Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Thursday, April 16, 2026

XỨ CỦA BÀU - Dinh Nhu




Dinh Nhu

XỨ CỦA BÀU


Nếu phải kể tên một nơi mà sự kỳ diệu của thiên nhiên được phô diễn một cách đặc sắc, thì với mình, đó là vùng cát Quảng Trị, nằm trong vệt đất ven biển mà người xưa gọi là “Tiểu Trường Sa”(Phân biệt với “Đại Trường Sa” là dải cát duyên hải từ Quảng Nam vào đến Bình Thuận).

Thật ấn tượng khi giữa trùng điệp cồn cát chang chang lại có rất nhiều hồ nước ngọt độc đáo mà ở quê mình gọi là “bàu”.

Những bàu nước ấy không bao giờ cạn cho dù có năm nắng hạn ba bốn tháng trời không một giọt mưa. Và chúng giống nhau ở chỗ nằm sát biển nhưng khi nào cũng ngọt lịm, trong mát lạ lùng. Mình còn nghe nói trong các loại nước tự nhiên thì nước ở các bàu cát là thứ nước uống tốt nhất so với ao hồ sông suối khác, dù là dạng nước ngầm hay nước mặt.

Quảng Trị có rất nhiều bàu mình không nhớ hết. Nhưng có bốn cái tên nổi tiếng không thể không nhắc: Đó là Bàu Tró, được coi là “hồ không đáy”, ở ngay thành phố Đồng Hới. Bàu Sen, điểm dừng chân nổi tiếng mát mẻ cùng với món cơm gà, cơm cá mà ai từng ghé một lần thì khó từ chối lần sau. Bàu Trạng, nơi có con cá tràu (cá lóc) khủng đến mức vảy của nó sau khi phát cho cả làng làm quạt, số còn lại dùng để lợp được mấy chục mái nhà mà tốt hơn cả ngói. Tuy con cá đó chỉ có trong chuyện trạng Vĩnh Hoàng, nhưng người ta tin rằng nhờ uống nước bàu Trạng mà người làng Huỳnh Công Tây từ nhỏ chí lớn ai cũng biết nói trạng.

Nhưng mình thực sự bất ngờ khi lần đầu tiên đến bàu Nhum. Có vẻ những cồn cát và những rừng cây rậm rịt vùng Sen Thủy đã giấu bàu Nhum rất kỹ nên cách quốc lộ 1A hơn cây số thôi mà chỉ khi đến tận mép nước ta mới nhận ra. Một hồ nước bao la, xanh ngắt và trong veo.

Đáng nói là bàu Nhum còn là một hồ thủy lợi tự nhiên trên cát, không cần đắp đập ngăn dòng mà nước trong cát cứ thế ăm ắp quanh năm.

Độc đáo hơn, đây là công trình thủy lợi bằng cát có từ thời Pháp nằm ở tỉnh này nhưng lại để tưới cho ruộng ở tỉnh khác. Cụ thể là bàu Nhum nằm ở Lệ Thủy (Quảng Bình) nhưng nước thì dẫn tưới cho đồng ruộng Vĩnh Linh (Quảng Trị).

May có gió nước bàu Nhum mà ta nhận ra đất trời vẫn còn sót lại một chút Xuân đây!

Ảnh: Ghé bàu Nhum vào một ngày chưa hè mà đã nắng nóng gay gắt.

READ MORE - XỨ CỦA BÀU - Dinh Nhu

YouTube: Ca khúc ÁNH SÁNG TỪ BI - Phạm Anh Dũng & AI

 

READ MORE - YouTube: Ca khúc ÁNH SÁNG TỪ BI - Phạm Anh Dũng & AI

Wednesday, April 15, 2026

THE WAR WE KEPT CALLING LOVE / CUỘC CHIẾN TA VẪN GỌI LÀ TÌNH YÊU - Musharraf Hussain (India) & Thi Lan Anh Tran (Germany)

 


THE WAR WE KEPT CALLING LOVE

 Authors: Musharraf Hussain (India) & Thi Lan Anh Tran (Germany)

Date: 14 April 2026

---

 

We did not meet in gardens—

those belong to the unbroken.

We met where the river forgets its name,

where silence had already settled in our throats.

You brought no flowers,

only a sky fractured by yesterday’s storms.

I carried no promises,

just a pocketful of unfinished goodbyes.

And yet—

the wind paused.

Between us stood something unnamed:

not quite love, not quite ruin—

perhaps a fragile country

still learning how to live without war.

We walked—

not forward, not back—

but sideways through memory,

like creatures escaping the logic of time.

The trees watched quietly,

their leaves whispering:

even decay has rhythm,

even falling remembers flight.

You said,

“Love should be easy.”

I laughed—

not cruelly, but like rain

returning to a battlefield

long after the soldiers are gone.

Because love,

as we came to know,

is not the absence of war—

but the decision

to sit beside the ruins

and plant something green.

We argued like seasons—

summer burning through reason,

winter freezing apologies mid-air.

Still,

in the geography of your silence

I found a strange shelter,

where even my fears

felt less alone.

And when night arrived—

not gently, but like history repeating—

we did not run.

We stayed.

Because somewhere between

your trembling hand

and my unfinished courage,

nature whispered:

nothing survives without breaking.

So we broke—

not into pieces,

but into understanding.

And in that quiet aftermath,

where even the stars seemed tired of shining,

we discovered:

this was never a love story.

It was a war we refused to win—

because losing each other

would have been the only defeat.

---

Copyright: © 2026 Musharraf Hussain & Thi Lan Anh Tran. All Rights Reserved.

===

 

 THE WAR WE KEPT CALLING LOVE

 

CÁC TÁC GIẢ:

Musharraf Hussain (Ấn Độ) và Thi Lan Anh Tran (Đức)

 

Ngày: 14 tháng 4 năm 2026 ---

---

 

Authors: Musharraf Hussain (India) & Thi Lan Anh Tran (Germany)

Date: 14 April 2026

---

Copyright: © 2026 Musharraf Hussain & Thi Lan Anh Tran. All Rights Reserved.


===


 CUỘC CHIẾN TA VẪN GỌI LÀ TÌNH YÊU

 

Chúng ta không gặp nhau trong những khu vườn—

nơi ấy dành cho những trái tim chưa từng vỡ.

 

Chúng ta gặp nhau

nơi dòng sông quên mất tên mình,

nơi im lặng đã trú ngụ trong cổ họng.

 

Bạn không mang theo hoa,

chỉ một bầu trời rạn nứt bởi cơn bão hôm qua.

Tôi không mang theo lời hứa,

chỉ một túi đầy những lời chia tay còn dang dở.

 

Và rồi—

gió bỗng dừng lại.

 

Giữa chúng ta hiện diện một điều không tên:

không hẳn là tình yêu, cũng không hẳn là đổ vỡ—

có lẽ là một đất nước mong manh

đang học cách tồn tại mà không cần chiến tranh.

 

Chúng ta bước đi—

không tiến, không lùi—

mà lách ngang qua ký ức,

như những sinh thể trốn khỏi logic của thời gian.

 

Những hàng cây lặng lẽ nhìn,

lá của chúng thì thầm:

ngay cả mục rữa cũng có nhịp điệu,

ngay cả rơi xuống cũng nhớ cách bay.

 

Bạn nói:

“Tình yêu nên dễ dàng.”

 

Tôi bật cười—

không cay nghiệt, mà như cơn mưa

trở lại một chiến trường

khi những người lính đã rời đi từ lâu.

 

Bởi tình yêu,

như chúng ta dần hiểu,

không phải là sự vắng mặt của chiến tranh—

mà là quyết định

ngồi bên đống đổ nát

và gieo trồng một điều gì đó xanh.

 

Chúng ta tranh cãi như các mùa—

mùa hè thiêu đốt lý trí,

mùa đông làm đông cứng mọi lời xin lỗi giữa không trung.

 

Dẫu vậy,

trong địa lý của sự im lặng nơi bạn,

tôi tìm thấy một nơi trú ẩn kỳ lạ,

nơi ngay cả nỗi sợ của tôi

cũng bớt cô đơn.

 

Và khi đêm buông xuống—

không nhẹ nhàng, mà như lịch sử lặp lại—

chúng ta không bỏ chạy.

 

Chúng ta ở lại.

 

Bởi đâu đó giữa

bàn tay run rẩy của bạn

và lòng can đảm chưa trọn vẹn của tôi,

thiên nhiên thì thầm:

 

không gì tồn tại mà không từng vỡ.

 

Vậy nên chúng ta vỡ ra—

không thành từng mảnh,

mà thành sự thấu hiểu.

 

Và trong khoảng lặng sau đó,

nơi những vì sao cũng mệt mỏi với việc tỏa sáng,

chúng ta nhận ra:

 

đây chưa từng là một câu chuyện tình.

 

Đó là một cuộc chiến ta từ chối chiến thắng—

bởi đánh mất nhau

mới là thất bại duy nhất.


===

Copyright: © 2026 Musharraf Hussain & Thi Lan Anh Tran. All Rights Reserved.

===

From:  

Dipl.-Kauffrau Thi-Lan Anh Tran 

Wirtschaftskanzlei@dipl-kauffrau-tran.de

READ MORE - THE WAR WE KEPT CALLING LOVE / CUỘC CHIẾN TA VẪN GỌI LÀ TÌNH YÊU - Musharraf Hussain (India) & Thi Lan Anh Tran (Germany)

TRANG THƠ NGUYỄN VĂN TRÌNH: Giấc mơ Khe Sanh / Hương tháng Ba / Ánh mắt à ơi... / Vươn lên từ bùn



Nguyễn Văn Trình

Giấc mơ Khe Sanh                  

 

Chiều rơi chậm

trên phố nhỏ Khe sanh

như một giọt mật vàng, tan vào sương núi

ta ngồi đây nghe đồi xanh khẽ thở

mà lòng mình như hóa mây bay

 

Những đồi cà phê

hoa nở trắng trong bầu trời ký ức

mỗi cánh hoa, như một lời thì thầm đã xa

trăm năm trước

ai đã từng trồng những gốc cà phê nơi này

để lại hương đời còn trong đất đỏ

 

Gió chạm nhẹ

mang theo những mùa cà phê đã cũ

thời gian không nói, mà vẫn đầy âm vang

ta nhìn xa, nơi những triền đồi khuất nắng

cứ ngỡ mình lạc giữa những giấc mơ

 

Phố chiều đã lên đèn

như những vì sao rơi xuống thấp

quán nhỏ ẩn trong sương, dịu như một bài thơ buồn

ta ngồi đó, không cần gọi tên nỗi nhớ

chỉ nghe lòng mình chậm lại, giữa Khe Sanh

 

Và ta mơ, một giấc mơ nhỏ

một Khe Sanh mai này

đẹp như Đà Lạt giữa miền tây Quảng Trị

mà vẫn giữ được nét riêng lặng lẽ

để mỗi lần trở lại, ta không nỡ rời xa...

 

                                          NVT

 

Hương tháng Ba

                  

Tháng Ba gió nhẹ gọi hương về

hoa dẻ rơi thầm xuống lối quê

một cánh mong manh vừa chạm đất

đã mang hồn lặng nẻo sơn khê

 

Hương ấy đậm sâu chẳng cần lời

thoảng bay qua những phận đời thôi

ai nghe được hết trong im lặng

mới hiểu hương kia nói chuyện đời

 

Hoa dẻ cho ta, một lẽ thường

sống như hương ấy giữa vô thường

không cần rực rỡ, mà sâu đậm

để lại cho đời chút vấn vương

 

Rồi một chiều nao ta nhớ ta

tháng Ba từng ghé trước hiên nhà

hương hoa dẻ cũ, còn đâu đó

như bóng thời gian bước đã xa

 

                                   NVT

 

Ánh mắt à ơi...

                  

Chiều buông tím cả bờ sông

đôi mắt em tựa, dòng trong lặng thầm

anh nhìn, đã thấy tri âm

như chiều đang rót âm thầm vào tim

 

Môi em khẽ chạm im lìm

run lên khoảng lặng, cánh chim cuối ngày

hồn anh giờ ấm heo may

lạc vào đáy mắt, mê say tiếng đờn

 

Chiều rơi xuống nỗi cô đơn

đôi mắt em vẫn, đẹp hơn sao trời

anh nhìn bỗng thấy chơi vơi

nghe trong ánh mắt, những lời nhớ mong

 

Hoàng hôn rơi cả mênh mông

mắt em sâu tựa, dòng sông cuối trời

một lần ánh mắt à ơi...!

mà nghe da diết, đầy trời nhớ thương

 

                                            NVT

 

Vươn lên từ bùn           

 

Từ bùn sâu lặng lẽ

mầm sen nhỏ vươn lên

âm thầm qua ngày tháng

vẫn ươm hương êm đềm

 

Rễ bám sâu đáy hồ

lá đón hạt sương đêm

giữa dòng đời lố nhố

vẫn tỏa hương dịu êm

 

Đời người như cánh sen

từ bùn vẫn sáng lên

gian nan là thử lửa

luyện tâm thêm vững bền

 

Một mai hoa sen nở

hương bay khắp trời êm

ai qua miền gió bão

mới hiểu hết bình yên

 

                        NVT

 

Hương đất quê nhà

                  

Sau mỗi cơn mưa đất tỏa hương

như lời quê cũ gọi yêu thương

từ nơi bờ bãi, xa năm tháng

vẫn dậy trong ta những nẻo đường

 

Một hạt phù sa chạm gót chân

nghe như sông cũ, chảy bần thần

hương đất bây giờ thành kỷ niệm

nhắc ta nhớ lại tuổi thần tiên

 

Đồng quê trải rộng dưới chân đê

mùi lúa non thơm khắp lối về

trong hạt đất nâu còn giấu cả

tiếng cười thơ trẻ, giữa trời quê

 

Cho dẫu ta đi khắp chốn xa

hương đất mang theo bóng quê nhà

như ngọn gió chiều trong ký ức

thổi dài suốt những, tháng năm qua

 

                                           NVT


Tác giả NGUYỄN VĂN TRÌNH

Bút danh: KATHI

Hội VHNT tỉnh Quảng Trị 

Email: nguyenvantrinh58@gmail.com

Đ/C: 65B Đường Chu Mạnh Trinh, Phường Nam Đông Hà, tỉnh Quảng Trị

 

 

 

READ MORE - TRANG THƠ NGUYỄN VĂN TRÌNH: Giấc mơ Khe Sanh / Hương tháng Ba / Ánh mắt à ơi... / Vươn lên từ bùn

YouTube: Ca khúc TÔI VIẾT VẦN THƠ - Thơ: Sông Thu - Nhạc: Nguyễn Tuấn



TÔI VIẾT VẦN THƠ...


Tôi viết vần thơ tả ước mơ 

Gặp người trong mộng thỏa mong chờ 

Mắt in đáy mắt, hồn xao xuyến 

Cảm xúc dâng tràn muôn ý thơ.


Tôi viết vần thơ tả xóm quê 

Cánh diều lộng gió những trưa hè 

Dập dờn sóng lúa như triều lượn 

Người dắt trâu về trên lối đê.


Tôi viết vần thơ tả sáng mưa

 Xiên xiên sợi trắng, gió bay lùa

Cỏ cây tươi mát bung chồi biếc 

Trù phú quê nhà một thuở xưa.


Tôi viết vần thơ tả gốc mai 

Đón chào xuân đến, nhánh vươn dài 

Hoa vàng lộng lẫy trong màu nắng 

Phơi phới xuân thì bóng dáng ai. 


Sông Thu

READ MORE - YouTube: Ca khúc TÔI VIẾT VẦN THƠ - Thơ: Sông Thu - Nhạc: Nguyễn Tuấn

WHERE VOICES MEET and SEPARATE INTERVIEW by Emmanuel Chimezie with Thi Lan Anh Tran

Published on April 12, 2026 at 9:12 AM

https://www.the-literary-traveler.com/author-interviews/




Where Voices Meet and Separate Interview 

by Emmanuel Chimezie with Thi Lan Anh Tran

 

In this conversation, Emmanuel Chimezie speaks with writer Thi Lan Anh Tran about contemporary German poetry, migration, identity, and the evolving emotional geography of Europe.

  

About the Guest

 

Thi Lan Anh Tran was born and raised in Vietnam and later pursued her studies and research in both Vietnam and Germany. She currently lives and works in Germany. She holds a Master’s degree in Economics, specializing in Accounting, Finance, Taxation, and International Economic Relations, which has shaped her analytical thinking and understanding of global economic systems.

 

She has over 20 years of professional experience in finance, accounting, and taxation. She is the co-founder and CEO of OptiY GmbH in Estenfeld, Würzburg (Germany), a software company serving the automotive industry, and also provides free software to selected German universities for academic support. In addition, she runs her own financial and tax office in Aschaffenburg, supporting primarily small Vietnamese-owned businesses. 

 

Her engagement with poetry began later in life, following a personal upheaval, and was formally sparked in 2025 during her participation in the 7th Vietnamese Poetry Gathering in Germany in Berlin. For her, poetry is not a profession but a space of reflection, healing, and inner dialogue. 

 

Question 1

 

In today’s Germany, poetry seems to be evolving from speaking about migrant communities to listening to them directly. Do you see this shift as complete, or still in transition?

 

Thi Lan Anh Tran: In today’s Germany, poetry is gradually learning to listen more than it speaks. There are powerful voices emerging from Turkish-German, Arab, African, and other migrant communities themselves—voices that carry lived realities with authenticity and emotional precision. Yet, I must admit, some spaces of poetry still interpret these experiences from the outside. The transition is ongoing: from representation about communities to expression from within them. That shift, though incomplete, is deeply hopeful.

 

Question 2

 

Cities like Berlin are often described as culturally diverse and integrated. Do you think poetry reflects true integration, or does it also reveal subtle forms of distance and separation?

 

Thi Lan Anh Tran: Cities like Berlin are paradoxical poems in themselves. Poetry there reflects both integration and distance. It captures shared streets, shared rhythms—but also the quiet separations that persist in language, memory, and belonging. I believe poetry does not resolve this tension; it reveals it honestly, and in doing so, creates the possibility of deeper understanding.

  

Question 3

 

Has German poetry moved beyond political framing when representing refugee experiences, or does politics still shape the emotional lens? 

 

Thi Lan Anh Tran: German poetry has begun to move beyond political narratives when engaging with refugee experiences. Many poets now focus on the intimate emotional landscapes—loss, displacement, resilience, and fragile hope—especially for those from Syria, Afghanistan, and Ukraine. The most meaningful poems are not declarations, but whispers of human continuity in the face of rupture.

 

Question 4

 

How do you see poetry engaging with the fading industrial identity of regions like the Ruhr area?

 

 Thi Lan Anh Tran: In regions like the Ruhr area, poetry still carries the echoes of working-class dignity, though perhaps less prominently than before. Industrial decline has reshaped identities, and poetry sometimes struggles to keep pace. Yet, there are voices reclaiming these histories—writing not only of loss, but of endurance and quiet pride. 

 

Question 5

 

Afro-German writers are gaining visibility, but are they still being treated as “emerging” voices rather than foundational ones?

 

Thi Lan Anh Tran: Afro-German voices are increasingly central to German literature, yet they are still too often labelled as “emerging.” I believe this is a limitation of perspective rather than reality. These voices are not new—they are foundational, carrying histories that deserve recognition as integral, not peripheral, to German identity.

  

Question 6

 

Do you think German poetry has fully processed the emotional aftermath of reunification? 

 

Thi Lan Anh Tran: In Eastern Germany, the poetic processing of reunification is still unfolding. The emotional layers—identity loss, economic transformation, and political tension—are complex and cannot be resolved within a single generation. Poetry continues to explore these spaces, often with a tone of introspection rather than conclusion. 

 

Question 7

 

How do second-generation immigrant writers reshape the idea of German identity through poetry? 

 

Thi Lan Anh Tran: Second-generation immigrant writers often exist in a beautiful, sometimes painful duality. Their poetry becomes a bridge—where inherited culture and German identity do not compete, but converse. This negotiation creates a unique poetic language, one that is fluid, hybrid, and deeply contemporary. 

 

Question 8

 

Has rural Germany been neglected in contemporary poetic discourse? 

 

Thi Lan Anh Tran: Rural communities in Germany are less visible in contemporary poetry, which has indeed become more urban and, at times, academically inclined. However, there remains a quiet current of poets who write from and for these spaces—capturing stillness, tradition, and a different kind of solitude that deserves more attention. 

 

Question 9

 

How does German poetry engage with religious diversity and tension? 

 

Thi Lan Anh Tran: German poetry approaches religious diversity with sensitivity, though sometimes with caution. It often reflects coexistence rather than confrontation. While tensions between Christian, Muslim, and secular identities are present in society, poetry tends to explore these through personal narratives rather than direct debate—seeking understanding rather than division.

 

Question 10

 

What still remains underrepresented in German poetry today?

  

Thi Lan Anh Tran: If poetry is a mirror, then some reflections are still faint. I believe marginalized working-class communities, certain migrant subgroups, and rural populations remain underrepresented in mainstream discourse. Poetry must continue to expand its gaze—to include not only the visible, but also those who exist in the quiet margins of society. 

 

Closing Remark

 

Thi Lan Anh Tran: This conversation reveals a German poetic sphere still in motion and also shaped by migration, memory, and shifting identities. Poetry, to me, is not a fixed answer but a continuous act of listening: to cities that both connect and separate, to histories still being processed, and to voices that remain on the margins of visibility.

  

In a world of rapid cultural change, poetry is not only a mirror—it is also a bridge, holding space for what is still becoming.


&&&

More interviews on

https://www.the-literary-traveler.com/author-interviews

READ MORE - WHERE VOICES MEET and SEPARATE INTERVIEW by Emmanuel Chimezie with Thi Lan Anh Tran

Tuesday, April 14, 2026

ĐI TÌM TÊN GỌI CHO MỘT DÒNG SÔNG - Bài viết của Khê Giang - Hình của Nguyễn Như Khoa


Bài của Khê Giang (Bs Lê Văn Huấn), Ngãi Giao, Châu Đức, Bà Rịa - Vũng Tàu.



Hình của Nguyễn Như Khoa, Hải Hòa, Hưng Nhơn, Hải Phong, Hải Lăng, Quảng Trị

Đường lên Thác Chờng,

thượng nguồn sỏngo Thác Ma



Ô Lâu - Thác Ma là một hệ dòng chảy đi qua hai tỉnh Thừa Thiên và Quảng Trị, một con sông được bồi lắng với những trầm tích lịch sử, văn hóa Việt - Chăm. Một dòng chảy thi ca, nơi lưu giữ những áng văn chương, những thiên tình sử… rào rạt chảy từ suối nguồn giai thoại cho đến bãi bờ hiện thực. Thầm lặng cần mẫn, dòng chảy đã điểm trang cho vùng đất eo thắt lưng ong này những nét duyên dáng kiêu sa, một tuyệt phẩm thiên nhiên mà không phải nơi nào cũng có được. Chỉ tiếc rằng do xác định chưa thật rõ ràng về tên gọi và ranh giới, nên trong một khoảng thời gian dài rất nhiều tác phẩm, tài liệu đã mô tả không đúng về tên gọi của con sông này.


Ô Lâu - Thác Ma là một hệ thống sông đặc biệt, nơi có dòng chảy không nằm trong quy luật chung về địa lý. Theo lẽ thường các con sông được tạo thành từ nhiều phụ lưu nhỏ hợp thành dòng chảy lớn, càng về hạ lưu lòng sông càng rộng… sau đó được đổ ra biển bằng một cửa sông hay nhiều chi lưu. Nếu tuân theo quy luật này thì chẳng khó khăn gì trong việc xác định về tính phân cấp, hệ thống dòng chảy hay tên gọi, thế nhưng đây là hệ dòng chảy vô cùng rối rắm. 



Hệ thống dòng chảy này có hai nhánh chính đó là Ô Lâu và Ô Sa (Thác Ma). Về khởi thủy nhánh phụ lưu Ô Lâu (hữu ngạn) bắt nguồn từ thượng nguồn đỉnh núi Truồi, chảy lượn quanh co giữa núi rừng Tây Thừa Thiên, chảy xuôi về Phò Trạch, rồi chuyển hướng Tây bắc, qua Phong Mỹ, Phong Thu đến thị trấn Phong Điền cắt qua quốc lộ 1A sau đó cặp theo quốc lộ đến thôn Mỹ Chánh rẽ theo hướng Đông, đến địa phận Mỹ Cang con sông uốn lượn theo hình chữ S với bờ phải là Mỹ Xuyên, Phước Tích; bờ trái là Hà Cát, Hội Kỳ sau đó luồn qua cầu Phước Tích để hợp lưu với nhánh Thác Ma.

 

Nhánh Ô Sa - Thác Ma (tả ngạn) còn gọi là Tho Lai, Thu Lai hoặc Thu Rơi…, bắt nguồn từ nhiều con thác và suối nguồn từ vùng rừng phía Tây Quảng Trị, giáp với Thừa Thiên - Huế bao gồm: thác Lạnh, thác Chuối, thác Chồn, thác Quả, thác Vụng Tròn và cuối cùng là thác Cá Voi Đái… dòng chảy xuôi về hướng Đông nam, bên bờ Bắc là các thôn Khe Mương, Trầm Sơn, Tân Điền và Cồn Tàu của xã Hải Sơn; phía bờ Nam gồm các thôn Lương Sơn, Tân Lương, Vực Kè, Xuân Lộc, Mỹ Chánh thuộc xã Hải Chánh.

 

Điều đáng nói là sau khi hợp lưu, tính “thủy chung” của dòng chảy này không được kéo dài, mới “ôm nhau” qua một đoạn ngắn, đến Câu Nhi (Hải Tân) chúng đã vội vã “chia tay”. Liệu hai nhánh rẽ này có phải là hai chi lưu của hệ Ô Lâu - Thác Ma? Về hình thái phân chia nhìn có vẻ đúng, nhưng về quy ước thì không thể vì hai phân nhánh này không đổ thẳng ra biển mà chúng có một hành trình hết sức luẩn quẩn, phức tạp về phía hạ lưu, nhất là nhánh tả (Ô Giang).

 

Nhánh hữu chảy theo hướng Đông - Bắc chảy qua Mỹ Xuyên, Trạch Phổ, Ưu Điềm, Vĩnh An... ở bờ Nam; Câu Nhi, Văn Quỹ, An Thơ, Phú Kinh… ở bờ Bắc nhập vào sông Vĩnh Định qua cầu Vân Trình hòa vào phá Tam Giang.

 

Nhánh tả xuôi ra hướng Bắc (qua Lương Điền, Hà Lộc, Trường Sanh, Diên Sanh ở bờ Tây; Câu Nhi, Hà Lỗ, Văn Trị ở bờ Đông) khi đến Cây Da ranh giới của Diên Trường (Hải Thọ), xóm Càng (Hải Hòa) chúng bị thu hẹp dòng chảy đến độ người dân ở đây chỉ gọi là kênh hoặc hói, tại ngã ba này con sông lại chảy về hai hướng: bên trái chảy về hướng Bắc đến Trung Đơn (nhập vào sông Nhùng), sau đó theo sông Vĩnh Định đến Quy Thiện ngược ra Triệu Phong. Nhánh phải lại xuôi về hướng Đông đến ngã ba hói Dét (đoạn này trước đây được gọi là kênh Mai Lĩnh), tại đây chúng gặp sông Vĩnh Định và cũng chia thành hai lối, một lối chảy về hướng Bắc nhập vào Hiền Lương, Thạch Hãn, một nhánh chảy về hướng Nam nhập vào nhánh hữu của hệ Ô Lâu - Thác Ma tại Vân Trình để xuôi theo hướng Đông đổ về phá Tam Giang.

 

Sự nhầm lẫn trong việc xác định tên và dòng chảy này còn bị tác động rất lớn bởi những người làm công tác vẽ bản đồ. Rất nhiều các bản đồ hành chính, bản đồ về địa lý sông ngòi cấp quốc gia và thế giới hiện tại đã bỏ quên nhánh chi lưu (nhánh hữu) của hệ Ô Lâu - Thác Ma (từ Câu Nhi đến Văn Trình) kể cả Google Map, bản đồ trực tuyến, bản đồ vệ tinh… cho dù đó là phiên bản mới nhất (2017), thậm chí một số bản đồ cũng bỏ quên cả nhánh phụ lưu Thác Ma đoạn từ khởi nguồn đến cầu Mỹ Chánh. Không ai hiểu được tại sao những dòng chảy quan trọng như thế lại bị đánh mất trên hệ thống bản đồ. Điều đáng buồn hơn ngoài việc bỏ quên những dòng chảy, tác giả đồ họa còn ghi bừa lên toàn bộnhánh tả của hệ Ô Lâu - Thác Ma bằng cái tên là sông Ô Lâu (bao gồm sông Ô Giang, sông đào Ngô Đình Diệm và một phần của sông Vĩnh Định).

 

Nói về khúc sông từ Cây Da đến hói Dét, nguyên thủy đây là kênh Mai Lĩnh (Ranh giới tự nhiên giữa Phước Điền và Hội Điền). Năm 1926 Tri phủ Hải Lăng cho đào sông, mở rộng trên nền con kênh có sẵn, nhằm cải tạo giao thông thủy từ các xã vùng ruộng sâu với trung tâm huyện lỵ, vừa có tác dụng tiêu nước cho cánh đồng trũng Hải Hòa - Hải Thành.

 

Tương tự đoạn từ ngã ba hói Dét xuôi về Văn Trình không thể là sông Ô Lâu được, vì đây chính là sông Vĩnh Định, một con sông trung gian nối tiếp giữa hai hệ thống sông Thạch Hãn với hệ thống Ô Lâu - Thác Ma. Điều muốn nói thêm, đây cũng là con sông rất khó xác định phụ lưu và chi lưu. Nếu căn cứ vào hướng chảy chung của hệ thống sông ngòi miền Trung con sông này có hướng chảy Tây - Bắc đến Đông - Nam thì hai cửa nối tại Cây Da (chảy ra Câu Nhi) và hói Dét (chảy ra Vân Trình) là chi lưu, nhưng nếu tính theo quy tắc về độ rộng tăng dần của dòng chảy thì hai nhánh này là phụ lưu và chi lưu chính là cửa đổ ra sông Thạch Hãn.

 

Vậy nhánh hữu của hệ Ô Lâu - Thác Ma (nhánh bị xóa tên trên hầu hết hệ thống bản đồ) là sông gì? Đây là nhánh sông được coi là ranh giới giữa Thừa Thiên và Quảng Trị trừ Câu Nhi và Hòa Viện (Câu Nhi thuộc Quảng Trị nằm ở bờ Bắc nhưng có một phần diện tích đất của làng nằm ở bờ Nam và Hòa Viện thuộc Thừa Thiên nằm ở bờ Nam nhưng lại có một nửa diện tích đất nằm ở bờ Bắc).

 

Hầu hết các tác phẩm, tài liệu về địa lý, văn học… trong thế kỷ XX đều mặc nhiên gọi khúc sông này là sông Ô Lâu: “Sông Ô Lâu bắt nguồn từ vùng núi Tây Trị Thiên ở độ cao tuyệt đối xấp xỉ 905m, có chiều dài dòng chính 66 km, diện tích lưu vực 900 km2, độ dốc trung bình lưu vực trên 13m/km (ở phạm vi đồi núi trên 19m/km). Thoạt đầu sông chảy theo hướng Tây Nam - Đông Bắc, đến Phò Trạch chuyển hướng Đông Nam - Tây Bắc cho tới Phước Tích (chỗ hội lưu với sông Thác Ma), sau đó chuyển hướng Tây Nam - Đông Bắc cho đến Vân Trình lại chuyển hướng Tây Bắc - Đông Nam và đổ vào phá Tam Giang ở cửa Lác.” (Theo “Địa chí Thừa Thiên Huế” - Phần Tự nhiên - Nhà xuất bản Khoa học xã hội -năm 2005).

 

Tuy nhiên để có cái nhìn thấu đáo hơn cho câu hỏi này chúng ta chịu khó đi ngược dòng thời gian…

 

Khi tiếp quản châu Ô của Chiêm Thành, những dòng sông ở đây đã có tên gọi theo tiếng Chăm. Ô Lâu: nhánh chảy từ Truồi về đến Phước Tích; Ô Sa (Thác Ma): nhánh chảy từ Tây Hải Chánh đến Lương Điền (đối diện ngã ba Phước Tích ở bờ Nam); Ô Giang (Rào Cái): đoạn từ ngã ba Câu Nhi đến Cây Da; Ô Khê (sông Bến Đá): khởi nguồn từ phía tây thôn Trường Xuân hợp lưu với Ô Giang tại đoạn chảy qua Văn Trị. Trong Đất Việt trời nam - Thái Văn Kiểm đã mô tả:“Con sông Ô Lâu bắt nguồn từ dãy Trường Sơn, chảy qua vùng Ô Sa, chảy qua Phước Tích đến Lương Điền thì chia làm hai: Một nhánh chảy về Vân Trình ra phá Tam Giang, còn một nhánh chảy về Câu Nhi, Trung Đơn thì mang tên là Ô Giang, có chi lưu là Ô Khê tức khe Ô vậy. Bốn địa danh Ô Lâu, Ô Sa, Ô Giang và Ô Khê là di tích âm thanh hiếm hoi còn lại của châu Ô mà Chiêm Thành đã dâng cho ta năm 1306...”. Mặc dù bài viết xác định tên gọi gần đủ của các nhánh trong hệ Ô Lâu - Thác Ma, tuy nhiên tác giả cũng không mô tả nhánh chảy về Vân Trình có tên gọi là gì?

 

Rất may có rất nhiều tài liệu cổ đã chứng minh tính không phù hợp khi viết về dòng Ô Lâu trên nhiều tài liệu hiện nay.

 

Theo Phủ biên tạp lục - Lê Quý Đôn (1774): “... Ngày 7 tháng 12, (quân chúa Nguyễn - TG) vượt Độc Giang, tiến đến các xã Lương Phúc và Diên Sanh. Diệp công Hoàng Ngũ Phúc sai Trần lĩnh hầu Nguyễn Đình Khoan đốc xuất hậu quân và Thạc vũ hầu Hoàng Phùng Cơ làm tiên phong cùng nghênh chiến rồi phá tan, chém và bắt sống vô số, thu hơn 100 ngựa, hơn 30 voi. Thủy binh của chúng đến đánh ở Độc Giang cũng bị đại bại...”.

 

Con đường Lê Quý Đôn mô tả chính là đường Quan báo (Thiên lý) hay còn gọi là đường Kinh sư, chạy từ Phú Xuân đến trạm Hành cung Mỹ Xuyên qua bến đò Hôm Lạng đến Lương Điền (Lương Phúc), Trường Sanh, Diên Sanh… Truy tìm các tài liệu cổ cùng thời ta thấy đoạn sông này đều gọi là Độc Giang hay sông Đôộc chứ không nghe nhắc đến Ô Lâu.

 

Trong Hoàng Việt nhất thống Dư địa chí - Lê Quang Định - Do Phan Đăng dịch, trang 109 đã mô tả: “… Sông Lương Phước rộng 88 tầm, bờ phía Bắc giáp với đầu địa giới dinh Quảng Trị, tục gọi là sông Đôộc nước sâu 1 tầm, sông này một nửa thuộc dinh Quảng Đức một nửa thuộc dinh Quảng Trị. Đi ngược lên 13.444 tầm thì đến sở tuần cũ nguồn Ô Lâu, xuôi xuống dưới 30.091 tầm thì chảy ra phá Tam Giang rồi đổ ra cửa Nhuyễn…”.

 

Đây là tài liệu mô tả rất rạch ròi về tên gọi: Lương Phước (mới) và Độc Giang (cũ), cũng như phân định ranh giới rõ ràng về sông và nguồn: Ô Lâu (nguồn) và Lương Phước (sông). Điều này cho chúng ta thấy sông Ô Lâu đã dừng tên ngay khi đổ vào sông Lương Phước (Độc Giang) tại ngã ba Phước Tích.

 

Cũng từ tác phẩm trên đoạn mô tả về đường Thiên lý Bắc - Nam: “Đường từ Kinh sư đến lỵ sở Quảng Trị: 26.693 tầm, 1 thước, thành ra 123 dặm rưỡi, đi hết 1 ngày rưỡi… Từ phía nam công đường của lỵ sở, theo đường trạm đến thủ sở Thu Lai đầu địa giới là sông Lương Phước hết 13.000 tầm, 1 thước”.

 

Tương tự “Hoàng Việt nhất thống Dư địa chí” đã mô tả, trong Đồng Khánh địa dư chí của Quốc sử quán triều Nguyễn cũng cho biết Ô Lâu chỉ là nguồn chứ không phải là sông:

 

“... Một dòng sông từ nguồn Ô Lâu chảy xuống qua hai ấp Hoàng Liên, Thượng Nguyên, qua ngã ba xã Văn Quỹ (thuộc đạo Quảng Trị) giáp với sông Hoàng Lai (Ô Giang - TG) đạo Quảng Trị, quanh co chảy xuống Phước Tích, Phú Xuân, qua Bào Ngược đến cửa Lạc, đổ ra phá Tam Giang, dài 59 dặm rưỡi, lại từ cửa Lạc chảy đến Thế Chí Đông, Thế Chí Tây, qua Thành Công đến cửa Quán dài 19 dặm.” (Chương Phủ Thừa Thiên, mục huyện Quảng Điền, trang 1429. Sách do Ngô Đức Thọ - Nguyễn Văn Nguyên - Philippe Papin biên khảo và hiệu đính - Nhà xuất bản Thế Giới, Hà Nội, 2003).

 

Sách Đại Nam nhất thống chí cũng mô tả rất rõ: “Vùng biển Tam Giang - xưa gọi là “biển cạn” (Hạc Hải), năm Minh Mạng thứ 2 (1821), đổi tên là phá Tam Giang. Từ bờ phía Nam đến bờ phía Bắc dài 35 dặm, từ bờ phía Đông đến bờ phía Tây rộng độ 6 dặm; từ sông Lương Điền (Lương Phước - TG) chảy xuống vũng biển, phía Tây Nam có 3 ngã sông: Cửa Tả Giang, Cửa Trung Giang, Cửa Hữu Giang. Mỗi sông đều chảy 2 - 3 dặm rồi nhập lại, cho nên gọi là vũng biển Tam Giang…”

 

Chúng ta dễ dàng nhận ra tài liệu từ thế kỷ XVIII trở về trước gọi đoạn sông này là Độc Giang (sông Đôộc) các tài liệu từ thế kỷ XIX trở đi gọi là sông Lương Điền (Lương Phước). Thực tế khi quan sát thực địa bằng đường bộ, đường thủy hay qua không ảnh ta dễ dàng nhận thấy tính hợp lý của những tài liệu cổ trên: Dòng Thác Ma là dòng chảy chính (rộng, thẳng) và nhánh Ô Lâu là nhánh phụ (hẹp và tiếp góc với dòng chính), để dễ hình dung chúng ta tưởng tượng nhánh Ô Lâu là một con đường nối với một đại lộ và theo quy định tên của con đường phải kết thúc ngay lúc giao nhau với con đường lớn, chứ không thể lấy tên mình để đặt hết lên con đường chính được! Theo phân cấp Quốc tế của Horton-Strahler về cấp độ dòng chảy chúng ta thấy nhánh Ô Lâu chỉ là phụ lưu của dòng Thác Ma - Lương Điền chứ khó có thể xếp nhánh này cùng cấp 1 với nhánh Thác Ma (Hai dòng cấp 1 hợp lưu thành dòng cấp 2).

 

Riêng lý giải tại sao các nhà viết sử xưa gọi tên dòng sông này (đoạn chảy từ Phước Tích đến Vân Trình) là sông Đôộc hay Lương Điền (Lương Phước)? Căn cứ vào cách đặt tên sông ngòi tại nước ta, ngoài việc đặt tên theo sự tích, người khai phá, dựa theo tính chất đặc điểm về dòng chảy…, đa phần người ta thường gọi tên theo những “địa danh đặc biệt” nơi chúng đi qua. Đoạn sông này đã chảy qua địa phận hai ngôi làng nổi tiếng thời bấy giờ: Làng Đôộc - Phước Tích ở bờ Nam nơi sản xuất lu, đôộc (chum, vại) ngoài cung cấp vật dụng đồ gốm cho cả triều đình, còn là nơi trao đổi buôn bán với nhiều nước trong khu vực; Lương Điền (bờ Bắc): vùng đất có độ dài lớn nhất của con sông đi qua (thời điểm đó làng Lương Điền bao gồm một hành lang rộng lớn theo bờ sông: từ Cồn Tàu, Tân Điền, Trầm Sơn… chạy dài đến Câu Nhi), là địa phương có đường quan báo đi qua, có bến đò Hôm Lạng là huyết mạch giao thông thủy, bộ giữa hai tỉnh Thừa Thiên và Quảng Trị.

 

Để xác định và đặt đúng tên trở lại cho một con sông, một dòng chảy không phải là điều dễ dàng khi mà sự nhầm lẫn kéo dài quá lâu, điều này đã phần nào vùi lấp, mai một những dấu tích và tính xác thực. Tuy nhiên để hệ dòng chảy này cũng như những tác phẩm viết về nó tiếp tục mang lại những giá trị văn hóa đẹp cho quê hương đất nước, trong hiện tại và mai sau, rất mong những nhà viết sử, địa lý sớm có những bước đi tiên phong, có động thái rà soát, hiệu đính trên những trang viết cũng như hệ thống bản đồ Quốc gia để trả các con sông trở về với đúng tên gọi của nó.

 

K.G 

Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 278 tháng 11/2017
















READ MORE - ĐI TÌM TÊN GỌI CHO MỘT DÒNG SÔNG - Bài viết của Khê Giang - Hình của Nguyễn Như Khoa