Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, September 25, 2026

TƯỞNG NHỚ BẠN XƯA: NHỚ ANH TRẦN VĂN LỮ - Đỗ Tư Nhơn



TƯỞNG NHỚ BẠN XƯA:

 NHỚ ANH TRẦN VĂN LỮ 

ĐỖ TƯ NHƠN

 

Mỗi khi tưởng nhớ những người bạn trân quý một thời dưới mái trường trung học Nguyễn Hoàng Quảng Trị đã sớm lìa cõi tạm về chốn vĩnh hằng, lòng tôi không tránh khỏi bồi hồi xúc động. Điều đó khiến tôi tìm lại trong ký ức từng khuôn mặt,dáng hình, mượng tượng từng cử chỉ, nụ cười…nhằm phác thảo bức chân dung tinh thần của bằng hữu.Tôi đã thắp nén tâm hương mỗi độ xuân về để thương tiếc các anh Phan Phụng Thạch, Trần Thương Bá, Đặng Sĩ Tịnh, Trần Đình Bé trong từng giai phẩm Hương Quê Nhà (SG) đặc san Nguyễn Hoàng (Huế) . 

Giờ đây, cùng với những trang Di cảo của anh Trần Văn Lữ ,do người em trai là Trần Thiện Tài công bố ,tôi xin gợi lại đôi nét về anh Trần Văn Lữ (tức Thạch). Anh sinh năm 1942, xuất thân trong một gia đình nhà giáo, quê nội ở làng Quảng Lượng, Triệu Phong, Quảng Trị.Thân mẫu của anh thuộc dòng tộc lớn của làng Thạch Hãn. Khu vườn nhà anh rộng rãi với cây trái sum suê nằm cạnh con đường thẳng tắp ,hai bên là những bức tường gạch dài, chiếc cổng bằng gỗ thường khép kín của một đại điền chủ giàu có. Con đường này rất đẹp, ban đêm mùi hoa dạ lan hương từ các sân vườn tỏa ra thơm ngát,phảng phất trên mái tóc những cô gái, chàng trai từng bước chân chầm chậm thầm thì câu chuyện trăng sao. Những anh em họ Đoàn có truyền thống học giỏi,mấy chị em họ Trần hiền thục duyên dáng đáng yêu cùng từ con đường này đến trường Nguyễn Hoàng. Gần đây, con đường này được mang tên của ngôi làng xưa, có biển đề Thạch Hãn, một chứng tích lưu giữ hồn quê giữa phố thị. Hồi đó, tôi học sau anh Trần Văn Lữ hai lớp nên chưa quen anh, chỉ biết cô em gái Dạ Hương ngày ngày đi học cùng các bạn. Anh theo học ở Viện Hán học- Huế khóa 1960-1965, đồng thời với Lý Văn Nghiên, Hoàng Đằng, Trần Văn Dật. Lúc mới ra trường, anh dạy ở trung học Quảng Phước, Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên, năm 1969 thuyên chuyển về Nguyễn Hoàng. 

Năm 1970, tôi về dạy cùng trường, kết bạn với anh và Phan Phụng Thạch.Tính anh rất hiền lành và khiêm tốn, trên môi thường nở nụ cười, bạn bè và học sinh rất thương mến. Hằng ngày anh đi qua con đường trước ngõ nhà tôi để đến trường. Chúng tôi trao đổi cho nhau những sáng tác, các tài liệu văn học, tham gia Đặc san Xuân 1971, Hội mùa xuân 1972. Ngoài ra, với bút danh Trần Lãng Tử, anh đã góp mặt trên tạp chí Chim Việt do anh Hồ Thế Vĩnh chủ biên. Còn nhớ những ngày chuẩn bị giai phẩm HỘI MÙA XUÂN (HMX), chúng tôi đã chia nhau đọc bài của học sinh gửi đến thật phong phú, đa dạng. Các thầy cô Phạm Sữu, Phan Phụng Thạch, Trần Văn Lữ, Văn Chương, Trần Kiêm Đoàn, Võ Thị Hồng, Nguyễn Thiện…đã viết bài và giúp trưởng ban biên tập rất nhiều để chọn lựa những tinh hoa đưa vào vườn thơ văn HMX, đó là những ngòi bút tài năng đầy triễn vọng như Nguyễn Tùng, Thái Đào, Võ Thị Quỳnh, Nguyễn Đặng Mừng,Võ Văn Hoa, Đỗ Huy Sanh, Hoàng Văn Chẫm…mà đến nay ít nhiều đã khẳng định được vóc dáng của mình qua tác phẩm. Bên cạnh các đồng nghiệp, anh Trần Văn Lữ gởi đăng bài “Mùa xuân, hoa đào và ông đồ già trong thơ Vũ Đình Liên" Hãy lần giở giai phẩm H M X của 52 năm trước để nghe thầy giáo văn chương bình thơ thật tâm huyết :

‘’Nho học dần dần được thay thế bằng Tây học…Người ta quên “ông đồ”, trời đất dường như ngậm ngùi cho nhân thế. Vũ Đình Liên lại bày tỏ niềm thương cảm đầy bâng khuâng,lưu luyến ,băn khoăn về “ cái di tích tiều tụy đáng thương một thời tàn” (Hoài Thanh- Thi nhân VN ).

"Năm nay hoa đào nở

Không thấy ông đồ xưa

Những người muôn năm cũ

Hồn ở đâu bây giờ? ‘’

Từ "Ông đồ già” của Vũ Đình Liên, anh Trần Văn Lữ đã liên tưởng tới những người đồng nghiệp trong sự cảm thông sâu sắc và ngậm ngùi xót xa: “Ngày nay, trong những năm dài chinh chiến, nhiều vị giáo viên, giáo sư đã âm thầm nằm xuống sau những năm tháng đem hết sức, tâm huyết giảng huấn, truyền đạt, hy sinh. Có người chết ngay cả khi đang làm “sứ mệnh” giảng dạy. Họ chết đi, không hiểu linh hồn họ có được thảnh thơi siêu thoát hay còn dật dờ đây đó buồn thương, chán ngán cho thế sự nhân tâm, "Hồn ở đâu bây giờ".  Họ đã chết đi để cho những mầm non do họ chăm sóc, lo lắng,uốn nắn từng ngày,từng giờ sẽ sống vươn cao nơi xứ mình, xứ người."

Cuối cùng là điều băn khoăn day dứt từ tâm khảm của thầy Trần Văn Lữ vô cùng chân thành thiết tha,nói hộ cho đồng nghiệp muôn đời.

"Có còn ai nghĩ tưởng về những vị ân sư trẻ trung hay già nữa không đây?!"

Tấm lòng đối với thầy cô NH năm xưa đã được các cựu học sinh thể hiện trong cuộc sống,trên trang viết tri ân thắm đậm tình nghĩa thầy trò của báo Nguyễn Hoàng khắp nơi.Xin quý thầy cô, anh chị yên lòng về truyền thống nhân văn cao đẹp ấy của đại gia đình mang tên Chúa Tiên.

Năm 1972, sau hội mùa xuân rộn ràng diễn ra trên sân trường Nguyễn Hoàng,lửa đạn chiến tranh đã ập vào Quảng Trị,người dân bỏ quê vượt đèo Hải Vân tỵ nạn,thầy trò bỏ lại ngôi trường thân yêu.Lúc này, hai địa điểm tạm thời để học sinh tiếp tục trau dồi kiến thức là trại tạm cư Hòa Khánh và Non Nước, thuộc Đà Nẵng. Làm sao diễn tả hết nỗi lòng của con người Quảng Trị khi nhìn về quê nhà xa xôi đang bị bom đạn cày xới. Không thể vô tư,nhà thơ Trần Lãng Tử,ngày đêm bồn chồn tiếc nhớ từng con đường,hàng cây,giáo đường, ngôi chùa quán ca fe ,góc chợ ,hiệu sách,dòng sông,bến nước,cây cầu … Trong Di cảo của anh Trần Văn Lữ có hai bài viết dạng tùy bút-hồi ký bây giờ chúng ta đọc lại vẫn không tránh được niềm xúc động dâng lên trong lòng ! Trước tiên, hãy cùng thưởng thức bài tản văn có nhan đề "Thương về Quảng Trị" được viết vào tháng 7-1972 , sau ba tháng lìa xa quê nhà. Này đây hãy lắng nghe dòng cảm xúc tuôn trào trong từng câu chữ ,để cùng ôn lại những hình ảnh, nơi chốn, kỷ niệm một thời dấu yêu:

"Thế là tôi xa xứ Quảng thân yêu ba tháng trời. Quảng Trị giờ đây mờ mịt lửa đạn.Đêm đêm nhìn về hướng Bắc xa xôi , tôi nghe nhiều nhớ thương dâng tràn.‘’…

‘’ Con đường Quang Trung thẳng tắp trong tháng ngày qua,mưa về sũng nước nhưng sao láng lẫy thế! Còn đâu những ngày đi ngang qua giáo đường Thạch Hãn ,nhìn hàng cây bàng khoác áo màu xanh đầy hy vọng vươn cao….Nào đâu những chiều ngồi trong quán Văn,quán Quyên, quán Gió…thả hồn trong khói thuốc. Bún tai mụ Dư trong đình chợ,bún cô Ba, bún Nông Tín ngon thật là ngon khi chiều chiều ghé lại… Tìm đâu những lúc đứng ở quán sách Tùng Sơn, Lương Giang…

"Con đường, quán chợ,dòng sông,bến nước,chiếc cầu,cái gì cũng quá quý , cầu cho nó được còn mãi. Quảng Trị nho nhỏ như một chiếc áo ấm, nhưng nó che chở ta tháng ngày qua trong giá lạnh.

"Con sông Thạch Hãn nước vơi đầy, rồi lần mùa mưa lũ đến, nước đục ngầu lềnh bềnh củi rều… Khi mùa hạ về, nó trải lòng cho người ta chiêm ngưỡng. Lòng dân người Quảng Trị cũng chân chất như dòng sông Thạch Hãn trong mùa nước cạn.

"Nhà thờ La Vang, chùa Sư Nữ, hết rồi những ngày đại hội, rằm mồng một. Chắc giờ đây chỉ là đống gạch vụn vì chinh chiến.‘’

Đó là một bài tùy bút có giọng văn ngọt ngào,thấm đẫm tình yêu quê nhà, dẫn chúng ta về với thị xã Quảng Trị xưa thân thuộc đang quằn quại đau xót giữa bom đạn mịt mù! Ước mong được trở về Quảng Trị luôn cháy bỏng trong tâm hồn mọi người con của Non Mai, Sông Hãn,trở thành điệp khúc nguyện cầu thiêng liêng tha thiết trong từng câu văn ngân vang trong không gian,trong tâm hồn mọi người :

"Mong sao được trở về Quảng Trị sớm để nhìn lại thành phố thân yêu ,mảnh vườn xanh lá cây ,nương chè, lũy tre, ruộng lúa, chiếc cầu ao loáng nước, mồ mả cha ông.

Bà con xóm giềng còn bị kẹt, con chó quấn quit bên nhà không hiểu ra sao ?...

Quảng Trị ơi, ta chờ mong ngày trở về…Ta sẽ trở về cúi hôn mặt đất xứ Quảng của ta.Từng kỷ niệm sống động trong ta khắc khoải từng ngày từng giờ nếu còn xa Quảng Trị. Nguyễn Hoàng, Bồ Đề, Thánh Tâm, Phước Môn…hay chờ dân Quảng Trị về xây dựng lại.

Quảng Trị ơi, muôn người đang rưng rưng lệ nhớ thương về người.‘’

Bên cạnh con người nặng tình với quê hương,còn có một con người luôn gắn bó thân thiết với bạn bè.Cho nên khi cùng vào ở trại tạm cư Đà Nẵng, anh Phan Phụng Thạch đã viết ‘ Bài thơ làm khi say rượu ‘ đề tặng nhóm bạn chí thân,anh chọn hình ảnh anh Trần Văn Lữ để khắc họa đầu tiên vì đã hiểu rõ nhau,chia sẻ cùng nhau những buồn vui trong phận người :

"Buổi tối tiêu sầu-chai rượu đắng/Tri âm !Này hãy uống cho say

‘’Lỡ mai có chết- không ân hận,/ Vì đã ngồi chung một chiếu này !

"Thằng bạn chưa già nhưng tóc bạc/ Bụng đầy Kinh Lễ với Kinh Thư

"Chuyện đời hư ảo xin mày gác/ Không lẽ mày là Ngũ Tử Tư?"

Mấy câu thơ trên đã giới thiệu khá rõ nét về người bạn với lối so sánh có chút đùa tếu khi nhắc đến “bụng đầy Kinh Lễ với Kinh Thư”. “Không lẽ mày là Ngũ Tử Tư?” Bởi anh Trần Văn Lữ xuất thân từ Viện Hán học, kiến thức về Nho giáo, sách sử xưa phong phú.Thêm vào đó là giống nhân vật Ngũ Tử Tư: “Một đêm suy nghĩ tóc bạc trắng!’’

Đây là nhóm bạn tham gia Hội Hồng Thập Tự, làm công tác xã hội từ thiện giúp nhân dân các vùng bị thiên tai,bom đạn, cho nên như anh em ruột thịt một nhà. Trong những ngày sống trong trại tạm cư Đà Nẵng,căn bệnh ác tính của anh Phan Phụng Thạch đến hồi trầm trọng,bạn bè cùng gia đình thay nhau săn sóc cho đến khi anh từ trần.Trong đó, anh Trần Văn Lữ ,Lê Lợi là bằng hữu luôn ở bên cạnh nhà thơ họ Phan,cho nên anh đã ghi lại những giây phút cuối cùng của GS Phan Phụng Thạch và đọc tại Lễ tưởng niệm một năm nhà thơ Phan Phụng Thạch về cõi thiên thu gồm gia đình,nhà trường,thân hữu,đại diện học sinh.( Tôi được phân công giới thiệu thơ PPT) .Trên tờ giấy A.4 gấp hai,viết trọn bốn mặt anh Phan Ngọc Bích (em trai PPT) trao cho tôi là bút tích của anh Trần Văn Lữ kể lại từng chi tiết cuối cùng ở Bệnh viện Việt Đức của người bạn họ Phan ,có đoạn như sau :

"Rạng ngày thứ bảy 24-2-1973, độ 4-5 giờ sáng, chúng tôi tự nhiên thấy bồn chồn xao xuyến.Từ trại Hòa Long, chúng tôi đi bộ lên trại 5 để rủ Lợi qua anh.Cũng vừa khi đó, một thân nhân của anh sang tin cho hay là anh đang hấp hối.Chúng tôi qua đến nơi thì anh đã yếu lắm.Thở đã cách khoảng. Đôi mắt đã trăng trắng và kéo sụp mi nhiều. Đêm qua anh đã chuyện trò cùng thân mẫu anh,không nói ra được nên anh đã lấy sổ ra để bút đàm cùng bà. Nghẹn ngào đau đớn, anh trút hơi thở cuối cùng lúc 7 giờ 25.Tiếng khóc của thân mẫu anh làm chúng tôi se thắt .Bào đệ của anh, Lợi và tôi cũng không cầm được sự xúc cảm tột cùng. Sau đó trên chiếc xe HTT của bệnh viện Đức thân mấu anh và tôi đưa thi hài anh về trại 5.Ngồi trên xe giữ chiếc băng ca tự nhiên nước mắt tuôn trào…’’

Trong lễ truy điệu nhà thơ Phan Phụng Thạch, cùng với bạn bè viết điếu văn, khóc bạn, anh Trần Văn Lữ nghẹn ngào đọc bài thơ Tiếc thương: 

“Đại dương, sóng vỗ xôn xao/ Thạch ơi mầy chết biết bao đau buồn

Mây trời vẫn cứ bay luôn/ Bóng mầy đâu nữa những hôm chuyện trò

Nhạc còn huệ vẫn thơm tho/ Trà đây rượu đó nào giờ cụng ly…

Lá bay bay mãi im lìm / Mầy đi, đi biệt như chim tách đàn.

Hết rồi giây phút liên hoan / Yêu đời nghe hát dư vang đêm nào."

Bài thơ thể 6/8 dung dị, ngôn ngữ xưng hô thân mật, không khách sáo, hình ảnh gần gũi đã thể hiện tình bạn chân thành, sự tiếc thương vô hạn, nỗi mất mát lớn lao!

Để hiểu thêm tấm lòng của anh đối với bạn, chúng ta đọc hồi ký của anh Hoàng Đằng đăng trong Đặc san 60 NĂM NGUYỄN HOÀNG (- 2012): “Trần Văn Lữ rất quan tâm đến bằng hữu. Năm 1974, biết tin tôi sẽ đi vào Sở Học chánh Bình Tuy,Trần Văn Lữ đã sốt sắng tìm tôi trao lá thư giới thiệu với anh Nguyễn Như Lộc, nguyên Hiệu trưởng trường Quảng Phước mới vào nhận chức Chánh sự vụ sở này. Trần Văn Lữ hy vọng nơi đất khách quê người tôi sẽ có người che chở. Sau đó ít lâu, Trần Văn Lữ qua đời. Đến bây giờ, mỗi lần nghe nhắc đến tên Trần Văn Lữ, tim tôi lại rung động,mắt tôi lại rươm rướm! “

Nhìn lại bức chân dung tinh thần của anh hiện lên qua lời kể, cùng trang văn, câu thơ còn lại, chúng ta đều hiểu được tâm hồn anh giàu tình nghĩa, đa cảm, thật đáng trân trọng, mến yêu!

. Nhưng chắc không ít bằng hữu và học sinh cũ cảm thấy thiếu sót nếu bài viết này không nói đến một góc nhỏ của tình yêu trong thơ Trần Lãng Tử .Qua mấy lần giới thiệu thơ Trần Thương Bá, Phan Phụng Thạch, Triệu Phong, Đặng Sĩ Tịnh, chúng tôi đã cùng xao xuyến với nhiều cung bậc,giai âm của ái tình. Nhưng lần nầy lại khác. Có chút ái ngại khi nói về niềm đau,nỗi buồn,xót xa trong tận cùng của tâm hồn người bạn khả kính cam chịu trong éo le của tình duyên. Tuy khá thân tình nhưng tôi cũng tránh né,không hỏi han chuyện riêng tư tế nhị của bạn. Hôm nay, đọc những bài thơ của anh - Trần Lãng Tử trên Chân dung và Kỷ niệm, chúng ta sẽ mở cánh cửa lâu nay khép chặt đó để cảm thông và chia sẻ những nỗi niềm sâu kín cùng anh. Đây là những bài thơ có lẽ được sáng tác sau khi Chúa Trời đã xua đuổi anh ra khỏi căn vườn mang tên Hạnh Phúc vào năm 1969 . Những câu hát đâu đây còn vọng lại: "Em đang tâm xé nát tim tôi…’’ như lời trong Niệm khúc cuối của Ngô Thụy Miên. Anh sáng tác bài LỜI NÀY CHO EM‘ trong thời gian bi kịch tình yêu đang gây bão tố quay cuồng. Hai khổ thơ hiện ra sự đối lập giữa hạnh phúc êm ấm với tan vỡ chia xa, nhưng giọng điệu dường như vẫn du dương vì tác giả dùng nhiều từ có thanh bằng. Bốn câu đầu là kỷ niệm đẹp, tháng ngày tay trong tay, tình nồng lên khơi:

‘’Qua bao tháng ngày / Trong đôi vai gầy /Tình ơi lên khơi/Trong đôi tay này.

Lại diễn ra sự khác biệt,mâu thuẫn giữa thiên nhiên bên ngoài với nội tâm nhà thơ.,nắng ấm không sưởi được cõi lòng giá lạnh cô đơn vì đột nhiên bị xa cách ngàn trùng :

‘’Nắng lên khắp trời/Nắng lên chơi vơi/Nhưng tôi vẫn gào:Tôi xa em rồi.Tiếp theo tiếng gào thảng thốt đó là trạng thái tâm lý điên dại vì đau khổ trước nghịch cảnh phũ phàng,tan nát bao thề nguyền.

Câu thơ cuồng nộ như không thể chịu đựng được nữa: ‘’Xé nát mặt trời/Xé cả mặt trăng/Xé luôn thân nàng/ Lòng không ăn năn"

Giờ đây nhà thơ họ Trần đã về cõi vĩnh hằng nhưng còn gởi lại những câu thơ ám ảnh day dứt về nỗi cô đơn trống trải trên dương thế để tìm sự đồng cảm và sẻ chia:

‘’Chết rồi thịt nát xương tan /Hồn bơ vơ nữa ai hàn huyên đây ? ‘ ‘

Sống mãi trong lẻ loi, nhà thơ Lãng Tử đã tìm đến cõi mộng như một liệu pháp,một cách hóa giải nỗi đau buồn nhức nhối không nguôi của những người bị tình phụ. Trong bài MỘNG gồm có 6 đoản khúc, như từng trang nhật ký để mình đối thoại với mình,thầm thì an ủi chính bản thân…

"Nhớ nhung mộng mới trở về/ Tỉnh ra mộng biến não nề tấm thân!

"Nhớ em dẫn mộng vào đêm/ Cuộc đời qua mãi như rèm chiêm bao.’’

‘’Ngủ say mộng lén vào hồn/Niềm vui phủ mắt ,Dậy buồn tâm tư’’

‘’Trở mình- đêm lạnh- mộng nhiều/ Uước mơ- xa cách-bao điều em ơi

‘’Người đây hồn lạc về đâu/ Gieo bao nhung nhớ u sầu mộng tan.’’

‘’Nghĩ đời kể cũng nực cười/ Đêm đêm là mộng, ngày rời mộng thôi!

Đến đây, chúng ta liên tưởng đến câu chuyện tình giữa Hàn Mặc Tử và người đẹp Mộng Cầm,với bao lần hẹn hò,say đắm,gắn bó thiết tha thế nhưng kết cục thật buồn.Khi biết nhà thơ họ Hàn bị bệnh nan y,nàng đành đoạn tình,bước lên xe hoa để cho họ Hàn đau khổ khôn nguôi có lúc tự nhủ ‘’Làm sao giết được người trong mộng,để trả thù duyên kiếp phụ phàng ! “”Nhưng khi lòng lắng xuống,hồn thơ trở nên dịu dàng chịu đựng ông viết bài Những giọt lệ :

‘’Họ đã xa rồi khôn níu lại /Tình thương chưa đã mến chưa bưa

Người đi một nửa hồn tôi mất, Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ!

Và: Dãu đau đớn vì điều phụ rẫy/ Nhưng mà ta không lấy làm điều

(Muôn năm sầu thảm)

Bản tính anh Trần Văn Lữ vốn hiền lành,thương người,cam chịu cho nên tuy những cơn đau trong lòng có khi khiến anh muốn gào thét xé nát cả vũ trụ nhưng cũng như Hàn thi sĩ anh tìm được sự cân bằng nhờ thi ca và cuộc sống.Anh góp phần vào sự nghiệp khai nguồn trí tuệ cho thế hệ trẻ,vỗ về an ủi người dân bị thiên tai,bom đạn qua hoạt động từ thiện cùng bạn bè.Năm 1973 anh khóc thương tiễn nhà thơ Phan Phụng Thạch về nơi an nghỉ cuối cùng trên đồi cát trắng Non Nước,thì năm sau gia[1]đình, đồng nghiệp và học trò lại đưa anh đến chỗ nằm bên cạnh bạn thân bao ngày gắn bó. Một thời gian sau,hài cốt của hai anh về với làng quê của mình bên tổ tiên. Trong dịp cùng thầy Nguyễn Văn Thị về Bồ Bản thăm mộ thầy Lê Đình Ngân , chúng tôi đã ghé Quảng Lượng thắp hương cho anh trong khu nghĩa trang của gia đình. Hiện nay,anh Trần Thiện Tài cho biết gần đây đã cải táng toàn bộ các phần mộ nội thân về Nha Trang.Tôi thầm hứa sẽ vào viếng anh trong một ngày thuận tiện không xa.Mong anh tha thứ cho tôi vì đã chạm vào vết thương của những ngày tháng dương gian xa xưa ấy !

Viết tại làng Thạch Hãn cuối xuân Giáp Ngọ. 2014

Thắp nén tâm hương tưởng nhớ anh Trần Văn Lữ 50 năm xa đời.

ĐỖ TƯ NHƠN

.


READ MORE - TƯỞNG NHỚ BẠN XƯA: NHỚ ANH TRẦN VĂN LỮ - Đỗ Tư Nhơn

TÌM VỀ - Thơ: Đặng Xuân Xuyến

 


TÌM VỀ

.

Gã ngược miền ký ức 

Tìm về tuổi đôi mươi 

Tim rộn ràng náo nức 

Gọi đò ơi... ơi... ời.. 

.

Nghe như tiếng ai cười 

Khuấy sông xưa ngơ ngác 

Gã trai làng lưu lạc 

Nén thở dài rất sâu. 

.

Ừ, đời là nương dâu 

Ừ, đời là bể khổ 

Đã vấp nhiều bão tố 

Nụ cười còn trinh nguyên.

.

Nhớ. Nhớ bao là chuyện

Thuở tắm sông, thả diều

Ngợp bến xưa vàng nắng

Nhịp hò reo rộn chiều.

.

Kìa như ai đang tới

Tiếng cười vang góc trời

Gã hòa vào mây trắng

Thả hồn cùng chơi vơi.

*.

Làng Đá, sáng 18 tháng 9/2026

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

 

READ MORE - TÌM VỀ - Thơ: Đặng Xuân Xuyến

CHÙM THƠ NGUYỄN ĐƯC TÙNG: Mẹ / Mặt trời nguội đi / Hãy để chim chóc làm đầy bầu trời

Tác giả Nguyễn Đức Tùng


Mẹ

Mẹ đã tám mươi
Người nhỏ lại
Hét lớn bên tai
Mẹ chỉ nghe rì rào gió thổi

Phá vỡ im lặng
Mẹ thu mình lên cây nhãn
Giữa những cái trứng
Của chim họa mi

Khi mẹ đi xa rồi
Mọi người trong nhà vẫn còn lớn tiếng


Mặt trời nguội đi

Mặt trời nguội đi
Trái đất giá lạnh
Loài người văn minh dời đến một nơi xa

Một hành tinh bên kia các thiên hà
Nơi ánh sáng mất hai triệu năm để tới
Các nhà khoa học thế giới
Tìm cách đi xuyên qua lỗ sâu
Như cách các con sâu xuyên qua một trái táo
Táo bạo vượt qua
Giới hạn của tốc độ ánh sáng
Đưa nhân loại đến vùng đất mới
Có không khí và nước

Họ mang đi trước các thiên tài
Các giống lúa
Và các nghệ sĩ ưu tú
Họ mang theo những đứa trẻ ngậm vú mẹ
Những đứa trẻ thông minh
Và cả những đứa chậm chạp
Họ mang đi hết những người già, những người tàn tật
Các nhà tu hành, và các nhà cách mạng
Nhưng họ đành bỏ lại
Các giấy tờ lộn xộn
Những diễn văn hỗn độn
Những hồi ký chiến tranh
Họ đành bỏ lại
Những bức thư tình
Chưa kịp dán tem
Họ đành bỏ lại các phiên tòa lem nhem
Giấy nợ nhà
Bill điện thoại

Họ đành bỏ lại
Bến đò chiều mưa
Nụ hôn bên bờ liễu
Họ đành bỏ lại
Chỗ ngồi của anh và em
Dưới cội cam vàng.


Hãy để chim chóc làm đầy bầu trời

                                Tặng Du Tử Lê


hãy để chim chóc làm đầy bầu trời
hãy để muối
làm đầy môi chúng ta hãy để bông hoa
đứng thẳng lên
khi trên màn hình
một thường dân bị bắn hạ
hãy để chiều rơi
xuống mí mắt mệt mỏi, hãy hỏi
đường ở rễ cây, hãy để mưa bôi
xóa khuôn mặt anh ngoài cửa kính
hãy để kẻ tử tù
trốn thoát qua mái nhà hãy để hắn
nhảy xuống một sân ga, khi tàu vừa chuyển bánh
hãy săn đuổi cái chết như phóng viên nhiếp ảnh
hãy để mắt em hiu quạnh trong
mắt anh, hãy để ong bay
trên váy hoa góa bụa
hãy để bữa ăn sáng dọn ra như bữa
ăn cuối cùng của bạn
hãy để những gì bạn để lại phía sau là tất cả
những gì bạn có thể mang theo
được, hãy bay đi thật xa
nếu chúng ta còn nhớ đường về
hãy chờ anh
ở chỗ dòng sông nước chảy chậm
hãy để chiếc lá
chẻ đôi
sự giận dữ của chúng ta
trước cuộc đời
hung
hãn
này
hãy
gõ cửa
chiều mưa
như người láng giềng
để mất
chiếc bật lửa.

(SH283/09-12)

Nguyễn Đức Tùng

ductungducnguyen@gmail.com

READ MORE - CHÙM THƠ NGUYỄN ĐƯC TÙNG: Mẹ / Mặt trời nguội đi / Hãy để chim chóc làm đầy bầu trời

ĐẾN VỚI BÀI THƠ HAY: “RƯỢU ĐÊM NAY” CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN - Trịnh Thị Nhâm

Tác giả Trịnh Thị Nhâm


 

ĐẾN VỚI BÀI THƠ HAY: 

“RƯỢU ĐÊM NAY” CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN 

* 

RƯỢU ĐÊM NAY, nhân vật trữ tình uống cùng một người đàn bà, họ không hề xa lạ với nhau, hoặc giả đã từng có thời bên nhau rồi rời xa, nay gặp lại trong một đêm cùng chén rượu. Anh say thật hay cố say để quên đi sự đời u uất nhức nhối trầm luân, và sống động hơn là người đàn bà xưa đang bên cạnh, trước mặt mình trong hoàn cảnh không mong muốn:

 

"Người ở lại bên ta ngồi châm tửu

Dìu ta say quên bớt oái oăm đời

Quên "cười ruồi - mắt đĩ - và cơn đau"

Cả nham nhở niềm tin vừa vá vội"

 

"Quên" ư? Anh đang hận, anh đang cười khẩy cho phận mình và nhân vật nữ là bạn anh, đang cố làm cho cả hai đều vui, nhưng vui sao được trong nỗi gượng gạo bẽ bàng, và trong ánh mắt vằn những tia u ám của anh. Tôi tin là thế. Cả hai cùng đau hay chỉ có anh đau và thương người còn lại có thể đã dạn dĩ, đã "sạn sỏi" với niềm đau. Viết tới đây, tôi đặc biệt bị ám ảnh bởi câu thơ: "Chén rượu đấy, rót rồi, cứ uống". Tôi hình dung rõ rệt khuôn mặt, cử chỉ của người đàn bà lúc ấy: dè dặt, bối rối, e ngại, ngượng ngập, len lén, cảm thấy vị thế của mình thấp kém, phải cúi mình, không dám ngẩng cao đầu. Nên chén rượu rót rồi mà không dám chạm tới, thật tái tê day dứt. Bởi vậy, nhân vật nam phải lên tiếng: "Chén rượu đấy, rót rồi, cứ uống". Ta quay trở lại với nhân vật trữ tình xưng "ta". Anh muốn đắm chìm trong cơn "say yêu" trong lữ quán, nhưng anh đau, đắng đót, trong sự u uẩn cố "lừa" mình ngay cả trong cơn khát dục tình, thật xót xa cay đắng:

 

"Nước mắt đan đốt tê dại đêm cuồng

Đắp nụ cười nghẹn đắng lằn môi

Nuốt lấy nhau gán niềm tin tráo đổi".

 

Ở khổ thơ tiếp theo với giọng thơ chứa đựng sự day dứt, vật vã, đầy thương cảm, trách nhiệm, pha chút mặc cảm và nhân văn, khi cho rằng: vì một lẽ nào đó, có liên quan đến mình mà người đàn bà ngồi đây trước kia "lành lặn" trong sạch, giờ bị xô đẩy vào chốn mưu sinh "đèn mờ" phải hứng chịu sự xỉ vả, khinh bỉ của người đời:

 

"Ta vẫn biết đêm cuồng xô sóng dội

Người vì ta dạn dĩ chốn quần hồng

Xác thân phàm bầm dập những bỉ bôi

Phận lá liễu tả tơi vì gánh tội"

 

Và rồi để bù đắp những ân tình trong quá khứ đã mất, anh mong muốn cùng nàng một đêm "chồng vợ". Đó là khát vọng ân ái nâng đỡ nhau, tôn trọng nhau trong cảm xúc yêu đương đến tột cùng. Tôi cho rằng đó là sự tử tế rất nhân văn trong hoàn cảnh cuộc sống hiện tại của nhân vật nữ trong bài.

 

Bài thơ thật ám gợi với cảm xúc tận trong gan ruột của nhà thơ.

 

Thi sĩ Đặng Xuân Xuyến có biệt tài khơi mạch nguồn cảm xúc về thơ tình. Thơ tình của anh mang dấu ấn riêng: đắm say, bạo liệt, cuồng dâng, tận hiến, nhưng cũng đầy đớn đau. Đọc thơ mà tôi thấy quặn thắt, và muốn khóc! Có lẽ bài thơ đã " nhập đồng" vào tôi đấy thi sĩ!!!

 

------------

 

RƯỢU ĐÊM NAY 

- với M.Q - 

 

Người ở lại bên ta ngồi châm tửu

Dìu ta say quên bớt oái oăm đời

Quên "cười ruồi - mắt đĩ - và cơn đau"

Cả nham nhở niềm tin vừa vá vội.

 

.

 

Chén rượu đấy, rót rồi, cứ uống

Nước mắt đan đốt tê dại đêm cuồng

Đắp nụ cười nghẹn đắng lằn môi

Nuốt lấy nhau gán niềm tin tráo đổi..

 

Ta vẫn biết đêm cuồng xô sóng dội

Người vì ta dạn dĩ chốn quần hồng

Xác thân phàm bầm dập những bỉ bôi

Phận lá liễu tả tơi vì gánh tội..

 

Ta sẽ dám trọn đêm nay chồng vợ

Cho mồ hôi rịn chặt với mồ hôi

Cho hơi thở mơn man dìu hơi thở

Cho bỏng đêm cuộn từng cột sóng trào.

*.

 

Làng Đá, đêm 28 tháng 12/2023 

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

 

P/S: Bài thơ được in trong tạp chí VĂN HỌC MỚI số 29 trang 297 do nhà thơ Hà Nguyên Du thực hiện. Phát hành tháng 1/2024 qua hệ thống Amazon.

 

*.

 

Hạ Long, 01 tháng 02/2024

 

TRỊNH THỊ NHÂM 

Thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 

Email: trinhnham52@gmail.com

 

.

READ MORE - ĐẾN VỚI BÀI THƠ HAY: “RƯỢU ĐÊM NAY” CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN - Trịnh Thị Nhâm

CHÙM THƠ LƯU LÃNG KHÁCH: Tặng bé Tết Trung Thu / Tuổi thơ tôi / Thương tuổi thơ xưa

 




TẶNG BÉ TẾT TRUNG THU


Lại một Trung Thu nữa đến gần

Nhiều con trẻ náo nức trên sân

Nhìn sâu ánh mắt từng em bé

Mỉm miệng cười theo những bước chân

Ơ sao bé khóc bên thềm vắng

Bé lẽ nào không có trống đèn

Lẽ nào bé tựa ta ngày ấy

Bố mẹ nghèo không đủ khả năng

Ô kìa! Bé nữa cười hay mếu

Chách cụp đoàn lân đã đến rồi

 Tuổi thơ sao khó hân hoan nhỉ!

Vẫn trầm trong ánh mắt xa xôi

Con ta hai đứa vừa bay nhảy

Theo đoàn lân trước có đang vui?

Bé ơi! Lân đến sao ngồi khóc

Chớ để lòng ta luống ngậm ngùi

Chớ để một thời thơ ấu đó

Đói nghèo trong khói lửa điêu linh

Bé ơi! Hãy đến, này ta bảo

Nhìn có vui không có thích không

Tay cầm trống cóc, không cài áo

Bé gật đầu! Ta- bé ấm lòng.

          Trung Thu 1995

          Lưu Lãng Khách



TUỔI THƠ TÔI

Ai cũng có một thời thiếu nhi

Một thuở tuổi thơ hồn nhiên bé dại

Ngỡ trăng sao trên trời dễ hái

Cuộc đời dài trang cổ tích dân gian

Tuổi thơ tôi là những ngày khói lửa

Là những đêm pháo kích kinh hoàng

Là đạn bom buổi đến trường lệ ứa

Chiều tản cư buồn mắt mẹ chứa chan

Vẫn cánh diều vút cao hè lộng gió

Dù đứt dây vì chạy giặc đôi lần

Vẫn đánh trổng bắn bi thả vụ

Chơi năm mười đuổi bắt trên sân

Vẫn đồng bãi trên lưng bò huýt sáo

Đùa trên sông mây gió ngọt lời ru

Vẫn dồng dộc ổ già xinh quyến rũ

Vẫn tưng bừng trong những tối trung thu

Giờ nhớ lại tuổi thơ mắm muối

Giữa đất trời, thương thế hệ cháu con

Dẫu đầy đủ vui Tết vui lễ hội

Khung trời chiều sao rạng ánh trăng non.

                           30/05/2013

                          Lưu Lãng Khách



THƯƠNG TUỔI THƠ XƯA


Nhớ thuở tuổi chừng dăm bảy

Mỗi lần đến Tết Trung Thu

Anh cùng trẻ làng nhún nhảy

Đèn lồng trống cóc vi vu

Chạy khắp làng trên xóm dưới

Chị Hằng rạng rỡ sáng soi

Trống lân tùng tùng chách cụp

Em thơ mẹ bế cũng đòi

Chẳng chê ông sao bánh ú

Cha cho vui biết bao mùa

Tết nọ phố- đèn – quyến rũ

Anh thèm- Cha chẳng tiền mua

Anh mùa không chơi Tết nữa

Cha buồn xin lỗi con thơ

Không đòi sao cha lại hứa!

Anh nằm vui Tết trong mơ

Khi anh làm cha vẫn thế

Nhìn trong ánh mắt con khờ

Anh thấy mình thời thơ bé

Lẽ nào con cũng vui mơ

Khi áo cơm ngày no đủ

Đàn con khôn lớn cả rồi

Trăng Thu từ quê lên phố

Nghe chừng đã quá xa xôi

Giờ nơi phồn hoa đô hội

Ngược về ký ức tuổi thơ

Thương cha thương mình quá đỗi

Con ơi! Buồn đến bao giờ.


Mùa TRUNG THU 2024

Lưu Lãng Khách

 



READ MORE - CHÙM THƠ LƯU LÃNG KHÁCH: Tặng bé Tết Trung Thu / Tuổi thơ tôi / Thương tuổi thơ xưa

Thursday, September 24, 2026

BEHIND THE VEIL / SAU TẤM MẠNG CHE MẶT - Đồng tác giả: Thi Lan Anh Tran, Germany & Musharraf Hussain, India

 


Behind the Veil 

Co-Authors: 

Thi Lan Anh Tran, Aschaffenburg, Germany

& Musharraf Hussain, Assam, India 

 

You hide the crescent of your face behind the veil,

And let your eyes speak words no lips could tell.

Amid the desert vast, beneath the burning sun,

I lose myself in emerald pools—two eyes as one. 

 

The veil does not conceal the beauty that you bear;

It turns your hidden loveliness to dreams suspended there.

Each glance becomes a tale that words can never say,

Each silence holds a story waiting for the day. 

 

I need not see your face in all its tender grace,

For in your eyes alone, my heart has found its place.

Some beauty grows more wondrous, wrapped in mystery,

When kept in secret clouds for one heart's eyes to see. 

 

And should the wind one day, with careless fingers, play

Upon the gentle veil that veils your face away,

Let your eyes remain behind, serene and softly bright—

Like the last star in heaven that will not fade from sight. 

 

And if they ask me when my love first found its way,

What moment in this mortal world began that day,

I'll say: the moment when your eyes looked down at me—

Behind the veil, I dreamed, and dreamed eternally. 

 

© 2026 Thi Lan Anh Tran & Musharraf Hussain

All rights reserved 

 

 

Sau tấm mạng che mặt

Co-Authors: 

Thi Lan Anh Tran, Aschaffenburg, Germany

& Musharraf Hussain, Assam, India

  

Em giấu nửa vầng trăng sau lớp vải,

Để đôi mắt còn lại nói thay lời.

Giữa sa mạc mênh mang màu nắng cháy,

Anh lạc vào hai hồ nước xanh ngời.

  

Tấm mạng ấy không che đi vẻ đẹp,

Chỉ khiến dung nhan hóa một giấc mơ.

Mỗi ánh mắt, một điều chưa nói hết,

Mỗi im lặng, một câu chuyện đợi chờ.

  

Anh chẳng cần nhìn thấy em trọn vẹn,

Bởi đôi mắt đã đủ khiến tim say.

Có những nét đẹp càng thêm huyền bí

Khi được giữ riêng sau một làn mây.

  

Nếu một ngày gió vô tình lay nhẹ

Tấm mạng mềm trên gương mặt dịu dàng,

Xin hãy để đôi mắt em ở lại—

Như vì sao cuối trời chẳng chịu tàn.

  

Và nếu hỏi tình yêu anh bắt đầu

Từ khoảnh khắc nào giữa cõi nhân gian,

Anh sẽ nói: từ đôi mắt em nhìn xuống,

Sau tấm mạng che, anh mãi mơ màng. 

 

 

© 2026 Thi Lan Anh Tran & Musharraf Hussain

All rights reserved

READ MORE - BEHIND THE VEIL / SAU TẤM MẠNG CHE MẶT - Đồng tác giả: Thi Lan Anh Tran, Germany & Musharraf Hussain, India

Tuesday, September 22, 2026

BĂN KHOĂN - Thơ Trần Hữu Thuần

     


Băn Khoăn

Thơ Trần Hữu Thuần

 

Thu sang, vàng cuộn tơ trời.

Nghe trong sương lạnh đau lời thở than,

Heo may buốt thấu tâm can,

Thời gian là nhớ, không gian là chờ.

 

Thôi thì thôi, lỡ đôi bờ,

Thêm chi hờ hững, hững hờ chi nhau,

Một đau, hai cũng là đau,

Là chua, là xót, thêm câu lạnh lùng.

 

Còn không một chút nhớ nhung,

Hay như sương khói mông lung bãi ngoài?

Ai thương ai, ai nhớ ai,

Ai còn thổn thức, ai hoài vấn vương?

 

Thu rơi lá úa ven đường,

Tình như lá úa còn vương nỗi gì,

Lỡ tình si, lỡ tình si,

Lỡ thì đành lỡ, khắc ghi chữ tình.

 

Băn khoăn mãi một bóng hình.

 

(Grand Rapids, Michigan 20 th 9, 2026)

Trần Hữu Thuần

jbtranthuan@hotmail.com

 

 

 

 

 

 

 

 

READ MORE - BĂN KHOĂN - Thơ Trần Hữu Thuần