Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Thursday, March 5, 2026

TRANG THƠ NGUYỄN VĂN TRÌNH - Dòng sông đời người / Cơm mưa / Ngọn núi trầm tư / Nghĩa vuông tròn

 

Nhà thơ Nguyễn Văn Trình


Dòng sông đời người

 

Dòng sông bắt nguồn

từ những mạch nước nhỏ giữa rừng sâu

như đời người sinh ra từ lòng mẹ

và bắt đầu những bước đi chập chững đầu tiên

 

Dòng sông đi qua nhiều miềm quê xa lạ

mặt nước sông lặng lẽ

mang theo hình ảnh của mây trời

hơi thở của cỏ cây, hoa lá đôi bờ

đời người cũng vậy

đi qua muôn nẻo

mang theo bao ký ức hoài vọng

 

Dòng sông

để duy trì dòng chảy

phải tự uốn mình

với những đường cong mềm mại

tránh bao chướng ngại vượt qua

mà học cách hướng ra biển cả

như đời người sau bao khúc quanh nghiệt ngã

cuối cùng cũng tìm về nơi bến đổ bình yên

 

                                             NVT

 

Cơm mưa

               

Cơn mưa rơi trong chiều muộn

khẽ khàng như một lời tự tình

những hạt mưa rơi chậm

chạm vào không gian tĩnh lặng

như nỗi lòng ai khắc khoải đợi chờ

 

Phố vắng hơn giữa làn mưa mỏng

một giọt mưa rơi, như một nỗi chờ mong

đủ để ướt niềm thương, nỗi nhớ

và đủ để làm cho lòng người thêm thổn thức

 

Có ai đang đứng dưới hiên nhà cũ

lắng nghe mưa kể chuyện tâm tình

những điều chưa kịp nói đã tan vào cơn mưa

như yêu thương chưa trọn

như nỗi niềm vấn vương

 

Cơn mưa chiều rả rích

không vội vàng, không dứt

tựa như một trái tim biết yêu sâu

và biết đau lặng lẽ

để đợi chờ một ngày nắng lên

                            

                             NVT

 

Ngọn núi trầm tư

                      

Ngọn núi đứng trầm tư giữa hoàng hôn

chỉ lặng lẽ đối thoại với gió và thời gian

cha ngồi lặng lẽ như núi khi đêm muộn

để mặc bóng tối phủ lên vai mình

nhường cho con, cả khoảng trời sáng mai

 

Có những lúc núi im lìm đến lạ

như cha ngồi rất lâu, nhìn về phía xa xăm

mà chẳng nói điều gì

trong sự im lặng ấy

tôi nghe được tiếng yêu thương của cha

chảy ngầm như mạch suối

 

Ngọn núi đứng suy tư, không vì mình

mà vì con đường, con sẽ đi qua sắp tới

cha mang dáng núi vững vàng

để chở che cho con khôn lớn, trưởng thành

ngọn núi không cúi đầu trước gió bão

và cha cũng thế

âm thầm gánh bao nỗi nhọc nhằn

để con được sống yên vui

 

                                     NVT

 

Nghĩa vuông tròn                    

 

Đất ôm mình trong chiều sâu thẳm

nghe mầm non thức dậy từng đêm

hơi đất ấm ươm thành nhựa sống

cội rễ bền sẽ lớn dần thêm

 

Cây vươn thẳng từ miềm đất lạ

mang khát khao gửi gió bay xa

rễ cắm đất như lời thề hẹn

giữ cho nhau những mùa thay lá

 

Nắng đổ lửa hong lòng đất khát

đất âm thầm giữ nhựa nuôi cây

thêm xanh lá che miền cát rát

đất thêm màu bớt nỗi gầy hao

 

Lá trở gót quay về với đất

để mùa sau ấp ủ những chồi non

đất và cây ân tình sâu nặng

chung một đời, trọn vẹn nghĩa vuông tròn

 

                                                 NVT


Tác giả NGUYỄN VĂN TRÌNH

Bút danh: KATHI

Hội VHNT tỉnh Quảng Trị 

Email: nguyenvantrinh58@gmail.com

Đ/C: 65B Đường Chu Mạnh Trinh, Phường Nam Đông Hà, tỉnh Quảng Trị

 

 

 

READ MORE - TRANG THƠ NGUYỄN VĂN TRÌNH - Dòng sông đời người / Cơm mưa / Ngọn núi trầm tư / Nghĩa vuông tròn

Wednesday, March 4, 2026

VUI SAY CÙNG ĐỜI NÀY / NÓI CÙNG NĂM NGỰA - Thơ Lưu Lãng Khách



VUI SAY CÙNG ĐỜI NÀY

 

Chiều mùng hai thiên thai vui say

Hờn thời gian êm trôi qua vai

Ngày mùng ba chân đi trên mây

Em ơi! Ta vui cùng đời này

Em ơi ta say cùng ngày dài

Cho tình thiên thu không phôi phai. 

              – Yêu nồng nàn hôm mai!

Ta! Tao nhân phong trần tình vô ngần

Mê tiêu dao sông hồ đà vơi dần

Lòng không ngơi hân hoan nghinh xuân

Hồn đôi khi cô liêu bâng khuâng

Thương đôi mồ me cha ngày tàn

Không hương từ con xa hòa làn

Thương nhà xưa âm trầm trong chiều

Nơi quê ngày xuân riêng đìu hiu

Xuân ơi! Vui không mà ta cười

Ngây thơ như ta vừa lên mười

Xin ghi ơn đời cho ta vui hôm mơi

Ghi ơn em! 

          Bao mùa xuân luôn tươi. 

                            Từ đôi mươi!


Mùng 3 Tết Xuân BÍNH NGỌ

Lưu Lãng Khách

 

NÓI CÙNG NĂM NGỰA

 

Mới Tết mùng ba đã bốn rồi

Thời gian trôi tựa bóng câu...ôi!

Trên lưng ngựa giả mà sung sướng

Ngỡ mới phi qua những núi đồi

Tay nâng chén cạn cười khanh khách

Nhấm thời mã thượng đã xa xôi

Dấu chân du lãng ngoài lau lách

Dể bụi thời gian phủ xóa thôi

Hãy đến cùng anh bên Thánh Gióng

Cho anh xin chút mạnh phi thường

Lỡ em lười bước thì anh cõng

Khỏe gót trăm năm mãi cuối đường

Đêm xuân rót lạnh hồn du tử

Nâng cánh hoa gầy dạ vấn vương

Thân giang hồ khách rời yên ngựa

Tâm vẫn mòn đau vó dặm trường.


Mùng 4 Tết Xuân BÍNH NGỌ

Lưu Lãng Khách

<luulangkhach@gmail.com>

READ MORE - VUI SAY CÙNG ĐỜI NÀY / NÓI CÙNG NĂM NGỰA - Thơ Lưu Lãng Khách

Tuesday, March 3, 2026

CHU VƯƠNG MIỆN VỚI NIỀM KHẮC KHOẢI TÂM LINH - Tạp văn Nguyễn Nguyên An


Nhà thơ Chu Vương Miện
 


Nhà thơ Nguyễn Đức Tùng – Vancouver – Canada vừa viết trên Tạp chí Sông Hương số 246 (2009) Mục Tác giả tác phẩm và dư luận: “Khoảng từ năm 1970, xuất hiện nhiều tác giả trẻ, một số mặc áo lính, trên các báo, nhất là ở các địa phương. Một số chưa có thời gian để in tác phẩm của mình. Tôi nhớ những tên tuổi như Y Uyên, Ngô Kha, Luân Hoán, Trần Hoài Thư, Trần Dzạ Lữ, Chu Vương Miện… Bắt  đầu thành một dòng chảy khác, mà người chinh phục tôi nhất là Phan Nhật Nam.” Với riêng tôi, tôi yêu Ngô Kha & Chu Vương Miện (CVM).
 
CVM tên thật là Nguyễn Văn Thưởng, sinh năm 1941 tại Kiến An (miền Bắc), anh cầm bút từ những năm 1960, thơ anh đã đăng trên nhiều Tạp chí tại Sài Gòn: Thời Nay, Bách Khoa, Văn Học, Tiền Phong. Trước 1975, đã có 5 tác phẩm được ấn hành:
 
Đêm đen 20 tuổi (thơ) 1964
Tiếng hát Việt Nam (thơ) 1965
Trường Ca Việt Nam (thơ) 1967
Lời Phản Kháng (thơ) 1967
Phía Mặt Trời Mọc (tập truyện) 1969
 
Được ghi tên trong từ điển văn học của Thanh Tùng, Khai Trí xuất bản năm 1973 tại Sài Gòn. Ra hải ngoại, anh tiếp tục viết thêm những tác phẩm:
 
Đất Nước (thơ) 1985
Bằng Hữu (thơ) 1987
Văn Học Dân Gian (truyện) 1988
Tác Phẩm, Tác Giả (biên khảo) 1988
Đất Nước (thơ, tái bản) 1997
Văn Học Dân Gian (thơ, tái bản) 1999
 
Những tác phẩm của anh trước 1975 tôi chưa được đọc nhiều nhưng khi đọc tác phẩm gần đây, tôi xin ngả mủ chào CVM bởi sức sáng tạo bền bỉ, văn chương láp lánh mùi thiền và sự thông thái lịch sử, giỏi Hán Nôm của anh, mặc dù tạm trú hải ngoại, trái tim thường trú Việt Nam, anh luôn chất ngất nỗi buồn xa xứ và sắp bước vào tuổi “Thất thập cổ lai hy” anh vẫn nặng nợ văn chương, vẫn vắt óc cày trên cánh đồng chữ nghĩa phù du như một lực điền làm nên một dòng thơ văn tư tưởng khắc khoải phương Tây. Anh viết nhiều, post trên các trang web uy tín trong ngoài nước. Tôi xao lòng trước: “… đại hào kiệt cũng chết/ đại thiên tài theo sau/ nhìn tượng Trần Hưng Đạo/ Trần Thủ Độ nơi nào?/ …ngàn năm mây vẫn trắng/  thênh thang cõi đi về…/ còn mỗi ta sống sót/ bồng bênh bèo trên ao…/ vũng đời trò vân cẩu/ hết hợp rồi lại tan/ nghênh ngang uy quyền đó/ chết chả nấm mồ chôn?/  công hầu phù danh cả/ chuyện ngàn năm mây bay/ đó là chuyện thường ngày… ” (Văn Tế Bà Chúa Nôm).
 
Dù là tạp văn cũng thấm đầy huyền sử, với giọng thủng thẳng, CVM viết:
 
“Hai ngừơì trung niên, không phân rõ là nhà quê hay quan võ, đi thuyền từ bến đò Rừng phiá Quảng Yên, qua Thuỷ Nguyên, lên bộ  rồi ngươì trước kẻ sau, không đi thẳng lên huyện núi Đèo [Dẹo] cách khoảng mươi cây số, mà rẽ về lối tắt bên phải đi vào làng Trúc động và Mai Động, cách sông Bạch Đằng chừng non cây số, cách làng Phục Lễ, Phả lễ ba cây số, hai người nhìn ngắm, hai bên đuờng quê, một bên đuờng trồng toàn là trúc tầm vồng, cây thẳng đuột, ruột đặc, gọi là làng Trúc động, còn bên cạnh trồng toàn là cây bương lồ ồ nên gọi là làng Mai động, trúc bương mọc khít khao làm hàng rào vườn nhà, rất kín đáo muốn vào nhà là phải đi qua ngõ, ngừơi cao hơn móc trong tuí áo ra một tờ giấy nhỏ, đọc qua loa rồi như tình cờ rẽ vào một nhà bên làng Trúc động, trước sân thấy có hai cha con , đang ngồi đan lưới cá, ngươì cha vào khoảng bốn chục, ngươì con vào khoảng hai chục, thấy có nguời lạ vào nhà, nguời cha dừng tay đứng lên hỏi khách:
 
-Thưa hai tôn ông, ghé làng chài thăm? có điều chi? cần dậy bảo?
Người cao nóí:
 
- Chả dấu gì Bác, chúng tôi nhàn rỗi không có việc chi? nghe đâu làng này ngày xưa sứ quân Đỗ Cảnh Thạc có lập một cơ ngơi, để về hưu dưỡng, và nghe đâu hậu duệ cuả ngài còn truyền cho tới bây giờ? Nên nhân tiện có công chuyện đi ngang qua đây ghé  kính viếng thăm và thắp nén vài nén nhang để hiếu kính sứ quân, để tỏ rõ tấm lòng cuả kẻ hậu bối?
 
Ngừơì chủ nhà bèn chắp tay xá hai ngừơi:
 
-Đa tạ, hai tôn ông có lòng ghé thăm, vậy xin hai tôn ông theo kẻ dân giã này vào viếng miếu tổ tiên cuả chúng tôi?
 
Nguời con trai làng chài đi trước, quét trước sơ sài phiá trong và ngoài miếu, còn nguời cha thì thắp nhang  đưa cho hai nguời trung niên,  chỉ có nguời cao là đứng vái bốn vái, còn ngừơi đứng sau chỉ chắp hai tay mà thôi, nguời cao khấn:
 
- Bổn tướng là Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, vì công vụ nên ghé kính thăm sứ quân, nếu anh linh còn đây, khí thiêng sông nuí còn đó, mong sứ quân hiển linh chỉ bảo cho bổn vương  đôi điều, giữ nuớc và cưú nước?...”
 
Đọc Địa Cọc Bạch Đằng, ta càng tôn kính lòng yêu nước của Hưng Đạo Vương và hiểu ngọn nguồn trận Bạch Đằng manh nha thế nào. Lại càng quý sự rốt ráo sử Việt cùng tài tái hiện cốt cách nhân vật của CVM. Không chỉ thế, CVM còn thông thuộc truyện kiếm hiệp Kim Dung, dã sử tiểu thuyết Trung Quốc. Chẳng hạn:
 
“Quách Tĩnh đọc xong mật hàm cuả Mông Kha gưỉ cho mình, có điều hiểu ngay, có điều hiểu lờ mờ, và có điều không hiểu hẳn, bèn đưa ngay tấm mật hàm cho  Hoàng Dung, đọc lại cho rõ, để hai nguơì cùng bàn luận, để tìm cách đối phó nếu có chuyện bất thưòng xẩy ra? Hoàng Dung đọc thì hiểu ngay, tóm tắt lại như sau:
 
- Hãn ông Nội tức Thành Cát Tư Hãn làm Hãn đuợc mươì năm, thì truyền ngôi lại Hãn cho Bác Oa Loa Đài, Hãn Bác làm đuợc mươì năm thì truyền lại cho Hãn Cháu  Mông Kha, Cháu làm Hãn được muơì sáu năm, bây giờ bưóc sang năm thứ mười bẩy, cháu vẫn duy trì tình trạng đất nước Mông Tống  y như cũ, nhưng đa số tướng lãnh duới quyền có đưa kiến nghị lên cho cháu, một là đánh tới nơi tới chốn, thắng hay là bại cho oanh oanh liêt liệt, hai là rút quân về đại mạc, cho giải giới ,giải ngũ,  chăn dê cưù như cũ, chứ cứ cù cưa cù nhầy kéo daì cuộc chiến gần 40 năm rồi, nhân sự mệt mỏi và chán nản lắm lắm, vậy cháu kính gửi mật hàm này đến Kim Đao phò mã và Hoàng Dung bang chủ, báo trưóc sáu tháng để chuẩn bị, đầu tháng bẩy năm sau, cuộc chiến thư hùng giữa Mông Cổ và Đại Tống sẽ xẩy ra, tấm lòng thì dài, nhưng chữ nghiã có giớí hạn, kính mong Kim Đao Phò mã và Hoàng Bang chủ liệu định…”. (Mông Kha).
 
Nói về thơ, tôi cảm nhận vài bài anh post trên vanchuongviet.org bởi lẽ CVM viết nhiều thể tài và bài viết của tôi trong phạm vi giới hạn, không thể ôm đồm nhận định xuyên thấu văn chương CVM. Nhưng dù văn hay thơ, nhà thơ CVM cũng bật lộ cốt cách ngang tàng Bắc Hà, với cái cay đắng mùi đời lên câu chữ một cách triết lý. Cứ hãy trải lòng mình vào (Chuyện Thơ) sẽ rõ “ý tại ngôn ngoại” của CVM tiềm ẩn trong câu chữ gập gềnh: “Bàn chuyện thơ nó y như vầy/  anh đến trước ở quán cóc/ là nhà thơ cổ điển/ kêu 1 ly cà phê sữa đá/ chờ lâu quá đành uống tạm /1 ly cà phê đen nóng/ tất tả đi ngay?/ để lại trên bàn ly cà phê  sữa đá/ cho anh làm thơ tân cổ điển/ anh đương đại đến thì uống cà phê đá/ anh hậu hiện đại uống trà đá/ anh sau hậu hiện đại uống trà nóng/và anh sau chót múc nước lạnh uống/ ngoài bờ sông?/ Con trâu nằm nhai cỏ/ Bá Nha đi người không?/ vừa đập xong cổ cầm/ tử ký không còn nữa?/ đàn toàn dang với dở/ con chim bay trên trời/ con chim đậu dưới đất/ còn ta ngồi nơi đây?/ muốn khóc/ không khóc được ?/ toàn cười?/ còn duyên kẻ đón người đưa/ hết duyên ngồi gốc cây dừa chờ rơi?/ trúng đầu thời kể như toi?/ ra ngoài thời miệng còn cười mí nhau?/ còn duyên noí chuyện đẩu đâu?/ hết duyên toàn những bã trầu nhả ra/ nhìn mình mà ngỡ người ta ?/ nhìn người ta ngỡ là hoa móng bò?/ thì thôi nhá miếng chả giò?”
 
Và,  thơ mới của CVM “Ngạc Nhiên”
 
Con quạ nói tiếng người rất sõi/ làm con cú mèo? ngạc nhiên/ bầy/ bồ câu đang mổ thóc ngoài hiên/ không thấy người chỉ nghe con quạ nói?/ đang nhìn trời định bay chơi?/ bỗng dưng con quạ gọi ?/ vườn vui thế này? mà muốn bay đâu?/ quạ trong lồng tre đen thẫm 1 mầu/ từ mắt mỏ đuôi giống cục than hầm chín ?/ cũng là chim ăn thóc người véo von cái miệng/ lúc tiếng người lúc tiếng quạ chen nhau/ trên nóc đống rơm 1 lũ sáo trâu/ đang lầm lũi kiếm ăn từng hạt thóc/ ánh mặt  trời vừa nhô lên/ trên cánh đồng mùa gặt
 
Đọc thơ CVM tôi cứ thấy đau đau làm sao ấy. Thơ của anh chất ngất một buồn xa xứ, như có ngọn lửa âm ỉ ngún cháy, nỗi hoài cố hương ấy cứ dằn vặt tâm can thi sĩ. Niềm khắc khoải tâm linh bật lên trong anh như căn bệnh trầm kha, chữ nghĩa chán chường mọi thứ và mọi thứ đều vô nghĩa. Ở Mỹ hay ở hải ngoại người ta thờ ơ hết thẩy, họ sống thực dụng thì sá gì thơ văn Việt bọt bèo xa xôi, các thế hệ sau chả quan tâm gì tiếng Việt, thậm chí có người mù tiếng Việt, trong khi đó họ thông thạo tiếng người, vì nhu cầu cuộc sống họ đành lòng quên lãng cội nguồn. Anh là một trong những người còn làm thơ văn trên đất khách, còn làm kiếp tằm ép xác nhả tơ vì con chữ quê nhà; anh là người giữ lửa đáng trân trọng. Có nhiều thi sĩ nổi tiếng thời trẻ, lớn lên họ im tiếng? Có lẽ họ đã thỏa nguyện, CVM ở tuổi 68 vẫn lặng lẽ chống chỏi với cơn đau trần thế một cách dũng cảm để viết và viết… Viết đến đây tôi ứa nước mắt vì sức chịu đựng và làm việc của anh. Tôi xin khép lại trang viết này để khởi một lời nguyện chân thành lên không trung: “Cầu anh mạnh khỏe để gom sức viết tặng đời” và mời bạn đọc cùng tôi chia sẻ niềm khắc khoải tâm linh cùng nhà thơ Chu Vương Miện – google.com/“chuvương miện”/Enter
                                                     

Huế, ngày 21 tháng 8 năm 2009                                                             Nguyễn Nguyên An

*
NGUYỄN VĂN VINH (N.N.A) - Hộp thư 042 Bưu điện, Huế
- E.mail: nguyenan009@gmail.com  Tel: 0914457805

 


READ MORE - CHU VƯƠNG MIỆN VỚI NIỀM KHẮC KHOẢI TÂM LINH - Tạp văn Nguyễn Nguyên An

MÂY KHÔNG CẦN HỘ CHIẾU - (Một bài thơ song ca – Duet) By Musharraf Hussain, Goalpara, Assam, India, & Thi Lan Anh Tran, Germany



MÂY KHÔNG CẦN HỘ CHIẾU       

(Một bài thơ song ca – Duet)
By Musharraf Hussain, Goalpara, Assam, India & Thi Lan Anh Tran, Germany


© 2026 Dr. Musharraf Hussain & Thi Lan Anh Tran. All Rights Reserved

 

(1) Musharraf    

Sáng nay, sông Brahmaputra hỏi anh:
“Sao lại yêu qua đại dương?”
Anh đáp:
“Dòng sông chẳng cần visa.
Tại sao trái tim lại phải xếp hàng?”

 

The Brahmaputra asked me this morning,
“Why fall in love across oceans?”
I replied,
“Rivers travel without visas.
Why must hearts stand in line?”

 

(2) Lan Anh     

Sông Main cũng trêu em:
“Hãy lý trí. Tình yêu nên gần thôi,
Như bánh mì mới nướng từ cửa hàng bên đường.”
Nhưng em thích thời tiết nổi loạn—
Mây trôi tự do,
Khói chẳng chịu nghe lời.

 

The Main River teased me too—
“Be reasonable. Love should be local,
Like fresh bread from a nearby shop.”
But I prefer unruly weather—
Clouds that wander,
Smoke that refuses instruction.

 

(3) Musharraf  

Hiện thực thanh toán hóa đơn đúng hạn.
Nó khịt mũi.
Nó khuyên ta trưởng thành.
Nhưng mỗi lần anh nghe theo,
Lời thì thầm của em sửa sự nghiêm túc của anh
Như gió sắp xếp lại giấy tờ hành chính.

 

Reality pays bills on time.
It clears its throat.
It advises maturity.
Yet every time I obey it,
Your whisper edits my seriousness
Like wind rearranging official documents.

 

(4) Lan Anh       

Em từng cố lưu trữ anh cẩn thận—
“Xa xôi. Tế nhị. Xử lý nhẹ nhàng.”
Nhưng khói chống lại hệ thống lưu trữ.
Nó thoát khỏi ngăn kéo,
Tìm chân trời của anh,
Và chiếm lấy một cách dịu dàng.

 

I once tried to archive you properly—
“Long Distance. Delicate. Handle with Care.”
But smoke resists filing systems.
It escapes drawers,
Finds your horizon,
And claims it gently.

 

(5) Musharraf

Người ta gọi chuyện này bất khả.
Hai nhà thơ thương lượng địa lý—
Một cuốn theo hơi thở mùa mưa,
Một bị quy củ bởi mùa đông châu Âu.
Nhưng mặt trăng vẫn dõi chúng ta cả hai
Mà không chọn phe nào.

 

People call this improbable.
Two poets negotiating geography—
One wrapped in monsoon breath,
One disciplined by European winter.
Yet the moon watches us both
Without choosing sides.

 

(6) Lan Anh

Mặt trăng thật thà mà cũng khôn khéo—
Ghé thăm mọi cửa sổ,
Giả vờ thủy chung một lòng.
Nhưng khi em ngước lên,
Nó mang hơi ấm
Vừa quen vừa lạ, giống như xứ Assam.

 

The moon is shamelessly diplomatic—
Visiting every window,
Pretending singular devotion.
Still, when I look up,
It carries a warmth
That feels suspiciously Assamese.

 

(7) Musharraf  

Thiên nhiên thật mỉa mai.
Nó dựng biên giới,
Rồi nối những dòng thủy triều bên dưới.
Có lẽ tình yêu chẳng huyền bí gì—
Chỉ là trọng lực
Hành xử thật thà.

 

Nature is ironic.
It invents borders,
Then connects tides beneath them.
Perhaps love is nothing mystical—
Only gravity
Behaving honestly.

 

(8) Lan Anh

Hoặc có lẽ chúng ta thật ngốc nghếch—
Hai người lớn tranh luận với mây.
Nhưng nếu sự ngốc nghếch thở như thế này,
Sao trí khôn phải chen vào?

 

Or perhaps we are gloriously foolish—
Two adults debating with clouds.
But if foolishness breathes like this,
Why must wisdom interrupt?

 

(9) Musharraf

Anh không hứa bằng cẩm thạch.
Chỉ là cuộc trò chuyện.
Chỉ là tiếng cười trước những điều nghiêm trang.
Chỉ là dũng khí
Để đổi tên khoảng cách
Thành “Tạm thời.”

 

I offer no marble promises.
Only conversation.
Only laughter at solemn things.
Only the courage
To rename distance
As “Temporary.”

 

(10) Lan Anh

Em cũng không hoàn hảo.
Chỉ có sự hiện diện—
Như khói tự chọn để linger,
Như sương kiên quyết vào buổi sáng.
Dù lý trí phản đối,
Em vẫn ở lại.

 

I offer no perfection either.
Only presence—
Like smoke that lingers by choice,
Like dew that insists on morning.
Even when logic objects,
I remain.

 

(11) Musharraf     

Hãy để thế giới tính km;
Chúng ta sẽ đo bằng ẩn dụ.
Hãy để xác suất nói;
Chúng ta sẽ trả lời bằng khả năng.
Ngay cả cây cũng yêu ánh sáng
Mà không cần chạm vật lý.

 

Let the world calculate kilometers;
We will measure metaphors.
Let probability speak;
We will answer with possibility.
Even trees adore sunlight
Without physical touch.

 

(12) Lan Anh

Vậy hãy để chúng ta là cây táo bạo và mặt trời xa xôi—
Mỉm cười với vật lý,
Trêu thời gian,
Làm lý trí hơi lo lắng.
Nếu tình yêu phi lý,
Hãy để nó phi lý thật đẹp.

 

Then let us be that audacious tree and distant sun—
Smiling at physics,
Teasing time,
Making practicality slightly nervous.
If love is absurd,
Let it be beautiful so.

 


(13) Cả hai

Mây không cần hộ chiếu.
Khói không ký hiệp ước.
Sông không nghe lệnh.
Và trái tim—
Khi chân thành—
Đầy phi lý một cách tuyệt vời.

Vậy chúng ta đứng đây:
Không thực tế.
Không đoán trước được.
Không hoàn toàn an toàn.

Nhưng thật.

Và có lẽ thực tại,
Khi được thiên nhiên chạm tới,
Trở thành tình yêu.

 

Clouds do not require passports.
Smoke signs no treaties.
Rivers ignore instructions.
And hearts—
When sincere—
Are magnificently unreasonable.

So here we stand:
Not practical.
Not predictable.
Not entirely safe.

But real.

And perhaps reality,
When touched by nature,
Becomes love.

 ***

From Email: Wirtschaftskanzlei@Dipl-Kauffrau-Tran.de

Dipl.- Kauffrau Thi Lan Anh Tran

READ MORE - MÂY KHÔNG CẦN HỘ CHIẾU - (Một bài thơ song ca – Duet) By Musharraf Hussain, Goalpara, Assam, India, & Thi Lan Anh Tran, Germany

Sunday, March 1, 2026

GIÓ SƯƠNG / BUÔNG / KHÉP / SO LE - Thơ Lê Thi

Lê Thi


GIÓ SƯƠNG

 

Đêm tỉnh giấc mẹ về

Đắp cho tôi chăn ấm

Giọt mồ hôi lấm tấm

Vội vàng đi gió sương

 

BUÔNG

 

Gà đã gáy canh ba

Cha trầm tư chưa ngủ

Bao dự định ấp ủ

Chuyến đò chiều phải buông

 

 

KHÉP

 

Vũ trụ khép bờ mi

Thêm một ngày nhung nhớ

Cả đại dương cách trở

Ai gọi thầm trong đêm ?

 

SO LE

 

Gối so le góc giường

Trong lòng em bão tố

Cây tình đang gãy đổ

Xót thương người phương xa


Lê Thi 

thivanle1569@gmail.com

READ MORE - GIÓ SƯƠNG / BUÔNG / KHÉP / SO LE - Thơ Lê Thi

LÊ THUẤN - HÀNH TRÌNH TỪ NHỮNG CON SỐ ĐẾN THƠ CA, MỘT HỒN THƠ NẶNG LÒNG VỚI QUÊ HƯƠNG - Hoàng Thị Bích Hà



LÊ THUẤN 

- HÀNH TRÌNH TỪ NHỮNG CON SỐ ĐẾN THƠ CA,

MỘT HỒN THƠ NẶNG LÒNG VỚI QUÊ HƯƠNG

 

Trong dòng chảy lặng lẽ nhưng bền bỉ của những người làm thơ ở miền đất Cố đô có những tác giả như cây cầu nối giữa hai bờ hiện thực và tâm tưởng, giữa đời sống vật chất xô bồ và thế giới tinh thần đầy thơ mộng. Lê Thuấn là một trường hợp như thế. Là dân kinh tế nhưng anh lại bén duyên với thi ca. Anh hoạt động lâu năm trong lĩnh vực tài chính- bảo hiểm. Cứ ngỡ những con số khô khan, những bảng cân đối kế toán, hay những chiến lược kinh doanh sẽ chiếm trọn tâm trí anh, nhưng không, sâu thẳm bên trong con người ấy lại là một tâm hồn thơ ca mãnh liệt, nặng lòng với quê hương, nhân hậu và lãng mạn.

Một con người của những con số, của nghiệp vụ tài chính- bảo hiểm, của vị trí Phó Chủ tịch Hội Doanh nghiệp Trẻ một thời của Huế lại hiện ra trọn vẹn với tư cách một thi sĩ, một người kể chuyện đầy cảm xúc qua hai tập thơ và một tập tản văn sắp ra mắt, khởi nguồn từ một tâm hồn thơ đầy ân tình với quê hương, với kỷ niệm và những rung động nguyên sơ nhất của đời người. Dù anh không phải người của giới chuyên nghiệp, không học văn chuyên, không sống bằng chữ, nhưng lại có một tình yêu âm thầm và bền bỉ với thi ca. Cái “duyên văn học” có lẽ cũng giống như những ngọn gió trời chiều trên dòng sông Hương: không ồn ào nhưng tinh khôi, thấm vào lòng người nhẹ nhàng và trong trẻo. Độc giả khám phá thế giới nội tâm phong phú ấy qua hai tập thơ: “Huế và tuổi thơ của tôi”, “Huế và em” và tập tản văn mang tên “Một chuyện tình”. Ba tác phẩm là ba cánh cửa mở ra ba miền cảm xúc khác nhau về tình yêu: tình yêu với Cố đô, tình yêu với kỷ niệm, và tình yêu đôi lứa.

1. Quê Hương và trường học, những kỷ niệm sống động nuôi dưỡng hồn thơ

Sinh ra và lớn lên trên vùng đất Quảng Điền - Thừa Thiên Huế, nơi nhịp sống hiền hòa còn lưu dấu trong mỗi hàng cau, bờ tre, cánh đồng lộng gió, tuổi thơ của Lê Thuấn là một chuỗi ký ức đậm màu quê nhà. Anh lớn lên bên những người thân thuộc chân chất, nơi có những con nắng chói chang của mùa hè và những mùa mưa Huế bất tận có khi dai dẳng hàng tháng trời. Chính mảnh đất này đã gieo mầm trong anh một tâm hồn nhạy cảm, biết lắng nghe những xao động nhỏ bé và nâng niu từng lát cắt đời sống.

Hành trình học tập của anh cũng gắn liền với những ngôi trường thân thương: Trường Tiểu học Cộng đồng Phú Ốc, Trung học Bồ Đề Long Quang, THPT Quảng Điền. Những ngôi trường không chỉ là nơi anh được học kiến thức mà còn là nơi vun đắp tình bạn, tình thầy trò sâu nặng, gieo vào tâm hồn anh vẻ đẹp của tình người, tình quê. Từ những mái trường ấy, anh mang theo ký ức của tình thầy trò, bạn bè, của tuổi học trò trong sáng- những điều sau này trở thành một phần quan trọng trong cảm hứng sáng tác của anh.

Hết bậc phổ thông ở quê nhà, Lê Thuấn vào đại học ngành Toán Kinh tế tại Đại học Tổng hợp Huế và sau đó tiếp tục học Đại học Tài chính Kế toán Hà Nội. Chính những khoảng thời gian học tập, làm việc và sống xa Huế sau này đã khiến nỗi nhớ quê hương trong anh thăm thẳm hơn. Anh công tác trong ngành tài chính, bảo hiểm, làm giảng viên thỉnh giảng-một hành trình của người làm kinh tế năng động, trách nhiệm. Trên con đường học vấn tại Đại Học Huế và Đại học Hà Nội là hành trình rèn luyện tư duy logic, sự chính xác và chuyên nghiệp - những phẩm chất đối lập, nhưng lại bổ trợ một cách hoàn hảo cho sự bay bổng của tâm hồn thi sĩ. Sự rèn luyện trong môi trường kinh tế, tài chính đã tạo nên một Lê Thuấn với cách nhìn nhận cuộc sống chân thật, ít ảo tưởng, nhưng vẫn giữ trọn vẹn sự lãng mạn.

Tôi biết anh qua mạng xã hội, qua những câu thơ giản dị nhưng đằm thắm anh viết về Huế, về tuổi thơ, về những hoài niệm dịu dàng. Chồng tôi biết anh (trước tôi), gián tiếp qua công việc. Điều đáng nói ở Lê Thuấn chính là sự đối lập đầy duyên nợ giữa lĩnh vực kinh tế và tình yêu văn chương anh đã dành phần lớn cuộc đời mình cho ngành tài chính bảo hiểm, giáo dục (giáo viên thỉnh giảng trường Trung cấp Âu Lạc Huế) và hoạt động xã hội (Phó Chủ tịch Hội Doanh nghiệp Trẻ Huế). Người ta dễ dàng nghĩ rằng một người kinh doanh sẽ rất thực dụng, nhưng chồng tôi (làm trong ngành giáo dục, dạy toán và có kiêm nhiệm kế toán một thời gian) khi thấy tôi đọc ba tập bản thảo, anh nói: “Lê Thuấn đọc sách nhiều, giỏi và là người đàng hoàng”. Lời nhận xét chân thành ấy đã khắc họa rõ nét nhân cách của anh: thông tuệ, chính trực và giàu tri thức văn hóa. Và phía sau những con số, những bảng biểu, những cuộc gặp gỡ công việc lại là một tâm hồn rất khác: mềm mại, nhiều suy tư, giàu cảm xúc, và luôn hướng về quê hương. Qua những bản thảo tôi cũng nhận được sự tinh tế, sự chân thành và một nội tâm đẹp, tâm hồn của văn chương. Đọc thơ văn, chúng ta như đi vào khám phá thế giới tâm hồn Lê Thuấn- một chân dung mang sự giao thoa độc đáo giữa tài chính và văn chương, hài hòa giữa cuộc sống và chữ nghĩa.

Giờ đây, khi đã nghỉ hưu và sống tại Đà Nẵng, anh vẫn tiếp tục giữ cho ngọn lửa văn chương của mình cháy đều, lặng lẽ mà kiên trì. Nghỉ hưu cũng là một cột mốc, để người đàn ông ấy cho phép mình sống trọn vẹn hơn với đam mê văn chương đã ấp ủ từ lâu.

Hai tập thơ và một tập tản văn, như một cột mốc đánh dấu hành trình sáng tác qua nhiều năm của mình. Đây là những bản thảo anh dồn tâm huyết, chắt lọc từ nhiều sáng tác suốt một đời viết trong im lặng. Ba tác phẩm, tuy mang ba sắc thái khác nhau, nhưng đều quy tụ về một điểm chung: chất giọng rất riêng của anh- mộc mạc, chừng mực, đầy hoài niệm và nặng nghĩa tình, là sự kết tinh của nhiều năm tháng làm thơ, viết văn. Người đọc sẽ thấy rõ ba mảng màu chủ đạo trong tâm hồn Lê Thuấn: tình quê hương, tình bè bạn thầy cô và tình yêu đôi lứa.

2. Tập Thơ: Huế và tuổi thơ của tôi - Bản tình ca dạt dào của kỷ niệm

Tập thơ gồm hai phần: Phần 1: Tình Huế, phần 2: Tuổi học trò.

Phần 1: “Tình Huế” là những dòng thương nhớ cho một quê hương không rời

Tập thơ đầu tiên là một cuốn nhật ký bằng thơ, nơi Lê Thuấn gửi gắm tất cả những gì anh yêu thương và khắc khoải nhất về cội nguồn.

Huế trong thơ anh không chỉ là một địa danh, mà là một miền ký ức, một nỗi nhớ kéo dài từ tháng năm học trò đến những chặng đường đời. Những câu thơ anh viết về Huế đầy tự hào, gợi lên vẻ đẹp trầm mặc và cổ kính:

“Huế đẹp muôn màu Huế của tôi/ Còn lưu thế kỷ ngỡ qua rồi…” (Huế ngày xưa)

Trong thơ anh, Huế hiện lên bằng những địa danh thân thuộc: chợ Đông Ba, núi Ngự, Đập Đá, bến sông Hương, Vĩ Dạ thơ mộng… Tất cả đều được phủ lên một lớp sương hoài niệm, khiến người đọc cảm nhận được niềm yêu thương tha thiết của một người con xa xứ nhưng không bao giờ thôi nhớ.

Với anh, Huế không chỉ đẹp trong cảnh sắc, mà còn trong ký ức của tình đời, tình người, trong đó có cả mối tình thuở học trò chưa ngỏ, trong bóng áo tím chiềuxưa.

Ở phần này, Lê Thuấn dẫn người đọc qua từng địa danh, vẻ đẹp về cảnh sắc và con người của Huế bằng cảm nhận riêng đầy yêu thương. Thơ anh không chỉ vẽ nên bức tranh đẹp đa sắc mà còn thổi vào đó hồn cốt, lịch sử và nỗi niềm. Sông Hương, Núi Ngự, Cửa Thuận, chợ Đông Ba, Đập Đá, Vĩ Dạ… không còn là những địa danh vô tri mà trở thành những nhân chứng, những người bạn tâm giao:

“Ghé đậu sông Hương Thuyền cập bến/ Trèo lên núi Ngự cỏ quanh đồi/ Nghe Hàn Mạc Tử còn vương vấn/ Vĩ Dạ mây chiều lác đác trôi…”(Huế ngày xưa).

Huế trong thơ Lê Thuấn không chỉ là một danh từ mà gần gũi thân thương như một người tình:

“Huế đẹp muôn màu Huế của tôi/ Còn Lưu thế kỷ ngỡ qua rồi/ Đông Ba một thuở vươn tầm vóc/ Đập Đá bao lần chuyển nét môi” (Huế ngày xưa)

Hay nỗi nhớ da diết không nguôi:

“Bạn đã trao lòng cảm Huế ơi/ Hoàng hôn Huế lộng giữa mây trời/ Đông Ba chợ Huế chiều đâu vãn/ Vĩ Dạ thơ Hàn Huế chẳng vơi.” (Thương Huế)

Các danh thắng, từ Sông Hương, Núi Ngự, Cửa Thuận, Túy Vân đến lăng tẩm, chùa chiền, hay ngay cả thời tiết nắng mưa đặc trưng của Huế đều được anh đưa vào thơ một cách nhuần nhuyễn, tự nhiên. Huế không chỉ là cảnh sắc mà còn là một trạng thái cảm xúc, là nơi ký ức được bảo tồn vẹn nguyên.

Lê Thuấn có khả năng nén cảm xúc vào khuôn khổ chặt chẽ của thơ Đường luật, một thể thơ mà anh tỏ ra rất sở trường. Mỗi câu chữ được chọn lọc, cân nhắc, vừa đảm bảo tính quy phạm, vừa toát lên vẻ đẹp trang nhã và nỗi nhớ da diết. Thời tiết Huế khắc nghiệt với nắng mưa thất thường hiện diện trong thơ Lê Thuấn, qua đó chúng ta thấy yêu hơn con người miền Trung, kiên cường trong mọi hoàn cảnh, chịu thương chịu khó.

Phần 2: “Tuổi học trò”- những rung động đầu đời không bao giờ cũ

Nếu phần “Tình Huế” là nỗi nhớ quê hương, thì phần “Tuổi học trò” là nỗi nhớ một thời thanh xuân rực rỡ. Huế là không gian địa lý, tuổi học trò là không gian thời gian đẹp đẽ nhất trong ký ức. Ở đây, giọng thơ Lê Thuấn trở nên trong trẻo, hồn nhiên và đầy lòng biết ơn. Những bài thơ viết về thầy cô, bạn bè, mái trường trong sáng và giàu cảm xúc:

Hình ảnh mái trường xưa, bảng đen phấn trắng, thầy cô, bè bạn được tái hiện với tất cả sự trân quý:

“Thủa ấy về đây dẫu dặm trường/ Quảng Điền Kỷ niệm ngọt ngào thương…” (Thầy cô)

Anh khéo léo chạm vào nỗi niềm chung của bất kỳ ai từng trải qua thời áo trắng: sự tiếc nuối thời gian, nỗi nhớ những ngày tháng vô tư và tình cảm chân thành. Những câu thơ dễ dàng gợi lên sự đồng cảm, khiến người đọc như trở về thời áo trắng:

“Tuổi học trò của ngày xưa vẫn nhớ/ Những yêu thương vẫn mơ ước đong đầy…” (Ngày xưa)

Nhiều bài thơ của anh gợi lên nỗi bâng khuâng của buổi chiều cuối hạ, khi tiếng ve, sắc phượng, và những lời hẹn tháng ba khiến lòng người xao động: Đặc biệt, tâm trạng háo hức chờ đợi ngày họp lớp:

“Từ hôm lớp hẹn ước/Tháng ba sẽ họp mặt/Là bạn tôi mãi nhắc/Bây giờ, tháng mấy đây?” (Lại mong tháng ba)

Bây giờ, tháng mấy đây?”- câu hỏi ngây ngô mà chân thật đến nao lòng. Ở một tầng nghĩa khác cho thấy nỗi mong chờ ngày hội ngộ bạn bè lại khiến người đọc cảm nhận được sự hồn nhiên không tuổi.

Kỷ niệm về trường lớp được Lê Thuấn miêu tả bằng những xúc cảm trong trẻo, chân thành, nơi tình thầy trò, bạn bè được đề cao như một giá trị thiêng liêng:

“Nhất tự vi sư người đã dạy/ Muôn ngày đáp lễ đệ còn vương/ Đời vui gặp gỡ tình sau trước/ Nghĩa nặng thầy cô một mái trường.” (Thầy cô)

Anh không chỉ nhớ mà còn sống lại trong những khoảnh khắc ấy. Nỗi bâng khuâng, tiếc nuối khi trở về trường xưa được thể hiện thật tinh tế:

“Chiều cuối hạ ai về qua trường cũ/ Thấy bâng khuâng nghe nhung nhớ dâng tràn/ Chân bước nhẹ sao hồn như lãng đãng /Giọt nắng vàng chiếu lại chuỗi ngày qua…” (Cuối hạ)

Đọc thơ anh về tuổi học trò, người ta như tìm lại được một phần tuổi trẻ của chính mình, đó là sự đồng cảm mạnh mẽ nhất mà một nhà thơ có thể mang lại.

Thơ Lê Thuấn nhẹ nhàng, trong trẻo, không cầu kỳ kỹ thuật nhưng giàu cảm xúc chân thật. Đặc biệt, anh sử dụng thể Đường luật rất thuần thục- đây có lẽ là thế mạnh nổi bật nhất trong sáng tác của anh.

3. Tập thơ “Huế và Em” bản tình ca lãng mạn.

Nếu tập thơ “Huế & tuổi thơ của tôi” là nỗi nhớ hướng về cội nguồn, về tuổi thơ mà tình yêu đại chúng với quê hương, thì “Huế và em”lại là nơi tình yêu đôi lứa được đặt trong không gian lãng mạn của cố đô. Huế là nguồn cảm hứng, là nhân chứng, là phông nền cho những cảm xúc mãnh liệt nhất. Sự hòa quyện giữa tình yêu và cảnh sắc thơ mộng. Huế không chỉ là quê hương mà còn là bối cảnh, thậm chí là đồng cảm với một mối tình.Tình cảm dành cho Huế cùng cảm xúc dành cho “em”- bóng hồng xuất hiện trong nhiều bài thơ của anh. Vẫn là dòng Hương, núi Ngự, vẫn là sắc tím Huế, nhưng giờ đây lãng đãng thêm sự rung động của trái tim đang yêu:

“Huế của muôn đời, Huế mộng mơ/ Chiều xưa Thương Bạc phủ sương mờ/ Tung bay áo tím vui cùng gió/Lãng tử đa tình lại ngẩn ngơ.” (Huế mộng)

Vẫn là Huế, nhưng dưới góc nhìn của tình yêu, nó trở nên trữ tình, mộng mị và đa tình hơn. Nỗi nhớ, sự hẹn ước và cả sự nuối tiếc được gửi gắm một cách sâu sắc. Có khi là tiếng vọng của một mối tình thuở hoa niên:

“Một thuở yêu thương bỗng kéo về/ Thời gian níu lại mối tình quê…” (Dòng sông một thuở)

Hình ảnh áo tím, dòng Hương, phượng bay… tất cả đều thấm đẫm chất Huế và trở thành biểu tượng của một mối tình đẹp. Tình yêu trong thơ Lê Thuấn ở tập này vừa tha thiết, vừa có chút gì đó xa vắng, nuối tiếc, như một mối duyên chưa trọn: Cảnh xưa giờ vẫn còn nguyên vẹn/ Mà bóng người thương hẹn chẳng về.”(Dòng sông một thuở)

Chất “lãng tử đa tình” và “ngẩn ngơ” mà anh tự nhận ấy, phải chăng là tâm thế của một người luôn đắm say trước vẻ đẹp của đất và người, nhưng cũng ý thức được sự mong manh, dễ vỡ của những rung động ấy? Thơ trong tập này vẫn giữ được sự chỉn chu về niêm luật, nhưng cảm xúc thì phóng khoáng và da diết hơn, cho thấy một Lê Thuấn đa dạng trong cùng một mạch nguồn cảm hứng.

Trong “Huế và Em”, hình ảnh người con gái gắn liền với Huế khiến phong vị thơ anh thêm dịu dàng, ngọt lịm. Có khi là lời mời trở về thăm lại cố hương:

“Tết ni về Huế không anh? Về thăm quê mẹ ngọt lành mến thương…” (Tết về thăm Huế)

Tình yêu trong thơ anh ngọt ngào, lãng mạn, không bi lụy mà vẫn luôn giữ sự chừng mực, tinh tế - nét đặc trưng của người Huế thương mà không nói, nhớ mà không ồn ào.

Hình thức nghệ thuật trong thơ Lê Thuấn:

Tâm hồn anh giàu xúc cảm được thể hiện qua nhiều thể loại, từ thơ lục bát truyền thống, thơ năm/bảy/tám chữ,… nhưng phần lớn là Đường luật. Có lẽ thơ Đường là thế mạnh của Lê Thuấn. Anh chọn lọc từ ngữ biểu đạt, trình bày ngắn gọn, khúc chiết trong cách diễn đạt và tuân thủ nghiêm ngặt luật thơ. Điều này cho thấy sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tư duy logic, chặt chẽ của người làm kinh tế với sự tinh tế, cổ điển của một tâm hồn thi sĩ.

4. Tập tản văn “Một chuyện tình” -một cuộc gặp gỡ đẹp nhưng không trọn.

Khác với hai tập thơ đậm chất hoài niệm, tập tản văn “Một chuyện tình”, kể về một mối tình, nhẹ nhàng và sâu lắng. Đây là một tác phẩm văn xuôi giàu chất lãng mạn và triết lý. Lê Thuấn khiến người đọc ngạc nhiên thú vị. Nếu thơ là sự cô đúc, hàm súc, thì tản văn của anh là sự giãi bày, tâm tình. Anh- chàng trai từ Quy Nhơn lên Pleiku công tác và cô chủ nhà hiền hậu. Hai con người vô tình gặp nhau, quen nhau qua một tình huống rất đời thường. Sự thấu hiểu khiến họ dần thương nhau, để rồi tình yêu đến nhẹ như gió, ấm như nắng, nhưng lại không thể đi đến đoạn cuối của hạnh phúc. Câu chuyện được kể lại bằng một giọng văn giản dị, nhẹ nhàng, đầy chất thơ.

“Một chuyện tình”- một sự sắp đặt của cuộc đời mà nhân vật trữ tình vẫn không biết đó là “duyên trời cho hay trời bắt”.

Bất kỳ một tác phẩm nào cũng vậy. Dù câu chuyện tả thực hay hư cấu phần nào đều có thể có phảng phất bóng hình tác giả, gửi gắm một phần đời hoặc đôi khi chỉ là tư tưởng. Có lẽ sức hút."Anh" trong truyện là hình mẫu của sự lịch lãm, nhẹ nhàng, lịch sự và chu đáo. Sự tỉ mỉ của người làm quản lý được chuyển hóa thành sự gọn gàng, bảo quản nhà cửa chu đáo. Từ sự gần gũi công việc, tình cảm nảy nở một cách tự nhiên, tạo nên một mối tình đẹp, đầy tha thiết, mặn nồng, ấm áp và lãng mạn. Đoạn văn chứa đựng những suy ngẫm về cuộc sống và bốn mùa. Văn phong của Lê Thuấn trong bản thảo này nhẹ và đẹp như những mùa anh miêu tả:

“Mùa xuân với những niềm vui và sự đầm ấm... Mùa hè với những háo hức chờ đợi... Mùa thu với khí trời êm dịu làm tăng thêm sự dịu dàng, lãng mạn... Mùa đông trở về để thử thách sự chịu đựng của con người.”

Không có những kịch tính ồn ào, mối tình ấy diễn ra tự nhiên như cỏ cây đâm chồi trong bốn mùa được miêu tả rất tinh tế: mùa xuân “đầm ấm tươi xanh”, mùa hè “háo hức chờ đợi”, mùa thu “êm dịu” với “khúc tình ca lan nhẹ”, mùa đông “thử thách sự chịu đựng”. Tình yêu của họ cũng vậy, là sự nâng niu, bảo bọc, lo lắng cho nhau. Điều đáng quý tình yêu của hai nhân vật là một tình yêu biết cho đi, không vị kỷ. Một tình yêu biết sẻ chia, biết hi sinh nhưng không chiếm hữu. Dù yêu sâu đậm, họ vẫn không thể đến với nhau vì những khoảng cách vô hình, những ràng buộc không thể gọi tên. Cuối cùng, anh trở về Quy Nhơn, còn chị chọn ở vậy, chung thủy với tình yêu ấy. Nàng quyết không kết hôn với ai khác, chỉ yêu mỗi chàng, chấp nhận sống trong sự cô đơn để trọn với tình. (bạn bè thấy chị cô đơn cũng mai mối cho những người đàn ông thành công và tử tế. Và anh cũng muốn chị ổn định gia đình, nhưng gặp ai chị cũng không thể mở lòng được)

Dẫu yêu nhau tha thiết, nhưng vì những lý do riêng, họ không thể về chung lối. Đó là một nỗi đau, nhưng là nỗi đau đẹp, được chấp nhận với sự thanh thản và niềm tin vào sự sắp đặt của tạo hóa. Kết thúc ấy để lại dư vị ngậm ngùi, day dứt, nhưng cũng đầy nhân văn và tôn trọng sự tự do của người mình yêu. Nó khiến câu chuyện vượt lên trên một tình yêu nam nữ thông thường, trở thành một triết lý sống về sự yêu thương và buông bỏ: “luôn muốn điều tốt đẹp cho những người mình yêu thương nhưng lại không bao giờ muốn chiếm hữu”.

Khép lại câu chuyện là một sự chia ly không vẹn về mặt hình thức: yêu nhau mà vẫn xa nhau. Khoảng cách không gian hay một ràng buộc nào đó không nói nên lời đã tạo nên bi kịch lãng mạn. Đó là một chuyện tình đẹp và buồn, nhưng nhân văn và thấm đẫm tinh thần của người đàn ông luôn nhìn cuộc đời bằng sự tử tế. Tác phẩm không chỉ là một chuyện tình mà còn là tâm tư, suy nghĩ của một người luôn biết lo cho người khác, yêu thương hết mình cho người khác nhưng lại có một nguyên tắc cao cả: không chiếm hữu.

Điểm nhấn của tập tản văn là Tình Yêu và Số Phận, là cái nhìn sâu sắc về tình yêu. Đây chính là tính cách nhân văn của Lê Thuấn được gửi gắm trong tác phẩm:

Tình yêu trong tản văn Lê Thuấn không phải là sự sở hữu, mà là sự hy sinh, tôn trọng, và chấp nhận sự an yên của đối phương - một triết lý tình yêu đẹp đẽ, nhân hậu và thấm đẫm chất Phật.

5. Lê Thuấn- người hoạt động trong lĩnh vực kinh tế yêu thơ và yêu cái đẹp.

Điều thú vị là giữa đời sống kinh tế đầy tính toán, Lê Thuấn vẫn giữ cho mình một khoảng trời thi ca- nơi anh gửi gắm những tình cảm chân thành nhất. Anh viết bằng cảm xúc, bằng sự trải nghiệm, bằng ký ức đong đầy.

Thơ anh không nhằm tạo ra sự cầu kỳ, mà hướng đến sự trong sáng của cảm giác và sự chuẩn mực trong thể thơ, nhất là thơ Đường luật - thể loại đòi hỏi kỷ luật nghiêm ngặt. Chính sự chừng mực ấy làm nên một bản sắc riêng: cổ điển mà không cũ, hiện đại mà không phá cách quá đà.

Xuyên suốt ba tác phẩm, độc giả sẽ nhận ra một Lê Thuấn thể hiện sự nhất quán trong tâm hồn nhưng đa dạng trong cách biểu đạt. Anh- một con người nặng tình với cội nguồn: Huế là điểm tựa, là nguồn cảm hứng vô tận, hiện diện trong từng trang thơ, từng kỷ niệm. Ở Lê Thuấn-một tâm hồn lãng mạn, đa cảm: Dù viết về quê hương, tuổi học trò hay tình yêu, anh luôn đặt vào đó những rung động chân thành nhất, đẹp đẽ nhất. Một nghệ sĩ tài hoa và kỷ luật thể hiện trong thơ Đường luật với những quy tắc nghiêm ngặt dường như là sở trường, nơi anh có thể kết hợp nhuần nhuyễn giữa tư duy logic của một nhà kinh tế (cấu trúc chặt chẽ) và cảm xúc của một thi sĩ. Sang văn xuôi, anh lại cho thấy khả năng kể chuyện mượt mà, tự nhiên. Một nhân cách “đàng hoàng”: Điều này thể hiện qua cách anh đối xử với ký ức (không son phấn, không đau thương hóa), với tình yêu (tôn trọng và vị tha), và với cuộc đời (chấp nhận và tin vào sự tốt đẹp).

Ba tác phẩm của Lê Thuấn không chỉ là sự tổng kết một chặng đường sáng tác, mà còn là món quà tinh thần quý giá gửi đến độc giả. Đó là hành trình trở về với những gì nguyên bản nhất của một đời người: tình yêu quê hương, lòng biết ơn với quá khứ và khả năng rung cảm trước cái đẹp dù ở bất kỳ hình thức nào. Đọc Lê Thuấn, chúng ta sẽ tìm thấy một phần ký ức của chính mình, thấy bóng dáng một miền quê thân thuộc, và trên hết, thấy được sự ấm áp của một tâm hồn biết yêu thương và trân trọng cuộc sống này.

“Huế và tuổi thơ của tôi”, “Huế và em”, và “Một chuyện tình” - không chỉ là sự xuất hiện của một người yêu văn chương, thích làm thơ, mà còn là sự khẳng định của một tâm hồn nghệ sĩ đích thực. Hai tập thơ và một tập tản văn là kết quả của quảng đời yêu chữ nghĩa, chắt chiu chữ nghĩa, và sống tử tế với ký ức của chính mình. Từ những bài thơ Đường luật chặt chẽ về Huế mộng mơ, đến những vần thơ dạt dào về tuổi học trò, và cuối cùng là một chuyện tình đầy triết lý, lãng mạn nhưng cũng đầy khắc khoải, Lê Thuấn đã chứng minh rằng: tư duy kinh tế có thể rèn luyện sự chính xác, nhưng chỉ có tình yêu thương và nỗi nhớ quê hương mới có thể tạo nên chiều sâu của nghệ thuật.

Nhìn lại hành trình của Lê Thuấn, ta thấy một người viết chân thành giữa đời thường, hài hòa của nhiều vẻ đẹp: sống, làm việc chỉn chu, yêu quê hương một cách sâu lắng và dành cho văn chương một tình cảm bền bỉ, thủy chung. Anh không ồn ào tỏ vẻ mình là nhà thơ, nhưng chính sự lặng lẽ ấy lại tạo nên sức hút ở những trang thơ, trang văn.

Ba tác phẩm này không chỉ ghi lại dấu ấn sáng tác mà còn ghi lại cả một đời sống nội tâm phong phú. Đó là tiếng nói của một người giàu trải nghiệm, từng làm nhiều công việc, đi qua nhiều miền đất, trải nhiều niềm riêng nhưng vẫn giữ được sự trong trẻo của lòng mình.

Với các bút danh Lê Thuấn, Biển Hồ, hay những cái tên thân mật như Chàng Ngốc, Tê Hát, anh đã âm thầm kiến tạo nên một gia tài văn chương cá nhân, giờ đây, đã đến lúc những tác phẩm này được chính thức ra mắt. Với những ai yêu Huế, yêu tuổi học trò, yêu những câu chuyện tình đẹp nhưng không trọn, bộ sách của Lê Thuấn chắc chắn sẽ mang đến những khoảnh khắc lắng đọng và nhiều dư vị. Và hơn hết, nó cho thấy một điều giản dị nhưng quý giá:

Dù làm nghề gì, sống ở đâu, nếu trong tim còn giữ một góc cho văn chương, thì mỗi người đều có thể trở thành người kể chuyện đẹp nhất của cuộc đời mình.

Đến với bộ ba tác phẩm này để cùng lắng nghe và đồng cảm với trái tim của một người con xứ Huế, người đã khéo léo cân bằng giữa những con số và những vần thơ, giữa thực tế cuộc đời và sự lãng mạn vĩnh cửu của tình yêu.

Saigon, ngày 10/12/2025

Hoàng Thị Bích Hà

 

READ MORE - LÊ THUẤN - HÀNH TRÌNH TỪ NHỮNG CON SỐ ĐẾN THƠ CA, MỘT HỒN THƠ NẶNG LÒNG VỚI QUÊ HƯƠNG - Hoàng Thị Bích Hà