Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Wednesday, August 12, 2020

NỖI NIỀM KHI THẤY LẠI ẢNH GIẾNG LÀNG - Hoàng Đằng





Tình cờ tôi gặp bức ảnh trên mạng. Bức ảnh nằm trong album ảnh tỉnh Quảng Trị trước năm 1975. Ảnh đa số do binh sĩ hoặc nhà báo Mỹ chụp. Tôi nhận ra ngay đấy là bức ảnh cái giếng nước của làng tôi. Bao kỷ niệm vui, buồn về mảnh đất làng, về lịch sử làng, về bà con dân làng hiện về.
Làng tôi là làng Điếu Ngao – Điếu là câu; Ngao là con rùa biển, chứ không phải con hến như nhiều người tưởng. Thời gian trước đây, có khi gọi là xã Điếu Ngao, có khi gọi là thôn Điếu Ngao, có khi gọi là ấp Điếu Ngao.
Trước năm 1955, làng tôi gọi là xã Điếu Ngao thuộc tổng An Đôn, phủ Triệu Phong. Từ năm 1955 đến 1968, làng tôi là thôn (rồi ấp) Điếu Ngao, thuộc xã Triệu Lễ, quận Triệu Phong. Năm 1968, chính quyền Việt Nam Cộng Hoà lập quận Đông Hà; xã Triệu Lễ lấy ra từ quận Triệu Phong đưa về quận Đông Hà, đổi tên thành xã Đông Lễ; làng tôi là ấp Điếu Ngao thuộc xã Đông Lễ.
Rồi từ năm 1972, dưới quyền quản lý của chế độ Cách Mạng, làng tôi không còn tên Điếu Ngao trên văn bản hành chánh nhà nước mà thành tiểu khu 2, ít lâu sau, phường 2 của  thị xã Đông Hà rồi thành phố Đông Hà. Tên gọi Điếu Ngao đã trở thành chuyện quá khứ - chuyện của lịch sử.

Ngày xửa ngày xưa, lãnh thổ làng thuộc nước Chiêm Thành, nhập vào nước Đại Việt (Việt Nam) từ đầu thế kỷ XIV sau khi Huyền Trân Công Chúa được vua nhà Trần bán gả cho vua Chiêm để lấy đất (1306).
Mãi đến giữa thế kỷ XVI, tên làng mới xuất hiện ở sách Ô Châu Cận Lục - ấn hành năm 1555 -, trong một số bản dịch, đọc nhầm ra tên Hướng Ngao; mới đây, một nhóm dịch sách Đồng Khánh Địa Dư Chí (viết cuối thế kỷ XIX) lại ghi tên làng tôi là Quân Ngao. Xin nói rõ làng tôi là Điếu Ngao; Hướng Ngao hay Quân Ngao là do các dịch giả đoán nhầm từ Điếu viết thảo trong nguyên bản chữ Hán (ba chữ Hán - Điếu: câu; Hướng: tặng cho, thết; Quân: đơn vị đo lường bằng 30 cân – dễ đọc nhầm nếu viết thảo). Hướng Ngao hay Quân Ngao không có ý nghĩa rõ ràng gì hết; còn Điếu Ngao là “câu rùa biển” (chứ không phải “xúc hến” như nhiều người tưởng nhầm); rùa, trong văn hoá Việt Nam, biểu trưng cho sự bền vững, thành đạt. Các ngài đi lập làng, khi trên hành trình bằng đường biển, nghĩ ra hai từ tên làng với mong ước làng bền vững, hậu duệ “ăn nên làm ra”, thành đạt trong cuộc sống, trong sự nghiệp.

 

Hơn hai thế kỷ (đầu thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ XVI), dù vua Chiêm đâ nhượng, lãnh thổ làng còn nằm trong vùng tranh chấp giữa Đại Việt và Chiêm Thành, nên làng chưa thành hình được. Căn cứ vào gia phổ các dòng họ lâu đời trong làng – khoảng 16, 17 đời, tôi suy đoán điều này.
Làng chỉ phát triển sau khi Nguyễn Hoàng vào dựng nghiệp ở miền Thuận Hoá (năm 1558).

Dân làng từ đâu đến? Sử sách không truyền, gia phổ các dòng họ không chép; theo lời truyền khẩu của ngài Hoàng Công Quang (1892– 1963) - một dân làng có học vấn, từng làm xạ (lý trưởng) từ năm 1927 đến 1945 thì tổ tiên dân làng từ Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá vào. Chuyện tình cờ tôi biết là như thế này: Hai cháu nội ngài Hoàng Công Quang đặt tên một người tên Hoàng, một người tên Hoá; tôi hỏi tại sao họ đã là Hoàng mà tên cũng là Hoàng và được cho biết là Hoằng chứ không phải Hoàng; tên đặt như vậy để nhớ về nguồn cội của dân làng. Thế thôi!
Làng toạ lạc ở mạn Đông Nam sông Hiếu, dân không dựng nhà cửa sát bờ sông mà cách xa sông khoảng hơn 100 mét. Có lẽ các Ngài đem dân đi lập cư muốn tránh làng đỡ thiệt hại do lũ lụt.

Trong sinh hoạt, dân làng dùng nước sông là chủ yếu; tuy nhiên, nước sông có khi không trong, không sạch, không uống được; làng phải đào giếng. Tội là giếng đào trong khu gia cư và ở những cánh đồng lân cận không có nước tốt – nước bị nhiễm phèn nhiều.
May mắn đến! Không biết làng có cậy thầy địa lý không mà tìm được dòng nước ngầm rất tốt, xa làng cả gần cây số về phía Tây, khơi giếng và có nước dùng qua nhiều thế hệ …

Giếng ở mạn Tây sát đường thiên lý Bắc Nam – đường Quốc Lộ 1 bây giờ. Dân gọi đường này là Đàng Quan – đàng là đường; đường dành cho quan nhà nước đi từ Bắc vào Nam hay ngược lại. Ngày xưa, chỉ có quan mới thường xuyên đi lại do công tác đòi hỏi, chứ dân ít khi bước ra khỏi làng. Tên giếng Đàng Quan là vậy.
Hiện nay, do Quốc Lộ 1 mở rộng nhiều, giếng đã bị vùi dưới lòng đường. Vị trí giếng ngày xưa nằm ở góc Đông Bắc khu khách sạn & nhà hàng Mê-Kông bây giờ.
Ban đầu, từ đáy lên miệng, giếng được chất theo hình ống bằng đá ong. Mạch nước chảy rất mạnh. Chỉ cần nghỉ múc vài giờ, nước dâng cao gần miệng giếng; người đi đường, ngang qua, khát có thể ngồi trên miệng giếng dùng nón múc được nước để uống.
Thành giếng và nền giếng (như trong ảnh) mới được đúc khoảng cuối thập kỷ 1940 hay đầu thập kỷ 1950.

Từ năm 1946, giặc Pháp trở lại tái chiếm Quảng Trị, lính tráng đóng đồn quanh Đông Hà đông lên; do biết nước có chất lượng tốt – trong veo, ngọt thanh …, giặc Pháp cũng lấy nước giếng cho binh sĩ uống; sẵn ciment, họ cho đúc thành giếng và nền giếng để xe dễ vào hút nước và cũng để giữ vệ sinh cho nước.
Quái ác! Giếng là nguồn nước của dân làng Điếu; vậy mà về mùa hè, những năm quá hạn, nước sinh hoạt (đặc biệt nước uống) khan hiếm, giặc Pháp làm nắp giếng khoá chặt, khi nào xe của bọn chúng tới hút, mới mở nắp ra. Chúng chẳng quan tâm dân làng Điếu lấy nước đâu để uống !!!
Vào những thời điểm ấy, dân làng Điếu phải lên xin hay múc trộm giếng của làng Lương An – làng Sỏi. Giếng làng Sỏi nước không nhiều, thành ra, dân làng Sỏi, sợ hụt, cũng không vui vẻ khi cho.
Ngặt lắm, dân phải ra moi giếng ngoài Cồn cát của làng để có nước dùng tạm; nước giếng tạm ngoài Cồn có nhiễm mặn ít nhiều, nhưng cũng phải dùng thôi, chả lẽ chết khát !!!

Rồi vào giữa thập niên 1960, quân đội Mỹ qua tham chiến ở chiến trường Việt Nam. Quân số Mỹ ở Việt Nam lúc cao nhất lên trên nửa triệu. Đông Hà biến thành căn cứ quân sự lớn của Mỹ.

Để tiếp dầu cho các phương tiện cơ giới phục vụ chiến tranh, quân Mỹ cho đặt ống dẫn dầu đi ngang qua gần giếng Đàng Quan. Bất cứ ngày đêm, để trả đũa quân Mỹ và quân Việt Nam Cộng Hoà bắn pháo hay cho máy bay ném bom vào vùng giải phóng, quân giải phóng không biết đặt giàn hoả tiễn ở đâu - trên Trường Sơn hay bên bờ Bắc sông Bến Hải? - pháo kích thường xuyên vào Đông Hà. Năm 1967 và 1968, tần số pháo kích dày và mức độ pháo kích dữ dội nhất; pháo kích hoặc từng tràng kéo dài 15, 20 phút, hoặc thỉnh thoảng vài ba quả rồi thôi. Dân quanh vùng nghe tiếng reo của hoả tiễn đi, vội vô hầm hay nằm xuống. Giờ nhớ lại còn ớn!
Hoả tiễn, có lần, bắn vào trúng vỡ ống dẫn dầu, dầu tràn ra lai láng, đổ về đầy cánh đồng nhỏ gần đó của làng Điếu Ngao. Dầu đầy ruộng; dân làng Điếu và các vùng lân cận đua nhau đi múc dầu về thắp, nấu rechaud và bán cho nông dân, ngư dân để chạy nông cơ. ngư cơ.
Cánh đồng ấy nhiễm dầu, không canh tác được, làng Điếu phân cấp cho dân làng để lập gia cư. Cái xóm nhà có dầu tràn về, được gán cho cái tên Xóm Dầu; người viết bài này đã lập gia cư năm 1969 ở Xóm Dầu đó.
Ống dầu vỡ, dầu tràn, giếng Đàng Quan nhiễm dầu; dân làng Điếu mất nguồn nước uống, phải đi kiếm nguồn khác. Làng Điếu không những vất vả lo cái ăn mà còn gian nan lo cái uống. Nghĩ mà thương!

Giếng Đàng Quan ở xa làng. Đường từ khu dân cư của làng đến giếng phải qua một cánh đồng rồi một vùng đồi. Nhà gần cách non cây số, nhà xa có thể cách cây số rưỡi hoặc hơn. Đường len giữ rú rậm, về mùa nắng nóng, trâu bò đi quết dậy bụi, về mùa mưa rét, bùn nhão lút nửa cẳng chân.
Nước từ giếng về nhà phải gánh. Người ta gánh nước bằng đôộc sành và gióng mây. Gánh được nước về nhà, mất công lắm, có khi mất hết cả buổi. Những người yếu phải nghỉ giải lao vài ba lần.

Trẻ em 6, 7 tuổi trở lên, đã phải gánh nước, phụ giúp cha mẹ. Ban đầu, hai trẻ gánh “cò ke” một “đôộc”, trẻ nào lớn hơn, mạnh hơn thì khoảng cách trên đòn gánh từ vai đến đôộc ngắn hơn để rước phần nặng hơn; nhưng oái oăm, trẻ thấp vẫn bị trọng lượng đôộc dồn lên nhiều, méo mặt, nhăn mũi …
Hết gánh “cò ke”, trẻ được tập gánh cả đôi, ban đầu, nước trong đôộc ít rồi tăng lên dần theo tuổi tác và vóc người. Gánh cả đôi thì phải tập “trở vai” – đưa đòn gánh đang đè lên vai này sang vai khác bằng cách cho đòn gánh xoay trên ót. Đau ơi là đau!
Về mùa khô hạn, người gánh nhiều, nước cạn, múc phải chờ nhau, mất công. Còn về mùa mưa, nước giếng đầy, đường lại trơn trợt; nhiều trường hợp nước về đến gần nhà, do trượt chân hay do gióng mây đứt vì mục - sử dụng đã lâu ngày -, đôộc vỡ toang … Công gánh nước biến thành công dã tràng.
Dù vậy, giếng xa cũng có thuận lợi cho mấy ả mới về nhà chồng. Mấy ả còn e dè, làm dáng làm bộ, đến bữa không chịu ăn cho no hoặc nhà chồng không có khả năng cho ăn no, mấy ả mượn cớ đi gánh nước, ghé nhà cha mẹ đẻ, giở nồi, lục tréc kiếm chút cơm sót trong eo nồi, ăn tạm cho đằm bụng.

Qua thập kỷ 1950, giặc Pháp đem tồn qua lợp doanh trại, tồn lẻn ra cộng đồng, dân mới mua được về gò thùng; có thép sợi, người ta kết gióng thay mây. Cảnh gióng đứt, đôộc vỡ giữa đường không còn nữa hay hiếm đi.
Qua thập kỷ 1960, nhiều nhà đã đóng xe kéo; ngoài dùng chở nông sản, chở vật liệu xây dựng, chở củi rào, xe kéo còn dùng chở nước; số nước mỗi lần chở đến hàng chục thùng. Công sức lấy nước tiết kiệm nhiều. Và qua đó, đàn ông cũng thay dần đàn bà đi lấy nước, chứ gánh nước bằng đôộc hay thùng, hình như được mặc định, ấy là việc của đàn bà.
Bây giờ, không ai đi gánh nước nữa, nước đã vào từng nhà qua mạng lưới ống dẫn. Những chuyện tôi kể ở trên thuộc loại chuyện cổ tích.
Mong các thế hệ sau này đọc để biết đã có những thời cuộc sống khó khăn, vất vả như thế!

Và trên bức ảnh, có bảy người; chắc chắn họ là người làng Điếu. Ảnh vừa nhỏ vừa mờ, tôi không nhận ra ai. Chẳng biết có ai trong bảy người ấy là người thân của tôi không, họ còn sống hay đã chết, họ còn ở làng hay đã phiêu bạt nơi nao. Nghĩ đến đó, một luồng cảm xúc chạy rờn rợn trong người tôi./.

Hoàng Đằng
Tháng 7 năm 2020
(Viết trong những ngày ngồi ở nhà tránh Covid-19)

READ MORE - NỖI NIỀM KHI THẤY LẠI ẢNH GIẾNG LÀNG - Hoàng Đằng

CHÙM THƠ NGÀY GIÃN CÁCH – Châu Thạch



                      Nhà thơ Châu Thạch


ĐỐI THOẠI VỚI THIÊN THẦN ÁO TRẮNG
                            
- Có phải em là thiên thần áo trắng?
- Không phải đâu, em chỉ là con người
- Sao áo em tinh sạch trắng màu tươi
Và em làm những điều thánh thiện?

- Vâng, bởi em, chính là em tình nguyện
Nguyện trong lòng làm từ mẫu cho đời
Những thiêng liêng em nhận ý trên Trời
Và nhân ái di truyền từ cha mẹ

- À như vậy hiểu ra rồi mọi nhẽ
Không người Trời em vẫn cứ thiên thần
Em là người có một tấm lòng nhân
Và có cả một tâm hồn bác ái!

- Em hiệp sĩ của loài người hiện đại
Chận con đường bách hại bệnh nan y
Con vi trùng, con vi rút lui đi
Em áo trắng! Em thiên thần áo trắng!

- Dịch Covid đem bao điều cay đắng
Cả thế gian khuất phục địch vô hình
Chỉ có em, em mặc áo trắng tinh
Đứng án ngữ, chận quân thù xông tới 

- Chúng là dịch, loại quân thù rất mới
Chúng giết người hơn cả quỷ Sa Tan
Không có em, nhân loại sẽ quy hàng
Không có em, thế gian không lối thoát

- Không có em, tiếng sầu thay tiếng hát
Không có em, sự chết đến muôn nhà
Em thiên thần! Người đặt vạn bài ca
Vạn thi phú tôn vinh em chẳng đủ
- Bàn tay em chận nguồn cơn đại lũ
Áo trắng em cháy đại dịch Cô-Vi
Cả thế gian có lẽ không chân quỳ
Nhưng đã nhận em thiên thần áo trắng!!!


CÀ PHÊ MỘT MÌNH

Covid, cà phê ngồi một mình
Nhìn hoa ngắm cảnh đời vẫn xinh
Không gian là của riêng ta vậy
Chỉ có mình ta chỉ một mình!

Nghe tiếng thời gian lướt nhẹ nhàng
Thiên đường có thật ở trần gian
Ung dung ta đứng nhìn dương thế
Đâu có cần chi phải vội vàng

Bỗng nhiên kiến tánh đạo trong thơ
Bỏ chấp thì ngay đến bến bờ
Một cõi Niết Bàn trong đáy cốc
Thiên Đàng tiềm ẩn đóa hoa mơ.


BẠN TÔI HÁT ĐÓ
(Tặng bạn Lê Văn San)

Trốn Covid, nằm nhà, buồn, lên mạng
Nghe bạn tôi hát đó, phía trời xinh
Hát cho tôi nghe lại tiếng ca tình
Đêm Thạch Hãn ngày xưa ngồi dưới nguyệt

Rồi chinh chiến đưa xa nhau mãi miết
Tôi tiền phương, bạn mũ đỏ kiêu hùng
Đêm Cổ Thành tôi lặng ngắm không trung
Mơ một bận được ngồi nghe bạn hát

Năm mươi năm trải bao mùa tan tác
Bạn nhớ tôi, tôi nhớ bạn khôn cùng
Quả đất tròn nhưng trời đất mông lung
Tôi và bạn đường đời chia vạn ngã

Nay nghe tiếng người xưa lòng khôn tả
Nhớ ngày xưa những kỷ niệm quay về
Khuôn mặt người qua muôn dặm sơn khê
Vẫn thấy đậm trong hồn, tình thuở trước

Nghe tiếng hát tưởng như mình bắt được
Cả trời xưa trong ký ức hiện ra
Trường Nguyễn Hoàng, phố Quảng Trị, làng xa
Cầu Bến Đá, Trường Sanh quê của bạn

Đời hai đứa trầm luân vì nhiễu loạn
Nghĩa thân yêu xa cách vẫn không nhoà
Ước một ngày đoàn tụ giữa quê ta
Đêm dưới nguyệt tôi ngồi nghe bạn hát!!!

                                          Châu Thạch

READ MORE - CHÙM THƠ NGÀY GIÃN CÁCH – Châu Thạch

Tuesday, August 11, 2020

ĐỀN MẪU HOA DƯƠNG - Đặng Xuấn Xuyến

 

Ảnh từ trang Wechechin.vn


ĐỀN MẪU HOA DƯƠNG

Đền Mẫu, còn gọi là đền Hoa Dương, toạ lạc ở phố Bãi Sậy, phường Quang Trung, thành phố Hưng Yên, được xây dựng vào thời Trần Nhân Tông, niên hiệu Thiệu Bảo nguyên niên (1279), được dân gian tín là linh thiêng có tiếng.

Theo truyền thuyết, vào thế kỷ XIII khi quân Nguyên xâm lược nhà Tống, vua và hoàng tộc nhà Tống (Trung Quốc) xuống thuyền tháo chạy về phương Nam lánh nạn. Vì không chịu khuất phục trước sự truy bức của quân Nguyên, vua Tống và một số người trong hoàng cung nhảy xuống biển tự vẫn. Thi thể của Dương Quý Phi trôi dạt về vùng cửa sông Phố Hiến, được người dân nước Việt Nam chôn cất chu đáo. Người nội thị của triều đình Bắc quốc là quan thái giám họ Du trong cơn loạn lạc tới Phố Hiến, được nhân dân địa phương giúp đỡ đã tập hợp những người Hoa lánh nạn hưng công xây dựng đền thờ, lập nên làng Hoa Dương. Khi thái giám họ Du mất, dân làng tôn làm Thành Hoàng làng, mộ ông được giữ gìn trong khuôn viên của đình Hiến.

Tam quan của đền được xây theo kiến trúc kiểu chồng diêm hai tầng tám mái, xây cửa vòm cuốn, có một cửa chính và hai cửa phụ. Trên vòm cuốn có bức đại tự ghi kiểu chữ triện: “Dương Thiên Hậu - Tống Triều” và bức chữ Hán: “Thiên Hạ Mẫu Nghi”.

Đền Mẫu có năm cung thờ. Cung thứ nhất là cung thờ Phật, được xây dựng vào những năm 90 của thế kỷ XX do yêu cầu của người dân muốn bái Phật. Cung thứ hai thờ Quan lớn Đệ Nhất. Cung thứ ba thờ vọng Quan lớn Đệ Tam cùng với ban thờ Công Đồng. Cung thứ tư thờ Mẫu, tại cung này có bức hoành phi Mẫu Nghi Thiên Hạ. Cung thứ năm là cung cấm, còn gọi là hậu cung, cung này thờ Dương phi, một bà phi nhà Tống, cùng hai người hầu là Kim Thị và Liễu Thị. Dưới ban thờ có dấu tích một cái giếng nhỏ. Tương truyền giếng vốn là “rốn biển”, khi biển lùi xa để lại dấu tích cùng với hồ Bán Nguyệt cho nên nước giếng luôn đầy vơi theo nước hồ. Bên trái trục dọc này có ban thờ Mẫu Thượng Ngàn, bên phải có ban Cô, ban Cậu.

Trong đền lưu giữ nhiều di vật quý như kiệu võng, long đình, long sàng, long kỷ có niên đại thế kỷ 18, 19 và 15 đạo sắc phong từ triều Lê đến triều Nguyễn, cùng nhiều bức hoành phi, câu đối, đại tự ca ngợi tấm gương trung trinh tiết liệt của Dương Quý Phi.

Giữa sân đền có cây cổ thụ. Theo truyền thuyết, cây được kết hợp bởi ba cây sanh, đa, si quấn quýt lấy nhau tạo thế chân kiềng vững chắc bao trùm toàn bộ ngôi đền. Đây là cây cổ thụ độc đáo nhất ở Bắc Bộ, đã có tuổi gần bảy trăm năm.

Đền Mẫu thờ Dương Quý Phi ở thành phố Hưng Yên được dân gian ca tụng là một trong những ngôi đền linh thiêng ở miền Bắc về cầu tình duyên, cầu con cái và cầu của cải.

Lễ hội đền Mẫu diễn ra từ ngày 10 đến 15 tháng 3 âm lịch. Trong ngày hội, sân đền tổ chức thi đấu cờ, thi đấu tổ tôm, chọi gà; buổi tối hát chầu văn, hầu đồng. 

                   .....................

(Trích từ VÀO CHÙA LỄ PHẬT NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT của Đặng Xuân Xuyến ; Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin 2006)

*

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

.

READ MORE - ĐỀN MẪU HOA DƯƠNG - Đặng Xuấn Xuyến

SỢI TÓC - Thơ Lục bát 2020 - Lê Kim Thượng

 

Nhà thơ Lê Kim Thượng


Lục Bát 2020 

      LÊ KIM THƯỢNG      

 

SỢI  TÓC 

 

Em qua đường nắng ngọt hương 

Hàng Cây Gạo vẫn ven đường xôn xao 

Thương em da trắng, má đào 

Làn môi, sóng mắt gửi trao dỗ dành 

Áo tà trắng xóa mỏng manh 

Nghiêng nghiêng nón lá, thanh thanh dáng hiền 

Nắng qua bóng lá xiên xiên 

Gió đùa sợi tóc bay nghiêng môi cười 

Đỏ hồng đôi má hổ ngươi 

Dịu dàng lời nói, nụ cười giai nhân 

Bên em hơi thở rất gần 

Mùi hương con gái lâng lâng bềnh bồng 

Ru em... lòng ấp vào lòng... 

Võng đưa chao mãi... hương nồng Phù Dung 

Đôi tim hòa một nhịp chung 

Hoa Thiên Đường nở trên vùng băng trinh... 

                 *   

Tóc xưa buông xõa gợi tình 

Tặng tôi sợi tóc, đinh ninh lời thề

 Dẫu đi tám hướng sơn khê 

Vấn vương sợi tóc... tìm về thăm nhau 

Hoa trôi, nước chảy về đâu? 

Bên sông sóng vỗ chân cầu buồn tênh 

Cầu quê lắt lẻo chông chênh

 Một bên nhung nhớ... Một bên bồi hồi 

Hai người chung một trăng soi

 Cô đơn bên ấy... lẻ loi bên này 

Tình ta, như sợi khói bay 

Lắt lay theo gió Heo May cuối mùa 

Tình ta, mưa dội, gió đùa 

Để Lầu Hoàng Hạc bốn mùa hoàng hôn 

Tình ta, bới đất đem chôn 

Biết đâu đất có tâm hồn... buồn chung? 

“Đôi ta chẳng đặng, thì đừng 

Phận duyên Trời định... nửa chừng xa nhau...”                     

 

      Nha Trang, tháng  8. 2020 

           LÊ KIM THƯỢNG

 

 

 

 

 

 

 

“...” Ca dao

READ MORE - SỢI TÓC - Thơ Lục bát 2020 - Lê Kim Thượng

MỘT THỜI - Thơ Đàm Ngọc Năm

 Tác giả Đàm Ngọc Năm


MỘT THỜI

Leng keng, leng keng...
Chuyện xưa vọng lại
Một thời bươn chải
Tất cả vì thống nhất Non sông.

Leng keng, leng keng...
Những chuyến tàu điện đêm Đông
Nghe vang xa thế!
Nhớ thời xưa bỗng lòng chợt nghĩ
Mộc mạc thời khó khăn
Vẫn vang mãi đến bây giờ!

Như một giấc mơ...
Tự nhiên muốn quay về thời mộc mạc
Đơn giản thôi
Đâu cần nhiều tiền bạc
Dân thấy yên lòng trong mỗi bước ta đi!

                                            Đàm Ngọc Năm
                       


*****
Đàm Ngọc Năm
Khu đô thị Việt Sing, P.An Phú, TP Thuận An, Tỉnh Bình Dương.
READ MORE - MỘT THỜI - Thơ Đàm Ngọc Năm

LUẬT BẰNG TRẮC TRONG THƠ LỤC BÁT - Phạm Đức Nhì


        
                  Nhà bình thơ Phạm Đức Nhì


Người làm thơ Đường Luật phải biết và chấp nhận bó mình trong niêm luật vần đối của nó. Thơ lục bát chỉ có luật, vần nên thi sĩ không bị niêm, đối “kềm kẹp”. Trong bài viết ngắn này tôi chỉ bàn về luật.

Đọc xong chắc có người thắc mắc “Sao tui đọc sách và những bài viết trên mạng thấy luật bằng trắc trong thơ lục bát cũng rườm rà, rắc rối lắm mà sao ông viết lại đơn giản quá vậy? Có ‘ăn bớt’ không đó cha nội?”

Câu trả lời của tôi:

Sau một thời gian dài làm thơ lục bát nhiều thi sĩ đã “vượt rào”, phớt lờ luật tắc. Độc giả mới đầu còn thấy lạ lạ, kỳ kỳ. Đọc riết rồi thấy cũng “ổn” nên bảo nhau “Không có gì mà ầm ĩ”. Dần dà một vài luật tắc rườm rà đó “tuân theo cũng được mà phớt lờ cũng không sao”. Đó là quy luật tiến hóa của thi ca.

Vì thế ở đây tôi chỉ nói đến những điểm luật cốt yếu – ở thời điểm này mà không tuân thủ thì bài thơ sẽ bị chê là  “mất tính lục bát”.

1/
Chữ thứ 6 câu lục, chữ thứ 6 và chữ thứ 8 câu bát phải là thanh bằng.
2/
Chữ thứ 4 câu bát phải là thanh trắc.
Mười chữ còn lại thì tự do - bằng cũng được mà trắc cũng không sao.
3/
Nếu chữ thứ 6 của câu bát thanh huyền (dấu huyền) (thí dụ 1) thì chữ thứ 8 phải thanh ngang (không dấu) và ngược lại (thí dụ 2).
Thí Dụ 1:

Ba đi Hà Giang mua chè
Kêu con lên giúp đem về Hà Nam

Trong thí dụ này tôi “chơi nổi”, chọn 10 chữ còn lại toàn là thanh bằng. Nếu bạn không thích thì tự do thay đổi.

Thí dụ 2:

Bác Cả bán sáu mẫu vườn
Để lại một mẫu chú Hương cất nhà

Ở đây tôi chọn 10 chữ còn lại là thanh trắc. Dĩ nhiên, bạn cũng có toàn quyền thay đổi.
Luật bằng trắc của lục bát chỉ có thế. Bạn chỉ cần để ý 4 chữ (in đậm) – 3 bằng một trắc - thì thơ lục bát của bạn luật sẽ vững như bàn thạch.

Phạm Đức Nhì
nhidpham@gmail.com


CHÚ THÍCH:

1/ Trong trang Lục Bát Việt Nam trên Facebook có bài thơ Nước Mắt Ngày Gặp Lại của Thanh Tu có 2 câu:

Hôm nay mình gặp lại nhau
Ôm chặt bạn mà nỗi đau nhói lòng

Với luật thơ lục bát hiện hành thì nó phạm luật (chữ “mà” phải chuyển thành chữ khác có thanh trắc mới đúng). Với con mắt người bình thơ như tôi thì bài thơ thất bại một cách oan uổng; ý tứ có hay tôi cũng ngoảnh mặt làm ngơ. Nhưng biết đâu mấy chục năm nữa cách nhìn nhận luật thơ phóng khoáng hơn, bài Nước Mắt Ngày Gặp Lại (hay những bài phạm lỗi tương tự) sẽ được bình phẩm một cách cởi mở hơn

READ MORE - LUẬT BẰNG TRẮC TRONG THƠ LỤC BÁT - Phạm Đức Nhì

CHÙM THƠ LÊ VĂN TRUNG





MAI NGƯỜI VỀ KHÔNG

Mai người về không mà tôi chờ
Tàu người đi, tàu qua nhiều ga
Người biết ga nào tôi đứng đợi
Dù trời giăng mưa hay sương nhòa

Mai người về không mà tôi mong
Thuyền đưa người qua mấy dòng sông
Người biết bến nào tôi đứng đợi
Lòng chưa chớp biển đã mưa nguồn

Mai người về không mà tôi vui
Tôi rải thơ bay cùng mây trời
Dù rét đầu đông hay nắng hạ
Dù gió nhàu phai vàng áo ai

Mai người về không sao tôi buồn
Đường thì xa trời thì mênh mông
Có biết lòng tôi như cơn gió
Thổi về đâu cho tóc tỏa hương

Mai người về?
Thôi
Người không về!
Tôi thắp cho hồng những giấc mơ
Trăm năm ai nhớ câu hò hẹn
Tình ơi vời vợi nỗi mong chờ.

Lê Văn Trung
5.11.19


MÀU SON CŨ

Ta rót mãi vào ly đời quên lãng
Giọt tình xưa ta uống buổi xa người
Vành ly vỡ còn thơm mùi son cũ
Và lệ người còn mặn cháy trên môi

Năm mươi năm Ta về Hiên quán vắng
Màu thu xưa vàng úa giấc mơ buồn
Dòng rượu chảy như một dòng suối cạn
Mà hồn ta ghềnh đá đã tai ương

Ta thấy ta trong đáy sầu lạnh buốt
Rượu vỡ tràn, ly rượu vỡ Buồn tênh
Ta thắp nốt ngọn lửa chiều hiu hắt
Soi đời nhau về gọi giữa điêu tàn

Vành ly vỡ còn thơm mùi son cũ
Ta uống vì muôn vạn cõi nhân gian
Ta uống vì ta một đời dang dở
Ta uống vì em, vì nỗi ăn năn

Ly rượu vỡ còn in màu son thắm
Giọt lệ hồng rướm mặn cả đời nhau
Em xa hút cuối phương người quên lãng
Áo tình xưa năm tháng có phai nhàu?


MÂY TRẮNG BÊN TRỜI

Lòng thương hoài những áng mây chiều
Cứ bay mỏi về phương trời cố xứ
Và thương ta suốt một đời du tử
Thương em mịt mờ xa lắc mù tăm

Năm tháng buồn trôi, năm tháng lặng thầm
Năm mươi năm như tiếng thở dài vô tận
Năm mươi năm những gập ghềnh bên trời lận đận
Ta nợ người hay nợ chính đời ta

Ta nợ ta hay nợ cả quê nhà
Chìm dâu biển không thể nào trả nổi
Thơ ta viết không đủ lời xương máu
Cũng lặng chìm trong suốt cõi nhiễu nhương

Giấc mơ xưa hương sắc cõi thiên đường
Ta bỏ lại tình ta như bỏ lại linh hồn đá sỏi
Ta bỏ lại đời ta bên những dòng đời mệt mỏi
Ta bỏ lại tình em hiu hắt tuổi thu vàng

Năm mươi năm, ừ nhỉ, năm mươi năm
Ta vẫn ngóng hoài những màu mây bên trời cố xứ
Ta vẫn đi hoài suốt một đời du tử
Vẫn hoang mang lạc mất một phương về

Thổi qua đời mình những ngọn gió sắt se
Không mang nổi tình nhau qua ghềnh qua suối
Mặt trời ta chiều nay đã hoàng hôn réo gọi
Còn mong manh sợi mây trắng bên trời.


SAO NGƯỜI KHÔNG VỀ

Sao người không về trên toa tàu tình nhân
Tôi con đường sắt chạy song song
Sao người không về
Sân ga nhỏ
Sân ga tôi buồn suốt một mùa đông

Sao người không về trên chiếc thuyền hoa
Dòng sông tôi bãi quạnh đôi bờ
Sao người không về trên bến cũ
Bến đời tôi hiu hắt trong mưa

Ai kể trong đêm chuyện tình buồn
Ai kể về tôi hay về người
Bàn tay níu vói phương trời lạ
Sợi tóc nào chìm trong sương phai

Sao người không về
Tôi như mùa đông
Sao người không về
Mang theo hoàng hôn
Hồn tôi nắng úa bên bờ mộng
Tình tôi bọt sóng tàn bến sông

Sao người không về
Đêm trăng mù sương
Sao người không về
Tôi quán ven đường
Lòng tôi? Ly khách!
Tình ly khách!
Năm mươi năm một câu chuyện buồn

Sao người không về
Sau chiếc xe tang
Sao người không về
Nến cháy hai hàng
Còn tiếc gì nhau đôi dòng lệ
Còn đau gì nhau lời chia tan.


SỢI TÓC

1*
Em cầm sợi tóc trên tay
Nghe trăm năm gọi mộng ngày tàn phai
Thấy trong xương cốt hình hài
Nỗi tro bụi đã chia bày tử sinh

Sợi buồn rụng cõi lãng quên
Sợi đau rụng tím cuộc tình nhân gian
Sợi tan sương khói điêu tàn
Sợi trôi theo sóng vỡ tràn bến sông

2*
Anh ngồi nhìn những màu mây
Bay không định hướng bay hoài nghìn năm
Rồi một hôm lòng chợt buồn
Màu mây năm cũ bay không trở về

Người cầm sợi tóc trên tay
Rằng mây năm cũ tóc này là đây
Người cầm sợi tóc trên tay
Rằng tình duyên đã có ngày trùng lai

Tạ ơn trời biển sâu dày
Màu mây thương hải còn đây tóc người

3*
Đếm từng sợi tóc em bay
Anh nghe ngày nối tiếp ngày tìm nhau
Phương em tóc có xanh màu
Thì xin em chải tóc vào trong thơ
Tóc người là lụa là tơ
Tỏa hương diệu ảo mộng hồ sương xanh.

Lê Văn Trung
19.10.19


U HOÀI

Câu thơ viết trăm lần ta xé bỏ
Cuộc tình sầu xin gửi lại cho em
Ôi lữ khách trần gian là quán trọ
Đường trăm năm hun hút mộng không thành

Thuyền lênh đênh trên mịt mù biển sóng
Ta lênh đênh trong cuộc thế u buồn
Em đâu đó giữa lòng đời bão động
Có bao giờ chợt nhớ một người không?

Có bao giờ nhuốm chút hồn sương khói
Thắp trong chiều giọt lệ ấm hoàng hôn
Có bao giờ trong đợi chờ mòn mỏi
Chợt thấy lòng mình quá đổi mênh mông?

Em đâu đó giữa trùng vây lận đận
Chút hương phai nhuộm lại mắt môi chiều
Có thấy chăng cuối phương trời vô tận
Một bóng thuyền neo đậu bến cô liêu

Ôi lữ khách trần gian là quán trọ
Sao lòng hoài mơ mãi cuộc trăm năm?!


VẪN CÒN THĂM THẲM TỪNG GIỌT SƯƠNG

Tôi vẫn biết vòng tay mình bé nhỏ
Triệu vòng ôm không ấm cuộc tình người
Nỗi chia biệt chảy trăm dòng dang dở
Mùa tình xưa vàng úa lá thu phai

Tôi vẫn biết trái tim mòn mỏi nhịp
Mãi dội vào bờ bải bến hoang vu
Năm mươi năm cửa hoàng hôn đã khép
Tình hoàng hôn từ đấy cũng xa mù

Tôi vẫn biết men rượu chiều đã nhạt
Em không về tôi rót cạn đời tôi
Tôi rót mãi vào trùng trùng quên lãng
Máu trong tim từng giọt chảy ngậm ngùi

Ôi dẫu biết một ngàn năm ảo mộng
Mà ngàn năm còn vọng mãi phương người
Mắt mù sương hay mùa sương quá mỏng
Đã tan vào thăm thẳm giấc mơ tôi.


VỀ ĐI! VỀ ĐI THÔI!

Vẫn nao nức một lần quay trở lại
Tìm vầng trăng chìm cuối bến sông người
Dù lòng đã heo may mùa thu cũ
Màu tình xưa còn ấm lệ trên môi

Vẫn quay quắt sân ga chiều gió rối
Đếm thời gian từng giọt nắng thu vàng
Nắng buồn rụng trên vai người chới với
Nỗi nhớ người giọt nắng buồn chưa tan

Thôi về đi một lần dù không kịp
Chiếc thuyền xưa chìm giữa bến sông người
Thôi về đi bóng đời nhau đã khuất
Còn bên trời một giọt lệ chưa rơi!


CHẢY SUỐT MỘT DÒNG TA

Rồi như con nước không ngừng chảy
Chảy một đời chưa cạn hết đời nhau
Em thì mãi tận phương người xa biệt
Ta dòng xuôi sóng mỏi vổ chân cầu

Đường vạn nẻo, sông trăm dòng xuôi ngược
Sân ga đời còn lại chiếc toa không
Ai biết được bên thềm ga mòn mỏi
Bóng một người ngồi đợi mấy thu đông

Nếu có thể một lần quay trở lại
Thì trăm năm đâu lỗi hẹn tương phùng
Em thì vẫn như hạc vàng bay mãi
Lầu trăng xưa rêu úa phủ thềm hoang

Ta ngồi đợi với năm cùng tháng tận
Vành trăng khuya cũng bạc trắng mây trời
Em đâu đó những phương người lận đận
Lòng thu xưa còn sót chút tình vui ?

Thôi đành vậy, không đành lòng ngưng chảy
Ta miệt mài chảy suốt cuộc đời ta
Rồi bất chợt một ngày kia ta thấy
Cuối phương người hun hút bóng em qua.

Lê Văn Trung
26. 02. 20

READ MORE - CHÙM THƠ LÊ VĂN TRUNG