Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Thursday, September 17, 2026

PHÊ BÌNH VĂN HỌC - MỘT CUỘC TRÒ CHUYỆN GIỮA NHỮNG TÂM HỒN - Hoàng Thị Bích Hà

 *Tôi từng bị quạu, khi hỏi về tiểu sử của một tác giả. Đó là một trong những tình huống đã gặp khi bước vào cái nghiệp khó nhằn này. Âu cũng vì đam mê, hay vì trời đày, tôi cũng chẳng biết nữa!

 


 Và tôi bỗng tìm thấy một tiếng nói đồng điệu với vị tiền bối cách xa hơn nửa thế kỷ.

 

Tôi đến với phê bình văn học bằng một tình yêu khá đặc biệt. Tôi mê nhận định tác phẩm, thích lần tìm những tầng nghĩa ẩn sau một câu thơ, một hình ảnh, một chi tiết văn chương: thích đi từ cái đẹp của câu chữ để chạm đến những điều sâu xa hơn trong tâm hồn người viết. Nhưng càng bước vào địa hạt này, tôi càng nhận ra một điều: phê bình văn học vốn là một miền đất khô khan, nặng về lý thuyết, nơi những khái niệm hàn lâm đôi khi khiến người đọc đứng ngoài cánh cửa tác phẩm.


Có lẽ vì thế, ngay từ những bước đầu tiên, tôi đã tự đặt cho mình một câu hỏi: Liệu có thể viết phê bình mà không làm mất đi hơi ấm của đời sống? Và tôi nghĩ là có.


Với tôi, phê bình, hay nói gần gũi hơn là nhận định tác phẩm, không chỉ là mổ xẻ câu chữ bằng những công thức lạnh lùng, càng không phải là cuộc trình diễn của những thuật ngữ. Phê bình văn học trước hết phải là một hành trình đi tìm con người phía sau tác phẩm. Đằng sau một câu thơ buồn có thể là một cuộc đời nhiều mất mát. Đằng sau một trang văn gai góc có thể là một tâm hồn từng chịu nhiều va đập. Và đôi khi, muốn hiểu một tác phẩm, ta cần biết người viết đã sống như thế nào, đã yêu thương, đau khổ, hy vọng và đi qua những biến cố gì.


Bởi vậy, trong những bài viết của mình, tôi thường cố gắng đưa chất đời vào trang phê bình.


Tôi quan tâm đến tiểu sử của tác giả, đến quê hương, gia đình, môi trường sống, những mối quan hệ, những biến động lịch sử và cả hoàn cảnh ra đời của tác phẩm. Không phải để biến một bài phê bình thành một bản tiểu sử, mà bởi tôi tin rằng văn chương bao giờ cũng có một mạch nguồn từ đời sống.


Hiểu được mạch nguồn ấy, đôi khi ta sẽ hiểu sâu hơn vì sao một hình ảnh xuất hiện, vì sao một nỗi buồn trở đi trở lại, vì sao một câu chữ tưởng như bình thường lại mang sức ám ảnh đến vậy.


Tôi thường nghĩ: muốn hiểu một giọt nước mắt trong thơ, trước hết phải biết người viết đã từng khóc vì điều gì.


Tất nhiên, hoàn cảnh sáng tác không thể thay thế cho việc phân tích tác phẩm. Một tác phẩm hay không chỉ vì cuộc đời tác giả có nhiều biến động. Văn chương còn là nghệ thuật của ngôn từ, của cấu trúc, hình tượng, nhịp điệu, giọng điệu và những sáng tạo riêng của người cầm bút. Vì thế, với tôi, hoàn cảnh sống và tác phẩm phải soi chiếu lẫn nhau. Đời sống giúp mở cánh cửa bước vào tác phẩm; còn tác phẩm giúp ta nhìn lại đời sống bằng một chiều sâu khác.


Có lẽ vì quan niệm ấy nên tôi thường không muốn bắt đầu bài viết bằng những định nghĩa nặng về lý thuyết. Tôi thích mở đầu bằng một câu chuyện, một kỷ niệm, một hình ảnh đời thường, đôi khi chỉ là một thoáng tâm tình. Từ cái gần gũi ấy, tôi dẫn người đọc từng bước đi vào khám phá tác phẩm.


Tôi muốn người đọc có cảm giác mình đang cùng tôi trò chuyện hơn là đang nghe một bài nhận định phê bình văn học. Rồi từ câu chuyện ấy, cánh cửa văn chương dần mở ra. Ta gặp tác giả trong thế giới riêng của họ: lắng nghe những rung động, những day dứt, những niềm vui và nỗi đau được gửi vào từng câu chữ. Từ đó, việc phân tích nội dung, nghệ thuật, hình tượng, ngôn ngữ hay thông điệp nhân sinh không còn là những thao tác tách rời mà trở thành một dòng chảy tự nhiên.


Tôi gọi đó là sự mềm hóa lý thuyết. Tri thức và nền tảng luận điểm là bắt buộc, nhưng chỉ thực sự chạm đến người đọc khi được chuyển hóa bằng thứ ngôn ngữ biết rung động. Phê bình, sau cùng, không phải đứng bên ngoài để phán xét, mà là bước vào thế giới của tác giả để lắng nghe và sẻ chia.


Một nhận định dù đúng đến đâu mà chỉ khiến người đọc cảm thấy xa cách thì vẫn chưa hoàn thành trọn vẹn sứ mệnh của phê bình. Tôi muốn những điều dẫu có chút hàn lâm khi đi qua trang viết của mình sẽ trở nên mềm hơn, gần hơn, dễ đọc hơn, nhưng không vì thế mà thiếu đi chiều sâu.

  

VÀ RỒI TÔI GẶP TRẦN THANH MẠI


Khi nghiên cứu về nhà văn, nhà phê bình văn học Trần Thanh Mại (1908-1965), tôi như tìm thấy một tri âm cách biệt hơn nửa thế kỷ. Ở ông, tôi không chỉ gặp một nhà nghiên cứu đi trước, mà bắt gặp một cách nhìn văn chương thân thuộc đến kỳ lạ, nơi phê bình là cuộc đối thoại ấm áp giữa tri thức và cảm xúc, giữa văn bản và đời sống.


Điều ấy đến với tôi khá ngẫu nhiên. Tôi không hề biết trước rằng khi đi sâu nghiên cứu Trần Thanh Mại, mình lại bắt gặp ở ông những điều mà bản thân cũng đang âm thầm theo đuổi trong cách viết. Càng đọc, càng tìm hiểu, tôi càng thấy khoảng cách thời gian: gần sáu mươi năm bỗng trở nên rất ngắn. Tôi có cảm giác mình đang ngồi lại với một người tiền bối, đọc những trang viết của ông, lặng lẽ trò chuyện và tìm thấy ở đó những điều mình cũng đang trăn trở. Đó là một cảm giác rất khó gọi tên. Có lẽ trong văn chương, sự đồng điệu không nhất thiết phải đến từ cùng thời đại. Một người có thể sống trước ta hàng chục năm, thậm chí hàng thế kỷ, nhưng nếu giữa hai tâm hồn có một sự đồng điệu, họ vẫn có thể trở thành tri âm.


Ông đến với tác phẩm không chỉ bằng con mắt của một người khảo cứu mà còn bằng sự nhạy cảm của một người hiểu đời, hiểu người. Những trang viết của ông khiến tôi nhận ra rằng phê bình hoàn toàn có thể là một cuộc đối thoại giữa tri thức và cảm xúc, giữa văn bản và cuộc đời.


Vì thế, tôi càng tin rằng phê bình văn học không phải là đứng bên ngoài tác phẩm để phán xét tác phẩm. Phê bình là bước vào thế giới của người viết, cố gắng hiểu họ, rồi từ sự thấu hiểu ấy mà nhận định.


Tôi muốn người đọc sau khi đọc một bài phê bình không chỉ biết thêm một tác phẩm hay một tác giả, mà còn cảm thấy mình vừa gặp một con người. Có thể đó là một con người đã sống cách chúng ta rất xa, nhưng những vui buồn, khát vọng, cô đơn và tình yêu của họ vẫn có thể chạm đến chúng ta hôm nay.


Tôi không nghĩ mình đã tìm ra một phương pháp phê bình hoàn chỉnh. Tôi chỉ đang đi tìm một cách viết phù hợp với mình: có kiến văn nhưng không lạnh lùng, có lý luận nhưng không nặng nề, có phân tích nhưng không đánh mất cảm xúc, có học thuật nhưng vẫn giữ được hơi thở của đời sống.


Bởi sau cùng, văn chương được sinh ra từ con người và trở về với con người.


Còn phê bình, nếu may mắn, có thể trở thành chiếc cầu nối giữa hai phía ấy. Một phía là người đã viết. Một phía là người hôm nay đang đọc. Và ở giữa hai bờ thời gian, người viết phê bình chỉ là kẻ lữ hành lặng lẽ, nhưng trong tim luôn giữ hơi ấm của sự đồng cảm. Để khi đọc một câu thơ, ta không chỉ hỏi: “Nó hay ở đâu?” Mà còn muốn biết: Vì sao một con người lại viết ra được những câu chữ ấy?


Có lẽ, từ câu hỏi đó, hành trình đi vào thế giới văn chương mới thực sự bắt đầu.


Dù phải mò mẫm vất vả, dù đánh đổi nhiều thứ, tôi vẫn yêu công việc mình đang làm!


Saigon, ngày 18/8/2026

Hoàng Thị Bích Hà

 

READ MORE - PHÊ BÌNH VĂN HỌC - MỘT CUỘC TRÒ CHUYỆN GIỮA NHỮNG TÂM HỒN - Hoàng Thị Bích Hà

ĐÊM ĐỌC "ĐIỀU MINH GIẢN" - Thơ: Nguyễn Bá Trình

 



 Đêm đọc Điều minh giản

 

 Đêm đọc Điều minh giản

 Dạ lan thoảng ngoài hiên

 Suối ngàn xưa thôi vọng

 Gió không lùa liếp phên

 

 Giữa kỳ quan yên tĩnh

 Chim giật mình kêu đêm

 Chợt nhìn ra cửa sổ

 Ô kìa trăng đang lên       

 

 &&&


Chú thích từ  vi.wikisource

https://vi.wikisource.org/wiki/%C4%90i%E1%BB%83u_minh_gi%E1%BA%A3n

 

Điểu minh giản - 鳥鳴澗

của Vương Duy, do Ngô Tất Tố dịch

 

Nguyên văn chữ Hán     

 

人閒桂花落,

夜靜春山空。

月出驚山鳥,

時鳴春澗中。

 

Phiên âm Hán Việt

 

Nhân nhàn quế hoa lạc,

Dạ tĩnh xuân sơn không.

Nguyệt xuất kinh sơn điểu,

Thời minh xuân giản trung.

 

Dịch nghĩa

 

Người nhàn nhã, hoa quế rụng,

Đêm thanh tĩnh, ngọn núi mùa xuân yên.

Trăng nhô lên làm kinh động loài chim núi,

Ở trong khe núi xuân, hót vang lên.

 

Bản dịch của Ngô Tất Tố

 

Người nhàn hoa quế nhẹ rơi,

Đêm xuân lặng ngắt trái đồi vắng tanh.

Trăng lên, chim núi giật mình,

Tiếng kêu thủng thẳng đưa quanh khe đồi.

READ MORE - ĐÊM ĐỌC "ĐIỀU MINH GIẢN" - Thơ: Nguyễn Bá Trình

CHU VƯƠNG MIỆN VÀ THƠ VỀ XỨ QUẢNG - Huỳnh Văn Hoa



Một số tác phẩm của nhà thơ Chu Vương Miện.


Chu Vương Miện và thơ về xứ Quảng

Huỳnh Văn Hoa

 

Chu Vương Miện tên thật Nguyễn Văn Thưởng, bút hiệu khác Phương Hoa Sử, sinh năm 1941 tại làng Phục Lễ, huyện Thủy Nguyên, tỉnh Kiến An (cũ), nay thuộc thành phố Hải Phòng. Theo gia đình vào Nam năm 1954. Thuở nhỏ, học ờ trường dòng Saint Joseph. Theo bố mẹ, sống ở Thanh Chiêm (nay là xã Điện Phương, Thị xã Điện Bàn), rồi vào Dốc Sỏi (Huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam), đến Châu Ổ (huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi), học Trung học Trần Quốc Tuấn - Quảng Ngãi. Ra Đà Nẵng, học Trung học bán công Nguyễn Công Trứ, rồi chuyển ra học Trung học Nguyễn Hoàng - Quảng Trị. Chu Vương Miện gắn bó với xứ Quảng, cả thơ và đời (vợ là người quê huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam). Ông có thơ đăng trên các báo, tạp chí: Thời Nay, Bách Khoa, Tiền Phong, Quần Chúng, Thái Độ, Văn Học, Văn, Khởi Hành,... Ông là tác giả của các tập thơ, trường ca: Đêm đen hai mươi tuổi, thơ, 1964; Tiếng hát Việt Nam, thơ, 1965; Trường ca Việt Nam, thơ, 1967; Lời phản kháng, thơ, 1967; Phía mặt trời mọc, thơ, 1968.

 

***

 

Thơ Chu Vương Miện, như những dòng thơ cuối cùng của bài thơ Đá buồn đỉnh núi, ký bút hiệu Phương Hoa Sử[1]: Một chút nắng hắt vào hồn tê dại/ Mai anh có thành đá buồn đỉnh núi/ Chút mây chiều cũng lãng đãng bay đi.

 

Chu Vương Miện mang một ít phù sa của sông Hồng, chất tài hoa của đồng bằng Bắc bộ, cộng với chút nắng gió của sông Trà, sông Hàn, sông Thạch Hãn,... qua năm tháng, cuộn chảy thành những khúc thức thơ ca trong văn chương Việt những năm 60, 70. Sự hòa quyện đó, khiến Cao Thế Dung trong Văn học hiện đại - Thi ca và thi nhân, đánh giá khá cao về tài năng thi ca, đã viết: "Tài không đợi tuổi. Có người suốt đời làm văn nghệ để cuối cùng cũng không được một chút gì sự nghiệp. Vậy thì địa vị trong văn học không tùy thuộc vào yếu tố thời gian và kinh nghiệm... Với ý nghĩa này, chúng tôi nhận định về nhà thơ Chu Vương Miện. Ông hãy còn trẻ và trẻ lắm ... Nói một cách khác, ông là một nhà thơ có tài và trưởng thành từ một tuổi trẻ đã mất tuổi trẻ"[2].

 

Nhà thơ Luân Hoán viết về Chu Vương Miện, bạn thơ của mình, như sau: "Chu Vương Miện là dân chính cống Quảng Nam ? Không. Vậy anh từ đâu tới ? - Xin thưa, anh là con dân của đất Quỳnh Lâu, một ngôi làng nằm trong địa phận quận Yên Hưng, tỉnh Quảng Yên. Nhưng anh lọt lòng mẹ từ cái nôi quê ngoại, thuộc làng Phục Lễ, quận Thủy Nguyên, tỉnh Kiến An. Hai quê nội ngoại cách nhau khoảng 10 cây số đường chim bay. Với hệ thống đường sá và phương tiện giao thông thập niên 20, nhị vị tình nhân, theo tiếng gọi tình, đến với nhau, nên duyên giai ngẫu, quả là một kỳ tích, một mối tình đẹp. Có thể đôi nam thanh, nữ tú đã từng gặp gỡ, tình tự qua dòng sông Lục Đầu Giang ? Con sông phơi lòng qua hai làng. Hình như một trong hai người đã từng làm thơ, thả trôi theo dòng nước ? Lục Đầu Giang bao la, sâu cạn ra sao không cần biết. Chỉ cần đọc tên lên, nghe ra rất đỗi quần tụ anh hào. Sông Đuống, sông Hồng, sông Thái Bình... sáu nhánh cùng gặp nhau khó lòng không bát ngát. Trời nước hùng vĩ, hữu tình chưa đủ. Thủy Nguyên, Yên Hưng còn chia nhau đứng hai bên dãy núi vôi Tràng Kênh, cao vút với ngọn U Bò, nơi ngài Trần Quốc Tuấn một thời đứng điều binh đánh giặc Nguyên chạy dài. Không rõ ngày nay nắng trưa, nắng chiều có còn chiếu vào vách đá, tạo những tia phản xạ xuống lòng sông, ánh lên màu bạc óng ánh để còn được gọi là Bạch Đằng Giang?".

 

Nhìn vào những tác phẩm của Chu Vương Miện, có thể thấy có mấy dòng chính: thao thức về quê hương, đổ vỡ của tuổi trẻ, tình yêu đất và người xứ Quảng. Những tên đất, tên làng của Quảng Nam đi một cách tự nhiên vào thơ Chu Vương Miện. Những hình ảnh như Đèo Le, Trung Phước, Tiên Sa, Giao Thủy, Vu Gia, Mỹ Sơn, Tiên Phước, Trà My, Tam Kỳ, Hội An, Thu Bồn,… trở nên quen thuộc, nghĩa tình. Những địa danh xứ Quảng gắn bó, trở thành một hồn trong thơ Chu Vương Miện. Phải yêu lắm mới có những dòng thơ nghĩa tình về đất Quảng đến thế! Những nẻo đường thân thương của quê hương Quảng Nam đi vào thơ của người con đồng bằng Bắc Bộ sao đầy yêu mến và thiết tha như vậy! Trên Tạp chí Bách khoa, số 336, ngày 1-1-1971, có bài thơ “Quê người”, 38 câu, giọng da diết, dặt dìu, như mênh mang sương tỏa.

 

Từ miền Nam, viết thư gửi về ngoài Trung Việt, thăm gia đình vài người bạn thân quen, hỏi về cơn bão, quét qua trên bao mái nhà rơm rạ, nước từ biển tràn lên thành phố, ngập cánh đồng lúa con gái đang non. Hình ảnh một miền quê nghèo, với Dăm mái tôn-dăm ổ bánh mì - dăm túp lều - dăm phận người. Điệp từ "dăm" lặp lại bốn lần nhấn mạnh đến cái nghèo, cái khổ của xứ Quảng, của miền Trung:

 

Trọn mùa màng theo dòng nước về khơi

Mấy mươi năm cày sâu cuốc bẩm

Đất cằn khô sỏi đá ngô khoai

Từng giọt mồ hôi nhỏ xuống lưng người

Nhỏ trên buồn - bãi lúa nương dâu

Ngàn ân tình sao bỗng cuốn đi đâu

Mẹ đứng ngó, em cúi đầu, mặt nước sông lạnh giá

Rừng lá xanh bay từng ngày tơi tả

Trong lòng trời trên thành phố đồng sâu

Những con bò cũng bỏ xác theo nhau

Cùng vách ván, lúa mùa trôi đi hết

Mai này rưng rưng nhớ về Trung Phước

Buồn mênh mông

 

Cả đoạn thơ "buồn mênh mông" lan tỏa trong lòng người tiếp nhận. Có lẽ không có nơi nào, "đất cằn khô sỏi đá", "từng giọt mồ hôi nhỏ xuống lưng người", "nhỏ trên buồn - bãi mía nương dâu", "những con bò cũng bỏ xác theo nhau, cùng vách ván, lúa mùa trôi đi hết... như dãi đất quê hương Trung Việt. Quặn lòng với dòng thơ:

 

Mẹ đứng ngó, em cúi đầu, mặt nước sông lạnh giá ...

 

Thư viết cho miền Trung, vùng đất quanh năm bão lũ, cũng chẳng mong chút gì hy vọng:

 

Mai này bỏ thư vào nhà giây thép

Bì thư dày và nét chữ run run

Chả hy vọng gì ngoài nớ bình yên

Dăm cơn bão lại chợt về mái lá

Phố xá làng thôn một vùng biển cả

Trời chưa mưa sao lòng mắt nhạt nhòa.

                              (Quê người)

 

Gần đây, tình yêu đối với đất và người xứ Quảng trở lại với Chu Vương Miện. Trên Tạp chí Thế Kỷ 21, số 171, tháng 7-2003, có những dòng thơ trữ tình, xao xuyến:

 

“Gió từ đèo Le gió về Trung Phước/ mây từ Hoàng Sa mây kéo Sơn Chà/ ta từ Quảng Ninh ta vào Châu Rí/ làm rể Quảng Nam cát mịn Tiên Sa/ lỗi hẹn một lần không về Giao Thủy/ nát cả lòng nhìn dòng nước Vu Gia/ đây “đất học”, “vùng văn” làng cô giáo/ một cụm gồm năm ngọn núi đá hoa/ em bỏ ta đi làm dâu Hiếu Đức/ làng cổ Phong Nam dằng dặc hoa trà/ bãi bắc, bãi nam-vùng Suối Đá/ sáu tháng mùa mưa sáu tháng mùa khô/ ở thánh địa Mỹ Sơn dày tháp cổ/ em chê ta - chỉ một gã làm thơ/ Ngũ hành Sơn nhìn qua Bà Ná/ mối tình đầu xin gởi lại Faifoo/ trải ba mối tình ta về Tiên Phước/cả duyên trộn nợ ta gặp em/ Quế Trà My-Tam Kỳ từ kiếp trước/ dấu tích Hội An (vùng Đại Chiêm)/ đây Thuận Châu nhớ thương Trà Kiệu/ mối ân tình nàng công chúa nhà Trần/ xuôi Chiên Đàn nước mặn về Châu Ổ/ trải bao đời sáng giá một Huyền Trân/ em dòng dõi Lê Duy Cường-Duy Mật/ biết bao đời chống Trịnh Nguyễn Tây Sơn/ cả dòng họ bị đày vào Ngũ Quảng/ đem Lam Sơn thắp sáng nước non Chàm/ ta ngừng đó một đời không đi nữa/ từ thôn Nam Thọ nước Thu Bồn/ cả giải đất Nông Sơn nhiều quặng mỏ/ ngước nhìn lên sừng sững núi Cà Tang/ gió Thái Bình Dương lùa qua Non Nước/ mênh mang sương tỏa cù lao Chàm/ lỡ mai sau quá yêu đời ta chết;/ cũng một lần là rể đất Quảng Nam”.

 

Phải yêu lắm mới có những dòng thơ nghĩa tình về xứ Quảng đến thế ! Những địa danh quen thuộc của đất Quảng đi vào thơ của người con đồng bằng Bắc Bộ sao đầy thương mến, tha thiết như vậy !

 

Người bạn thơ của Chu Vương Miện là Phan Trước Viên (sinh năm 1939 tại xã Bình Tú, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam). Một người bạn nghĩa tình, vượt qua các rào cản, các trở lực lúc bấy giờ. Khi nghe tin Phan Trước Viên bị thủ tiêu, Chu Vương Miện có những bài thơ khóc bạn, thật cảm động, đăng trên Tạp chí Bách khoa. Bài thơ có tên Bài tưởng niệm, 4 khổ, 16 câu, nói về tình bạn mười năm, nay Mày nằm trong đất năm 68/ Ta mãi giang hồ khắp đó đây/ Núi đỏ rừng xanh đi khắp cả/ Sao vẫn chưa quen kiếp đọa đày ?... Khổ thơ cuối, nghẹn ngào, đau xót: Ta ở núi này trông núi nọ/ Núi nào cũng một thuở đầu xanh/ Quê hương đã rách giờ thêm nát/ Mày hãy nằm đây, giấc ngủ lành.

 

Trên Tạp chí Bách Khoa, Chu Vương Miện có nhiều bài thơ ký bút danh Phương Hoa Sử như Về khơi (Bách khoa, số 297, ngày 15-5-1969), Đá buồn đỉnh núi (Bách khoa, số 301, ngày 15-7-1969), Tình ca cuối cùng (Bách khoa, số 318, 1-4-1970), Tình ca (Bách khoa, số 320, ngày 1-05-1970), Hữu ngạn (Bách khoa, số 325, ngày 15-07-1970). Những bài thơ ký bút hiệu Phương Hoa Sử... vẫn là niềm thương nỗi nhớ về quê hương, về xứ bắc, về những chân cầu sóng vỗ trong thơ, trong đời, về:  

 

Mai mình xa nhau như sóng chân đèo

Lòng heo hút từng vùng mây dang dở

Trời tháng giêng sao thoáng buồn như thế !

                                   (Tình ca cuối cùng)

 

Trước sau, thơ Chu Vương Miện vẫn là tiếng nói trữ tình, tha thiết về tình quê, tình người, về xứ Quảng bão giông, nghèo khó, ân nghĩa:

 

- Mai này rưng rưng nhớ về Trung Phước

Buồn mênh mông

Hỡi người tôi yêu còn dạy học trò ở Hiếu Nhơn, Hiếu Đức ...

 

 

- Dăm cơn bão lại chợt về mái lá

Phố xá làng thôn một vùng biển cả

Trời chưa mưa sao lòng mắt nhạt nhòa.

                                          (Quê người)

 

                                                    H.V.H

 

 

[1] Bài đăng trên tạp chí Bách Khoa, số 301, ngày 15-07-1969. 

[2] Cao Thế Dung, Văn học hiện đại - Thi ca và thi nhân, NXB Quần Chúng, Sài Gòn, 1969, trang 353, 354.

&&&

Bài đăng trên Trang Thông tin Điện tử Tổng hợp VĂN NGHỆ ĐÀ NẴNG ngày 6/8/2025.

https://www.vannghedanang.org.vn/chu-vuong-mien-va-tho-ve-xu-quang-12728.html

READ MORE - CHU VƯƠNG MIỆN VÀ THƠ VỀ XỨ QUẢNG - Huỳnh Văn Hoa

LỤC BÁT NGÀY TA GẶP NHAU




NGÀY TA GẶP NHAU

(Lê Điểm)

 

Ngày ta gặp giữa hanh hao

Chẳng ai biết gió ngọt ngào từ đâu

 

Em cười nghiêng nắng qua cầu

Ta nghe một thoáng nhiệm màu chạm tim

 

Từ hôm ấy phố dịu hiền

Con đường quen bỗng có thêm một người

 

Chiều rơi xuống giữa lưng trời

Hàng cây bỗng đứng nghe lời gió ru

 

Mây đi chậm một nhịp thu

Chiếc lá rơi xuống còn vờ vĩnh xanh.


><><><><


CŨNG LÀ TRI ÂM

(Kare Kim)

 

 Đêm qua mưa vội qua thềm,

Hạt rơi lất phất ướt mềm góc sân.

 

Em về mang dấu thiên thần,

Mang tia hy vọng, mang hân hoan về.

 

 Từ Em đánh thức cơn mê,

Từ tôi mải miết bên bờ mưu sinh.

 

 Phải Em là ánh bình minh?

Ngàn mây hội tụ thân tình ghé qua?

 

Cho dù một thoáng thôi mà,

Cũng là ấm áp, cũng là...tri âm.


><><><>


TRĂNG SÁNG BUỔI TRƯA

(Thành Đô Võ Văn)

 

Tháng ba xuân lão chưa già
Khuôn trăng còn sáng, dáng ngà còn xuân

Mùa lên hương vẫn thơm lừng
Nắng trưa nơi đến đón mừng giọt thương

 

Nắng vàng nhẹ nhuộm má hường
Môi cười chào đón người thương lần đầu

Đã từng ôm mộng canh thâu
Trời nay thương bắt nhịp cầu gần nhau

 

Tay tiên sửa vạt áo màu
Chỉnh tề khép nép, mắt trao duyên ngầm

Quý hoa bung nhụy nảy mầm
Cùng gieo tình cảm âm thầm trong tim

 

Qua ngày nỗi nhớ tăng thêm
Đêm về trăn trở đi tìm môi trưa

Tóc thơm theo gió đong đưa
Từng chiều xuân ấm khi mưa nhạt nhòa

 

Trăng yêu nay nở nụ hoa
Gió thương cười mỉm hài hòa sánh vai

Cuối tuần vừa vặn vòng tay
Thời gian còn đó những ngày không quên

 

Cổng trường đại học nhớ tên
Tháng ba ngày ấy bừng lên lửa tình

Trăm năm trong kiếp hữu sinh
Trời cho còn thở thì mình chưa xa.


><><><


TÌNH CỜ GẶP NHAU

(Đức Lang Lê)

 

Tình cờ  tôi mới gặp em

Mà sao cứ ngỡ ta quen lâu rồi

 

Em đi còn lại mình tôi

Từng đêm thổn thức bồi hồi nhớ mong

 

Gặp nhau rồi cũng bằng không

Mà sao tôi vẫn ngóng trông đợi chờ

 

Tôi em tình thoảng như mơ

Kiếp này lỗi hẹn đành chờ kiếp sau


><><><


NỖI NHỚ THU XƯA

(Nguyễn Thanh Long)

 

Chiều còn dẫn nắng qua thềm

Chị Hằng đứng đợi môi mềm cười duyên

Nét thu trong trẻo bình yên

Trời xanh , gió lặng thôi miên nắng vàng

 

Nhớ xưa ta đón thu sang

Hai hàng mi ướt dịu dàng níu chân

Đường quen đếm bước mấy lần

Đợi mùa thay áo tưởng gần hoá xa

 

Bao mùa lá rụng đi qua

Mấy mùa vàng nắng phai tà áo xưa

Nhớ, quên ... quên thật hay chưa

Dấu chân cũ bụi như vừa mới vương

 

Thoảng mùi hoa sữa đưa hương

Nghe xôn xao những ngả đường rêu phong

Thu nầy ai có chờ mong

Về cài khuy áo... ấm lòng mùa đi


 ><><><><


CÓ NGHĨA GÌ ĐÂU

(Phúc Hữu)

 

Đá trầm tích cả triệu năm

Ta hóa thạch chỉ một lần gặp em

Ngàn sau chẳng chịu sống hèn

Thì nay hương khói nhang đèn làm chi

Xác thân nào có nghĩa gì

Hồn ta lưu lạc cũng vì nợ em.


 ><><><


LỤC TÌM MÙA CŨ

(Trịnh Hoài Thu/ saobang thu)

 

Lục tìm mùa cũ yêu thương

Thuở vừa mới lớn, má hường thẹn nhau

 

Rét đông gầy guộc hàng cau

Ngõ dài rêu úa nhuốm màu hanh hao

 

Bụi tre già nghểnh trăng sao

Hai ta núp bóng thầm thào nhỏ to

 

Nỗi niềm gửi gió hẹn hò

Mảnh mai vạt áo lạnh so vai người

 

Đêm nay đông lại về rồi

Phương trời anh cái rét đòi gì không?

 

Phố khuya lẻ phận má hồng

Mưa còn lắc rắc chênh chông bóng hình

 

Lật trang thư cũ, đinh ninh

Vẫn còn ngọn lửa thuở tình xa xưa...


><><><


RẤT RIÊNG...

(Trần Thà Thiệt)

 

Rất riêng với những câu từ

Yêu em từ thuở hình như _muốn là...

 

Như hương thơm một nụ hoa

Như tiếng Suối _chim hòa ca trên đồi...

 

Ngày tôi về với chính tôi

Bỗng nghe lá rụng cái hồi

Mới quen


><><><


CHỈ LÀ GIỌT MƯA RƠI

(Nguyễn Quang Âu)

 

Ai hò cho dạ bồi hồi

Để cho bên lở bên bồi thương nhau

Dòng sông hai nửa dạt dào

Chiều chiều ai đứng ngõ sau xao long

 

Câu hò vẫn cứ nao lòng

Cô con gái nhỏ vẫn trông vẫn chờ

Câu hò thương nhớ thờ ơ

Để cô gái nhỏ cứ ngờ ngợ mong

 

Hôm nay đám cưới bên sông

Cô gái đứng lặng mà trông qua bờ

 

Có em bé hỏi ngây thơ

Ngắm sông sao chị ngẩn ngơ khóc buồn

Chị ơi sao nước mắt tuôn

Chị ơi nước mắt ướt luôn má hổng

 

Em ơi chị chỉ nhìn sông

Giọt mưa ướt mắt, (..ướt lòng?) chị thôi

Chỉ là một giọt mưa rơi

Lạ chưa mưa rớt, mưa rơi chị buồn

 

Chiều nay trời đổ mưa tuông

Có người con gái lặng buồn nhìn sông

Có người con gái mặc lòng

Để mưa rơi ướt má hồng xót xa.


><>><><


THƯA NGƯỜI! CHÂN RỐI ĐƯỜNG QUEN

(Hữu Tâm)

 

Một hôm ngọn gió Đông chiều

Ngang đường chắn bước hôn liều má em.

Giật mình...tôi đứng tôi xem

Nghe chân rối giữa đường quen mọi ngày.

 

Giá mà...như hạt mưa bay

Tranh môi ngoan với những ngày gió Đông.

Mà không! Mắt biếc, môi hồng

Thưa người! Quay bước lòng không mang về.

 

Chỉ là một bức tranh quê

Sợ ướt mưa, phải đem về đó thôi.

Cất vào đâu, chỉ giùm tôi?

Kẻo phai dáng ngọc giữa trời gió Đông...


><><><


GỢI NIỀM TÓC TƠ

(Phan Văn Thân)

 

Đêm qua ta đến tìm nhau

Mơ màng hai đứa thương câu ân tình

Hàng cây liễu đứng bao mình

Lung lay trước gió xây hình uyên ương

Trên cao ta ngó mười phương

Sao khuya rải rác về nương náu trời

Sao ơi sao ở xa vời

Biết không hai đứa một lời với nhau

Đang vui trời bỗng mưa mau

Ra về ướt áo ấm màu thủy chung

 

 

Anh về giấc ngủ mênh mông

Ôi ai đứng giữa nỗi lòng thâu đêm

Mơ màng cứ ngỡ là tiên

Tỉnh ra mới biết là em dịu hiền

Chao ôi đẹp quá trăm miền

Chim bay én lượn gợi niềm tóc tơ

Bao giờ em hỡi nàng thơ

Hương cau rộn rã quanh bờ ái ân

Bao giờ chén rượu ta nâng

Đèn đêm ta thắp sáng hồng thịt da

Bao giờ tiếng nhạc câu ca

Sớm hôm về vỗ nụ hoa đầu mùa!


 ><><><


MỘNG LIÊU TRAI

(Song Nguyên)

 

Ân tình xin mộng liêu trai

Chiều đông lá úa nhạt phai thu mờ

Đường về sao cứ chơ vơ

Ờ! Ta cũng chỉ tinh cờ gặp nhau

 

Gặp nhau mới nếm thương đau

Thương đau mới biết tình mau đổi dời

Đổi dời mới biết em ơi!

Biết rằng ta đã nửa đời vấn vương

 

Vấn vương mới biết còn thương

Còn thương mới biết đoạn trường em ơi!

Nhớ sao cái bữa mưa rơi!

Dù che, đường vắng mình dời bước chung

 

Hình như em vẫn thẹn thùng

Xích ra chút xíu mưa phùn ướt vai

Đêm sầu nước mắt rơi hoài

Như mưa thấm ướt áo dài em xinh.


><><><


LỠ DUYÊN CÔ GÁI CÙNG LÀNG

(Đoàn Văn Tiếp)

 

Thấy em cô gái dịu hiền

Sao mà xinh đẹp như tiên giáng trần

Anh thường đứng ở góc sân

Chỉ mong ngó trộm những lần em ra

 

Đẹp sao cái tuổi ngọc ngà

Xuân đi Hạ đến Thu qua Đông về

Tại vì rất sợ nhỏ chê

Nên anh nhát quá chưa hề tỏ yêu

 

Đêm khuya lại nhớ em nhiều

Nụ cười tỏa nắng làm xiêu lòng này

Có điều anh chẳng nói ngay

Dẫu rằng hai đứa hằng ngày gặp nhau

 

Yêu em là mối tình đầu

Dạt dào nỗi nhớ canh thâu mơ màng

Ngày nào cũng lén nhìn sang

Cũng thường mơ mộng cùng nàng trầu cau

 

Anh mơ tình đẹp thắm màu

Mong chờ đám cưới bên nhau mặn mà

Chiến tranh biên giới miền xa

Anh đi chiến đấu thế là dở dang

 

Gặp nhau hai đứa bàng hoàng

Em giờ hạnh phúc bên đàn con xinh

Tủi thân thương số phận mình

Lỡ duyên với nhỏ ... lặng thinh cười trừ.


><><>


CHỈ LÀ TRONG MƠ

(Hung Tran)

 

Tạ ngồi mót nắng hiên đời

Đếm đong kỷ niệm mây trời ngút xa

 

Thời gian chìm nổi phôi pha

Nhớ hoài ta gặp trăng ngà ngọc xưa

 

Thu này lá khóc cùng mưa

Nhưng cây vẫn đứng như chưa biết buồn

 

Mong người sống khoẻ an luôn

Ta chiều hoang hoải như gương mờ nhoà

 

Ngây ngô mót nắng chiều tà

Ước mong gặp lại...chỉ là trong mơ


><><><







READ MORE - LỤC BÁT NGÀY TA GẶP NHAU