Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Tuesday, September 1, 2026

TIẾNG TRỐNG NGÀY KHAI TRƯỜNG GIỮA HAI THẾ HỆ - Tản văn: Nguyễn Đại Duẫn

Nhà văn Nguyễn Đại Duẫn


Tiếng trống ngày khai trường giữa hai thế hệ

                                 Tản văn – Nguyễn Đại Duẫn


Sáng nay, tôi đưa cháu đến trường dự lễ khai giảng năm học mới. Con đường đến trường cũng vui hơn trong tiếng nói cười của trẻ nhỏ;  tiếng ồn ào của xe cộ, tiếng lao xao của các bậc phụ huynh. Cháu tôi năm nay vào lớp 1, cái tuổi vừa ngỡ ngàng, rụt rè, vừa muốn tìm hiểu, làm cho tâm trạng cháu vừa hồi hộp vừa náo nức. Cháu mặc bộ quần áo mới, đeo chiếc cặp trên vai, bàn tay nhỏ xíu nắm lấy tay ông. Nhìn cháu nhảy chân sáo bước vào cổng trường, lòng tôi bỗng rộn ràng một niềm vui khó tả.

 Sân trường hôm nay đông vui, cờ hoa rực rỡ. Trên bục, tấm phông treo dòng chữ: “Chào năm học mới”, trang trọng. Các thầy cô giáo áo quần tề chỉnh, tươi cười. Học sinh náo nức gặp nhau sau những ngày hè. Tiếng trống khai trường vang lên từng hồi giòn giã trong ánh nắng mùa thu. Rồi tiếng trống ếch vang lên từng hồi. Âm thanh trong trẻo, rộn ràng. Tiếng loa phóng thanh cất lên những bản nhạc trầm hùng ca ngợi đất nước.

Tôi đứng giữa sân trường hôm nay mà ký ức của hơn nửa thế kỷ trước bỗng trở về nguyên vẹn. Trong khoảnh khắc ấy, lòng tôi bỗng chùng xuống. Cũng là ngày khai trường, cũng là tiếng trống gọi học trò, nhưng ngày ấy đất nước đang trong những năm tháng chiến tranh chống Mỹ. Ký ức ngày khai giảng đầu tiên của tôi chưa bao giờ thực sự im lặng trong tâm trí. Không có bố đưa đến trường, vì bố tôi đang chiến đấu ở chiến trường B. Không có cái nắm tay của mẹ, mẹ đang đi làm công điểm, xứng danh phụ nữ “hai giỏi”. Tôi nép mình đi bên bà nội, ngỡ ngàng đến lớp. Tôi mặc bộ quần áo mới vải Tô Châu, được cắt may từ bộ quần áo lót của bố, trước khi lên đường đánh giặc, bố bớt lại. Tuy vậy, tôi vẫn sung sướng và tự hào. Tối hôm trước ngày khai trường, đứa trẻ là tôi ngày ấy cứ trằn trọc mãi, nâng niu chiếc cặp sách mới may bằng tấm ni - lông cũ, để ngay ngắn đầu giường; dặn mẹ gọi dậy sớm, sợ ngủ quên mà lỡ mất khoảnh khắc trọng đại. Mùi vải mới của bộ quần áo mới, mùi giấy thơm nức từ quyển vở kẽ ô li chưa đặt nét mực nào luôn có một sức quyến rũ kỳ lạ.

Cụm trường tôi đến khai giảng là sân kho của hợp tác xã. Xung quanh đào hào giao thông. Phía sau nhà kho là hầm chữ A. Kho rộng khoảng 5 gian làm bằng gỗ phi lao, người ta bỏ lúa, khoai. Mùi ẩm mốc, mùi rơm mục nồng nặc xông lên cay cay đầu mũi. Hai gian đầu, người ta sắp bàn ghế dành cho hai lớp học. Ngoài hai lớp vở lòng của chúng tôi (lớp đầu cấp tiểu học bây giờ) đến khai giảng còn có mấy lớp anh, chị. Ngày ấy, chúng tôi không có những buổi khai giảng đông vui, rực rỡ như hôm nay. Học sinh không được mặc những chiếc áo trắng tinh tươm. Không được tụ tập đông người vì máy bay địch có thể xuất hiện bất cứ lúc nào. Ngày khai trường thường chỉ được tổ chức theo cụm trường, đơn sơ và nhanh gọn.

Tôi vẫn nhớ mãi buổi khai trường năm ấy. Sau khi học sinh tập trung xong theo vị trí đã được quy định, thầy giáo phụ trách khu vực lên tuyên bố lý do. Chúng tôi nghiêm trang chào cờ. Lời khai mạc ngày khai trường vang lên giữa một không gian vừa háo hức vừa thấp thỏm, lo âu. Rồi thầy giao nhiệm vụ năm học mới cho học sinh chúng tôi.  Xong việc, các lớp anh chị tản ra đi từng nhóm về khu vực lớp mình, chúng tôi ở lại nhanh chóng trở về lớp để tránh máy bay! Chẳng có tiếng trống dài giục giã, chẳng có những màn văn nghệ náo nức, cũng không có những bó hoa tươi trao tặng thầy cô. Ngày khai trường của chúng tôi chỉ giản dị như thế. Nhưng trong lòng mỗi đứa trẻ vẫn cháy lên một niềm vui: được đi học, được gặp thầy, gặp bạn và sẽ bước đi trên con đường học chữ giữa những ngày đất nước còn chiến tranh.

Các lớp học cũng không tập trung thành một ngôi trường lớn. Để tránh bom đạn và hạn chế học sinh phải đi xa, lớp học nằm rải rác ở từng địa bàn. Có lớp học trong những căn nhà dân, có nơi học dưới những mái tranh đơn sơ của doanh trại bộ đội để lại. Mỗi khi nghe tiếng máy bay, thầy trò lại vội vàng rời lớp, tìm nơi trú ẩn. Tiếng bom có thể làm rung chuyển mặt đất, nhưng không thể làm tắt đi khát vọng học tập của chúng tôi.

Dù năm tháng có phủ một lớp bụi mờ lên bao kỷ niệm, thì mỗi khi ngọn gió heo may đầu thu khẽ xôn xao qua từng vạt lá, cái không khí nồng nàn, háo hức của buổi tựu trường xưa cũ lại quay về, nguyên vẹn và vẹn nguyên như một khoảng trời cổ tích. Khi đã trưởng thành và bước đi trên những chặng đường đời đầy vội vã, không còn được sống trong cái nôn nao của ngày khai trường năm ấy, tôi mới nhận ra đó là một phần ký ức đẹp đẽ nhất của tuổi thơ. Ngày khai trường không chỉ lưu giữ tuổi trẻ, mà còn là chiếc neo giữ cho tâm hồn ta luôn trong sáng, để mỗi khi mùa thu đến, lòng ta lại thổn thức một nhịp đập êm đềm về mái trường xưa.

Bây giờ, đứng bên cháu trong ngày khai trường, tôi thấy cuộc sống hòa bình tươi đẹp biết nhường nào. Khi buổi khai trường kết thúc, tôi nhìn cháu hòa vào dòng học sinh đang ríu rít nói cười mà thấy lòng mình ấm áp. Tôi mừng vì cháu được sống trong những ngày bình yên, được mặc áo trắng đến trường, được dự một lễ khai giảng đông vui dưới mái trường thân yêu. Đứng giữa sân trường, nhìn cháu cùng các bạn tung tăng trong ngày khai giảng, tôi càng thấm thía giá trị của hai chữ Hòa bình. Cháu được đến trường trong một đất nước bình yên, được học tập trong những ngôi trường khang trang, được mặc áo mới, được vui chơi, được tự do ước mơ và lựa chọn con đường tương lai của mình.

Tôi vui đến nghẹn lòng. Niềm vui của người ông không chỉ là thấy cháu lớn lên từng ngày, mà còn là được chứng kiến một thế hệ trẻ được sống trong những điều mà thế hệ chúng tôi từng mơ ước.

Tiếng trống trường lại vang lên, báo hiệu vào lớp. Tôi nghe trong đó không chỉ có tiếng gọi năm học mới mà còn nghe âm vang của tiếng trống hôm nay đang nối liền với tiếng trống ngày xưa, nối một tuổi thơ trong chiến tranh với tuổi thơ trong hòa bình.

Tôi tin rằng những đứa trẻ đang đứng dưới sân trường hôm nay sẽ bước vào tương lai bằng đôi chân vững vàng và một tâm hồn rộng mở. Đất nước rồi sẽ còn đổi mới từng ngày, trường học sẽ ngày càng khang trang, cuộc sống sẽ ngày càng no đủ, và những ước mơ của các em sẽ bay xa hơn những gì thế hệ chúng tôi từng hình dung. Và tôi thầm mong cháu sẽ luôn biết trân trọng những ngày tháng bình yên ấy. Bởi phía sau tiếng trống khai trường hôm nay là biết bao mất mát hy sinh qua những năm tháng chiến tranh gian khổ mà thế hệ ông cha đã đi qua để giữ gìn cho các cháu một mái trường, một lớp học và những mùa khai giảng trọn vẹn

Tôi siết nhẹ bàn tay cháu, lòng tràn đầy hy vọng.

Một năm học mới bắt đầu.

Một thế hệ mới đang lớn lên.

Và phía trước là một tương lai ngày càng tươi sáng của quê hương, đất nước.

 

Nguyễn Đại Duẫn

Hội viên Hội VHNT Trường Sơn - Quảng Trị

ĐT: 0977194533

       nguyenduanqh@gmail.com

 

READ MORE - TIẾNG TRỐNG NGÀY KHAI TRƯỜNG GIỮA HAI THẾ HỆ - Tản văn: Nguyễn Đại Duẫn

EUGÈNE POILANE - NGƯỜI TRỒNG CÀ PHÊ ĐẦU TIÊN Ở KHE SANH - Bút ký của Nguyễn Hoàn

Nhà báo Nguyễn Hoàn



EUGÈNE POILANE 

- NGƯỜI TRỒNG CÀ PHÊ ĐẦU TIÊN Ở KHE SANH

Bút ký của Nguyễn Hoàn


Lâu nay, tôi có nghe nói đến chuyện ông Eugène Poilane, nhà thực vật học nổi tiếng người Pháp, đưa cây cà phê vào trồng ở Khe Sanh, Quảng Trị từ năm 1926. Năm 2026 là tròn 100 năm cây cà phê Khe Sanh được ông Eugène Poilane trồng xuống đất này. Duyên do là vậy, tôi bèn dành thời gian đi tìm dấu tích ông Eugène Poilane ở Khe Sanh và trong các tài liệu của Pháp, Hoa Kỳ.

 

Thời gian và chiến tranh đã xóa hết mọi dấu vết nhà cửa, sân kho cà phê… của ông Eugène Poilane ở Khe Sanh, chỉ còn lại những địa điểm mà việc xác định phải nhờ vào ký ức của những người cao tuổi. Theo người dân ở đây, những địa điểm này nằm ở vùng đất xung quanh hồ Khe Sanh, bên cầu Khe Sanh. Lên vùng đồi xanh thẫm cây rừng, vào một ngôi nhà trên đồi, tôi gặp bà Lê Thị Em, 92 tuổi, và chính là gặp đúng một trong những đầu mối mà tôi cần tìm. Bà chỉ tay ra vạt đất cao phía trước nhà rồi kể, mấy năm trước, người ta đến xúc đất ở đó lên xe để chở đi làm đường ở nơi khác, làm lộ ra phần mộ của ông Eugène Poilane.

 

Lúc đó, anh Võ Văn Chương, cháu ngoại của bà, đã bốc hài cốt ông Eugène Poilane để an táng ở vị trí mới cạnh đó, bên bụi tre. Theo hướng bà chỉ, tôi lẩn qua mấy hàng cây cao, vòng đi vòng lại mới tìm ra bụi tre và thấy mộ ông Eugène Poilane. Mộ không có nấm, nằm chìm với mặt đất, chỉ có hàng gạch xếp xung quanh mộ theo hình chữ nhật, trước mộ có đặt một cái bình và một cái dĩa nhưng không hương, không hoa, cho thấy đây là một ngôi mộ vắng chủ. Được bà Em cho biết, chị Hồ Thị Lựu (vợ anh Võ Văn Chương) đang mở quán giải khát bên bờ hồ Khe Sanh là người biết chuyện bốc mộ này, tôi tìm ra quán gặp chị. Tôi làm khách uống nước ngọt giải khát để vừa đỡ mệt, vừa tiện bắt chuyện với chị. Khi tôi hỏi chuyện bốc mộ ông Eugène Poilane, chị Lựu mở máy điện thoại di động của chị cho tôi xem ba tấm ảnh chụp cái tiểu sành đựng hài cốt ông Eugène Poilane. Do bị phân hủy bởi thời gian, hài cốt chỉ còn mấy mẩu xương ống, xương mụn, riêng một hàm răng giả gần như còn nguyên, có những chiếc răng mạ vàng. 

 


Ông Eugène Poilane (1888-1964), nhà thực vật học Pháp, người trồng cà phê đầu tiên tại Khe Sanh, Quảng Trị.


Thời điểm chụp được ghi ở góc bên phải ba tấm ảnh này là ngày 22.11.2021, cho biết ngày bốc mộ ông Eugène Poilane chính là ngày này, khoảnh khắc chụp là buổi trưa. Chị Lựu chia sẻ thêm: “Ông nội chồng tôi đã viết một bản chép tay về chuyện đời ông Eugène Poilane, giao cho vợ chồng tôi cất giữ, phòng khi có người cần hỏi đến”. Bất ngờ trước thông tin này, tôi nhờ chị dẫn đường tới nhà ông Võ Văn Thương, ông nội chồng chị ở khóm 3b, thị trấn Khe Sanh, chị vui vẻ nhận lời. Khi tôi và chị Lựu đến, lúc gần trưa, ông Thương đi vắng. Buổi chiều tôi lại tìm đến, ông Thương có nhà. Ông Thương nay đã 89 tuổi nhưng trông còn khoẻ và minh mẫn. Trong thời gian từ năm 1941 đến 1945, cha mẹ ông đã đến làm thuê trong đồn điền cà phê của ông Eugène Poilane. Ông đã sống với cha mẹ tại đồn điền này từ lúc ông mới 5 tuổi đến 9 tuổi. Khi lớn lên, không sống trong đồn điền này nữa, thỉnh thoảng, ông vẫn đến nhà ông Eugène Poilane chơi. Ông Thương là một nhân chứng sống hiếm hoi còn lại về cuộc đời ông Eugène Poilane cũng như về 100 năm cà phê Khe Sanh. Xem qua bản chép tay vắn tắt (non trang rưỡi giấy khổ nhỏ) của ông Thương viết về đời ông Eugène Poilane, tôi muốn ông Thương kể thêm những “ký ức sống” về chuyện người khởi nguồn cà phê Khe Sanh. 

Ông Thương kể ngọn ngành: “Năm 1926, ông Eugène Poilane đến trồng cà phê tại Khe Sanh. Nhà ông dựng sau quán nhà bà Hoa, bên cầu Khe Sanh hiện nay. Nhà 1 tầng, dài khoảng 80 m. Sau nhà có con suối chảy qua. Còn vạt đất nằm phía trên nhà bà Em hiện nay là địa điểm sân phơi cà phê và nhà kho của ông Eugène Poilane ngày trước. Ông có bà vợ đầu là người Pháp (tên là Mlle Yvonne Bourdeauducq – chú thích của người viết), có 3 con, 2 gái 1 trai. Hai con gái tên là Yvon Poilane và Yranh Poilane. Con trai tên là Félix Poilane, chết năm 1968 vì bị đạn pháo tại sân bay Tà Cơn. Ông và vợ đầu sau đó đã ly dị. Vợ thứ hai tên là Ba, quê ở Vĩnh Linh, Quảng Trị, có 2 con gái là Ma ghi (Marguerite) và Ty ty. Vợ thứ ba là bà Đặng Thị Nam (tài liệu của Pháp viết là Dong Thi Nam – chú thích của người viết), người Tày, người Thổ gì đó, ở ngoài Bắc, Lạng Sơn, Cao Bằng, có con trai tên là Răng, chơi với tôi hồi nhỏ, các con sau thì tôi không nhớ. Cuối đời, ông sống với bà Đặng Thị Nam tại đồn điền gần cầu Khe Sanh”. Từ lời kể của ông Thương về bà Đặng Thị Nam, sau đó, tôi đã liên hệ, đối chiếu khi đọc bài viết “Các loài cây ăn quả ở Đông Dương” của Eugène Poilane trên Journal d’agriculture tropicale et de botanique appliquée (Tạp chí Nông nghiệp Nhiệt đới và Thực vật học Ứng dụng, Pháp), số 11, tháng 11.1965 (bài có trong Thư viện học thuật Persée, Pháp: https://www.persee.fr), có đoạn, khi viết về cây mận, Eugène Poilane cho biết: “Vợ tôi – quê ở Thất Khê – nói rằng người vùng đó nhân giống mận bằng chồi rễ”, chứng tỏ, bà Đặng Thị Nam quê ở thị trấn Thất Khê, huyện Tràng Định (cũ), tỉnh Lạng Sơn."

Ông Thương kể tiếp: 

"Ngày 20.4.1964, ông Eugène Poilane bị bắn chết khi đang ngồi trong xe ô tô Citroën màu vàng của ông chạy trên đường 9. Ông là nạn nhân của chiến tranh. Ông bị bắn, có thể do bị nhầm là người Mỹ. Ông Thương lúc này 28 tuổi đã đi đưa tang ông Eugène Poilane, nhớ lại: “Tôi có đi theo đưa đám. Họ gánh đi, mình chạy theo. Quan tài ông ngoài là gỗ, trong là thiếc, hai lớp. Ông được an táng tại vườn gần nhà, gần cầu Khe Sanh. Sau khi đất nước thống nhất, con ông có về tìm mộ nhưng không tìm được. Ngày 24.12.2024, có người cháu của ông Eugène Poilane về gặp tôi. Tôi đưa người cháu này lên viếng mộ ông Eugène Poilane. Người cháu này đã thắp hương và lạy như người mình vậy đó”. 


Christian (phải) và ông Võ Văn Thương tại Khe Sanh, năm 2024

(Ảnh từ FaceBook của tác giả Nguyễn Hoàn)


Theo ông Thương chỉ dẫn, tôi đã đến chỗ vạt đất phía sau quán bà Hoa (232, Lê Duẩn, Khe Sanh), địa điểm nhà ông Eugène Poilane ngày trước. Chỉ thấy những hàng tre, những lùm cây xanh um tùm, những cây chuối mọc hoang và miên man cỏ dại. Dưới cây cầu bê tông nhỏ bắc ngang, con suối hoang vu chảy qua lặng lẽ tháng năm.

 

Ngoài nguồn ký ức nhân chứng sống và đi thực địa, tôi tìm thêm dấu tích về ông Eugène Poilane trong các tư liệu của Pháp và Hoa Kỳ. OpenEdition Journals là nền tảng xuất bản học thuật trực tuyến có uy tín tại Pháp, chuyên lưu trữ và phát hành các tạp chí khoa học đa ngành, trong đó có tạp chí Revue d’ethnoécologie (Sinh thái học nhân văn). Số 20 năm 2021 của tạp chí này đã đăng bài “Cuộc đời và sự nghiệp của Eugène Poilane (1888-1964)” của Ariadna Burgos và Benoît Carré. Số này còn đăng bài “Bối cảnh xã hội - văn hoá và sinh thái của rừng ngập mặn Việt Nam trong nửa đầu thế kỷ XX theo Eugène Poilane” của Ariadna Burgos, Benoît Carré, Françoise Aubaile-Sallenave và Sovanmoly Hul. Thư viện học thuật Persée, Pháp (đã dẫn trên) có lưu trữ một số bài viết về Eugène Poilane và bài viết của Eugène Poilane.

 

Trang web https://ncbg.unc.edu của Vườn Thực vật Bắc Carolina, thuộc Đại học Bắc Carolina, Hoa Kỳ đã đăng bài giới thiệu về các mẫu nấm và thực vật có mạch do Poilane thu thập, hiện được lưu giữ tại kho lưu trữ của Đại học Bắc Carolina… Theo các tư liệu này, ông Eugène Poilane sinh ngày 16.3.1888 tại Pháp, trong một gia đình nông dân rất nghèo. Ông đã sớm nuôi mộng về những cuộc phiêu lưu và khám phá thế giới. Dù thể trạng yếu, năm 19 tuổi, ông đã nhập ngũ, tham gia Trung đoàn pháo binh thuộc địa số 3 tại Toulon. Năm 1909, ông sang Nam Kỳ, làm việc tại Pháo đội số 7 miền núi, sau đó là tại Xưởng hỏa khí Sài Gòn.

 

Năm 1914, ông gia nhập một đơn vị hạ sĩ quan và nhận nhiệm vụ trồng thầu dầu. Thường xuyên đến Vườn Bách thảo Sài Gòn, năm 1918, ông đã có cuộc gặp gỡ “định mệnh” với Auguste Chevalier (1873-1956), một nhà thực vật học Pháp kỳ cựu sang Việt Nam để thành lập Viện Khoa học Sài Gòn. Nhận ra thiên hướng ưa quan sát và yêu thiên nhiên của Eugène Poilane, Auguste Chevalier đã xin cho Eugène Poilane được chuyển về làm việc tại Viện Khoa học Sài Gòn. Auguste Chevalier đã dạy Eugène Poilane cách thu thập mẫu thực vật, ghi chú chi tiết rồi gửi về Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Quốc gia Pháp ở Paris (MNHN) để xử lý, phân loại, đưa vào nghiên cứu. Từ năm 1919, Eugène Poilane trở thành nhà khảo sát thực vật, năm 1922 làm nhân viên kiểm lâm và từ năm 1928 làm cộng tác viên chính thức của MNHN.

 

 Cà phê Khe Sanh


Đến Khe Sanh lần đầu năm 1918, Eugène Poilane bị mê hoặc bởi thảm thực vật tươi tốt ở đây và cho rằng đất đỏ ở đây tuyệt vời như đất ở Tuscany, nước Ý. Năm 1926, ông quay lại Khe Sanh để trồng những cây cà phê Chari đầu tiên xuống mảnh đất này. Ông đã đi nhiều nơi ở Việt Nam và Đông Dương để khảo sát, sưu tập thực vật và tìm hiểu hệ sinh thái rừng ngập mặn. Rất nhiều loài động thực vật đã được đặt theo tên ông: poilaneana, poilanei, poilanii và hai chi mới: Poilania (thuộc họ Cúc – Asteraceae) và Poilaniella (thuộc họ Thầu dầu – Euphorbiaceae). Theo cơ sở dữ liệu của MNHN, ước tính có 20 đến 30% mẫu vật trong bộ sưu tập của Eugène Poilane là tiêu bản định danh (types nomenclaturaux), tức là những mẫu chuẩn gắn liền vĩnh viễn với tên khoa học của các loài.

 

Trong một bản thảo do ông viết, ông bày tỏ rằng, Việt Nam là “đất nước mà tôi yêu quý và coi là của mình, tôi không còn là người Pháp, mà là người Đông Dương”. Ông từng thổ lộ rằng, khi lìa đời, ông muốn được chôn cất, với tư thế đứng thẳng, trên núi ở vùng Khe Sanh. Ông ngưỡng mộ Alexandre Yersin, bác sĩ, nhà vi khuẩn học và nhà thám hiểm người Pháp gốc Thuỵ Sĩ ở tinh thần say mê khám phá tự nhiên giống như ông: “Tôi biết khá rõ bác sĩ Yersin, người có tiếng là khắc khổ, tiết độ, mộc mạc và bền bỉ hiếm thấy, rất cứng rắn”.

 

Auguste Chevalier, người thầy của Eugène Poilane, đã đánh giá cao về học trò của mình: “Một trong những niềm tự hào của cuộc đời tôi là đã phát hiện ra con người can đảm này và biến ông thành người học trò xuất sắc của mình… Khi bắt đầu cộng tác với chúng tôi vào năm 1919, ông mới chỉ khoảng 30 tuổi, khỏe mạnh và đầy khí thế. Và quả thực, ba mươi năm sống tại Viễn Đông, trong đó có gần hai mươi năm liên tục băng rừng, leo núi, gần như không ngơi nghỉ, cũng không hề làm ông nản chí. Sốt rét và lỵ mạn tính cũng không thể cản bước ông.

 

Các chuyến đi của ông tổng cộng dài đến hàng chục nghìn cây số, phần lớn được thực hiện bằng đường bộ và thường là trong những vùng hiểm trở, đầy thú dữ như hổ, nơi mà chưa một nhà tự nhiên học nào từng đặt chân đến. Ông đã lần lượt thám hiểm toàn bộ Đông Dương: từ Nam Kỳ đến Cao Miên, từ An Nam, Lào đến Bắc Kỳ. Ông là một trong những người đầu tiên chinh phục đỉnh Phan-xi-păng (cao 3.200 m), điểm cao nhất Đông Dương, cũng như các dãy núi xung quanh. Năm 1935, ông đã từ Lào Cai đi bộ dọc theo biên giới Trung Hoa đến sông Mêkông, băng qua vùng “vô chủ” cực kỳ hiểm trở.

 

Những chuyến đi đó đã mang lại số lượng phát hiện thực vật vô cùng phong phú” (“Những khả năng phát triển cây ăn quả ở Bắc Đông Dương theo các cuộc thám sát và thử nghiệm của R. Miéville và E. Poilane, Ghi chú của ông Auguste Chevalier”, đăng trên tạp chí Revue de botanique appliquée et d’agriculture coloniale (tạp chí Thực vật học ứng dụng và Nông nghiệp thuộc địa), số 251-253, năm thứ 22, tháng 7-9 năm 1942, trang 363-391, bài có trong Thư viện học thuật Persée, Pháp).

 

Eugène Poilane đã để lại 50.000 tấm tiêu bản thực vật, hai sổ tay ghi chép thu thập được ghi chú cẩn thận (Poilane 1919, 1922), hai bản thảo: “Ghi chép của một người nông dân” (không ghi năm) dài 428 trang và “Hồi ký của tôi” (Poilane 1947-1950) dài 46 trang; chín quyển sổ học sinh viết tay (không ghi năm), nhiều thư từ, cùng các “buổi trò chuyện gia đình” được trình bày thành những câu chuyện nhằm nâng cao nhận thức cho người dân địa phương về cách xây dựng làng mạc hoặc phòng chống nạn cháy rừng.

 

Trong hồi ký của mình, Eugène Poilane đã bày tỏ niềm tôn kính đặc biệt dành cho thiên nhiên: “Người Công giáo tin vào một vị thần mà họ định danh, còn tôi ngưỡng mộ một tổ chức mà vì không biết rõ hơn nên tôi gọi là Bà mẹ thiên nhiên”. Gần trăm năm nay, kể từ ngày Eugène Poilane trồng lên những cây cà phê đầu tiên ở Khe Sanh, Bà mẹ thiên nhiên ở đây đã tạo nên hương vị cà phê Khe Sanh ngon nức tiếng trong nước và lan toả ra nước ngoài. Một chỉ dẫn địa lý đã được xây dựng cho cà phê Khe Sanh.

 

Năm 2026, tỉnh Quảng Trị tổ chức Lễ hội Vì Hòa bình lần thứ hai. Đây cũng là dịp tròn 100 năm hình thành và phát triển vùng cà phê Khe Sanh (1926 – 2026). Còn gì ứng hợp bằng việc đưa các hoạt động kỷ niệm 100 năm cà phê Khe Sanh vào chương trình khung của Lễ hội Vì Hòa bình, như một lời tạ ơn đối với Bà mẹ Thiên nhiên mà Eugène Poilane từng ngưỡng mộ; đồng thời ghi nhận những đóng góp của ông trong việc tìm kiếm, khảo nghiệm và hình thành vùng trồng cà phê ở Khe Sanh; tôn vinh những người trồng, chế biến, kinh doanh cà phê – những người đã chung tay phát triển cà phê trên “miền đất quả vàng” Hướng Hoá (cũ), làm nên thương hiệu cà phê Khe Sanh nức tiếng hôm nay. Đó là một thương hiệu không chỉ mang giá trị kinh tế mà còn chứa đựng ký ức lịch sử, sức sống của núi rừng và khát vọng hòa bình. Từ chiến địa khốc liệt năm xưa, Khe Sanh hôm nay đang trở thành điểm đến của hòa bình, hợp tác và phát triển. Vì thế, tour du lịch cà phê Khe Sanh đã chọn slogan mang thông điệp nhân văn sâu sắc: “Make coffee, not war” (Pha cà phê chứ không phải chiến tranh). Cà phê Khe Sanh, cà phê của hòa bình! Cà phê Khe Sanh, cà phê của thịnh vượng, mai này!

 

NGUYỄN HOÀN

Nguồn:

https://vanhocsaigon.com/but-ky-cua-nguyen-hoan-eugene-poilane-nguoi-trong-ca-phe-dau-tien-o-khe-sanh/

Được tác giả cho phép đăng lại.

READ MORE - EUGÈNE POILANE - NGƯỜI TRỒNG CÀ PHÊ ĐẦU TIÊN Ở KHE SANH - Bút ký của Nguyễn Hoàn

Sunday, August 30, 2026

NỮ NHÂN CỦA THẾ GIAN - Tác giả: Hashim Nasser Kamal El-Din - Bản tiếng Việt: Thi Lan Anh Tran

Hashim Nasser Kamal El-Din


NỮ NHÂN CỦA THẾ GIAN

Nguyên tác: 

Tác giả Hashim Nasser Kamal El-Din, Giám đốc Tạp chí Quốc tế “Kalamat wa Huruf”

© Bản quyền tác phẩm thuộc về tác giả Hashim Nasser Kamal El-Din (هاشم ناصر كمال الدين).

Bản dịch: 

Nhà thơ Thi Lan Anh Anh, Aschaffenburg, Germany



Em là vẻ đẹp tinh khôi nhất của trần gian,

Nơi khởi nguồn của ngỡ ngàng và giấc mộng vô biên.

Nữ hoàng của muôn người phụ nữ, không ai sánh bước,

Em kiêu hãnh như chim công xòe cánh giữa trời xanh,

Chỉ một ánh nhìn thôi cũng đủ đánh thức những linh hồn say đắm.

Vẻ đẹp em như được sinh ra từ cõi trời thanh khiết,

Rạng ngời, trong trẻo, chẳng vướng chút phấn son giả tạo.

Dáng hình mềm mại tựa nhung tơ huyền ảo,

Một vẻ đẹp vượt qua năm tháng và mọi khoảng không.

Thân hình em mang ngọn lửa của sức sống diệu kỳ,

Mỗi đường nét dịu dàng như được bàn tay thiêng liêng tạo tác.

Một vẻ uy nghi hòa quyện giữa hình hài và tâm hồn,

Khiến thế gian rung động, khiến ánh mắt người say đắm.

Vòng eo em là dòng chảy mềm mại của khát khao,

Mỗi bước chân khẽ lay động cả mặt đất yêu thương.

Một sức mê hoặc khiến đôi mắt mỏi mòn chẳng thể ngủ,

Như thể em được dệt nên từ hương hoa hồng và cánh gió mùa xuân.

Em là nhịp đập hiếm hoi giữa cuộc đời rộng lớn,

Là đóa hồng sống động giữa những cánh hoa vô hồn.

Giữa cánh đồng phai màu của những bông hoa nhựa lạnh lẽo,

Nơi không còn linh hồn, chẳng còn hương sắc của tình yêu.

Dẫu ngàn dặm xa xôi chia cách đôi bờ,

Dẫu khoảng cách trải dài giữa những vì sao xa thẳm,

Hình bóng em vẫn dệt nên những cuộc tương phùng trong đêm vắng,

Nơi nỗi nhớ ngủ yên trong từng ngón tay dịu dàng,

Và khát vọng cuộc đời thức dậy bởi một lần chạm nhẹ.

Hơi thở của em thắp lên vùng hoang vu tĩnh lặng,

Những tâm hồn mộng mơ bay như cánh bướm trên ngọn lửa yêu thương.

Tiếng hát xưa theo dòng nước vọng về,

Cuốn trôi những tảng đá của chia lìa và cách trở,

Đưa em chạm tới thế gian, biến đêm dài thành ánh sáng.

Hương trầm quý phái lan tỏa trong không gian,

Những đóa hương vương giả tan vào lòng người dịu nhẹ.

Mùi xạ hương được tình yêu ủ men qua tháng năm sâu thẳm,

Cho những dặm dài mệt mỏi cũng dần tan biến.

Rồi khoảng cách chỉ còn là chiếc bóng mong manh,

Một ảo ảnh thoáng qua giữa dòng đời vô tận.

Còn em vẫn ở đó—

Với vẻ đẹp được thời gian tôn vinh,

Là sự thật vĩnh hằng duy nhất còn lại,

Là kho báu bất tử dưới bầu trời muôn thuở,

Là những giây phút ngắn ngủi nhưng đẹp mãi trong cõi đời.

________________________________________


LADY OF THE WORLD

Original poem by Hashem Nasser Kamal El-Din


You are the grace where purest beauties gleam,

The birth of wonder and the endless dream.

Queen of all women, without peer or mate,

You walk with pride as peacocks elevate,

And steal the soul upon the very sight.

Your beauty born of heaven, pure and bright,

Untouched by artifice, a faultless grace,

A velvet form that triumphs time and space.

Your glowing frame with living fire is fraught,

Every sweet curve by sacred fingers wrought,

To shake the world and dazzle gazers blind.

A majesty of form and soul combined.

Your waist a fluid line of sweet desire,

Your tread awaking earth with tender fire.

A spell that robs the weary eyes of rest,

As though from rose and windflower you were drest.

You are the rare and solitary pulse,

A living rose where no deceit consults,

Amidst a faded field of plastic flowers,

Devoid of soul through cold and empty hours.

Yet though the leagues of distance stretch afar,

And spaces sever us from star to star,

Your phantom form weaves meetings from the night,

Where longing sleeps within your fingers light,

And eager life awakes at your caress.

Your breath inflames the silent wilderness,

While dreamy souls like butterflies ascend,

And songs of old across the waters send,

Sweeping the rocks of absence from your way,

To claim the world and turn the night to day.

The scent of noble oud invades the air,

And royal attars melt to soothe despair,

Of musk that love has aged within the breast,

Until the weary miles are laid to rest.

Then distance dies, an idle, fleeting shade,

And you remain, by timeless glory made—

The enduring truth, the sole immortal prize,

The fleeting seconds under endless skies.


 Hashem Nasser Kamal El-Din

READ MORE - NỮ NHÂN CỦA THẾ GIAN - Tác giả: Hashim Nasser Kamal El-Din - Bản tiếng Việt: Thi Lan Anh Tran

EM LÀ NHÀ - Thi Lan Anh Tran & Musharraf Hussain



 

EM LÀ NHÀ

Các tác giả

Thi Lan Anh Tran, Aschaffenburg, Germany

& Musharraf Hussain, Assam, India


Copyright © 2026. All Rights Reserved

 

Anh đâu hỏi để kiếm tìm

Điều anh cần biết ở tim em rồi
Chỉ là muốn giữa cuộc đời
Nghe em nói lại một lời... để thương.

 

Bởi người qua mấy dặm đường
Mới hay hạnh phúc rất thường, rất quen
Là khi có một người bên
Âm thầm gom hết muộn phiền cho nhau.

 

Anh thương từ buổi ban đầu
Không vì mắt biếc, má đào, môi xinh
Chỉ vì một tấm chân tình
Lặng im mà sáng như bình minh lên.

 

Em như ngọn cỏ bên thềm
Mềm thôi mà giữ bình yên cho nhà
Qua bao nắng lửa phong ba
Vẫn xanh một phía, vẫn là em thôi.

 

Hướng Dương chỉ ngước một trời
Anh đâu dám nhận mặt trời của em
Anh xin làm một ngọn đèn
Những khi gió tắt còn bên lối về.

 

Nếu đời nhiều nỗi tái tê
Anh xin nhận lấy, đừng để em mang
Vai anh chẳng rộng vô vàn
Nhưng đủ che một mưa ngàn cho em.

 

Anh yêu cả những lặng im
Yêu điều em giấu ở miền xót xa
Yêu từng giọt lệ chưa nhòa
Vẫn cười để giữ cửa nhà bình yên.

 

Có người yêu bởi lời nguyền
Có người yêu bởi nhân duyên đất trời
Còn anh chẳng biết vì đâu
Chỉ hay từ lúc có nhau... là nhà.

 

Mai này tóc trắng như hoa
Thời gian có thể phôi pha dáng hình
Chỉ xin còn một chữ tình
Để anh còn được gọi mình là đôi.

 

Nếu ai hỏi giữa cuộc đời:
"Điều gì quý nhất trong người của anh?"
Anh không đáp ngọc với vàng
Chỉ cười, rồi nắm tay nàng thật lâu.

 

Bởi yêu chẳng ở nhiệm màu
Mà trong bát nước, miếng trầu sẻ chia
Trong câu hỏi lúc sớm khuya
"Hôm nay em có mệt kia không nào?"

 

Nếu em còn ngại nói yêu

Thì anh xin nói một điều trước em:

Suốt đời, qua mọi thăng trầm,

Anh là bến đợi... còn em là nhà.



 

YOU ARE HOME

Co- Authors: 

Thi Lan Anh Tran, Aschaffenburg, Germany

& Musharraf Hussain, Assam, India


Copyright © 2026. All Rights Reserved

 

I never asked because I doubted
Your heart had long revealed its truth.
I only wished to hear your voice
Speak love once more, so love could bloom anew.

 

After walking countless roads,
I learned that happiness is never grand.
It lives in having someone near,
Quietly gathering every sorrow in their hands.

 

I loved you from the very start,
Not for bright eyes or graceful charms,
But for a faithful, gentle soul
Whose silent light outshines the dawn.

 

You are the grass beside the door,
Soft, yet guarding all our peace.
Though storms and burning summers come,
You remain forever green.

 

The sunflower turns toward one sun;
I dare not claim to be your sky.
Let me instead become a lamp
That waits whenever daylight dies.

 

Should life bring grief and bitter rain,
Let every burden fall on me.
My shoulders may not hold the world,
But they are wide enough for you.

 

 

I love even your quietness,
The hidden ache you never speak,
The tears you gently wipe away
So home may still be filled with peace.

 

Some love because of destiny,
Some because the heavens decree.
I know no reason but this one:
Since you arrived... I finally found home.

 

When silver threads adorn our hair
And time has softened youthful grace,
May love remain, unchanged within,
So we are still two hearts as one.

 

If someday someone asks of me,
"What treasure do you cherish most?"
I will not answer, "Gold or gems."
I'll simply smile and hold your hand.

 

For love is never built by miracles,
But by shared bread and cups of tea,
By whispered words in quiet nights:
"Have you been taking care today?"

 

And if you're still too shy to say,

Then let me speak before you do:

Through every season, every storm,

I'll be your harbor... and you, my home.

 

 From: 

E- Mail: Wirtschaftskanzlei@Dipl-Kauffrau-Tran.de

Dipl.- Kauffrau Thi Lan Anh Tran

 

READ MORE - EM LÀ NHÀ - Thi Lan Anh Tran & Musharraf Hussain

CHÙM THƠ NGUYỄN HỒNG LINH: Vu Lan về nhớ mẹ cha / Hương tình quê mẹ / Khói lam chiều bay

Tháng Bảy âm lịch về, mùa Vu Lan lại chạm khẽ vào miền ký ức của những người con xa xứ. Giữa phố phường cách quê hương nửa vòng trái đất, chỉ một thoáng hương trầm cũng đủ làm lòng người chùng xuống, nhớ mái nhà xưa, nhớ dáng cha lặng lẽ, nhớ mẹ hiền bên bếp lửa. 

 

Cha mẹ đã đi về phía bên kia của những mùa thương nhớ, để lại trong con một khoảng trống không gì lấp đầy được. Con không còn cơ hội đặt vào tay mẹ một món quà, không còn nghe cha gọi tên mình, nhưng lòng hiếu thảo vẫn tìm được đường trở về qua từng nén hương, lời nguyện cầu và những việc con âm thầm làm mỗi ngày. Vu Lan không chỉ là một mùa báo hiếu, mà còn là lời nhắc dịu dàng: hãy yêu thương khi vẫn còn có thể.



1.

VU LAN VỀ NHỚ MẸ CHA 

 

Tháng Bảy chạm ngõ hiên nhà

Mà nghe trong gió lời xa gọi về

Con đi qua những bộn bề

Bỗng thương mái tóc mẹ quê bạc màu.

 

Cha ngồi nhóm lửa vườn sau

Áo vai đã bạc tựa màu chiều rơi

Một đời vất vả muôn nơi

Chỉ đem im lặng dựng trời chở che.

 

Mẹ gom từng sợi nắng hè

Khâu vào manh áo con về phương xa 

Mới hay thế giới bao la

Không bằng một mái hiên nhà đợi con.

 

Vu Lan, một nén hương tròn

Con xin gửi cả hoàng hôn trở về

Gửi theo một chút hương quê

Gửi câu xin lỗi chưa hề nói ra.

 

Con từng mải miết đường xa

Quên rằng tóc mẹ đã pha mây chiều

Quên rằng cha đứng đăm chiêu 

Sau khung cửa cũ mỗi chiều đợi mong… 

 

2.

HƯƠNG TÌNH QUÊ MẸ 

 

Tôi xa xứ nghe mùa mưa trở gió

Bỗng thèm nghe tiếng dép mẹ ngoài sân

Tiếng nước đổ từ chiếc lu đầy nắng

Như tuổi thơ còn đọng giữa âm thầm. 

 

Có tiếng mẹ gọi chiều bên giếng cũ

Khói rơm bay như giữ một mùa vàng

Con chim nhỏ nghiêng mình qua mái lá

Đậu trong tim nỗi nhớ rất dịu dàng. 

 

Có bếp lửa cháy qua mùa đông lạnh

Cha ngồi yên hong khói giữa đêm thâu

Tiếng củ khoai nứt thơm lòng trẻ nhỏ

Sưởi tuổi thơ qua biết mấy canh sầu. 

 

Mùi hoa bưởi len vào miền ký ức

Trắng hiên nhà như áo mẹ ngày xưa

Tôi chợt thấy lòng mình như đứa trẻ

Đứng đợi ai bên khóm nắng ban trưa. 

 

Tiếng sáo diều vi vu trên đồng cỏ

Bay bồng bềnh qua mấy nhịp sông trôi

Tôi đứng lặng giữa tha hương phố thị

Nghe hồn mình hóa chiếc lá đơn côi. 

 

Rồi mai mốt khi tóc đời bạc trắng

Tôi quay về nghe lại tiếng mưa rơi

Nghe tiếng gió chạm hiên chiều rất khẽ

Mới hiểu rằng quê vẫn đợi… người ơi!

 

3.

KHÓI LAM CHIỀU BAY

 

Chiều buông nhẹ xuống bến quê xưa cũ

Mẹ ngồi đan áo lạnh giữa mùa đông

Gió đưa thoảng nhẹ hương đồng lúa trổ 

Nắng tàn dần khuất phía cuối dòng sông.

 

Mưa lất phất rơi trên con đường nhỏ

Ướt mái tranh nghèo lặng lẽ ven thôn

Hàng tre già khẽ nghiêng mình trong gió

Nghe thời gian trôi chậm giữa hoàng hôn.

 

Con đò cũ nép mình bên bến vắng

Cánh cò bay hòa cùng bóng chiều rơi

Không gian phủ một màu buồn trầm lắng

Gợi trong tim bao nỗi nhớ xa vời.

 

Khói lam chiều bay ngang qua mái rạ

Tiếng gọi ai vọng lại giữa mênh mang 

Mẹ đón con nụ cười hiền êm ả

Ru lòng người quên hết những đa đoan.

 

Stuttgart - Germany, 08.2026

NGUYỄN HỒNG LINH

Mail: honglinh8861@yahoo.de

READ MORE - CHÙM THƠ NGUYỄN HỒNG LINH: Vu Lan về nhớ mẹ cha / Hương tình quê mẹ / Khói lam chiều bay

TIẾNG VỌNG TỪ MIỀN KÝ ỨC - Nhà thơ Nguyễn Văn Trình giới thiệu tập thơ RÁNG ĐỎ TRỜI CHIỀU của nhà thơ Lê Thanh Hùng

         


   TIẾNG VỌNG TỪ MIỀN KÝ ỨC

 NGUYỄN VĂN TRÌNH

Hội VHNT tỉnh Quảng Trị

 

        Thơ là hình thức sáng tác văn học nhằm phản ánh cuộc sống và những cảm xúc chan chứa, những tâm trạng dào dạt, những tưởng tượng mạnh mẽ, bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh, và nhất là có vần, có nhịp điệu. khi định nghĩa về thơ, nhà văn vĩ đại của nền văn học Anh thế kỷ 19 Willam HaZlitt đã viết như sau:“Thơ là những gì đáng ghi nhớ nhất trong cuộc sống.” với Lê Thanh Hùng cũng không ngoại lệ, anh làm thơ để ghi lại những mảnh ký ức tâm hồn của mình, mà anh đã từng trải qua và cảm nhận một cách sâu sắc về cuộc sống này.


Hai nhà thơ Lê Thanh Hùng và Nguyễn Văn 
Trình

         Lê Thanh Hùng sinh ngày: 07/7/1947 tại xã Hải Thượng, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị (cũ). Anh đã từng hoạt động trong kháng chiến và tham gia chiến đấu tại quê nhà. Sau đó anh bị thương trong một trận giao chiến ác liệt với kẻ thù, rồi được Đảng - Nhà nước đưa ra an dưỡng và học tập văn hóa tại trại thương binh thành phố Hải Phòng. Sau đó anh được tiếp tục vào học Đại học xây dựng ở Hà Nội. Và sau khi tốt nghiệp ra trường anh được phân công, về công tác tại quê hương, lần lượt là các huyện, thị như: Vĩnh Linh, Triệu Hải và huyện Hải Lăng sau này. Năm 1991, anh vinh dự được chuyển về công tác tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Quảng Trị, từ đó cho đến lúc về hưu.

         Lê Thanh Hùng sinh ra và lớn lên ở một vùng quê nghèo Hải Lăng, Quảng Trị, nhưng đây là vùng quê hiếu học và giàu truyền thống cách mạng. Cũng như bao người con ở vùng quê nghèo Hải Lăng đầy cát trắng và nắng gió này, Lê Thanh Hùng đã từng trải qua thời kỳ bom đạn, khói lửa của chiến tranh ác liệt ở nơi đây. Hiện thực đời sống của quê hương, gia đình, của địa bàn chiến đấu, của đơn vị nơi anh công tác… đã giúp anh hun đúc nên những vần thơ đầy cảm xúc dâng trào.

       Lê Thanh Hùng làm thơ khá sớm, anh đến với thơ hồn nhiên và giản dị như chính đời sống của anh vậy. Bài thơ anh viết khi về thăm lại trại thương binh ở Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng, tính đến nay đã xấp xỉ 50 năm trôi qua. Với gần năm mươi năm cầm bút, anh đã có gần cả trăm bài thơ và cũng đã được đăng tải rải rác trên các báo, tạp chí của địa phương và trung ương.

        Sau gần năm mươi năm miệt mài cầm bút, và lòng đam mê thơ ca, hôm nay Lê Thanh Hùng đã chính thức cho ra mắt  bạn đọc tập thơ:“Ráng đỏ trời chiều”. Cầm trên tay bản thảo tập thơ khá dày dặn, có gần cả trăm bài thơ, tôi thật sự xúc động và trân trọng tấm lòng của anh dành cho thơ, cho cuộc sống đáng yêu trăm chiều thương nhớ này.

      Đọc “Ráng đỏ trời chiều” của Lê Thanh Hùng, mới thấy hết thơ anh viết khá nhiều, khá phong phú về các nội dung, đề tài và thể loại thơ. Chủ đề trong thơ Lê Thanh Hùng cũng thật đa dạng, gần như gói trọn cả đời sống tinh thần của anh, đó là: tình yêu quê hương - làng nước, hình ảnh người lính, tình yêu gia đình - tình bạn bè - đồng nghiệp, và tình yêu thiên nhiên đất nước tươi đẹp.

      Quê hương làng nước luôn có một chỗ đứng quan trọng trong lòng của mỗi người chúng ta. Mỗi người dân Việt, bất kỳ ai cũng đều có tình cảm thiêng liêng gắn bó với quê hương xứ sở của riêng mình, nơi sinh ra và trưởng thành. Đối với Lê Thanh Hùng cũng vậy, từ lúc cất tiếng khóc chào đời, rồi đến tuổi thơ nhiều vụng dại, rồi những công việc lao động, chiến đấu, rồi đến cuộc sống gia đình… tất cả đã gắn bó máu thịt với làng quê, và đã đi vào thơ của anh một cách giản dị, chân thực như cuộc sống nó vốn có. Tuổi thơ của Lê Thanh Hùng không vui, mà mang mác buồn, khác xa với bao đứa trẻ cùng quê với anh. Cha anh mất sớm, mẹ đi bước nữa, anh sống với bà nội với biết bao vất vả đắng cay của những ngày thơ ấu cơ cực:

Vui buồn từ cái thuở hàn vi

Con chưa sinh cha đã ra đi

Chưa hẹn được cho ngày trở lại

Mẹ nuôi con rau cháo qua ngày

 

Nhìn cháu họ, hai buổi đến trường

Khóc thầm trong dạ nén đau thương

Thương cháu nhỏ, sớm mất tất cả

Biết làm sao hết số kiếp nghèo…

                          (Những ký ức xanh)

        Tình yêu quê hương đất nước là một truyền thống tốt đẹp và đáng quý của dân tộc Việt Nam, cho dù có ở nơi đâu vẫn nhớ về quê hương xứ sở của mình, nơi chôn nhau cắt rốn. Quê hương như mẹ hiền ôm ta vào lòng và dành cho ta những gì đáng nhớ nhất. Quê hương là tình yêu thương, là nơi nuôi ta khôn lớn, che chở, động viên cho ta trong những bước đường đời mưu sinh đầy khó nhọc. Quê hương, hai tiếng thân thương mỗi khi nghe thấy, ta thật xúc động, bồi hồi. Tình yêu quê hương ăn sâu vào máu thịt, đi sâu vào tâm hồn của mỗi người con xa quê. Tình yêu quê hương, đất nước trong thơ Lê Thanh Hùng cũng thật da diết xiết bao, khi anh viết về quê hương Đại Nại, Hải Thượng của mình:

Tôi trở về quê một sớm mai

Trời đông se lạnh gió heo may

Bờ tre giếng nước không còn nữa

Dạ buồn, mắt cũng ướt cay cay…

                                     ( Quê tôi)

        Từ ngàn xưa, quê hương luôn là nguồn mạch quán thông kim cổ, là chiếc nôi nuôi dưỡng tâm hồn, trí tuệ của mỗi người. Tình yêu quê hương là sự gắn bó với truyền thống cách mạng, là niềm tự hào về vùng quê yêu nước. Nơi đây đã khơi dậy tinh thần khát khao sáng tạo, vượt khó vươn lên giành thắng lợi:

Chuyện xa rồi nhắc mãi em ơi

Để nhớ lại những nơi đã sống

Biết khổ cực mới mong tìm lại

Đại Nại mình đâu dễ phôi phai

 

Đánh giặc giữ làng chẳng thua ai

Góp công sức cùng với Hải Thượng

“Bốn anh em”, cùng chung chí hướng

Để Hải Thượng mình sáng như gương.

                            ( Đại Nại quê tôi)

         Bên cạnh những bài thơ viết về quê hương, làng nước, thơ Lê Thanh Hùng cũng viết khá nhiều về hình tượng người lính, bởi chính anh là người trong cuộc. Anh viết với tất cả nỗi lòng của một người lính, viết về người lính. Như trong bài thơ:“Những ký ức xanh” anh đã từng tâm sự, trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ cứu nước trên quê hương mình, anh đã từng cầm súng chiến đấu để bảo vệ quê hương đất nước, chống lại kẻ thù xâm lược, ngoại bang:

Được cầm súng ở trong tay

Cùng vài thằng bạn tối hôm nay

Thành du kích giữ yên làng xã

Nằm hầm bí mật, đêm thay ngày

 

Những tối họp dân gác đầu đường

Để dân học tập các chủ trương

Cho dân hiểu rõ thêm đường lối

Đập tan luận điệu địch tuyên truyền

                        (Những ký ức xanh)

        Với gia đình có truyền thống yêu nước và cách mạng, Lê Thanh Hùng đã sớm giác ngộ và đi theo con đường cách mạng. Anh cũng đã tham gia vào quân đội từ những ngày còn rất trẻ, tuổi thanh xuân mười tám đôi mươi:

Tuổi mười tám vào quân giải phóng

Ra đi cầm súng lúc xuân xanh

Biết bao ước vọng đành dang dở

Gìn giữ quê hương, giữ nước nhà

 

Những lúc xung trận giữa địch ta

Lời thề vang vọng quyết xông pha

Tinh thần đồng đội luôn gắn bó

Cuối cùng chiến thắng, thuộc về ta

               (Trung với Đảng, hiếu với dân)

      Dân tộc Việt Nam là một dân tộc nhiều lần phải đương đầu với các thế lực xâm lược hùng mạnh, hơn ta gấp cả trăm lần về tiềm lực vũ khí. Lịch Việt Nam cơ bản là lịch sử của các cuộc kháng chiến vệ quốc. Vì vậy, hình tượng người lính luôn là hình tượng trung tâm trong đời sống, cũng như trong thơ ca. Hình tượng người lính là nguồn cảm hứng của các sáng tác thơ ca, nhạc họa. với Lê Thanh Hùng cũng vậy, anh đã xây dựng hình tượng người lính trong thơ mình một cách tự nhiên, và đầy cảm xúc dâng trào:

Bao năm chiến đấu ở chiến trường

Sau hòa bình, trở lại quê hương

Xa bạn bè yêu thương đồng đội

Rời quân ngũ, vẫn nhớ thao trường

                       (Bản chất người lính)

        Những bài thơ của Lê Thanh Hùng viết về người lính, dưới góc nhìn chiêm nghiệm của một người trong cuộc. Đó là những người lính hồn nhiên, yêu đời đã dâng hiến tuổi thanh xuân, và máu xương của mình cho Tổ quốc. Họ sẵn sàng vượt qua mọi hy sinh gian khổ để đất nước được vẹn tròn to lớn. Người lính trong bài thơ: “Hai thế hệ” hiện lên đầy niềm tự hào về truyền thống của một gia đình cách mạng, con tiếp bước cha, những người lính ấy mang trong mình trách nhiệm lớn lao là chiến đấu chống kẻ thù xâm lược, bảo vệ quê hương đất nước:

Vinh dự đứng trước hàng quân

Ba tư chiến sĩ tòng quân đợt đầu

Xuất quân sau đó không lâu

Chiến thắng vang dội, công đầu có cha

 

Lớn lên con đã theo cha

Vào quân giải phóng băng đèo vượt sông

Chiến công, nối tiếp chiến công

Con xin dâng trọn, một lòng vì dân

                                            (Hai thế hệ)

         Đọc “Ráng đỏ trời chiều” của Lê Thanh Hùng, ta cũng nhận ra thơ anh viết khá nhiều, và khá xúc động về tình cảm gia đình, về tình bạn và về tình đồng nghiệp…Đó là những tình cảm thiêng của mỗi con người trong cuộc sống, mà ai cũng từng trải qua và chúng đã trở thành những mảnh ký ức tâm hồn sâu thẳm.

        Tình cảm gia đình có thể giúp cho người ta vượt qua mọi khó khăn, thử thách trong cuộc sống. Đây là nơi để con người có sự an ủi, có niềm tin, và hy vọng vào một ngày mai tươi sáng, tốt đẹp. Nếu con người sống mà không có tình cảm gia đình, thì sẽ trở nên khô cằn, héo úa và cũng sẽ mất đi một điểm tựa trong cuộc sống của mình. Mỗi con người ai rồi cũng sẽ có nơi chốn bình yên cho tâm hồn, đó là mái ấm gia đình. Sau bao nhiêu gian lao, bão táp, con người luôn hướng về mái ấm gia đình, mong được yêu thương và che chở.

        Khi viết về người vợ tào khang, chung thủy của mình, giọng thơ của Lê Thanh Hùng như thiết tha đằm thắm hơn. Anh giành cho vợ những tình cảm ngọt ngào trân quý, nói với vợ mà như tâm sự với chính lòng mình:

Giờ con cái đã yên bề gia thất

Chúng ta đã lên chức ông bà

Bốn mươi lăm năm, đầu đã bạc

Vẫn yêu đời, vui với cháu con

 

Đếm thời gian, bốn lăm năm qua

Những buồn vui trôi vào quá khứ

Vẫn phải nhớ, những ngày xưa ấy

Để tạo nguồn, cho cuộc sống hôm nay

           (Kỷ niệm bốn lăm năm ngày cưới)

Tình vợ chồng trong thơ Lê Thanh Hùng cũng mang nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau, phong phú và đa dạng. Đôi khi anh viết những vần thơ tặng vợ, nhưng vẫn tràn đầy những cảm xúc ngọt ngào, say đắm, lãng mạn và mộng mơ như thuở tình yêu ban đầu hò hẹn:

Ta biết nhau đâu phải trời ban

Biết bao lần, thời gian dài trăng khuyết

Có lúc nào em thấy luyến tiếc

Bởi vì nhiều đêm, trăng khuyết không tròn

 

Bước trên đường đầy ắp cỏ non

Chắc hết mùa trăng khuyết, trăng lại tròn

Tình chúng ta còn duyên mãi mãi

Rồi trăng tròn, sẽ sáng lại bên ta

                           (Đêm trăng khuyết)

       Viết về tình cảm ông cháu, bác cháu, Lê Thanh Hùng cũng dành những lời thơ yêu thương, dịu dàng nhất. Và không quên những lời căn dặn sâu sắc với các cháu:

Giờ đây cắp sách đến trường

Phải chăm học giỏi, làm gương em mình

Nhớ lời ông dặn đinh ninh

Ngày mai khôn lớn hành trình ước mơ...

                                    (Tình ông cháu)

 

      Hoặc:                

Bây giờ cháu đã lớn khôn

Một vài năm nữa, bước chân vào đời

Nước nhà mong đợi cháu ơi

Mong cho cháu bác, trọn đời sướng vui…

                                        (Mừng cháu đọat giải)

       Mái ấm gia đình là nơi chốn để đi về, là tổ ấm hạnh phúc của mỗi người trong gia đình. Nên khi viết về “Mái ấm tình thân” Lê Thanh Hùng có những lời thơ vừa dung dị, vừa triết lý rất sâu sắc, đọc lên nghe thật thấm thía:

Câu chuyện dâu con xưa đến giờ

Gia đình hạnh phúc, biết làm ngơ

Chắp nhặt từng ly càng dễ vỡ

Nhẫn nhịn, nhường nhau hạnh phúc chờ

 

Mái ấm gia đình là giấc mơ

Nhưng biết bao người, còn lơ mơ

Ông bà cha mẹ, vui gương mẫu

Cháu con hạnh phúc mãi trông chờ…

                            (Mái ấm tình thân)

        Trên tất cả những tình cảm gia đình là tình mẫu tử. Lê Thanh Hùng đã viết những vần thơ nặng nghĩa ân tình về người mẹ kính yêu của mình, tần tảo một nắng hai sương. Với niềm tự hào kiêu hãnh của một người con hiếu thảo, khi mỗi lần được về bên mẹ:

Bên mẹ là no đủ

Cơm đạm bạc mà ngon

Xa cho dù lạc thú

Vẫn luôn, buồn thân con

                         (Bên mẹ)

      Tình bạn, tình đồng nghiệp là một tình cảm tốt đẹp, cần được nâng niu và trân trọng, cũng được Lê Thanh Hùng khắc họa khá đậm nét trong tập thơ này. Như chúng ta đã biết, cuộc đời của mỗi con người cũng giống như một con đường dài hun hút, mà chúng ta không biết những gì sẽ xuất hiện ở chặng đường sắp tới. Vì vậy, trong mọi hành trình cuộc sống, ta luôn cần có những người bạn đồng hành, luôn quan tâm và chia sẻ khi cần thiết. Tình bạn, tình đồng nghiệp luôn sát cánh bên nhau cùng chia sẻ niềm vui, nỗi buồn. Tình bạn cũng là đôi cánh giúp ta bay cao bay xa. 

     Người xưa có câu: 

     “Muốn đi nhanh thì đi một mình, nhưng muốn đi xa thì phải có bạn đồng hành.”. Tình bạn cũng chỉ có thể, có được khi hai trái tim đồng điệu, hai đôi mắt nhìn về một hướng, tâm đầu ý hợp luôn giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống đầy thử thách này. Tuân Tử ở Trung Quốc đã có một câu nói rất nổi tiếng về tình bạn và rất đáng để chúng ta suy ngẫm:“Người chê ta mà chê đúng là thầy ta, người khen ta mà khen đúng là bạn ta, những kẻ vuốt ve nịnh bợ ta là kẻ thù của ta.” Khi viết về tình bạn, tình đồng nghiệp, Lê Thanh Hùng cũng đã có những vần thơ dâng trào cảm xúc, thật xúc động và đáng trân trọng về một tình bạn cao đẹp:

Đêm lạnh về khuya tiếng gió lùa

Len vào khe cửa rèm đung đưa

Nào ai vừa biết tin trong gió

Thằng bạn phương xa muốn dặn dò

 

Hai thằng xa cách ở hai nơi

Thế mà đã mấy chục năm trời

Nhớ xưa, chung chiến hào đánh giặc

Sau ngày gặp lại, tình như xưa…

                           (Nghĩa tình bạn bè)

Khi Lê Thanh Hùng viết về nghề nghiệp của mình, anh cũng cảm thấy rất tự hào và đầy trách nhiệm:

Riêng anh, kho bạc chọn anh rồi

Ngày ngày sổ sách chứng từ thôi

Tiền ở trong kho, hay sổ sách ?

Bí mật an toàn phải giữ gìn

 

Quản lý thu chí phải rạch ròi

Kiểm tra, kiểm soát phải nhớ đời

Chứng từ sổ sách luôn cân đối

Giữ mãi lòng son sắt với đời

                          (Tâm sự nghề)

       Thiên nhiên luôn là một chủ đề lớn trong các tác phẩm văn học xưa nay, được các tác giả văn học quan tâm và phản ánh. Bởi thiên nhiên được xem như là một hình tượng nghệ thuật trong các tác phẩm văn học. 

Đọc “Ráng đỏ trời chiều” của Lê Thanh Hùng, ta thấy vẻ đẹp thiên nhiên cũng là một hình tượng văn học xuyên suốt trong thơ anh. Bức tranh thiên nhiên bốn mùa tươi đẹp hiện lên trong thơ Lê Thanh Hùng mang vẻ đẹp riêng, của một người con quê hương Hải Lăng, Quảng Trị đầy gió Lào và cát trắng.

       Đông qua xuân tới, khi từng đàn chim én chao liệng trên bầu trời mang thông điệp báo hiệu mùa xuân đang về. Không như mùa đông lạnh giá, mùa hè chói chang ánh nắng, mùa thu đượm buồn với những chiếc lá vàng rơi, mà mùa xuân mang tới cho con người một không khí ấm áp dịu hiền. Cái thời điểm kỳ diệu của mùa xuân khiến cho tâm hồn con người bừng lên một sức sống mới. Mùa xuân được ví như nàng chúa xuân tươi đẹp mà Thượng đế đã ban tặng cho loài người. Đó là một món quà vô giá tô điểm cho những hương sắc mùa xuân, là những loài hoa rực rỡ, và đặc biệt là không thể thiếu cành mai vàng, cành đào…Nó đã trở thành biểu tượng đặc sắc nhất của ngày xuân. Thơ Lê Thanh Hùng viết về mùa xuân, về mai vàng, về cành đào đón tết… cũng tràn đầy niềm vui và cảm xúc hân hoan chào đón xuân về:

Từ giả đông về thôi lạnh giá

Rộn ràng chuẩn bị đón xuân sang

Mai vàng khoe sắc đào đua nở

Vương chút men nồng thắm tình ta

                                   (Xuân về)

                         Hoặc:

Lác đác nụ mai vàng

Chuẩn bị đón xuân sang

Mận đào càng rực rỡ

Nghiêng cánh đứng thẳng hàng

 

Khiêm tốn ở một mình

Chàng hướng dương lung linh

Chao mình trong nắng sớm

Đón chào ánh bình minh

                              (Sắc xuân)

        Mùa hè trong thơ Lê Thanh Hùng cũng có nét riêng của vùng quê Quảng Trị đầy nắng gió. Khi những chú ve đua nhau ngân lên khúc nhạc râm ran báo hiệu một mùa hè đã về, là khi trên mọi nẻo đường quê, nơi công sở đã rực rỡ những chùm phượng đỏ, tất cả đã tạo nên một bức tranh mùa hè thật rộn ràng, đủ các sắc màu đầy hoài niệm:

Nghe tiếng ve kêu biết hè về

Đầu đường phượng nở cạnh hàng me

Ngày xưa đi học tôi còn nhớ

Ngày tháng dần qua đã đến hè…

                                           (Hè về)

        Mùa thu hiện lên trong:“Ráng đỏ trời chiều” của Lê Thanh Hùng cũng thật ấn tượng và rất đáng nhớ. Mùa thu là mùa của những đam mê lãng mạn, là mùa của thi ca và ái tình. Mùa thu đã gợi lên cho con người không biết bao nhiêu là cảm xúc dâng trào. Chẳng khó để lý giải lý do, vì sao mà trong văn học lại có nhiều bài thơ hay về mùa thu như vậy. Những cái khoảnh khắc của mùa thu thật xao xuyến làm sao, cũng được Lê Thanh Hùng cảm nhận và tái hiện trong thơ mình:

    Trời giữa thu, vương vấn phút hạ qua

    Được vỗ về chút hơi lạnh làm quà

    Một ít tình còn vương trong gió thoảng

    Nao nao lòng, thu không thể xóa nhòa

                                      (Tâm sự ba mùa)

          Thu qua, đông đến, thế rồi sau chuỗi ngày mùa thu với những làn gió nhẹ heo may, mây trôi bảng lảng. Sau những con đường rợp lá vàng rơi, sau những phút giao mùa đầy ắp tâm tư đáng nhớ. Giờ đây, mùa đông cũng đã đến và mang theo những cơn gió lạnh lùng, rét buốt. Mùa đông là mùa đặc trưng của giá lạnh, nhưng có lẽ mùa đông cũng là mùa tràn đầy cảm xúc và mang lại nhiều thi hứng nhất cho các thi nhân. Vì vậy, mùa đông đã đi vào thơ, nhạc khá nhiều và khá hay. Mùa đông trong thơ Lê Thanh Hùng cũng tràn đầy cảm xúc như thế:

Thu chưa đi, mà đông đã đến thăm

Đem chút lạnh từ đáy lòng sâu thẳm

Tâm hồn thu, mới giả từ anh hạ

Ngắm nhìn đông mà ánh mắt xa xăm…

                           (Tâm sự ba mùa)

       Khi nói về thơ, nhà phê bình văn học hàng đầu của nước Nga thế kỷ 19, Bê-lin-xki, đã viết: “Thơ trước hết là cuộc đời, sau đó mới là nghệ thuật”. Đọc những vần thơ trong tập:“Ráng đỏ trời chiều” của Lê Thanh Hùng, ta mới thấy hết những trang thơ của anh viết ở trong tập thơ này thực sự là những trang đời của anh, rất chân thực, hồn hậu như chính đời sống vốn có vậy. Có những trang đời của anh buồn đẫm nước mắt đọc lên nghe rưng rưng, nhưng cũng có những trang đời vui tươi, và đầy viên mãn hạnh phúc. Đó là những trang thơ anh viết ra từ tiếng vọng của miền ký ức, để gửi đến cuộc đời, gửi đến bạn đọc gần xa, và gửi trọn hương lòng của anh cho gió mang đi cuối trời.

        Với tập thơ:“Ráng đỏ trời chiều”, chúng ta có thể tin rằng những vần thơ của Lê Thanh Hùng trong tập thơ này, sẽ còn mãi cùng trời xanh mây trắng, sẽ còn mãi cùng thời gian năm tháng cuộc đời. Trong bài thơ mở đầu cho tập thơ, anh cũng đã viết những dòng thơ tự bạch về nỗi lòng của mình, nhằm gửi đến quý độc giả gần xa mong được sự đón nhận, đồng cảm và chia sẻ:

Ráng đỏ trời chiều màu hư ảo

Mây giăng đỉnh núi nỗi hanh hao

Bao nhiêu ký ức này trao gửi

Gửi con cháu, gửi vào thiên thu…

                   (Ráng đỏ trời chiều)

 

Viết tại Phường Nam Đông Hà, tỉnh Quảng Trị

                                 NVT

 

Tác giả NGUYỄN VĂN TRÌNH

Bút danh: KATHI

Hội VHNT tỉnh Quảng Trị - ĐT 0914 415 931

Email: nguyenvantrinh58@gmail.com

Đ/C: 65B Đường Chu Mạnh Trinh, Phường Nam Đông Hà, tỉnh Quảng Trị

 

 

 

 

 

 

 

READ MORE - TIẾNG VỌNG TỪ MIỀN KÝ ỨC - Nhà thơ Nguyễn Văn Trình giới thiệu tập thơ RÁNG ĐỎ TRỜI CHIỀU của nhà thơ Lê Thanh Hùng