Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Tuesday, May 5, 2026

LỠ HẸN CÙNG THÁNG NĂM / VỀ LẠI CÙNG HẠ MUỘN - Thơ Đỗ Anh Tuyến

 

Tác giả Dỗ Anh Tuyến

LỠ HẸN CÙNG THÁNG NĂM

 

Tháng Năm rồi mà trời trở gió ngang

Chút rét mồ côi đậu trên nhành lá biếc

Anh đứng đợi em, lòng riêng thầm tiếc

Nắng đâu rồi? Để lạnh buốt bàn tay..

 

Cứ ngỡ mùa này phượng đã đỏ hây hây

Sen hồ kia đã bắt đầu xòe cánh mỏng

Ai biết được cái hanh hao se bóng

Lại tìm về giữa mùa hạ chói chang..

 

Áo mỏng chờ nhau, gió tạt ngỡ ngàng

Cái rét ngọt cứ len vào nấc cửa

Em có đến hay em còn lần lựa

Sợ ngoài đường sương muối đọng vai thon..

 

Anh vùi tay sâu trong túi áo sờn

Nghe hơi thở hóa thành làn khói nhẹ

Tháng Năm lạ kỳ, dịu dàng và khe khẽ

Dỗ dành anh bằng một chút heo may..

 

Dẫu có lạnh thêm, anh vẫn đứng đây

Gom hết gió mùa đông vừa lạc tới

Để lúc em sang giữa dòng người mải miết

Ủ ấm bàn tay, bù lại những hao gầy...

 

.

 

VỀ LẠI CÙNG HẠ MUỘN

 

Nắng đã chín trên đầu vạt cỏ

Gió bắt đầu ve vuốt những kẽ tay

Anh vẫn đứng nơi ngõ gầy năm cũ

Chờ một người... chẳng biết có về đây.

 

Tháng Tư giấu mình vào trang vở cũ

Bằng lăng phai tím cả những âm thầm

Phố vẫn thế, người ngược xuôi mải miết

Chỉ riêng anh ngồi đếm thời gian..

 

Bến sông vắng, mình anh và ký ức

Sóng vỗ về hay lòng dạ xôn xao

Thoảng trong gió chút hương thầm xưa cũ

Cứ ngỡ bàn tay em vừa khẽ chạm vào

 

*

 

ĐỖ ANH TUYẾN

Địa chỉ: Khu Cộng Hòa, thị trấn Thanh Nê, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình

<dovantuyenbk@yahoo.com.vn>

 

.

READ MORE - LỠ HẸN CÙNG THÁNG NĂM / VỀ LẠI CÙNG HẠ MUỘN - Thơ Đỗ Anh Tuyến

CHIỀU THIÊN HƯNG / KÝ ỨC THÁNG TƯ - Thơ Vũ Hùng



CHIỀU THIÊN HƯNG

 

Cuối tuần đến viếng chùa Thiên Hưng,

Xanh mướt khuôn viên đẹp quá chừng.

Dìu dịu hương sen thoang thoảng gió,

Tháp chuông cao vút giữa không trung

 

Cứ ngỡ lạc vào chốn cố cung,

Toà ngang dãy dọc ngói trùng trùng.

Khách du bịn rịn chiều rơi chậm,

Thanh thản cõi lòng ngân tiếng chuông!

                               VŨ HÙNG

 

KÝ ỨC THÁNG TƯ

 

Lâu lắm mới về xứ Quảng,

Phố phường lạ hoắc lạ huơ.

Bạn bè gặp nhau mấy đứa,

Tháng tư nắng mỏng canh trưa.

 

Đâu rồi lớp cũ trường xưa,

Bao nhiêu nỗi nhớ cho vừa.

Một thời loay hoay chữ nghĩa,

Cơm khoai kham khổ quá chừng?

 

Nhớ em lòng cứ rưng rưng,

Bên nhau đôi chút ngại ngần

Tóc dài ngang lưng cuối phố,

Mắt cười lúng liếng bâng khuâng.

 

Sông Trà chén rượu xin nâng,

Cạn thôi có được mấy lần.

Mai này biết còn gặp lại,

Chút tình tri ngộ thêm thân?

 

Men nồng ngây ngất lâng lâng.

Tìm đâu bánh mì Bà Tý,

Giòn thơm còn nhớ không em

Bao năm giấc ngủ vẫn thèm?

 

Giờ đây mái tóc lấm lem,

Văn chương chữ nghĩa lèm nhèm.

Áo cơm một đời nặng nợ,

Cấm Thành về lại bơ vơ?

                   VŨ HÙNG

                                hutazox@gmail.com

 

 

 

READ MORE - CHIỀU THIÊN HƯNG / KÝ ỨC THÁNG TƯ - Thơ Vũ Hùng

Monday, May 4, 2026

KIỀU BÍCH HẬU – NGƯỜI ĐÀN BÀ DỆT NẮNG QUA ĐẠI DƯƠNG


 

(Tản văn của nhà thơ – nhà giáo Trương Phương Nghi)

 

Trong khu vườn văn học đương đại, có những người cầm bút chọn cách lặng lẽ vun trồng những gốc cây đại thụ, nhưng cũng có những tâm hồn chọn trở thành cơn gió, mang hương sắc của xứ sở bay cao bay xa hơn khỏi biên giới hình chữ S. Nhà văn, nhà thơ, dịch giả, đại sứ văn hoá tiêu biểu, TS danh dự học viện Prodigy Life (Mỹ) - về văn chương và nghiên cứu văn hóa, Trưởng nhóm Nữ dịch giả Hà Nội, (Hanoi Female Translators - HFT) – Kiều Bích Hậu là như thế đó.

Trước hết chúng ta hãy lược qua một số nét và thành tích của Kiều Bích Hậu:

Chị sinh năm 1972 tại Hưng Yên, Việt Nam.

Ủy viên Hội đồng dịch văn học, Hội nhà văn Việt Nam.

Tiến sĩ danh dự - Học Viện Prodigy Life (Mỹ) về văn chương và nghiên cứu văn hóa.

Trưởng nhóm Nữ dịch giả Hà Nội, (Hanoi Female Translators - HFT)

Là nhà văn, nhà thơ, dịch giả, đại diện văn học. Hội viên Hội nhà văn Việt Nam. Là Biên tập viên tạp chí Neuma (Romania), tạp chí Humanity (Nga), Đại diện tại Việt Nam của Tạp chí Prodigy (Mỹ), Đại sứ NXB Ukiyoto Canada tại Việt Nam. Đã xuất bản 30 đầu sách riêng tại Việt Nam, Ý, Hungary, Mỹ, Romania, Slovenia, Morocco và Canada. In chung 6 đầu sách tại: Đức, Canada, Nga, Hy Lạp, Romania. Thơ và truyện ngắn được dịch 20 ngôn ngữ trên thế giới: English, Italian, Korean, Russian, Marathi, Hindi, Romanian, Hungarian, Spanish, Portuguese, Nepali, Uzbek, French, German, Turkish, Chinese, Arabic, Slovenia, Bengali, Montenegrin…

Giành 11 giải thưởng văn học trong nước và quốc tế.

- Giải thưởng tác phẩm tuổi xanh 1992

- Giải Nhì cuộc thi truyện ngắn Báo Văn nghệ 2007

- Giải Khuyến khích cuộc thi truyện ngắn Tạp chí Văn nghệ quân đội 2009

- Giải thưởng Bộ tư lệnh Hải quân năm 2013 cho bút ký và truyện ngắn về lực lượng tàu ngầm

- Giải thưởng năm 2013 của Văn nghệ quân đội cho truyện vừa “Lòng biển”

- Giải thưởng cuộc thi sáng tác về đề tài Người tốt việc tốt do báo Thanh niên tổ chức năm 2023

- Giải thưởng Đồng hành cuộc thi Tiểu thuyết năm 2023-2025 do Thời báo Văn học nghệ thuật tổ chức

- Giải thưởng đặc biệt do Ngôi nhà thơ Como (Ý) trao tặng năm 2023

- Giải thưởng Lớn do Hiệp hội nhà báo Hàn Quốc - quốc tế trao tặng năm 2023

- Giải thưởng Nghệ thuật Danube do Hội văn học nghệ thuật sông Danube (Hungary) trao tặng năm 2023

- Giải thưởng Trọn đời vì văn hóa do Hiệp hội văn hóa Ý - Rhegium Julii trao tặng năm 2025 tại Reggio Calabria…

Là đại biểu tham dự nhiều sự kiện văn học quốc tế, trong đó có:

Diễn đàn các nhà văn Asean và Trung Quốc 2019 tại Trung Quốc; Diễn đàn các nhà văn châu Á lần thứ Nhất (2019 tại Kazakhstan); Liên hoan thơ châu Âu 2020 trực tuyến lần 10 và trực tiếp 2021 lần 11 tại Como (Italia); Liên hoan mùa xuân thơ ca Romania 2023; Liên hoan thơ châu Âu 2023 lần 13 tại Como (Italia); Liên hoan thơ Mỹ lần 10 tại New York (Mỹ) 2023; Liên hoan thơ văn Raipo Malaysia 2023 tại Kuala Lumpur, Diễn đàn Phụ nữ với sự phát triển và dân chủ tại Morocco 2024, Hội nghị các nhà tư tưởng TG và gặp mặt nhà văn quốc tế vì hòa bình tại Kolkata và Assam (Ấn Độ) 2024, Liên hoan văn chương quốc tế ILMF 2024 tại Indonesia, Liên hoan thơ trong khuôn khổ Hội chợ sách quốc tế Cairo lần thứ 56 tại Ai Cập 2025, Lưu trú sáng tác dành cho văn nghệ sĩ quốc tế 2025 tại Uzbekistan, Chuyến du hành các nhà văn trẻ Asean tại Trung Quốc 2025; Dự Liên hoan thơ Việt Nam - Đài Loan các năm 2024, 2025, 2006.

Là Đại sứ cho một số tạp chí và nhà xuất bản của các nước tại Việt Nam. Kiều Bích Hậu chính là một "NGƯỜI DỆT NẮNG…" như thế - Một phụ nữ với vóc dáng nhỏ nhắn, tươi trẻ, nhưng mang trong mình nguồn năng lượng bền bỉ của một sứ giả văn hóa thực thụ.

Xem qua hành trình của chị, ta thấy một sự giao thoa tuyệt đẹp giữa cái "tâm" của người nghệ sĩ và cái "tầm"của một trí thức hội nhập. Với bề dày của một nữ sỹ, một nhà văn tài ba và tháo vát, chị từng có 5 năm làm Giám khảo văn xuôi cho Viện dịch thuật văn học Hàn Quốc, hội viên hội nhà văn Việt Nam, ủy viên hội đồng dịch văn học của hội nhà văn Việt Nam và trưởng nhóm nữ dịch giả Hà Nội. Với 30 tác phẩm được xuất bản trong và ngoài nước, có tác phẩm được dịch ra 20 ngôn ngữ, chị đã giành được 11 giải thưởng trong nước và quốc tế… Thật là vinh hạnh cho một nữ sĩ Việt Nam - một người đàn bà mang tâm thế của chú chim hải âu bền bỉ, sải cánh từ phù sa sông Hồng ra đến đại dương chữ nghĩa mênh mông của thế giới.

Sinh ra tại mảnh đất Hưng Yên văn hiến – nơi dòng máu nghệ thuật đã thấm đẫm vào từng trang viết đến mức Đài Phát thanh và Truyền hình Hưng Yên đã trân trọng thực hiện riêng một bộ phim về chị – Kiều Bích Hậu mang trong mình nét sắc sảo của người con đất nhãn, kết hợp với tầm nhìn xa rộng của một trí thức thời đại. Với chị, viết không chỉ là để giãi bày những nỗi đau nhân sinh, như cách chị thâm nhập vào thế giới của trẻ tự kỷ qua tập truyện “Trời là ta ở tột cùng nhân bản” mà viết còn là để khẳng định bản sắc dân tộc trước bạn bè quốc tế. Những giải thưởng danh giá như Giải “Trọn đời vì văn hóa” chị nhận tại Ý năm 2025, hay giải thưởng Nghệ thuật Danube chị nhận tại Hungary, và với các vị trí là Biên tập viên cho các tạp chí văn học tại Nga, Romania và đại diện một số tổ chức xuất bản toàn cầu…  Lật giở bảng vàng thành tích của chị, ta không khỏi choáng ngợp bởi 11 giải thưởng danh giá trong và ngoài nước. Từ những giải thưởng khởi đầu như: Tác phẩm tuổi xanh (1992), đến những đỉnh cao quốc tế như “Giải thưởng Nghệ thuật Danube (Hungary, 2023)”, “Giải thưởng Lớn từ Hiệp hội nhà báo Hàn Quốc (2023)” và đặc biệt là giải thưởng "Trọn đời vì văn hóa" nhận tại Ý năm 2025. Mỗi giải thưởng là một viên gạch vàng xây nên uy tín của Kiều Bích Hậu, của văn chương Việt Nam trên bản đồ thế giới.

Nhưng có lẽ, điều khiến người ta cảm phục nhất ở Kiều Bích Hậu không chỉ là những tấm bằng khen, những BIỂU TƯỢNG của các giải thưởng lớn và danh giá, mà là tinh thần "người truyền lửa". Chị không chỉ đi để nhận giải, chị đi để kết nối. Đi để quảng bá nền văn học, văn hoá Việt Nam - Minh chứng sống động nhất chính là nhiều sự kiện giữa Việt Nam và các nước trên thế giới, trong đó có sự kiện ngày 21-4-2026 vừa qua tại số 100 Yết Kiêu – trụ sở Nhà xuất bản Công an nhân dân. Trong một không gian đậm chất thơ và đầy cảm hứng, chị đã hội tụ 19 tác giả Việt Nam cùng 2 tác giả New Zealand để ra mắt tập thơ song ngữ Anh - Việt. Buổi GIAO LƯU VĂN CHƯƠNG VIỆT NAM-NEW ZEALAND và RA MẮT HỢP TUYỂN THƠ VIỆT NAM- NEW ZEALAND 2026 thành công tốt đẹp. Chủ trì sự kiện ngày 21-4 với chủ đề “Thơ ca kết nối vì Hoà bình” là Chi hội nhà văn công an và Diễn đàn Thơ Namkau. Đó là buổi giao lưu đầu tiên giữa các nhà thơ Việt Nam và New Zealand. Trong sự kiện có sự xuất hiện của TS Danh dự Christine Chen - Một tác giả người New Zealand gốc Trung Quốc, đang tích cực hoạt động trong mạng lưới thi ca đương đại thế giới. Bà đã đến Việt Nam từ năm 1995 và rất yêu mến đất nước, văn thơ và con người Việt Nam. Bà đã có tác phẩm viết về Hà Nội, về Việt Nam. Bà hứa hàng năm sẽ đến VN để quảng bá, đưa các Nhà văn nhà thơ nước ngoài đến để giao lưu Thơ văn... Buổi giao lưu văn chương đã có rất nhiều nhà văn nhà thơ lớn đến dự và kết quả vô cùng tốt đẹp.

Buổi giao lưu văn chương Việt Nam - New Zealand cũng là hoạt động mang tính quốc tế đầu tiên của Diễn đàn thơ Namkau sau 6 năm thành lập, kết nối những tâm hồn đồng điệu xuyên đại dương.

Đến nay “Hợp tuyển Thơ Việt Nam - New Zealand”  đã được dịch thêm ra Trung ngữ - Có thể gọi là TẬP THƠ TAM NGỮ (Việt-Anh-Trung).

Ngày 21-4 vừa qua không đơn thuần là một buổi giao lưu, đó là cuộc hội ngộ của những nhịp đập trái tim xuyên lục địa, nơi ngôn ngữ không còn là rào cản mà trở thành sợi dây tơ hồng nối kết tình hữu nghị.

Nhìn chị rạng rỡ giữa vòng vây của đồng nghiệp quốc tế, hay khi chị đứng trên bục vinh quang tại Ý, ta thấy một Kiều Bích Hậu luôn cháy hết mình cho sứ mệnh quảng bá văn hóa. Chị mang hình tượng "Sen mở" – tinh túy của tâm hồn Việt – sang tận Romania; chị đưa tiếng sóng Sông Hồng hòa vào dòng Danube xanh  thơ mộng và các dòng sông mênh mang khác trên đất Ý, Hàn Quốc, Mỹ, Canada, Hungary, Romania và các dòng sông trên toàn thế giới. Chị chứng minh rằng: khi ta đủ tâm và đủ tầm, văn chương sẽ là "quyền lực mềm" mạnh mẽ nhất để gắn kết nhân loại.

Kiều Bích Hậu – người phụ nữ ấy đang tiếp tục dệt nên những mảng nắng rực rỡ, đưa những giá trị nhân văn của người Việt bay cao, bay xa. Chị không chỉ là niềm tự hào của quê hương Hưng Yên, mà còn là một biểu tượng đẹp cho sức mạnh của người phụ nữ Việt Nam trong kỷ nguyên hội nhập toàn cầu. Không chỉ là sự công nhận cho riêng cá nhân chị, mà còn là những cột mốc đánh dấu vị thế của văn chương Việt Nam trên bản đồ thế giới.

Người ta thường ví dịch giả như những "người lao động trong bóng tối", nhưng với Kiều Bích Hậu, công việc ấy mang dáng dấp của một cuộc "ngoại giao văn hóa" tràn ngập ánh sáng lấp lánh mặt trời và vô cùng chủ động trong mọi lĩnh vực của cuộc sống. Chị không đợi thế giới tìm đến mình; chị cùng nhóm Nữ dịch giả Hà Nội đã chủ động mang gần 100 tác giả Việt Nam "vượt biển" để xuất hiện trên các tạp chí văn học uy tín từ châu Âu sang châu Mỹ. Đó là sự nỗ lực không mệt mỏi để thế giới hiểu rằng: tâm hồn người Việt không chỉ có chiến tranh và đau thương, mà còn đầy ắp những suy tư nhân văn và vẻ đẹp tâm hồn, vẻ đẹp tâm linh kỳ diệu.

Dù là một hội viên tiêu biểu của Hội Nhà văn Việt Nam hay là biên tập viên cho các tạp chí quốc tế như “NEUMA” (Romania), ở Kiều Bích Hậu luôn toát lên một tinh thần dấn thân mãnh liệt. Chị như một con thoi, miệt mài kết nối những nhịp cầu, để văn học không còn là những ốc đảo riêng biệt mà là một dòng chảy "hợp dòng" bao la mênh mông.

Ngắm nhìn những thành tựu của chị, ta thêm tin rằng: khi một người phụ nữ cầm bút bằng tất cả tình yêu quê hương và sự thông tuệ, họ có thể mở toang những cánh cửa tưởng chừng như khép kín nhất. Kiều Bích Hậu – người phụ nữ ấy vẫn đang tiếp tục viết, tiếp tục dịch và tiếp tục thắp lửa, để mỗi trang viết Việt Nam đều có thể cất cánh, bay cao trên bầu trời văn chương nhân loại.

Ngắm nhìn chị trong tà áo dài vàng thêu chim công rực rỡ trên sân khấu tại Ý, hay sắc áo đỏ nồng nàn giữa lòng Budapest, ta không chỉ thấy một nữ sĩ, mà thấy một "Đại sứ văn hóa" đầy kiêu hãnh. Ở chị, có sự hòa quyện lạ lùng giữa vẻ dịu dàng thầm lặng của người phụ nữ Á Đông và bản lĩnh sắc sảo của một trí tuệ tầm cỡ quốc tế. Chị không chỉ viết cho mình, mà chị viết để "mở cửa" cho cả một nền văn học.

Cái tên Kiều Bích Hậu giờ đây đã gắn liền với những nhịp cầu. Đó là nhịp cầu "Sen mở" dạt dào hương sắc Việt trong tâm hồn người Romania; là hành trình từ "Sông Hồng đến dòng Danube xanh" đầy khát vọng. Chị cầm bút không chỉ để trải lòng, mà để cầm cân nảy mực trong những hội đồng giám khảo quốc tế, để khẳng định rằng: Văn chương Việt Nam đủ sức, đủ tầm để hội nhập và tỏa sáng.

Điều khiến tôi xúc động nhất chính là sự tận hiến thầm lặng phía sau những giải thưởng "Trọn đời" hay "Nghệ thuật" cao quý ấy. Đó là những đêm miệt mài bên trang dịch thuật, là những chuyến đi không mỏi để kết nối hơn một trăm tác giả Việt Nam với bạn bè năm châu. Chị giống như một người dệt nắng, nhặt nhạnh từng tia sáng của tâm hồn Việt, đan cài chúng vào mạng lưới văn chương toàn cầu, để thế giới biết rằng chúng ta có một dân tộc yêu thơ và yêu hòa bình đến cháy bỏng.

Nhìn nụ cười rạng rỡ của chị dưới làn khăn đỏ quàng cổ, tôi thấy một sức sống thanh xuân bất chấp thời gian. Đó là sức sống của một người luôn sống trong đam mê và sáng tạo. Chị Kiều Bích Hậu đã chứng minh một điều giản dị mà phi thường: Khi trái tim ta đủ lớn, tiếng nói của ta có thể vang xa vạn dặm; và khi tâm hồn ta đủ đậm sâu, ta có thể mang cả hương sen hồ Tây đi nhuộm thắm những chân trời lạ.

Gấp lại những tư liệu về chị, ta thấy lòng mình ấm áp lạ thường.

Kiều Bích Hậu rất xứng đáng là một “Người đàn bà dệt nắng qua đại dương về văn học, văn hóa Việt Nam với thế giới”.

(Hà Nội 04-5-2026)











READ MORE - KIỀU BÍCH HẬU – NGƯỜI ĐÀN BÀ DỆT NẮNG QUA ĐẠI DƯƠNG

CÔ KIM SA - Lê Văn Trạch



 CÔ KIM SA

 

Cô Trương Thị Kim Sa sinh quán tại Huế, năm 21 tuổi, đến Trường Nguyễn Hoàng và chỉ một niên khóa, Cô trở lại quê dạy Trường Kiểu Mẫu. Hình như Cô là vị nữ giáo sư tốt nghiệp đại học sư phạm toán đầu tiên của Trường Nguyễn Hoàng, do vậy khi đáo nhận nhiệm sở, Cô được phân công phụ trách dạy toán lớp đệ nhị của tất cả các ban. Tiểu sử của Cô chỉ có thế, thoắt đến, thoắt đi, không để lại dấu ấn cụ thể nào cho Trường cũ. Theo dõi sách báo Nguyễn Hoàng xuất bản 10 năm trở lại đây, không thấy nhắc đến tên Cô. Có thể nói Cô là một giáo sư ít được biết đến và nhớ!

Cô phụ trách lớp chúng tôi mỗi tuần chỉ có một giờ, thời điểm đó lại bãi khóa liên miên, nên cộng lại cả năm học chẳng có là bao, bởi thế vài bạn "quậy" trong lớp ví von rằng môn Toán đối với Ban C chúng ta cứ như là một loại "mỹ phẩm" trang điểm cho cuộc đời học trò ... 

Vào một ngày trong tuần lễ đầu tiên của năm học 1964 - 1965, sau khi chúng tôi đã vào chỗ, từ cửa chính, một cô giáo rất trẻ, trong chiếc áo dài lửng màu tím nhạt, mang kính trắng nhẹ nhàng bước vào. Sau khi bỏ chiếc cặp trên bàn, Cô nhìn xuống, có thể để chuẩn bị cất lời chào, cùng lúc ấy, từ cuối lớp, nhiều tiếng cười nổi lên rồi lan rộng ra. Cô bình thản hỏi: Các anh chị cười xong chưa? Người nào cười giỏi nhất lên đây cười thi với Cô. Cả lớp đột nhiên im phăng phắc và từ đó không bao giờ có tình trạng như thế xảy ra nữa . Tôi chăm chú nhìn Cô, hình như sau vóc dáng mảnh khảnh trẻ trung của một cô giáo mới ra trường, đang tiềm ẩn phong thái an nhiên tự tại đầy ắp bản lãnh và sự tự tin!?

Ngày tháng sau đó là những giờ học nghiêm túc, mặc dầu thời khóa khiêm tốn, nhưng Cô có cách để chúng tôi hiểu được bài học, thông cảm và rất thương học trò, chả thế mà có lần Nguyễn Ngọc Hùng trong kỳ thi Lục cá nguyệt, thay vì làm toán, anh lại làm thơ, Cô vẫn cho điểm trung bình.

 Rời trường, lăn lộn với cuộc đời, thường xuyên đối mặt với bao điều bất trắc, ít có lúc nghĩ đến những ngày tháng trên sân trường, bạn học mỗi người một ngả, chỉ thoáng gặp nơi nào đó, không có thì giờ và điều kiện để nhắc nhở tâm sự.

Sau cuộc chiến, chính những lúc ở trong trại giam, đầu óc mới rảnh rỗi, tự do để nhớ ra và tìm lại những chuyện đã qua, khi ý tưởng dừng lại ở trường xưa, ngoài khuôn mặt của một số bạn thân tình, lạ thay, bóng dáng Cô Kim Sa lại xuất hiện, vẫn vóc dáng và phong cách ấy. Ngoài kia, mọi người đang khốn khó, lo lắng đủ điều, Cô Giáo mình sống ra sao, tự nhiên tôi nghĩ dù ở trong môi trường nào, Cô cũng có cách sống riêng, biết cách xoay sở để hòa nhập ...bỗng dưng trong tôi hình thành một tâm nguyện: Như thế nào đó để một lần được gặp Cô.

Ý nguyện này càng lớn mạnh khi ra nước ngoài: Trong những lần hội ngộ hay qua sách báo, có dịp là hỏi: Cô đang ở đâu? Trong hay ngoài nước, nhưng không có câu trả lời. Mãi cho đến năm 2009, có người mách bảo đã thấy Cô ở Houston trong Lễ Hội Quan Âm tại chùa Việt Nam và hình như Cô đang làm Phật sự tại đây, nhưng khi liên lạc được với chùa thì Cô không còn ở đây nữa!

Cuộc tìm kiếm tiếp tục, lần này tôi nhờ Quý Thầy sinh hoạt trong Hội Quốc Học Đồng Khánh và Quý Cô Giáo Nguyễn Hoàng, cuối cùng Cô Phan Thị Lan, người dạy tôi những năm Đệ Lục, Đệ Ngũ đã cho số điện thoại ...

Một ngày giữa năm 2010, vừa bấm số, tay vừa run với nhiều cảm giác xen lẫn, bởi vì biết mình sắp có phút giây đặc biệt, điểm đến của ước nguyện . Lời đầu tiên, chưa kịp chào, tôi buột miệng: "Thưa Cô, em tìm Cô bao nhiêu năm nay."  Cô ngạc nhiên, im lặng, nghe trình bày ...

Mười mấy năm dạy học, với hàng ngàn học trò ... nhưng khi nghe nhắc đến những sự kiện, những khuôn mặt ngỗ nghịch trong một lớp chỉ có ba mươi mấy học sinh, với mấy mươi giờ phụ trách làm cô xúc động !

Lần tiếp xúc đầu tiên ấy đã khai mở cho quan hệ thân tình sau này, những lúc rảnh rỗi hay đang dừng chân ở một sân bay nào đó, Cô lại gọi . Cô bảo là ít khi nói chuyện với ai lâu, nhưng với Em, lắm lúc lại sa đà vào câu chuyện và chia sẻ nhiều điều mà không phải với ai Cô cũng bày tỏ . Dần dần những băn khoăn của tôi được sáng tỏ: hình như Cô đã vạch ra cho mình những tiêu chí về cuộc sống, cân nhắc hình thành một phương trình, cứ theo đó mà đi trên căn bản nhân sinh quan, lấy đạo lý nhân bản và chủ quyền làm trọng, bởi thế khi thấy cuộc đời manh nha chuyển qua giai đoạn " chênh vênh, khập khiễng " Cô đã quyết định làm Người Mẹ độc thân và mang hai đứa con còn rất nhỏ vượt biên, đó là động thái có tính cách đánh đổi để có được sự tự do trong cuộc sống và cũng là thái độ bảo vệ nét đặc thù của mình mặc dầu Cô phải trải qua thời gian dài gặp muôn vàn khó khăn để hội nhập . Cũng từ đó, Cô chú tâm nghiên cứu và tu tập Phật Pháp, lấy giáo lý Đạo Phật để chiêm nghiệm và đối chiếu với cuộc đời của mình và ngộ ra một điều: Những oan trái gặp phải là những điều phải đến trong một kiếp người bởi đó là một chuỗi diễn tiến của Nghiệp lực và Nhân quả, phải biết nhận diện khổ đau, xuyên qua nó để có những phút giây an lạc trong giờ phút hiện tại, luôn phải tỉnh thức để có chánh niệm . Cô chia sẻ năng lượng ấy cho những người chung quanh bằng những việc làm thiết thực, dành nhiều thời gian cho công tác từ thiện hoặc tâm tình với Quý Thầy Cô giáo cũ của Cô, tuổi già đang cần tâm sự, chia sẻ . Cô kể rằng có vị Thầy rất mê đá banh, nên phải tìm hiểu qua tài liệu và bạn bè để có thể tường trình World Cup cho Thầy nghe.

Cô đang có cuộc sống thật bình dị tại thành phố biển, miền Nam nước Mỹ để chăm sóc cháu và chăm sóc Thân Tâm mình, lý giải cho cuộc tiếp xúc này, Cô nửa đùa nửa thật : Có lẽ ở một kiếp nào đó Cô - Trò ta đã quen biết, những giờ phút ngắn ngủi ở Trường Nguyễn Hoàng là tín hiệu để sau này nhận diện khi đủ duyên, tâm nguyện của Em được hình thành bởi khi Em khởi điều ấy ra với cả tấm lòng thiết tha thì cũng như đã tạo một nhân lành để hôm nay gặt quả tốt ... Tôi kiểm chứng và đối chiếu với bản thân: Điều này cũng đã xảy ra với một Cô Giáo Đệ Nhất Cấp và một phụ nữ khác - vợ người bạn tù - ngày trước là Giáo Viên, đã xin đi kinh tế mới gần trại giam và tình nguyện chăn bò để thỉnh thoảng nhìn thấy chồng hoặc tiếp tế khoai sắn cho chúng tôi . Tôi đã tìm gặp, ở một tiểu bang xa xôi miền Đông nước Mỹ.

Chưa có dịp được gặp, những lúc có điều gì vui, Cô lại gọi. Đó là thời điểm thật an lạc. Cuộc đối thoại thật tự nhiên. Chúng tôi đề cập đến nhiều vấn đề. Cô nói đó là những bổ sung nhận thức.

Trên bục giảng, Quý Thầy Cô đã trao truyền cho chúng ta kiến thức cần thiết như là hành trang vào đời, nhưng có những điều không ghi trong bài học, tùy mỗi người cảm nhận, bắt gặp và giữ lấy từ phong thái và cách ứng xử của Thầy Cô nào đó, không hẳn vị ấy là Giáo sư Cố vấn hay dạy những môn chính. Tôi trình bày điều này với vị Thầy dạy Đệ Lục với ngôn ngữ thực tế rằng: Em đã "học lóm" ở Thầy nhiều điều bổ ích khi ứng phó với những rắc rối gặp phải . Chữ nghĩa thu thập được ở nhà trường đã tiêu hóa, hòa tan trong bể tích lũy kiến thức, không thể nhận biết, nhưng bản tính và phong cách của Quý Thầy Cô đôi khi hiện ra rất rõ và có ảnh hưởng, tác động nhất định.

Xin cảm ơn Cô Kim Sa về cuộc trùng phùng với những trao đổi bổ ích. Bước chân Cô đã trải trên những “dặm dài nhân thế” đầy cay đắng và bất trắc, nhưng bằng nghị lực và niềm tin Tôn giáo, Cô đã đi qua một cách bình thản mà không phải người phụ nữ nào cũng làm được . Đó là món quà thiết thực quý báu em nhận được sau bao năm băn khoăn, thắc mắc tìm kiếm. Giờ đây, lòng em thật thanh thản .

Một lời - có thể là thừa - nhưng em xin cầu nguyện cô có được tất cả sự bình an trong những ngày cuối đời .

 

Memphis TN, tháng 7 / 2011

Học trò Lê Văn Trạch

le.trach@yahoo.com

http://trachcamlo.blogspot.com

 

READ MORE - CÔ KIM SA - Lê Văn Trạch

Sunday, May 3, 2026

CÙNG THÁNG TƯ LỊCH SỬ / GÓP LỜI BẢN HÙNG CA / VIỆT NAM ƠI - Chùm thơ Lưu Lãng Khách

 



CÙNG THÁNG TƯ LỊCH SỬ


Tháng tư lại về trong tươi thắm cuối xuân

Trong cờ đỏ tung bay khắp gầm trời tổ quốc

Anh chợt thấy mình đi giữa đoàn quân

Tiến về Sài Gòn bốn chín năm về trước

Đại thắng mùa xuân bảy lăm, anh nào đã biết gì

Mà trong tim mãi âm vang bản hùng ca đất nước

Bản hùng ca ngân nga,sống dậy bóng cha ông thuở trước

Hiển hách chiến công vang dội đến muôn đời

Cho em thơ ngủ say trong lời ru của mẹ

Cho chuyện cổ của bà được kể khắp muôn nơi

Cho hạt gạo một nắng hai sương trắng thêm bàn chân trẻ

Cho lũy tre cánh đồng mãi vọng những lời ca

Cho xóm làng anh chưa được sinh ra

Sướng chị thôn trinh vui anh thợ máy

Cả giang sơn chuyển mình lớn dậy

Bao cá chim bơi lượn khắp nước trời

Chủng tử sanh ra anh nào đã có em ơi!

Mà Đinh – Lý – Trần – Lê, anh tự hào lắm lắm

Trước Bạch Đằng Giang thấy bóng thuyền giặc đắm

Thấy tàn quân kinh tâm tán đởm chạy có cờ

Trước hào khí Lam Sơn anh lại rạng ngời

Cười bạt vía quân Minh, trỗi tự hào dân tộc

Trước Quang Trung, cuộc hành quân thần tốc

Ngọc Hồi – Đống Đa, cùng ca khúc khải hoàn

Anh lại về Tây Sơn đứng hát hân hoan

Lại nghe âm vang bản hùng ca đất nước

Này em! Hãy đến bên anh, ta cùng chung bước

Cho tháng tư lịch sử thắm ngời, cho tổ quốc trường xuân.

                               05/04/2024

                             Lưu Lãng Khách



GÓP LỜI BẢN HÙNG CA

 

Phải chăng từ trước cha Lạc mẹ Âu

Ông cha ta đã làm nên đất nước

Bằng máu- mồ hôi- nước mắt, trên cả bốn ngàn năm

Qua bao phen lỡ bồi mất được

Mới có hôm nay đời rạng ánh trăng rằm

Mới có hôm nay đẹp hình hài gấm vóc

Linh hồn dân tộc mãi được thắp lên

Rực lửa bếp Việt Nam tự hồi khai quốc

Trời đất bao la đầy hoa thơm quả ngọt

Nam Bắc điệp trùng tổ quốc nở đầy thơ

Anh như con chim nhỏ cất cao tiếng hót

Trong bầu trời thi ca đang rực rỡ sắc màu

Cho rừng biển mênh mông non sông bát ngát

Giàu đẹp rạng ngời lung linh mãi ngàn sau

Đất từ đâu ? Nước từ đâu?

Có phải đất lớn ra từ dấu chân ông cha vác gươm đi mở cõi

Mang lại nước mỗi ngày ta uống nặng ơn sâu

Không dễ gì ta có được hôm nay

Nói chi xa, chỉ chiến trường Điện Biên Phủ

Đã bao mẹ mất con bao chị mất chồng

Nhưng độc lập tự do ấm no hạnh phúc

Quyết đổi bất cứ giá nào dù máu đổ thành sông

Ôi lịch sử mấy ngàn năm dựng giữ

Biết bao chàng trai cô gái đã hy sinh

Để giống nòi dân tộc được hồi sinh

Để lãnh thổ không còn bóng giặc

Để không còn cảnh lo cơm ăn áo mặc

Vá đụp vá chằng bữa đói bữa no

Cốt huyết Lạc Hồng tô hai chữ tự do

Đã viết nên bản hùng ca bất hủ

Mãi tri ân lớp lớp người bất tử

Sông máu núi xương vì khát vọng hòa bình

Cháu con ơi! Hãy đời đời gìn giữ

Mãi uống nước nhớ nguồn – dựng xây tổ quốc quan vinh.

                   06/04/2024

                Lưu Lãng Khách


VIỆT NAM ƠI


Kìa em có thấy gì chăng

Trên cánh đồng vàng trên chiếc cầu xinh

Phố quê Nam Bắc lung linh

Việt Nam đất nước chuyển mình thoát thai

Vươn lên sau tháng năm dài

Biển rừng hát khúc tương lai rộn ràng

Đa Dâng – sông Mã – Đà Giang

Giai điệu tổ quốc âm vang bãi đồng

Sông Hồng - sông Lô - Mê Kông

Sông Lam - sông Chảy biển đông một nhà

Bốn trăm sông nặng phù sa

Mọi miền vui hát bài ca thái bình

Sơn hà một dải đẹp xinh

Như tranh sơn thủy hữu tình đắm say

Hoàng Liên Sơn tuyết đọ mây

Mênh mang Yên Tử ngất ngây Ngự Bình

Tản Viên truyền thuyết thiêng linh

Hồng Sơn dựng nước núi Hoành dung thân

Hùng quan đệ nhất Hải Vân

Ôi giai điệu núi sông ngân vạn đời

Việt Nam ơi! Tổ quốc ơi!

Miếng trầu mãi thắm vành môi mẹ hiền

Nguyện làm nốt nhạc đính trên

Bài ca tổ quốc đi lên hỡi người.


         Lưu Lãng Khách

         luulangkhach@gmail.com

 

 

 

READ MORE - CÙNG THÁNG TƯ LỊCH SỬ / GÓP LỜI BẢN HÙNG CA / VIỆT NAM ƠI - Chùm thơ Lưu Lãng Khách

Hoàng Thị Bích Hà - “TRÂU ĂN MỘT ĐỒNG MÀ CON ĐÓI CON NO” - Truyện ngắn



“TRÂU ĂN MỘT ĐỒNG MÀ CON ĐÓI CON NO”

Truyện ngắn 

Hoàng Thị Bích Hà

 

Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị - cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của Trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả.

Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.

Sáng hôm sau, ông ngoại gọi điện sang bảo:

-Con có vô Sài Gòn thì tới nhà của cậu Hải mà trọ. Nói với cậu ấy, cho cháu ở nhờ để đi học.

Như Nguyệt đáp:

- Dạ thôi ba, để con đưa cháu vô rồi tính.

Cúp máy, chị vẫn ngồi yên một lúc lâu. Thẫn thờ nhìn xa xăm, lòng bỗng đau như chạm vào quá khứ.

Nghe chị kể, tôi ngạc nhiên:

-Có sẵn nhà đó, sao không cho cháu ở, đỡ được bao nhiêu tiền trọ?

Nguyệt không trả lời ngay.

Nụ cười trên môi chị chợt tắt. Một khoảng lặng rơi xuống. Chị nhìn ra ngoài sân, nơi có cây cau thấp, thân lấm tấm những vết sẹo cũ của thời gian và bão tố. Chị nói với tôi:

- Không dễ thế đâu, nàng ơi.

Tui mừng vì con đậu đại học tốp đầu, chất lượng. Mừng! Nhưng lòng cũng đầy lo lắng. Nỗi lo cũng lớn dần theo từng bước chân con sắp đi xa. Tiền trọ, tiền ăn, tiền học..., Nhưng tui sẽ cố gắng lo cho con.

Chỉ lo những ngày con đi xa, ấm lạnh không có mẹ bên cạnh. Nhưng có lẽ để con ra với đời mới mau trưởng thành.

Những năm tháng tuổi thơ nghèo khó chợt ùa về.
 

Rồi rồi chị kể, chậm rãi như lần giở lại từng lớp ký ức đã cũ mà chưa hề nguôi.

-Ba tui… ổng đã bỏ mẹ con tui từ khi tui mới hai tuổi, anh Hai lớn nhất cũng mới mười tuổi, chị ba 5 tuổi, em trai nhỏ nhất mới ba tháng tuổi. Ông theo người đàn bà khác, Lúc ấy mẹ tui mới ba mươi tuổi, Một mình mẹ dắt bốn đứa con về quê ngoại Phong An, (cách Huế chừng hai mươi cây số) sống lay lắt bằng nghề ruộng, rẫy.

Về làng quê cũng nghèo. Mẹ cực khổ nuôi con bằng rau cháo qua ngày. Anh em tui cố gắng học, nhưng học được chừng nào hay chừng ấy, chứ không thể tới bờ tới bến. Anh Hai học hết lớp chín đành nghỉ, ở nhà làm phụ mẹ nuôi em. Chị Ba gắng gỏi lắm cũng chỉ đến lớp mười một rồi xin đi làm công nhân. Còn tui, học hết phổ thông, đành gác lại giấc mơ đại học, đi học may để mưu sinh. Đứa em út chọn con đường ngắn hơn: học trung cấp thú y rồi ra làm ở trạm xã. Còn cha tui, như một con nước khác chảy về phía đời sống của riêng mình.

Ông là một sĩ quan. Sau biến cố năm 1975, ông đi “cải tạo” hơn ba năm. Trở về, việc đầu tiên ông làm là tìm lại người tình của ổng. Rồi ông tìm mẹ tôi để nói phải trái về việc kết thúc. Cuộc ly hôn chóng vánh chưa được bao lâu cũng vừa kịp cho một hành trình khác: sang Mỹ theo diện HO cùng người đàn bà đã khiến ông rời đi năm xưa. Rồi ba tui dắt vợ mới của ổng qua Mỹ.

Ngày rời Huế để vào Sài Gòn, ông mang theo cả va li tiền. Còn vợ cũ và bốn đứa con thì ở lại, trắng tay.

Từ đó, ổng cắt liên lạc với mấy mẹ con.

Mẹ tui một mình nuôi con trong cảnh khó nghèo. Ngày xưa, ba đi lính, gia đình theo chân ổng. Có con thì khai sinh để được hưởng lương con. Mẹ chỉ việc nội trợ, chăm sóc ông bà nội và các con. Vậy mà đùng một cái, ông bỏ ngang, chia tay vợ con khi đã tìm được tình yêu mới. Từ bữa nớ, tụi tui không còn nằm trong phần đời của ba tui nữa.

Mấy mẹ con dắt díu nhau về quê ngoại, sống tiếp trong thiếu thốn và nỗi buồn phụ bạc. Mẹ tui gầy như chiếc lá khô vì buồn, nhưng vẫn ráng làm lụng nuôi con. Mẹ bảo: các con là động lực sống của mẹ.

Mười năm sau, từ Mỹ ông trở về. Không phải để bù đắp, mà chỉ để thăm cha mẹ già. Bốn anh em Nguyệt được gọi lên. Cuộc gặp gỡ ngắn ngủi, vài câu hỏi xã giao, rồi ai lại về với cuộc đời nấy.

Ổng chẳng hỏi gì đến mẹ tui. Rồi mấy năm sau, ổng về lại Huế mua đất, làm nhà. Ổng bảo: “Đi Mỹ vậy đủ rồi, nay về Huế dưỡng già.” Gia đình mới của ổng nay ở khu đô thị cao cấp An Cựu. Thằng con trai út của ổng với vợ sau là Thế Hải vừa đậu đại học năm ngoái, ổng liền bay vào Sài Gòn mua cho nó một căn nhà ngay quận Ba. Vì thế mà ổng mới bảo Thành Phong vô Sài Gòn xin ở nhờ cậu Hải.

Tui nghe mà im. Có những chuyện, nghe thôi là đủ.

Tui là con gái của ổng mà chẳng được ổng thương, nói gì đến cháu. Nên thôi! Biết rằng lúc này, sự giúp đỡ dù từ ai, nếu thật lòng cũng đều đáng quý. Biết là ở trọ thì phải tiền đóng, gạo góp mà ăn, chẳng dễ gì nhờ vả. Nhưng tui không thấy an toàn cho con.

Còn về phần tui, Như Nguyệt chậm rãi kể tiếp: tui học được, nhưng vì hoàn cảnh nên phải đi đường vòng. Sau phổ thông, tui đi làm thợ may để sống. Khi kiếm được chút đỉnh, tui mới thi vào Cao đẳng Sư phạm, thực hiện ước mơ làm cô giáo còn dang dở. Thực ra tui thích Đại học Sư phạm, khoa Sử, nhưng không dám mơ. Nghĩ rằng học cao đẳng cho nhanh, ba năm ra trường đi dạy. Rồi tui ra trường, xin được một trường huyện. Dạy được hai năm thì gặp anh Phạm Tiến, lúc đó đang làm thợ nhôm, xây dựng trường. Hai đứa quen nhau, một năm sau thì cưới.

Nhà Tiến ở Vĩ Dạ. Ba Tiến là thầy giáo về hưu. Mẹ chồng đã mất. Trong nhà còn mấy cô chị và em chồng, người làm giáo viên, người làm y tế cộng đồng. Chỉ có Tiến hoc chưa xong 12, nghỉ ngang đi học thợ nhôm. Tiến hiền, nhưng vô tâm. Đi làm xa, nửa năm mới về, khi đưa tiền, khi không. Tuy nhiên, anh ta có một ưu điểm: không gái gú, chỉ nhậu thôi. Còn mấy mụ o chị em chồng thì do dảnh lắm. Khó tính, hay kiếm chuyện. Bố chồng cho vợ chồng tui một miếng đất độ năm mươi mét vuông sau vườn, xây cái nhà để ở, nhưng không cho chủ quyền. Muốn ở thì ở, chứ mua bán cầm cố là không được.

Mẹ chị vẫn ở quê, ngày một yếu đi. Như Nguyệt đều đặn chạy xe về thăm. Năm ngoái, mẹ chị trải qua mấy cơn thập tử nhất sinh. Người cha năm xưa có đến bệnh viện một lần, trước khi bà mất đúng một ngày.

Mẹ mất, chị như mất cả bầu trời. Chị thương mẹ lắm! Nếu không có mẹ chèo chống nuôi con, bốn anh chị em bây giờ ra sao? Khi cha đã bỏ mẹ, thì đồng nghĩa với việc ổng cũng bỏ luôn con:

-Có người làm cha vẫn có trách nhiệm nuôi con, nhưng ba tui thì không (chị kể). Trong khi ba đứa con của ổng với vợ sau sống êm ấm như trên nhung lụa.

Nguyệt cười, mà ánh mắt buồn, nhìn xa xăm như ngược về miền ký ức:

Chị nhìn tôi, giọng trầm xuống:

-Nàng thấy đó, con ổng mới đậu đại học Sài Gòn, ổng tức tốc bay vô mua nhà cho ở liền. Còn tui, cũng là con ổng nhưng không có cái phước ấy.

Nhớ một câu nói của dân gian có câu: “Trâu ăn một đồng mà con đói, con no.” Nghịch lý là vậy!

Sau mấy năm, gặp lại chị kể: "Con trai đầu của tui Thành Phong học xong Đại học Bách khoa, có việc làm ổn định tại Vũng Tàu. Con gái út, Bích Nguyệt cũng rất giỏi, tốt nghiệp Đại học Ngoại thương Sài Gòn, nay làm ở quận Ba. Tui vẫn đi dạy. Chồng tui vẫn đi làm thợ ở tỉnh".

Tôi mừng cho chị, xuất thân đáng lẽ không đến nỗi côi cút, vậy mà cũng lao đao. May mà còn có mẹ!

Như Nguyệt đảm đang, chịu khó như mẹ. Và bây giờ, trời không phụ lòng người: các con đã thành công.

Hiện nay, gia đình ba Như Nguyệt vẫn ở cùng thành phố với nàng ấy, nhưng cha con ít gặp. Nói đúng hơn, có gặp thì cũng vì lý do nào đó chứ chẳng mặn mà gì.

Năm ngoái, tôi về Huế, Như Nguyệt dẫn tôi lên nhà nội (ở phía chùa Linh Mụ trên cách chừng nửa cây số). Chúng tôi thăm lại mảnh vườn xưa. Ông bà nội đã qua đời. Bên cạnh nhà nội là căn nhà của mẹ con Như Nguyệt hồi nhỏ, lúc ba chị chưa bỏ đi và mẹ chị và ba anh em chưa dạt về nhà ngoại. Nay nhà cửa xuống cấp, chỉ còn mảnh vườn với vài cây cối. Thỉnh thoảng, Như Nguyệt lên cuốc cỏ, chặt lá dong về gói bánh, khi thì chặt chuối ba lùn về dú chín cho con ăn. Chị bảo:

-Tuần trước, tui có gặp ba tui cũng lên vườn chặt buồng chuối đem về cho vợ con ổng.

Hai cha con đứng cùng một vườn.

Chào nhau mấy câu.

Rồi người này quay lưng, người kia cúi xuống chặt tiếp buồng chuối.

Như chưa từng là ruột thịt của nhau.

Sài Gòn, ngày 10 tháng 4 năm 2026

Hoàng Thị Bích Hà

 

READ MORE - Hoàng Thị Bích Hà - “TRÂU ĂN MỘT ĐỒNG MÀ CON ĐÓI CON NO” - Truyện ngắn