Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Wednesday, September 30, 2026

NĂM NGÀY XUÔI THEO SÔNG CÁNH HÒM - Phạm Xuân Dũng



Năm ngày xuôi theo 

sông Cánh Hòm

Phạm Xuân Dũng


Trong “gia đình” các dòng sông ở Quảng Trị, sông Cánh Hòm có vẻ khiêm nhường bên cạnh những chị em tên tuổi như Hiền Lương, Thạch Hãn.  Chính vì vậy, chúng tôi đã dành năm ngày đi theo dòng sông làm ký sự truyền hình để sẻ chia với khán giả. Làng Mai Xá, xã Gio Mai, là nơi hợp lưu của 3 con sông Quảng Trị: Thạch Hãn, Hiếu Giang và Cánh Hòm.

 

Sông Cánh Hòm đặc biệt, khác với những con sông còn lại ở tỉnh Quảng Trị. Sông tự nhiên thì Hiền Lương, Hiếu Giang, Thạch Hãn, Ô Lâu… riêng sông đào thì có Vĩnh Định được trang trọng khắc trên vạc đồng ở kinh thành Huế. Chỉ có Cánh Hòm một nửa trời sinh, một nửa người đào mà thành, nhưng nhân tạo lớn hơn thiên phú. Sông Cánh Hòm nằm gọn trong địa phận huyện Gio Linh, dài 11 km, nếu tính cả chi lưu độ dài phải gấp đôi, chảy qua các xã đồng bằng phía đông của huyện, tưới mát cho biết bao đồng lúa.

 


Sông Cánh Hòm chảy qua làng Rừng Sác, làng Nhĩ Thượng. Ảnh Phạm Xuân Dũng


Xưa chuyện khai sơn phá thạch, dời non lấp bể là đại sự trong thiên hạ, ít ra cũng là việc trọng của một vương triều. Dưới thời Chúa Nguyễn Phúc Tần (1651), sông này đã được khai thông ít nhiều, nhưng phải đợi đến triều vua Minh Mạng thì việc lớn mới thành. Khi ấy triều đình mở một con đường thủy từ kinh sư theo Vĩnh Định ra đến Cửa Việt theo dòng Cánh Hòm gặp sông Bến Hải, thậm chí còn ra đến tận Quảng Bình cũng theo vẫn theo con nước, để bậc đế vương tuần du, thăm thú rồi nghỉ lại Cửa Tùng - nơi người Pháp nịnh đầm có lý khi xướng danh "nữ hoàng của các bãi tắm". Đầu thế kỷ hai mươi, vua Duy Tân có lần ra Cửa Tùng, tiếng là đi chơi để che mắt Pháp nhưng kỳ thực là tìm gặp những nhân sĩ yêu nước như cụ Khóa Bảo Nguyễn Hữu Đồng ở Cam Lộ để mật bàn quốc sự khởi nghĩa chống quân xâm lược. Việc lớn bất thành, cả vua lẫn tôi đều bị giặc Pháp giam vào ngục thất. Dấu tích vua chúa ngày xưa nay đã nhạt nhòa, nhưng thú vị là vẫn còn một địa danh đọc lên nghe rất Huế vì gắn liền với quân vương, ấy là cầu Bến Ngự thuộc xã Gio Mỹ, bắc qua sông Cánh Hòm chảy suốt thời gian, chở đầy ký ức.

 


Sông Cánh Hòm chảy qua làng Bách Lộc. Ảnh: Phạm Xuân Dũng


Hôm tôi về Mai Xá Thị, nhằm ngày rằm tháng Giêng, tức Tết Nguyên Tiêu, tận mắt chứng kiến nhiều sự lạ. Dân làng chỉ cho tôi cây ngô đồng cổ thụ như trong thơ Bích Khê, có mặt từ thời vua Tự Đức. Thời chiến loạn, mảnh bom đạn giắt đầy thân cây, tưởng đâu không qua khỏi, nhưng thật không ngờ vẫn sống xanh tươi cho đến hôm nay. Vào trong đình lại thấy thờ cả danh thần Trần Đình Ân, vốn là cụ Thượng làng Hà Trung của xã Gio Châu. Hỏi ra mới biết, xưa làng Mai Xá Thị dính vào một vụ đáo tụng đình đất đai oái ăm, may nhờ đại thần Trần Đình Ân thương dân nên tạo phúc giúp cho làng này thắng kiện, tìm được lẽ phải. Sau khi cụ Trần Đình Ân qua đời, bài vị của vị đại quan từ đó được nơi đây phụng thờ hương khói.

 


Sông Cánh Hòm, đoạn chảy qua làng Xuân Long, xã Trung Hải, huyện Gio Linh. Ảnh: Phạm Xuân Dũng


Lần theo con nước qua làng Lâm Xuân xưa, là làng chiếu nổi danh, để gặp một lão nông tri điền yêu đất đai như là máu thịt đời mình. Ông Trần Xuân Thắng, tuổi ngoại bát tuần nhưng dáng vẻ vẫn vững chãi, gương mặt tinh anh. Nhà ông như một bảo tàng nhỏ nông cụ, những vật dụng thiết thân với nhà nông như miếng cơm, manh áo hằng ngày. Tôi vốn không lạ gì với những vật dụng này, nhưng nghe ông Thắng say sưa giảng giải từ cày đến bừa, từ cuốc chỉa đến cuốc bàn, từ trang đến nát… lòng không khỏi khâm phục một hiện thân nhân văn và sinh động của văn minh lúa nước sống dọc theo sông Cánh Hòm.

 

Về Nhĩ Thượng thuộc xã Gio Mỹ  khi mùa lúa đang đến. Những cánh đồng trải dài trong nắng hạ, hứa hẹn một năm bội thu của nhà nông khi ruộng tắm mát nước sông Cánh Hòm, khám phá thêm nhiều bí ẩn kỳ thú của thiên nhiên. Ông Nguyễn Thành, vốn là trưởng thôn, vui vẻ dẫn chúng tôi ra thăm giếng cổ của làng. Chiều sâu của giếng chỉ khoảng hai gang tay, mà lạ chưa, nước hàng trăm năm nay không bao giờ vơi cạn, kể cả những năm hạn hán kỷ lục. Ông Thành vừa chỉ tay giới thiệu vừa nói không giấu nổi vẻ tự hào: “Giếng sâu chỉ chừng đó thôi nhưng nắng mấy cũng không bao giờ cạn, nước ngọt mát vô cùng. Dân làng lấy nước này nấu rượu vào những dịp cúng tế trang trọng”.

 

Chúng tôi lại chèo ghe vào rừng Sác, một cánh rừng ngập mặn dọc theo sông Cánh Hòm - đoạn này dài đến 3 km, chạy dài lên đến cầu Bến Ngự mới dừng lại. Cần nói thêm rằng sau này, do làm thủy lợi vào thập niên 80 của thế kỷ trước, dòng nước đã thành dòng nước ngọt. Đây cũng là một nét độc đáo trong thay đổi địa chất thủy văn cần các nhà chuyên môn tìm hiểu. Vì cho đến nay vẫn chưa có một giải đáp khoa học về sự ra đời và phát triển của khu rừng kỳ lạ này. Chỉ biết rằng dù nước thay đổi nhưng cây cối vẫn thích nghi và xanh tốt như thường, như chẳng có chuyện gì xảy ra, thậm chí mới đây còn thu hút nhiều chim quý hiếm. Đây chính là lá phổi xanh điều hòa sinh thái cho ngôi làng Nhĩ Thượng, một báu vật trời cho từ ngàn đời nay cần được gìn giữ như chính ngôi nhà của mỗi gia đình. Anh Nguyễn Văn Mãi, người dân địa phương, vừa chèo ghe vừa nói: “Có được Sác này là quý giá nên bà con ở đây rất có ý thức giữ gìn.”

 


Dân chài làng Bách Lộc đánh bắt thủy sản trên sông Cánh Hòm. Ảnh: Phạm Xuân Dũng


Có thể khẳng định địa danh rừng Sác là độc nhất vô nhị ở Quảng Trị, vì ngay cả cù lao Bắc Phước với rừng cây ngập mặn như cây bần cũng không mang tên gọi như vậy. Cách gọi này làm ta nhớ đến ngay địa danh Rừng Sác ở hạ lưu sông Sài Gòn - Đồng Nai mà tên gọi chính thức là Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cần Giờ. Và nhân tiện, cũng cải chính sự nhầm lẫn có thể xảy ra với một vài người. Đó là thay vì gọi rừng Sác. Họ lại gọi nhầm thành rừng Sát. Hơn nữa, gọi rừng Sác nhưng lại không có loại cây nào gọi là cây Sác cả. Chuyện này cũng tạo nên những lý giải tốn nhiều giấy mực. Theo một học giả uy tín An Chi , thì sác được giảng là ”rừng nước mặn (ở gần biển)”. Tất cả đều có một nét nghĩa chung là ”rừng ngập ngụa”. Đây chính là nghĩa gốc của từ sác trong phương ngữ Nam Bộ.

 

Bên cạnh rừng ngập mặn nguyên sinh, Nhĩ Thượng còn có một rừng tràm tự nhiên với diện tích lên đến 10 ha nằm trên đồi cát cũng không xa cao điểm 31 thuộc hệ thống di tích của hàng rào điện tử Mcnamara. Rừng tràm trải rộng theo những cồn cát, địa hình cũng nhấp nhô, uốn lượn. Đi bộ vào rừng hay nhìn từ trên cao đều khiến người xem không khỏi ngạc nhiên. Đây cũng là một ân tứ của thiên nhiên. Vì ở những cồn cát, trảng cát được mệnh danh là tiểu sa mạc hay tiểu bán sa mạc trong thời tiết nắng lửa gió Lào, nếu không có những cỗ máy thiên nhiên xanh như rừng tràm thì ắt hẳn quá trình sa mạc hóa chỉ còn là chuyện thời gian. Được biết, cơ quan kiểm lâm địa phương đã bàn giao rừng tràm cho thôn quản lý. Kinh nghiệm thực tế cho thấy không ai giữ rừng nói riêng và tài nguyên khoáng sản nói chung bằng người dân bản địa.

 

Ông Nguyễn Thành đã thay mặt bà con mong mỏi như vậy. Ông còn nói thêm những lời chân tình gan ruột: “Nếu làm được du lịch để du khách về tham quan  giếng cổ, rừng Sác, rừng tràm, rồi lên cao điểm 31 và cả sông Cánh Hòm nữa thì tôi chắc chắn quê nhà sẽ đổi khác”.

 


Ngã ba sông, đoạn cuối sông Cánh Hòm đổ ra sông Hiền Lương. Ảnh: Phạm Xuân Dũng


Rong ruổi suốt mấy ngày trời, rồi cũng gặp chuyện hay sông Cánh Hòm ở làng chài Bách Lộc thuộc xã Trung Hải. Làng được hình thành vào thế kỷ 18. Theo lời kể ông Lê Viết Trinh, quá vãng đã xa lại về trong phút chốc. Thời ấy, ông tiền khai khẩn Trần  Hiếu năm Thiệu Trị thứ bảy (1847) đã tập hợp dân chài từ phá Tam Giang xứ Huế đến Bến Quan (Vĩnh Linh) quyết tạo dựng cuộc sống lâu dài. Họ nương náu theo sông Cánh Hòm, cũng rày đây mai đó, thường neo đậu đoạn eo làng Xuân Mỵ văn chương nức tiếng. Thấy vạn chài không một tấc đất cắm dùi, lênh đênh gian khó, bà con Xuân Mỵ thương tình đã nhượng lại hai mẫu đất giữa làng cho bà con ngư dân phơi lưới, lâu dần thành đất sinh cư tử táng. Tình nghĩa đồng bào đã làm nên một hiện tượng đặc biệt: làng Bách Lộc phái sinh từ làng Xuân Mỵ, hay như có người đã nói: làng mọc giữa làng. Khi tôi theo anh Trần Văn Sắt trên chiếc thuyền bủa lưới trên sông, mới biết thêm rằng bà con Bách Lộc xa xứ vào tận huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận, dù lo toan cơm áo, vẫn không nguôi nhớ về quê cũ. Họ đặt tên làng nơi đất mới là Bách Lộc. Vậy là có một núm ruột sông Cánh Hòm (Quảng Trị) an cư lạc nghiệp vùng cực nam Trung Bộ.

 


Dân làng Mai Xá Thị trước đình làng. Ảnh: Phạm Xuân Dũng


Hôm về làng Thủy Khê, xã Gio Mỹ, không còn dệt chiếu, mới hiểu thêm dâu bể của dòng sông. Ông Lê A, một bậc cao niên vừa bẻ những cọng cói còn sót lại bên sông xưa, thuyết minh về nghề trồng cói nay chỉ còn trong nỗi nhớ của những người lớn tuổi. Mắt ông sáng lên khi nhắc đến những ngày chưa xa lắm khi làng còn trồng cói. Nắng chiều chiếu rọi gương mặt, thời gian từng đường nét như điêu khắc dung mạo của một nhân chứng Cánh Hòm. Tự dưng lại nhớ mấy câu trong bài thơ "Sông Lấp" của cụ Tú Xương mà hoang mang da diết: “Sông kia rày đã nên đồng/ Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai/ Vẳng nghe tiếng ếch bên tai/ Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò..."

 

Khi đứng phía bắc cầu Bến Hải, ngắm nhìn ngã ba sông Cánh Hòm nhập vào con nước Hiền Lương, tôi chợt nhận ra rằng không chỉ nhân sinh mới cần bầu bạn mà thiên nhiên cũng luôn hướng đến sự giao lưu hòa hợp để khai thông huyệt đạo của mình. Những dòng nước dù mải miết quanh co, phiêu lưu tưởng chừng vô định rồi bằng một cách nào đó, cũng tìm đến với nhau, giang rộng vòng tay như người gặp được người…

 

 Phạm Xuân Dũng

https://vietnamnet.vn/nam-ngay-xuoi-theo-song-canh-hom-2281691.html

READ MORE - NĂM NGÀY XUÔI THEO SÔNG CÁNH HÒM - Phạm Xuân Dũng

Youtube: Ký sự sông Cánh Hòm: KÝ ỨC MỘT DÒNG SÔNG - Đài Phát thanh - Truyền hình Quảng Trị

READ MORE - Youtube: Ký sự sông Cánh Hòm: KÝ ỨC MỘT DÒNG SÔNG - Đài Phát thanh - Truyền hình Quảng Trị

ĐÔI ĐIỀU BÀN VỀ 12 CUNG VÔ CHÍNH DIỆU - Đặng Xuân Xuyến

 



ĐÔI ĐIỀU BÀN VỀ 12 CUNG

 VÔ CHÍNH DIỆU 

*

 

Bàn về cung vô chính diệu, sách TỬ VI CHÂN TRUYỀN viết: “Đối với trường hợp Mệnh vô chính diệu hoặc cung vô chính diệu nói chung đều lấy chính tinh ở cung xung chiếu làm căn bản để luận đóan cho đến khi bước vào đại vận có chính tinh thì lại lấy chính tinh của đại vận để luận đoán (không sử dụng được chính tinh ở các cung tam hợp vì không nằm trong trục đối xứng xung khắc về Ngũ hành nên tính chất không đủ mạnh). Nếu không thể lấy chính tinh cung xung chiếu thì bắt buộc phải xem mệnh nằm trong trạng thái nào của vòng Trường sinh để luận đoán sự thọ yểu của Mệnh có kéo dài được đến đại vận tiếp theo hay không và sử dụng sao đó để luận đoán về hình thức cơ bản của Mệnh. Cung vô chính diệu giống như một hố đen của vũ trụ câu hút được năng lượng từ các cung xung chiếu và tam hợp cho dù các cung đó có Tuần - Triệt hay không. Như một tổ chức chưa được định hình, một đội quân chưa có người lãnh đạo vì vậy tính chất của các phụ tinh thể hiện một cách tự do không có định hướng, khi gặp vận có chính tinh hoặc cung xung chiếu có chính tinh thì đó chính là sự định hướng sự phát triển cho cung đó.

 

Trường hợp cung vô chính diệu có Tuần - Triệt thì cũng không sử dụng được các sao xung chiếu cũng như tam hợp như khi cung Vô chính diệu không có Tuần - Triệt mà phải căn cứ vào trạng thái vượng suy của cung theo vòng Trường sinh và chỉ sử dụng các sao tại bản cung để xét đoán cho đến khi nhập vận có chính tinh.

 

Trường hợp Mệnh hoặc Cung vô chính diệu có Tuần (Triệt) và cung đối xứng có Triệt (Tuần) thì khi đại vận chưa nhập vào cung Vô chính diệu thì vẫn chỉ sử dụng các sao tại bản cung để luận cho đến khi vận nhập vào cung Vô chính diệu thì cách luận như đối với trường hợp Tuần - Triệt tháo gỡ nhau.”

 

Nhưng như thế thì khái quát quá, sẽ khó khăn cho người mới chập chững làm quen với khoa Tử Vi. Vì thế, người viết đã soạn ĐÔI ĐIỀU BÀN VỀ 12 CUNG VÔ CHÍNH DIỆU để cụ thể hơn, đơn giản hơn cho việc tự học và ứng dụng kiến thức khoa Tử Vi vào cuộc sống với người chập chững làm quen với môn khoa học “huyền diệu” này.

  

A. VÀI NÉT CHUNG CỦA CUNG VÔ CHÍNH DIỆU:

 

Thế nào gọi là cung vô chính diệu?

 

Cung Vô Chính Diệu là cung không có chính tinh tọa thủ.

 

Cung nào không có chính tinh tọa thủ thì cung đó gọi là cung Vô Chính Diệu, chẳng hạn: Mệnh Vô Chính Diệu, Bào Vô Chính Diệu, Quan Vô Chính Diệu, Điền Vô Chính Diệu...

 

Khi luận giải, thường áp dụng: Lấy chính tinh tọa thủ của cung xung chiếu làm chính tinh tọa thủ cho cung vô chính diệu nhưng dù có được chính tinh sáng sủa xung chiếu, được Tuần Triệt án ngữ thì cũng chỉ đưa đến sự tốt đẹp cho cung vô chính diệu ở mức 7 hoặc 8 phần, chứ không thể rực rỡ cả 10 phần như có chính tinh sáng sủa tọa thủ được.

 

Tuy nhiên, nếu rơi vào 3 trường hợp dưới đây thì không áp dụng theo thông lệ:

 

1. Vô Chính Diệu có hung tinh đắc địa độc thủ:

 

Trường hợp này hung tinh đắc địa phải là hành Hỏa hoặc hành Kim, hợp với hành bản Mệnh và không bị Tuần Triệt án ngữ, mới được hưởng thế đẹp của hung tinh đó đem đến.

 

2. Chỉ khi nào rơi vào hai trường hợp:

 

Được Nhật Nguyệt xung chiếu hoặc tam hợp chiếu (Nhật Mão, Nguyệt Mùi) thì mới sử dụng bộ Nhật Nguyệt làm nòng cốt, còn các trường hợp khác dù có Nhật Nguyệt chiếu cũng lấy chính tinh xung chiếu làm chính tinh tọa thủ.

 

3. Vô Chính Diệu Đắc Tam Không:

 

Chỉ khi nào vô chính diệu có Tuần hoặc Triệt thủ, được 2 trong 3 sao là Tuần, Triệt, Thiên Không chiếu thì mới là cách Vô Chính Diệu Đắc Tam Không. Với cách này mệnh Hỏa đẹp hơn Mệnh Kim, các Mệnh khác tuy không giàu có nhưng cuộc sống không đến nỗi xấu, cũng được tạm đủ hoặc kha khá. Trường hợp này, nếu có hung tinh tọa thủ dù lạc hãm cũng chỉ làm xấu một chút, không đáng lo ngại lắm về họa của sao này gây ra.

 

Những điểm cần lưu ý với cung vô chính diệu:

 

- Ngoại trừ trường hợp cung Vô Chính Diệu có hung tinh đắc địa độc thủ thì không nên có Tuần, Triệt án ngữ, còn các trường hợp khác của cung Vô Chính Diệu đều rất cần có Tuần hoặc Triệt án ngữ. Nếu không có Tuần, Triệt án ngữ thì ảnh hưởng của chính tinh xung chiếu yếu đi, và dù có nhiều sao sáng sủa hội chiếu thì sự tốt đẹp cũng chỉ ở mức độ trung bình khá. Khi cung Vô Chính Diệu có Tuần hoặc Triệt án ngữ thì ban đầu tuy có gặp khó khăn, trở ngại nhưng về sau lại thuận lợi, tốt đẹp. Tuần Triệt ở đây còn có tác dụng ngăn trở các sao xấu chiếu về cung Vô Chính Diệu, và giải cứu được trường hợp “phi yểu tắc bần” nếu Mệnh Vô Chính Diệu.

 

- Vô Chính Diệu được Tuần án ngữ tốt đẹp hơn được Triệt án ngữ. Nếu Tuần Triệt án ngữ đồng cung thì cung Vô Chính Diệu này chỉ ở mức độ trung bình, không tốt cũng không xấu. Trường hợp này không cần quá chú trọng đến các sao hội chiếu vì ảnh hưởng của các sao này không nhiều vì Tuần đã ngăn các sao tốt chiếu về, còn Triệt thì ngăn cản các hung tinh chiếu tới trong khi các sao tại bản cung thì bị cả Tuần lẫn Triệt vây trảm.

 

- Chỉ khi nào ở Tứ Mộ thì cung Vô Chính Diệu mới được hưởng những cách hay của các sao tam hợp chiếu. Còn tại các cung khác, cung Vô Chính Diệu chỉ chịu ảnh hưởng của các sao trực chiếu. Đặc biệt, tại Tứ Mộ thì Vô Chính Diệu rất cần Tuần Triệt án ngữ.

 

- Trường hợp vô chính diệu được 3 sao Tuần, Triệt, Thiên Không hợp chiếu mà không có Tuần, Triệt án ngữ thì là cách Kiến Không.

 

- Trường hợp vô chính diệu được 3 sao Tuần, Triệt và Địa Không hợp chiếu thì không tính là cách đắc tam không.

 

- “Trường hợp cung vô chính diệu có Tuần - Triệt thì cũng không sử dụng được các sao xung chiếu cũng như tam hợp như khi cung Vô chính diệu không có Tuần - Triệt mà phải căn cứ vào trạng thái vượng suy của cung theo vòng Trường sinh và chỉ sử dụng các sao tại bản cung để xét đoán cho đến khi nhập vận có chính tinh.” (theo TỬ VI CHÂN TRUYỀN)

 

- Trường hợp vô chính diệu mà không có Tuần, Triệt án ngữ, lại có sao Thiên Không thủ là cách ngộ Không, là người quyền biến khôn ngoan nhưng cuộc đời thăng trầm cực khổ. Nếu gặp thêm các sao Không khác hội chiếu thì càng xấu, cuộc đời hoặc thăng trầm cực khổ hoặc sẽ bị chết yểu. Nếu lại có hung tinh lạc hãm, khác với hành của bản Mệnh tọa thủ thì càng nguy hiểm hơn.

 

- “Trường hợp Mệnh hoặc Cung vô chính diệu có Tuần (Triệt) và cung đối xứng có Triệt (Tuần) thì khi đại vận chưa nhập vào cung Vô chính diệu thì vẫn chỉ sử dụng các sao tại bản cung để luận cho đến khi vận nhập vào cung Vô chính diệu thì cách luận như đối với trường hợp Tuần - Triệt tháo gỡ nhau.” (theo TỬ VI CHÂN TRUYỀN)

 

B. KHÁI QUÁT VỀ CÁC CUNG VÔ CHÍNH DIỆU

 

Ở phần trên, người viết đã khái quát những nét chung của  cung Vô Chính Diệu để bạn đọc lưu ý khi coi số. Ở phần này, người viết trình bày khái quát về 12 cung Vô Chính Diệu để bạn đọc khi lướt qua lá số, có thể “nhìn thấy” được “VẤN ĐỀ” nằm ở đâu trên 12 cung của lá số mà đưa ra vài lời nhận xét khái quát về cung đó.

 

Đánh giá về sự tốt xấu của các cung (vô chính diệu) thì tùy từng trường hợp mà luận giải, nhưng cơ bản cũng dựa vào cách đánh giá cung vô chính diệu như đã trình bày ở phần trên. Khi luận giải, sự gia giảm mức độ tốt xấu phải dựa trên bối cảnh Mệnh - Thân - Phúc - Hạn và các sao khác thủ chiếu tại cung vô chính diệu đó để gia giảm mức độ tốt xấu.

 

Vài nét sơ luận về 12 cung:

 

1. MỆNH:

 

Mấy lưu ý về người Mệnh Vô Chính Diệu:

 

- Lúc còn nhỏ thường vất vả, lận đận, hoặc hay đau yếu, khó nuôi. Lớn lên, giảm thiểu được bệnh tật, tai họa do nhạy bén hoặc linh cảm được được sự việc sắp xảy ra. Nếu là con trưởng thì không sống gần cha mẹ, nếu gần cha mẹ thì dễ chết non hoặc nghèo hèn.

 

- Thường là con vợ hai, vợ lẽ hoặc nàng hầu. (Điều này người viết thấy không mấy đúng nhưng vì sách Tử Vi nói vậy nên cứ liệt kê.)

 

- Cuộc sống trôi nổi, cho dù đắc cách thì cũng hoặc phú quý chỉ một thời, hoặc đáng được hưởng phú quí thì lại chết.

 

- Làm phụ tá thì bền, làm trưởng thì không bền. Vì thế nên hoạt động trong bóng tối hoặc ẩn danh đi là cách tốt nhất.

 

- Không có lập trường vững vàng, tư tưởng không ổn định (trừ một số trường hợp đặc biệt đã nêu ở phần A) nhưng dễ thích ứng với hoàn cảnh.

 

- Nữ Mệnh Vô Chính Diệu thì đỡ xấu hơn Nam Mệnh Vô Chính Diệu

 

- Mệnh Vô Chính Diệu thì cần Hỏa mệnh và Kim mệnh vì Mệnh Vô Chính Diệu như nhà không nóc, cần bản mệnh có hành khí mạnh mẽ cứng cỏi làm nồng cốt. Các mệnh khác như Thổ, Thủy, Mộc thì không tốt.

 

- Mệnh Vô Chính Diệu Đắc Tam Không thì khi đương số sinh ra, bố mẹ thường hoặc sẽ phát đạt hoặc bị khủng hoảng, tai nạn trong một thời gian. Và cuộc đời đương số bao giờ cũng có sự thay đổi bất ngờ.

 

- Mệnh Vô Chính Diệu có hung tinh độc thủ thì cần đồng hành với bản Mệnh mới là thật tốt.

 

- Mệnh Vô Chính Diệu mà không có Tuần, Triệt án ngữ, lại có sao Thiên Không thủ, gọi là cách ngộ Không, là người quyền biến khôn ngoan nhưng cuộc đời thăng trầm cực khổ. Nếu thêm các sao Không khác hội chiếu thì càng xấu, cuộc đời hoặc thăng trầm cực khổ hoặc sẽ bị chết yểu. Nếu lại có hung tinh lạc hãm, khác với hành của bản Mệnh tọa thủ thì càng nguy hiểm hơn.

 

- Mệnh Vô Chính Diệu có tam không (Thiên không, Địa không, Địa kiếp), được nhiều cát tinh hội họp, lại có các vận liên tiếp tốt đẹp thì đương số thường được sung sướng từ bé nhưng dễ bị yểu tử.

 

- Mệnh Vô Chính Diệu nếu có sao Thiên Tướng, Tướng Quân... đóng mà gặp Tuần Triệt án ngữ thì dễ đưa đến tai họa bất ngờ cho đương số.

 

- Mệnh vô chính diệu mà cung Tử cũng vô chính diệu thì cả đời không con hoặc khổ về vấn đề con cái.

  

2. QUAN LỘC

 

Quan Lộc vô chính diệu thì đương số thường không bền chí, nghề nghiệp cũng hay thay đổi, công danh thấp, bình thường, hoặc có công danh nhưng không bền. Nếu không rơi vào những trường hợp đặc biệt thì dù được các sao sáng sủa hội họp nhưng đường quan lộc cũng không hiển đạt.

 

Nếu Quan Lộc vô chính diệu, có hung tinh độc thủ thì hoạch phát công danh nhưng cũng không được bền

 

Nếu được Nhật Nguyệt sáng sủa hội chiếu thì công danh tuy chậm  nhưng cũng tạm khá, đương số thường hoạt động trên lĩnh vực chính trị hoặc kinh tế. Trường hợp này, nếu được Tuần hoặc Triệt án ngữ, sẽ làm tăng vẻ tốt đẹp của công danh; càng về sau, công danh càng tốt, tuy ban đầu có gặp trắc trở. (Cũng cần lưu ý rằng: gặp Tuần thì công danh tuy buổi đầu có trắc trở nhưng sau vẫn sáng lạn, còn gặp Triệt thì chỉ khá hơn chút chút và công danh không bền.)

 

Trường hợp có Tuần Triệt án ngữ và được nhiều sao sáng sủa hội chiếu thì công danh cũng trước bị trở ngại, sau tuy có khá nhưng sự nghiệp cũng không được bền, thường hoạnh phát hoạnh phá. Nếu Tuần Triệt án ngữ đồng cũng thì công danh chỉ ở mức bình thường cho dù có được các yếu tố khác như Mệnh Thân Phúc Hạn… tốt đẹp.

  

3. TÀI BẠCH

 

Tài Bạch vô chính diệu thì tiền tài không đều đặn, lúc có lúc không, nếu có tiền của thì cũng không tụ được lâu, tụ tán thất thường. Cho dù có được nhiều sao sáng sủa hội họp, lại lấy chính tinh xung chiếu (đắc địa) làm tọa thủ thì cũng không thể giàu có lớn được.

 

Nếu Tuần Triệt án ngữ thì đương số may mắn hơn trong việc kiến tạo tiền bạc cho mình. Trường hợp này, nếu được  nhiều sao tốt đẹp hội chiếu thì ban đầu kiếm tiền thường khó khăn, sau mới thuận lợi nhưng cũng không thể giàu có được.

 

Nếu có hung tinh đắc địa độc thủ thì sẽ hoạnh phát nhưng thường hoạnh phá, không bền, chỉ giàu có một giai đoạn.

 

Nếu được Nhật Nguyệt sáng sủa hội chiếu thì thật tốt đẹp, may mắn về tiền bạc, nhất là càng về già càng nhiều tiền của. Trường hợp này, nếu được thêm Tuần, Triệt án ngữ, đặc biệt là Tuần, thì đương số sẽ thêm nhiều may mắn, thuận lợi trong việc kiếm tiền và chắc chắn là người giàu có lớn.

 

4. THIÊN DI

 

Thiên Di vô chính diệu thì nhìn chung sẽ không thể giàu có lớn được, cho dù có nhiều sao sáng sủa hợp chiếu. Ra ngoài dễ bị chi phối (tiêu cực) bởi môi trường, ngoại cảnh.

 

Nếu được Tuần Triệt án ngữ thì cuộc sống sẽ tốt hơn nhưng lại dễ chết xa nhà.

 

Nếu Hung sát tinh độc thủ thì ra ngoài dễ kiếm tiền, thường kiếm được tiền một cách bất ngờ, nhưng lại hao hụt nhanh chóng, kiểu hoạnh phát hoạnh phá vậy.

 

Nếu được Nhật Nguyệt sáng sủa hội chiếu thì khá tốt đẹp, đương số sẽ gặp nhiều may mắn, thuận lợi khi ra ngoài. Trường hợp này, nếu được Tuần, Triệt án ngữ (nhất là Tuần) thì sự may mắn, thuận lợi tăng lên nhiều.

  

5. PHÚC ĐỨC

 

Phúc vô chính diệu thì đương số thường phải xa cách họ hàng hoặc không được sống gần người thân, ruột thịt. Nếu được chính tinh sáng sủa xung chiếu và cát tinh hội họp thì chắc chắn đương số sẽ được hưởng phúc, sống lâu và may mắn.

 

Nếu Phúc cung vô chính diệu đắc tam không tất sẽ được hưởng phúc lộc dồi dào. Tuy nhiên, chỉ những người Mệnh Kim, Mệnh Hỏa mới được hưởng hết những ưu điểm của cách này, kỳ dư các Mệnh khác, được hưởng không nhiều.

 

Nếu Hung Tinh đắc địa độc thủ thì đương số cũng được hưởng phúc lộc nhưng chỉ trong một giai đoạn mà thôi. Tại Dần Thân nếu gặp Đà La độc thủ thì thường hưởng phúc, sống lâu.

 

Nếu Phúc vô chính diệu được Nhật Nguyệt sáng sủa hợp chiếu thì rất tốt, đương số được hưởng phúc, sống lâu, được nhờ cậy họ hàng. Trường hợp này, nếu gặp Tuần Triệt án ngữ thì số mệnh của đương số càng tốt đẹp ở nhiều phương diện.

 

Phúc vô chính diệu rất cần gặp Tuần, không nên gặp Triệt. Nếu gặp Tuần thì hưởng phúc, sống lâu, gặp Triệt thì họ hàng khá giả nhưng không bền cho dù được nhiều sao tốt hội chiếu, còn bản thân dễ phải ly hương lập nghiệp, xa cách người thân.

 

 6. ĐIỀN TRẠCH

 

Điền vô chính diệu thường là người không được hưởng di sản của cha ông để lại, phải tự tay tạo lập điền sản nhưng phải sau 40 tuổi mới hy vọng có chút tài sản của riêng mình.

 

Người có cung Điền vô chính diệu thường hay thay đổi chỗ ở, điền sản, cuộc đời cũng thăng trầm bất định, khi lên khi xuống, nhà đất khó giữ, cho dù có sao giữ của như Quả Tú. (Có quan điểm cho rằng: Điền vô chính diệu là khi đương số ra đời, kinh tế của bố mẹ đang gặp cảnh khó khăn, sau đó mới giàu có dần.)

 

Nếu gặp Tuần Triệt án ngữ (hoặc Tuần, Triệt đồng cung) thì buổi đầu tuy gặp trắc trở trong việc tạo dựng điền sản, như: thường phải thay đổi chỗ ở, mua rồi lại phải bán đi, thành bại thất thường... nhưng sau dễ dàng thuận lợi. Tuy vậy, về già mới được ổn định nhưng nhà đất chỉ ở mức trung bình.

 

Nếu cung Điền vô chính diệu đắc tam không thì điền sản tuy khá nhưng cũng không bền.

 

Nếu được Nhật Nguyệt sáng sủa hội chiếu thì trước gặp trắc trở nhưng càng về sau càng thuận lợi, nhiều nhà đất, điền sản. Trường hợp này nếu được Tuần Triệt án ngữ sẽ càng tốt hơn, đương số sẽ rất giàu có và có rất nhiều nhà đất.

 

Nếu Hung sát tinh độc thủ thì tài sản tạo nên bất ngờ nhanh chóng, nhưng cũng lại suy bại khá nhanh, đặc biệt là Hỏa Linh Không Kiếp. Còn Kình Đà độc thủ thì tuy hoạnh phát hoạnh phá nhưng sau cùng vẫn được hưởng khá giả.

 

7. NÔ BỘC

 

Nô Bộc vô chính diệu thì bạn bè và người giúp việc (tôi tớ) không bền, dễ ly tán. Nếu gặp Tuần hoặc Triệt án ngữ thì tốt hơn, tôi tớ đắc lực hơn, lúc trước mướn người khó khăn nhưng sau thì dễ hơn nhưng tôi tớ cũng không được bền.

 

Nếu Nô cung vô chính diệu, được Hung sát tinh độc thủ thì tôi tớ rất đắc lực nhưng thường hay lấn át chủ. Đương số có nhiều bạn bè tài giỏi, làm ăn táo bạo, nhưng thường nằm trong giới giang hồ, xã hội đen.

 

Nếu được Nhật Nguyệt sáng sủa hội chiếu thì thật tốt đẹp: Người giúp việc đắc lực, trung thành và có nhiều bạn bè khá giả, tận tâm giúp đỡ đương số.

  

8. PHỤ MẪU

 

Phụ Mẫu vô chính diệu thì đương số thường phải ly hương lập nghiệp, không được hưởng di sản của cha mẹ; cha mẹ thọ nhưng không giúp đỡ được con cái bao nhiêu, hoặc con cái không báo hiếu được cha mẹ nhiều.

 

Nếu gặp Tuần hoặc Triệt án ngữ thì cha mẹ tuy được tốt hơn nhưng đương số dễ khắc cha hoặc khắc mẹ, hoặc đương số phải sớm xa cách cha mẹ, như xa quê vì mưu sinh hay đến làm con nuôi người khác.

 

Dù cung Phụ - Mẫu (vô chính diệu) có được nhiều cát tinh hội họp thì đương số cũng nên sớm xa gia đình, tốt nhất là xuất ngoại thì hậu vận mới mong có thể có công danh được. 

 

9. PHU THÊ

 

Phu Thê vô chính diệu thì thường chậm lập gia đình, hoặc không yêu ai mặn nồng, chóng yêu chóng chán, không có xu hướng lập gia đình mạnh mẽ và thường lập gia đình một cách bất ngờ. Nên muộn lập gia đình để tránh bị hình, chia ly.

 

Nếu gặp Tuần Triệt án ngữ thì buổi đầu tuy khó khăn, trắc trở nhưng sau được tốt hơn, tuy vậy cũng nên lập gia đình trễ, không nên lập gia đình sớm. Gặp Tuần tốt hơn gặp Triệt.

 

Người Hỏa Mệnh, nếu được Đắc Tam Không thì rất tốt, vợ chồng may mắn, hòa thuận.

 

Nếu Hung Sát tinh độc thủ thì vợ chồng tuy đều giỏi giang nhưng không hòa thuận, dễ hình khắc hoặc chia ly.

 

Nếu được Nhật Nguyệt sáng sủa hội chiếu thì vợ chồng tốt đẹp, hòa thuận.

  

10. TỬ TỨC

 

Tử Tức vô chính diệu thì thường không có con, ít con, hoặc chậm con, hoặc không nhờ cậy được con, hoặc con đầu lòng sinh ra khó nuôi. Nhưng nếu có Tuần, Triệt án ngữ thì đương số thường chậm có con hoặc sinh con ban đầu khó nuôi nhưng sau này con cái rất khá giả.

 

Nếu Hung tinh đắc địa độc thủ thì con cái khá giả nhưng khó nuôi con hoặc muộn sinh con, hoặc con cái không hợp với cha mẹ.

 

Nếu Tử Tức vô chính diệu, được Nhật Nguyệt sáng sủa hợp chiếu thì đương số sẽ thuận lợi, may mắn về đường con cái và con cái sau này khá giả, quí hiển. Trường hợp này nếu được thêm Tuần, Triệt án ngữ, nhất là Tuần, thì sự may mắn về đường con cái của đương số sẽ tăng thêm nhiều.

 

Nếu Tử Tức vô chính diệu mà Mệnh lại vô chính diệu nữa thì chắc chắn đương số cả đời vất vả về đường con cái, rất dễ rơi vào khả năng tuyệt tự, không có con.

 

11. HUYNH ĐỆ

 

Huynh Đệ vô chính diệu thì thường không được nhờ cậy anh chị em, hoặc anh chị em ly tán, không ở gần anh chị em.

 

Nếu được Tuần Triệt án ngữ thì tốt lên, nhưng anh (hoặc chị) trưởng thường chết sớm. Trường hợp này, anh chị em lúc tiền vận thường long đong nhưng về hậu vận sẽ khá giả.

 

Nếu được Nhật Nguyệt sáng sủa hội chiếu thì anh chị em thương yêu nhau, giúp đỡ nhau. Trường hợp này có thêm Tuần Triệt án ngữ thì càng tốt, anh chị em thuận hòa, quý hiển.

 

 12. TẬT ÁCH

 

Cung Tật Ách vô chính diệu thì chắc chắn đương số là người khỏe mạnh, ít bệnh tật tai họa nhưng khi tai họa đến thì khó tránh khỏi, phải gánh chịu hậu quả xấu. Nhưng nếu được Tuần Triệt án ngữ thì thật tốt, đương số sẽ ít bệnh tật, tai họa.

 

 LỜI KẾT

 

Để đơn giản và hiệu quả việc tự học, tự áp dụng kiến thức khoa Tử Vi vào luận giải lá số và ứng dụng vào cuộc sống, người viết đã cố viết thật đơn giản, thật dễ hiểu, thật ngắn gọn nhưng rõ nghĩa, đủ nghĩa những điểm cơ bản, những lưu ý cần cẩn trọng với bạn đọc về 12 cung vô chính diệu trên lá số.

 

Hy vọng, những cố gắng của người viết sẽ (ít nhiều) giúp ích cho bạn đọc trong việc tự học, tự áp dụng kiến thức khoa Tử Vi vào cuộc sống!

 

*

 

Làng Đá, Quang Vinh, Ân Thi, Hưng Yên 

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

 

(Trích từ TỬ VI VẤN ĐÁP của Đặng Xuân Xuyến ; Nhà xuất bản Thanh Hóa 2009)

READ MORE - ĐÔI ĐIỀU BÀN VỀ 12 CUNG VÔ CHÍNH DIỆU - Đặng Xuân Xuyến

NGƯỢC DÒNG - Thơ: M. A. Zaman Ahsanuzzaman, (Bangladesh) - Người dịch: Thi Lan Anh Tran, (Germany)



Tác giả: Tiến sĩ M. A. Zaman Ahsanuzzaman
(Sufi Saki Jahangir)
Sufi Saki Golrasharif Complex
Bangladesh

Người dịch: Thi Lan Anh Tran, Aschaffenburg, Germany


NGƯỢC DÒNG


Bức tranh vẽ trên canvas trái tim,
bao sắc màu đã nhòe đi tất cả,
chỉ còn đôi mắt
lặng lẽ trôi
trên khung nhìn cũ kỹ.

Hương nguyên sơ,
vị ngàn đời của cuộc sống,
nay khoác chiếc áo kỹ thuật số;
đường tinh khiết bị pha loãng,
mỡ giả tràn vào dòng đời
theo một vòng xoáy ngược.

Tình yêu chen chúc trong túi áo,
người người đua nhau trả giá;
ngôn từ, dáng điệu
nằm gọn trong lòng bàn tay,
còn khuôn mặt thật
thì giấu mình phía sau.

Đeo đôi kính trắng,
nhưng hành động lại nhuốm màu đen—
thời đại nào
đã bước đến thế này?

Con thuyền không người lái
vẫn cứ lao đi,
chẳng cần mái chèo,
cũng chẳng cần người cầm lái.

Nỗi đau đã chết
sau khi tự mình thắt nút;
trong nhục nhã và uất hận,
“Saki” vẫn sống—
thổi vang tiếng kèn,
đắm mình trong cơn mê
của chính thế gian.

Suốt đêm thức trắng,
gọi, than và khóc,
nhìn một thời thế
đang đảo ngược mọi lẽ thường:

kẻ chê bai hôm qua
nay được tung hô giữa đời,
còn những điều bất chính
lại khoác áo vinh quang.

***

From: Dipl.-Kauffrau Thi-Lan Anh Tran 

Email: <Wirtschaftskanzlei@dipl-kauffrau-tran.de>

 

READ MORE - NGƯỢC DÒNG - Thơ: M. A. Zaman Ahsanuzzaman, (Bangladesh) - Người dịch: Thi Lan Anh Tran, (Germany)

CHÙM THƠ NGUYỄN ĐỨC TÙNG: Những chọn lựa khác nhau / Bức Tượng / Ngày sẽ đến

 

Tác giả Nguyễn Đức Tùng

NHỮNG CHỌN LỰA KHÁC NHAU

 

Hồi nhỏ, bạn có những chọn lựa khác nhau

Trên xe, bạn thích ngồi sau, người khác thích ngồi trước

Mùa xuân tới, nhưng bạn chờ mùa thu, lên núi

Bạn nhảy hàng rào, không qua được, lùi lại, vòng ngả khác

Cô bé xinh đẹp đang ngồi, đứng dậy, bạn đi theo

Không biết để làm gì. Đó là chiều hè, phượng đỏ rực, bạn không tiếc

Bạn có thời gian. Cho đến khi trượt chân, té nhào

Úp mặt xuống đường, mặt dây chuyền ngọc, hình trái tim, để lại cho bạn

Từ thời ông nội, vỡ tan. Bùa hộ mệnh. Bạn đứng lên

Thất thểu về nhà, má sưng húp, lòng tay rướm máu

Không biết giải thích ra sao. Mười bốn tuổi. Mọi người ngồi

Quanh bàn chờ bạn, không ai nói gì. Bữa ăn tối. Không ai hỏi

Đến khi bạn òa khóc. Mẹ bạn đi vòng ra sau

Đặt tay lên vai, im lặng. Và bạn hết sợ hãi. Như bất kỳ

Một thứ quý giá nào trên đời

Cũng có thể được thay bằng

Một thứ quý giá khác. Quý giá hơn.

Kể cả trái tim. Bằng ngọc.

 

 

BỨC TƯỢNG

 

Anh trà trộn vào đám đông

Đứng nhìn lên bức tượng của mình

 

Bức tượng bằng đồng

Mũi thẳng, trán cao

Cặp mắt trầm tư nhìn về xa xăm

Nhốn nháo người vào ra

Khói hương hoa bay mù mịt

 

Một hôm cặp mắt bỗng chuyển động

Chăm chú nhìn anh từ trên cao

Đồng tử co vào, giãn ra

 

Anh cuống cuồng sợ hãi

Kêu la, cúi đầu, sụp lạy

 

Đám đông liền lôi anh ra ngoài

 

NGÀY SẼ ĐẾN

 

Khi ngày ấy đến, giấc mơ hiện ra

Chớp lòa trong một phút

Thời gian đập cửa

Lịch sử ùa vào

Cuối cùng sau cơn mưa

Tầm tã, mặt trời

Sáng lóa chân mây

Chiếu khắp mặt đất này, khi bọn chúng bỏ chạy

Tán loạn, vứt hết ngọc ngà vương miện

Chiến công nhảy cửa sổ trèo tường

Phá cổng mà đi, khi cuối cùng trẻ con reo hò

Người lạ ôm nhau trên đường, nước mắt

Nghẹn ngào nhỏ xuống từ trái tim, khi tình yêu

Thống trị ngày và đêm, chị sẽ đến, chậm rãi

Dịu dàng, nhưng sẽ đến

Thắp nhang trước mộ anh, đặt bức ảnh 

Viền đen trong khung kính

Dưới mặt trời mùa xuân lấp lánh, thay mặt 

Chúng ta. Người thanh niên

Bị bẻ ngoặt cổ tay, kéo ngược dây

Lên trần nhà, dập nát tinh hoàn hai năm sau ngày cưới

Người đàn ông bị đạp xuống dòng nước tối

Bẻ hết răng, bịt miệng lại

Chúng ta sẽ nhớ mãi, không phải bằng lòng hận thù

Và chia rẽ, mà bằng nỗi xấu hổ, và nguôi ngoai, và nguôi ngoai hơn nữa, về những

Người đàn bà đau khổ, đã tha thứ cho chúng ta.


Nguyễn Đức Tùng

ductungducnguyen@gmail.com

 

 

 

READ MORE - CHÙM THƠ NGUYỄN ĐỨC TÙNG: Những chọn lựa khác nhau / Bức Tượng / Ngày sẽ đến

NGƯỜI QUÊ – Thơ Lê Kim Thượng


 

Người  Quê
 
1.
Quê nhà xa khuất sơn khê
Ai đi xa cũng mong về với quê…
Cỏ xanh ken lối đi về
Đình làng xưa cũ, đôi Nghê đứng chầu
Sông dài nước chảy về đâu
Sóng xô một khúc nhạc sầu miên man
Trời xanh mây trắng lúa vàng
Cánh đồng no gió mênh mang nắng hồng
Cha còn vất vả trên đồng
Mẹ còn lặn lội long đong tháng ngày
Đường về gánh lúa chiều nay
Áo em thôn nữ gió bay nhẹ nhàng…
Rượu quê uống cạn lại tràn
Người quê say giữa thênh thang đất trời
Thật thà, chân chất người ơi
Hiền hòa, giản dị một đời bình an…
 
2.
Mấy mùa gió chướng, mưa đan
Nhớ hình bóng Mẹ, hai hàng lệ rơi
Tôi đi chưa trọn kiếp người
Nợ Người chữ Hiếu, nợ đời chưa xong
Vọng Phu đá núi trông chồng
Lưng còng như dáng Mẹ trông con về…
Tôi người viễn xứ xa quê
Nhớ quê nỗi nhớ bộn bề rứt ray
Nhớ quê còn một chút này
Rưng rưng, nghèn nghẹn, đong đầy nhớ mong
Nhớ mùa nước lũ mênh mông
Dòng sông chảy nặng, đỏ hồng phù sa…
Đi tìm hạnh phúc quanh ta
Hừng đông nắng nhẹ, chiều tà nắng khan
Cuộc đời bao nỗi gian nan
Sống sao trọn vẹn, chứa chan nghĩa tình…
    
                    Nha Trang, tháng  09. 2026
                           LÊ KIM THƯỢNG

READ MORE - NGƯỜI QUÊ – Thơ Lê Kim Thượng