bắt cua đồng, bẫy tôm.  Đem cá tôm về ngồi bên vỉa hè tranh, bên bờ sông, đốt nhúm củi tre, nướng con cua đồng chín vàng lên trong cơn gió đầu năm, tỏa khói tràn cay trong mắt. Đồng ruộng Phú Lộc, Chân Mây bao la trước mắt.  Khi chén rượu đế Kim Long hâm nóng đưa lên môi, ôi cả một chân trời mời gọi.  Đêm nằm co lại với chiếc chăn mỏng trên chiếc giường tre trong mái nhà tranh giữa ruộng đồng, gió bấc rét từng cơn thổi vào từ Phá Tam Giang, tôi thấy mình như tan loãng vào không gian núi đồi hoang dã ngút ngàn. Làm thế nào để vươn thoát chính mình ra khỏi thời gian để cho không gian này mãi còn lại với  ta? 

Mỗi  lần đi qua đây, mỗi lần về với bạn hữu, dân quê, trong khói tre, mái tranh, ly rượu gạo nếp làng thôn, là một mối ân huệ vô cùng. Thắp nén hương trước bàn thờ tổ tiên bên đầm Lăng Cô vào một chiều cuối năm, tôi nghĩ đến con người như là những cỗ xe tiến hóa cho tâm thức. Xứ Lăng Cô và con người miền Trung giao thoa trong tâm tưởng, như sự xuyên thấu tràn ý nghĩa tương phản, giữa nỗi bất an và hòa bình, trong gian truân và hạnh phúc mà mỗi chúng ta buộc phải kinh qua.

Núi biển kia, hỡi Lăng Cô:  I shall come again and receive you unto myself!

NHL
Nguồn: daophatngaynay.com
READ MORE - Nguyễn Hữu Liêm – TRẦM TƯ VỚI SÓNG BIỂN LĂNG CÔ

Friday, December 31, 2010

NGUYỄN HỮU LIÊM – SỨ MẠNG GÁO DỤC NHÂN VĂN: TÂM HỒN VIỆT, CON ĐƯỜNG THẾ GIỚI

Ở Việt Nam hiện nay, trong nỗ lực chấn hưng nền giáo dục đại học, vấn đề “giáo dục nhân văn” đang được các nhà giáo bàn thảo. Để đóng góp cho đề tài này, xin gởi đến đọc giả bài tham luận của tôi trong buổi hội thảo mang chủ đề “Giáo dục nhân văn cho sinh viên Duy Tân cốt lõi là những vấn đề gì?” tổ chức tại Đại học DuyTân, Đà Nẵng, tháng 9, 2010. Mặc dù đề tài chỉ nói về Đại học Duy Tân, nhưng nội dung bài viết thì liên quan đến một vấn đề phổ quát cho các đại học ở Việt Nam.

Trong tác phẩm triết học lừng danh “Phê phán lý tính thuần tuý” triết gia Immanuel Kant có nêu lên một mệnh đề tri thức cơ bản rằng “Khái niệm mà không có trực giác thì trống rỗng; trực giác mà thiếu khái niệm là mù lòa.” Điều mà Kant nói tới là bản chất nhị nguyên bao gồm hai phương diện, khái niệm và trực giác, hình thức và nội dung, trong cấu trúc tri thức của con người. Khái niệm là phương tiện, là con đường. Trực giác là tánh biết trực tiếp có sẵn trong cơ năng tri thức. Cả hai là cần thiết và hỗ tương lẫn nhau cho sự hình thành của kinh nghiệm và tri kiến. Hãy hình dung ra cơ năng tri thức của con người như là một chiếc phi cơ. Khái niệm là hai cánh; trực giác là động cơ. Chiếc phi cơ chỉ có thể bay khi hội đủ hai điều kiện thiết yếu và hỗ tương này.

Trong truyền thống và ý chí khai mở dân trí mà các tiền nhân xứ Quảng này, những vị như Phan Chu Trinh, Phan Khôi, đã đi trước, tôi xin lấy mệnh đề tri thức nầy của Kant để bàn đến một nội dung giáo dục nhân văn cho thế hệ sinh viên Việt Nam đương thời, đặc biệt là cho miền Trung, và riêng cho đại học Duy Tân mà tôi có được vinh hạnh tham gia giảng dạy.

Nói một cách rất gọn là vậy: Con đường giáo dục nhân văn, như là một dự án hành động cho tương lai của đại học Duy Tân, là tiền đề: Góp phần khai mở và vun đắp một thế hệ sinh viên Việt Nam với những giá trị nhân văn dân tộc và nhân loại xứng đáng với khả năng tri thức được tiếp nhận từ thế giới.

Ở tiền đề này, con người Việt với tâm hồn và bản lĩnh Việt là chính; nhân loại và thế giới là khái niệm, là mô thức và phương tiện cho tâm hồn và trực giác Việt Nam mà chúng ta phải đánh thức và khai sáng. Kiến thức và phương tiện kỹ thuật của thế giới là đôi cánh; tâm hồn Việt là động cơ. Cả hai là cần thiết cho chiêc phi cơ con người Việt Nam có thể bay lên cao trong tiến trình hiện đại hóa đất nước.

Đây là một tiền đề mang tính công thức giáo dục và đào tạo mà thiết yếu tính nội tại của nó không những chỉ nằm trên bình diện triết lý mà phải được mang giá trị giả thuyết vốn đòi hỏi rằng nó phải được thử nghiệm và thực thi trên bình diện chính sách thực tiễn.

Muốn thoả mãn nhu cầu thiết yếu tính chính sách cho tiền đề này thì chúng ta phải trả lời hai câu hỏi chính của nó. Thế nào là tâm hồn và trực giác Việt Nam? Và thế nào là nhân loại và thế giới?

Câu hỏi thứ nhì, theo tôi, thì dễ dàng để trả lời. Trong chiều hướng hiện đại hóa, công nghiệp hóa và hội nhập vào cộng đồng nhân loại chung, thì giá trị thế giới là tập hợp những chọn lựa từ những gì của văn minh đương đại vốn thích hợp và cần thiết cho đất nước và con người Việt Nam.

Ví dụ ngắn gọn: Đại học Duy Tân có thể chọn một mô hình giáo dục theo kiểu mẫu Hoa Kỳ, một mô thức đại học mà theo đó thì huấn luyện, đào tạo là ưu tiên. Chúng ta có thể tham khảo và du nhập mô thức tổ chức, nội dung giáo trình từ một đại học nào đó ở Hoa Kỳ, như Pennsylvania State hay Canergie Mellon. Mô hình chọn lựa này, như là một thí dụ cụ thể và điển hình, là một con đường thế giới, một phương tiện pháp, nói theo nhà Phật, để chúng ta phát huy con người Việt Nam cho nhu cầu cá nhân và xã hội.

Còn câu hỏi thứ nhất, trông có vẻ như là đơn giản, nhưng không phải là dễ để trả lời thỏa đáng. Giống như là mệnh đề của Kant, chúng ta hình như ai cũng nhận ra, hay cảm thấy rằng, mỗi người Việt Nam chúng ta đều mang một tâm hồn, một bản sắc trực giác Việt Nam vốn đặc thù và đơn biệt. Đây không phải là một giả định – mà là một sự thể thiết yếu và hiển nhiên. Bản sắc tâm hồn hay trực giác của người Việt đã phân biệt họ ra khỏi cộng đồng nhân loại và các sắc dân khác. Nó cũng là điều kiện và nguyên nhân cho sự hình thành của lịch sử lập quốc và nhân cách con người Việt Nam xưa và nay. Nhưng nếu có ai hỏi rằng đâu là một định nghĩa về một “tâm hồn” hay ”trực giác” Việt Nam thì câu trả lời cũng vẫn còn là một vấn nạn, một bí ẩn tuy gần nhưng xa, hiển bày nhưng cũng bị vùi kín.

Ở đây tôi xin dựa vào định nghĩa của triết gia Aristotle, cha đẻ của logic, siêu hình học và tâm lý học Tây phương, thì tâm hồn (psyche) là cái nguyên tắc tổ chức và điều khiển các khuynh hướng chọn lựa và hành động của cá nhân. Từ định nghĩa này, chúng ta có thể phân giải phần còn lại của câu hỏi: Cái nguyên tắc tổ chức và điều hướng (psyche) của con người Việt Nam là (những) gì? Định nghĩa của Aristotle là về con người hay cá thể phổ quát, không bị giới hạn bởi không gian, thời gian hay bối cảnh nhân văn, lịch sử, địa lý. Định nghĩa này có thể coi như là một nhận diện về cấu trúc của tâm hồn – nhưng không bàn tới nội dung của tâm hồn đó, tức là những khuynh hướng chọn lựa và hành động nào của một cá nhân đặc thù. Tâm hồn, theo sự nhận diện cấu trúc này, chỉ là một “guồng máy,” hay nói gần hơn với Aristotle, là một năng lực định hướng cá nhân, mà người Việt chúng ta đều chia sẻ một mẫu số chung.

Khi chúng ta thay thế “tâm hồn” bằng định nghĩa của Aristotle thì câu hỏi sẽ trở nên rằng, trong một bối cảnh nhất định có sẵn, cá nhân và tập thể các con người Việt Nam sẽ có một thể loại hay khuynh hướng chọn lựa hay hành động như thế nào? Và khuynh hướng hay cái mode chọn lựa này được đặt trên cơ bản nguyên tắc và nguyên lý nào?

Khi chúng ta nhận diện ra được cái nguyên tắc chọn lựa và hành động của người Việt Nam, trên cơ bản cá thể hay tập thể, thì chúng ta đã nhận ra một bản sắc cho cái gọi là “hồn Việt Nam.” Khi cơ bản tâm hồn Việt Nam đã được định vị và nhận dạng, thì từ đó mà một dự án giáo dục nhân văn mới cho con người Việt Nam có thể sẽ được triển khai.

Vì vậy, bước đầu cho một phác thảo của dự án nhân văn cho sự nghiệp giáo dục của đại học Duy Tân chính là một nỗ lực tự soi sáng chính mình ở nơi tập thể lãnh đạo và nhân viên nhà trường, của đội ngũ giảng dạy, và của tất cả sinh viên và phụ huynh liên đới. Soi sáng chính mình ở đây có nghĩa là mình hiểu thấy được cái bản sắc, cái tâm chất, cái nguyên tắc hướng dẫn cho cuộc sống của chính mình được đặt trên một số những động cơ và giá trị nào.

Hãy trở lại tiền đề giáo dục nhân văn cho Duy Tân. Nó bao gồm hai vế: Một thể loại hay nội dung tâm hồn Việt Nam, vốn cần được khai sáng và vun trồng, đối diện một thế giới và thời đại cần phải được học hỏi và tiếp thu. Tuy là có hai vế, nhưng trên cơ sở logic, tiền đề này phát sinh ra một yếu tính mới: tính liên hệ giữa hồn Việt Nam và con đường thế giới. Nhận chân ra thiết yếu tính của mối quan hệ này để chúng ta định vị và nhận dạng ra tính điều kiện và nhân quả giữa hai vế. Những cá thể mang tâm hồn Việt Nam đang thay đổi và lớn dần, một cách thụ động và bất định, theo một thế giới vốn đang thay đổi nhanh hơn. Đâu là cơ bản giá trị để cho con người Việt Nam có thể chủ động chọn lựa và hành hoạt trước vô vàn khả thể tính mà thế giới và thời đại đang đưa đến?

Bây giờ chúng ta cùng đọc lại “Sứ Mạng của Đại học Duy Tân” mà Hội Đồng Quản Trị đã công bố:

“Bằng bản lĩnh Việt Nam, phát huy truyền thống của phong trào Duy Tân trong sự nghiệp đổi mới ngày nay, Đại học Duy Tân bám chặt những yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của miền Trung và đất nước, hướng tầm nhìn ra thế giới hiện đại, mở rộng hợp tác quốc tế, nhanh nhạy đón bắt công nghệ và tri thức mới nhằm đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng, đạt tiêu chuẩn khu vực và quốc tế, phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.”

Đây là một thông điệp sứ mạng mạnh mẽ, rõ ràng cho mục tiêu hiện hữu của Duy Tân – là một đại học đào tạo và huấn luyện một tập thể lao động có chất lượng trên tiêu chuẩn thế giới nhằm phục vụ cho một nhu cầu của tập thể dân tộc. Nhưng chính vì chủ trương huấn luyện, thay vì nghiên cứu hay lý thuyết, và phục vụ cho sự nghiệp đất nước, thay vì xây dựng cá nhân sinh viên, mà Duy Tân đang nhấn mạnh đến cái vế đôi cánh của “nhân loại và thế giới” mà tiền đề giáo dục trên đã nêu lên.

Vì thế, nay đã đến lúc mà Duy Tân phải khai vực lại cái vế thứ nhất. Đó là sứ mạng giáo dục nhằm khai sáng và vun trồng những “hồn Việt Nam” trên cơ bản nhân văn và ý thức mới trước nhu cầu của đất nước và văn minh nhân loại. Hãy đọc lại “Sứ Mạng” của Duy Tân lần nữa. Nó nói rõ rằng mục tiêu của Trường là đào tạo một nguồn nhân lực có “chất lượng” trên cơ sở “công nghệ và tri thức” thế giới. Vì thế, “Sứ Mạng” này sẽ phải bao hàm một nội dung giáo dục nhân văn theo tiêu chuẩn thời đại của cộng đồng nhân loại, xứng đáng với tầm vóc và mẫu mực con người phổ quát, trên cơ sở tâm hồn Việt Nam, trong ý thức và hành xử văn hóa và nhân bản của những cá thể có khả năng tự ý thức cao nhằm phát huy tối đa tiềm năng của chính mình.

Đây không phải là một luận cứ đạo đức vốn chỉ được đặt trên một giả định đầy tính chất huyền thoại cho một cứu cánh tính về một mẫu người Việt Nam trừu tượng nào đó. Chúng tôi cũng không muốn nêu lên một lý luận mộng tưởng trên một số giả định mơ hồ, không minh bạch về cái gọi là “hồn Việt” trong mỗi cá nhân Việt Nam. Trái lại, khi bàn về tiền đề “giáo dục nhân văn” này chúng tôi nhận chân ra cái nhu cầu khẩn cấp và thiết yếu của cái vế “con người” trên cơ sở văn hóa và văn minh trong dự án “trồng người” mà tổ tiên chúng ta đã hằng từng hoài bảo.

Làm sao để tiếp nhận công nghệ và tri thức thế giới và thời đại nếu chúng ta, như là những cá thể Việt Nam, chưa xứng đáng với giá trị của công nghệ và tri thức nhân loại đang có? Hay hỏi thực tế hơn. Làm sao mà các đại công ty, hay những nhà đầu tư, muốn chuyển giao công nghệ và tri thức tiên tiến đến cho Việt Nam nếu đội ngũ nhân lực chúng ta không đủ khả năng và tầm mức văn hóa xứng đáng để làm chủ công nghệ và sử dụng tri thức đó?

Hỏi như vậy đề chúng ta nhận thức rằng khi chưa xứng đáng với tầm mức nhân văn và khả năng tự ý thức để làm chủ công nghệ và tri thức thế giới thì chúng ta sẽ chỉ còn là những anh thợ, những nhân công khéo tay làm thuê cho chủ nhân ngoại quốc, tức là làm kiếp nô lệ trong một trật tự chủ-nô mới vốn được hóa trang bằng những hình thức hào nhoáng của cái gọi là tiên tiến và văn minh.

Hỏi như thế để chúng ta, những người làm giáo dục, cố gắng khai sáng được cái huyền thoại “tâm hồn” hay “bản lĩnh” Việt Nam nhằm biết được cái tiềm năng, khuynh hướng cũng như những biên độ giới hạn của con người Việt Nam nhằm khẩn cấp thực thi những chính sách giáo dục nhân văn cần thiết và thích ứng.

Ở đây, chúng tôi chưa muốn đưa ra một trả lời về câu hỏi giáo dục nhân văn là gì, hay làm như thế nào. Những cái đó thuộc về phạm vi chính sách mà nhà trường sẽ phải cùng thảo luận và đề ra. Ở đây chúng ta muốn nhấn mạnh đến nhu cầu giáo dục nhân văn cho sinh viên đại học Duy Tân. Vì sao? Xin phép được giải trình rằng chúng ta đang phải đối diện với một khủng hoảng nhân văn khá trầm trọng trong thế hệ sinh viên mới ngày hôm nay. Bản chất của sự khủng hoảng này phát xuất từ sự chuyển hướng tự nhiên của con người Việt Nam trước một thế giới mà tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước đã đưa họ ra khỏi những cơ sở văn hóa và tinh thần truyền thống vốn là căn cứ vững vàng xưa nay.

Từ trong truyền thống của nền văn hóa nông nghiệp mà chúng ta phát xuất, tự nó đã có những bất cập, những khuyết điểm và giới hạn tự nhiên. Khi tâm thức nông dân Việt Nam, bằng hành trang văn hóa dân tộc này, phải đi vào một khung cảnh văn minh công nghiệp của thời đại thì nó phải trải qua khủng hoảng nhân văn. Vì thế, trách nhiệm giáo dục chung là làm thế nào để trang bị cho sinh viên thời đại một hành trang văn hóa dân tộc, linh động nhưng có cơ bản từ một tâm hồn Việt Nam, với năng lực tự chủ, tự do và sáng tạo nhằm xứng đáng ngang tầm với nhân loại ngày nay? Đây là thách thức lớn, không những chỉ ở bình diện lý thuyết mà là phạm vi thực tiễn qua chính sách giáo dục và đào đạo mà Duy Tân phải thực thi. Sinh viên Việt hôm nay khi đi ra với thế giới hiện đại cũng như anh chàng dưới quê đi ra khỏi luỹ tre làng. Làm sao mà cho dù các em có phải đi ra khỏi quê nhà nhưng quê nhà không có rời khỏi các em? Sứ mệnh nhân văn của chúng ta, do đó, là làm sao tạo điều kiện tri thức và nhân cách để cho thế hệ Việt Nam mới không đánh mất cái hồn tinh hoa văn hóa Việt Nam trước thời đại.

Để kết thúc, tôi xin kể một câu chuyện về đạo học huyền nhiệm. Có vị sư giác ngộ vốn mang khả năng nhìn suốt không và thời gian để biết trước cái gì sẽ xẫy ra trong tương lai – kể cả những tin tức về kinh tế tài chánh mà nếu nắm được sẽ là cơ hội làm giàu lớn. Có kẻ doanh nhân nọ muốn có được khả năng kiến thức này xin theo học vị sư để được giàu có. Nhưng vị sư từ chối và đã nói với doanh nhân rằng, muốn được đạt đến trình độ tri kiến này, điều kiện tiên quyết là ngươi phải xứng đáng với nó. Khi sử dụng khả năng huyền nhiệm cho mục tiêu duy lợi vị kỷ thì khả năng tri kiến đó sẽ bị tiêu huỷ.

Ý nghĩa của câu chuyện là rõ ràng. Cá nhân phải được tiến hóa về nhân cách và tâm thức xứng đáng với khả năng tri kiến về phương tiện pháp thế gian. Sự bất cập giữa hai vế, giữa tâm thức nhân văn và khả năng tri kiến phương tiện, là nguyên nhân của mọi thảm họa. Câu hỏi cho chúng ta là, liệu những tâm hồn Việt Nam ngày nay có xứng đáng với khả năng tri kiến mà họ đang hấp thụ từ thế giới hiện đại chưa? Tức là, thế hệ sinh viên mới của Duy Tân có được trang bị bằng một tâm hồn và trực giác Việt Nam đủ xứng đáng với khả năng chọn lựa và hành động trước những gì mà nhân loại và thế giới đang đưa đến? Nguyên lý và giá trị nào để các em sống và hành hoạt khi giòng sông dân tộc đang đi ra hội nhập với đại dương nhân loại?

Soi sáng và hệ thống hóa một cách khoa học các phương cách tiếp cận cho những câu hỏi này sẽ giúp chúng ta bắt tay vững chắc hơn vào sứ mệnh giáo dục nhân văn mà Đại học Duy Tân đang vươn đến vậy.


Nguồn: Trang web của Nguyễn Trọng Tạo: http://nguyentrongtao.org

READ MORE - NGUYỄN HỮU LIÊM – SỨ MẠNG GÁO DỤC NHÂN VĂN: TÂM HỒN VIỆT, CON ĐƯỜNG THẾ GIỚI

Monday, December 27, 2010

NGUYỄN HỮU LIÊM – NƠI BẾN ĐÒ CUỐI THÁNG TƯ


Đình làng Bích La


Hầu như hằng năm tôi vẫn trở về lại dòng sông Thạch Hãn ở Quảng Trị, đứng bên bờ sông cũ, nơi miếng đất mà 35 năm trước đã từng là căn nhà thơ ấu của tôi. Dòng sông vẫn như xưa. Vẫn đôi bờ, bên lở, bên bồi. Ở nơi mà dòng nước chảy ngang qua vùng đất này, những tháng ngày của hơn 35 năm trước, bao nhiêu bom đạn và máu xương đã đổ xuống đây.

Tôi nhìn dòng nước phản chiếu dưới ánh nắng hè của miền Trung, nhìn kỹ vào từng khoảng bờ đất lở loang lổ, như là nhìn lại chính lòng mình với đầy vết thương từ quá khứ. Tôi nhìn qua bên phải của bụi tre cuốn mình trong gió để coi lại cái hố bom B52 vẫn còn trũng xuống nơi mà nền nhà của tôi đã từng ở đó. Không ai nhìn lại nỗi đau trên ba lần – người ta có nói. Nhưng tôi đã nhìn lại cái hố bom đó, nhìn lại bờ đất lở Thạch Hãn này nhiều hơn là ba bốn lần. Nhìn lại vết thương của mình có lẽ là một phương thức trị liệu tinh thần cho một con người đã đi xa quê nhà nhưng chưa từng rời khỏi quê hương.

Năm nay, một ngày 30 tháng Tư nữa lại về. Tôi nhớ lại trong huyền thoại cổ xưa của Hy Lạp thì cái gì đã xảy ra sẽ xảy ra lần nữa, và lần nữa, trở lại mãi mãi, trong tương lai. Nó sẽ trở lại không phải vì bản chất biến cố chỉ nằm trên bình diện vật thể – mà là của tâm thức. Mọi chuyện ở thế gian từ thực tính là hiện thân của một ý niệm, một thoáng của tâm. Thời quán ý niệm này là khuôn thức cho hiện tượng. Và con người với hiện trạng bị đày đọa vào lịch sử trần gian chỉ là một nét cọ trên bản vẽ của dòng tâm ý vĩnh hằng này.

Vâng! Ngày 30 tháng Tư 1975 là một chuyện đã xảy ra hầu như rất xa vời trong quá khứ. Đã 35 năm rồi còn chi? Nhưng cái tâm ý về sự kiện lịch sử này vẫn còn đó bên ngoài cõi hiện tượng lịch sử. Và tôi đang trải nghiệm trong tôi, với cộng đồng người Việt ở California, một sự dấy động trong tâm ý về câu chuyện tưởng như là không còn nữa.

Tôi nhớ lại mùa Hè năm 1972. Khi dòng Thạch Hãn đã là chiến tuyến mới chia cách đôi bờ. Tôi đã đứng bên ni, nhìn sang bên tê, kẻ thù đâu không thấy, người thân cũng bặt dạng tăm hơi. Tôi đã chỉ thấy lấp lánh bóng dáng chính mình phản chiếu dưới mặt nước cùng với luỹ tre kia.

Bây giờ là mùa Hè 2010. Có những lần bên bờ biển từ California tôi nhìn về phía Tây, tưởng như là nhìn thấy bờ biển Việt Nam, cũng bên này, bên kia, như cũ, như xưa. Nhưng bến bờ đâu thấy. Tôi chỉ thấy vất vưởng những bến bờ quá khứ vẫn còn chia cách như là một tâm tưởng của cõi vĩnh hằng đứng trên thời gian và không gian hữu hạn. Cái mất, cái còn như là bên bồi bên lở từ một cuộc chiến xưa cũ vẫn hằn sâu như là bờ đất của con sông Thạch Hãn hôm nay.
Mỗi lần dân tộc Việt Nam phải kinh qua một biến cố lớn – như ngày 30 tháng Tư của 35 năm trước – cái được, cái mất đã là một sự bù trừ. Từ chính cá nhân mình, tôi mất hết quá khứ để có được một tương lai khác. Từ lịch sử, dân tộc ta đã bước qua một chân trời ý thức mới mà nhu cầu ngày cũ nay đã không còn. Từ bình diện vĩnh hằng, một thoáng ý niệm về hiện tượng con người Việt Nam đã hoàn tất một thời quán tiến hóa.

Nếu đem tâm lý vui buồn ra làm thước đo thì tôi lại rơi vào vũng lầy của hiện tượng. Nhưng có một điều không thể chối cãi rằng, con người Việt Nam, từ viễn cảnh bên bến bờ California, thì đối với ngày 30 tháng Tư, cái buồn vẫn nặng hơn cái vui. Rất nhiều.

Tôi mất đi căn nhà ấu thơ bên bờ Thạch Hãn để có một nơi chốn khác bên bờ biển California. Một khối rất đông dân ta mất đi cái Sài Gòn cũ để có được các khu phố Little Saigon ở Quận Cam và San Jose. Tôi đã bao lần tự nhủ rằng đừng cố níu kéo cái gì đã mất. Tôi cũng đã viết bao nhiêu lần rằng chúng ta hãy quên đi ngày 30 tháng Tư. Nhưng cái gì tự nó đã xảy ra thì phải đi theo quy luật vượt qua chủ ý con người. Tôi so sánh chuyện này với sự kiện bồi lở của dòng sông đang đe dọa khu vườn nhà ấu thơ, tôi đã cố gắng tìm cách chặn bờ đất, nhưng cuối cùng, như là lịch sử và hoài niệm, nó vẫn như là dòng sông Thạch Hãn cứng đầu và mãnh liệt, vẫn ngang tàng chuyển động theo quy luật vĩnh hằng.

Ít nhất, cho đến khi chính mình và dân tộc có một cái Tôi khác, đứng cao hơn một nấc, để nhìn kỹ vào dòng lịch sử, bên lở bên bồi này, nhìn ra vết thương lòng, công nhận nó là một nỗi đau chung của Việt Nam, không riêng chi mình, không chỉ là hơn, là thua, mà là đôi bờ phải được bao gồm vào tâm ý.
Nhưng với cái tôi đang là, cứ mãi nhìn hố bom, nhìn bờ đất lở của làng xưa, mà quên bẵng đi rằng, dưới dòng nước kia, vẫn còn đó chuyến đò kiên tâm chở dân làng qua chợ Hôm mỗi buổi chiều. Chuyến đò vẫn còn, dù mái chèo nay đã thay bằng động cơ dầu, với những chiếc nón lá, những gánh rau quả, cuộn lá chuối của bà con. Tôi hình dung ra hình ảnh mạ tôi, em gái tôi đang gánh rau, lá chuối qua sông đi chợ mua mắm ruốc về lo cho con, cho cả nhà. Chuyến đò sang sông đó, trước và sau 30 tháng Tư 1975, vẫn còn đang nối liền hai bờ, mãi mãi với dòng chảy thời gian.

Tôi lắc đầu trở về với thực tại, từ giã hố bom, khu vườn, bờ đất lở để đi lần xuống bãi cát, bước lên mái đò chòng chành. Tôi muốn vượt qua sông này thêm lần nữa. Bác lái đò nhìn tôi cười sún răng trong ngạc nhiên: “Ôi chao, chú Liêm hà! Chú về khi mô rứa?” “Dạ chào bác, tui mới lại trở về.”
                                         © 2010 Nguyễn Hữu Liêm
READ MORE - NGUYỄN HỮU LIÊM – NƠI BẾN ĐÒ CUỐI THÁNG TƯ

Tuesday, February 9, 2010

NGUYỄN HỮU LIÊM


















Ls Nguyễn Hữu Liêm (Ảnh trích từ voanews.vietnamese.com)


















Baltasar Gracian



Trí tuệ Gracian: Từ trong chính bạn, hãy chinh phục khuyết điểm của dân tộc mình.

Trong một chiều ngày cuối năm, ngồi trong văn phòng một mình ở trường Đại học Thành phố San Jose, California tôi nhìn ra bãi cỏ xanh và cảm nhận được một nỗi bình an giữa mùa đông đơn giản. Vươn tay lấy cuốn “The Art of Worldly Wisdom” của Baltasar Gracian nằm trên kệ sách trước mặt, tôi gác hai chân lên bàn. Dở nhanh các trang, tôi đọc lại những đoạn văn mà tôi đã gạch dưới. Lạ thật! Những điều này tôi đã đọc nhiều lần, trích dẫn rồi, mà vẫn còn như mới. Tiếng chuông báo thức cần phải reo lên nhiều hồi.

Gracian viết, “Từ trong chính bạn, hãy cố gắng chinh phục được những khuyết điểm của dân tộc mình. Giòng nước, dù có trong sạch bao nhiêu, cũng phải bị ảnh hưởng bởi đất sỏi mà nó đã chảy qua. Cũng như thế, con người nhuốm màu sắc văn hóa dân tộc mà mình đã sinh ra và lớn lên. Kẻ thì ít, người thì nhiều, tất cả đều là sản phẩm của văn hóa cộng đồng. Không có một dân tộc nào mà không mang một số khuyết điểm văn hóa. Do đó, hãy ý thức được những bản chất tiêu cực văn hóa của mình để mà loại trừ nó ngay trong chính bản thân. Hay ít nhất thì cũng che đậy chúng. Mỗi cá nhân là một tập hợp của nhiều khuyết điểm, từ di truyền, gia đình, cộng đồng đến thời đại. Nếu không nhận thức ra những khuyết điểm này, và nếu không cẩn thận để trau dồi bản thân và kiềm chế chúng, con người sẽ trở thành những dị vật xấu xa.”

Baltasar Gracian là một tu sĩ giòng Jesuit ở Tây Ban Nha vào thế kỷ thứ 17. Những tư tưởng của ông đã ảnh hưởng đến những vĩ nhân lịch sử, từ Schopenhauer đến Churchill, Nietzsche và Gide. Riêng trường hợp Churchill, người hùng của Anh quốc trong thế chiến thứ Hai, đã từng mang trong túi cuốn sách nhỏ của Gracian, “The Art of Worldly Wisdom.” Những gì mà trí tuệ của Gracian phát xuất từ mệnh lệnh triết học cổ đại từ Phật Thích Ca, Khổng Tử và Socrates. Đó là “Know Thyself” – hãy biết đến chính mình; hãy minh tâm kiến tánh. Và một trong những cái biết quan trọng nhất là hãy biết mình đang không biết gì và đang có những khuyết điểm nào.

Trong tinh thần đó, những trí tuệ về nghệ thuật sống ở đời là sự khai mở những nguyên lý triết học để áp dụng vào thực tế cuộc đời. Cái quý của Gracian là những lời cố vấn, khuyên nhủ cho con người, ở khắp nơi, và mọi thời, phải sống theo cái đạo làm người mà tiền nhân dù đã khai lối, nhưng vẫn còn mơ hồ cho con người và thời đại hôm nay.

Chúng ta hãy đọc tiếp Gracian từ cuốn sách trên. Ông nhấn mạnh rằng, đối với mỗi cá nhân, sau khi đã ý thức đến những khuyết điểm của chính mình, thì bước cần thiết kế tiếp là phải tu sửa những khuyết khuyết đó. Không có ai là con người tốt đẹp hay thành công nếu không mang nỗ lực liên tục không ngừng nghỉ để trau dồi và hoàn chỉnh nhân cách và nghệ thuật sống.

Gracian viết, “Thiên nhiên và nghệ thuật, vật liệu và tài nghệ. Không có cái đẹp nào mà không được xây đắp, không có sự ưu việt nào mà không bị rơi vào man rợ, nếu không được cứu vớt bởi nghệ thuật. Nghệ thuật tế độ cái xấu và toàn hảo cái tốt. Trạng thể siêu hạng của thiên nhiên thường bỏ rơi chúng ta; vì thế, hãy nương trú vào nghệ thuật. Cái đẹp nhất của thiên nhiên vẫn là sống sượng nếu không có nghệ thuật, và cá nhân giỏi nhất cũng mất đi một nửa nếu hắn không có văn hóa. Khi cá nhân, dù nhiều tài nghệ đến đâu, mà không được vun bồi từ giáo hóa, hắn chỉ còn là một kẻ hề vốn cẩn phải được trau chuốt.”

Một trong một nghệ thuật để thăng tiến văn hóa cho bản thân, theo Gracian, là học hỏi trong tinh thần Khổng Mạnh, “Tam nhân đồng hành tất hữu ngã sư.” Hãy nhìn ra và hiểu được những bài học trong bất cứ trường hợp nào, khi giao du với bất cứ ai.

“Hãy sống với những người mà mình có thể học hỏi; hãy để sự quen biết trở nên một trường đời cho kiến thức, và mối giao thiệp cho văn hóa. Hãy biến bạn hữu thành những người thầy để biến niềm vui thân thiện thành lạc thú học hành. Hạnh phúc của những kẻ hiểu biết là hỗ tương, được tưởng thưởng khi phát ngôn tương đồng với những gì được nhận, và những gì họ nghe bằng với cái học được. Vì lợi ích cá nhân mà họ tìm nhau, nhưng trong trường hợp này, nó được vinh quang lên. Khi muốn là một con người hiểu biết thì bạn sẽ tìm đến những căn nhà nơi có những cá nhân thanh lịch và chính trực, chứ không phải là vì lòng tự hào hãnh tiến.”

Theo Gracian, mỗi cá nhân, ngoài những khuyết điểm mà dân tộc và giòng họ mình truyền cho, ngược lại họ cũng mang những ưu điểm tự nhiên. Vì vậy, phát huy sở trường, chinh phục sở đoản là mệnh lệnh tiến hóa.

“Hãy biết đến cái gia tài lớn của riêng mình là gì, tài năng của ta nằm ở đâu, để mà vun bồi chúng. Bất cứ ai cũng có một số tài năng mà mình chưa tận dụng. Hãy khám phá chúng để mà khai thác đến tột đỉnh. Kẻ thì khôn ngoan trong phán đoán, kẻ thì can đảm trong ý chí. Bởi vì phần đông con người vi phạm sở trường của mình để mà vươn lên trong sở đoản. Cái gì mà khát vọng được thoả mãn quá sớm thì nó sẽ trở nên quá trễ đến khi nhận ra khuyết điểm của mình.”

Mỗi người đều là một mức độ của giới hạn, từ tiến hóa tâm thức, đến thời đại lịch sử, hoàn cảnh gia đình, khả năng bẩm sinh. Vì thế từ cột mốc hữu hạn mà mình đang sống, Gracian khuyên,

“Hãy suy nghĩ chính chắn đến cái gì là quan trọng nhất cho đời mình. Kẻ ngu thường bị mất hướng vì thiếu suy nghĩ, chỉ thấy mơ hồ một ít cái lợi, một ít cái hại, để mà cố gắng, nỗ lực cho cả hai chiều. Một số thì cố gắng toàn bộ cho những chuyện không đâu, mà lại không có nỗ lực nào cho những chuyện tối cần. Khi có chuyện đáng suy nghĩ chính chắn thì là lúc họ bị sai lầm nhiều nhất. Phần lớn họ mất đầu vì họ không có cái đầu. Kẻ thông minh bao giờ cũng suy tưởng chính chắn về mọi chuyện và phải biết phân biệt cái gì là hay, là quan yếu. Họ sẽ đào sâu hơn cho triển vọng cuộc đời khi biết rằng mỏ quí bao giờ cũng nằm sâu dưới lòng đất, nhiều hơn là họ biết đến. Làm như thế, kẻ khôn ngoan là người biến triển vọng thành thực tại.”

Và biết đến cái đức hạnh của tính kiên nhẫn. Cây cổ thụ mọc lâu hơn là chùm rau cải, nhưng nó sẽ to lớn, vững chắc và trường thọ hơn.

“Kẻ nào biết chờ đợi là kẻ mà trái tim có khả năng kiên nhẫn. Hãy đừng hấp tấp, nóng nảy. Hãy làm chủ chính mình để mà làm chủ tha nhân. Thời gian là khoảng đường mà bạn phải trải qua để đi đến mục đích. Sự chờ đợi trong cẩn trọng sẽ đem đến thời điểm thành đạt và chín mùi cho những gì đang chờ. Cây gậy què của thời gian có khả năng hoàn tất nhiều chuyện hơn là cây búa sắt của Hercules. Tạo hóa không chuyển hóa bằng roi vọt mà bằng thời gian. Chân lý là như vầy: Thời gian và Ta sẽ chống chọi được với tất cả. Thời vận sẽ choàng vòng hoa tươi đẹp nhất cho kẻ biết kiên nhẫn, đợi chờ.”

Ai trong chúng ta cũng có những chuyện hằng ngày làm cho không vui, bực bội. Trong cộng đồng cũng thế. Nhưng, cái khó là, “Hãy đừng quan trọng hóa những chuyện vốn nhỏ nhặt. Có kẻ thường có tật dựng chuyện lớn từ việc nhỏ, luôn làm ra vẻ to tát, bí ẩn với cái vặt vãnh tầm thường. Biến những chuyện vô nghĩa thành mối quan tâm là không nghiêm chỉnh quan tâm vào chuyện gì cả. Đó là một thói quen chất vào tim những điều mà ngay cả đôi vai mình cũng không thèm gánh. Nhiều chuyện ở thế gian này có vẻ như là nghiêm trọng, nhưng thực ra, nếu bạn biết bỏ qua thì chúng sẽ trở thành hư không. Hãy làm ngơ từ khởi đầu, đừng chờ đến khi ta dính vào quá sâu thì đã trễ. Có những toa thuốc vô ích chỉ tổ tác bệnh cho mình thay vì chữa lành một cơn đau vốn chưa hề có thật.”

Nuôi cao vọng cho đời, bởi vì, theo Gracian, người không mang lý tưởng cao đẹp và to lớn sẽ không bao giờ nâng chính mình lên với tầm cao của ước nguyện.

“Cao vọng là bước tiên khởi cho kẻ anh hùng. Nó thôi thúc mình tiến bước, thăng hoa khả năng thẩm mỹ và phán đoán, khơi sáng nhịp tim, quang minh tri thức, cao thượng hóa tinh thần, và nhân phẩm hóa cá tánh. Cao vọng sẽ soi tỏ từng bước đi, và dù khi mà số phận làm cho bạn ngã xuống, nó sẽ vực bạn dậy để trở lại chiến trường lần nữa, củng cố ý chí, để biến mình, trong mọi nghịch cảnh, trở nên là người tha thứ, rộng lượng, và can đảm.”

Nhưng cao vọng không đồng nghĩa với tham vọng mù quáng. Cao vọng phải đồng nghĩa, xứng đáng và tương đồng với giá trị tinh thần trong lý tưởng làm người. Khi cá nhân mang nhiều tham vọng mà không được điều hóa bởi tinh thần cao thượng và trong sạch, hắn sẽ trở nên kẻ ngu xuẩn. Cao vọng là tinh thần thăng tiến; tham vọng là mâu thuẫn nội tại.
Còn một yếu tố nữa. Đó là thời vận. Sông có khúc, người có lúc.

Đừng quên rằng, “Hãy biết cái mức độ hên xui của mình để mà sử dụng nó – hay là biết rút lui khỏi bàn tay thời vận khi không còn hên. Khi đang ở trước tuổi 40, bạn là thằng ngốc nếu không biết tham khảo đến Hippocrates (cha đẻ y khoa Tây phương); lại càng ngốc hơn, nếu ở 40 mà bạn vẫn không biết học từ trí tuệ của Seneca (triết gia La Mã). Muốn lèo lái được vận may, ta phải thật khéo tay, khi thì cần kiên nhẫn, khi thì phải đốc thúc hành động. Vận may có thời khắc và mức độ của nó, dù khó mà biết, nhưng điều chắc chắn là sự bất thường. Khi thời vận đã đến, hãy tác hành, vì vận may yêu mến kẻ dám liều, cũng như can đảm thì yêu tuổi thanh xuân. Kẻ nào biết thời đã đến mà không ra tay thì nên hãy về nghỉ hưu, vì ở đó, vận rủi sẽ chồng chất lên số kiếp của mình.”

Hãy nhận chân ra giá trị trong tất cả sự việc, tốt hay xấu. Như Chúa Jesus đã nhìn ra hàm răng trắng nõn trong một xác chết của con chó bên đường mà đệ tử của ngài muốn tránh. Gracian cũng vậy, “Kẻ khôn ngoan biết đến giá trị của mọi thứ bởi vì hắn nhận ra cái đẹp trong mọi việc, và biết đến cái gì cần phải làm cho mọi việc có thể tốt đẹp hơn.”

Còn trong những lúc bất đồng ý với tha nhân, Gracian khuyên làm người có trí tuệ thì,
“Hãy đừng là một kẻ đối thủ rẻ tiền. Mọi cố gắng để được nổi bật hơn đối thủ sẽ làm cho bạn thấp đi, bới vì bản chất của cạnh tranh là tung bùn đen để làm dơ bẩn kẻ khác. Rất ít kẻ nào có khả năng tham dự một cách công bằng vào tương tranh, vì bản chất đối nghịch sẽ phơi bày nanh vuốt mà phép xã giao lịch thiệp đã từng che đậy… Trong nhiệt lượng của trận chiến, người ta sẽ khơi dậy những hận thù đã chôn vùì từ lâu, và đào lên những gì thối tha vốn đã quên lãng. Tranh đua thường khởi đi từ mạ lỵ và… sự xúc phạm không phải là mục tiêu của chiến thắng, nhưng mà kẻ vang lời xúc phạm cảm thấy hả dạ trong những lời mắng mỏ của họ… Nhưng, với những con người có thiện ý bao giờ họ cũng sẽ được bình an, và kẻ trọng danh dự là kẻ có thiện ý vậy.”
Và, tối hậu thì vẫn là niềm hạnh phúc. Cứu cánh của cuộc đời, theo Aristotle, là hạnh phúc và bình an. Hãy biết an vui cho từng thời khắc hiện hữu giữa thế gian này. Vì, theo Gracian,
“Ở thiên đàng thì chỉ có an vui. Ở điạ ngục thì chỉ có buồn đau. Trên quả địa cầu, vì là ở giữa, nên khi thì vui, khi thì buồn. Chúng ta chia sẻ cuộc sống trong cả hai cõi. Thời vận đôi khi lên, có khi xuống. Thế gian này là con số không, và chỉ có nó mà thôi thì trị giá hoàn toàn vô nghĩa; nhưng khi kết hợp với thiên đàng thì nó trở nên vô giá. Không màng tới số phận là chuyện đời thường, nhưng mà không ngạc nhiên vì thời vận thì đó mới là trí tuệ.”

Gracian tiếp, “Cuộc đời chúng ta càng sống có vẻ như càng trở nên phức tạp. Tuy nhiên, sự sống thì thực chất chỉ như là một vở hài kịch, càng về sau càng trở nên đơn giản. Và nhớ rằng, tất cả các vở hài kịch đều có một kết cuộc thật vui.”


Trong tinh thần của những ngày lễ cuối năm, tôi mong bạn đọc xa gần được một nỗi an vui giản dị.





VAÌ DÒNG VỀ TÁC GIẢ




Nguyễn Hữu Liêm sinh năm 1955 tại Quảng Trị. Đến Hoa Kỳ năm 1975. Hiện sống tại California.

Tác phẩm đã in: Dân Chủ Pháp Trị: Luật Pháp, Công Lý, Tự Do Và Trật Tự Xã Hội (1991), Tự Do và Đạo Lý: Hegel, Lão Tử và Triết Học Pháp Lý (1993), Thời Lý và Hiện Hữu (1996)




ĐỌC THÊM:
OBAMA! OBAMA!
READ MORE - NGUYỄN HỮU LIÊM