Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, October 26, 2026

DÒNG ĐỜI – Thơ Lê Kim Thượng

 



Dòng Đời
1.
Đưa tay vuốt mái tóc em
Sợi thương, sợi nhớ nhẹ mềm trong anh
Tiếng em giọng nói thanh thanh
Dịu dàng hai tiếng “Em…Anh…” ngọt ngào
Giữ tình chẳng để hư hao
Sắt son thề hẹn trước sau một lòng
Tặng en chín chín đóa hồng
Tình yêu tha thiết tấm lòng tinh khôi
Gió đưa tà áo buông lơi
Trắng màu trinh nữ, mây trời bay bay
Thề bồi “Muối mặn… gừng cay…”
Đậm đà tha thiết đắm say tình nồng
Tình yêu, yêu thật một lòng
Vượt qua gian khổ chờ mong tháng ngày
Người yêu nửa tỉnh, nửa say
Nụ hôn đằm thắm, vòng tay ấm nồng…
 
2.
Còn gì nhớ nhớ mong mong
Cuộc tình rơi xuống giữa dòng đời trôi
Con tim thao thức bồi hồi
Sao nghe tê tái đơn côi một mình
Lỡ vay em một mối tình
Trăm năm chưa trả, riêng mình, riêng đau
Bao giờ cho hết mưa Ngâu
Ngưu Lang – Chức Nữ qua cầu thành đôi
Xưa rồi lâu lắm xa xôi
Một thời hạnh phúc, một thời yêu xa
Ngày em làm vợ người ta
Thơ tình gói lại làm quà trao tay…
Mừng vui gặp lại hôm nay
Vẹn nguyên kỷ niệm những ngày thương đau
Mười năm mới gặp nhau
Tóc xưa nay đã bạc màu thời gian…
 
                              Nha Trang, tháng  07. 2026
                                    LÊ KIM THƯỢNG

READ MORE - DÒNG ĐỜI – Thơ Lê Kim Thượng

NGUYỄN NGUYÊN AN - MỘT ĐỜI CẦM BÚT GIỮA NHÂN SINH VÀ MIỀN TÂM LINH - Nguyễn Khắc Phước



Nguyễn Nguyên An – Một đời cầm bút 

giữa nhân sinh và miền tâm linh


Có những người viết đi qua đời sống văn học bằng những tuyên ngôn mạnh mẽ, những cuộc cách tân gây chú ý hoặc những tác phẩm ngay lập tức tạo nên tiếng vang. Lại có những người cầm bút chọn một hành trình lặng lẽ hơn: quan sát con người, đi vào những mất mát âm thầm, gom nhặt những trải nghiệm từ cuộc đời rồi gửi chúng vào truyện, thơ, bút ký và những trang suy tưởng. Nguyễn Nguyên An thuộc về kiểu người viết thứ hai.

 

Nguyễn Nguyên An là bút danh của Nguyễn Văn Vinh, một cây bút gắn với đời sống văn học Thừa Thiên Huế, sáng tác ở nhiều thể loại như văn xuôi, thơ, tạp văn, bút ký và những bài viết giới thiệu văn chương. Ông sinh ngày 1-1-1952, mất ngày 13-2-2024. Trong những tháng cuối đời, ông vẫn sống tại phường Thủy Xuân, thành phố Huế và vẫn tiếp tục viết.

 

Điều đáng chú ý ở Nguyễn Nguyên An là cách ông nhìn nghề văn. Ông từng xem thơ là “tay trái”, còn văn xuôi mới là lĩnh vực sáng tác chính. Chi tiết tưởng như nhỏ ấy lại nói khá nhiều về một người viết ý thức rõ về sở trường và con đường của mình. Văn xuôi cho ông không gian rộng hơn để đi vào số phận, hoàn cảnh và những chuyển động khó thấy bên trong con người. Tuy vậy, thơ không vì thế mà trở thành một cuộc dạo chơi. Những bài thơ còn lại cho thấy ở đó có một tiếng nói riêng, nhiều suy tư về tình yêu, lòng chân thật, nhân sinh, sự sống và cái chết.

 

Nếu nhìn vào những tác phẩm đã được xác nhận, có thể thấy nghề văn của Nguyễn Nguyên An được gây dựng từ sự bền bỉ hơn là từ một khoảnh khắc nổi tiếng. Ngọn đèn vẫn tỏ, tập truyện ngắn do Nhà xuất bản Công an nhân dân ấn hành năm 2006, gồm 25 truyện, là một dấu mốc đáng chú ý. Sau đó là Trường đại học của tôi, truyện dài xuất bản năm 2007; Bầu trời cổ tích, một tác phẩm xuất bản năm 2010; và tập thơ Cơn mê của gió do Nhà xuất bản Thuận Hóa ấn hành năm 2011. Tư liệu năm 2010 còn cho biết ông đã có gần mười tác phẩm văn xuôi, cho thấy phần di sản được nhận diện hôm nay có thể vẫn chưa phải là toàn bộ những gì ông từng viết và xuất bản.

 

Điều thống nhất trong những trang văn được giới thiệu là sự quan tâm của Nguyễn Nguyên An đối với con người ở những thời điểm dễ tổn thương nhất. Đó có thể là những con người đi qua chiến tranh, những phận đời chịu mất mát, những người mắc sai lầm rồi phải đối diện với hậu quả, những người sống trong một môi trường khắc nghiệt hoặc đơn giản là những con người phải mang theo một vết thương không thể nhìn thấy từ bên ngoài.

 

Trong Kỷ vật, chiến tranh không chỉ được nhìn qua những biến cố lớn mà còn thông qua nỗi đau của những con người cụ thể: một người phụ nữ nằm lại ở Trường Sơn, một người trở về với tuổi trẻ và sức khỏe đã bị bào mòn. Trong Bầu trời cổ tích, giữa chiến tranh và bất trắc, vẫn có chỗ cho tình người và một thứ ánh sáng của sự gắn bó. Còn Đất sau mưa gợi lên những day dứt về thời gian và mất mát. Từ những câu chuyện ấy, có thể thấy Nguyễn Nguyên An không dừng ở việc kể một biến cố. Ông muốn đi sâu hơn, vào phần con người còn lại sau biến cố: họ chịu đựng ra sao, giữ lấy điều gì, đánh mất điều gì và có thể tiếp tục sống bằng cách nào.

 

Một bài phê bình về ông từng dùng cụm từ “nỗi buồn rực rỡ”. Đó có lẽ là một gợi ý thú vị để đọc Nguyễn Nguyên An. Nỗi buồn trong văn ông không hoàn toàn dẫn con người đến tuyệt vọng. Có những khi, chính trong mất mát, lòng nhân hậu, sự hy sinh và phẩm giá lại hiện lên rõ hơn. Cái “rực rỡ” không nằm ở bản thân đau khổ mà ở phần người vẫn không bị đau khổ hủy diệt.

 

Tinh thần ấy còn xuất hiện trong Trường đại học của tôi, tác phẩm khai thác một thế giới hoàn toàn khác: đời sống của một người phạm tội, bị truy nã rồi trải qua những năm tháng trong trại tạm giam, trại cải tạo. Ở một môi trường có nhiều giới hạn, xung đột, sợ hãi và tính toán, Nguyễn Nguyên An vẫn tìm cách quan sát con người từ những biểu hiện rất đời thường. Những trò ma mãnh, sự ích kỷ, những lựa chọn sai lầm, nhưng cả khả năng thay đổi, lòng bao dung và những bài học phải trả giá bằng đau đớn đều trở thành chất liệu văn chương.

 

Nhan đề Trường đại học của tôi vì thế gợi ra một ý nghĩa rộng hơn: cuộc đời cũng có thể là một trường học, nhưng không phải bài học nào cũng đến từ điều tốt đẹp. Có những bài học chỉ xuất hiện khi con người đối diện với giới hạn, sai lầm, tổn thất và hậu quả do chính mình tạo ra.

 

Ở phương diện đó, nghề văn đối với Nguyễn Nguyên An dường như không tách rời việc suy ngẫm về đạo đức và nhân sinh. Ông không viết chỉ để kể chuyện. Phía sau nhiều câu chuyện là một câu hỏi: con người sẽ sống như thế nào sau khi bị thử thách?

 

Chính câu hỏi ấy tạo một chiếc cầu nối tự nhiên từ văn xuôi sang thơ và từ văn chương sang đời sống tâm linh.

 

Tập thơ Cơn mê của gió cho thấy một Nguyễn Nguyên An khác nhưng không xa lạ. Nếu văn xuôi cần nhân vật, hoàn cảnh và sự kiện để đặt ra vấn đề về số phận, thơ cho phép ông đi thẳng vào những khoảnh khắc nhận thức. Người đọc gặp ở đó những suy nghĩ về không gian, thời gian, tình yêu, sự sống, cái chết, sự chân thật và giới hạn của những ham muốn của con người.

 

Ở bài Không, nhà thơ hướng tới những nguyên tắc sống như không làm khổ mình, không làm khổ người khác, không tự lừa dối bản thân và không quay lưng trước nỗi đau của người đời. Với Nhân, ông sử dụng hình ảnh gieo hạt để nói về lòng nhân ái: điều thiện được gieo xuống, nảy mầm rồi thành cây, thành quả. Còn Phía không tìm lại gợi một nghịch lý rất gần với tư tưởng thiền: con người càng mải miết chạy theo điều mình muốn, đôi khi càng xa nó; chỉ đến khi biết dừng lại, ta mới có cơ hội nhìn thấy điều quan trọng.

 

Ở đây cần một sự thận trọng. Những yếu tố thiền, tâm linh và suy niệm về cách sống xuất hiện khá rõ trong tác phẩm Nguyễn Nguyên An, nhưng tư liệu hiện có chưa cho phép khẳng định ông là tín đồ của một tôn giáo cụ thể. Điều có thể nói chắc chắn hơn là ông có một sự quan tâm sâu đến đời sống tinh thần và những câu hỏi mà tôn giáo, triết học và văn chương từ lâu cùng chia sẻ: con người từ đâu tìm được sự bình an, điều gì khiến đời sống có ý nghĩa, lòng nhân ái có vai trò gì, và con người có thể giải thoát mình khỏi sự chi phối của những ham muốn đến mức nào.

 

Cảm thức ấy hiện rõ hơn trong những bài bút ký cuối đời. Trong Nơi lập thiền tốt nhất, từ một chuyến đi Lăng Cô, qua đèo Hải Vân rồi dừng ở Bãi Chuối, Nguyễn Nguyên An không chỉ ngắm núi, biển, mây và sương. Trước thiên nhiên, ông hướng suy nghĩ về sự thanh tịnh, về việc ngồi thiền trước biển và cả khả năng hình thành một không gian để tăng ni, cư sĩ có thể tu tập, học tập, nghỉ dưỡng. Bài viết vì vậy vượt khỏi giới hạn của một bút ký du lịch thông thường, trở thành nơi gặp gỡ của thiên nhiên, tâm linh và khát vọng tìm kiếm sự tĩnh lặng.

 

Trong Bí ẩn của biển, biển lại trở thành một hình ảnh để suy ngẫm về sự đầy và vơi trong đời sống. Con người thường cố lấp đầy mình bằng mong muốn và sở hữu, nhưng càng tích lũy đôi khi càng thấy thiếu. Biển, trong cách nhìn của nhà thơ, gợi đến khả năng cho đi. Từ đó xuất hiện một quan niệm giản dị nhưng có chiều sâu: đời sống tinh thần không giàu lên chỉ bằng việc giữ mọi thứ cho mình; biết trao tặng cũng là một cách làm cho tâm hồn phong phú hơn.

 

Có lẽ chính sự giao thoa giữa nghề văn và đời sống tâm linh làm nên nét riêng đáng chú ý ở Nguyễn Nguyên An. Ông không biến văn chương thành một bài thuyết giáo. Những suy niệm thường đi ra từ trải nghiệm: một chuyến đi, một cảnh biển, một dòng sông, một người mẹ, một người nghệ sĩ, một phận người đi qua chiến tranh.

 

Trong Về thượng nguồn sông, cảnh Dương Hòa, sông Hương, hồ Tả Trạch và những khu vườn không chỉ được miêu tả như phong cảnh. Tác giả chú ý đến sự cần cù, chân tình, lòng hiếu khách của cư dân, đến những việc nhỏ như cách người ta chăm sóc khách hay giữ gìn môi trường. Thiên nhiên ở đây là cánh cửa để ông nhìn vào văn hóa và đạo đức của cộng đồng.

 

Trong Mẹ – mặt đất bao dung, đời sống tinh thần ấy trở về nơi gần gũi nhất: gia đình. Nguyễn Nguyên An nhớ lại những năm tháng mẹ chăm sóc mình khi ốm đau, tai nạn, những lần người mẹ phải vất vả chạy chữa cho con. Không cần một hệ thống tư tưởng cầu kỳ, hình ảnh người mẹ được ví như mặt đất âm thầm nâng đỡ, nuôi dưỡng và chở che đã đủ cho thấy cách ông nhìn về lòng bao dung.

 

Ngay cả khi viết về những người cầm bút khác, Nguyễn Nguyên An cũng thường tìm đến phần đời phía sau câu chữ. Với Chu Vương Miện, ông chú ý đến sức sáng tạo bền bỉ, vốn lịch sử, Hán Nôm và những suy tư về thân phận. Khi viết về Ngô Thái Dương, ông không chỉ khen thơ mà cố gắng nhận ra cách dùng ngôn từ, tổ chức ý và những chuyển mạch riêng. Điều đó cho thấy nghề văn, trong quan niệm và thực hành của Nguyễn Nguyên An, còn bao gồm việc đọc, lắng nghe và nhận ra cá tính của những người cùng viết.

 

Một trong những chi tiết xúc động nhất về cuộc đời cầm bút ấy nằm ở những ngày cuối. Bút ký Len lỏi mưa Hồng Hạ cuối năm được đăng ngày 27-1-2024, ghi lại chuyến đi vào cuối năm 2023. Chỉ ít lâu sau, ngày 13-2-2024, ông qua đời. Nhưng trên hành trình gần cuối đời ấy, Nguyễn Nguyên An vẫn quan sát cảnh vật, vẫn quan tâm đến đồng bào địa phương, cách họ đón khách, cách họ giới thiệu văn hóa của cộng đồng mình. Người cầm bút vẫn đang nhìn, ghi nhận và viết.

 

Có lẽ không cần một tuyên ngôn nào rõ hơn về nghề văn.

 

Viết, với Nguyễn Nguyên An, dường như là một cách sống lâu dài. Đi qua chiến tranh, số phận, tù tội, tình yêu, người mẹ, thiên nhiên, thiền và những cuộc gặp gỡ, ông luôn trở lại với con người. Đằng sau những đổi thay của hoàn cảnh, điều ông tìm kiếm vẫn là lòng nhân hậu, sự chân thật, khả năng yêu thương và một khoảng tĩnh lặng để con người nhìn lại chính mình.

 

Nguyễn Nguyên An mất năm 2024, nhưng hồ sơ về đời văn của ông vẫn còn những khoảng trống. Danh mục tác phẩm chưa được xác lập hoàn toàn, nhiều sáng tác vẫn cần được sưu tầm và đọc trực tiếp. Bởi vậy, có lẽ chưa nên vội đưa ra những kết luận lớn về vị trí của ông trong lịch sử văn học Huế.

 

Nhưng từ những gì còn lại, có thể nhận ra khá rõ chân dung một người viết: lấy văn xuôi làm con đường chính, bước sang thơ bằng một tâm thế suy nghiệm, tìm đến thiền và miền tâm linh như một cách đối thoại với đời sống, đồng thời luôn giữ sự chú ý đến những con người bình thường.

 

Một đời văn có thể khép lại khi người viết dừng bút. Nhưng những câu hỏi họ gửi vào tác phẩm thì không nhất thiết kết thúc cùng họ. Với Nguyễn Nguyên An, đó là câu hỏi về cách con người gìn giữ lòng nhân hậu sau mất mát, giữ sự chân thật giữa những va đập của đời sống và tìm được sự bình an khi đã đi qua đủ những được – mất của một kiếp người.

 

Có lẽ cũng từ điểm ấy, nghề văn và miền tâm linh trong Nguyễn Nguyên An gặp nhau: đều bắt đầu từ việc nhìn sâu vào con người, và cuối cùng đều hướng tới một mong muốn giản dị – hiểu người hơn, hiểu mình hơn và sống nhân hậu hơn.

READ MORE - NGUYỄN NGUYÊN AN - MỘT ĐỜI CẦM BÚT GIỮA NHÂN SINH VÀ MIỀN TÂM LINH - Nguyễn Khắc Phước

HUẾ - XỨ CỦA MẮM TÔM CHUA VÀ HẾN - Trần Hòa

 


HUẾ - XỨ CỦA MẮM TÔM CHUA VÀ HẾN

Trần Hòa

 

Tối qua rảnh rỗi, tôi thức khuya coi hết tập 2 của chương trình ‘Quán Nhà Ha Ha’ phát sóng mỗi tối thứ Bảy hằng tuần trên YouTube. Vì Hàn Quốc trước Việt Nam 2 tiếng nên tôi phải thức khuya để coi cho hết.

Tổng kết những ấn tượng của tôi về chặng đường ở Huế này là ly chè ở chợ quê có giá 5000 đồng (chưa tới 20 cent Mỹ); O chủ nhà tự làm mắm tôm chua rất độc đáo, và những phương ngữ rất Huế mà dàn nghệ sĩ miền Nam và miền Bắc nghe qua không hiểu được.

Kỉ niệm xưa ùa về.

Thập niên 80, thời Bao Cấp, và đầu thập niên 90, mỗi lần có bà Mụ ở Huế vào Quảng Nam chơi là chúng tôi có bưởi Thanh Trà, bánh xu xuê (phu thê) và lâu lâu có thêm mắm tôm chua.

Bà Mụ là em ruột của Mệ tôi, tức bà Ngoại tôi. Mệ tôi quê ở làng Hiền Lương, còn gọi là Làng Rèn. Làng Hiền Lương nổi tiếng trong thơ ca không phải bởi vì nó gần Vĩ Tuyến 17, mà là vì nó có một vị quan Thượng Thư rất nổi tiếng là Trương Như Cương. Ngài Trương Như Cương vốn là nhạc phụ của vua Khải Định, nhưng Khải Định không hề đụng tới vị hoàng hậu, con của ngài Thượng Thư cũng như các vị phi tần  khác. Khải Định thích ăn mặc thời trang, thời đó gọi là diêm dúa, nửa Tây nửa Ta, có nghi án đồng tính. Sau này có nàng cung nữ mang bầu, sanh ra vua Bảo Đại, từ đó chấm dứt nỗi sợ tuyệt tự của hoàng gia Huế.

Vị Hoàng hậu họ Trương nghe nói sau này về tu ở chùa.

Đó là huyền thoại về ngài Trương Như Cương và làng Hiền Lương. Chồng của Mụ tôi là con cháu của cụ Trương Như Cương nên rất quý phái, trong nhà có một cái tủ kiếng đựng những thứ đắt tiền của cung đình, cũng như đồ cổ.

Đó là ấn tượng của tôi về gia đình của Mụ ở Huế. Mỗi lần theo ba mẹ tôi về làng ở huyện Phong Điền là tôi có dịp ngủ lại nhà của Mụ. Ấn tượng còn mãi tới bây giờ là bữa cơm tối nhà Mụ, dù trong thời Bao Cấp luôn ê hề thịt gà, thịt vịt, nem chả và phần tráng miệng. Đó là những bữa cơm thực sự là sơn hào hải vị lúc đó. Ôn của tôi sống một cuộc đời rất sang chảnh nhờ bà Mụ buôn bán giỏi, ở ngay bến xe Lê Độ gần cầu Phú Xuân.

Và đó là Huế trong kí ức của tôi. Tết vừa rồi tôi về thăm làng của ba tôi. Kí ức của đám tang mệ tôi lại trở về. Mệ tôi làm dâu ở làng Kế Môn, tức là làng vàng hay làng kim hoàn. Mẹ tôi lúc cuối đời luôn nhắc tới ông nội của mẹ là Lãnh Binh Đề Đốc Hoàng Công Hà với niềm tự hào vô biên. Mệ tôi làm dâu nhà quan được 1 thời gian thì ông gia ra Bắc làm quan rồi lấy thêm bà nhỏ người Bắc. Là dâu cả nên Mệ tôi lo cho cả gia đình chồng cùng mấy đứa em đưa ở làng Hiền Lương qua. Những người em trai của Mệ tôi người tầm vóc, ai cũng cao hơn 1 mét 75. Họ tiếp tục nghề rèn truyền thống ở làng Hiền Lương nơi làng Kế Môn.

Mệ tôi và 2 người em gái đều cao gần 1 mét 70. Mẹ tôi cũng vậy. Đó là chiều cao khó thấy ở phụ nữ Việt đầu thế kỷ 20.

Coi video của chương trình Gia Đình Ha Ha, bao nhiêu câu chữ xứ Huế đều tìm về. Anh em tôi chẳng ai nói tiếng Huế, riêng tôi thì nếu không tự giới thiệu là người Huế 100% thì chắc không có tới 1% đoán ra.

Tết vừa rồi tôi có về làng của ba tôi để thắp hương bên nội. Vì đi về trong ngày nên tôi không có thời gian qua làng Kế Môn bên ngoại thắp nhang. Ấn tượng của tôi về khu nghĩa trang là thời gian như ngừng trôi. Đường ra mộ vẫn khó đi. Đó là cái độông cát lớn không có lối đi. Tôi đi với 2 ông anh họ tuổi ngoài 70 mà 2 ổng cũng đi lạc hết nửa tiếng đồng hồ.

Làng quê ở Huế vẫn nghèo. Khí hậu ở đây khắc nghiệt quá. Mùa Đông thì mưa dầm thúi đất, mùa hè thì nắng cháy da người. Ở xứ này mà không giỏi thơ ca và câu chữ mới lạ.

Xưa nay nhà thơ hay nhạc sĩ vốn nghèo. Vì nghèo nên trí tưởng tượng mới bay bổng. Vì nghèo nên mới bị phụ tình, mới bị thất tình này nọ, mới viết lên câu ca tiếng nhạc tuyệt vời được. Chớ sung sướng ăn no ngủ kỹ quá thì khó làm văn nghệ sĩ xuất sắc được.

Ông bà chủ nhà trong chương trình có căn nhà 3 gian xinh xắn, chỉnh chu, có ngôi vườn kiểu ‘Vườn ai mướt quá xanh như ngọc’ của Hàn Mạc Tử.

Dàn nghệ sĩ của chương trình được chọn lọc tinh tế và có chủ ý. Một Jun Phạm khéo léo trong giao tiếp với người lớn, khéo tay làm bếp; Một Duy Khánh hậu đậu vô tri tấu hài nhẹ; Một Bùi Công Nam người Tây Nguyên gốc Quảng Nam hồn nhiên và hiểu cuộc sống nghèo khó của miền Trung; Một Ngọc Thanh Tâm vóc dáng tiểu thư Sài Gòn nhưng mộc mạc dễ gần; Một Rhymastic Vũ Đức Thiện có nét gia trưởng miền Bắc có kiến thức và khéo tay.

Đây là show truyền hình thực tế có chủ đích phát triển du lịch và ẩm thực địa phương. Nó bắt đầu từ Huế, cố đô của nhà Nguyễn. Rất đáng xem.

Từ lâu, Huế được gắn với danh hiệu xứ Thần Kinh. Tôi ngại nói chữ ‘Thần Kinh’ này vì sợ hiểu lầm, và tôi cũng tránh dùng chữ dân tộc Kinh, mà chỉ nói dân tộc Việt.

Với tôi, Huế là xứ của mắm tôm chua và hến xúc bánh tráng, món ăn mà các anh chị tôi vẫn làm cho tới hôm nay.

 

25/10/2026

Trần Hòa



READ MORE - HUẾ - XỨ CỦA MẮM TÔM CHUA VÀ HẾN - Trần Hòa

Sunday, October 25, 2026

CHÙM THƠ LƯU LÃNG KHÁCH: Đôi ngã nước trời / Ngôi nhà nhỏ

 


ĐÔI NGÃ NƯỚC TRỜI

 

Anh lạc lõng trong tình em mịt lối

Anh bơ vơ giơ ngọn đuốc soi đường

Mất dấu em qua từng chiều xuống vội

Tiếng chuông chùa! Đâu tiếng nói yêu thương

Bãi cát vàng chiều phơi hong nuối tiếc

Ngọn sóng triều đà tuột khỏi tầm tay

Cuộc tình đau nào nói lời vĩnh biệt

Mà tịch liêu trùm đêm đã sang ngày

Nếu hạnh phúc em đang cài mật mã

Anh gã khờ làm sao biết được đây

Nếu anh là chim còn em là cá

Đôi ngã nước trời cá lội chim bay.

            29/05/1986

            Duy Toàn Chợ Chùa



NGÔI NHÀ NHỎ

        (Thương tặng Như Nguyện)

 

Này em! Hãy ngồi đi!

Anh rót nước mời em uống nhé!

Gia tài anh chỉ có thế

Về với anh em có buồn không!

Này em!Có nghe con chim đang hót trong lồng

Ngôi nhà nhỏ đang cười rạng rỡ

Chúng biết rồi đây anh có vợ

Bé xinh xinh kia sẽ chăm chúng mỗi ngày

Này em!Anh còn có đôi tay

Sẽ vun mầm hạnh phúc trong ngôi nhà đó

Trăng rằm sẽ sáng lắm đây!

Sẽ dệt gấm thêu hoa cho tình ta son đỏ

Lát nữa đây!

Anh sẽ tiễn em về trên lối đầy hoa cỏ

Có trăng rằm soi đáy mắt em xinh

Để mai kia!

Anh lại rước em vào ngôi nhà nhỏ

Có chiếc chõng tre thầm ước chuyện chúng mình

Bằng lòng không, hỡi bé xinh!

Đưa tay anh nắm cho tình thăng hoa

Ngôi nhà hát khúc hoan ca

Mừng em nay đã gọi là… của anh.

 

                         Rằm tháng 7/1986

                                   Lưu Lãng Khách


From: Nguyễn Duy Toàn

luulangkhach@gmail.com

READ MORE - CHÙM THƠ LƯU LÃNG KHÁCH: Đôi ngã nước trời / Ngôi nhà nhỏ

AN THƠ – MIỀN QUÊ LƯU GIỮ HỒN XƯA VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ LỊCH SỬ - Ái Tình Văn



AN THƠ – MIỀN QUÊ LƯU GIỮ HỒN XƯA 

VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ LỊCH SỬ

Ái Tình Văn

 

Có những miền quê, thoạt nhìn tưởng chừng bình dị như bao làng quê khác, nhưng khi ngược dòng thời gian để tìm hiểu, ta mới nhận ra nơi ấy chứa đựng biết bao câu chuyện đáng tự hào.

An Thơ, thuộc xã Hải Hòa cũ, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, là một miền quê như thế. Mảnh đất này mang trong mình những dấu ấn lịch sử, những giá trị văn hóa được bồi đắp qua nhiều thế hệ, cùng truyền thống tốt đẹp của những con người sinh ra và lớn lên trên quê hương giàu nghĩa tình.

Nhắc đến An Thơ, không thể không nhắc đến truyền thống hiếu học của dòng họ Nguyễn Đức. Qua những tư liệu lịch sử, dòng họ có những người đỗ đạt, thành danh dưới triều Nguyễn, góp phần làm nên niềm tự hào về tinh thần học tập và con đường khoa bảng của người xưa. Những tư liệu gia phả, dấu tích cổ còn được lưu giữ cũng là minh chứng cho ý thức gìn giữ cội nguồn, gia phong và nền nếp của các thế hệ đi trước.

Không chỉ có chiều sâu lịch sử, An Thơ còn mang nét mộc mạc của vùng quê Hải Lăng.

Đi qua mỗi làng quê, mình càng cảm nhận rõ rằng quê hương không chỉ là nơi ta sinh ra và lớn lên, mà còn là nơi lưu giữ ký ức của bao thế hệ. Có những câu chuyện nếu hôm nay chúng ta không tìm hiểu, không kể lại, có lẽ mai này sẽ dần chìm vào quên lãng.

 An Thơ hôm nay vẫn tiếp nối dòng chảy của thời gian. Mong rằng những giá trị lịch sử, truyền thống hiếu học và nét đẹp văn hóa của làng sẽ luôn được gìn giữ, để mai này, dù đi đâu về đâu, mỗi người vẫn có thể tự hào khi nhắc đến quê hương mình.

Còn bạn, bạn đã từng ghé thăm làng An Thơ chưa? Nếu biết thêm những câu chuyện xưa về làng, hãy cùng chia sẻ để chúng ta hiểu hơn và lưu giữ những ký ức đẹp của quê hương nhé!

                                                    Ái Tình Văn

 

 

READ MORE - AN THƠ – MIỀN QUÊ LƯU GIỮ HỒN XƯA VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ LỊCH SỬ - Ái Tình Văn

KHUẤT CHÌM – Thơ Lê Kim Thượng


 

 
Khuất Chìm
 
1.
Chuyện tình đâu dễ phôi pha
Cố quên càng nhớ, ngày xa đêm dài
Hai bờ hai đứa chia hai
Dòng sông ly biệt chạy dài mù xa…
Nhớ người xa cách giang hà
Nỗi buồn giấu kín nhạt nhòa dịu êm
Một mình tôi với bóng đêm
Nhớ nhung khe khẽ gọi tên một người
Tình như một áng mây trôi
Không duyên, dù có yêu rồi vẫn xa
Trái tim rạn nứt thiết tha
Trải bao ngang trái vẫn là trái ngang
Nợ duyên, duyên nợ lỡ làng
Cuộc tình lận đận dở dang đau lòng
Vọng Phu đã núi trông chồng
Em về phương ấy có trông phương này…
 
2.
Lòng buồn thở ngắn than dài
Tôi – Em giờ đã chia hai lối về
Em đi biền biệt xa quê
Tôi về cùng với lời thề ngây thơ
Thương nhau chín đợi, mười chờ
Nỗi buồn xa cách bơ vơ một người
Hương tình bay mất đi rồi
Vườn yêu xơ xác bồi hồi con tim
Tình xưa giờ đã khuất chìm
Bới lên dĩ vãng đi tìm chân dung
Yêu nhau, yêu tới vô cùng
Thì nay cũng đã ngàn trùng cách xa
Em đi khuất bóng quan hà
Tôi ôm kỷ niệm đôi ta một thời
Bây giờ đôi đứa đôi nơi
Em giờ đã trở thành người… “Ngày xưa”…
 
                   Nha Trang, tháng  10. 2026
                         LÊ KIM THƯỢNG

 
READ MORE - KHUẤT CHÌM – Thơ Lê Kim Thượng

MÀU QUÊ HƯƠNG, SEN VỀ, KHI SỚM MAI – Thơ Tịnh Bình


 


MÀU QUÊ HƯƠNG
 
Chân phương hạt thóc đồng làng
Bốn mùa cày cấy mùa màng tốt tươi
Giần sàng trải nắng hong phơi
Mùa no ấm rạng môi cười lão nông
 
Hương quê chất phác ruộng đồng
Bờ dâu bãi mía xanh trong khoảng trời
Cánh diều cõng gió đi chơi
Hồn nhiên trẻ nhỏ nói cười rộn vang
 
Dòng sông uốn khúc đa mang
Vầng trăng thổn thức người sang ngang rồi
Xốn xang điệu lý mồ côi
Cuối trời chim trắng bồi hồi lòng ai
 
Chiều không tỏa khói mà cay
Rưng rưng quê mẹ thương hoài ngõ sau
Lục bình tím biếc lao xao
Dòng sông bóng núi nhuộm màu quê hương...
 

SEN VỀ...
 
Người về từ cõi lao xao
Giọt sương thở nhẹ chiêm bao cúi đầu
Qua rồi mấy nỗi bể dâu
Về nghe chuỗi hạt lần câu Mi Đà
 
Bồ Đề rơi chiếc lá đa
Phật xưa là cũng người ta chốn này
Lụy bùn sen vẫn thanh bai
Vượt qua sáu nẻo trần ai luân hồi
 
Người về vớt mảnh trăng côi
Phù du gửi lại bồi hồi bến mê
Phồn hoa lạc lõng đời quê
Giã từ ảo mộng sen về ẩn tu...

 
KHI SỚM MAI...
 
Khi sớm mai tỉnh giấc
Bung nở một cành sương
Bình minh không vội vã
Chuông gió lay hoa vườn
 
Khi sớm mai ngồi lại
Nũng nịu những lược gương
Soi mình và chải tóc
Mỗi ngày qua... vô thường
 
Những sớm mai lặp lại
Như nhau và khác nhau
Buồn hay vui không rõ
Thanh xuân vội phai màu
 
Thôi ban mai đừng hát
Bầy sẻ nâu già rồi
Thôi bông hoa đừng nở
Nhạt phiến lòng đơn côi
 
Khi sớm mai tỉnh giấc
Đất trời mãi tinh khôi
Thoảng làn hương vô nhiễm
Thì thầm cùng ta thôi...
 
              TỊNH BÌNH
 
READ MORE - MÀU QUÊ HƯƠNG, SEN VỀ, KHI SỚM MAI – Thơ Tịnh Bình

Friday, October 23, 2026

Youtube: Ca khúc TÂM SỰ CÙNG TRĂNG - Thơ: Sông Thu - Nhạc: Nguyễn Tuấn

READ MORE - Youtube: Ca khúc TÂM SỰ CÙNG TRĂNG - Thơ: Sông Thu - Nhạc: Nguyễn Tuấn

KÝ ỨC HƯƠNG CỐM THÁNG MƯỜI - Nguyễn Đại Duẫn



 Ký ức hương cốm tháng Mười

 Nguyễn Đại Duẫn


Cứ mỗi độ thu sang, về thăm quê, tôi không khỏi bồi hồi nhớ mẹ, nhớ hương cốm quê nhà. Có những mùi hương đi qua cuộc đời tôi nhưng có khi không để lại trong tôi chút hoài niệm nào. Nhưng có những mùi hương một khi đã chạm vào ký ức thì chẳng bao giờ quên được. Với tôi, đó là hương cốm xưa của mẹ.

Quê tôi là một vùng đất nghèo, nơi thiên nhiên dường như cũng khắt khe với con người. Quanh năm phải chống chọi với thiên tai và chiến tranh. Mưa thì lụt, đồng ruộng trắng nước. Hạn về, đất khô cháy, nứt nẻ, thường xuyên mất mùa. Đã vậy, trong những năm chiến tranh, ruộng đồng bị bom đạn cày xới; rồi kỹ thuật canh tác lạc hậu, cây lúa lớn lên thường xuyên bị sâu bệnh phá hoại. Lúa làm ra chẳng thu hoạch được bao nhiêu. Có mùa không đủ gạo ăn, mẹ tôi phải lên rừng, xuống biển, tần tảo củ khoai, củ sắn để góp vào cho đủ bữa.

Tôi lớn lên giữa những mùa như thế. Tuổi thơ không chỉ có tiếng chim, tiếng bom đạn, và những buổi chiều chăn trâu, mà còn có những ngày nước lũ dâng ngập sân nhà, mẹ phải tất tả kê lại từng chiếc chum, chiếc thúng đựng đồ... Rồi khi mùa hạ đến, đất nứt nẻ chân chim, lúa héo vàng, mẹ lại đứng lặng nhìn cánh đồng khô hạn. Tôi phải tập kéo gàu giai một bên với mẹ.

Ngày ấy, quê tôi có những thửa đất khô cằn mà người ta vẫn phải làm lúa. Người quê tôi gọi đó là vãi lúa. Cày bừa xong, người ta đem lúa giống rải xuống mặt ruộng, rồi phó mặc cho trời. Có mưa thì lúa mọc, có đủ nước thì lúa lên. Còn nếu trời hạn, trời khắc nghiệt, người nông dân chỉ biết đứng nhìn ruộng đồng khô héo. Cái nghèo cứ thế đeo bám những mái nhà làng quê tôi. Nhưng mẹ tôi không chịu đầu hàng cái nghèo.

Trên một thửa đất khô, thay vì gieo lúa tẻ như mọi người, mẹ lại gieo lúa nếp. Có lẽ mẹ đã nghĩ khác. Lúa nếp khi ấy không chỉ để ăn. Những hạt lúa non còn có thể làm thành cốm, đem ra chợ bán, đổi lấy tiền mua gạo, mua sách vở cho các con.

Tôi còn nhớ những ngày lúa nếp lên xanh trên mảnh đất khô cằn ấy, mẹ nâng niu từng bông lúa, chắt chiu từng hạt. Khi những cơn gió heo may bắt đầu se se chạm ngõ trong chiều thu, cánh đồng sau nhà cũng chuyển sang một màu vàng óng. Lúa gặt về, mẹ thường chọn những bông lúa nếp non để làm cốm.

Đầu tiên là tuốt hạt lúa khỏi bông, sau đó mẹ đem rang trên chảo lửa nhỏ. Đây là khâu quyết định chất lượng cốm. Sau đó mẹ đem lúa vào giã nhẹ để tách vỏ, không làm nát hạt. Sau khi đem sàng sảy để lấy hạt gạo, mẹ lại đem rang trên bếp lửa nhỏ làm cho cốm khô, dậy mùi thơm và đạt độ dẻo, xanh đẹp.

Tiếng cốm nổ lách tách hòa trong tiếng lửa reo. Khói bếp rơm rạ quẩn quanh mái nhà, quyện với mùi hương cốm lúa mới làm cho cái mũi thính của tôi không chịu được, cứ đi ra, đi vào bên bếp. Mẹ lấy cốm thành phẩm gói vào trong lá chuối với một lượng mà mẹ đã định sẵn. Mẹ bảo nếu có lá sen mà gói thì cốm sẽ ngon hơn. Nhưng ngày đó quê tôi làm gì có sen. Tôi phụ mẹ ngồi gói cốm. Xong việc, mẹ để dành cho tôi một ít. Tôi đưa nắm cốm lên mũi hít hà và vốc vài hạt nhai chậm rãi để thưởng thức cái hương vị mà đất trời đã ban tặng, và qua bàn tay khéo léo của mẹ đã tạo nên mùi vị hương cốm đồng quê.

Những hạt cốm xanh nhỏ bé ấy được mẹ đem đi chợ bán. Đồng tiền kiếm được chẳng nhiều, nhưng với mẹ, mỗi đồng đều quý giá. Tiền bán cốm trở thành gạo trong bữa cơm, thành quyển vở, cây bút, thành những ngày đến trường của chúng tôi.

Bây giờ quê tôi đã khác xưa nhiều lắm.

Kinh tế phát triển, ruộng đồng không còn cảnh phó mặc cho trời, đất. Những cánh đồng ngày trước khô cằn, khi mưa thì ngập, nay đã có kênh mương thủy lợi tưới tiêu hợp lý, đưa nước về tận ruộng. Người nông dân làm lúa có phân bón, có thuốc trừ sâu, trừ chuột, có máy móc hỗ trợ.

Cây lúa được chăm bón từ lúc gieo mạ đến khi trổ bông, nên năng suất cũng cao hơn ngày trước rất nhiều. Không còn cảnh cày bừa xong rồi vãi lúa xuống ruộng, ngửa mặt trông trời chờ mưa. Cũng không còn những thửa ruộng nếp mà mẹ tôi từng gieo năm nào.

Cái nghề làm cốm của mẹ cũng theo mẹ đi xa, và hương cốm cũng xa dần khỏi làng quê nghèo khó ngày xưa. Bây giờ muốn ăn cốm chẳng khó. Ngoài chợ có đủ loại cốm, từ ngoài Bắc chuyển vào, từ trong Nam đưa ra. Muốn ăn cốm Làng Vòng, chỉ cần một cú điện thoại, vài ngày sau, người giao hàng đã mang đến tận nhà.

Thế nhưng, lạ thay, cốm bây giờ có thể thơm, có thể đẹp, có thể được đóng gói cẩn thận, nhưng tôi vẫn thấy thiếu một điều gì đó.

Ngày ấy, cốm mẹ làm đâu có đẹp như cốm bây giờ. Hạt cốm có khi không đều, màu xanh cũng chẳng thật óng. Mẹ làm bằng đôi bàn tay thô ráp, bằng cái nong, cái nia và bếp lửa rơm rạ quê nhà. Vậy mà tôi ăn một lần thì nhớ cả đời. Giờ nghĩ lại thấy đó không chỉ là cốm mà đó là những hạt nếp được chắt chiu từ đồng đất cằn cỗi, từ cái nắng khô hạn, từ một cuộc đời lam lũ của mẹ. Và có lẽ, trong ký ức của tôi, không có thứ hương nào thơm hơn hương cốm xưa của mẹ.

Mẹ đã đi xa.

Mảnh ruộng ngày xưa cũng đã đổi thay. Những mùa lúa mới vẫn nối nhau xanh tốt. Những hạt cốm mới vẫn được mang về từ muôn nơi. Chỉ có người mẹ năm nào là không thể trở về nữa. Nhưng kỳ lạ thay, mỗi khi thu về, nghe đâu đó thoảng mùi lúa nếp mới, ký ức trong tôi lại thức dậy. Mẹ để lại cho tôi một chút hương cốm trong ký ức, một chút hương quê trong tâm hồn, để mỗi khi nhớ mẹ, tôi lại tìm về với những mùa lúa của ngày tháng long đong. Mẹ đã đi qua những mùa Thu của đời mình. Còn tôi, mỗi khi nghe gió heo may về, lại thấy như có một mùi hương quen thuộc len vào ký ức. Trong đó có mồ hôi của mẹ. Có nắng hạn cháy đồng. Có những mùa nước lũ tràn về. Có cả sự chắt chiu của một người mẹ luôn muốn dành cho con mình những gì tốt đẹp nhất.

Nhớ về mẹ, và một điều tôi không thể quên - Nhớ hương cốm xưa của mẹ.

 

Nguyễn Đại Duẫn

51, Nguyễn Hữu Cảnh

Thôn: Nam Quán Hàu, xã: Quảng Ninh, tỉnh: Quảng Trị

ĐT: 0977194533

READ MORE - KÝ ỨC HƯƠNG CỐM THÁNG MƯỜI - Nguyễn Đại Duẫn

CHÙM THƠ LƯU LÃNG KHÁCH: Anh không là / Anh là thế

 

Lưu Lãng Khách

ANH KHÔNG LÀ

 (Thương tặng Như Nguyện)

 

Cuối đông em gái nhỏ

Như một đóa tường vi

Dịu dàng bên lá cỏ

Thẹn thò nhường lối đi

Anh không là thiên tử

Đang ngự trị ngai vàng

Lòng đắm say xuân nữ

Dụ thần dân đón nàng

Anh không là viễn khách

Giữa đường chiều ngất ngây

Động lòng xuân háo hức

Vội dừng chân tỏ bày

Anh không là chiến tướng

Mù vó ngựa biên cương

Xả thân ngoài biên ải

Gặp nhành hoa bên đường

Anh không là thi sĩ

Bạc thếch áo phong trần

Tặng ai vàng thu cũ

Khi xuân kề gót chân

Anh! Hào hoa lãng tử

Anh! Là người yêu em

Quyết tặng ai áo mới

Đón một mùa xuân miên.

    Giáp Tết 1986

     Duy Toàn Chợ Chùa

     (Lưu Lãng Khách)



 ANH LÀ THẾ


Anh là thế! Gót phong trần lãng tử

Ngại giẫm đau hoa cỏ chốn trần gian

Anh là thế! Đã yêu là rất dữ

Ấm lúc trăng lên thắm buổi đêm tàn

Như sóng đại dương hùng hồn ào ạt

Cuồn cuộn sục sôi dũng mãnh dâng tràn

Như sa mạc chẳng bao giờ đã khát

Yêu tục phàm cháy rực mảnh hồn hoang

Nay gặp em thương lắm nàng thôn nữ

Má em hồng môi mắt chở xuân sang

Nay gặp em xin dừng chân cô lữ

Đốt cháy giai nhân dưới bóng đèn vàng

Anh là thế! Đã yêu là thể hiện

Thích là làm không ai cản được anh

Anh là thế! Khi tình yêu lên tiếng

Sẽ rước em không làm của để dành

Lấy anh nhé! Và chúng mình sẽ có

Một đàn con trai gái đủ đầy

Trai chớ giống cha gái cầu giống mẹ

Hạnh phúc ngập tràn mới ước đã say

Anh là thế! Suốt đời anh vẫn thế

Sóng biển xanh không mãi lặng bao giờ

Anh là thế! Xin làm chồng em nhé!

Tặng em cả lâu đài

                               hạnh phúc ở trong thơ.


            Đầu xuân 1986

                Duy Toàn Chợ Chùa


From:

Nguyễn Duy Toàn

luulangkhach@gmail.com


 

READ MORE - CHÙM THƠ LƯU LÃNG KHÁCH: Anh không là / Anh là thế

ĐỒNG TIỀN - Nguyên tác: Tiến sỹ MA Zaman Ahasanuzzaman, Bangladesh - Người dịch: Thi Lan Anh Tran, Germany

 

Tiến sĩ MA Zaman Ahasanuzzaman

ĐỒNG TIỀN

Thơ Sufi – Khúc ca Saki

Nguyên tác: Tiến sĩ MA Zaman Ahasanuzzaman
Bút danh: Sufi Saki Jahangir
Sufi Saki Golarasharif Complex – Bangladesh

Người dịch: Nhà thơ Thi Lan Anh Tran, Aschaffenburg, Germany


Tiền sinh ra bạc, bạc lại sinh tiền,
Thiếu tiền, nhân thế lắm nỗi truân chuyên.
Kiếp người tất tả bon chen xuôi ngược,
Tay trắng, đường đời lạnh lẽo triền miên.

Mê tiền khiến dạ người thêm mê muội,
Quên nghĩa, quên tình, quên cả thanh danh.
Đức tin phai nhạt, tâm hồn tăm tối,
Cuộc sống chông chênh giữa cõi mong manh.

Trong muôn thứ nghiện, tiền là mối họa,
Gieo bao tội lỗi, khổ ải, lầm than.
Tiền mua gian trá, bạc bài, tửu sắc,
Đẩy kiếp con người vào chốn lầm than.

Tiền xây thánh điện, dựng nơi kinh kệ,
Mở lớp truyền trao ánh sáng niềm tin.
Tiền nuôi cô nhi, chở che phận yếu,
Sưởi ấm lòng người giữa cõi lặng thinh.

Zakat, Fitra, bố thí, việc lành,
Bao điều nhân nghĩa cũng cần tiền bạc.
Người thân khốn khó, nếu ta ngoảnh mặt,
Tình nghĩa nhạt dần, lạnh tựa sương đông.

Muốn về hành lễ nơi miền đất thánh,
Cũng cần tiền lo vạn dặm đường xa.
Đường tu đôi lúc chẳng ngoài cơm áo,
Thiếu tiền, muôn nẻo hóa thành phong ba.

Tiền bên phải, tiền tràn sang bên trái,
Như cỗ xe đời cuốn kiếp người đi.
Xe này vừa dứt, xe kia lại đón,
Mải miết trần gian, biết đến bao giờ?

Khắp chốn nhân gian, đâu vắng bóng tiền,
Muôn tên muôn dạng, vẫn chung một quyền.
Đường đời in dấu bao mùa bạc đổi,
Tiền nối theo tiền, chẳng phút bình yên.

Con người đuổi bạc suốt đời vô vọng,
Tưởng nắm trong tay, lại hóa hư không.
Nào hay tiền bạc còn theo chân Saki,
Giữa vòng nhân thế, huyền nhiệm mênh mông.

Giữa tội cùng phúc, xin người suy xét,
Cần đồng tiền, nhưng chớ để tâm tà.
Làm ăn chân chính, lòng vui vừa đủ,
Ấy điều Raji Jagat Sai hằng mong.


***

Bản phỏng dịch tiếng Việt từ nguyên tác Bengali (tiếng Bangladesh).

***

From: 

Dipl.-Kauffrau Thi-Lan Anh Tran 

Wirtschaftskanzlei@dipl-kauffrau-tran.de

READ MORE - ĐỒNG TIỀN - Nguyên tác: Tiến sỹ MA Zaman Ahasanuzzaman, Bangladesh - Người dịch: Thi Lan Anh Tran, Germany