NGUYỄN ĐẶNG MỪNG
Truyện ngắn
TIẾNG VỌNG
Tôi mồ côi cha lúc lên một, mạ tôi năm ấy vừa tròn mười tám tuổi . Cha tôi bị Máy
bay của Tây bắn chết khi đang cày trên đồng.
Lúc đưa đám cũng bị máy bay ném bom, bà con chạy tán loạn. Mạ tôi không chạy, nằm bên quan tài chồng cho đến
sáng hôm sau. Lúc bà con quay lại để tiếp
tục đưa cha ra huyệt thì mạ tôi đã co quắp bất tỉnh vì lạnh. Người ta gánh mạ về nhà, hai hôm sau đến ngày
mở cửa mả mới tỉnh. Cha tôi đêm là du
kích, ngày đi cày, đó là nghe xóm làng kể
lại. Khi tôi đủ trí khôn ít khi mạ nhắc về cha. Mỗi năm đến ngày giỗ, các cô chú sum họp, thường kể về cha tôi như là một nông dân chất
phác, hiền lành. Họ bảo tôi giống cha như đúc, nhất là tính thật thà chịu khó.
Riêng tôi vẫn nghĩ cha tôi là du kích chống Tây.
Nhà
tôi ở cuối xóm, xóm ở cuối làng. Bên kia cánh đồng nơi những rặng tre buồn
buồn ấy là làng ngoại. Căn nhà tranh nhỏ của mạ con tôi như nhà bếp của người ta, dù vậy cũng ngăn nắp sạch sẽ ấm cúng. Mạ đi làm
thuê, cấy lúa hoặc làm cỏ mướn. Năm tôi học lớp nhì (1), khoảng mười tuổi, mạ
nhận bò của bác Kha cho tôi chăn vào buổi chiều, kiếm thêm một mùa bốn thúng lúa, có mùa bò
béo tốt bác cho thêm một thúng để thưởng. Bác Kha cười bảo thằng cu Đa nhà thím
mùa này làm ra lúa lương rồi. Quê tôi gọi đơn vị năm thúng lúa là một lương.
Nhà giàu nhất làng cũng chỉ được trăm lương, gọi là giàu lúa trăm. Mỗi mùa mạ qua nhà bác Kha gánh lúa về , đổ
vào cái sập nhỏ, bảo để dành cho tôi mua sắm sách vở đi học. Lúa vàng rộm trong
cái thúng tre màu nâu sậm chảy lào rào vào sập. Tôi nằm ngủ trên sập nghe thơm nức mùi lúa, lan vào cả giấc ngủ. Mùi
lúa còn theo tôi ra tận cánh đồng buổi chiều, có khi len cả vào lớp học buổi
sáng, giúp tôi chăn bò siêng năng và học giỏi hơn. Khi nào nhà hết gạo ăn hay có việc gì cần tiền
phải bán lúa, mạ nói với tôi là cho mạ
mượn đỡ, đến mùa sẽ trả lại. Mỗi lần thấy sập lúa vơi đi là tôi buồn, có khi
khóc. Mạ an ủi; “Con yên tâm, mạ sẽ trả cho con mà. Lúa của con là lúa chữ lúa
nghĩa, ai nỡ ăn chữ ăn nghĩa của con. Con nhớ học cho giỏi, mai mốt làm thầy,
có xe “bịp bịp” chạy đi dạy như Thầy Nghiêm, lúc đó mạ có chết cũng yên lòng”.
Thầy Nghiêm đẹp trai lắm, độc thân,
mới ra trường sư phạm. Thầy cao ráo trắng
trẻo hơn các thầy gốc ở làng vừa đi cày
vừa đi dạy. Thầy chạy chiếc xe Gobel màu
lam, đèo sau chiếc cặp da to đùng. Trẻ con chạy theo ngửi mùi khói xăng, hít lấy
hít để mùi lạ. Chúng nó bảo mùi khói xăng thơm lắm. Tôi cũng
theo tụi nhỏ vừa chạy vừa hít mùi xăng
đến trường. Trường năm lớp, tường quét vôi trắng, lợp ngói khang
trang, nằm gần trụ sở xã hướng ra hương
lộ. Trụ sở xã có giao thông hào, dây thép gai bao quanh. Đứng bên
sân trường nhìn qua dây thép gai, những lô cốt có lỗ châu mai đen ngòm,
bí hiểm. Thầy Nghiêm mới đổi về, dạy lớp tôi. Nhà thầy nghe đâu ở trên phố quận.
Làng tôi ở trên tuyến đường đất đỏ từ các làng biển lên quận lỵ. năm 1964
vùng tôi bắt đầu có tiếng súng từ phía
những làng biển. Với trẻ con đấy là niềm
vui.Tiếng liên thanh súng trường thì nhỏ, tiếng trung liên đại liên lớn hơn, thỉnh
thoảng có một tiếng ầm có thể là súng cối hoặc lựu đạn. Tiếng pháo lớn từ quận
bắn về phía làng biển, bay ngang không gian làng tôi thì rùng rợn lắm. Sau khi
kéo dài tiếng hú là một tiếng nổ lớn, khói màu tro bốc lên thích mắt. Bọn tôi đứng
trên đồi cao nhìn về hướng biển, bàn tán
về những tiếng nổ và những điều thấy được, cho đến khi người lớn gọi mới chạy về
nhà. Có lần chúng tôi rủ nhau ra tận nơi sau khi đã xảy ra chiến sự để lượm vỏ đạn. Những vỏ
đạn vàng chóe trên cát trắng nhiều vô kể, nhất là những ụ súng đại liên, trung
liên. Chúng tôi tranh nhau lượm mỗi đứa hằng chục ký. Một hôm đang say sưa nhặt vỏ đạn, nghe mùi
hôi, chúng tôi phát hiện nhiều xác người
sình thối vùi nông dưới cát thòi lòi chân tay lên, ruồi nhặng bu đen. Sợ quá, chúng tôi bỏ chạy một mạch về làng, vất hết vỏ
đạn nhặt được. Thẳng Quy bạn tôi bị ba đánh đau quá ôm đít chạy khắp xóm, ba nó
cầm roi tre đuổi theo. Tiếng roi vút vút nổi gai ốc. Mạ tôi không đánh, chỉ nhìn tôi buồn buồn, bảo: “Con là thóng mắm
đầu giàn của mạ. Con nhớ là cha con chết vì bom đạn”. Từ đó chúng tôi biết sợ, biết thế nào là chết
chóc chiến tranh. Mỗi lần có trận đánh đâu đó, đồng bào lên phố quận mua quan
tài, có khi gánh một đoàn hàng chục cái.
Trâu bò chết vì bom mìn, đạn pháo ngày nào cũng có.
Mạ
nhờ bác Kha và mấy chú hàng xóm làm một căn hầm núp đạn cách nhà chừng
mươi mét đề phòng lúc cháy nhà không bị ngộp.
Căn hầm nhỏ đủ để mạ con trú ẩn, cũng là
nơi tôi trốn xuống đó đọc sách, học bài từ ánh sáng của cửa hầm. Mùi ẩm của đất cho tôi cảm giác lạ, như mình được
tách ra với thế giới bên trên. Nhiều khi tôi nghĩ đến cậu Khản. Cậu tôi theo du
kích, cũng đang ở đâu đó trong một căn hầm bí mật suốt ngày như vậy. Có lần
trong đêm cậu về gõ cửa thức tôi dậy, xoa đầu và dặn dò mạ đừng cho tôi đi xa,
nguy hiểm. Cậu chào mạ con tôi rồi lẩn vào bóng đêm. Hôm sau có ông cảnh sát tên Bá đến nhà hỏi mạ: “ Hồi hôm Việt Cộng về em biết không”.
Mạ bảo có nghe chó sủa nhưng không biết gì. Ông Bá cười, dặn : “Em không nên liên hệ với Việt Cộng, có mệnh hệ gì anh cũng không cứu nỗi”.
Mạ nghiêm mặt bảo lo cho mạ con đủ sống đã đứt hơi rồi, còn đâu mà lo việc khác.
Ông Bá thường lui tới nhà tôi,
khi thì cho lính lợp lại mái
tranh, khi thì tặng mạ xấp vải. Ban đầu mạ không nhận, nhưng với sự kiên nhẫn của
người đàn ông, mạ tôi dần dà xiêu lòng.
Ông Bá có nụ cười dễ mến, trẻ con đứa
nào cũng thích, lại hay cùng tụi tôi tát cá, bẫy chim, đôi khi giải thích cho
chúng tôi về những hiện tượng khoa học. Chúng tôi còn biết ông Bá là bạn cùng lớp
với Thầy Nghiêm thời trung học, họ chào nhau lịch sự nhưng không thân thiện mấy.
Một hôm đi chăn bò, tôi lân la đến
gần một nhóm người đang làm cỏ lúa ngồi
nghỉ trên bờ ruộng. Các cô các bà trong câu chuyện nhắc đến mạ tôi, họ bảo mạ
tôi và ông Bá trước sau cũng lấy nhau. Họ còn nói với tôi là coi chừng mất mạ,
rằng mạ mà lấy chồng tôi sẽ ra đứng đường, ăn xin.
Trời chiều tháng giêng gió bấc thổi
liu riu the thắt, mưa bụi ngược chiều, mặt tôi tê buốt nước mưa và cả nước mắt
nữa. Lạnh và đói, buồn, tôi tấm tức khóc. Tay giữ nón , tay cầm roi tre đưa lên
quệt nước mắt, tôi lững thững lùa bò về.
Đàn bò đi vào đường xóm sình lầy, mùi phân bò lẫn với không khí ẩm thấp, nghe
thấm thía phận mồ côi. Nghĩ đến ngày mạ đi theo ông Bá, tôi đi chăn bò, tối về
ngủ một mình trong căn nhà tranh của mình, tôi khóc òa lên.
Chạng vạng tối, sau khi bò vô chuồng,
tôi không về nhà mình mà ăn cơm nhà bác
Kha. Tôi vờ chào bác về nhưng lại đi
vòng ra phía nghĩa địa rồi quay về phủ rơm kín,
nằm lại trong chuồng bò. Mạ tôi cầm cây đuốc đi tìm khắp xóm, vừa khóc vừa
gọi Đa ơi Đa hời. Tôi nín thinh quyết
không ra mặt. Tôi thù mạ tôi lắm. Nghĩ đến ngày "ra đứng đường" rồi khóc hưng hức, tay nắm chặt, nghiến răng.
Một
đêm thao thức, sáng ra tôi nhớ trong chuồng bò có một mãnh bom nhọn lượm được hôm qua. Tôi lấy đâm mạnh vào cây chuối ngập một nửa mảnh
bom, mủ chuối ứa ra. Tay tôi run lên nghĩ đó là máu từ chân của ông Bá. Tôi
không khóc nữa, nghĩ đến chuyện trả thù.
Tôi lấy bẹ chuối gói mảnh bom lại, chạy về nhà. Mạ ôm chầm tôi khóc. Tôi
xô mạ ra, nhìn thẳng vào mắt bà nói lớn: "Mạ đừng đụng vào con, mạ dơ dáy
lắm''. Linh tính khiến bà hiểu tôi nói gì, hứa sẽ không quan hệ với ông Bá nữa.
Tôi bí mật đem cái mảnh bom dấu vào vách lá.
Một thời gian không thấy ông Bá lại
nhà. Tôi yên tâm sáng đi học, trưa về ăn
cơm nhà bác Kha, chiều đi chăn bò. Mạ
tôi làm cỏ thuê, ăn trưa ở ruộng. Tối về mạ con ôm nhau ngủ. Tôi hạnh phúc lắm,
nghĩ rằng mình sẽ có mạ mãi hoài, không bao giờ ra đứng đường ăn xin như người
ta nói.
Tiếng súng ngày một gần, có lúc
còn nghe tiếng đạn bay veo véo. Những lúc như thế hai mạ con chạy xuống hầm, ban đêm có khi ngủ luôn
trong đó. Mạ nói thì thào vào tai tôi: “Bên tê
lại về, lại sắp chiến tranh rồi con ơi”. Rồi mạ khóc thút thít. Tôi ôm chặt mạ, nghĩ đến người chết nhà cháy
như những lần nghe người lớn nói về thời chiến tranh chống Pháp.
Mùa hè đến. Một tuần chúng tôi không được nghe tiếng
“bịp bịp” của xe Thầy Nghiêm, không được chạy theo Thầy để được hít mùi xăng đã như ghiền, lòng cứ buồn
nhớ mơ hồ điều gì đó. Làng xóm vừa sập tối
là ai ở nhà nấy, đường làng ri rỉ tiếng côn trùng, lập lòe đom đóm.
Tôi ngồi học bài bên ngọn đèn dầu,
mạ ngồi khâu vá hay chải tóc nhìn tôi âu
yếm, lúc đó tôi thấy mạ thật đẹp. Đôi mắt mạ to và buồn buồn, có khi chớp chớp
lúc soi gương. Một tối mạ bảo: “Con dạy
cho mạ học với, chỉ biết đọc biết viết là được. Hồi nhỏ chiến tranh loạn lạc, mạ chỉ học được mấy tháng bình dân học vụ, chữ
nhớ chữ quên, thấy người ta đọc sách báo mà thèm”. Vậy là tôi dạy mạ học vần. Không ngờ mạ học nhanh thế, mới một tháng đã
ghép vần được. Qua mùa hè mạ đã biết viết, dù chữ còn xiên xẹo.
Ngày khai trường gần đến. Tôi phụ mạ
xay lúa. Mạ hò ử ử, giọng nghèn nghẹn
buồn buồn: “ Có mô mà khổ lắm ri, năm ngoái khổ ít năm ni khổ nhiều”.
Tôi biết mạ không khổ vì cơm áo, mạ khổ tâm. Mạ gánh gạo đi bán để sắm áo quần
mới và sách vở cho tôi, còn mua thêm cho mạ một cuốn Quốc Văn Toàn Thư lớp
tư.
Nghe nói năm này Thầy Nghiêm lên
dạy lớp nhất, lớp của tôi. Đám học trò áo quần đồng phục đứng hai bên đường chờ
xe “bịp bịp” của thầy. Tiếng xe ở vùng quê loang rất xa, cách vài cây số đã
nghe thấy. Thường thầy đi qua xóm tôi rất đúng giờ, chúng tôi cứ chờ rồi chạy
theo xe Thầy đến trường là đúng giờ vào
lớp. Nhiều khi còn ngái ngủ, nghe tiếng xe từ xa là tôi choàng tỉnh, ôm cặp chạy
ra đường cũng kịp. Hôm nay có tiếng xe lạ, không phải tiếng xe quen
thuộc lạch tạch của thầy Nghiêm. Một chiếc xe nhà binh chạy qua xóm, trong bụi
mù chúng tôi thấy thầy Nghiêm mặc áo trắng ngồi lẩn vào đám lính đưa tay vẫy vẫy.
Chúng tôi chạy theo đến trường. Thầy xuống
xe với mấy cái va li, chiếc xe đạp, đưa tay chào toán lính ngồi trên xe. Sau khi phủi bụi bám trên áo quần, thầy ra hiệu
chúng tôi xách đồ đạc của thầy vào lớp.
Cả
lớp vào chỗ yên lặng, thầy chậm rãi:
- Xin chào các em. Hôm nay chúng ta bắt đầu một năm học mới, năm học rất
quan trọng. Các em phải cố gắng để có đủ
sức thi vào trường quận. Nhà các em
nghèo, nếu không thi đậu vào trường huyện xem như ở nhà đi cày vì cha mạ các em không đủ tiền
đóng học phí trường tư. Năm nay thầy ở lại
làng với các em vì đường từ đây về nhà thầy mất an ninh. Thầy sẽ kèm những em học lực yếu, trò nào có
điều kiện đến trường vào những thứ bảy chủ nhật, thầy dạy thêm miễn phí.
Cả lớp vỗ tay. Thầy cười rất thân
thiện rồi tiếp:
- Thầy ở lại bên trụ sở xã. Còn việc ăn uống chắc phải nhờ phụ huynh các em. Em
nào nhà ít người, có điều kiện giúp thầy nấu cơm tháng…
Có mấy đứa bạn nhìn về phía tôi. Tay tôi
run run đưa lên như phản xạ. Cả lớp vỗ tay. Thầy hướng về phía tôi:
- Vậy bây giờ em về nói với mạ trưa
và chiều này cho thầy ăn cơm. Mọi chuyện
thầy sẽ bàn với mạ sau. Em về đi.
Tôi xách cặp chạy ra khỏi lớp, lòng
hân hoan lắm. Tôi chạy một mạch về nhà.
Ông Bá và mạ tôi đang ngồi trò chuyện ở bàn giữa. Tôi thở hổn hển nói lớn:
“Mạ đi chợ gấp, trưa nay có thầy đến ăn cơm với nhà mình”. Ông Bá đứng lên chào mạ và tôi. Tôi không
thèm chào trả, nói tiếp: “Nhà không có đàn ông, xin đừng ai đến khi không có
tui ở nhà”. Ông cảnh sát đi rồi tôi còn
nhìn theo, lòng căm hận.
Mạ
quày quả đi chợ. Tôi không trở lại trường, nằm trên sập khóc lặng lẽ. Mạ
về, tôi phụ thổi cơm, nhặt rau, hai mạ
con không nói gì với nhau. Mạ bày lên bàn một mâm cơm tiêm tất, bảo: “Để thầy ăn riêng, xong mạ con mình ăn sau”. Tôi
không trả lời, ra ngõ đứng chờ thầy.
Thầy dừng xe đạp vào nhà, giọng thân mật: “Chào chị và cháu Đa. Sao chỉ có một cái chén, phải
dùng chung với nhau cho thân mật. Tôi cám ơn chị đã nhận lời giúp tôi. Tôi sẽ gửi tiền trước
cho chị, có trở ngại chi không”. Mạ tôi lí nhí cảm ơn Thầy, “Mời thầy dùng cơm,
mạ con tôi ăn sau”. Thầy nhất quyết bảo phải ăn chung mới được.
Mạ
ngồi đối diện thầy, tôi ngồi phía trong cùng ăn cơm. Thầy hỏi thăm công việc, sinh hoạt hằng ngày.
Biết tôi buổi chiều đi chăn bò thầy bảo: “Em coi chừng đừng đi lên rú, mìn nhiều lắm”.
Mấy tháng qua thật mau. Tôi hảnh diện
với bạn bè vì trưa nào thầy cũng đèo tôi
về trên xe đạp.Thầy và mạ đã thân mật tự nhiên hơn. Có lúc Thầy cho mạ mượn
sách để đọc, giải thích cho mạ những từ mạ chưa hiểu. Thầy khen mạ ngày đọc
sách càng nhanh, không còn đánh vần nữa. Buổi tối tôi học bài, mạ ngồi đối diện
đọc sách. Tối đó mạ lật sách của thầy vừa cho mượn hồi trưa ra đọc. Có lá thư
rơi xuống bàn, mạ cầm vội lên, tay run run nhét bì thư lại trong tập sách. Tôi
linh cảm có điều gì đó thật xúc động từ mắt mạ. Rồi mạ cúi xuống, hai tay bịt mặt
, tóc phủ lên tập sách, vai run lên như
đang khóc. Mạ ngồi như vậy thật lâu, thở
dài bảo: “Con đi ngủ đi, khuya rồi”.
Tôi vào giường, nằm nghiêng giả đò ngủ. Qua bức màn hé tôi quan sát mạ
đang gỡ bức thư ra, môi mấp máy đọc, có
khi nhíu mày lại. Thư của ông Bá hay thầy
Nghiêm mà mắt mạ rạng rỡ thế, lại cười mím môi, gấp thư lại ôm vào ngực.
Mạ nhẹ nhàng vào giường nằm bên
tôi. Cả đêm tôi không ngủ được, mạ thì cứ trở mình, thở dài. Mạ hôn lên trán tôi, nước
mắt tôi ứa ra, hoang mang không biết mình khóc vì thương hay giận mạ.
Cuối tháng chạp. Thầy Nghiêm quá giang xe nhà binh về nhà ăn tết. Thầy gửi
lại chiếc xe đạp, tôi được dịp xách xe ra đường xóm tập đi. Té lên té xuống mấy
lần rồi cũng đi được. Tôi đạp xe lòng vòng đường xóm oai lắm, mấy đứa bạn nhìn
thòm thèm. Tụi nó đẩy xe chạy, tôi ngồi trên yên, hai chân để lên sườn xe, miệng
làm còi tin tin, không phải đạp.
Những bữa cơm không có thầy nhạt nhẽo làm sao. Mạ hỏi ngày nào học lại, tôi thưa mồng bảy tết.
Đêm giao thừa có vài nhà trong làng đốt pháo, tiếp theo là tiếng trung
liên từng tràng của dân vệ trong trụ sở xã, những vệt đạn lửa vẽ lên trời thật
vui mắt. Xa xa phía làng ngoại cũng có tiếng súng tiểu liên , mạ bảo đó là tiếng súng của du kích, họ cũng
mừng xuân. Tôi lại nghĩ đến cậu Khản, không chừng chính cậu ấy bắn cũng nên.
Người đầu tiên đến xông đất nhà tôi
lại là ông Bá. Ngày tết người ta phải bỏ
qua hận thù để cả năm vui vẽ, tôi cũng
thế. Tôi lễ phép chào khách, rót nước và lấy mứt ra mời. Ông Bá xoa đầu tôi khen ngoan rồi lì xì cho tôi một
phong bì. Tôi đang phân vân thì mạ bảo: “Đầu năm được lì xì sớm là hên cả năm,
con nhận đi ”. Tôi nhận rồi cúi đầu cám ơn.
Tôi lui vườn sau, mở phong bì ra
xem. Tay tôi run lên, không ngờ ông Bá lì xì tới hai trăm đồng, số tiền tương
đương mấy thùng lúa, bằngcả mấy tháng
tôi đi chăn bò. Tờ giấy bạc có hình Nguyễn Huệ này tôi chỉ thấy một đôi lần.
Tôi ngồi xuống bên gốc chuối suy nghĩ lung lắm. Ông này mua chuộc mình chăng.
Đem trả lại thì tiếc, nhận thì… Tôi nghĩ đến ngày mất mạ, khóc tấm tức, nhìn lên mấy tổ chim dòng dọc trên cao, chúng
nó bay đâu hết chỉ còn những chiếc tổ đòng đưa buồn bạn. Mai rồi ngôi nhà tranh
ấm cúng của mạ con tôi cũng hoang vắng buồn như những tổ chim kia, khi mạ tôi
theo ông Bá, khi tôi đi ở đợ chăn bò hay lên phố quận “đứng đường”. Tôi khóc òa
lên, cầm phong bì chạy vào nhà. Tôi để phong bì lên bàn trước sự ngạc nhiên của
mạ và ông Bá rồi chạy nhanh ra ngõ. Tôi cứ chạy về phía làng ngoại tôi, nơi có
cậu Khản và bà ngoại, nơi lũy tre mù mù cuối cánh đồng.
Bà ngoại ở một mình trong khu vườn bên bờ sông nhỏ. Nhà vắng hoe, trên bàn thờ cây nhang còn
cháy, tàn rụng xuống đầy cả mấy bát nhang. Chắc ngoại thắp nhang cả đêm giao thừa. Ảnh thờ và bát nhang ông ngoại ở giữa, mặc áo
cháo chè bịt khăn đóng, nghe nói ông ngoại là thất phẩm triều đình. Bên phải ảnh là cậu cả mặc bà ba đen, nghe mạ
kể cậu đi Vệ Quốc Đoàn, mất trước khi
đình chiến. Bên trái là ảnh của cậu Ba mặc đồ nhà binh có mang lon chuẩn
úy, mới mất năm ngoái ở đâu trong Nam. Hằng
tháng ngoại vẫn lên quận nhận lương tử tuất của cậu Ba, về ghé nhà tôi thường
mua nhiều quà bánh cho cháu cưng. Ngoại
chưa có đứa cháu nội nào nên thương quý tôi lắm. Mỗi hè về nhà ngoại tha hồ leo
cây hái khế hái ổi. Mấy năm nay làng ngoại hay xảy ra chiến sự giữa quân đội
hai bên. Nhà ngoại cháy mấy lần mà ngoại không chết, bà con dựng lại cho ngoại
một túp lều đủ để đặt bàn thờ và chiếc giường tre. Mạ không cho tôi về bên ngoại
vì sợ bom đạn, khi nào nhớ con cháu ngoại chống gậy sang thăm.
Tôi kêu lớn ngoại ơi. Có tiếng ngoại vọng lại từ nhà hàng xóm:
“Đứa mô đó, thằng Đa phải không.” Tôi đón ngoại đầu ngõ. Ngoại xoa đầu bảo: “Cha mạ mi, tết nhứt về thăm ngoại
là phải. Tau định mai qua thăm mạ con
mi.” Tôi quàng lưng ngoại đi vào nhà, không nói được lời nào, khóc tức tưởi. Tôi
kể trong tiếng nấc về chuyện của mạ. Rằng mạ mê ông Bá, rằng mạ… Tôi còn bịa ra
thêm những chuyện không có để kể khổ với ngoại.
Tôi theo ngoại ngược đường bạn trở
về nhà. Ông Bá về lúc nào không hay, mạ vẫn ngồi chỗ cũ bất động, đầu gục xuống bàn. Tôi níu tay
ngoại lo sợ một điều mơ hồ quá tầm suy nghĩ của mình. Mạ ngước lên, mắt dàn dụa
nước. Ngoại đến bên quàng vai mạ hỏi
“chuyện chi rứa con”. Mạ khóc òa lên, ôm ngoại nức nỡ: “Con khổ lắm mạ ơi, có
ai hiểu cho con. Mạ quá con côi, bên này hờn bên tê dỗi. Thằng Khản không hiểu
con, thằng Đa cũng rứa, hu hu”. Rồi quay qua tôi mạ tiếp: “Chừ con muốn chi mạ
chiều, nhưng phải rõ ràng. Mạ không muốn con vô phép với người ta, nhất là ông ủy
viên cảnh sát ở đây. Con còn nhỏ, mai mốt
lớn lên con sẽ hiểu, sợ lúc đó không còn mạ nữa để con xin lỗi”. Tôi đứng trân
nhìn mạ, không hiểu hết câu mạ nói nhưng
vẫn tin mạ thành thật với tôi. Tôi nói lớn: “Con xin lỗi mạ. Nhưng nếu mạ
thương ông Bá thì con bỏ nhà đi theo cậu Khản, con sẽ giết ông Bá.”
Ngoại hết nhìn mạ lại quay nhìn
tôi. Đôi mắt thất thần của ngoại trắng dã, liếc qua liếc lại, nửa như muốn phân
xử, nửa như tuyệt vọng. sau này tôi chưa bao giờ thấy một đôi mắt như thế, để hỏi
rằng, đôi mắt đó nói chi, hay chỉ trong
hoàn cảnh thời đó mới có những đôi mắt lạ lùng như thế. Đó là đôi mắt cõi âm, lại
muốn sống với cõi dương, hòa giải cho con cho cháu, không cần ai thắng ai thua.
Cậu Ba, cậu Cả , cậu Khản…đứa nào cũng
con ngoại.
Những ngày tết qua đi buồn bã. Mạ và tôi
ít nói chuyện với nhau. Tôi cứ mong ngóng Thầy Nghiêm, chỉ có Thầy là tất
cả.
Bữa cơm đầu xuân với Thầy Nghiêm có gà
bóp rau răm, giò heo nấu măng và bánh tét chiên. Mạ có vẻ không khỏe,
hơi buồn. Mạ cười gượng gạo, không hồn nhiên như “năm ngoái”. Thầy hỏi tết có
chi vui không, mạ bảo buồn. Thầy hỏi mạ
có biết đánh bài tới không, mạ bảo biết mà không ai đánh. Thầy nói với tôi , “em đi chăn bò đi, chút nữa
Thầy về”.
Tôi lùa bò ra đồng. Đồng lúa thì con gái dưới nắng chiều xuân rộn ràng
như lòng tôi: Mạ và Thầy đang nói chuyện
đầu xuân. Tôi tưởng tượng ra nhiều câu nói hay của loài người, mĩm cười với bầy bò. Bầy bò cũng tỏ ra ngoan
với tôi, gặm cỏ.
Nhá nhem tối, tôi cố tình về muộn để thầy với mạ nói chuyện. Hai người
vui là tôi vui.
Người chào tôi đầu ngõ không phải
là thầy Nghiêm mà là ông Bá. Tôi lầm bầm đi vào nhà. Tôi tỏ ra không thèm ăn uống gì, giả đò đau bụng. Tôi
trùm mền nghĩ đến điều bất trắc, cho tôi, cho cả mạ. Không khí làng xóm hôm nay
nặng nề từ lúc tôi lùa bò về, như báo trước với tôi những điều đau xót.
Xóm làng chìm trong tối tăm, xa xa vọng về từ trường sơn những tiếng bom
rùng rùng như sấm đất. Những tháng gần đây thỉnh thoảng có những trận công đồn vào quận lỵ hay những
trụ sở xã. Làng tôi có mấy người chết trận đem xác về. Những tiếng phèn la, tiếng
sanh hòa với tiếng khóc buồn thê thiết.
Chúng tôi thường im lặng đi theo đám âm công lầm lụi gánh quan tài ra nghĩa địa,
để đến lúc hạ huyệt ném vào đó nắm đất thay lời tiễn biệt.
Mạ nằm xuống bên tôi hỏi, “Con ăn cháo không mạ nấu cho.” Tôi nằm im như chết. Tôi sẽ chết
như cha tôi, như các cậu tôi. Chết như là một dấu chấm hết trong một bài luận
văn thầy Nghiêm dạy.
Có
tiếng gõ cửa nhẹ. Mạ nhanh nhưng nhẹ nhàng. Trong bóng đêm tôi nghe
ngóng cách xử sự của mạ. Tôi nằm im, chờ.
Mạ đi cửa trước ra sân. Tôi nhớ đến mảnh bom được dấu nơi vách lá, chỉ cần
mò vào là có ngay. Tôi nhẹ như mèo, tôi khôn lanh như thằng chăn bò. Mảnh
bom trong tay tôi lạnh ngắt. Phen này mày phải chết nghe chưa, lão Bá.
Tôi lẻn ra bằng lối cửa sau, bò vòng ra phía trước, tay cầm chặt mảnh
bom. Trời tối đen, tôi định thần nhìn kỷ những thân chuối như hình người dang
tay lúc lắc, lờ mờ. Có hai người ôm nhau? Tôi căng mắt lên, không, đó chỉ là
hai thân chuối. Kiến cắn đau điếng, tôi nghiến răng bất lực nhìn sâu vào bóng
đêm. Không nghe tiếng người, chỉ tiếng lào xào của gió thổi qua vườn. Mạ tôi
theo ai đi đâu, hay trốn cùng ông Bá nơi bí ẩn nào trong vườn, ngoài xóm. Hai người đang làm gì với nhau. Tôi muốn kêu lên, la lên thật lớn bớ bà con,
hay là khóc to lên cho mạ tôi nghe mà quay về với tôi. Vậy mà tôi vẫn nín
thinh. Hình như ai đó mách bảo tôi, như đôi mắt mờ đục của ngoại, như lời năn nỉ
của mạ khiến tôi bò trở lại, vào nhà. Tôi tự an ủi, biết đâu mạ hẹn với thầy
Nghiêm cũng nên, hay là cậu Khản về giao cho mạ việc gì đó bí mật. Tôi leo lên giường, tay thả lõng mảnh bom,
nhìn lên trần nhà âm u đen thẳm. Tôi ấm ức khóc. Tôi đánh đố với chính tiếng nấc
của mình, mong manh giữa hy vọng và tuyệt vọng, rồi ngủ thiếp đi. Mạ kéo giật tay tôi cùng lúc những tiếng nổ lớn từ hướng trụ sở xã. Ánh chớp hắt vào nhà
cùng những tiếng ầm ào liên hồi lẫn trong từng tràng súng máy. Mạ kéo tôi chui
xuống hầm. Hai mạ con ôm chặt nhau run rẫy. Mạ nói thì thào vào tai tôi, “Đúng
là họ tấn công trụ sở xã rồi con ơi”. Tôi lo lắng “không biết thầy Nghiêm có
sao không”. Mạ lại bảo: “Cả cậu Khản và ông Bá đều là người thân của mạ con
mình, lạy ơn trên cho tai qua nạn khỏi”. Tôi nhắm mắt lại tưởng tượng đôi mắt
đen to như con gái của cậu Khản, nụ cười dễ mến của ông Bá đang nhìn tôi cười
trìu mến. Lúc này tôi chỉ mong tiếng súng dừng lại như trò chơi đánh trận giã,
đừng có ai thương vong và mau kết thúc.
Tiếng súng im đi một lúc. Có tiếng
người rù rì cùng tiếng lách cách của vũ
khí chạm vào nhau đi dọc đường xóm về phía cánh đồng. Mạ bảo “họ rút đi rồi đó”.
Bỗng những tiếng hú rùng rợn của
pháo từ quận lỵ bắn về, qua cửa hầm, ánh
chớp và những tiếng nổ đính tai dập mạ vào tôi, dập tôi vào mạ. Mạ ôm chặt tôi, đè tôi xuống bảo “Nằm yên,
nhà mình cháy rồi”. Tôi nghe tiếng heo kêu ré lên như bị chọc tiết. Lẫn trong
mùi khét có mùi gì thơm như cốm rang, chắc sập lúa của tôi cũng đang cháy.
Trời sáng hẳn, qua cửa hầm những
đám khói xanh bay chậm, tiếng lách tách từ nhà tôi đang cháy. Tiếng bác Kha kêu
lên: “ Mạ con Đa lên đi, yên rồi”. Mạ cùng tôi bò lên hầm, không gian như sáng
ra hơn vì nhà tôi chỉ còn là đống tro nghi ngút khói. Bác Kha kể:
“Nghe nói cả hai bên chết nhiều lắm,
hai người bác biết rõ là Thầy Nghiêm và ông Bá đều chết. Có một xác không toàn
thây, bà con bảo có thể là xác cậu Khản”.
Mạ
tôi quỳ xuống, mắt trợn trừng trắng dã, hai tay quờ quào đàng trước như
đang với bắt gì đó.
Bốn mươi mấy năm qua bà con gia nương ai cũng xem mạ tôi là phụ nữ gương mẫu, thủ tiết thờ chồng nuôi con. Riêng tôi mỗi lần
nghĩ đến chuyện cũ là ân hận lắm. Mấy năm lại đây mạ đau yếu luôn nằm bệnh viện. Một lần lục tủ mạ tìm hồ sơ bệnh án tôi bắt gặp
hai tấm hình đã nhòe ố của Thầy Nghiêm và ông Bá. Tôi lặng lẽ đem đi phục hồi rồi
lồng kính để vào bên dưới di ảnh của cha
tôi. Ra viện về nhà thấy hai bức ảnh tươi rói đang cười, mạ khóc òa sụp xuống lạy.
Mạ quỳ như ngày xưa, hai tay cũng chới với
bơi về phía trước.
Ngày mạ tôi sắp vĩnh biệt cõi đời,
hai tay bà cũng quơ quàng như thế. Dì
tôi bảo trước khi lìa đời con người thường có động tác “bắt bóng”, bàn tay yếu ớt hươ qua lại
như vẫy tìm ai đó. Tôi ước mong rằng mạ
sẽ gặp cả ba người ở thế giới bên kia.
&&&
(1) Thời trước năm 1968 ở miền Nam,
lớp học được gọi từ lớp 1 đến lớp 5 là: Năm, tư, ba, nhì, nhất.
Nguyễn Đặng Mừng