Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Wednesday, September 10, 2025

TRƯỜNG CA CUỘC SỐNG - Thơ Trần Hữu Thuần

                 

Nhà thơ - nhạc sĩ Trần Hữu Thuần

Trường Ca Cuộc Sống

           Thơ Trần Hữu Thuần

 

 Như mây thoáng hiện khung trời,

Tôi vào cuộc sống nương lời mẹ ru,

Chẳng hờn oán, chẳng hận thù,

Yêu thương trong mắt, mịt mù tương lai,

Bé thơ nào biết ngày mai,

Ấm trong tay mẹ, nặng vai mẹ gầy,

Trần đời là giấc ngủ say,

À ơi con ngủ, gối tay mẹ mềm,

Chẳng gì ngoài giấc mơ êm,

Câu hò rười rượi bên thềm nôi đưa.

 

Rồi câu hò thành bài thơ, trang chữ,

Chữ cong queo trên trang giấy học trò,

Chữ thẳng dần, tháng năm đời thêm tuổi,

Cho đến ngày chữ thành bức tình thư,

Bức thư dài, tình thư không dám gửi,

Giấu trong tim khắc khoải một tình yêu,

Yêu rất yêu vẫn chẳng dám ngõ lời.

Cho đến ngày gặp e ấp nụ cười,

Nón nghiêng vành che mắt huyền duyên dáng,

Những hẹn hò, những nụ hôn cuống quýt,

Tay nắm tay, lời hẹn thề tha thiết,

Khay trầu, chung rượu kết thành đôi,

Rồi đàn con trai gái đã ra đời.

Bỗng giật mình nhận ra tôi khôn lớn.

 

Đôi vai tôi đủ rộng,

Gánh vác nợ giang sơn,

Núi sông dải gấm vóc,

Lịch sử trải nguồn cơn.

Tang bồng, nợ một gánh,

Hồ thỉ, chí nam nhi, (1)

Gánh áo cơm đã nặng,

Thêm cuộc tình đa mang,  

Bước trần hoàn chao đảo,

Phận long đong thấp cao.

Thoáng, râu dài, tóc bạc,

Lại giật mình: tuổi hạc!

 

Nhìn lại đời, mộng tang bồng gảy gánh,

Công không thành, danh không toại, mong manh,

Danh vọng phù vân, tiền tài phấn thổ, (2)

Chức cao, quyền trọng, vàng ngọc, lầu đài,

Còn lại gì khi khi hơi thở tàn phai.

Từ sinh ra cất tiếng khóc vào đời,

Đời vẫn mãi là chuỗi ngày đau khổ,

Ai thoát câu sinh, lão, bệnh, tử,

Ai thoát đời là kiếp nạn phong ba.

Trăm năm đời như chớp nhoáng thoáng qua,

Nắm xương khô là hình hài thân xác,

Chắc hẳn “tam bách dư niên hậu,” (3)

Chẳng ai người còn biết đến tôi,

Có còn chăng niềm vui sau cuộc sống,

Nơi Thượng Đế, niềm tin và hi vọng.

 

Ngẫm suy sinh tử cuộc trần,

Bóng câu qua cửa, (4) mây vần trời cao,

Sá chi đua chen lao xao.

 

(Grand Rapids, Michigan, 08 Tháng 9, 2025)


 *

(1) “Tang bồng hồ thỉ nam nhi trái,

Cái công danh là cái nợ nần.”

(Nợ Tang Bồng – Nguyễn Công Trứ)


(2) “Tiền tài như phấn thổ,

Nghĩa trọng tợ thiên kim,” 

(Ca dao)

(Tiền tài như bụi đất,

Nghĩa trọng như ngàn vàng.)


(3) “Bất tri tam bách dư niên hậu,

Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như.” 

(Nguyễn Du – Độc Tiểu Thanh Ký)

(Không biết hơn ba trăm năm sau,

Người ta còn ai khóc Tố Như.)


(4) “Nhân sinh thiên địa chi gian, nhược bạch câu chi quá khích,

hốt nhiên di dĩ.” 

(Tư Mã Thiên – Sử Ký)

(Đời người trên thế gian, như ngựa non trắng qua cửa sổ, thoáng qua đã mất.)

 

 Trần Hữu Thuần

       jbtranthuan@hotmail.com

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

READ MORE - TRƯỜNG CA CUỘC SỐNG - Thơ Trần Hữu Thuần

CỐ PHÙ - Truyện ngắn Lê Thi

 

Tranh minh họạ của Google Gemini

Cố Phù

Truyện ngắn

Lê Thi


   Năm tháng đã lùi xa nhưng những ký ức về quê hương như một vệt cắt  hằn sâu vào tâm trí, nhớ quê, nhớ những lối mòn trâu đi thủa ấy và những con người chắc lịch sử không ghi danh và người đời cũng đã lắng quên . 

   Không biết cụ sinh sinh ngày tháng năm nào, nhưng khi tôi bỏ sữa mẹ theo anh đến trường làng i tờ đã thấy lão có mặt trên đời, dáng người cao, ẻo lả, da trắng, giọng trầm, bổng, như một tay vừa mới chơi đàn chưa biết chỉnh hợp âm.

  Chuyện kể rằng nhà cụ giàu lắm, đã hiến cho cách mạng mấy chục cây vàng, ruộng đất. Thực ra, ngày ấy có lượm được vàng, cả làng tôi cũng không ai biết thật giả làm sao, đừng nói đến tính chất lý học, hoá học. Tổ tiên cụ người đằng ngoài (khác huyện), sau sự kiện hiến vàng cho cách mạng, lí lịch sạch, được chân  “giữ kho cho HTX’'. Cụ oai lắm, người cầm chìa khoá rương hòm, quyền sinh quyền sát chắc chỉ sau ông chủ tịch. Khuôn viên nhà kho được một lớp hàng rào tre cẩn thận, nên xung quanh cỏ trong đó rất tốt, tôi thường lén cho trâu vô đó ăn và nhiều lần thân mật, chuyện trò với cụ. Tính khí cụ bất thường như dự báo thời tiết Bắc bộ, sáng nắng, chiều mưa, tối gió nồm. Nên cũng nhiều lần cụ đối xử rất tốt, thân thiện, lắm hôm nhạt hơn nước ốc, chẳng tình làng nghĩa xóm gì. 

   “Tru chạng nhà mi à?”

   “Dạ cụ“ 

   “Nó ỉa đầy sân, mi bốc hết cho tau”.

   Khốn khổ thật, mượn cụ cái xẻng cụ không cho, tôi phải giải quyết bằng tay. 

   Sau bữa ấy, tôi giận cụ lắm, nhưng rồi lại thương, thấy cụ một mình đơn côi bên nhà kho HTX suốt một cuộc đời hy sinh thầm lặng. Không biết cả xã cụ đã mời ai bữa cơm nào chưa, riêng tôi đi theo chú ruột được mấy thìa cơm nếp, nhớ mãi đến hôm nay. Chú tôi là thợ sửa máy kéo, thời hợp tác toàn xe Liên Xô tài trợ, CCCP. Mà ngày đó hay đọc “Các chú cứ phá” thật ra nó là 

 (Союз Советских Социалистических Республик). Trời đã xế trưa, chú đang loay hoay mãi với mấy ốc vít mồ hôi nhễ nhại, bỗng nghe gọi.

   “Th ơi! Vô ăn chén cơm”.

   Cái nồi nhỏ hơn trái bầu chắc tầm một lon gạo, mà cụ đã ăn rồi, còn lại hơn chén cơm nếp, thương chú, vừa cạo nồi đút thằng cháu không kip. 

   Nhiều lúc ngồi nhớ lại thương chú, thương cụ, giọt nước mắt rưng rưng. Một thời đã có những con người liêm khiết, chí công đến vậy. Cụ trông coi ba dẫy nhà kho dài tầm hai trăm mét, tất cả người dân quê tôi lam lũ một mùa phải gánh thóc nộp ở đây, miền Trung bão gió, nhà kho dột, lúa mọc mầm xanh um, thế mà cụ vẫn đói, 10 kg gạo một tháng. Không lương hưu, không bảo hiểm, vài năm một bộ quần áo. Cả làng tôi nhiều năm mất mùa, bão lũ vẫn đói triền miên, nhưng không ai ra kho trộm cắp một bao lúa nào, hôm nay biển “Làng văn hoá” uy nghi, sững sững trước ngõ, thật vinh dự và tự hào. Tôi nhớ lại bài thơ năm nào tôi viết trong ngày của mẹ.

   Thời bao cấp/ ruộng thấp ruộng cao/ lúa nộp đựng bao/ lúa nhà ăn đựng bị / thương mẹ lưng còng / néc rá đi vay/ chạy ăn từng bữa/ toát mồ hôi/ bên kia / lúa kho ông Phù / để ướt, mạ lên xanh /.

   Bao nhiêu mùa giá lạnh, cụ vẫn chiếc chăn chiên và cái áo trấn thủ hồi pháp. Khạp nước dưới cây Lộc vừng, cái gàu múc bằng mo cau đan lại, đồ dùng cá nhân cụ tôi nhớ chỉ có vỏ lon sữa bò cụ lường gạo mỗi ngày là mới, bên bình vôi đã sứt tay cầm .

   Những ngày nay trang mạng đang nóng lên với “Mưa đỏ”. Ta hiểu thêm về sự tàn khốc của cuộc chiến. Cũng tại cái sân gạch hợp tác này đã tiễn đưa bao nhiêu người con ưu tú ra trận, bao nhiêu lần tưởng niệm lễ truy điệu ở đây, trong giây phút bi thương ấy có anh tôi. Biết bao con người hy sinh thầm lặng từ nông thôn, thành thị đến những chiến trường nóng bỏng dọc theo đất nước. Một thời, từ cán bộ đến nhân dân, tất cả vì tiền tuyến vì miền Nam ruột thịt. Lúa không thiếu một cân - quân không thiếu một người. Có những con người trọn một đời cho HTX như cụ Phù, không màng danh lợi, không vợ con, trên ngực không một tấm huy chương, không một ngày đi học, hay tập huấn tư tưởng Hồ Chí Minh nhưng trọn đời cho việc công đến hơi thở cuối cùng.

   Đã 50 năm trôi qua biết bao thăng trầm lịch sử biến động, cơn sốt đất, mấy đời thay đổi cán bộ, nhà kho năm ấy giờ đã phố xá cao tầng, riêng tôi vẫn nhớ hình ảnh cũ như in, cái sân gạch và bóng cụ đi kiểm tra quét dọn mỗi ngày. Đã mấy lần về quê, tôi lân la hỏi mồ mả cụ như thế nào, nhưng nghe nói nhuần hai tháng ba năm tỵ ấy, cụ ngả bệnh và mất. Bà con họ hàng gì đó đưa cụ về quê. 

    Chiều nắng nhạt chớm thu tôi nhớ quê, nhớ cụ, thầm cảm ơn những con người dân quê sao mà bình dị đáng yêu đến thế. Nếu Lão Am có cái sân gạch, thì cụ Phù quê tôi cũng có nhà kho, mặc dù khuôn viên này trên sổ đỏ không biết tên của "Quan nào” nhưng dân làng tôi vẫn quen gọi ăn sâu vào máu thịt  “Kho cố Phù”.


Lê Thi

thivanle1569@gmail.com

 

READ MORE - CỐ PHÙ - Truyện ngắn Lê Thi

PHONG CÁCH ĐỘC ĐÁO VÀ KHÁC BIỆT TRONG THƠ VỀ RƯỢU CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN - Nguyễn Toàn Thắng


 

Thơ viết về rượu của Đặng Xuân Xuyến có một vị trí riêng biệt và khá độc đáo trong bối cảnh thơ Việt hiện đại, khác biệt so với cả hai xu hướng chính là "thơ thị trường hóa" và "thơ học thuật hóa". Ông tạo ra một phong cách riêng và khác biệt ở chỗ: không quá trau chuốt về mặt hình thức nhưng lại rất chân thật và đậm chất đời sống với ngôn ngữ thuần dân gian, có chút ngang tàng, đôi khi lại cố tình “tục hóa” để phản kháng sự giả dối hay sáo mòn của văn chương bác học, đặc biệt là trong việc thể hiện nỗi cô đơn và những trải nghiệm cá nhân. Ông không cố gắng tạo ra tượng đài tư tưởng, mà là người "giữ ký ức bằng ngôn ngữ", "ghi lại những chấn động ngắn ngủi của tâm hồn" một cách sắc hoặc mờ, nhưng luôn thật. Ngay cả khi miêu tả cảnh xác thịt, đó là cái "tục của người từng trải", mang ý nghĩa nhấn mạnh phận người chứ không nhằm mục đích gây sốc hay dơ bẩn.

 

So với các nhà thơ đương đại khác, thơ của Đặng Xuân Xuyến có thể được coi là độc đáo khi ông không ngại ngần phơi bày những góc khuất, những điều tiêu cực của cuộc sống và đối diện trực tiếp với những góc khuất, những điều tiêu cực đó, điều mà nhiều nhà thơ đương đại khác thường tìm cách né tránh. Ông không dùng rượu để giải thoát hay tìm kiếm những điều siêu nhiên mà thay vào đó, rượu được ông đặt trong bối cảnh đời thường, gắn liền với những nỗi niềm, trăn trở của cuộc sống hiện thực. Ông sử dụng rượu như một công cụ để đối diện với những khó khăn, thử thách và cả những nỗi buồn, mất mát trong cuộc sống, chứ không phải để trốn tránh hay quên lãng.

 

Đặng Xuân Xuyến thường chọn chủ đề và bối cảnh xoay quanh những quán cóc vỉa hè, những bữa tiệc tàn, những mối quan hệ bạn bè, tình yêu và cả những vấn đề chính trị, xã hội. Rượu trở thành một phần không thể thiếu trong những bối cảnh đó, là chất xúc tác, là phương tiện để nhà thơ giải tỏa, chia sẻ và đối mặt với thực tế. Ông không chủ ý cầu kỳ về hình thức của thơ mà chú trọng vào sự chân thật, phóng khoáng của cảm xúc.

 

Ví dụ, trong khi nhà thơ Nguyễn Du viết: “Khi chén rượu, khi cuộc cờ / Khi xem hoa nở khi chờ trăng lên” (Kiều) ; “Lim dim nhấp chén bên song / Nhìn ra hoa rụng chất chồng trên rêu / Sống mà uống chẳng bao nhiêu / Chết rồi, ai xách rượu theo rưới mồ?” (Đối tửu)..., thể hiện sự thưởng thức rượu trong không gian tao nhã và tri kỷ thì nhà thơ Đặng Xuân Xuyến chọn cách viết: “Rượu tới tầm ngật ngưỡng / Khật khừ ngất ngưởng vào đêm / Hớ hênh hàng xóm xộc xệch ngủ / Giật mình / Gió lạnh luồn đêm” (Tỉnh) ; “Một chai / Một chén / Một tôi thôi / Một đêm gió quẩn chỗ tôi ngồi / Một bàn tay lạnh quờ vai lạnh / Một tiếng thở dài tôi với tôi!” (Một tôi),... thể hiện sự cô đơn, suy tư trong khoảnh khắc cá nhân. Hay như khi nhà thơ Nguyễn Bính viết "Em uống cho say đến não nùng/ Uống say cười vỡ ba gian gác/ Ném cái chung tình xuống đáy sông" để thể hiện sự buông thả, đau khổ trong tình yêu thì nhà thơ Đặng Xuân Xuyến lại có những câu thơ như "Ngấu nghiến nhau chỉ giải nghiền cơn khát" hay "Thịt mày gắp / Tao nhai khó nuốt" để thể hiện sự giằng xé, sự đối diện trực diện với tình yêu, với cuộc đời.

 

So với các nhà thơ trung đại như Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Nguyễn Công Trứ... thường mượn rượu để bày tỏ khí tiết, trách đời hoặc tự trào về thân phận trí thức với giọng điệu kín đáo, sử dụng nhiều ẩn dụ và ngôn ngữ có tiết chế. Ví dụ, trong bài "Rượu ngon không có bạn hiền" của nhà thơ Nguyễn Khuyến, ông dùng hình ảnh “rượu ngon” để nói về sự cô đơn, và “bạn hiền” để chỉ những người tri âm tri kỷ thì ngược lại, nhà thơ Đặng Xuân Xuyến thường viết một cách trực tiếp, không cần ẩn dụ. Ông nói thẳng những điều muốn nói, ví như câu: "Rượu mày mời / Tao uống khó trôi / Thịt mày gắp / Tao nhai khó nuốt" trong bài “Bạn quan” hoặc như câu: “Thì bởi tâm mày trọn Thẳng Ngay / Tao mải loay hoay chọn Nghĩa Tình / Mà đời những rặt trò gian lận / Tao mày nếm đủ những gian truân.” trong bài “Rượu với bạn”.

 

So với thơ về rượu của nhà thơ Bùi Giáng thường mang đậm chất lãng mạn, đưa người đọc vào thế giới của những giấc mơ, những suy tư triết học, với ngôn ngữ đa nghĩa, mang tính tượng trưng cao, tạo ra những hình ảnh thơ phong phú, giàu sức gợi, chứa đựng những triết lý sâu sắc về cuộc đời, về con người: “Ngày nào trùng ngộ bước ra / Trùng sinh sương sớm đầu hoa cuối cùng / Chân trời mặt biển thong dong / Bình minh nắng gió mây hồng vèo bay” (Uống rượu yêu đời),... thì thơ về rượu của nhà thơ Đặng Xuân Xuyến lại mang đậm chất ngẫu hứng đời sống, không hoa mỹ và không né tránh những góc khuất của cuộc sống, đặc biệt là mảng đề tài chốn quan trường: “Ừ, đời thế. Qua cầu thì hại “bạn” / Dấn quan trường sao mày chả chịu “khôn” / Đục kín dòng mày lại cố gượng trong / Chúng nó đập bởi mày không chịu hỏng” (Quan trường). Rượu trong thơ Đặng Xuân Xuyến là "chứng tích cho nỗi đau con người giữa đời thực thô ráp", giống như những câu chuyện trong quán rượu vỉa hè, thể hiện sự chán chường, thất vọng và cả những tiếng cười khẩy vào đời, đó không chỉ là phương tiện giải sầu mà còn là cách để "phơi bày, lột trần, để thở ra" những góc khuất của cuộc sống. Đặng Xuân Xuyến có nét “ngông” tương đồng với Bùi Giáng, nhưng không bị điên. Thơ của ông có sự phá cách, phóng túng, nhưng vẫn giữ được sự tỉnh táo và lý trí nhất định. Tóm lại, thơ về rượu của Đặng Xuân Xuyến và thơ về rượu Bùi Giáng đều khai thác đề tài rượu nhưng cách tiếp cận và phong cách lại rất khác biệt. Đặng Xuân Xuyến dùng rượu như một phương tiện để bộc lộ nỗi đau, sự phơi bày hiện thực đời sống thô ráp, không tô vẽ, trong khi Bùi Giáng sử dụng rượu để đưa người đọc vào thế giới mộng mị, huyền ảo, kết hợp giữa triết lý và cảm xúc cá nhân.

 

So với các nhà thơ đương đại khác thì trong khi nhiều nhà thơ đương đại tìm cách né tránh hoặc tô vẽ cho những trải nghiệm tiêu cực, Đặng Xuân Xuyến lại đối diện trực tiếp với chúng, thể hiện qua những hình ảnh, câu chữ có phần "đắng, chát, khó nuốt" nhưng lại chạm đến nỗi cô đơn phổ quát của con người. Đặng Xuân Xuyến không ngại để lộ những "vết xước, sẹo dài" trong tâm hồn, những góc khuất trong cuộc sống, và điều này tạo nên một sự gần gũi, một sự đồng cảm mạnh mẽ với người đọc.

 

Cụ thể, thơ của Đặng Xuân Xuyến, đặc biệt là chùm "22 bàì thơ về rượu", không hướng đến sự hoàn hảo về mặt ngôn ngữ hay hình ảnh, mà tập trung vào việc thể hiện cảm xúc chân thật, thậm chí có phần gai góc và chua chát của con người khi đối diện với nỗi cô đơn và những khó khăn trong cuộc sống. Điều này khác biệt so với nhiều nhà thơ khác, những người có thể tập trung vào việc trau chuốt ngôn ngữ, tạo ra những hình ảnh đẹp, hoặc những nhà thơ khác lại đi sâu vào lý luận, triết học, đôi khi làm cho thơ trở nên xa rời với đời sống thực tế.

 

Hoặc khi nhiều nhà thơ đương đại khác viết về rượu thường thiên về tâm trạng cá nhân hóa, cô đơn kiểu thị dân, hướng đến vẻ đẹp lãng mạn, sự thanh cao, hoặc sử dụng rượu như một phương tiện để thể hiện tâm trạng, cảm xúc cá nhân, hoặc tìm kiếm sự đồng điệu, tri kỷ với những hình ảnh thơ mộng, bay bổng và tránh xa những điều "tục" hay trần tục thì Đặng Xuân Xuyến lại khai thác rượu trong bối cảnh đời sống ngổn ngang, quán cóc vỉa hè, tiệc tàn, tình dục và những mâu thuẫn trong cuộc sống với một sự đau đáu tập thể, một cái tôi thô ráp, từng va đập với thực tế chính trị và xã hội. Ông ưa dùng lời thuần dân gian, khẩu ngữ, đôi khi ngang tàng, tự trào, đầy khinh bạc như một thái độ "ngông" của người không chịu nổi sự giả dối hay sự sáo mòn của văn chương bác học, không những là tuyên ngôn sống cho một kiểu nhà thơ muốn sống thật với chính mình, quyết “không chiều lòng văn đàn” mà còn là lời tự bạch trần trụi, không hoa mỹ, không ve vuốt, không cần che giấu. Đó là một kiểu thơ về rượu độc nhất vô nhị - thơ rượu của một người từng say và còn nhớ mọi điều trong cơn say đó.

 

Nếu như nhiều nhà thơ đương đại khác viết về rượu thường mang màu sắc siêu thoát, tìm kiếm lẽ sống, hoặc có tính chất giải trí: “Ta uống cạn ly này nghe chếnh choáng / Đêm lạc vào cung Quảng thấy Hằng Nga / Lòng dại ngây sương khói quyện la đà / Nghe phiêu lãng như là miền thu động....” (Tửu sầu - Hồng Dương) ; “Bạn như biết mà không nói hết / Bạn cùng ta chén trước chén sau / Bạn uống cạn thì ta cũng cạn / Tửu lượng ta nào kém ai đâu.” (Mời trăng - Hoàng Trung Thông) ; “Mạch máu căng lên những vệt rắn bò / Đêm vĩ đại chôn vùi trong quán nhỏ / Rừng mang mang gọi từng khúc thu vàng / Rượu câm lặng chở những linh hồn rắn / Có một kẻ say hát lên bằng nọc độc trong mình” (Trong quán rượu rắn - Nguyễn Quang Thiều) ; “Nụ cười ánh mắt bờ môi / Hình bóng em mãi rạng ngời đáy ly / Làm gì uống hết được đây / Đầy vơi ly rượu vẫn đây bóng hình” (Rượu một mình - Hoàng Trọng Lợi) ; “Lộn túi. Xem đây! Hết tiền rồi! / “Tao mua bát chịu, trả sau thôi / Con đường chưa uống xe không chạy.!” / Lại bát đầy ve lại liếm môi!” (Người Mèo uống rượu - Nguyễn Lâm Cẩn) ;  “Thuở xưa gõ chén nghêu ngao / Chưa tan vỡ, chưa khổ đau đoạn tình. / Giờ đây độc ẩm cõi mình / Uống sao cho cạn bóng hình ngày xưa” (Rượu sầu - Phạm Thị Mai Khoa) ; “Mặc đời bao nỗi bi, hoan... / Gặp nhau ta cứ say tràn cung mây! / Khi nào về với cỏ cây / Chỉ xin rưới: một chén đầy... Rượu quê!” (Rượu quê - Mai Văn Hoan)... Thì thơ của Đặng Xuân Xuyến lại tập trung vào việc đối diện với hiện thực phũ phàng, những nỗi thất vọng và sự giả dối của cuộc sống. Đặng Xuân Xuyến không tìm kiếm sự giải thoát hay ánh trăng để ngâm, mà thay vào đó thi nhân ngồi lại, cụng ly với những điều đó, thể hiện sự bất mãn và sự thật trần trụi của cuộc đời. Rượu được Đặng Xuân Xuyến dùng để chịu đựng, để đối mặt với thực tại hơn là để giải thoát khỏi thực tại trần trụi của cuộc sống: “Chả có gì người ngại bon chen / Ta vốn dĩ dạn đêm cùng gối lẻ / Người thì cũng đêm trường nát lệ / Vịn vào nhau mà sưởi ấm nụ cười.” (Chiều ta về) ; “Đợi xuân xuân chửa chịu về / Đợi tình tình lại mải mê xứ người / Nâng lên ly rượu tự mời / Uống đi cho cạn nụ cười nhếch môi?!” (Đợi) ; “Vội vã cuống cuồng quấn chặt nhau / Chẳng vì yêu / Chẳng vì đầu mày cuối mắt / Ngấu nghiến nhau chỉ giải nghiền cơn khát / Trách móc làm gì câu nói đầu môi” (Tình vội) ; “Chén rượu đấy, rót rồi, cứ uống / Nước mắt đan đốt tê dại đêm cuồng / Đắp nụ cười nghẹn đắng lằn môi / Nuốt lấy nhau gán niềm tin tráo đổi” (Rượu đêm nay) ; “Ừ, đời thế. Qua cầu thì hại “bạn” / Dấn quan trường sao mày chả chịu “khôn” / Đục kín dòng mày lại cố gượng trong / Chúng nó đập bởi mày không chịu hỏng” (Quan trường) ; “Rượu tới tầm / Mày ghé tai tao / Nói thật nhỏ / Căng tai mới rõ / Làm người khó / Làm quan càng khó / Chốn quan trường chó vịt giống nhau / Mày than đời chỉ rặt những thau / Quan càng lớn chữ nhân càng nhỏ / Ví miệng quan giống trôn trẻ nhỏ / La liếm quen rồi nào biết bẩn nhơ” (Bạn quan)...

 

Sự khác biệt này giúp nhà thơ Đặng Xuân Xuyến tạo ra một dấu ấn riêng, một phong cách không thể nhầm lẫn trong làng thơ Việt. Ông không cố gắng trở nên bóng bẩy hay hàn lâm, mà tập trung vào việc thể hiện một cách chân thật nhất con người, với đầy đủ những hỉ nộ ái ố, những nỗi cô đơn và những trải nghiệm đời thường nhất.

 


Tác giả Nguyễn Toàn Thắng (bìa trái) cùng Đặng Xuân Xuyến (bìa phải) -


Tóm lại, thơ về rượu của nhà thơ Đặng Xuân Xuyến mang một dấu ấn riêng, khác biệt với nhiều nhà thơ Việt Nam khác, đặc biệt là về giọng điệu và cách tiếp cận chủ đề. Ông không né tránh những khía cạnh đời thường, thậm chí có phần thô ráp của cuộc sống, không tô hồng nỗi đau mà đi thẳng vào nó với một phong cách mạnh mẽ, đôi khi có phần trần trụi và gai góc như một phương tiện để đối diện với hiện thực cay đắng của một nhà thơ đứng ngoài lề các thiết chế chính thống, đặc biệt là trong cách Đặng Xuân Xuyến đưa rượu trở về với đời thường, với những khía cạnh đầy tính hiện sinh của cuộc sống.

 *.

(Bài viết có dùng thông tin tổng hợp từ Chat GPT)

*

Hà Nội, tháng 9 năm 2025 

NGUYỄN TOÀN THẮNG

Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.

Email: nguyentoanthang77@gmail.com

READ MORE - PHONG CÁCH ĐỘC ĐÁO VÀ KHÁC BIỆT TRONG THƠ VỀ RƯỢU CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN - Nguyễn Toàn Thắng