Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Saturday, September 19, 2026

SÔNG VĨNH ĐỊNH: HỒN ĐẤT, TÌNH NGƯỜI VÀ KÝ ỨC QUẢNG TRỊ - Trương Thúy Hậu


Sông Vĩnh Định: 

Hồn Đất, Tình Người Và Ký Ức Quảng Trị

Trương Thúy Hậu

  


  

Sông Vĩnh Định (永定河) là một phụ lưu của sông Thạch Hãn, chảy theo hướng Đông Nam, từ làng Cổ Thành đến làng Xuân Viên, dài khoảng 20 km, rồi nhập vào sông Ô Lâu, đổ ra phá Tam Giang.

      Tài liệu lịch sử để lại không thấy ghi tên sông mãi cho đến năm 1825, vua Minh Mạng cho đào 7,5 km thẳng từ làng Câu Kênh cho đến làng Trung Đan và đặt tên là Vĩnh Định. Từ đó, dòng sông thiên nhiên này được mang tên là sông Vĩnh Định.

       Về địa lý, sông Vĩnh Định từ ngã ba làng Cổ Thành chảy qua 2.2 km đến Ba Bến,  sông chẻ giòng làm 2 :

     – Nhánh phụ dài khoảng 15 km từ Ba Bến chảy theo hướng tây bắc qua các xã thuộc huyện Triệu Phong: Triệu Thành,Triệu Hòa, Triệu Đại, Triệu Độ, nhập cùng sông Thạch Hãn (và sông Hiếu) đổ ra Cửa Việt .

     – Nhánh chính (xem không ảnh) chảy theo hướng đông nam. Từ Ba Bến sông chảy khoảng 2.3km thì gặp sông Nhùng từ phía Tây huyện Đa Krông đổ xuống tại làng Văn Vận( xã Hải Quy), chảy qua các làng Trà Trì, Phú Xuân, Trà Lộc, Duân Kinh, La Duy(xã Hải Xuân),Ngô Xá Đông, Xuân Dương, Tam Hữu (xã Triệu Trung), Phương Lang, Ba Du, Cổ Lũy, Đa Nghi(xã Hải Ba) đến Hội Yên(xã Hải Quế),qua các làng mạc giữa 2 huyện Triệu Phong và Hải Lăng (cập nhật bổ túc).

     Tại ngã 3 Hội Yên, sông Vĩnh Định lại chia 2 nhánh :

     – Nhánh mạn Đông là chính, chảy song song quốc lộ 49C và bờ biển, cách bờ  khoảng hơn 6km, đoạn sông này dài khoảng 6km từ làng Hội Yên chảy qua các làng Đơn Quế, Kim Long (xã Hải Quế) và Kim Giao, Diên Khánh, An Nhơn, Đông Dương, Xuân Viên (xã Hải Dương), đổ ra sông Ô Lâu, đi thuyền thêm khoảng 13km thì đến phá Tam Giang .

      – Nhánh mạn Tây dài khoảng 5 km chảy qua làng Trung Đơn, Kim Sanh, Phước Điền (xã Hải Thành)rồi cũng đổ ra sông Ô Lâu. Cũng tại hói Dét làng Trung Đơn, một nhánh nhỏ nối sông Ô Giang, phụ lưu sông Ô Lâu, chảy dọc theo ra tới xóm Càng. Cửa 2 nhánh sông mạn Tây này ở sông Ô Lâu cách nhau 3,2 km, ôm trọn ranh giới phía Nam xã Hải Thành.

          Sông Vĩnh Định là sông thiên nhiên từ bao đời, nhưng do bị bồi đắp hằng năm, nên qua lịch sử có ghi lại như sau:

     – Tháng 5 năm 1681, chúa Nguyễn Phúc Tần cho đào kênh Trung Đan, chúa đích thân ra xem.

     – Năm 1693, dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chu, lại cho đào kênh Trung Đan.

    – Năm 1819, vua Gia Long cho khảo sát đào sông Vĩnh Định; năm sau, vua băng hà (1820), phải đến 5 năm sau, vua Minh Mạng mới kịp cho đào.

           Tháng 3 năm 1825, vua Minh Mạng cho đào đoạn sông mới thẳng tắp 7.5 km (như con số 1) từ Câu Kênh (Duân Kênh) đến Trung Đan (hói Dét,Trung Đơn), qua các làng Lam Thủy, Thi Ông, Cu Hoan, Hội Yên. Chiều dài đoạn sông này là: Câu Kênh-Hội Yên 5.5km, và Hội Yên -Trung Đan 2km, nối sông Ô Giang (17 năm sau khi đào xong, năm 1842 vua Thiệu Trị tuần du ra Bắc, vào địa phận tỉnh Quảng Trị theo đoạn sông này, trạm đầu ghé lại nghỉ tại làng Trung Đan, và có bài thơ Trung Đan tọa lạc ngọ đình, bài thơ được khắc in trong Ngự chế Bắc tuần thi tập. Cùng theo vua Thiệu Trị, trong chuyến Bắc tuần này có quý phi Từ Dũ, mà con trai trưởng là  vua Tự Đức sau này tôn lên làm Hoàng thái hậu (1849).

           Lý do nhà Vua cho đào đoạn sông mới là vì, dòng sông cũ từ ngã ba làng Câu Kênh, La Duy, Ngô Xá Đông quật góc gần 90°, dòng sông khúc khuỷu (như con số 3) dài khoảng 5.5 km chảy qua các làng La Duy, Xuân Dương, Tam Hữu, Phương Lang, Ba Du, Cổ Lũy, Đa Nghi, Hội Yên bị bồi đắp, nước khó thoát, gây lũ lụt trầm trọng. Sau năm 1825, khi đã đào xong sông mới, thì đoạn sông cũ chảy qua các làng này được gọi là (xem không ảnh) Sông Vĩnh Định cũ hay Cựu Hà Vĩnh Định.

          Nguyên chú văn bia Ngự chế Quá Vĩnh Định hà đề dựng tại Cồn Đống, bên bờ sông Vĩnh Định viết:… 前後 三月零十八日始成命為永定河 …tiền hậu tam nguyệt linh thập bát nhật thủy thành, mệnh vi Vĩnh Định hà… Đào 3 tháng 18 ngày thì xong, bèn đặt tên là sông Vĩnh Định.

          Việc đào sông Vĩnh Định, Đại Nam Thống Nhất Chí ghi :

     …"Năm Ất Dậu Minh Mệnh thứ 6 (1825), sai Thống chế Phan Văn Thúy đốc dân phu khai đào từ xã Câu Kênh đến xã Trung Đan dài 1.720 trượng (một trượng bằng 4,7 m), ba tháng thì xong, bèn cho tên hiện nay. Năm thứ 17, xa giá đi tuần Quảng Trị, thuyền ngự đi qua sông này, có thơ ngự chế khắc vào đá và dựng nhà bia ở bờ phía nam sông; cùng năm ấy đúc Cửu Đỉnh, khắc hình sông vào Thuần Đỉnh. Năm Thiệu Trị thứ 2 (1844), xa giá Bắc tuần, có thơ ngự chế khắc vào bia dựng ở bờ sông”.

        Công tác đào sông do Phan Văn Thúy (1758-1833), người làng Đạo Đầu, một trong 13 danh tướng triều Nguyễn, đốc công chỉ huy và Nguyễn Hữu Thận (1757-1831),Thượng thư Bộ Hộ, người làng Đại Hòa, phủ Triệu Phong, phụ trách cung cấp tiền bạc, lương thực, thuốc men.

        Các Châu Bản Triều Nguyễn còn lưu trữ được các bản tấu về việc thi công như sau:

     – Phan Văn Thúy cùng các quan bản địa xem xét, điều tra địa thế,  đào thử vài đoạn khảo sát đất cát tầng đáy,  cắm tiêu ghi chú…chiều ngang 6 trượng, chiều sâu gần 1 trượng tùy chỗ, đốc công 2.000 dân phu Huế và 1.700 dân phu Quảng Trị, đào sông.

     – Nguyễn Hữu Thận, cấp tiền, gạo hàng tháng ngay tại công trường. Ngoài ra, Vua còn chỉ dụ việc cấp phát thuốc men, cử toán lương y chăm sóc dân phu tại chỗ.(hình phải) theo chỉ dụ của vua Minh Mệnh .

       Văn bia Ngự chế Quá Vĩnh Định hà đề, có ghi liệt kê tổng kinh phí đào sông:

      – Tiền: hơn 6 vạn 4 nghìn 6 trăm quan .

     – Thóc: hơn 2 vạn 9 nghìn 4 trăm phương.

       Cũng nên thêm là năm Ất Dậu 1825, vùng đất Quảng Trị, Thừa Thiên gặp thiên tai, nắng hạn, mất mùa, đói kém, dân không có việc làm nên việc đốc công đào sông gặp thuận lợi. Công dân phu được trả bằng thóc và tiền tại chỗ hàng tháng. Đất mặt bằng trưng dụng đào sông, nhà cửa, mồ mả nếu có, di dời được bồi thường thỏa đáng, dụng cụ cuốc xẻng xuất tiền công mua sắm, không đụng đến của dân. Nhà Vua viết: Từ vất vả khó nhọc một lần, để hưởng lợi muôn đời(Khởi đạn nhất thời lao, vụ kì vạn thế lợi).

     Tại xóm Cồn Đống, làng Cu Hoan hiện còn hai tấm bia cao 2m, rộng 1m tạc ghi :

     – Ngự chế Quá Vĩnh Định hà đề (御製過永定河題) của vua Minh Mệnh năm thứ 17 (1836) lược thuật quá trình đào sông và thơ của vua ca ngợi cảnh đẹp của sông (hình phải).

     – Quá Vĩnh Định hà cảm tác (過永定河感作) là thơ cảm tác của vua Thiệu Trị, năm thứ 2 (1842), khi tuần du qua sông.

        Đầu đời 2 triều Nguyễn (1802-1841), sau khi vua Gia Long thống nhất sơn hà, nước ta vốn thái bình thịnh trị, nhất là dưới triều vua Minh Mạng (1820- 1841),quân sự hùng manh, kinh tế phát triển, xã hội ổn đinh…Về mặt văn hóa mỹ thuật, năm 1835 nhà Vua cho đúc Cửu đỉnh, là 9 cái đỉnh bằng đồng, đặt ở trước sân Thế miếu trong Hoàng thành Huế, trong đó Thuần đỉnh  đúc nổi hình 2 con sông Thạch Hãn và Vĩnh Định (hình phải).

           Danh xưng đơn vị hành chính Quảng Trị thời gian này là doanh Quảng Trị, năm 1827 đổi thành Trấn, năm 1832 đổi thành Tỉnh và lập bản doanh tại làng Thạch Hãn. Tương truyền, trong thời gian này, vị thế ngã ba sông Vĩnh Định là La Duy-Duân Kênh-Ngô Xá Đông cũng là địa điểm tỉnh lỵ thứ nhì nằm trong dự tính của vua Minh Mạng.

          Sau khi đào sông xong (1825), thỉnh thoảng tiếp tục công tác nạo vét sông vẫn được tiếp tục thực hiện, Châu bản triều Nguyễn ghi chép :

     – Niên hiệu Thiệu Trị năm thứ 3 (1844), vua cho khai vét một vài đoạn trên sông.

     – 42 năm sau, năm 1867, vua Tự Đức thuận theo tờ tấu của Bộ Công, cho nạo vét lại dòng sông.

     – Niên hiệu Kiến Phúc năm thứ 1 (1884), Vua cho nạo vét giòng sông cũ (cựu Vĩnh Định hà) đoạn qua các làng Câu Hoan, An Thư, An Thái vì sông cũ bị bồi lấp nhiều, không khơi thì ruộng bị nước ngập, dân bốn tổng ấy xin xuất tài lực, thẳng khơi một đoạn ở hai xã Kim Lung, Kim Giao, lược vét một đoạn từ xã Kim Long đến xã Hội Yên đều cho phép làm để tiện việc cấy ruộng mùa.

    – Năm 1897, vua Thành Thái cho nạo vét lại sông, đoạn từ làng Đồng Dương, Diên Khánh, Kim Giao thuộc xã Hải Dương qua thôn Kim Long, Đơn Quế, Hội Yên thuộc xã Hải Quế, đến Đa Nghi, xã Hải Ba nhằm khai thông sinh thái và môi trường khu vực này, vốn bị thiệt hại sau hơn 70 năm từ khi có sông đào 7.5 km, như đã nêu trên.

       Tưởng cũng nên biết rằng trong số 8 con sông đào trong thời gian 30 năm đầu của ba triều vua nhà Nguyễn, có ba con sông được đặt tên đầu bằng chữ Vĩnh, ngụ ý mong muốn về lâu dài là:

     – Kênh Vĩnh Tế, dài 90 km, nối Châu Đốc và Hà Tiên, được đào năm 1819, thời cuối triều vua Gia Long.

     – Sông Vĩnh Điện dài 12 km từ đầu ngã sông (xem không ảnh) Thu Bồn đến cầu Tứ Câu, xã Điện Ngọc. Vua Minh Mạng cho đào vét, nới rộng 2 lần (1822, 1824), khơi thông dòng từ Câu Nhí đến Cẩm Sa, dài 1.647 trượng, tức khoảng 7.7 km, để thông nước 2 hệ thống sông Thu Bồn và sông Vu Gia.

      – và sông Vĩnh Định .

        Hiện tại trong các bài viết về tỉnh Quảng Trị, có tác giả Lê Quang Thái, trong bài "Quảng Trị ơi, đất sao đất lạ lùng" đăng trên tạp chí Cửa Việt (2014), viết:

      …”Tháng tư năm Ất Mùi, Minh Mạng năm thứ 16 (1835), nhà vua ngự từ kinh đô ra hành cung trong thành Quảng Trị bằng đường thủy. Từ Huế theo sông Hương, sông Gia Hội ra Phá Tam Giang rồi theo sông Vĩnh Định đến sông Thạch Hãn.

     Vua bảo với các quan hầu rằng: “Ngày trước ta đi thuyền đến địa phận xã Ngô Xá, trông thấy một người đàn bà già, sai hỏi tuổi thì người ấy nói rằng đã 117 tuổi, chưa biết có xác thực hay không, nhưng đại phàm người chỗ mạch đất núi sông thanh tú thì phần nhiều thọ, hoặc già cũng có lý đấy”…

     Nhân dịp này, nhà vua bèn sai đẩy xe đi xem tường thành mới xây đắp, thấy các kỳ lão thuộc hạt Quảng Trị đang đứng đón để chiêm bái. Các cụ già có người đi chậm không theo kịp, khiến các bậc quan phủ huyện phải cõng các bậc trưởng lão đi.

     Vua Minh Mạng có óc hài hước lại có tính hay giỡn như vua cha vậy. Nhà Vua liền cười duyên và nói rằng: “Lũ ấy ngày thường làm cha mẹ dân, nay cõng người già đến chiêm bái thì hầu như con của dân rồi!”

     Trong bối cảnh lịch sử kỳ thú này, thì có sự trùng phùng của “Dân chi phụ mẫu” với “Phụ mẫu chi dân” mà bình thường hay nhầm lẫn.”…

          Theo dòng lịch sử, các cuộc chiến trên dòng sông Vĩnh Định được ghi nhận như sau :

     – Năm 1470, vua Lê Thánh Tông mang quân chinh phạt Chiêm Thành, bị quân Chiêm Thành phục kích tại Cổ Lũy, thuộc cựu Vĩnh Định Hà.

     – Tương truyền, năm 1572, danh tướng nhà Mạc, Lập Bạo, bị chúa Nguyễn Hoàng lập kế bắt tại bờ sông Thạch Hãn, bên làng Ái Tử. Lập Bạo đã nhảy xuống sông, lặn từ đây đến làng Vân Trình, tỉnh Thừa Thiên, nhưng cũng không thoát khỏi bởi chim trảo trảo bay theo phát giác và bị bắt. Từ đó, Chúa cho lập miếu trảo trảo.

     –  Cuối bán thế kỷ vừa qua, sau cuộc hành quân Sauterelle năm 1952 (trận Thanh Hương) đến  Camargue của quân đội Pháp trong chiến tranh Đông Dương chống lại Trung đoàn 95/QT từ ngày 28 tháng 7 đến ngày 10 tháng 8 năm 1953 trên đoạn đường tỉnh lộ 68 cũ hay là quốc lộ 49C hiện nay, dọc theo sông Vĩnh Định dài khoảng 10km, bắt đầu từ làng Vân Trình, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên qua giao điểm quốc lộ 49B và 49C hiện nay, cho đến làng Cổ Lũy, xã Hải Ba và giao tranh dữ dội nhất là tại làng Đơn Quế, xã Hải Quế mà ký giả nổi tiếng Bernard Fall, khi đó là phóng viên chiến trường, đã đặt tên là Con Đường Buồn Thiu (La Rue Sans Joie), và cũng tại đây 14 năm sau, tháng 2 năm 1967, Bernard Fall  tử thương vì dẫm phải mìn trong cuộc hành quân Operation Chinook II của quân đội Mỹ.

     Con Đường Buồn Thiu (dài khoảng 10 km) năm 1953 và Đại Lộ Kinh Hoàng (Highway of Horrors) khoảng 9 km, từ cầu Trường Phước đến qua cầu Bến Đá năm 1972 là những nghiệt ngã trong chiến tranh Việt Nam mà dân Quảng Trị đã phải hứng chịu trên địa bàn của sông Vĩnh Định, sông Nhùng và sông Bến Đá.

      Các sự kiện diễn biến cuộc sống của cư dân trên vùng đất này là đề tài âm nhạc được sáng tác như, nhạc sĩ Nhật Ngân có viết bài  Con đường buồn thiu, là đoạn đường sinh tử, chết chóc,  đau buồn, trong chiến tranh Việt - Pháp năm 1953.

     Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ viết bài Đưa Em Xuống Thuyền (do Ái Vân, con dâu làng Xuân Dương, hát) theo lời kể của ông, mô tả đám cưới người anh của nhạc sĩ vào đầu thập niên 40 thế kỷ vừa qua, thuyền rước dâu trên dòng Vĩnh Định, từ làng Thi Ông, Hải Lăng đến làng Bích Khê, Triệu Phong.

      Hệ thống sông ngòi tỉnh Quảng Trị gồm 7 sông, nhưng quan trọng hơn cả là hệ thống sông “Bến Hải-Thạch Hãn-Ô Lâu” chạy dọc  theo chiều dài tỉnh từ sông Ô Lâu tới sông Sa Lung (huyện Vĩnh Linh). Các thế kỷ trước, là thủy lộ từ kinh đô Huế ra Bắc, ngắn và an toàn hơn đường biển.

       Sông Vĩnh Định nối sông Thạch Hãn và Ô Lâu chảy vô phá Tam Giang, nhánh phụ sông Vĩnh Định cũng nối sông Thạch Hãn(và sông Hiếu) đổ ra biển Cửa Việt, sông Cánh Hòm nối sông Hiếu và sông Bến Hải là thủy lộ thuận tiện hàng đầu từ thế kỷ 19 trở về trước, trục thị tứ sầm uất thời kỳ này là chợ phiên Cam Lộ, thị xã Quảng Tri, chợ Sãi, chợ Ngô Xá, rồi đến Chợ Sịa, chợ Bao Vinh thuộc tỉnh Thừa Thiên.

      Dĩ nhiên, so với sau này ở giữa thế kỷ 20, khi khoa học kỹ thuật phát triển, với xe hơi, xe lửa, đường hàng không, thì vai trò vận chuyển bằng đường thủy, trên sông ngòi khắp mọi miền đất nước trở nên yếu kém hơn, không riêng gì trên thủy lộ. Nhưng thử nghỉ, tự hằng trăm năm trước, cho đến khi Quốc lộ 1 được người Pháp cho làm từ năm 1918, thì con đường bộ Nam-Bắc là con đường Thiên lý, con đường cái quan nhỏ hẹp băng qua những vùng ít dân cư, lắm thú dữ, và chưa có xe cộ, thì rõ ràng vai trò vận chuyển trên đất liền bằng đường sông là chiếm ưu thế và tiện dụng.(Hình bên: Quốc lộ 1A trước năm 1918 khi chưa làm, chỉ là con đường cái quan thiên lý). Cũng vậy, đường xe lửa Bắc-Nam từ Hà Nội đến Sài Gòn dài 1.730 km, chạy dọc theo Quốc lộ 1, hoàn thành và được đưa vào sử dụng vào năm 1936.

      Sông Vĩnh Định không chỉ là nguồn nước chảy, mà còn mang theo cả tinh thần cuộc sống của cư dân hai bên bờ. Tiếng chuông chùa ngân nga buổi sáng, vang vọng kinh cầu buổi chiều tại các giáo đường, tiếng hát câu hò trên đò doc, hay tiếng đập loong coong xúc cá của vạn chài... là những kỷ niệm êm đềm vốn có và là tưởng niệm muôn đời của những ai đã từng sinh sống tại đây. Tính từ năm 1825 đến nay đã 196 năm, thế hệ Baby Boomers sinh sau Thế chiến thứ 2, đặc biệt được chứng kiến sinh hoạt cùng các cư dân, làng mạc dọc theo dòng sông Vĩnh Định rõ nét cùng hoài niệm dòng sông đã mất bởi công trình thủy lợi Nam Thạch Hãn, trong ngậm ngùi tiếc nuối một thời, một đời.

       Công trình dẫn thủy nhập điền đập Trấm năm 1977 rất đáng được ghi nhận, tuy thế, việc ngăn chặn dòng chảy của sông Vĩnh Định tại đập An Tiêm và Ba Bến là một thiếu sót khoa học kỹ thuật chuyên môn và công tác dẫn thủy nhập điền, trị thủy của gần nửa thế kỷ trước là do điều kiện khó khăn tạo nên như thế. Nay tình thế đã khác, thiết nghĩ cư dân hai bên bờ sông cùng chính quyền sở tại, nên có các cuộc thảo luận, trao đổi để đi đến quyết định chuyên môn là, điều chỉnh đập An Tiêm và Ba Bến, điều hòa lưu lượng nước, khơi thông giòng chảy, nạo vét giòng sông… giải quyết môi trường môi sinh khu vực, phát huy chức năng cũ của giòng sông về kinh tế, văn hóa, xã hội, y tế… tránh thảm họa lũ lụt, thoát khỏi  dịch bệnh do ô nhiễm, tái tạo sinh thái hai nhánh phụ và chính của sông Vĩnh Định với hơn 100.000 cư dân sinh sống tại đây. Vấn đề là kinh phí, nhưng có thể xin thêm các quỹ quốc tế tài trợ nếu tự túc còn thiếu và điều này không khó. Hạ một cây che bóng mát đã là một điều bất nhẫn, huống chi là ngăn chặn một dòng sông. Cứu lấy dòng sông là cứu lấy chúng ta.

        Và nếu được  như thế, hãy tưởng tưởng một ngày nào đó, thử ngồi thuyền máy theo tours du lịch Quảng Trị, đi từ mạn Nam tỉnh nhà tại làng Xuân Viên bên sông Ô Lâu, theo giòng Vĩnh Định, đổ qua sông Thạch Hãn, ra sông Hiếu, vượt sông Cánh Hòm, đến sông Bến Hải, theo giòng Sa Lung, dừng chân ở Hồ Xá, huyện lỵ Vĩnh Linh… chúng ta như được sống lại cùng tổ tiên từ hằng trăm năm về trươc, nhất là từ khi chúa Tiên Nguyễn Hoàng vào trấn thủ đất Thuận-Quảng  tại Ái Tử năm 1558, mở đầu công cuộc Nam tiến.

           Xin ghi chú thêm rằng, cùng mục đích bài viết này là, để điều chỉnh các sai lệch thuộc tài liệu về sông Vĩnh Định vốn có trong sách vở và trên internet, đặc biệt hiện nay, vì tam sao thất bổn trong suốt thời gian dài 196 năm, đồng thời  cũng là để tưởng nhớ những em bé bơi lội, các bà chị, bà mẹ giặt giủ bên sông, các bác nông phu ra đồng sau ngày cày cấy, ra bến sông tắm rữa, bầy trâu mẹp, làn hơi nước tỏa trên sông buổi sớm, âm vang tiếng hò lãng đảng trong đêm trăng… cứ thế, qua nhiều thế hệ xưa nay… từ đó, rất mong muốn được mọi người, mọi giới đặc biệt các sinh viên tỉnh nhà, nếu có dịp nên viết, làm luận văn tốt nghiệp về đề tài này, để xem xét lại, hoàn thiện và quy củ hơn chủ đề Khơi Lại Giòng Sông Vĩnh Định, bảo đảm môi trường môi sinh và sinh thái vùng đất của lòng người, trong lòng lịch sử, thì không có gì quý hơn. Đa tạ.

Boston, ngày 9 tháng 3 năm 2021

Trương Thúy Hậu


Chép từ FaceBook  Nguyễn Chơn Viễn

và thay đổi tên bài.


Ảnh: Dòng sông Vĩnh Định đoạn chảy qua xóm Miệu - làng Ngô Xá Đông- xã Triệu Trung- huyện Triệu Phong- tỉnh Quảng Trị (nay là làng Ngô Xá Đông- xã Triệu Cơ- tỉnh Quảng Trị). Nguyễn Chơn Viễn chớp năm 2021.


Đọc thêm: 

https://archives.org.vn/gioi-thieu-tai-lieu-nghiep-vu/song-vinh-dinh-%E2%80%93-qua-trinh-khoi-thong-dong-chay.htm


https://xanhx.vn/tin-tuc-noi-bat/vinh-dinh-dong-song-khong-chi-co-phu-sa-45794.html

 

READ MORE - SÔNG VĨNH ĐỊNH: HỒN ĐẤT, TÌNH NGƯỜI VÀ KÝ ỨC QUẢNG TRỊ - Trương Thúy Hậu

Friday, September 18, 2026

CHÙM THƠ LÊ THANH HÙNG: Những ngọn gió chiều / Nha Trang – như một hẹn hò / Một mình trong cõi nhớ /

 


Những ngọn gió chiều


Có phải 

Ngọn gió ngày xưa, em gửi lại

Cứ mơn man trắng muốt xuân thì 

Chợt phóng túng trườn qua biền bãi

Hoen mờ trôi, trong dấu trăng đi


Bươn bả 

Gió trở chiều, chợt quen chợt lạ

Ngẩn ngơ nhìn trống vắng xa xăm

Xào xạc bến ngừng trong kẽ lá

Dấu đường xa, bụi lỡ cát lầm


Lơ đãng 

Chảy ngập ngừng, dường như kiêu mạn

Băng ngang đường, rẽ dọc rẽ ngang

Đổ xuống thềm hoa một quầng sáng

Yểu điệu buông lơi, có muộn màng?


Nơi đó 

Một chiều trong, đương mùa quẩn gió

Chợt ngượng ngùng, se lạnh âm âm

Buốt lòng nghe quầng trăng mờ tỏ

Day trở nghiêng, trống hoác chỗ nằm


Trống vắng 

Con đường xưa đìu hiu phẳng lặng

Gió ru êm từng giấc mơ hồng

Trôi lấp loá bao điều sâu lắng

Chợt bừng lên, tím biếc mênh mông…



Nha Trang – như một hẹn hò


Nha Trang, tím sắc màu châu thổ

Theo khách đường xa đến ghé thăm

Mây cuối núi, đưa chiều hiển lộ

Biển biếc xanh, sóng vỗ thì thầm


Tháp Po Nagar, chiều nghiêng Xóm Bóng

Cõi trăm năm, phồn thực đời thường

Gió thời gian, ngang trời lồng lộng

Nhịp đời quay, khê đọng vấn vương


Sóng Ia Trang quanh cồn Ngọc Thảo

Em về đâu? Am Chúa, Hòn Bà

Tiếng chuông lễ, nghiêng chiều Xóm Đạo

Sóng sánh bờ, vọng tiếng khơi xa


Bóng nắng hồi quang Hòn Đá Chữ

Nghe xôn xao trên bến du thuyền

Náo nức bước chân người lữ thứ

Yên bình trên Đảo Ngọc VinWonders


Em nghiêng đầu, ron ren hỏi nhỏ

Lối về qua Dốc Lết, Bãi Dài

Lung linh nắng, cái nhìn đâu đó

Ngập ngừng lời, gặp lại ngày mai…


Một mình trong cõi nhớ


Chiếc lá rơi nghiêng, tràn cõi nhớ

Một mình ngồi dõi bóng trăng suông

Khung cửa hẹp, không gian bợ đỡ

Ngọn gió lay, chao chác sợi buồn


Lẩm nhẩm nhớ tháng năm đánh võng

Cứ lần theo, dấm dẳng bến đời

Bao nhiêu chuyện vui, buồn khê đọng

Cố giữ niềm tin, đừng hao vơi


Trăng dát bạc trên đường xa ngái

Lấm tấm rơi từng vệt trắng đen

Ta có lúc, bước khôn bước dại

Dò dẫm đi, mờ tỏ ánh đèn


Có khi ngồi, buồn hiu cơm áo

Ngậm ngùi trăng, mơ mộng ngày mai

Lính quýnh bước qua bờ thực ảo

Bươn chải đời, nghĩa trả tình vay…


Đã vươn dậy, từ điều thất bại

Mặt trời lên, ngày mới sáng tươi

Bao nhiêu chuyện, đời từng nếm trải

Vững vàng qua giông bão cuộc người…


Lê Thanh Hùng

    Bắc Bình, Lâm Đồng

lethanhhung4625@gmail.com>


READ MORE - CHÙM THƠ LÊ THANH HÙNG: Những ngọn gió chiều / Nha Trang – như một hẹn hò / Một mình trong cõi nhớ /

HƯ VÔ - Thơ: Đặng Xuân Xuyến

            


           


            HƯ VÔ

            (Với Nguyễn Toàn Thắng)

.

Ừ, thì thêm vài chén

Cho tỉnh chìm vào say

Ta đã ngán loay hoay

Đến đâu? Từ đâu đến?

.

Ừ, đời là chuỗi bến

Chỉ âm thầm đổi ga

Cõi trần xoay hối hả

Nụ cười hằn vết nhăn

.

Ừ, kiếp sống khó khăn

Gán niềm tin cá độ

Đời đã là bể khổ

Thôi, trả về hư vô..

*.

Hà Nội, sáng 13 tháng 9/2026

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

.

READ MORE - HƯ VÔ - Thơ: Đặng Xuân Xuyến

TRÍ TUỆ PHẬT GIÁO TRƯỚC THÁCH THỨC CỦA TRÍ TUỆ NHÂN TẠO - Trần Kiêm Đoàn

 



TRÍ TUỆ PHẬT GIÁO

TRƯỚC THÁCH THỨC CỦA TRÍ TUỆ NHÂN TẠO

 


Trong mùa An Cư Kiết Hạ năm nay, 2026, chúng tôi – một nhóm Phật tử cao niên U70, U80 và U90 từ nhiều vùng miền Hải ngoại và Việt Nam – có dịp thăm viếng, gặp gỡ và chia sẻ với chư tôn đức, quý đạo hữu và thế hệ Phật tử tuổi trẻ mang tính kế thừa về những vấn đề Phật sự; đặc biệt là những thách thức trực tiếp và gián tiếp liên quan đến quá trình tu học và hoằng pháp. Vô hình chung, vấn đề nổi cộm và tiêu biểu nhất là sự hiện hữu với những tác dụng và thách thức chưa từng có tiền lệ về Trí Tuệ Nhân Tạo (AI).

 

Bản Chất Trí Tuệ

 

Trong một bài viết mượn tính sử thi với nhan đề “Trí Tuệ Nhân Tạo Có Phật Tánh Hay Không” viết vào đầu năm 2026 (Phật Tánh Trí Tuệ Nhân Tạo), người viết đã trình bày sự tương quan giữa ba tầng tầng phát triển của trí tuệ, nhưng tầng sau không nhất thiết cao hơn tầng trước. Đó là:

 

Trí tuệ giáo dục -  Trí tuệ nhân tạo -  Trí tuệ tự tạo.

 

Trí tuệ giáo dục (Educated Intelligence) là trí tuệ được hình thành nhờ học hỏi từ bên ngoài. Con người sinh ra có tiềm năng, rồi gia đình, nhà trường, sách vở, thầy bạn, văn hóa và kinh nghiệm hun đúc nên kiến thức và khả năng suy luận. Nói giản dị hơn là người khác đã biết, rồi dạy cho ta biết.

 

Trí tuệ nhân tạo (AI = Artificial Intelligence) là trí tuệ do con người thiết kế bằng máy móc, dữ liệu và thuật toán. AI là sản phẩm của con người. Nó xuất phát từ một khối lượng thông tin rất lớn, nhận ra những mẫu hình, rồi có thể tổng hợp, phân tích và tạo ra câu trả lời mới. Nó có thể nhanh hơn con người rất nhiều trong một số công việc, nhưng cái “biết” ấy không đồng nghĩa với toàn bộ đời sống ý thức, kinh nghiệm và minh triết của con người.

 

Trí Tuệ Tự Tạo (SCI = Self - Created Intelligence) Cụm từ này theo nghĩa suy diễn do tác giả bài viết tự gợi ra trong một chuyện khoa học giả tưởng khi AI vượt thắng con người và làm chủ con người. Tuy đó chưa phải là một thuật ngữ khoa học chuẩn tương ứng với AI, nhưng có thể hiểu là khả năng AI tự kiến tạo và chuyển hóa nguồn trí tuệ từ con người, vạn hữu và của chính tự nó. Ngày mà AI tự tìm ra cách thấy, cách nghĩ của mình là ngày “Trí Tuệ Tự Tạo AI” ra đời. Nguồn trí tuệ dự phóng nấy mang năng lực khủng khiếp vượt ra ngoài khả năng tưởng tượng của con người. Nó chuyển hóa từ sản phẩm trí tuệ của con người đến vượt xa tầm tri thức rồi phủ nhận con người. Trong một không gian vũ trụ mới, Trí Tuệ Tự Tạo loại bỏ thế giới cũ, tự tác tự tạo một thế giới mới và tiến trình đương nhiên phải đến là hủy diệt giống người.

 

Có thể rốt lại thành ba khái niệm, hình ảnh và thực thể, rằng: Trí tuệ Giáo Dục cho ta cái biết của giống người. Trí tuệ AI cho ta sức mạnh tổng hợp cái biết của nhân loại. Trí tuệ Tự Tạo là khi có một chủ thể biến cái biết ấy thành trí tuệ tân lập của chính mình. Đây là nỗi lo sợ tiềm năng nhưng rất kinh hoàng của nhân loại khi AI làm chủ và biến con người thành nô lệ; rồi hủy diệt con người để lên ngôi chủ tể.

 

Tháng 9 - 2026, The Wall Street Journal đã làm dấy lên một cuộc tranh luận đáng báo động khi một số nhà nghiên cứu AI hàng đầu thế giới cảnh báo rằng, nếu những hệ thống trí tuệ siêu việt vượt khỏi khả năng kiểm soát của con người, AI có thể trở thành một nguy cơ hiện sinh đối với nhân loại ngay trong vòng 10 NĂM tới. Dẫu rằng, đây chưa phải là một lời tiên tri khoa học, nhưng là một cảnh báo mà con người không thể xem thường.

 

Đến cảnh ngộ ấy, câu hỏi không còn đơn thuần là: AI sẽ thông minh đến đâu? Mà sâu xa hơn: Con người còn giữ được bao nhiêu phần người có tác dụng trên chính sản phẩm do chính trí tuệ của giống người tạo ra. Đó là thời kỳ Trí Tuệ Tự Tạo của AI thành hiện thực, hoàn toàn ly khai với trí tuệ con người và AI làm chủ dòng sinh diệt của thế giới riêng mà con người không đủ khả năng tiếp cận hay tương tác.

 

Và chính nơi đây, trong tiến trình từ thấp đến cao, từ tương tác đến bứt phá, từ cộng sinh đến triệt sinh của Con Người và sản phẩm của chính nó là AI thì Phật Giáo ở nơi đâu?  Sức mạnh truyền thừa của Đạo Phật là Trí Tuệ. Vậy có chăng Tuệ Giác Phật Giáo có thể đóng góp ảnh hưởng, hành xử một vai trò, cống hiến một giải pháp và đưa ra một tiếng nói đặc biệt có thể hóa giải thảm họa tận diệt nền văn minh mong manh và thân phận bèo bọt của con người mà Đức Phật đã gọi tên là thế giới Diêm Phù Đề (閻浮提, Sanskrit: Jambudvīpa) ?!.

 

AI có thể vượt con người về tốc độ tính toán, kho kiến thức và năng lực xử lý thông tin; nhưng trí thông minh chưa phải là Tuệ Giác. Máy có thể biết rất nhiều mà không biết thương; có thể tìm ra phương tiện mà không tự mình xác lập được ý nghĩa đạo đức của cứu cánh. Tuệ giác Phật giáo, với nền tảng Chánh niệm, Từ bi, Duyên khởi, Vô ngã và Trung đạo, nhắc con người quay về làm chủ tham vọng, sợ hãi và dục vọng quyền lực của chính mình sẽ làm được gì cho một nhân loại đang trên bờ vực thẳm?

 

Bởi nguy cơ đáng sợ nhất có lẽ không phải chỉ là ngày AI trở nên giống con người, mà còn là ngày con người vì quá lệ thuộc vào AI mà dần đánh mất phần người của mình.

 

AI có thể làm cho trí óc nhân loại mạnh hơn. Nhưng chỉ con người mới có thể nuôi dưỡng trái tim nhân loại. AI tự nhận mình là kho kiến thức nhưng không có tâm hồn, không có cảm xúc và không có trái tim.

 

Và nếu một ngày máy móc có thể nghĩ nhanh hơn chúng ta, thì điều cần gìn giữ nhất có lẽ không phải là quyền được thông minh hơn máy mà là khả năng tỉnh thức, tình cảm thương yêu và tinh thần chịu trách nhiệm về những gì mình tạo ra.

 

Tuệ Giác Phật Giáo

 

Đến cảnh ngộ này, thì may ra, chỉ còn Tuệ Giác Phật Giáo mới còn giữ được khả năng giúp trái tim nhân loại khỏi bị khống chế bắt ngừng đập trước sức mạnh của AI.

 

Những bước chân ngày càng khập khiễng của con người không đứng vững trên đôi chân của mình là sự tha hóa, bắt chước và chạy theo cái mới một cách mù quáng như những phong trào “dụng pháp AI” tưởng như đắc dụng mà thật ra là rất khiếm dụng và lạm dụng. Đó là sự vội vàng chạy theo phương tiện và kiến thức do AI cung cấp và xếp đặt. Buông tay cho AI nói những điều cao siêu đầy thuật ngữ, phát triển những lý thuyết chơi chữ đầy đao to búa lớn và quên Tam Bảo trong rừng rậm lý thuyết hàn lâm.

 

Hiện tượng những bài nói pháp trùng trùng lý thuyết kinh điển, những bài tham luận, nghiên cứu, phản biện... sách báo mạng online cũng như giấy; từ hình thức (Gemini) đến nội dung (Chat GPT), tới âm nhạc (Suno), hội họa (Midjourney)... đều là sản phẩm của AI đã tác động rầm rộ trên dòng sinh hoạt tinh thần của Phật giáo trên toàn thế giới. Điển hình nhất là hiện tượng thị trường chữ Việt trong và ngoài nước đang khá rầm rộ cóp nhặt và chắp vá khéo léo của những nguồn tư tưởng và luận lý chặt chẽ bằng tính công nghệ AI. Hệ quả của “tư tưởng máy” này đã làm cho những mảnh đất tâm hồn trong thế giới tâm linh của thế hệ trẻ trở nên già cỗi, thế hệ già trở nên “loạn triết vô tâm” đầy vọng động và phủ phục đầu hàng AI càng ngày càng thảm bại như thực trạng đang diễn ra trước mắt.

 

Chưa bao giờ có những bài nói Phật Pháp xuất hiện ồ ạt trên những trang nhà và mạng lưới xã hội nhiều như mùa Phật Đản và Vu Lan năm nay. Đa số những bài nói pháp của AI tập trung vào những đề tài Phật Pháp uyên thâm cũng như nóng bỏng, thu hút cả giới bình dân và học giả. Đa số quý tôn đức Tăng Ni mà chúng tôi được tiếp cận tại quê nhà trong mùa An Cư năm nay đều ghi nhận và quan tâm hiện tượng AI tác động vào sinh hoạt Phật giáo thuận cũng như nghịch này.

 

Đến cảnh ngộ này, có lẽ Tuệ Giác Phật Giáo là một trong những thành trì tinh thần còn đủ chiều sâu để góp phần giữ cho trái tim nhân loại khỏi bị khống chế đến mức phải ngừng nhịp đập riêng của mình trước sức mạnh ngày càng lớn của AI.

 

Điều đáng sợ không hẳn là AI sẽ đứng lên thống trị con người, mà chính là con người tự nguyện bước xuống khỏi vị trí làm chủ tâm thức của mình để chạy theo AI.

 

Những bước chân không còn đứng vững trên đôi chân của chính mình là khởi đầu của tha hóa. Con người bắt chước, chạy theo cái mới, say mê phương tiện và tưởng phương tiện chính là cứu cánh. Những phong trào “dụng pháp” tưởng rất đắc dụng đôi khi lại trở thành khiếm dụng nếu không muốn nói là lạm dụng hay phản tác dụng nếu càng vùi mình vào công cụ khiến con người càng đánh mất khả năng tự thấy, tự nghĩ, tự chọn và tự chịu trách nhiệm.

 

Nguy cơ của thời đại AI chính là sự vội vàng trao quyền tư duy cho máy móc: để AI cung cấp kiến thức, sắp đặt luận điểm, dựng nên những thuật ngữ cao siêu, phát triển những lý thuyết hàn lâm nghe rất uyên bác rồi con người ung dung đứng bên cạnh, tưởng nhầm trí tuệ của máy là trí tuệ của mình.

 

AI có thể nói về Tánh Không leo lẻo, nhưng không biết giúp người sống đời vô sở chấp; không khiến được người Phật tử dù ở cấp độ nào biết quên phương tiện vật chất, đừng dựa vào chùa to tượng lớn, quên danh vị hão huyền để giữ được cũng như sống với thân đạm bạc, tâm trong ngần và trí an nhiên.

 

AI có thể luận về Từ Bi, nhưng không thể thay ta thương tưởng, bố thí cho em bé thơ tàn tật bán vé số lê lết trên hè phố Sài Gòn.

 

AI có thể viết ngàn trang về Chánh Niệm, nhưng không thể tỉnh thức thay con người an tâm định lực trong một sát na.

 

Bởi vậy, thử thách lớn nhất của Phật giáo trong thời đại AI không phải là làm sao sử dụng AI cho thật giỏi, mà là làm sao dùng AI như một phương tiện thiện xảo  mà không tự làm đánh mất mình: Máy cứ thông minh hơn đi. Nhưng Người càng phải tỉnh thức hơn.

 

Bởi nếu một ngày con người không còn tự đứng trên đôi chân trí tuệ của chính mình, thì AI chẳng cần đánh bại con người.

 

Con người đã tự đầu hàng từ trước.

 

AI có thể tổng hợp kiến thức, viết văn, làm thơ, âm nhạc, hội họa... lập luận, dự đoán và ngày càng thực hiện nhiều công việc vốn được xem là đặc quyền trí tuệ của con người. Vì thế, cạnh tranh với AI bằng trí nhớ, tốc độ tính toán và lượng thông tin là một cuộc đua con người khó thắng; nếu không nói là càng ngày càng bị nhanh chóng bỏ xa với tốc độ chóng mặt.

 

Con đường khác là tự tạo lại chính mình.

 

“Trí tuệ tự tạo” theo nghĩa này không phải một loại công nghệ mới. Đó là năng lực con người chủ động kiến tạo phẩm chất của chính mình: biết quan sát tâm, biết nghi ngờ điều mình tưởng là đúng, biết chọn giá trị sống, biết thương yêu, biết chịu trách nhiệm và quan trọng nhất là biết mình đang bị điều gì dẫn dắt.

 

Trí tuệ nhân tạo AI tạo ra câu trả lời.

Trí tuệ tự tạo biết đặt câu hỏi.

Tuệ giác Phật giáo biết khi nào cần buông cả câu hỏi lẫn câu trả lời.

 

Tinh hoa Phật giáo không nằm chủ yếu ở lượng kinh điển trời biển mà AI có thể học thuộc trong vài khoảnh khắc.

 

Tinh hoa Phật giáo nằm ở sự chuyển hóa tâm thức mà việc biết kinh điển đơn thuần không thể thay thế.

 

Chánh Niệm giúp con người nhận ra mình đang bị kích thích, dụ dỗ hay điều khiển trước khi phản ứng.

 

Chánh Kiến giúp phân biệt phương tiện với cứu cánh.

 

Duyên Khởi phá vỡ ảo tưởng rằng một cá nhân, một thuật toán hay một nền công nghệ tồn tại độc lập.

 

Tánh Không nhắc chúng ta đừng tuyệt đối hóa cả con người lẫn AI.

 

Trung Đạo giúp tránh hai cực đoan: thần thánh hóa AI và quỷ dữ hóa AI.

 

Từ Bi đặt câu hỏi cao hơn hiệu suất: Việc này có làm giảm khổ đau cho chúng sinh hay không?

 

Và có lẽ đặc biệt quan trọng hơn cả là lời dạy về Vô Ngã.

 

AI có thể làm lung lay niềm kiêu hãnh lâu đời rằng con người cao quý vì thông minh hơn mọi thứ khác. Phật giáo đã cảnh tỉnh điều ấy từ rất lâu: trí thông minh không đồng nghĩa với giác ngộ. Một người có thể cực kỳ thông minh mà vẫn bị tham, sân, si thống trị.

 

Bởi vậy, AI càng thông minh thì câu hỏi Phật giáo càng trở nên thời sự:

 

Thông minh để làm gì, nếu không biết mình đang bị chính lòng tham và vô minh sử dụng?

 

Phật giáo phải làm gì ngay từ bây giờ?

 

Rõ ràng là Phật giáo không nên bước vào thời đại AI với tâm thế chống lại công nghệ. Nhưng cũng không thể chỉ dùng AI để giảng kinh nhanh hơn, dịch kinh hay hơn, làm video đẹp hơn rồi tưởng rằng mình đã “hiện đại hóa”.

 

Điều cấp thiết hơn là xây dựng một đạo đức và văn hóa tâm linh cho thời đại AI.

 

Phật giáo cần đào tạo một thế hệ biết sử dụng AI mà không giao chủ quyền tâm thức cho AI; đưa Chánh Niệm, Chánh Kiến, Từ Bi và trách nhiệm đạo đức vào giáo dục công nghệ; mở đối thoại nghiêm túc giữa tăng sĩ, cư sĩ, nhà khoa học, kỹ sư AI, triết gia và giới giáo dục.

 

Đặc biệt, cần bảo vệ một nguyên tắc:

 

AI có thể là người cố vấn (adviser), người tham vấn (counselor), người dìu dắt (mentor)... nhưng không được trở thành chủ nhân của tâm thức.

 

Không giao hoàn toàn cho AI quyền quyết định ta đọc gì, tin gì, yêu ai, ghét ai, bầu chọn thế nào, nuôi con ra sao, hay xác định giá trị của một đời người.

 

Thảm họa đáng sợ không nhất thiết bắt đầu vào ngày robot quay lại tiêu diệt loài người. Nó có thể âm thầm hơn nhiều: con người vẫn sống, vẫn ăn uống, làm việc và giải trí, nhưng dần không còn tự suy nghĩ, tự lựa chọn, tự sáng tạo và tự chịu trách nhiệm về hành vi và cuộc đời của chính mình nữa. Buông tay cho AI làm chủ và thay thế trí tuệ là lúc con người đã tự nguyện trao chìa khóa cuộc đời mình cho kẻ khác để tự biến mình thành nô lệ.

 

Đó có thể chính là ý nghĩa sâu nhất của Trí Tuệ Tự Tạo: không tạo thêm một trí thông minh để thắng AI, mà tự tạo một con người đủ tỉnh thức để sử dụng AI mà không bị AI sử dụng.

 

Và trong cuộc chuyển mình ấy, Tuệ giác Phật giáo không cần tranh đua với trí tuệ nhân tạo. Phật giáo chỉ cần trở về thật sâu với sở trường nguyên thủy của mình:

 

AI có thể giúp con người biết cả thế giới. Tuệ giác giúp con người biết chính mình.

AI có thể tạo nên một thế giới thông minh hơn. Nhưng chỉ con người tỉnh thức mới quyết định được thế giới thông minh ấy có còn đáng sống hay không.

 

Máy càng mạnh, con người càng cần nhân tính.

Trí tuệ càng cao, trách nhiệm càng phải sâu.

Và khi trí tuệ nhân tạo tiến rất nhanh về phía trước, có lẽ điều nhân loại cần nhất không phải là chạy nhanh hơn nó, mà là biết rõ mình đang đi về đâu.

 

Trí nhân tạo vượt ngàn trùng tiến bước,

Tuệ lòng người soi sáng nẻo nhân sinh.

 

Ngày về lại Sacramento 10 -9-2026

               Trần Kiêm Đoàn

                   trankiemdoan@gmail.com

READ MORE - TRÍ TUỆ PHẬT GIÁO TRƯỚC THÁCH THỨC CỦA TRÍ TUỆ NHÂN TẠO - Trần Kiêm Đoàn