Văn Nghệ Quảng Trị
TRANG THUẦN TÚY VĂN HỌC NGHỆ THUẬT CỦA NGƯỜI QUẢNG TRỊ VÀ NGƯỜI YÊU MẾN QUẢNG TRỊ.
Chúc Mừng Năm Mới
Saturday, July 11, 2026
ĐÈO SA MÙ BÊN TRƯỜNG SƠN TÂY - Đình Nhu
ĐÈO SA MÙ BÊN TRƯỜNG SƠN TÂY
Đình Nhu
Trên nhánh Tây của đường Hồ Chí Minh
đoạn Khe Gát-Khe Sanh có một con đèo được coi là cao nhất, hiểm trở nhất và
cũng ngoạn mục nhất, nằm cách Khe Sanh gần 30 cây số về phía bắc và cách Khe Gát
khoảng 200 cây số về phía nam.
Đó là Sa Mù, cao hơn 1400 m!
Tầm đầu những năm 2000, khi tuyến này
đang thi công mình đã lên đây. Nhớ mãi cuộc trò chuyện trong mây với anh em
công nhân, cách chục mét chỉ thấy bóng, không rõ mặt: “Bọn em ở đây 3 tháng
chưa thấy mặt trời, 3 tháng quần áo giặt không khô.”
Bây giờ quay lại, khi Huế, Đông Hà
nóng 36-37 độ thì lên đây giảm còn 23 độ, mát như đang ở Sa Pa hay Đà Lạt vậy…
Xin nói thêm rằng, cũng như đoạn qua hầm A Roàng từ A Lưới (Huế) đi Thạnh Mỹ (Đà Nẵng), thời chiến tranh, ô tô không thể vượt Sa Mù bởi núi quá cao và hiểm trở, chỉ là lối mòn cho người gùi cõng, còn xe cơ giới thì phải vòng sang đất Lào mấy chục cây số.
Chiếu theo Hiệp định Giơ-ne-vơ
(1954), sông Sê-băng-hiêng làm giới tuyến phía tây Trường Sơn nên huyện Hướng
Hoá phần lớn nằm ở bờ nam, chỉ có xã Hướng Lập cắt ra miền Bắc. Cũng như giới
tuyến sông Bến Hải bên đông Trường Sơn, huyện Vĩnh Linh phần lớn nằm ở bờ bắc, chỉ
xã Vĩnh Liêm cắt vào miền Nam. Có lẽ vậy mà dù cũng nằm trên Trường Sơn nhưng
người Quảng Trị không nói “lên” mà là “ra” Hướng Lập - Cù Bai. Mãi đến những năm
1990, vùng đất bên kia đèo Sa Mù vẫn là nơi xa xôi cách trở nhất của tỉnh Quảng
Trị.
Mình nhớ hồi đó, mỗi khi có ca cấp cứu.
dù là dân bản hay lính đồn, thì bộ đội biên phòng đều gọi xe Gat-66 của Sở chỉ
huy chạy từ Đông Hà lên, trên này thì cử anh em khiêng người lội qua sông
Sê-băng-hiêng, vượt đèo Sa Mù mà chạy bộ về. Nhiều bữa xe từ Đông Hà (cách gần
trăm cây số) đã tới chờ dưới chân đèo rồi mà cáng vượt Sa Mù vẫn chưa đến. Cũng
có những khi cáng chưa qua hết Sa Mù thì bệnh nhân đã tắt thở. Còn trúng khi
mưa lũ thì đành bó tay…
Ngày ấy, các đoàn công tác quan trọng
ra Hướng Lập - Cù Bai đều phải “mượn” đường bạn Lào mà đi, vô cùng bất tiện.
Chỉ đến cuối những năm 1990, khi Bộ
trưởng Quốc phòng Đoàn Khuê, Đại biểu Quốc hội tại Quảng Trị, mấy lần thực địa
Cù Bai thì mới cho đầu tư đoạn đường tuần tra cơ giới vượt Sa Mù. Con đường này
về sau trở thành một đoạn trong nhánh Tây của đường Hồ Chí Minh ngày nay.
Giờ đèo Sa Mù bên Tây Trường Sơn là một
cung phượt hấp dẫn không chỉ với giới trẻ mà cả với lớp già như mình. Ở đó
không chỉ có thiên nhiên hoang sơ, hùng vĩ mà còn biết bao địa danh huyền thoại
của một thời cha ông xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước.
Đình Nhu
https://www.facebook.com/dinh.nhu.3720
MỘT NĂM - Thơ: Huỳnh Liễu Ngạn
HUỲNH LIỄU NGẠN
MỘT NĂM
tháng giêng hoa xoan chưa nở
thì em đã vội lấy chồng
mùi hương còn đang dang dở
rụng đầy xuống cả dòng sông
tháng hai ánh trăng vừa cũ
chênh chao ngõ vắng im lìm
em không còn gì để nói
chỉ màu nắng nhạt qua tim
tháng ba lòng như sao vỡ
trên tà áo đã pha phôi
biết em bên phương trời ấy
vẫn còn đỏ thắm bờ môi
tháng tư mây sa xuống thấp
che dùm anh nỗi đắm say
sao em không nhìn mây nữa
cho anh thấy mái tóc dày
tháng năm bên giàn bông giấy
dáng em hiu hắt thân gầy
giọt sương đọng trên mái tóc
đã vòng theo những thơ ngây
tháng sáu thềm hoang cỏ dại
không còn ai đợi chờ ai
nhủ thầm đừng yêu ngọn gió
sẽ làm sướt nhẹ đôi vai
tháng bảy trên cành lá nhớ
điệu buồn chợt níu hàng cây
hình dung em gầy guột nhỏ
cho anh hơi ấm mỗi ngày
tháng tám ngoài vườn chim hót
ước gì được nắm bàn tay
để nghe nhịp đời ngưng chảy
dù chỉ là một phút giây
tháng chín trời như trở lạnh
vào hồn em chút hoang liêu
anh đi thương mùa thu cũ
khi tình xưa đã xanh rêu
tháng mười mưa rơi sợi nhỏ
ướt môi em ngọt mấy trời
anh qua đứng bên bờ suối
thả trôi bao lời chia phôi
tháng mười một chợt mù tăm
bơ vơ theo tiếng thì thầm
em bảo thôi đừng đợi nữa
kiếp sau mới có trăng rằm
tháng chạp anh về chốn cũ
tìm thương lại thuở ban đầu
một năm trôi qua nhanh quá
bao nhiêu nước chảy qua cầu.
27.8.2024 - 9.7.2026
HUỲNH LIỄU NGẠN
hiephuynh479@gmail.com
Ảnh: Pinterest
HẠNH PHÚC KHI ĐƯỢC YÊU / THE HAPPINESS OF BEING LOVED by Thi Lan Anh Tran and Musharraf Hussain
THE HAPPINESS OF BEING LOVED
HẠNH PHÚC KHI ĐƯỢC YÊU
by Thi Lan Anh Tran and Musharraf Hussain
Happiness in life
is found in being loved.
How wonderful it is
to be cherished by you,
whether only once
or a thousand times,
each moment remains as sweet
as the very first day.
Happiness flows into my soul
like a river breaking through its banks,
washing away every sorrow,
filling every empty space
within my heart.
Oh, life is filled
with endless passions,
yet no passion is more beautiful
than the love
between two souls.
My only wish
is simple and true:
to be beside you,
to love you,
and to be loved by you forever.
That alone
is enough to create
a lifetime of happiness…
Copyright © Thi Lan Anh Tran & Musharraf Hussain
HẠNH PHÚC KHI ĐƯỢC YÊU
Tác giả:
Thi Lan Anh Tran, Aschaffenburg, Germany
Musharraf Hussain, Assam, India
Hạnh phúc cuộc đời
là khi ta được yêu.
Tuyệt vời biết bao
khi được em dịu dàng yêu chiều,
dẫu chỉ một lần
hay ngàn lần cũng thế,
vẫn ngọt ngào
như buổi đầu tiên.
Hạnh phúc tràn về
như thác lũ vượt qua bờ đê,
xô tan mọi nỗi buồn,
lấp đầy những khoảng trống
trong trái tim anh.
Ôi cuộc đời
đầy ắp những đam mê,
nhưng chẳng có đam mê nào
đẹp hơn
tình yêu đôi lứa.
Khát khao của anh
chỉ giản đơn thế thôi:
được ở bên em,
được yêu em,
và được em yêu mãi.
Chỉ vậy thôi
cũng đủ làm nên
một đời hạnh phúc…
Bản quyền © Thi Lan Anh Tran & Musharraf Hussain
E- Mail: Wirtschaftskanzlei@Dipl-Kauffrau-Tran.de
Dipl.- Kauffrau Thi Lan Anh Tran
---------
Đã đăng trên:
https://www.polismagazino.gr/the-happiness-of-being-loved-by-thi-lan-anh-tran-and-musharraf-hussain
ĐƯA ANH VỀ ĐẤT MẸ - Thơ: Nguyễn văn Trình

Đưa anh về đất mẹ
Bao năm lá phủ rừng
già
Anh nằm lặng giữa,
sương sa lạnh lùng
Hôm nay đồng đội
trùng phùng
Ôm anh nước mắt, rưng
rưng vui mừng
Đưa anh qua suối, qua
rừng
Con đường gian khó,
không ngừng bước chân
Đồng đội nghẹn khóc,
bần thần
Đón anh về với, đất
lành quê ta
Mẹ già tóc bạc vỡ òa
Ôm hồn con giữa, nhạt
nhòa khói hương
Bao năm, mẹ ngóng
cuối đường
Giờ con đã được quê
hương đón về
Tháng bảy, nắng thắm
bờ đê
Tri ân liệt sỹ, lời
thề sắt son
Anh về yên giấc vẹn
tròn
Hồn anh còn mãi, nước
non nghĩa tình ...
NVT
Tác giả NGUYỄN VĂN TRÌNH
Bút danh: KATHI
Hội VHNT tỉnh Quảng Trị - ĐT 0914 415 931
Email: nguyenvantrinh58@gmail.com
Đ/C: 65B Đường Chu Mạnh Trinh, Phường Nam Đông Hà, Quảng Trị
Tuesday, July 7, 2026
CHỨNG NHẬN ĐẶC BIỆT CỦA KHÔNG GIAN VĂN HỌC LETRAS DEL CORAZOL trao cho TRẦN THỊ LAN ANH
KỶ NIỆM
LẦN THỨ 4 – NĂM 2026
Tôn vinh Ý
chí và Nghị lực
Quốc gia
đăng cai: Hoa Kỳ
Nhằm bày
tỏ lòng tri ân đối với những nghệ sĩ văn học xuất sắc nhất đến từ năm châu lục,
những người đã có nhiều cống hiến thông qua hành trình sáng tác và hoạt động
nghệ thuật chuyên nghiệp của mình.
Đồng thời,
chúng tôi cũng trao tặng Chứng nhận Đặc biệt này đến những tác giả đã tham gia
các cuộc thi do Không gian Văn học Letras del Corazón tổ chức.
Chứng nhận
được phát hành nhân dịp tưởng niệm và tôn vinh Octavio Paz, nhà văn và nhà thơ
Mexico, người đoạt Giải Nobel Văn học năm 1990, nhằm tri ân những đóng góp to
lớn của ông đối với nền văn học thế giới.
E-Mail: Wirtschaftskanzlei@Dipl-Kauffrau-Tran.de
Dipl.-
Kauffrau Thi Lan Anh Tran
KHI ANH ĐI KHÔNG NGƯỜI ĐƯA ĐÓN KHI ANH VỀ TÁM CHÍN NGƯỜI KHIÊNG - Truyện ngắn : Hoàng Thị Bích Hà
![]() |
| Ảnh minh họa của Gemini. |
KHI ANH ĐI KHÔNG NGƯỜI ĐƯA ĐÓN
KHI ANH VỀ TÁM CHÍN NGƯỜI KHIÊNG
Hoàng Thị Bích Hà
Ra trường, sau vài năm trải nghiệm nghĩa vụ
miền núi, tôi được bổ về dạy học tại một trường trung tâm nội đô. Hôm ấy tôi
trống tiết 2 và 3, nên tranh thủ ra trước cổng trường, ăn sáng. Quán này
chuyên cung cấp hải sản, cơm văn phòng và một vài món ăn sáng. Chợt tôi thấy
một người đàn bà ngoài ngũ tuần, da hồng hào, đôi môi đỏ thắm. Trên cổ là
sợi dây chuyền vàng nặng trĩu. Hai tay đeo kín vòng xuyến hay ximen 7 chiếc.
Mười ngón tay gần như chẳng ngón nào không mang nhẫn với đủ loại mặt ngọc.
Tôi nhìn chị gật đầu chào, chị cười hiền chỉ
vào trong quán:
-Cô giáo dùng gì, vào mấy em làm cho!
Đó là chị Lâm, chủ quán.
Chị từ vùng biển Thuận An lên Thành Nội mua
căn nhà mặt tiền cách đây vài năm. Hồi mới mua, nhà chỉ môt trệt, một lững cũ
kỹ. Sau một thời gian, chị xây lại thành hai tầng khang trang rồi mở quán ăn.
Chị thuê người làm hết. Chị chỉ đi ra đi vào quán xuyến chung, dáng bộ rất
thảnh thơi.Tuy nhiên, lúc nào cũng giản dị, bình dân. Khách ăn trong quán còn
ngồi bàn ghế đàng hoàng, còn chị lại hay ngồi bên bậc thềm trò chuyện với hàng
xóm một cách vui vẻ, ăn sáng, ăn vặt gì chị cũng chỉ ngồi đó, không cần bàn ghế
gì sất. Khi có cái đòn, có khi chị ngồi ngay bậc thềm chuyện vãn với láng
giềng. Trong xóm và khách của quán, ai cũng quý chị. Tôi quen chị từ đó.
…
Sau mấy tháng nghỉ hè, tôi mới quay lại
trường.
Chị chủ nhà vẫn ngồi đó, nhưng bộ điệu đã
khác, nụ cười buồn hơn. Vàng trên hay tay không còn nhiều như mọi khi. Gương
mặt sầu thảm, mất hết cả sinh khí!
Tôi nghĩ thầm, có lẽ chị ốm, hỏi:
-Dạo này khỏe không, chị Lâm?
Chị không trả lời ngay mà theo tôi đi vào trong quán. Tôi mua ít cá, tôm về cho gia đình. Đợi em nhân viên soạn hàng cho tôi.
Chị bảo:
-Cô giáo dùng chén trà ấm đi!
Khói trà bay lên rồi tan mất giữa khoảng sân
đầy nắng.
Chị nhìn tôi, ánh mắt chị buồn như ngày tận
thế, chị chậm rãi nói:
- Tui mất nhà rồi, cô giáo!
Tôi giật mình. Căn nhà hai tầng trước mặt còn
đó. Bức tường mới sơn còn thơm mùi vôi mới. Mất nhà là mất làm sao?
Chị hiểu thắc mắc của tôi, cúi đầu nhìn xuống
chén trà rồi nói:
- Chồng tui bán rồi.
Giọng buồn, trầm mang vẻ cay đắng. Có những
nỗi đau chỉ muốn khóc, mà đau quá có khi khóc không nổi.
-Tuần sau tui phải vô trong hẻm thuê nhà để 4
mẹ con sống với nhau. Chắc cũng tiếp tục bán quán ăn nhưng nấu ít lại, cho nhân
viên nghỉ bớt, chỉ để lại một người đứng bếp.
Chị chậm rãi kể tiếp:
- Chẳng giấu gì cô. Vợ chồng tôi làm ăn, tích
cóp mà có. Ngày trẻ, vợ chồng theo ghe đánh cá. Những chuyến biển kéo dài hàng
tháng trời. Có khi đi tận vùng đảo xa. Những lần gặp bão, chỉ biết ôm nhau, cầu
trời cho ghe đừng lật. Mưa gió, sóng lớn, hiểm nguy đủ thứ. Cực khổ vậy nhưng
cũng dành dụm được chút vốn.
Khi có chút vốn, tôi mới tính lên phố mua nhà,
làm ăn, đặng kiếm chỗ con cái học hành cho thuận tiện.
Thế rồi, tui mở quán ăn cũng có đồng vô, đồng
ra đủ chi phí sinh hoạt và lo cho con cái học hành. Tưởng cuộc đời từ đó sẽ yên
ổn. Ai ngờ lúc túi có tiền, người lại sinh chuyện.
- Đàn ông nhiều khi lạ lắm, cô giáo à. Hồi
nghèo thì chăm chỉ làm ăn. Đến lúc có vài đồng trong túi, rảnh rỗi sinh tật.
Ông ấy đi nhậu.
Chị nói mà giọng bình thản đến lạ, như đang kể
chuyện của ai khác.
- Ban đầu chỉ là nhậu nhẹt. Sau đó là bia ôm.
Rồi dính luôn một con nhỏ thua ổng ba chục tuổi, chỉ bằng tuổi đứa con đầu của
ổng.
Tôi lặng lẽ nghe chị kể, nhìn xuống những ngón
tay chị. Những ngón tay từng kéo lưới, từng vá chài, từng gói ghém cả tuổi trẻ
trong mưa gió và mùi muối biển, đang run rẩy.
-Ổng bán nhà.
Chị ngừng lại, nhấp ngụm trà.
-Ban đầu ổng giấu. Sau thì chẳng buồn giấu
nữa.
Ổng về bán căn nhà này, lấy tiền đi theo gái
rồi. Nghe nói vô Nam sống. Còn nhà này đã có chủ mới, người ta hẹn tuần sau
giao nhà. Tui ngao ngán chỉ biết kêu trời!
Nói tới đây, mắt chị đỏ hoe.
-Tui vẫn nghĩ rồi sẽ có ngày ổng tỉnh ra mà
quay về.
Nhưng quay về đâu chẳng thấy lại còn ngày một
sa chân.
Tôi chỉ biết động viên chị ráng giữ gìn sức
khỏe, buôn bán và lo cho con. Rồi mọi việc sẽ qua!
Thời gian trôi đi mới đó đã ba năm, tui thỉnh
thoảng vẫn ghé ủng hộ chị. Nghe chị kể, tiền buôn bán không đủ chi phí trả
mặt bằng. Chị tính gọi điện qua Mỹ, nói với chú Út là cho dựng tạm căn nhà tôn
ở trên đất chú, chèo chống cho con lớn lên một khúc nữa, để các cháu học xong
phổ thông mà kiếm việc làm. Khi nào chú về Việt Nam nghỉ hưu thì trả lại đất
cho chú.
(Chú Út là em trai ba nó, qua bên Mỹ đánh cá
cũng khá, gửi tiền về nhờ mua giùm một miếng đất để sau này về dưỡng già).
Nhưng đâu còn nữa, ăn hết tiền, ổng về bán
luôn miếng đất của chú em và mang tiền đi rồi!
(Có lẽ lúc đi mua nhà, chị bận buôn bán, lại tin tưởng chồng nên ủy quyền cho
anh ta đi giao dịch, nên sổ đỏ nhà chị và miếng đất của chú em đều đứng tên anh
ta)
-Tui nghe mà rụng rời tay chân. Theo gái trẻ
mà như bị người ta lấy mất hồn vậy đó, cô giáo.
-Đứa con trai đầu bảo tôi (chị kể tiếp): “Mẹ
cho con đi nhảy tàu vài năm cho cứng cáp để con tìm ba, con chém, chơ con tức
quá rồi!
Tôi hết hồn hết vía bảo con:
- Mạ lạy con! Ổng sai thì có trời biết. Mình
đừng gây thêm tội. Ông ấy chết rồi, nhà cửa mình cũng đâu lấy lại được, còn
chưa kể con ngồi tù, mẹ làm sao mà bới xách vừa lo làm lụng để nuôi mấy em.
May mà thằng nhỏ cũng nguôi.
Thế rồi thôi, mấy mẹ con cứ cặm cụi làm ăn qua
ngày đoạn tháng. Bây giờ hai đứa đã tốt nghiệp phổ thông và đi làm ở Bình
Dương.
Tôi ghé thấy quán nhỏ hơn, bàn ghế ít hơn.
Nhân viên cũng ít hơn. Nhưng chị vẫn ở đó, cặm cụi làm ăn, chống chọi với những
món nợ mà mình không gây ra.
Bẵng đi một thời gian, tôi bận rộn quá, không
ghé.
Cho đến một buổi trưa. Bước vào quán, tôi thấy
trong góc nhà có một người đàn ông đang nằm. Ông gầy đến mức chỉ còn da bọc
xương. Cái bụng trướng lên như chiếc trống cũ. Mắt đục. Hơi thở đứt quãng.
Tôi nhận ra đó là chồng chị. Người đàn ông đã
bán nhà. Đã bỏ vợ, bỏ con, đi theo tình trẻ.
Tôi ghé tai hỏi nhỏ: “Ổng quay về rồi, hả chị?”
Vậy là ổng “quay đầu là bờ”.
Chị bảo:
-Đâu có, ổng không quay đầu mà là lâm trọng
bệnh, con nhỏ đó nó lấy hết tiền rồi nó đá ổng luôn. Bệnh viện trong đó mới gọi
vào nhận. Mấy mẹ con tui nghĩ thôi thì đưa ổng về. Dù sao cũng là cha tụi nhỏ.
Tôi nhìn chị, Không biết trong lòng người đàn
bà ấy còn lại gì? Hận, Buồn? Hay đã mệt đến mức không còn sức để oán trách?
- Rồi tui nhờ người em gái của ổng vô đem ổng
về, nằm bên Bệnh viện Huế một thời gian, nay cũng hơi đỡ chút, nhưng không còn
đi được nữa. Hôm xe chở về, phải mấy người khiêng ổng vô mới được vì ổng bị xơ
gan cổ trướng, hẻm nhỏ xe không vô được nên phải mỗi người mỗi tay mà đưa cáng
ổng vô. Mấy đứa trong xóm nhìn thấy cảnh ấy mới nói rằng: “Khi anh đi không
người đưa đón. Khi anh về tám chín người khiêng” là vì vậy!
Thôi thì còn chút nghĩa tào khang, chị chăm
sóc ổng những ngày tháng cuối đời như một cách làm phước. Cũng là một cách chị
thương con. Vì chị không chăm, con cái ổng cũng sẽ phải lo cho cha nó. Thôi
không tính toán gì với ổng nữa. Chắc ổng cũng bị lương tâm dày vò, ân hận lắm
rồi!
Lúc ra về, tôi ngoái nhìn. Người đàn ông nằm
im trong góc nhà.
Ngoài sân, chị Lâm đang lau bàn cho khách.
Nắng chiều rơi xuống mái tóc đã lấm tấm bạc. Còn người phụ nữ ấy, sau tất cả
những gì bị lấy đi, vẫn giữ được một điều. Đó là lòng nhân hậu. Và có lẽ, đó
mới là tài sản lớn nhất của một đời người.
Saigon, ngày 10/6/2026
Hoàng Thị Bích Hà
habich1963@gmail.com
CHÙM THƠ LÊ THANH HÙNG: Mỗi ngày em đi học / Ngày xa trường / Tiếng chim lẻ bạn, khan tình gọi mãi / Ríu rít, những tiếng cười con trẻ
![]() |
| Tác giả Lê Thanh Hùng |
Ríu rít bầy sẻ nâu hóng hớt
Bên sân nhà ngập nắng ban mai
Em đứng ngắm, nhoẻn cười bất chợt
Xòe tay nghiêng, vạt nắng đổ dài
Bầy chim nhỏ, giật mình dáo dác
Ngẩn ngơ nhìn lo sợ, bay lên
Quầng mây trắng, dường như trôi lạc
Che đôi môi, cong cớn ngọt mềm
Bầy chim bay, vội vàng tụ lại
Lấm lét nhìn, hòa giọng lau nhau
Em bước qua, hương ngày con gái
Gã láng giềng, bước vội theo mau
Đường đến lớp, em hồn nhiên nắng
Ngập ngừng, cho ai cũng ngập ngừng
Yên ả quá, không gian phẳng lặng
Lưng chừng, vạt tóc xõa ngang lưng
Xóm nhỏ, ngày mỗi ngày như thế
Gió đường xa, thay đổi theo mùa
Khép vạt áo, bao điều có thể
Lối đi về, tím ngát hoa mua…
Ngày xa trường
Lời em hát, trong ngày trường tổng
kết
Năm học qua rồi, đọng lại buồn vui
Xếp sách vở, những ngày thi mỏi mệt
Tiếng cười trong, xen lẫn nỗi ngậm
ngùi
Ngày thong thả, sao còn như hối tiếc
Tiếng ve mồ côi, bất chợt ngẩn ngơ
Cứ thấp thỏm, kìa ai kia có biết
Vạt nắng chao nghiêng, khao khát đợi
chờ…
Anh khách lạ, chỉ vô tình lén ngắm
Bồi hồi run, nhìn mái tóc dài suôn
Ký ức ngày xưa, hồn nhiên thấm đẫm
Ngọn gió vu vơ, lay động nỗi buồn…
Lời em hát, cao trào dâng nỗi nhớ
Để chìm trôi trong những nốt hạ âm
Tròn tiếng lắm, lời hẹn ngày gặp gỡ
Thuở xa trường, mới đó mà xa xăm
Anh sống lại một ngày hè sôi động
Có mái tóc dài, trói buột đời trai
Nghe bổi hổi trong lời ca bay bổng
Cứ mãi theo anh, suốt cả dặm dài…
Tiếng chim lẻ bạn, khan tình gọi mãi
Rớt nhịp ba dưới mái hiên thưa
Cô chủ nhỏ, giật mình nhìn ái ngại
Đổ xuống thềm, niềm cảm xúc xót xa
Bâng khuâng ngắm, tiếng chim rơi thảng
thốt
Nghe nhịp đời, đồng vọng thiết tha…
Ríu rít, những tiếng cười con trẻ
Lao xao trong giọt nắng đầu ngày
Giọng cô giáo của em hơi nghiêm, nhưng
thật nhẹ
Như tiếng mẹ dỗ dành, đưa bé đến trường
Có chiếc lá vội vàng rơi, thật khẽ
Bầy sẻ nâu hóng hớt những giọt sương…
Lê Thanh Hùng
Bắc Bình, Lâm Đồng
Saturday, July 4, 2026
ĐI ĐỂ TRỞ VỀ TRONG “Ớ Ờ Ơ GỌI MIỀN THƯƠNG NHỚ” - Hoàng Thị Bích Hà
ĐI ĐỂ TRỞ VỀ TRONG
“Ớ
Ờ Ơ GỌI MIỀN THƯƠNG NHỚ”
Từ lâu, du ký đã trở thành một dòng chảy đặc
sắc của văn học thế giới và Việt Nam. Từ The Great Railway Bazaar của Paul
Theroux, On the Road của Jack Kerouac,… đến những tác phẩm quen thuộc với độc
giả Việt như Chân đi không mỏi của Đinh Hằng, Xách ba lô lên và đi của Huyền
Chip hay Ta ba lô trên đất Á của Rosie Nguyễn, mỗi cuộc lên đường không chỉ mở
ra những miền đất mới mà còn là hành trình khám phá chính mình. Đằng sau những
bước chân rong ruổi luôn là những suy tư về con người, quê hương và ý nghĩa của
sự trở về.
Trong mạch nguồn ấy, “Ớ ờ ơ Gọi miền thương
nhớ” (Nxb Thuận Hóa, 2026) của nhà báo - nhà văn Trần Vọng Đức xuất hiện như
một cuộc hành trình mang đậm hồn Việt. Với gần 300 trang sách, tác giả dẫn
người đọc đi qua những vùng đất trải dài trên dải đất hình chữ S, khơi dậy
những giá trị văn hóa, những phong tục, tập quán và những vẻ đẹp bình dị đã làm
nên căn cước của dân tộc. Ở đó, mỗi chuyến đi không đơn thuần là khám phá, mà
còn là một cách trở về với cội nguồn, với miền thương nhớ luôn ngân vang trong
tâm thức người Việt. Đây là một tác phẩm cho thấy sự kết hợp hài hòa giữa lối
viết báo chí giàu tính tư liệu và giọng văn giàu cảm xúc, để lại trong lòng
người đọc những dư ba khó phai về tình đất, tình người trên khắp mọi miền Tổ
quốc.
Cuốn sách được tổ chức thành năm phần rõ rệt:
“Gập ghềnh vùng cao đất Bắc”, “Muôn thuở sông Hồng”, “Cuồn cuộn miền Trung”,
“Nam Bộ mênh mang” và “Rảo bước xứ người”. Điều đáng chú ý thông qua những địa
danh tác giả đặt chân đến - từ Lũng Cú, Hà Giang đến Mũi Cà Mau; từ sông Hồng
thơ ấu đến những dòng sông xứ Huế; từ các nước châu Á đến châu Âu, châu Mỹ -
cho thấy cách ông kết nối mỗi bước chân với những cung bậc cảm xúc khác biệt.
Điểm đặc sắc nhất của Trần Vọng Đức là ông không ghi chép phong cảnh một cách
khô khan mà luôn hướng ngòi bút về con người. Dù là những bữa cơm đạm bạc cùng
người dân tộc vùng cao, cảnh thầy mo A Suông vẫn tin vào cúng bái dù 5 người
con qua đời vì bệnh tật (tr.40), hay nụ cười sơn cước "xóa đi cả cuộc đời
lam lũ" (tr.28), tác giả đều khắc họa sinh động số phận và nhân cách con
người. Ông có một cái nhìn đa chiều, vừa trắc ẩn trước những hủ tục, vừa ngậm
ngùi trước cái nghèo, nhưng cũng đầy tự hào trước sự kiên cường, cần mẫn và tấm
lòng hồn hậu của người Việt ở mọi vùng đất.
Giá trị văn học của tác phẩm nằm ở chất ký sự
pha lẫn hồi ức. Chính lớp hồi ức đan xen trong từng chuyến đi đã giúp tác phẩm
vượt khỏi giới hạn của một cuốn sách ghi chép phong cảnh. Mỗi địa danh không
chỉ là một điểm đến địa lý mà còn trở thành một điểm chạm ký ức, nơi quá khứ cá
nhân và hiện thực đời sống gặp gỡ nhau, tạo nên chiều sâu nhân văn cho tác
phẩm. Đó là lúc giọng văn trở nên đầy trữ tình và ám ảnh, như trong những đoạn
viết về cầu Long Biên, về người cha - nhà văn Trần Thanh Địch. Hình ảnh
"bóng dáng cha thấp thoáng bên cạnh" như một chỗ dựa tinh thần vững
chắc trong mọi bước đường của tác giả đã thực sự tạo nên chiều sâu xúc cảm cho
toàn bộ tập sách. Những giai thoại văn học thú vị như vế đối độc đáo của các
bậc tiền bối: “Nguyễn Đình
ra Đình thi với Nguyễn Đình Thi”/ “Trần Thanh vào Thanh, Địch cùng Trần Thanh
Địch” hay những giai thoại về Hàn Mặc Tử và người thiếu nữ Thương Thương
được lưu giữ trong ký ức gia đình tác giả càng tô đậm thêm mạch nguồn văn hóa
và văn chương chảy trong huyết thống gia đình ông.
“Ớ ờ ơ gọi miền thương nhớ” là một cuốn sách vừa mang giá trị tư liệu, vừa có giá trị văn học nghệ thuật. Những trang viết về các vùng đất giàu thông tin và cảm xúc sẽ mở mang tầm mắt cho độc giả, đặc biệt là những người chưa có cơ hội đặt chân đến hết các miền của Tổ quốc. Chất giọng mộc mạc, chân thành mà sâu lắng của nhà văn Trần Vọng Đức đã chạm đến trái tim người đọc, khiến ta thêm yêu những vẻ đẹp bình dị và đời sống tâm hồn phong phú của con người nơi đây. Điều làm nên nét riêng của “Ớ ờ ơ gọi miền thương nhớ” không nằm ở số lượng địa danh hay độ dài những chuyến đi, bởi du ký về vùng miền vốn không phải là điều mới trong văn học Việt Nam. Cái mới của Trần Vọng Đức là ông không xem chuyến đi như một cuộc dịch chuyển đơn thuần trong không gian, mà biến mỗi hành trình thành một cuộc đối thoại giữa hiện tại với ký ức, giữa cảnh sắc bên ngoài với thế giới nội tâm của con người. Câu kết "tìm một bến đỗ yên lành chính là khao khát muôn thuở của kiếp nhân sinh" (tr.281) đã nâng tác phẩm từ một cuốn du ký thông thường thành một suy ngẫm triết luận về bản thể và lẽ đời.
Có thể nói, thành công lớn nhất của Trần Vọng
Đức là đã khéo léo biến những chuyến đi địa lý thành hành trình nội tâm. Ông
"đi để trở về" với tuổi thơ, với nguồn cội, với những người thân yêu
đã khuất và với những giá trị tinh thần bền vững mà thời gian không thể xóa
nhòa. Chính chiều sâu cảm xúc ấy đã giúp Ớ ờ ơ gọi miền thương nhớ vượt ra khỏi
khuôn khổ của một tập du ký để trở thành một cuốn sách về ký ức, về tình người
và về căn tính văn hóa Việt. Đó cũng là lý do cuốn sách mang lại dư vị lắng
đọng lâu hơn những ghi chép du lịch hay ký sự thông thường.
Tuy vậy, do được hình thành từ nhiều bài viết
độc lập, đôi chỗ tác phẩm vẫn mang dấu ấn của lối ghi chép báo chí với lượng
thông tin khá dày, khiến nhịp kể chưa thật đồng đều. Tuy nhiên, chính sự chân
thành trong cảm xúc và chiều sâu ký ức đã giúp tập sách giữ được sức hấp dẫn
xuyên suốt.
Sau tất cả những cuộc lên đường, tác giả đem
đến cho người đọc không chỉ là một cuốn du ký mà còn là một hành trình ký ức.
Những bước chân rong ruổi qua nhiều miền đất,... và đi thật xa để hiểu thế
giới, nhưng cuối cùng vẫn là để tìm về những giá trị tinh thần thiêng liêng
nhất trong trái tim mình.
Sài Gòn, ngày 22/ 6/ 2026
Hoàng Thị Bích Hà








