Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, June 1, 2026

NHỚ THANH NÊ - Thơ: Đỗ Anh Tuyến

 

Ảnh từ: https://www.youtube.com/watch?v=Fd4HhcUgxT4


NHỚ THANH NÊ

 

Tôi lật tìm một vệt mực chưa khô

Trên tấm bản đồ vừa thay tên đổi họ

Ngón tay chạm vào Kiến Xương, Thái Bình xưa cũ

Mà nghe như chạm vào khoảng trống hư vô..

 

Thanh Nê ơi!

Tên của bùn non, của rơm rạ dại khờ

Của tiếng võng trưa mẹ đưa kẽo kẹt

Chỉ một công văn, một con dấu đỏ

Một danh xưng nghìn năm bỗng chốc khép màn.

 

Bờ đê vẫn thức cùng sương tan

Sông Trà Lý vẫn âm thầm chảy miết

Người Thanh Nê dẫu đi xa vạn dặm

Vẫn mặn mòi giọng đồng bãi quê cha..

 

Nhưng từ nay giữa giấy tờ xa lạ

Tôi lưu vong trên đất mẹ quê mình

Tên khai sinh gửi vào nấm mộ thời gian

Nhường chỗ cho những tên gọi hành chính mới..

 

Mai này ai về đất cũ tìm chơi

Hỏi nhỏ một câu đâu rồi thị trấn

Người già nhìn nhau, thở dài xa vắng

Người trẻ quay đi, ngơ ngác tiếng cười....

 

Cái tên từng buộc chặt đời người

Nay đứng bên lề hóa kẻ người dưng...

ĐỖ ANH TUYẾN 

Địa chỉ: Khu Cộng Hòa, thị trấn Thanh Nê, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.

dovantuyenbk@yahoo.com.vn

 

READ MORE - NHỚ THANH NÊ - Thơ: Đỗ Anh Tuyến

NỬA HỒN MÊ - Thơ: Trần Hữu Thuần

  

Tác giả Trần Hữu Thuần

Nửa Hồn Mê

Thơ Trần Hữu Thuần

 

Cuộc tình lạc cõi trời hoang lạnh,

Huơng khói không khơi lại ấm nồng,

Phố phường rộn rã, lòng hiu quạnh,

Đôi bờ đôi bến, cách dòng sông.

 

Lỡ hẹn thăm anh, tại lỡ đò,

Tại trời giông bão, sóng tràn bờ,

Tại con chim Khách quên điềm báo,

Tại giấc ngủ vùi ngây ngất mơ!

 

Đừng oán trời chiều tắt nắng sớm,

Đừng trách khô hạn, gió heo may,

Đừng giận thư hồi âm không đến,

Đừng hờn vì em quá chén say.

 

Chỉ tại vòng tay nới lỏng rồi,

Lấy gì thắt chặt cuộc tình lơi,

Một bước chân đi, quên lối cũ,

Níu làm sao được cánh hoa rơi?

 

Hồn anh giờ chết giữa trời hoang,         

Một nửa mê man, nửa lạc loài,

Chỉ muốn lạc hoài, mê vô tận,

Cuộn kén tằm tơ, giấc ngủ dài.

 

(Grand Rapids, Michigan, 24th, 5, 2026)

T.H.T.

        jbtranthuan@hotmail.com

 

 

 

 

 

 

READ MORE - NỬA HỒN MÊ - Thơ: Trần Hữu Thuần

SUNLIGHT ON YOUR SHOULDER / NẮNG CHẠM VAI EM - Thơ: Trần Thị Lan Anh & Musharraf Hussain

We, Lan Anh and Musharraf Hussain, would like to express our sincerest gratitude to the poetry channels The Writers Weave, Rhythmic Rainbow, and The Hilden Spring for the wonderful and encouraging gifts given to our poem “Sunlight on Your Shoulder” today.

Thank you so very much.




 

Sunlight on Your Shoulder

 

Sunlight leans upon your shoulder light,

Like words of love that fade from sight.

Evening falls in soft refrain,

A distant breeze recalls your name.

Your steps drift like a fleeting dream,

Half-known, half-lost in silent streams.

A wandering glance through time and space,

Yet holds one place it won’t erase.

Do you hide a restless ache inside,

A sky of memories you still confide?

Or does the wind so gently play,

And bend the past into the day?

I watch the fading light descend,

Where moments blur and softly blend.

A human life walks through the rain,

Between forgetting and sweet pain.

If winds should turn and shift your way,

May peace remain with you each day.

Though endless sunlight softly stays,

May kindness warm your inner ways.

_____________________________

Authors:

Thị Lan Anh Tran – Aschaffenburg, Germany

Musharraf Hussain – Assam, India

© Copyright: All rights reserved by the authors

 

-------------------------------------------------

 

NẮNG CHẠM VAI EM

 

Nắng nghiêng khẽ chạm vai người

Như thương chưa kịp nói lời đã xa

Chiều rơi xuống giữa ngân nga

Một miền gió cũ thoảng qua tim mình

Bước em như một bóng hình

Nửa quen nửa lạ nửa tình còn vương

Ánh nhìn lạc giữa khói sương

Mà tim cứ hướng một phương chẳng rời

Có phải em giấu đầy vơi

Trong đôi mắt ấy một trời chưa quên?

Hay là gió cũng dịu êm

Nên làm ký ức nghiêng thêm bóng chiều

Ta nhìn nắng rụng liêu xiêu

Thấy trong khoảnh khắc rất nhiều mênh mang

Một đời đi giữa nhân gian

Cũng là đi giữa mơ màng và quên

Nếu mai gió có xoay vần

Xin em giữ lại một phần bình yên

Dẫu cho nắng có triền miên

Trong tim vẫn có dịu hiền để thương.

 

 

Authors:

Thị Lan Anh Tran – Aschaffenburg, Germany

Musharraf Hussain – Assam, India

© Copyright: All rights reserved by the authors





READ MORE - SUNLIGHT ON YOUR SHOULDER / NẮNG CHẠM VAI EM - Thơ: Trần Thị Lan Anh & Musharraf Hussain

LÀNG HỘI KỲ - MIỀN CỔ TÍCH BÊN DÒNG Ô LÂU - Người Hải Lăng




 Làng Hội Kỳ – miền cổ tích bên dòng Ô Lâu

Người Hải Lăng

 

Giữa dải đất miền Trung đầy nắng gió, nơi những mùa hạn khô rang đi qua rồi lại nhường chỗ cho những mùa mưa trắng trời, có một ngôi làng lặng lẽ nép mình bên dòng Ô Lâu hiền hòa. Đó là làng Hội Kỳ, thuộc xã Hải Chánh, huyện Hải Lăng cũ, nay thuộc xã Nam Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị — một miền quê không ồn ào phô diễn, không rực rỡ sắc màu đô hội, nhưng lại có sức níu giữ lòng người bằng vẻ đẹp cổ kính, trầm mặc và sâu thẳm như chính ký ức của bao đời cư dân nơi đây.

 


Hội Kỳ không chỉ là một địa danh trên bản đồ. Hội Kỳ là một miền di sản. Một miền quê mà mỗi mái nhà, mỗi hàng cây, mỗi lối ngõ, mỗi bờ tre đều như còn cất giữ trong mình hơi thở của thời gian. Dòng Ô Lâu chảy qua làng không chỉ đem phù sa bồi đắp ruộng đồng, mà còn bồi đắp nên hồn cốt của một vùng văn hóa. Con sông ấy như một dải lụa mềm vắt ngang ký ức, ôm lấy làng bằng sự dịu dàng, chở che và lặng thầm chứng kiến bao cuộc đổi thay của đất trời, của con người, của lịch sử.

 


Từ hơn bốn trăm năm trước, những bậc tiền nhân đã đặt chân đến vùng đất này, khai hoang lập ấp, dựng nên xóm làng, chọn nghề nông làm kế sinh nhai và gửi lại cho con cháu một gia tài quý giá: đó không chỉ là ruộng đồng, bến nước, lũy tre, mà còn là nếp nhà, nếp sống, nếp nghĩ và đạo lý gia phong. Trải qua bao biến thiên dâu bể, Hội Kỳ vẫn giữ được trong mình dáng vẻ của một làng quê Việt cổ — nơi con người sống thuận theo thiên nhiên, kính trọng tổ tiên, gắn bó với dòng họ, với xóm làng và với từng tấc đất quê hương.

 



Điều làm nên vẻ đẹp riêng có của Hội Kỳ chính là những căn nhà rường cổ. Đó là những ngôi nhà không chỉ được dựng lên bằng gỗ, bằng ngói, bằng bàn tay tài hoa của người thợ mộc xưa, mà còn được dựng nên bằng tâm thức văn hóa, bằng sự chắt chiu của nhiều thế hệ. Những mái ngói liệt phủ màu rêu phong, những cột kèo bằng gỗ mít sẫm màu thời gian, những hoa văn rồng phượng chạm trổ tinh xảo, những cánh cửa bản khóa mở ra khép lại như từng trang sách cổ — tất cả làm nên một không gian vừa mộc mạc, vừa sang trọng, vừa gần gũi, vừa linh thiêng.

 


Bước vào một căn nhà rường ở Hội Kỳ, người ta có cảm giác như bước vào chiều sâu của quá khứ. Gian giữa trang nghiêm là nơi đặt bàn thờ tổ tiên, nơi khói hương nối liền người đang sống với những người đã khuất. Hai bên là không gian tiếp khách, sinh hoạt, là nơi câu chuyện gia đình được tiếp nối qua từng thế hệ. Những bức hoành phi, câu đối, án thờ, khán thờ, vật dụng cũ… không chỉ là đồ vật, mà là chứng nhân của một thời. Chúng kể cho ta nghe về nề nếp gia đình, về đạo hiếu, về sự học, về lòng kính trọng nguồn cội và về cách người xưa gìn giữ phẩm giá trong từng nếp sống thường ngày.

 


Những ngôi nhà ấy thấp, chắc, kín đáo mà bền bỉ. Mùa đông thì ấm, mùa hè thì mát, bão giông đi qua vẫn lặng lẽ đứng đó như một biểu tượng của sự vững chãi. Có lẽ, đó cũng chính là dáng dấp của con người Hội Kỳ: hiền hòa mà cứng cỏi, chân chất mà sâu sắc, lặng thầm mà bền gan trước mọi thử thách của thiên nhiên và lịch sử.

 

Không gian bên ngoài những căn nhà cổ cũng mang một vẻ đẹp rất riêng. Đó là vẻ đẹp của hàng rào cây xanh, của vườn tược sum suê, của bóng mát cây trái, của lối nhỏ quanh co dẫn ra bờ sông. Ở Hội Kỳ, kiến trúc không tách rời thiên nhiên, con người không đứng ngoài cảnh vật. Mái nhà, khu vườn, dòng sông, bến nước, đình làng, miếu cổ, nhà thờ họ… hòa quyện với nhau thành một chỉnh thể yên bình, dung dị, đậm chất làng quê Bắc Trung Bộ.

 

Hội Kỳ còn là nơi lưu giữ những thiết chế văn hóa truyền thống của làng Việt. Đình, miếu, nhà thờ các dòng họ không chỉ là công trình kiến trúc cổ, mà còn là nơi neo giữ hồn làng. Ở đó có lễ nghi, có gia phả, có ký ức tổ tiên, có sự kết nối giữa các thế hệ. Mỗi dịp xuân thu, mỗi ngày giỗ chạp, mỗi lần con cháu trở về thắp nén hương trước bàn thờ họ tộc, là một lần mạch nguồn văn hóa được khơi lại, là một lần người ta tự nhắc mình rằng: dù đi đâu, làm gì, quê hương vẫn là nơi bắt đầu.

 

Đặc biệt, Hội Kỳ còn có những dấu tích làm nên niềm tự hào riêng của làng: lăng bà Dương Thị Ngọt — người con gái tài sắc của quê hương từng là phi tần của vua Thành Thái; cây xoài cổ thụ hàng trăm năm tuổi; những ngôi nhà thờ họ cổ kính; những mái nhà rường còn sót lại sau bao mất mát của chiến tranh, thiên tai và thời gian. Mỗi dấu tích ấy giống như một mảnh ghép của ký ức, góp phần tạo nên chân dung một ngôi làng vừa bình dị, vừa đáng quý.

 

Nhưng vẻ đẹp của Hội Kỳ hôm nay cũng khiến lòng người không khỏi bâng khuâng. Bởi những mái nhà cổ từng một thời hiện diện nhiều hơn thế. Có những ngôi nhà đã xuống cấp, có những ngôi nhà không còn đủ điều kiện trùng tu, có những giá trị đã mất đi trong lặng lẽ khi đời sống hiện đại cuốn con người vào những lựa chọn mới. Thời gian không chỉ phủ rêu lên mái ngói, mà còn âm thầm thử thách khả năng gìn giữ di sản của mỗi thế hệ.

 

Vì vậy, Hội Kỳ không chỉ cần được ngợi ca, mà còn cần được nâng niu. Những căn nhà rường cổ không đơn thuần là tài sản riêng của từng gia đình, mà là tài sản văn hóa chung của quê hương Quảng Trị. Mỗi cột gỗ, mỗi vì kèo, mỗi mái ngói, mỗi bức hoành phi đều chứa đựng một phần lịch sử. Nếu mất đi, không chỉ mất một ngôi nhà, mà mất cả một lớp ký ức, một phần hồn cốt của làng quê.

 

Giữa nhịp sống hiện đại, khi nhiều làng quê đang đổi thay từng ngày, Hội Kỳ càng trở nên quý giá. Quý không chỉ vì tuổi đời hơn bốn thế kỷ, không chỉ vì những căn nhà rường cổ hiếm có, mà còn vì nơi đây vẫn giữ được cái thần thái thanh bình của một làng quê xưa: có sông nước, có vườn cây, có đình làng, có nhà thờ họ, có khói hương tổ tiên, có lòng người mộc mạc và có một vẻ đẹp khiến ai đã một lần ghé qua cũng muốn chậm lại.

 

Hội Kỳ là nơi để người xa quê tìm về nguồn cội. Là nơi để người yêu văn hóa lắng nghe tiếng nói của thời gian. Là nơi để những ai đã quá quen với phố thị ồn ào được chạm vào sự tĩnh lặng, vào màu rêu cũ, vào bóng tre, mái ngói, vào hơi thở của một miền quê còn giữ được linh hồn.

 

Dòng Ô Lâu vẫn chảy. Mái ngói Hội Kỳ vẫn trầm mặc dưới nắng mưa. Những căn nhà rường vẫn đứng đó, khiêm nhường mà kiêu hãnh, như những người già minh triết ngồi bên hiên kể chuyện trăm năm. Và Hội Kỳ, trong dáng vẻ lặng lẽ của mình, vẫn mãi là một miền cổ tích bên sông — nơi quá khứ không hề mất đi, mà đang sống tiếp trong từng nếp nhà, từng bóng cây, từng câu chuyện và từng tấm lòng biết nhớ về quê hương.

 

Hình ảnh: Sưu tầm từ nhiều nguồn

READ MORE - LÀNG HỘI KỲ - MIỀN CỔ TÍCH BÊN DÒNG Ô LÂU - Người Hải Lăng

VÀI BỮA SÀI THÀNH / SÀI GÒN / QUÀ TẶNG - Chùm thơ: Vũ Hùng

Tác giả Vũ Hùng


 VÀI BỮA SÀI THÀNH


Vô chơi vài bữa Sài Thành

Bình Tân, Gò Vấp loanh quanh mấy nhà

Lạ đường gần hóa thành xa

Hỏi thăm lắm lúc rầy rà nhiêu khê

Lịch mời hẹn gặp cà phê

Cũng đành khất lại về quê cận ngày 

Định lên Phú Nhuận chiều nay

Cũng đành ngồi ngắm mưa bay trắng trời!

VŨ HÙNG 

 

SÀI GÒN 


Sài Gòn sáng nắng chiều mưa

Nửa đêm lành lạnh như vừa chớm đông.

Còi xa văng vẳng bên sông

Thèm ghê một hớp rượu nồng chốn quê!

VŨ HÙNG

 

QUÀ TẶNG 


Cảm ơn quà tặng phong lan,

Sáng nay hoa nở ngỡ ngàng góc sân.

Ngắm hoa lòng mãi bâng khuâng 

Đời vui hội ngộ mấy lần nữa đây?

Người về trăng gió trời Tây

Nẫu về Xứ Nẫu nước mây ngậm ngùi!

VŨ HÙNG

<hutazox@gmail.com>

READ MORE - VÀI BỮA SÀI THÀNH / SÀI GÒN / QUÀ TẶNG - Chùm thơ: Vũ Hùng

VỀ HUẾ / VỀ LÀNG / THƠ VIẾT VỀ MẸ NHÂN MÙA VU LAN - Chùm thơ: Hoàng Thị Bích Hà

Tác giả Hoàng Thị Bích Hà


VỀ HUẾ

 

Tản bộ Cầu Ga về Giã Viên

Chiều buông tím nhẹ cả khung trời

Sông Hương chầm chậm trôi như nhớ

Bến cũ xa xa,… một chiếc thuyền

 

Nguyệt Biều cau thẳng hàng xanh ngắt

Vườn cũ còn thơm trái bưởi hiền

Con gái xứ này như nón lá

Nghiêng vành che nửa nét thuyền quyên

 

Tôi bước qua vùng Long Thọ cũ

Lò xưa còn đỏ lửa trong tim?

Khói bay như sợi tơ trời tím

Vương vấn hồn ai nhánh cỏ sim

 

Huế vẫn dịu dàng như thuở ấy

Mưa giăng mỏng mảnh dáng tơ mềm

Người xưa chẳng biết giờ đâu nhỉ

Lòng đã quên chưa thuở chung đường

 

Giỗ chạp chưa về dâng chén rượu

Lòng như lỗi hẹn mấy mươi niên.

 

Saigon, ngày 1/5/2026

Hoàng Thị Bích Hà

 


VỀ LÀNG

 

Bữa ni tôi lại về thăm Huế

Qua cầu An Lỗ, tới Phong Sơn

Chiều rơi đầy tím, trên mặt nước

Sông quê chở gió một con thuyền

 

Lại Bằng cau thẳng hàng như bút

Vườn bưởi nhà ai thơm ngát hương

Em gái Hiền Lương nghiêng nón lá

Tôi qua… tan hết cả ưu phiền

 

Tôi ghé Hương Cần mơ vị quýt

Vườn cây còn đỏ chút ráng chiều

Ai nhóm năm nào than lửa nhớ

Để giờ tim vẫn đỏ cô liêu

 

Huế vẫn như xưa, mưa vẫn mỏng

Chuông chùa Thiên Mụ đổ sương đêm

Người xưa chẳng biết theo chồng chửa?

Mà bến sông Bồ… đợi bóng em

 

Giỗ, chạp mấy mùa chưa kịp lại

Nhang quê còn ấm giữa bàn thờ?

Ta đi biền biệt phương trời khác

Mắc nợ quê hương một chữ chờ.

 

02/5/2026
Hoàng Thị Bích Hà

 

THƠ VIẾT VỀ MẸ NHÂN MÙA VU LAN

(Viết tặng những ai không còn mẹ)


Ai dù đi hết cuộc đời
Hình như vẫn cứ chưa rời ấu thơ
Lời ru mẹ- vẫn hằng mơ
Đêm về giấc mộng vẫn chờ mẹ thôi

Cánh cò, cánh vạc, hồn quê
Dù đi trăm nẻo, nhớ về lối xưa
Những ngày nắng sớm mưa trưa
Tảo tần đời mẹ- bóng người người xuôi

Sinh con dưỡng dục chăm nuôi

Thiêng liêng tình mẹ À ơi kiếp người

Mẹ về bên ấy mỉm cười

Nhìn con nên vóc, nên người với ai


Vu lan tháng bảy vừa hay
Vần thơ gởi mẹ kiếp này sao quên!


Saigon, ngày 25/8/2025
Hoàng Thị Bích Hà

habich1963@gmail.com

 

 

READ MORE - VỀ HUẾ / VỀ LÀNG / THƠ VIẾT VỀ MẸ NHÂN MÙA VU LAN - Chùm thơ: Hoàng Thị Bích Hà

Friday, May 29, 2026

KÝ ỨC VỀ LÀNG QUÊ HẢI LĂNG XƯA - Người Hải Lăng



Ký ức về làng quê Hải Lăng xưa

Người Hải Lăng

 

Có những miền quê không chỉ nằm trên bản đồ, mà còn nằm sâu trong ký ức của mỗi con người. Với những ai sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Hải Lăng, Quảng Trị, quê hương không chỉ là nơi chôn nhau cắt rốn, mà còn là một phần máu thịt, là tiếng gọi âm thầm theo ta suốt cả cuộc đời.

 

Hải Lăng xưa trong ký ức của bao người là những con đường làng nhỏ quanh co, hai bên là hàng tre, bụi chuối, bờ rào dâm bụt. Mùa nắng, con đường phủ một lớp bụi trắng, mỗi bước chân đi qua lại để lại dấu vết của tuổi thơ. Mùa mưa, đường làng lầy lội, bùn đất bám đầy gót chân, vậy mà đám trẻ con ngày ấy vẫn cười vang, vẫn chạy nhảy, vẫn thấy quê mình đẹp đến lạ.

 

Nhớ nhất là những cánh đồng Hải Lăng trải dài dưới nắng. Đất quê mình không được ưu ái nhiều, nắng thì gắt, gió thì rát, cát trắng mênh mông, mùa màng có khi nhọc nhằn hơn nơi khác. Nhưng chính trên mảnh đất ấy, bao thế hệ cha ông đã cần cù cày cấy, chắt chiu từng hạt lúa, củ khoai để nuôi con khôn lớn. Hình ảnh mẹ lom khom cấy lúa giữa đồng, cha gánh phân, gánh lúa dưới trời nắng chang chang, đến bây giờ nghĩ lại vẫn thấy sống mũi cay cay.

 

Tuổi thơ ở Hải Lăng xưa nghèo mà vui. Trẻ con đâu có nhiều đồ chơi như bây giờ. Một cánh diều giấy, một trái bóng nhựa, vài viên bi, cái mo cau, con trâu ngoài đồng… cũng đủ làm nên cả một bầu trời hạnh phúc. Chiều chiều, sau buổi học, lũ trẻ lại rủ nhau ra đồng bắt cào cào, hái rau, mò cua, bắt cá. Có đứa quần áo lấm lem bùn đất, có đứa chân tay trầy xước, nhưng gương mặt lúc nào cũng rạng rỡ tiếng cười.

 

Những buổi trưa hè ở quê cũng là một miền ký ức khó quên. Tiếng ve ran trên tán cây, tiếng võng kẽo kẹt dưới hiên nhà, tiếng mẹ gọi con về ăn cơm vang qua ngõ nhỏ. Bữa cơm quê ngày ấy giản dị lắm: khi thì cá kho, khi thì rau luộc, bát canh tập tàng, chén mắm ớt cay nồng. Vậy mà ngon đến lạ. Có lẽ cái ngon không chỉ nằm ở món ăn, mà nằm ở tình thương của mẹ, ở sự sum vầy của gia đình, ở cảm giác bình yên mà sau này đi xa mới thấy quý vô cùng.

 

Hải Lăng xưa còn là những phiên chợ quê mộc mạc. Người bán, người mua đều quen biết nhau. Ra chợ không chỉ để mua bó rau, con cá, đấu gạo, mà còn để hỏi thăm nhau vài câu chuyện mùa màng, con cái, xóm làng. Tiếng nói cười, tiếng mặc cả, tiếng gọi nhau bằng giọng quê thân thuộc tạo nên một thứ âm thanh rất riêng, càng đi xa càng nhớ.

 

Rồi những ngày Tết, ngày giỗ, ngày làng có việc, quê mình lại rộn ràng hơn bao giờ hết. Con cháu đi xa trở về, nhà cửa được quét dọn sạch sẽ, bàn thờ tổ tiên nghi ngút khói hương, mâm cơm đoàn tụ tuy không cao sang nhưng ấm áp nghĩa tình. Người Hải Lăng xưa nghèo vật chất nhưng giàu tình làng nghĩa xóm. Nhà ai có việc, cả xóm cùng đến giúp. Nhà ai khó khăn, bà con sẻ chia từng lon gạo, bó rau, con cá. Chính cái tình ấy đã nuôi dưỡng tâm hồn bao người con quê hương.

 

Thời gian đi qua, làng quê Hải Lăng hôm nay đã đổi thay nhiều. Đường làng được bê tông hóa, nhà cửa khang trang hơn, cuộc sống đủ đầy hơn. Nhưng trong sâu thẳm trái tim của những người con xa quê, Hải Lăng xưa vẫn còn nguyên vẹn: vẫn là bờ tre, ruộng lúa, mái nhà tranh, tiếng gà gáy sáng, tiếng mẹ gọi con, dáng cha lặng lẽ ngoài đồng.

 

Có lẽ, càng lớn tuổi, người ta càng hay ngoái nhìn về quá khứ. Không phải để tiếc nuối, mà để biết mình đã được nuôi lớn từ đâu, đã đi qua những năm tháng nào, đã nhận từ quê hương bao nhiêu yêu thương và nhọc nhằn. Hải Lăng xưa tuy nghèo khó, nắng gió, lam lũ, nhưng chính nơi ấy đã dạy cho con người biết chịu thương chịu khó, biết sống nghĩa tình, biết thương cha mẹ, nhớ ông bà, quý trọng quê hương nguồn cội.

 

Dẫu sau này có đi đâu, sống ở nơi nào, trong lòng mỗi người con Hải Lăng vẫn luôn có một góc nhỏ dành cho quê nhà. Bởi quê hương không chỉ là nơi ta sinh ra, mà còn là nơi mỗi khi mỏi mệt, ta muốn được trở về. Trở về để nghe lại giọng quê thân thương, để đi trên con đường làng cũ, để nhìn cánh đồng xưa, để thắp nén hương cho tổ tiên, và để thấy lòng mình bình yên như thuở còn thơ bé.

 

Người Hải Lăng - 28/05/2026

READ MORE - KÝ ỨC VỀ LÀNG QUÊ HẢI LĂNG XƯA - Người Hải Lăng

SMOKE, FIRE AND RECURRING CYCLES - Thơ: Trần Thị Lan Anh

 

Trần Thị Lan Anh

Smoke, Fire, and Recurring Cycles

 

Author: Thi Lan Anh Tran (Trần Thị Lan Anh)

© Copyright belongs to Trần Thị Lan Anh. All rights reserved.

 

Statements echo from a cold high podium

Middle Eastern winds carry heavy warnings

People speak of armies

Of footsteps soon to land on foreign ground

 

In the night over Tehran

Explosions tear the silent sky apart

No one has time to ask

What the target is

Only remains

Flames and nameless fear

 

Ships carrying thousands of lives

Silently advance into heated waters

Like a chessboard already set

Waiting only for a wrong move

 

A call for unity rises

In what is called the most critical of days

A “great war”

No one truly wishes to name

Yet everyone knows

It has already begun

 

I think of an older war

Where the fields of Vietnam

Once trembled under bombs and fire

Where young soldiers

Never had the chance to understand why they were there

 

History feels like a circle

Different names

Different maps

But the pain remains familiar

 

One side issues warnings

The other delivers responses

Between them stand human lives

Who did not choose this war

But must live with it

 

Smoke still drifts

Across Tehran

Across memories

Across pages of history that never truly close

 

And somewhere

In the faintest whisper of the wind

Lingers the same old question repeated

Whether humanity has learned anything at all

After all the wars that have passed …


----------------------------------------------------

From: Dipl.-Kauffrau Thi-Lan Anh Tran 

Email: Wirtschaftskanzlei@dipl-kauffrau-tran.de

https://www.facebook.com/groups/0tobe/posts/1464339912106782/

https://www.europeanpoetry.com/2026/04/smoke-fire-and-recurring-cycles-tran.html

READ MORE - SMOKE, FIRE AND RECURRING CYCLES - Thơ: Trần Thị Lan Anh

Tuesday, May 26, 2026

HẰNG VÀ TÔI - Truyện ngắn: Nguyễn Đại Duẫn

 


 

HẰNG VÀ TÔI

Truyện ngắn: Nguyễn Đại Duẫn

                             

Tôi về thăm Đồn Biên phòng cửa khẩu Hồng Vân sau mấy năm nghỉ hưu trên chuyến xe từ Phú Bài đi A Lưới. Ngồi cạnh tôi là một người đàn ông râu ria lởm chởm có vẻ như đã lâu rồi không cạo. Người đàn ông nhìn tôi như hiểu ý. Anh cho biết mấy hôm nay mất ngủ, lo lắng làm giỗ của vợ. Nhìn bề ngoài nom anh hơi dữ. Nhưng qua giọng nói, cách bắt chuyện tôi hiểu anh là người thật thà, dễ gần. Anh nhìn tôi mắt không chớp, ánh mắt như xoi mói khắp cơ thể tôi. Sợ có điều gì bất ổn, tôi giả bộ nhìn ra cửa xe nhưng vẫn để ý động tĩnh từ nơi con người ấy. Bất chợt anh vỗ mạnh vào vai làm tôi bật nẩy người, đầu va vào thành xe đau điếng.

 Một giọng nói trầm ấm phát ra:

- Anh là Tâm! Tâm phải không?

 Vừa đau, vừa bực nên tôi trả lời hơi cộc lốc:

- Tâm. Tôi đây! Có việc gì không?.

- Thật rồi! Anh Tâm thật rồi! Đúng là người tính không bằng trời tính. Rồi anh hạ giọng, tâm sự: “Tôi là Bằng chồng của Hằng. Ngày Hằng sắp mất có trao cho tôi một bức thư và một tấm hình. Hằng nói, hãy trao thư cho người trong tấm hình là anh Tâm, đồng đội. Khi nào về quê thì tìm đến làng Hội Kỳ, bên kia sông Ô Lâu đưa bức thư đến tận tay Tâm. Hằng còn dặn, nếu tôi không giữ lời hứa thì Hằng không yên tâm ra đi. Tôi về quê, tìm anh theo địa chỉ nhưng không gặp. Nghe tin anh đang công tác tại Hà Nội. Lá thư và tấm hình tôi còn giữ ở nhà. Tiện đường anh Tâm ghé về thắp hương cho Hằng rồi nhận kỷ vật”. 

                                     *

Tôi bỏ chiếc cặp trước hiên, đi ra bến rửa tay. Dòng suối uốn lượn quanh nhà rì rào chảy, đang đưa tôi về với những địa danh như Bản Huội San, Bản Đông, Bản Cha Ki… của nước bạn Lào nơi đơn vị tôi ngày xưa đóng quân. Giữa khu rừng xanh ngắt là dòng suối trong mát, có thể nhìn được những hòn cuội dưới đáy phủ lớp rêu xanh. Đàn cá choạc to hơn ngón tay đang ngược dòng, thỉnh thoảng dừng lại tranh nhau đớp mồi. Dọc bờ, từng hàng cây to như cột nhà xòa tán xuống dòng suối lung linh. Những cây leo to như bắp tay gân guốc nối cây này với cây kia như mắc võng. Xa xa những cây mận cổ thụ đang trải một màu hoa trắng tinh khôi nổi bật giữa những tán cây rậm rịt. Vừa cúi xuống vốc một vốc nước phả vào mặt xong, tôi nhìn Bằng cất tiếng:

- Phong cảnh ở đây thật lãng mạn quá. Có nhiều nét giống như rừng núi đất Lào xưa tôi đóng quân vậy.

 Bằng nhìn tôi gật đầu thay cho câu trả lời.

Căn nhà sàn kiểu mới bằng bê tông lợp tôn của Bằng nằm lọt thõm giữa thung lũng hẹp. Lác đác vài ngôi nhà nằm yên bình dưới rừng cà phê ngợp trắng hoa. Căn nhà khoảng chừng 50 mét vuông. Góc bếp thiếu bàn tay của người phụ nữ đang hoang lạnh. Mấy que củi xiên xẹo nằm trên bếp. Nồi niêu, bát đĩa trên chạn để lộn xộn.

Tôi đến bên bàn thờ thắp nén hương cho Hằng, mùi hương quyện trong mùi hoa cà phê ngát thơm tạo nên trong tôi một cảm giác mơ hồ. Như thấy Hằng đó, tay cầm nhành hoa cà phê trao cho tôi, miệng cười tươi. Tôi đưa tay đón nhận nhành hoa thì Hằng lùi dần, lùi dần rồi tan biến vào sương chiều. Rừng cà phê đang mùa trổ bông, trên cành hoa mọc thành chùm dọc cánh. Cánh hoa mỏng, nở tròn xoe, với nhị trắng đan xen như bàn tay Hằng đang vẫy vẫy. Bước ra hành lang, tay tôi run run bóc lá thư, mắt dán vào những dòng chữ nhạt nhòa nước mắt, đã ố màu mực, đôi mắt tôi ngấn lệ từ khi nào, thấm ướt lên trang giấy. Những hình ảnh một thời quân ngũ ùa về.

                          *

          Tôi quen Hằng trong một lần đơn vị báo động hành quân. Do vội vàng, ba lô tôi buộc không kỹ, tư trang tuột ra, Hằng thấy vậy nhanh tay thu gọn vào ba lô cho tôi kịp vào hàng quân. Đơn vị tôi huấn luyện tại Cộn, thị xã Đồng Hới, nơi có cái nắng của miền gió Lào sàn sạt. Đồi tràm vào mùa này cũng trụi lá xơ xác, những đám bụi cuốn mù mịt khi có một ngọn gió tạt qua.

          Hôm chủ nhật, đơn vị nghỉ huấn luyện, người thì đi gửi thư, người thì cắt tóc, có người thư giản nơi quán cà phê cho đỡ nhớ nhà. Tôi đang lững thững đi về lán nhà ở của nữ quân nhân thì gặp Hằng. Hằng nhanh nhảu mời tôi về phòng em chơi. Căn phòng ngăn nắp sạch sẽ. Trên giường chăn, màn gấp vuông vắn. Ba lô, đồ dùng cá nhân để gọn gàng. Chỉ có Hằng ở nhà một mình. Mấy cô bạn cùng phòng với Hằng người đi chợ, người đi thăm bạn bè. Tôi không biết mở đầu câu chuyện như thế nào, chỉ biết lặp đi, lặp lại lời cảm ơn Hằng về việc giúp tôi hôm báo động hành quân. Hằng mạnh dạn hơn tôi tưởng:

- Anh Tâm quê ở đâu?.

- Anh ở làng Hội Kỳ, Hải Lăng đó em.

- Ôi! Rứa là anh đồng hương với em rồi. Làng em là Phước Tích, Phong Điền bên ni sông Ô Lâu đối diện làng anh đó.

 Tôi nhìn Hằng nói như để tạo sự thân thiện:

- Ừ chúng mình cùng là lính Bình Trị Thiên mà.

 Con sông Ô Lâu là ranh giới giữa hai huyện Hải Lăng và Phong Điền. Bên dòng Ô Lâu xanh mát, những làng mạc trù phú mọc lên hai bên sông để tận hưởng sự ưu ái của thiên nhiên ban tặng. Bên ni Phước Tích bên tê Hội Trì thực ra đều nằm chung một hướng trên một dòng sông, nhưng do sự uốn lượn của dòng sông khiến hai làng nằm hai bên bờ sông, tạo nên sự cổ kính cho dòng Ô Lâu để cho những người xa quê hương như chúng tôi luôn hướng về cội nguồn. Tôi có đọc trong một quyển sách nào đó đã nói về lịch sử và những truyền kỳ gắn liền với dòng sông này. Tôi liền giở bài tán dóc với em:

- Vậy ở bên sông Ô Lâu mà em có biết về câu ca dao “Trăm năm còn lỗi hẹn hò/ Cây đa bến cũ con đò khác xưa/ Con đò đã thác năm xưa/ Cây đa bến cũ còn lưa bóng người”.

- Em không biết! Anh giải thích cho em nghe nào.

- Đó là câu chuyện tình của anh thí sinh lên đường dự thi và cô lái đò...! Mà thôi! Chuyện cũng xưa rồi, dài lắm khi nào có điều kiện anh kể cho em nghe.

Hằng yên lặng nhìn tôi không nói gì, nụ cười mỉm trên môi em đang xuyên vào tim đen của tôi, như ngầm ý: “Đã không biết mà cứ đòi làm phách”. Tôi nhìn ra sân như cố lảng tránh và lái sang chuyện khác. Rồi tôi kể cho em nghe chuyện ngày còn đi chăn trâu, cùng lũ bạn thường bơi sang sông hái trộm đào. Cây đào cổ thụ bên bến, thân to gần bằng thùng gánh nước, cành lá sum suê, quả chín mọng, rất ngọt. Khi chúng tôi trèo hái trộm đào bị chủ nhà phát hiện, họ xua chó đuổi chạy thục mạng, mấy đứa chúng tôi bị một trận nhớ đời. Kết thúc chuyện trộm đào tôi nhìn Hằng nói bâng quơ nhưng cũng đủ để em nghe:

- Ước chi sau này anh được ‘sở hữu’ cây đào ấy nhỉ.

Hằng nghe tôi kể chuyện, tay bụm miệng để khỏi bật cười.

 

          Giữa năm 1985, huấn luyện xong tôi và Hằng được phân công về đơn vị xây dựng con đường hữu nghị trên đất bạn Lào, thuộc Sư đoàn 384. Công việc suốt ngày luôn bộn bề với bê tông, sắt thép nặng nhọc. Áo quần lúc nào cũng sặc mùi xi măng. Có những hôm đổ bê tông, mồ hôi trộn lẫn bụi xi măng đóng vón lại. Ra suối giặt cả tiếng đồng hồ mới xong bộ quần áo. Hai lỗ mũi phập phồng những xi măng. Có anh nói đùa: “Hắt hơi cũng đúc được viên gạch táp lô đấy!”.

 Cuộc sống người lính chúng tôi thiếu thốn trăm bề. Cảnh núi rừng thanh vắng. Tiếng tắc kè thảng thốt trong đêm làm cho chúng tôi thêm nhớ nhà. Rảnh rỗi, tôi thường sang chơi với Hằng, hai đứa kể chuyện nhà, động viên nhau. Chúng tôi thường trao nhau những nụ cười, lặng thầm đưa ánh mắt sau mỗi ngày làm bạn với cuốc xẻng. Trong những lúc nghỉ giải lao nơi công trường, tôi thường trèo lên cây săng lẻ mọc bên bờ suối hái những chùm phong lan tặng Hằng, em cứ nắm chặt bông hoa, giấu những nụ hôn thẹn thuồng lên cánh hoa tím điểm màu trắng duyên dáng. Ngồi bên em, lòng tôi thấy rạo rực, nhưng không dám thổ lộ những điều mà trái tim mách bảo. Em nhìn tôi âu yếm rồi lấy vạt áo lau mồ hôi trên trán cho tôi. Đồng đội nhìn thấy trêu, má em ửng hồng như mặt trời mới mọc.

Con đường hữu nghị Việt - Lào bắt đầu từ thị trấn Khe Sanh, Hướng Hóa nối vào đường 13 của nước bạn Lào tại tỉnh Sa-vẳn-na-khệt được hoàn thành vào năm 1988 và bàn giao cho nước bạn. Ba năm quân ngũ cũng trôi qua. Tôi được cấp trên cho đi học Trường Sĩ quan quân đội. Hằng cũng được ra quân vì đã hết nghĩa vụ quân sự. 

Chỉ còn đêm nay nữa là tôi và Hằng được gần nhau. Ngày mai chúng tôi theo xe đơn vị về Đông Hà. Tôi sẽ ra Hà Nội học sĩ quan, Hằng trở lại quê hương sau bao ngày quân ngũ. Lòng tôi thấy rối bời không biết nên làm gì lúc này? Tôi đến phòng Hằng, gặp em tôi mạnh dạn:

- Chúng mình ra bờ suối đi.

- Em ngại lắm, lỡ ra đó có người bắt gặp ....

- Không sao đâu em.

Nói rồi tôi nắm tay Hằng, hai đứa cùng ra bên bờ suối. Bên gốc sung già, chúng tôi ngồi sát vào nhau. Mái tóc Hằng xỏa xuống ngang eo thoảng thơm mùi hoa chạc chìu, dịu nhẹ. Lồng ngực tôi phập phồng, tim đập rộn ràng. Bàn tay vụng về nhặt những hòn cuội ném xuống dòng suối. Một thoáng yên lặng, chỉ nghe tiếng của con suối cạn róc rách. Trời không một gợn mây, cũng đủ sáng để cho tôi nhìn thấy khuôn mặt xinh tươi, đầy đặn như khuôn trăng rằm của em. Hằng nhìn tôi âu yếm. Bất chợt, tôi khẽ ôm và hôn lên đôi môi nóng bỏng của Hằng. Giọng Hằng yếu ớt trong hơi thở:

- Đừng anh! Em sợ. Nhỡ ra...

Tôi ôm Hằng thật chặt, thầm thì:

- Hằng! Anh yêu em đã lâu nhưng anh ... anh không nói được nên lời. Chỉ còn đêm nay được bên em, ngày mại chúng mình phải xa nhau rồi. Anh muốn dành trọn tình yêu này cho em.

Đôi môi nồng thắm của Hằng run rẩy. Tôi nghe tiếng em thở gấp. Hằng cứ giữ chặt bàn tay tôi không rời. Một cảm giác đê mê lan tỏa trên thân thể. Hơi thở dồn dập. Tiếng thầm thì ngắt quảng. Những nụ hôn vội vàng. Đêm thanh vắng, tiếng cây rừng xào xạc, những quả sung chín thỉnh thoảng rơi tõm trên dòng suối như chứng kiến mối tình trong trắng, thầm kín của chúng tôi.

          Khi chim Từ Quy đi ăn đêm về cất tiếng, hai đứa dắt tay nhau về doanh trại với niềm hạnh phúc lâng lâng trong mùi hương rừng thoảng thơm.                 

 

                                      *

          Tôi ra trường và được về nghỉ phép để chuẩn bị nhận công tác. Tôi tìm về nhà Hằng chơi, cũng nhân dịp này để ra mắt bố mẹ Hằng. Nhưng sự đời có khi không như ý muốn. Được biết em đã lấy chồng và theo chồng đi vùng kinh tế mới ở A Lưới. Tôi lặng đi. Và cũng lý giải được vì sao thời gian qua Hằng không biên thư cho tôi. Tôi cứ hình dung những dòng nước mắt chảy dài trên má khi em cất bước theo chồng.

 Những hình ảnh của một thời đã qua cứ ray rứt khi tôi đọc xong thư của Hằng. Gấp bức thư với những dòng chữ thấm lệ, tôi thấy ân hận mình đã không làm được bờ vai che chở cho Hằng. Mãi chạy theo sự nghiệp nên đã đánh mất tình yêu quí giá. Những dòng thư cứ ám ảnh tôi. Biết làm gì bây giờ!

          Anh Tâm yêu thương của lòng em!

          Em biết mình không còn sống trên đời này được bao lâu nữa, nên gửi đến anh những dòng tâm sự để anh hiểu lòng em. Bé Thư là kết quả tình yêu của chúng mình. Em phải chịu bao ấm ức, sự dị nghị của người đời, bao thiệt thòi để nuôi nấng và chăm sóc con. Khi nào con trưởng thành anh có thể nói với con biết điều này để con nhận được tình cảm máu mủ, ruột thịt. Bằng, chồng em là một người tốt, đã thay em nuôi dạy con của chúng ta nên người. Cho em xin lỗi tất cả.

                                                              Vĩnh biệt!

        

         Như thấu hiểu nỗi lòng của tôi, bên mâm cơm Bằng đã dốc hết bầu tâm sự:

         - Anh Tâm! Tôi có lỗi với anh và Hằng nhiều lắm. Ngày đó tôi cũng yêu Hằng. Chúng tôi sinh hoạt cùng chi đoàn thanh niên, cùng nhau tham gia văn nghệ và các hoạt động xã hội. Hằng vô tư, vui nhộn. Mẹ Hằng thấy chúng tôi thân thiết nên vun vào cho hai đứa. Hằng vào quân ngũ, tôi ở nhà thỉnh thoảng sang giúp mẹ Hằng đỡ đần công việc. Cái ngày mẹ Hằng ốm nặng, nằm bệnh viện tôi đã thay Hằng chăm sóc chu đáo. Tuy chưa được sự đồng ý của Hằng nhưng gia đình tôi cũng đã mang trầu cau sang dạm ngõ vắng mặt. Ngày Hằng ra quân, mẹ Hằng ép phải lấy tôi. Bà cụ như thấy đó là cách để trả món nợ ân tình. Bà bảo, nếu Hằng không lấy tôi bà sẽ chết cho coi. Hằng buồn lắm. Hằng nhẹ nhàng nói với mẹ: “Mẹ ơi! Con đã có người yêu rồi! Anh ấy đang đi học sĩ quan. Mai mốt anh ấy về sẽ ra mắt gia đình ta”. Mẹ Hằng không ăn, không ngủ rồi sinh bệnh. Hằng động viên mẹ bao nhiêu thì bà càng lặng im, quay mặt. Hằng đau khổ, buồn rầu. Thương mẹ, sợ mẹ làm liều nên Hằng bằng lòng lấy tôi. Đứa con gái của chúng tôi chào đời khi chưa đầy tám tháng sau ngày cưới. Nghe mọi người dị nghị, đồn thổi, thêu dệt những câu chuyện tình ái của Hằng, tôi buồn bực sinh ra rượu chè, cờ bạc.

          Kể đến đây, ánh mắt Bằng nhìn ra khoảng sân trống vắng, những dấu ấn của sự đau khổ, mất mát như đang hiện về: “Cô nói đi, đứa con này là của ai? Cô đã ăn nằm với ai có bầu rồi đổ vạ cho tôi hả?”. Hằng im lặng. Một sự im lặng lạnh lùng càng làm cho tôi trào dâng cơn tức giận: “Hả! Cô nói đi. Thằng nào đã cắm sừng lên đầu tôi? Nhục ơi là nhục. Tôi tưởng cô là người tử tế. Tôi luôn tin tưởng đến cô, vậy mà tôi phải trả cái giá như thế này đây! Đồ phản bội...”. Tôi nói chưa dứt lời thì Hằng đã chen ngang: “Anh im đi, anh không được nói tôi như vậy. Đứa con này là của tôi. Không của ai hết”. Tôi dang tay tát vào mặt Hằng. Hằng đau đớn chạy vào bế con, muốn đi đâu đó...

          Bằng ngừng kể xem tôi có phản ứng gì không. Thấy tôi thở dài, Bằng cúi thấp đầu như người có lỗi. Sợ tôi phải chờ đợi lâu, Bằng kể tiếp câu chuyện:

          - Rồi chúng tôi vào vùng kinh tế mới A Lưới lập nghiệp, như để quên đi những lời dị nghị của người đời. Thư càng lớn càng xinh đẹp giống mẹ. Còn Hằng thì ngày càng tiều tụy vì cuộc sống bất hạnh bên người chồng rượu chè. Và rồi Hằng qua đời khi một cơn bệnh nan y không phương cứu chữa.

           Kể đến đây giọng Bằng như nghẹn lại. Còn tôi quay mặt lau những giọt nước mắt đang chực trào xuống. Rồi Bằng cho tôi hay, Thư đã lấy chồng và đang sinh sống ở thành phố Huế.

          Chia tay Bằng với cái bắt tay ấm áp trong ngọn gió xuân mát dịu. Tôi ân hận thấy mình là người có lỗi trong chuyện này. Mấy năm công tác ở Đồn Biên phòng cửa khẩu Hồng Vân, tôi vô tình không tìm kiếm tin tức về gia đình Hằng. Vậy mà giờ đây khi biết được thì Hằng đã mãi mãi đi xa. Câu chuyện truyền kỳ bên dòng Ô Lâu đang còn đó.

                            

                                      *

          Tôi về Huế theo địa chỉ của Bằng đã cho, để tìm đứa con gái sau mấy mươi năm xa cách. Cơn đau dạ dày kinh niên đã hành hạ, làm tôi phải vào Bệnh viện Trung ương Huế. Gần chục ngày điều trị, được các bác sĩ, điều dưỡng chăm sóc tận tình, chu đáo nay xuất viện. Tôi xách cặp cất bước đi ra thì có một cô gái hớt hãi chạy khắp các phòng bệnh, giọng hốt hoảng:

          - Mọi người ơi! Xin mọi người ai có nhóm máu O phù hợp để truyền cho đứa con tôi bị tai nạn...!

          Cô gái nhìn tôi như cầu khẩn. Tôi hiểu. Tôi rút ví lấy một ít tiền đưa cho cô gái:

          - Cháu à! Bác có ít tiền, cháu cầm lấy để lo thuốc thang cho bé. Bác vừa ra viện nên sức khỏe đang còn yếu, chắc là...

          Nói chưa dứt lời, cô gái cảm ơn tôi rồi lắc đầu chạy đi.

          Ra đến cổng bệnh viện, cầm địa chỉ trên tay tôi kêu chiếc xe ôm. Nhưng ánh mắt cầu cứu của cô gái nọ cứ hiện lên trong đầu tôi. Hình ảnh đứa bé bị tai nạn quằn quại trong cơn đau, rồi ngất lịm khi bị thiếu máu cứ ám ảnh tôi. Tôi quay lại bệnh viện đi tìm cô gái, may ra còn kịp nếu như tôi có nhóm máu phù hợp với cháu bé.

          Khi tôi tỉnh dậy thì thấy mình đang nằm trên giường trong bộ đồ bệnh nhân. Ngạc nhiên như đang trong giấc mơ, tôi co nhẹ chân định ngồi dậy thì một bàn tay nhẹ nhàng ấn tôi nằm xuống:

         - Anh cứ nằm cho khỏe đã.

          Sau vài giây, tôi nhận ra Bằng:

          - Sao anh lại ở đây?

           Bằng không nói gì, chỉ tay sang cô gái đứng cạnh:

          - Anh biết ai đây không?

          Tôi nhìn trân trân cô gái, rồi cũng dần nhớ lại mọi chuyện. Đó là cô gái hôm qua tôi đã cho con cô ấy máu để truyền, khi ấy tôi mệt quá thiếp đi lúc nào không biết. Như thấy tôi đã bình tĩnh trở lại, Bằng chỉ vào cô gái và nhẹ nhàng cất giọng:

         - Thư đó! Con gái anh đó!

          Tôi nhìn Thư không chớp. Khuôn mặt ấy, nước da ấy tôi thấy như Hằng đang hiện về. Cô gái nhẹ nhàng ngồi xuống ôm lấy tôi rồi nức nở, nghẹn ngào:

          - Ba ơ…i! Thư đây, con gái của ba đây!

          Tôi lấy hết sức bình tĩnh, cố ghìm cơn xúc động:

          - Con! Thư của ba đây rồi!

          Những giọt nước mắt vui sướng của tôi lăn dài trên gò má, rơi xuống bàn tay Thư nóng ấm. 

          Tôi sang phòng bệnh cạnh bên, ngắm nhìn đứa cháu ngoại đang  say sưa trong giấc ngủ sau một đêm cấp cứu thành công. Đứa cháu bụ bẫm đang nằm đó như là một báu vật quí giá nhất trong đời tôi mà lâu nay tôi hằng mong ước. Lòng tôi lâng lâng niềm hạnh phúc tràn trề, muốn nhào đến ôm chặt lấy nó.

          Hằng ơi! Vậy là anh đã toại nguyện. Anh đã làm được điều trăng trối của em trước khi em về với tổ tiên. Anh sẽ bảo vệ chăm sóc cho con, bù đắp cho cháu tình yêu thương, những mất mát mà lâu nay chúng đang chịu thiệt thòi.

          Ngọn gió đầu hạ đang mơn man trên mái đầu bạc trắng của tôi, một cảm giác lâng lâng ùa về.


Nguyễn Đại Duẫn

Email: nguyenduanqh@gmail.com

https://www.facebook.com/nguyenduanqh

 

                                 

 

 

 

 

 

READ MORE - HẰNG VÀ TÔI - Truyện ngắn: Nguyễn Đại Duẫn