Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label TƯ LIỆU VĂN HỌC. Show all posts
Showing posts with label TƯ LIỆU VĂN HỌC. Show all posts

Monday, December 28, 2020

TRẬN CHIẾN CHƯA NGƯNG: ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH VÀ KIM VÂN KIỀU TRUYỆN # 4 – Nguyên Lạc

 


ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH THEO THỜI GIAN
 
Sau đây là phần tổng hợp các điều chúng tôi đã bàn trong các bài viết trước về nguồn gốc của tiểu thuyết Kim Vân Kiề̀u Truyện để chuẩn bị cho các bài sau bàn rõ về Kim Vân Kiều Lục, áng văn chương hàn lâm giải thích thơ truyện Kiều và so sánh nó với Kim Vân Kiều Truyện Thanh Tâm Tài Nhân, quyển tiểu thuyết thương mại tầm thường phá hỏng giá trị Truyện Kiều.
 
 Nguyễn Du dựa vào tích sử triều Minh, Vương Thúy Kiều của Dư Hoài (dài khoảng 3, 4 trang giấy), Tình sữ Phùng Mộng Long, và các hý kịch/ hát bộ nhà Thanh- như Thu Hổ Khâu, ông thêm vào các nhân vật đệm sáng tác ra truyện thơ Đoạn Trường Tân Thanh/ Truyện Kiều. Xuất hiện sau Đoạn Trường Tân Thanh/Truyện Kiều => Kim Vân Kiều Lục => Các phóng tác Truyện Kiều (văn, thi, phú … tuồng Kim Vân Kiều, Đào Hoa Mộng Ký) => Thanh Tâm Tài Nhân Truyện => Kim Vân Kiều Truyện Thanh Tâm Tài Tử => Kim Vân Kiều Truyện Thanh Tâm Tài Nhân (Duy Minh Thị) => Kim Vân Kiều Truyện Thanh Tâm Tài Nhân (Tàu) 
(Xem phần ghi chú ở cuối bài)
 
Quá trình diễn tiến từ Truyện Kiều đến Kim Vân Kiều truyện và các tác phẩm kế thừa trải qua khoảng hơn 100 năm, kể từ năm 1820, năm cụ Nguyễn Du qua đời, đến năm 1925.
 
Theo đó Kim Vân Kiều Lục kế thừa Đoạn Trường Tân Thanh, Thanh Tâm Tài Nhân Truyện kế thừa Kim Vân Kiều Lục, Kim Vân Kiều Truyện (Duy Minh Thị) VN kế thừa Thanh Tâm Tài Nhân Truyện và rồi Kim Vân Kiều Truyện (Tàu) kế thừa Kim Vân Kiều Truyện (Duy Minh Thị) VN.
 
Sơ đồ biểu diễn sau đây cho dễ nhớ:
 
ĐTTT => KVKL=> TTTNT=> KVKT(DMT)=> KVKT (.TÀU)
 
Bản văn Kim Vân Kiều Lục là đứa con song sinh của Nguyễn Du. Đây là một bản văn của một người rất thân cận với Nguyễn Du, ông đã được chính Nguyễn Du chia sẻ từng ý trong từng câu thơ lục bát truyện Kiều của mình, cho nên mới viết được lời văn như thế. Hạo Như và Phạm Quý Thích là hai ứng viên sáng giá. Theo nhà nghiên cứu Laiquangnam: Người đó không ai khác hơn là Hạo Như Nguyễn Tứ, người con trai trưởng nam hay chữ mà ông đã quyết tâm đào tạo thành người nối nghiệp dòng họ Tiên Điền. Hạo Như đã theo ông như hình với bóng trong suốt 14 tháng trên đường đi sứ. Còn theo nhà nghiên cứu Lê Nghị thì cũng có thể Lãng Đường Phạm Quý Thích viết ra, để giải nghĩa thêm Truyện Kiều rồi dạy cho các học sinh của mình: Kim Vân Kiều Lục là tập hợp những bài văn xuôi giảng thơ Kiều.
 
Nhưng dù là ai chăng nữa thì Kim Vân Kiều Lục là của Việt Nam, vẫn phải có thời Minh Mạng, trước năm 1825. (Hạo Như Nguyễn Tứ mất trước 1820, vì khi cụ Nguyễn Du chết thì Nguyễn Ngũ – người con trai khác – lo tang ma. Phạm Quý Thích mất 1825)



 
Vai trò của Kim Vân Kiều Lục là giảng Truyện Kiều: Nội dung giảng tập trung vào mục đích chính là làm rõ tình tiết và tâm lý nhân vật diễn đạt trong các câu thơ Kiều; vì khi đọc câu thơ độc giả có thể thắc mắc một số việc; đồng thời có lúc với một từ đa nghĩa, độc giả biết nên chọn nghĩa nào.
 
“Nhiều người chưa đọc Kim Vân Kiều Lục cứ ngỡ rằng nó là cách gọi khác của Kim Vân Kiều Truyện. Hai cuốn này khác nhau. Kim Vân Kiều Lục xuất hiện chính xác năm nào chưa rõ, (Theo nhà nghiên cứu Laiquangnam thì khoảng năm 1815) nhưng chắc chắn nó được viết trước khi Mộng Liên Đường Nguyễn Đăng Tuyển (1795-1880) viết Đào Hoa Mộng Ký, vì trong tác phẩm này Mộng Liên Đường nói nhân vật Lan Nương và Huệ Nương mê truyện Đoạn Trường Tân Thanh và Kim Vân Kiều Lục.
Còn Kim Vân Kiều Truyện Thanh Tâm Tài Tử do Duy Minh Thị viết khoảng 1872, nhưng không công bố. Lý do là ông copy thơ của Kim Vân Kiều Lục, lời thoại từ vở tuồng Kim Vân Kiều của Ngụy Khắc Đản, cả tên Vương Tùng (tên kiếp sau của Vương ông trong Đào Hoa Mộng ký của Mộng Liên Đường Nguyễn Đăng Tuyển) nâng lên kiếp trước thành tên Vương Lưỡng Tùng trong Kim Vân Kiều Truyện. Mà Mộng Liên Đường thì sống quá dai. Mãi đến năm 1876 Duy Minh Thị mới cho xuất hiện quyển Thanh Tâm Tài Tử này”
                           (Theo nhà nghiên cứu Lê Nghị)
 
Nước ta thời Pháp thuộc, người Hoa kiều Chợ Lớn vào nửa cuối thế kỷ thứ 19 đầy uy lực, họ ăn nên làm ra cho nên họ có nhu cầu đọc sách giải trí lớn hơn so với người Việt nhiều lần. Đọc quyển Kim Vân Kiều Lục bằng văn ngôn mỏng quá không đã, thế nên do đòi hỏi của thị trường chữ nghĩa, nhóm Duy Minh Thị, dưới con mắt con buôn, họ đã hình thành sự thai nghén cho bản văn Kim Vân Kiều Truyện (Chúng tôi gọi là Kim Vân Kiều Truyện - DMT) dày hơn. Nó phải được viết ở dạng bạch thoại, loại diễn nghĩa chương hồi mô phỏng văn phong Tam Quốc Chí, chắc chắn sẽ ăn khách hơn.
 
Duy Minh Thị lấy người này một câu thơ, tỉ như lấy câu thơ của Phong Tuyết Thập Thanh Thị ở chỗ này, ở chỗ kia lấy trọn một bài thơ, cũng như lấy trọn một bài tứ tuyệt trong Kim Vân Kiều Lục- bài thơ tuyệt mệnh của Kiều trước khi nàng nhảy xuống sông Tiền Đường vì ân hận; hay “copy” lấy thứ tự tình tiết, hành vi của vở tuồng Kim Vân Kiều của Tiến sĩ Đình Nguyên Ngụy Khắc Đản (1817–1873). Duy Minh Thị đã “copy trọn gói” mô thức viết của Kim Vân Kiều Lục, khi quyển sách này triển khai từ thi phẩm Đoạn Trường Tân Thanh/ Truyện Kiều sang văn ngôn. Duy Minh Thị từ lam bản này (bản văn nguồn) viết dài thêm ra, bằng một thứ văn phong của người kinh doanh chữ nghĩa, dạng bạch thoại chương hồi, ngôn ngữ luận viết theo kiểu Tam Quốc Chí diễn nghĩa sao cho phù hợp với thị hiếu của đồng bào ông đang có nhu cầu đọc sách giải trí và đang ăn nên làm ra so với đại đa số người Việt bản địa tại vùng Saigon - Chợ Lớn. Duy Minh Thị đã biến Kim Vân Kiều Lục, quyển sách văn chương hàn lâm giải thích truyện Kiều thành quyển tiểu thuyết thương mại tầm thường, theo nhà nghiên cứu Laiquangnam, đã làm nhiểm bẩn truyện Kiều, phá hỏng giá trị Truyện Kiều.
 
(Truyện Kiều có độ dài: 22.778 chữ. Kim Vân Kiều Lục khoảng: 15.000 chữ. Kim Vân Kiều Truyện khoảng 100.000 chữ. Kim Vân Kiều Truyện là một tiểu thuyết văn xuôi, chứ không phải một cuốn giảng thơ)
 
Duy Minh Thị là ai? Mời các bạn đọc những lời dưới đây của nhà nghiên cứu Laiquangnam đăng trên Facebook, nhóm Tình Tự Dân Tộc [1]
 
 

 
NHÓM DUY MINH THỊ
 
Nhân thân và hành tung của Duy Minh Thị
Do Duy Minh Thị không được sử sách thời Nguyễn nhắc tới tên cho nên hiếm người biết hành tung và tầm vóc của ông. Mãi đến cuối thể kỷ thứ 20, tại Pháp có Lê Sơn Thanh (tức Alexandre Lê), một học trò cũ của cụ Hoàng Xuân Hãn, là người đang làm việc tại Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp tại Paris và cũng là người Việt duy nhất chuyên sâu về nghiên cứu công trình của nhóm Duy Minh Thị. Chính Lê Sơn Thanh đã gởi cho chúng tôi (lời gs Nguyễn Tài Cẩn) bản văn phocopy chụp từ bản gốc Kiều Nôm 1872 tại thư viện của cụ Hoàng Xuân Hãn.
Phải thông qua giáo sư Nguyễn Tài Cẩn vào sau năm 2010, chúng tôi (Laiquangnam) lần ra manh mối Duy Minh Thi;̣ cho dù trước đó gần 10 năm chúng tôi đã rất quan tâm về hiện tương Kim Vân Kiều Truyện Thanh Tâm Tài Nhân kỳ lạ ở đất nước VN chúng ta.
 
Tầm kích nhóm Duy Minh Thị
 
Nhóm Duy Minh Thị gồm có 10 người. Đa số đều tự xưng bằng biệt hiệu rất có ý nghĩa: Duy Minh là “riêng sáng suốt”, Minh Đức là làm cho “tỏ cái đức”, Minh Chương là làm cho “sáng tỏ khuôn phép lễ chế”.
Thói quen của họ là ghi thêm chữ “thị” hay chữ “hiệu” vào sau cùng. Hăng hái nhất là ba người này: Duy Minh Thị, Minh Chương Thị và Phước Trai tiên sinh.
Họ đã thuê ở Quảng Đông 10 cơ sở khắc ván in sách (tức khoảng 10 nhà xuất bản) đó là: Kim Ngọc Lâu, Cận Vân Đường, Bửu Hoa Các, Thiên Bửu Lâu, Văn Ngươn Đường (Ngươn là Nguyên).
Trong khoảng 30 năm cuối thế kỷ thứ 19 (1870-1899) họ đã công bố được hơn 50 bộ sách. Nhóm này chúng tôi (Nguyễn Tài Cẩn) đặt tên là nhóm DUY MINH THỊ.
Trong nhóm, Duy Minh Thị là người tiêu biểu nhất. Từ năm 1872 đến 1883 ông đều in sách hàng năm. Riêng năm 1874 ông in đến 6 cuốn. Ông thuê đến 6 nhà xuất bản và sơ bộ đã in tính ra được 19 cuốn sách đã được công bố.
 
Duy Minh Thị
 
Duy Minh Thị tên thật là Trần Quang Quang (?-?) sống thời vua Tự Đức (1848-1883), nhưng tên nổi tiếng của ông là “Nam Việt Gia Định thành cư sĩ Duy Minh Thị” – cụm từ này ông thường ghi cuối sách. Bản Kiều Nôm 1872 cũng có cụm từ này. Duy Minh Thị là người Tàu Minh Hương, sinh quán Vĩnh Long, miền Nam VN; trú quán tại xóm An Bình Chợ Lớn thời Pháp thuộc.
Duy Minh Thị là người biên tập lại bản Đại Nam Thực Lục Chính Biên dưới thời vua Tự Đức sau đó đem thuê khắc tại Phật Sơn Trấn, tỉnh Quảng Đông năm 1873. Ông là người đã in nguyên dạng các chữ húy chính của vua Gia Long mà không hề né tránh, không sợ kỵ húy.
 
Năm 1872, xem như Pháp đã chiếm xong Nam kỳ lục tỉnh, và từ đó Nam kỳ luc tỉnh được xem như là vùng đất hải ngoại của người Pháp. Dân Nam kỳ chịu một thể chế riêng từ chính quốc. Do không phải làm quan dưới triều vua Tự Đức, và cũng có thể vua Tự Đức thật sự cầu cạnh; Duy Minh Thị xem mình là một người Tàu vốn được nhiều ưu đãi, nên chả việc gì phải sợ vua quan “An nam”. Với công vụ mà vua Tự Đức nhờ cậy, biên tập lại tập sách lịch sử của triều đại nhà Nguyễn, nên Duy Minh Thị có toàn quyền xem tất cả sách vở của các nhân vật trong triều đương đại, từ nhân thân đến sách vở do họ sáng tác khi Duy Minh Thị có nhu cầu làm sách công vụ. Chính vì điều kiện thuận lợi này ông đã có cơ hội tiếp cận với nhiều nguồn sách mà không một người Việt Nam nào khác có thể.
 
Duy Minh Thị trong quá trình viết bản văn Kim Vân Kiều Truyện, ông đã tiếp cận Đoạn Trường Tân Thanh/Truyện Kiều của Nguyễn Du, đã tiếp cận bản văn Kim Vân Kiều Lục. Ông tra cũng đã tiếp cận các bản văn từ hai người có liên quan đến sự ra đời Đoạn Trường Tân Thanh và rồi từ truyện thơ này các ông viết ra các truyện Hậu Đoạn Trường Tân Thanh, Hậu Kim Vân Kiều Lục: Đó là các ông Mộng Liên Đường Nguyễn Đăng Tuyển và Phong Tuyết Thập Thanh Thị.
(Cả hai ông Trương Vĩnh Ký và Abel des Michels đều đã được Duy Minh Thị đưa cho bản Kim Vân Kiều tân truyện thơ, bản Nôm do chính ông ta sửa lại thơ của Nguyễn Du và cho lưu hành).
 
Duy Minh Thị đã biên tập, bổ sung, sửa chữa- mà ông tự gọi là “trùng san” thơ Nôm Truyện Kiều của Nguyễn Du năm 1872.
Hãy xem 2 câu đầu tiên của truyện Kiều trong bản “trùng san”:
 
1 Trăm năm trong cõi người ta,
2 Chữ tài chữ sắc khéo là cợt nhau
 
𤾓𢆥𥪝𡎝𠊛
𡦂𡦂色窖󰑼󰡒

(Truyện Kiều - bản Duy Minh Thị 1872)
 
Trong khi các bản khác xưa hơn
 
1 Trăm năm trong cõi người ta,
2 Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
 
𤾓𢆥𥪞𠊛
𡦂𡦂命窖󰑼恄饒

(Truyện Kiều – bản Tự Đức 1870, Liễu Văn Ðường 1871)
 
Độc giả nghĩ sao?
 
Ông Trương Minh Ký là người hỗ trợ và phát tán văn bản KVKT Thanh Tâm Tài Tử của Duy Minh Thị nói trên. Abel des Michels, một người Pháp chuyên gia về Đông Phương Ngữ qua Nam kỳ theo lời mời của Phủ Thống soái Nam kỳ, để theo dõi việc Trương Vĩnh Ký chuyển Đoạn Trường Tân Thanh từ chữ Nôm sang chữ Quốc ngữ. Trương Minh Ký đã trao cho Abel des Michels bản Thanh Tâm Tài Tử Duy Minh Thị này, từ tay nho sĩ Phước Bình Lê năm 1884. Ông Abel des Michels luôn nghĩ rằng “chắc Nguyễn Du cũng dùng một truyện Tàu” để viết ngược thành truyện thơ Kiều như kiểu Hoa Tiên, khi nhận ông chắc đây là quyển sách mình luôn nghĩ đến.
 
 
(Hình trang sách Abel des Michels)

 
Thật ra sách Kim Vân Kiều Lục Thanh Tâm Tài Tử này đã được in năm 1876.
 
Bản 1884 ông Abel nhận này được lưu trữ ở Thư Viện quốc gia Hà Nội (chụp microfilm, ghi Thanh Tâm Tài Tử. Viện Viễn Đông Bác cổ chụp từ Paris Pháp, thời Pháp thuộc) như đã nói trong các bài trước.
 
 
Hình bản Thanh Tâm Tài Tử 1884 lưu tại Paris
 
 
Ta cũng nên chú ý là nho sĩ tên Phước Bình Lê sao tương tự với tên Phước Trai tiên sinh trong nhóm Duy Minh Thị quá (?)
………

Chính bản văn Kim Vân Kiều Truyện Thanh Tâm Tài Tử này (Sau được dịch sửa tên lại là KVKT Thanh Tâm Tài Nhân A953) của Duy Minh Thị mà giáo sư Dương Quảng Hàm đã phát biểu tiêu cực trong giáo trình Việt Nam Văn Học Sử Yếu (ghi ở phần dưới) và “ai đó” lợi dụng – hoặc tiếp tay hạ bệ đại thi hào VN, kết án Nguyễn Du “đạo văn”, dịch truyện KVKT Thanh Tâm Tài Nhân Tàu ra truyện thơ Nôm: Đoạn Trường Tân Thanh/ Truyện Kiều.
 
 
VỤ ÁN TRUYỆN KIỀU
 
Các bài trên chúng tôi đã bàn rõ về vụ án nầy rồi, nay lập lại sơ lược để đẫn đến các bài sau: Bàn về Kim Vân Kiều Lục, so sánh với Kim Vân Kiều Truyện.
Hầu như 99, 99% người Việt từ các học sinh cho đến các tiến sĩ văn chương đều tin vào tín điều tiêu cực mà giáo sư Dương Quảng Hàm phát biểu trong giáo trình Việt Nam Văn Học Sử Yếu. Chính câu tiêu cực, mà Dương Quảng Hàm đúc kết, hiện nay cũng vẫn còn đang là “câu bùa chú” khởi đầu cho phần nhập đề bất cứ bài luận văn nào của học sinh, sinh viên, giáo viên và kể cả giáo sư tiến sĩ. Đó là đoạn văn này- trong quyển Việt Nam Văn Học Sử Yếu:
 
“Lâu nay, ở nước ta, vẫn có một bản truyện Kiều chữ Hán chép tay (4) nhan đề là Kim Vân Kiều truyện mà các học giả vẫn cho là một cuốn tiểu thuyết Tàu do đấy Nguyễn Du đã soạn ra cuốn truyện nôm.
Khi ta so sánh nguyên văn quyển Kim Vân Kiều truyện này với nguyên văn truyện Kiều của Nguyễn Du thì ta thấy rằng đại cương tình tiết hai quyển giống nhau: các việc chính, các vai nói đến trong truyện Kiều đều có cả trong cuốn tiểu thuyết Tàu.
Sự so sánh ấy lại tỏ rõ rằng Nguyễn Du không phải chỉ dịch văn xuôi của Tàu ra văn vần của ta mà thôi. Tác phẩm của ông thật có phần sáng tạo đặc sắc: ông sắp đặt nhiều việc một cách khác để cho hợp lý hơn hoặc để tránh sự trùng điệp; ông thay đổi nhiều điều tiểu tiết để tả cảnh ngộ hoặc tình hình các vai trong truyện một cách rõ rệt hơn; ông lại bỏ đi nhiều chỗ thô tục (như đoạn kể rõ “vành ngoài bảy chữ, vành trong tám nghề”) và nhiều đoạn rườm, thừa, không bổ ích cho sự kết cấu câu chuyện.
Vậy nguồn gốc truyện Kiều của Nguyễn Du là quyển tiểu thuyết Tàu nhan là Kim Vân Kiều truyện (….) do một tác giả hiệu là Thanh tâm tài nhân (….) soạn ra về cuối thế kỷ XVI hoặc đầu thế kỷ thứ XVII và do một nhà phê bình có tiếng là Kim Thánh Thán bình luận.” 
(Việt Nam Văn Học Sử Yếu - Dương Quảng Hàm)


……

Chú giải của Dương Quảng Hàm:
 
(4) Ở PQVĐHV. Thv., hiện có một bản truyện Kiều chữ Hán chép tay ấy (A 953), Sách gồm có 4 quyển và chia làm 20 hồi. Đầu quyển thứ nhất (tờ 5a). Đầu quyển sau, cũng đề y như thế, chỉ khác số quyển đổi đi – Bản Kiều chữ Hán này ông Hùng sơn Nguyễn Duy Ngung đã dịch ra quốc văn nhan đề là Kim Vân Kiều tiểu thuyết Tân dân thư quán x. b. Hà nội, 1928.
 
Độc giả có chú ý sách “chép tay A 953” trong chú giải của GS Dương Quảng Hàm không? Có giống với sách Abel des Michels nhận không? Ông Dương đã “vội vàng” cho là sách Tàu. Than ôi! (NL)
 
Câu dài dòng trên đã được vi-wikipedia đúc kết gọn là:
“Kim Vân Kiều (tiếng Trung: 金雲翹; bính âm: Jin Yún Qiăo) là một tác phẩm tiểu thuyết chương hồi của Thanh Tâm Tài Nhân, tác giả đời nhà Minh, Trung Quốc biên soạn vào cuối thế kỷ 16 và đầu thế kỷ 17. Nguyễn Du nhân đọc quyển tiểu thuyết này đã cảm hứng viết Truyện Kiều – một tác phẩm được xem là áng văn chương bất hủ của Văn học Việt Nam.”
 
Các sự kiện cần chú ý:
 Nhà nghiên cứu Lâm Thanh Sơn cho biết ngay cả một số học giả Trung Quốc cũng xác nhận: từ trước những năm 1980, tất cả các bộ sách, giáo trình về lịch sử Trung Quốc, bao gồm cả Trung Quốc tiểu thuyết sử lược của Lỗ Tấn đều không đề cập đến Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân. Lỗ Tấn trong vòng 5 năm lục tung cả Trung Hoa mà không tìm thấy Kim Vân Kiều Truyện, hay Tứ Khố Toàn Thư của ba vua Thanh danh giá là Khang Hy- Ung Chính - Càn Long đều không hề ghi lấy một chữ; nhân thân của Thanh Tâm Tài Nhân thì không xác định được: Khi thì Từ Vị, khi thì Kim Thánh Thán… Năm 1981, một học giả người Mỹ tên Charles Benoit, tên Việt: Lê Vân Nam, với tinh thần nghiêm túc, tính tự trọng, liêm sĩ của người cầm bút khi viết luận văn tiến sĩ, đã phủ nhận.
Lâm Thanh Sơn khẳng định là Trung Quốc không có tác giả Thanh Tâm Tài Nhân nào cả.
 
 Năm 1923 truyện Kiều nổi tiếng nhiều nơi trên thế giới. Năm này Nguyễn Văn Vĩnh và Famechon soạn kịch bản điện ảnh Việt- Pháp từ thơ Nguyễn Du, làm phim Kim Vân Kiều công chiếu tại Hà Nội và Pháp 1924.
 
 Năm 1925, Nguyễn Duy Ngung, không rõ lý lịch biên dịch cuốn Kim Vân Kiều Truyện, bản A 953 nói trên, tự động đổi tên Thanh Tâm Tài Tử thành Thanh Tâm Tài Nhân. Đồng thời ông ghi thêm lời bình của Kim Thánh Thán và đưa 20 bài thơ vịnh Kiều của Chu Mạnh Trình lên đầu 20 hồi như đã nói ở phần 1. Khi sách truyện tái bản, có Nguyễn Đỗ Mục người dịch lời bình gọi là của Kim Thánh Thán ngoại thư.
 
 Năm 1958, Giáo sư Hoàng Dật Cầu ở Học viện Sư phạm Hoa Nam tại Quảng Châu, trong vai một giáo sư Trung văn sang trợ giúp cho Hà Nội, đã bỏ nhiều công sức để dịch truyện Kim Vân Kiều – Thanh Tâm Tài Nhân Việt Nam -A 953 sang Trung văn hiện đại. Sách được đưa vào Tùng thư Văn học Á – Phi và do Nhà xuất bản Nhân dân văn học xuất bản tháng 8 năm 1959.
                                        [GS Nguyễn Huệ Chi]

 Năm 1981 ông Lý Chí Trung - China - công bố cuốn Kim Vân Kiều ghi tên Thanh Tâm Tài Nhân, dài khoảng 208 trang, 20 hồi, cho là viết từ đời Khang Hi (Khang Hi năm thứ nhất là 1667), văn phong hiện đại, kiểu chữ “giản thể” đã được phát hiện tại thư viện đại học Đại Liên.
Tuy nhiên, khi so sánh bản Đại Liên với cuốn Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Tử ở Việt Nam (bản A953), nhà nghiên cứu Lâm Thanh Sơn cho rằng nó giống nhau khoảng 99%.
Khi bản Đại Liên được công bố, Đổng Văn Thành bắt đầu tấn công hạ bệ Nguyễn Du như chúng tôi đã viết ở các bài trên.
Xin được nhắc lại vài lời của ông Đổng Văn Thành đã nói trong các bài trước:
 
“Nguyễn Du chẳng những chỉ mượn đề tài của tiểu thuyết Trung Quốc mà dường như bê nguyên xi […] Nguyễn Du không có bất kỳ một sáng tạo mới nào, chỉ chuyển thuật khá trung thực nội dung tiểu thuyết của Thanh Tâm Tài Nhân…”
[Theo Phạm Tú Châu “So sánh Truyện Kim Vân Kiều Trung Quốc và Việt Nam”]
 
“Nguyễn Du còn thêm chân cho rắn khiến chúng mâu thuẫn với hoàn cảnh và tình tiết trong toàn bộ nguyên tác”
[Nguyễn Huệ Chi - Trở lại câu chuyện so sánh Kim Vân Kiều truyện với Truyện Kiều của ông Đổng Văn Thành]
 
 Theo Laiquangnam:
Bản văn lam bản (bản nguồn) viết tay của ông Duy Minh Thị chúng tôi gọi là Kim Vân Kiều Truyện (DMT), đó là bản văn mà Tố Nam Nguyễn Đình Diệm mang dịch và in ra tại Nam Việt Nam vào năm 1971. Từ bản văn này, Lý Trí Trung và Đổng Văn Thành “tút” lại và tung ra bản văn gọi là bản văn đại học Đại Liên. Nay Đổng Văn Thành gọi bản văn này là bản phồn, tức là bản văn đầy đủ. Bản phồn là bản văn Đại Liên họ tự bịa. Bản văn Việt nam mang mã số A 953 xuất hiện lần đầu tiên trên thế giới với thứ văn phong bạch thoại Nam bộ, vùng ngã tư quốc tế vào thời Pháp thuôc (1850-1900 ) họ gọi la bản trung
                                                     (Laiquangnam)
.

Qua trên là những điều tóm lược các bài viết trước, giờ mời độc giả lần lượt đọc các bài viết về Kim Vân Kiều Lục của nhà nghiên cứu Lê Nghị.
Nhà nghiên cứu Lê Nghị đã có phát biểu bài tham luận “Nguồn gốc Truyện Kiều” tại Hội thảo Minh họa Kiều dưới góc nhìn minh triết Việt, do Trung tâm Văn hóa Pháp tại Hà Nội vào tháng 9 năm 2020. [2] và đã công bố bản văn, dạng pdf: Từ Đoạn Trường Tân Thanh Đến Phát Sinh Kim Vân Kiều Truyện trên trang Chim Việt Cành Nam . [3]
 
                                                         Nguyên Lạc
 
(Bài tiếp: Phụ lục 1, Tầm Ảnh Hưởng Của Kim Vân Kiều Lục)
 
……………..
 
Ghi chú
 Bài viết Vương Thúy Kiều – Trong tuyển tập Ngu Sơ Tân Chí của Trương Trào (1650-1707), của Dư Hoài (1616-1696)
 Phong Tình Lục (Tình Sử) của Phùng Mộng Long: Bộ tập hợp gồm 804 câu chuyện tình trong cổ thư Trung Hoa; từ Tây Thi đến Chiêu Quân, đến Tiểu Thanh, đến Vương Thủy Kiều, Trác văn Quân Thôi Oanh Oanh … đều có đủ. Sách rất phố thông như Liêu Trai Chi Dị.
 Kịch hài = hý kịch (tuồng hát bộ Tàu) như Thu Hổ Khâu của Vương Long trước tác 1676, và Hổ phách trủy (1707). Nguyễn Du được xem khi đi sứ sang Thanh.
Nguyễn Du đã xử dụng những văn bản nguồn trên, thêm thắt chi tiết, các nhân vật phụ như Kim Trọng, Thúc Sinh, Hoạn Thư, Thúy Vân, Vương Quan … để hư cấu, sáng tạo ra Đoạn Trường Tân Thanh/ Truyện Kiều.
 
Nguồn:
 
[1] Trang Facebook “Tình Tự Dân Tộc”, tác giả Lai Quang Nam.
https://www.facebook.com/groups/1141641829504367
[2] 200 năm, hậu thế nhớ Tố Như – Kỳ cuối: Thử ‘giải mã’ lại Truyện Kiều- Lê Nghị
https://tuoitre.vn/200-nam-hau-the-nho-to-nhu-ky-cuoi-thu-giai-ma-lai-truyen-kieu-20200916201701822.htm?fbclid=IwAR0UvQrKM5yPbCeL8XovA-jp-nkho4KmpA5r6A_jaAfFTRjJn6gi3gYVyQY
[3] Từ Đoạn Trường Tân Thanh Đến Phát Sinh Kim Vân Kiều Truyện
http://chimvie3.free.fr/baivo/lenghi/lenghi_KimVanKieu.pdf

READ MORE - TRẬN CHIẾN CHƯA NGƯNG: ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH VÀ KIM VÂN KIỀU TRUYỆN # 4 – Nguyên Lạc

Tuesday, December 1, 2020

BÀN VỀ “ĐỌC LẠI NGƯỜI XƯA, BÀI 3” THƠ VŨ HOÀNG CHƯƠNG - Châu Thạch

 

Thi sĩ Vũ Hoàng Chương


ĐỌC LẠI NGƯỜI XƯA (3)
 
“Khứ niên kim nhật thử môn trung
Nhân diện đào hoa tương ánh hồng”
                                           Thôi Hộ
 
Ngày này xưa cổng này đây
Hoa đào má đỏ cùng lây ánh hồng
Đã ngưng một điểm thời không
Mở ra ngoài phía chiếc lồng thiên cơ
Đón vào sâu tận cõi bờ
Chưa ai vào được hay mơ được vào
Chợt nghe má đỏ hôm nào
Cười lên từ cổng hoa đào nhặt thưa
Cổng ơi mở cũng bằng thừa
Đừng tin kích thước gởi vừa Đường thi
Chàng Thôi ngắm hảo rồi đi
Một khung chết đứng mong gì ngàn sau.
 
                                 Vũ Hoàng Chương
 

BÀN VỀ “ĐỌC LẠI NGƯỜI XƯA, BÀI 3” THƠ VŨ HOÀNG CHƯƠNG
                                                             Châu Thạch
  
Ghi Chú:

Phần I và phần II đã đăng ở “Bàn Về Đọc Lại Người Xưa” bài 1 và bài 2. Quý vị nào đã xem hai bài trên thì xin lướt qua để xem phần 3. Cảm ơn!
 
I - Sơ lược về nhà thơ Vũ Hoàng Chương:  
      
Vũ Hoàng Chương (1916-1978) ở Nam Ðịnh, nguyên quán ông là làng Phù Ủng, huyện Đường Hào nay là huyện Mỹ Hào tỉnh Hưng Yên.  
Thi phẩm của Vũ Hoàng Chương được nổi tiếng nhất là tập Thơ Say (xuất bản năm 1940). Sau tháng Tám 1945, nhà thơ họ Vũ đã cho ra đời thêm mấy tập thơ nữa là: Mây (1943), Rừng Phong (1954); một tập kịch thơ Vân Muội, Trương Chi, Hồng Diệp (1944).  
 
Sau năm 1954, nhà thơ di cư vào Nam, ông tiếp tục sáng tác không ngừng cho đến khi ông mất. Các tác phẩm giai đoạn này là các tập thơ Tâm Sự Kẻ Sang Tần (1961), Lửa Từ Bi (1963), Ta Đợi Em Từ 30 Năm (1970), Chúng Ta Mất Hết Chỉ Còn Nhau (1973)... Ông từng được vinh danh là “Thi bá” Việt Nam.   Sau 1975 bị bắt giam ở Chí Hòa, do bệnh nặng Ông mất ngày 6 tháng 9 năm 1976 tại Sài Gòn.  
       
II – Sự Kiện của thơ:  
 
Sự kiện của thơ do nhà thơ La Thuỵ, quản nhiệm trang web blog Bâng Khuâng và đăng như sau:  
 
“Di cảo của Vũ Hoàng Chương (1975 – 1976), do Vũ Hoàng Chương trao cho Hoàng Hương Trang giữ trước khi qua đời, đây là công bố đầu tiên di cảo này, gồm 14 bài, trong đó có 1 bài thơ Tết vịnh Tranh Gà Lợn, 12 bài cùng 1 nhan đề ‘Đọc lại người xưa’, còn 1 bài ông làm trong tù gồm 12 câu, phải làm 6 lần, mỗi lần bà Đinh Thục Oanh vợ ông vào thăm nuôi, ông chỉ viết 2 câu trên mảnh giấy gói đồ, 6 lần vào thăm nuôi ghép lại mới hoàn chỉnh bài thơ, tuy nhiên bài ấy do bà Đinh Thục Oanh giữ và nay đã thất lạc, Hoàng Hương Trang chỉ nhớ vỏn vẹn 1 câu: ‘Tối về Khánh Hội sáng vô Chí Hòa’ để chỉ những cuộc thăm nuôi của bà Đinh Thục Oanh vào thăm ở Chí Hòa, lặn lội cuốc bộ về tới Khánh Hội ở đậu nhà bà Đinh Hùng thì trời đã chiều tối. Nhưng Hoàng Hương Trang nay cũng ở gần cái tuổi 80 rồi, sợ không giữ được, nên xin công bố, in vào tuyển tập sau này để lưu giữ được lâu dài, làm tài liệu cho văn học sau này.  
 
Năm 2012, La Thụy được chị Hoàng Hương Trang tặng TUYỂN TẬP THƠ VĂN XUÔI HOÀNG HƯƠNG TRANG, trong đó có in những bài thơ cuối cùng, là “di cảo do thi sĩ Vũ Hoàng Chương trao cho chị Hoàng Hương Trang giữ trước khi qua đời”. Những bài thơ này được in từ trang 398 đến trang 407 trong tuyển tập nêu trên. Xin giới thiệu cùng quý bạn đọc.” 





III- Nghiên cứu bài thơ “Đề Đô Thành Nam Trang” của Thôi Hộ:
 
Trước khi nhập đề “Đọc Lại Người Xưa” (3), nhà thơ Vũ Hoàng Chương đã dùng hai câu thơ “Khứ niên kim nhật thử môn trung/nhân diện đào hoa tương ánh hồng” của Thôi Hộ trong bài thơ “Đề Đô Thành Nam Trang” để dẫn nhập cho bài thơ của mình, và cả bài thơ “Đọc Lại Người Xưa (3)” Vũ Hoàng Chương cũng cảm tác cho tình sử đã làm phát sinh bài  thơ hoa đào của Thôi Hộ. 
 
Thôi Hộ là ai?  Thôi Hộ tự Ân Công, người ở Bác Lăng là một thi nhân đời Trung Đường. Chưa thấy có tài liệu nào nói về năm sinh năm mất của ông.
 
Thôi Hộ đỗ tiến sĩ năm Trinh Nguyên thứ 12 (796), làm quan đến Lĩnh Nam tiết độ sứ. Thơ ông Toàn Đường thi còn chép 6 bài, trong đó “Đề Đô Thành Nam Trang” được lưu truyền rộng rãi nhất.
 
Nhận xét về thơ của ông, hậu thế đã dùng những mỹ từ tán tụng mà bất cứ thi nhân nào cũng mơ ước. Bài thơ “Đề Đô Thành Nam Trang” như sau:                                      
 
ĐỀ ĐÔ THÀNH NAM TRANG                              
 
Khứ niên kim nhật thử môn trung,                                 
Nhân diện đào hoa tương ánh hồng.                                            
Nhân diện bất tri hà xứ khứ,                                   
Đào hoa y cựu tiếu đông phong*.
 
Bản dịch nghĩa:                                 
 
Bài Thơ Đề Ở Ấp Phía Nam Đô Thành
                                                                         
Năm trước ngày này ngay cửa này,                                 
Mặt người, hoa đào ánh hồng lẫn nhau.                                    
Mặt người chẳng biết đã đi đâu?                           
Hoa đào vẫn như xưa cười với gió đông.
 
Bản dịch thơ:
 
Cửa đây năm ngoái cũng ngày này, này
Má phấn, hoa đào ửng đỏ hây.
Má phấn giờ đâu, đâu vắng tá,
Hoa đào còn bỡn gió xuân đây. 

                                    Tản Đà
 
Năm ngoái, ngày này, dưới cánh song
Hoa đào ánh má, mặt ai hồng
Mặt ai nay biết tìm đâu thấy
Chỉ thấy hoa cười trước gió đông

                                 Bùi Khánh Đản
 
Hôm nay, năm ngoái, cửa cài,
Hoa đào ánh với mặt người đỏ tươi.
Mặt người chẳng biết đâu rồi,
Hoa đào còn đó vẫn cười gió đông.

                            Trần Trọng Kim
 
 




Sự tích phát sinh bài thơ như sau:
 
“Chuyện kể rằng vào tiết thanh minh năm ấy. Có một chàng trai dạo chơi ở phía nam Đô thành. Trông thấy một trang viên hoa đào nở rộ, sắc hoa tươi thắm, bèn lấy cớ vào xin nước uống để ngắm kĩ hơn. Chàng trai gõ cửa, bắt gặp một thiếu nữ tú lệ. Người con gái mang nước cho chàng trai uống, cử chỉ vừa dịu dàng vừa kín đáo làm người khác phải nao lòng. Uống nước xong, chàng trai cảm tạ rồi cáo biệt.
 
Khi về nhà, chàng trai vẫn nhớ mãi hình dáng hôm ấy của cô thiếu nữ có đôi má hây hây hồng tựa như cánh hoa nào.
 
Tròn một năm trôi qua, chàng trai trở lại chốn xưa, hy vọng gặp lại cố nhân. Nhưng cổng đóng then cài, gọi mãi mà chẳng thấy ai. Gặp cảnh sinh tình, chàng trai đề một bài thơ trên cánh cổng. Không lâu sau trở lại, nghe tiếng khóc vọng ra từ trang viên. Một ông lão bước ra, vẻ mặt tiều tụy hỏi chàng trai kia có phải là người đã đề thơ lên cổng. Thì ra người con gái con của ông lão đọc xong thơ, nhớ thương đến bỏ ăn bỏ ngủ rồi ốm chết. Chàng trai ngồi cạnh xác người con gái đã tắt thở nhưng vẻ mặt vẫn hồng nhuận như năm nào. Chỉ trách tạo hóa trớ trêu thay cho mối đoạn duyên.
 
Cũng có lời truyền rằng. Người con gái chưa hồn lìa khỏi xác, nghe tiếng khóc than của người thương thì tỉnh dậy. Từ đó hai người trở thành vợ chồng, cùng sống hạnh phúc ở đào hoa viên. Cũng từ điển tích này mà người ta hay ví gương mặt người con gái đẹp giống như hoa đào”
 
Tản mạn thêm:
 
“Trong truyện Kiều, Nguyễn Du có một đoạn thơ tả lại cảnh lúc Kim Trọng trở lại vườn xưa cảnh cũ nơi mà Kim Trọng và Thúy Kiều đã nhiều lần hò hẹn tâm tình với nhau:
 
‘Đầy vườn cỏ mọc lau thưa
Song trăng quạnh quẽ, vách mưa rã rời
Trước sau nào thấy bóng người
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông
Xập xè én liệng lầu không
Cỏ lau mặt đất, rêu phong dấu giầy
Cuối tường gai góc mọc đầy
Đi về này những lối này năm xưa ....’
 
Thật ra trong ngôi vườn tình ái hò hẹn giữa Kim Trọng và Thúy Kiều năm xưa chưa chắc đã có cây đào nở rộ đầy hoa đang cười bỡn cợt với gió đông (gió xuân) lơi lả... Mà dù có cây đào đi chăng nữa cũng không là nét đặc trưng biểu tượng trong những vần thơ trữ tình nầy:
 
‘Trước sau nào thấy bóng người
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông ..’
 
mà chính Nguyễn Du đã muốn nhắc nhở lại cái điển tích của Thôi Hộ ‘Đào hoa y cựu tiếu đông phong ...’ trong bài thơ ‘Đề Đô Thành Nam Trang’ như một yếu tố ngôn ngữ chủ yếu làm phương tiện để dẫn dắt độc giả vào cái nhận thức hiện tại: cảnh xưa vẫn còn đó... nhưng người đẹp nay còn đâu ?.. Cái tài hoa khéo léo của Nguyễn Du là ngoài cái biểu tượng chính ‘hoa đào năm ngoái’ còn mang thêm những hình tượng ngôn ngữ để bổ sung cho nhận thức ‘cảnh đó người đâu ?’ , tạo nên một bức tranh trữ tình lãng mạn và gợi sầu gợi cảm vô cùng qua những hình ảnh chất liệu như : cỏ, lau, song, vách, trăng, mưa, én, rêu, dấu giầy, tường gai v.v... đã gây ra những ấn tượng sâu sắc, nguồn cảm xúc dào dạt, nồng nàn, xao động lòng người…
 
Bài thơ trữ tình lãng mạn của Thôi Hộ, hàm súc mang nhiều hình ảnh linh động và ý tình thắm thiết, đã đúng như định nghĩa Thơ mà Lamartine đã nói : ‘Thơ là sự hiện thân cho những gì sâu sắc thầm kín nhất của con tim và huyền diệu thiêng liêng nhất của tâm hồn con người, và khơi động những hình ảnh tươi mát sống động nhất, âm thanh tuyệt vời nghệ thuật nhất trong thiên nhiên...’ 

Bài thơ cô đọng bốn câu của Thôi Hộ là “một sự kết hợp hài hòa giữa cảnh sắc, hình tượng, ý tình, âm thanh, nhịp điệu và nhạc tính đã gây sự rung động và mẫn cảm, biểu tượng một thế giới cảm xúc, làm xao xuyến tâm hồn người đọc khôn nguôi…”
 
IV- Bàn  luận thơ “Đọc Lại Người Xưa, bài 3” của Vũ Hoàng Chương:
  
 Vũ Hoàng Chương mở đầu bài thơ với hai câu thơ như sau:                                         
Ngày này xưa cổng này đây                    
Hoa đào má đỏ cùng lây ánh hồng
 
“Ngày này” là ngày nào?  Đọc thơ ta có thể hiểu “ngày này” là ngày Thôi Hộ quay lại trang viên mà chàng đã một lần vào xin nước uống trong một ngày vào tiết thanh minh. Thôi Hộ nhớ lại ngày này năm xưa, trang viên đầy hoa đào nở, và hoa đào đã phản chiếu lên thiếu nữ chủ nhà, làm ửng hồng đôi má giai nhân. 
 
“Ngày này” cũng có thể hiểu xa hơn, chính là ngày mà Vũ Hoàng Chương sáng tác bài thơ nầy. Cái gặp của Thôi Hộ với người con gái tú lệ là sự gặp thực tế ngoài đời, còn cái gặp của Vũ Hoàng Chương với người con gái trong tình sử là sự gặp trong thơ, là sự gặp mang hương vị liêu trai của thi nhân với “Thư trung hữu nữ nhan như ngọc”, nghĩa là gặp “nàng con gái đẹp như ngọc trong sách”. Chữ “Ngày này” của Thôi Hộ vào thế kỷ thứ 8 và chữ “ngày này” của Vũ Hoàng Chương vào thế kỷ thứ 20. 

 
Thư trung hữu nữ nhan như ngọc


Hiểu hai câu thơ bằng tưởng tượng lãng mạn như vậy, ta cảm nhận được nhà thơ Vũ Hoàng Chương đã mang chính cái tâm tư của Thôi Hộ khi ông đọc bài thơ “Đề Đô Thành Nam Trang” đã lưu lại ngàn năm sau, người con gái hoa đào ngày ấy, ngày này đã nhập vào hồn thi sĩ Vũ Hoàng Chương
 
Hai câu thơ tiếp Vũ Hoàng Chương đã viết                
 
       Đã ngưng một điểm thời không                     
       Mở ra ngoài phía chiếc lồng thiên cơ
 
 “Đã ngưng một điểm thời không” có nghĩa là thời gian ngưng lai ở điểm hai người gặp nhau, lúc đó thi nhân và giai nhân cảm nhận vũ trụ hình thành từ đó. Lúc đó Thôi Hộ và người con gái tú lệ cảm nhận đó là ngày đầu tiên, giờ đầu tiên, phút giây đầu tiên của thê giới và của họ.
 
“Mở ra ngoài phía chiếc lồng thiên cơ” nghĩa là sự hội ngộ của hai người họ không phải do định mệnh, ngoài ý Trời. “Thiên cơ” nghĩa là phép mầu nhiệm của Trời sắp đặt mọi việc trong trời đất. Vậy mà Thôi Hộ và người con gái gặp nhau “ngoài phía chiếc lồng thiên cơ”, cho nên cuộc tình của họ gặp đau thương uẩn khúc là sự thường tình.
 
 Hai câu thơ thứ 5 và thứ 6 như sau:                        
 
Đón vào sâu tận cõi bờ                        
Chưa ai vào được hay mơ được vào
 
 Họ gặp nhau ở ngoài vòng thiên cơ, nghĩa là ngoài sự sắp đặt của Trời nhưng họ lại đón nhau vào “tận cõi bờ” nơi mà chưa ai vào được và chưa có ai mơ được như thế, vì dầu ở cõi thật hay trong cõi mơ, không ai có được một tình yêu nồng cháy như Thôi Hộ và cô gái Hoa Đào kia. “Tận cõi bờ” có thể hiểu là tận sâu kín trong tâm hồn họ. “Chưa ai vào được hay mơ được vào” có thể hiểu là tình yêu của họ say đắm đến nỗi không một cuộc tình nào trên đời nầy đạt đỉnh cao bằng họ.  Vũ Hoàng Chương muốn nói đến mối tình của họ như một thiên đường riêng, thiên đường thiêng liêng của linh hồn họ, mà con người không ai có thể yêu nhau như họ hay bằng họ được.  
 
Đọc bốn câu thơ trên: “Đã ngưng một điểm thời không/ Mở ra ngoài phía chiếc lồng thiên cơ/ Đón vào sâu tận cõi bờ /Chưa ai vào được hay mơ được vào” nhà thơ Vũ Hoàng Chương muốn mượn cuộc tình Thôi Hộ để gởi tâm sự của mình vào đó. Vũ Hoàng Chương cũng yêu thơ “ngoài phía chiếc lồng thiên cơ”. Vì yêu như thế nên thơ đã đưa ông vào vòng lao lý. Một đời vũ Hoàng Chương chỉ làm thơ và đi dạy, nhưng chính vì thơ mà ông đã vào tù và ra tù khi sắp chết. Thế nhưng thơ và Vũ Hoàng Chương như là hai quả tim vàng không phải trong một túp lều tranh mà đã “Đón nhau vào sâu tận cõi bờ” của chốn thiên đường “Chưa ai vào được hay mơ được vào” bao giờ, trừ duy chỉ nàng Ly Tao của Vũ Hoàng Chương và Vũ Hoàng Chương hạnh phúc trong cõi ấy.
 
Hai câu thơ kế tiếp: 
                         
Chợt nghe má đỏ hôm nào                           
Cười lên từ cổng hoa đào nhặt thưa
 
Vũ Hoàng Chương đã rút sợi dây thời gian để quay trở về quá khứ. Nhà thơ nghe được tiếng cười của cô gái hoa đào ngàn năm trước, đã cười tại cổng hoa đào đón chào Thôi Hộ. Cũng có thể nhà thơ đã nghe được tiếng cười của cô gái hoa đào ngàn năm trước, cười ngay trong “ngày này” tại cổng hoa đào khi tâm hồn Vũ Hoàng Chương đến ngưỡng của linh hồn bài thơ, thấy cô gái và nghe tiếng cười trong giấc thụy du của mình.  
 
Thế rồi Vũ Hoàng Chương chợt tỉnh giấc thụy du của mình, ông cảm nhận sự vô thường của trời đất, sự phù du của cuộc tình. Ông cho ngày xưa Thôi Hộ gặp cô gái hoa đào bằng mặt hay ngày nay ông gặp cô gái hoa đào trong thơ một phút cũng đủ rồi, không cần chi chiếc cổng phải mở để phải kéo dài cuộc tình thêm nữa, bởi vì cuộc tình có đi vào kích thước của bài thơ Đường để lại đời sau chăng nữa, thì cũng bằng thừa, bởi vì nó đã trọn vẹn rồi ở giây phút gặp nhau. Nhà thơ thốt lên:        
 
Cổng ơi mở cũng bằng thừa          
Đừng tin kích thước gởi vừa Đường thi
 
Để bổ sung cho đậm ý hai châu thơ trên, Vũ Hoàng Chương đã viết tiếp hay câu thơ chót như sau:               
 
       Chàng Thôi ngắm hảo rồi đi              
       Một khung chết đứng mong gì ngàn sau 
 
Hai câu thơ nầy Vũ Hoàng Chương muốn nói, cái giây phút Thôi Hộ và cô gái hoa đào gặp nhau, là giây phút “Đã ngưng một điểm thơi không” là giây phút khởi đầu của tình yêu như sự khởi đầu của cả vũ trụ, cũng có thể nói thời gian tâm lý ngưng ngay tại đó, không còn trôi chảy nữa . Giây phút đó đã được đóng vào “Một khung chết đứng”, không còn giây phút thứ hai với bất kỳ ai và bất kỳ ở đâu nữa. Bởi vì cho rằng giây phút Thôi Hộ và cô gái hoa đào gặp nhau là đã trọn vẹn rồi, Vũ Hoàng Chương nói rằng đến ngàn sau cũng đừng mong gì nữa: “Một khung chết đứng mong gì ngàn sau”
 
Bài thơ “Đọc Lại Người Xưa (3)” của Vũ Hoàng Chương chỉ khó hiểu nếu ta không mang tâm trạng của ông đi vào trong thơ. Vũ Hoàng Chương đã mang tâm trạng của Thôi Hộ đi vào trong thơ của Thôi Hộ và lấy tâm trạng của chính ông đề bình luận cho thơ. Thôi Hộ còn quay lại cổng hoa đào, còn đề thơ lên cổng hoa đào, nhưng Vũ Hoàng Chương quan niệm khác, nhà thơ cho rằng “ngắm hảo rồi đi” là đủ, là đạt tình yêu tuyệt đỉnh rồi, là tình yêu đã đóng “khung chết đứng” tại đó rồi, đã thỏa mãn rồi, “đừng mong gì ngàn sau” nữa. Hiểu như thế ta thấy Vũ Hoàng Chương đã lãng mạn trên cái lãng mạn của ngàn xưa. Nhà thơ quan niệm “thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt / Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm” trong tình yêu, trong tình trường. 
 
Bài Đường thi của Thôi Hộ lưu truyền hậu thế trên ngàn năm vẫn còn tỏa sáng nhưng Vũ Hoàng Chương nói rằng “Đừng tin kích thước gởi vào Đường thi” nghĩa là ông cho bài thơ “Đề Đô Thành Nam Trang” của Thôi Hộ không nói đủ cái khối tình nẩy sinh trong lòng họ, nên ta không chỉ tin chừng đó trong bài thơ mà phải suy diễn, lũy thừa, hư cấu cho đến chốn tuyệt đỉnh của tình, khiến cho giây phút hai tâm hồn gặp sau thì mọi sự trở thành vô nghĩa ngay cả thơ.
 
Như đã nhiều lần trình bày, người viết bài này chỉ viết theo cảm nhận chủ quan của mình. Những tư liệu ít phổ biến người viết tìm trên google đều đóng trong ngoặc kép.  Mong quý vi thông cảm bỏ qua những gì sai trái đối với nhận xét của quý vị.
 
                                                            Châu Thạch

READ MORE - BÀN VỀ “ĐỌC LẠI NGƯỜI XƯA, BÀI 3” THƠ VŨ HOÀNG CHƯƠNG - Châu Thạch