Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, April 19, 2021

HOÀI LANG ĐÊM GÀNH HÀO – Thơ Nguyên Lạc


 


HOÀI LANG ĐÊM GÀNH HÀO
 
"Hoài Lang". Hồ nhị. Gành Hào [1]
Xuôi dòng ra bể lụa đào lệ trăng!
 
Trắng đêm thao thức cô miên
Trăng nghiêng ngoài ngõ ưu phiền trăng nao
"Hoài Lang Dạ Cổ" khúc đau
Gành Hào đêm đó cách nào quên đây?
 
Sông trăng vẳng tiếng bi ai:
"Đường dầu xa ong bướm.
Xin đó đừng phụ nghĩa tào khang
Ðêm luống trông tin bạn
Ngày mỏi mòn như đá vọng phu
Vọng phu vọng luống trong tin chàng
Lòng xin chớ phụ phàng" [2]
 
Phụ phàng. Xin chớ phụ phàng
Bao năm rồi đó li tan tình nào
Làm sao tôi biết làm sao?
Cách chi không nhớ Gành Hào đêm xưa?
 
Biệt li trăng lệ tiễn đưa
"Hoài Lang Dạ Cổ" đủ vừa hành trang
Người đi thách đố trùng dương
Kẻ rồi ở lại sâm thương não nùng!
 
Tha hương đêm vọng muôn trùng
Sầu luồn cô lữ đêm trăng Gành Hào
Lệ trăng cùng khúc "ly tao"
Cố nhân tôi nhớ cuộc nào tang thương!
 
Bao năm rồi vẫn không quên
Làm sao quên được mà quên đây người?
 
                                           Nguyên Lạc
.............
 
[1] Đàn Nhị hồ miền nam gọi là đàn cò
Sông Gành Hào, tỉnh Bạc Liêu đổ ra biển Đông
[2] Lời trong bài Dạ Cổ Hoài Lang - Cao Văn Lầu

READ MORE - HOÀI LANG ĐÊM GÀNH HÀO – Thơ Nguyên Lạc

BẢN GỐC NGỮ ĐIỆU TRỞ VỀ - Thơ Khaly Chàm


Nhà thơ Khaly Chàm


bản gốc ngữ điệu trở về
       
thoát thai khỏi túi càn khôn cầu não những hiện thể biết cử động đều vô nhiễm, tự nhiên được vay mượn ánh sáng, thời gian và không gian căng tràn bầu khi thở, chẳng có điều kiện gì cần thế chấp cho sự sống của kỷ nguyên sôi réo vội vàng
 
việc làm theo ý tưởng là tìm lại bản gốc ngữ điệu chính mính, hiệu lệnh thủ ngữ vuốt ve nhưng ngầm bức bách lũ chữ nằm trần truồng trên giấy phải phơi bày văn chương đẫm màu điên loạn vì miệng đã ngậm niềm tuyệt vọng nên những khuôn mặt chữ ngu ngơ đần độn
 
mơ hồ linh hồn nhẹ hẫng bay vòng chùm chuông gió rạo rực chuỗi âm du dương bồng bềnh trôi qua hờ hững hiển lộ mờ ảo hình người, tất cả muốn ướp nụ hôn lên môi nhau chờ giai điệu tình yêu lấp lánh giấc mơ bí ẩn
 
bóng tôi tỉ mẩn ghép lại những mảnh vỡ cảm xúc để tái tạo hình thành chiếc lưỡi mềm trong suốt, thông điệp ước mơ từng ngày giãn nở biểu đồ răng cưa chạm đỉnh mắt mặt trời, từ khi nào giọng nói tôi lưu lạc nay tự trở về đánh thức mùi hương cố thổ hòa quyện thơm ánh bình minh
 
                                               txbinhlong 4/2021
                                                    khaly chàm
 
READ MORE - BẢN GỐC NGỮ ĐIỆU TRỞ VỀ - Thơ Khaly Chàm

LƯƠNG SƠN BẠC – Thơ Lê Phước Sinh


 

 
LƯƠNG SƠN BẠC
 
Ta là tên Thảo Khấu
núp lùm, chặn đường Em
quăng dây Đời vướng ngã
làm sưng gót Sen mềm.
 
Dìu Nàng lên lưng Ngựa
thả lỏng dây cương hồng
ghé vệ đường, quán nhỏ
hỏi :
- Có cà phê không ?!
 
Em cười vang, Rừng vọng
a đã đến cơn ghiền,
má hồng này, môi  đỏ
sao chưa chịu... "đảo  điên" ?!
 
Mới hay dù Thảo Khấu
cũng ngốc chuyện Tình Yêu.
 
               LÊ PHƯỚC SINH

READ MORE - LƯƠNG SƠN BẠC – Thơ Lê Phước Sinh

Sunday, April 18, 2021

GIÃ TỪ ĐÀ LẠT, GIỮ GIÙM TÔI EM NHÉ MỘT MÙA THU, GÓC KHUẤT TRONG ĐỜI, GỘI BÓNG HOÀNG HÔN – Thơ Lê Văn Trung




GIÃ TỪ ĐÀ LẠT
 
Đêm dừng chân giữa đèo Ngoạn Mục
Nhớ trời Đà Lạt mờ sương giăng
Chìm trong áo trắng chiều tan học
Mình ta góc quán cafe Tùng
Này bạn châm giùm ta điếu thuốc
Sưởi ấm lòng nhau những ngậm ngùi
Ta bỏ Đơn Dương, rời Tùng Nghĩa
Chẳng hẹn ngày về Trại Mát ơi
Rừng đêm rờn rợn, đèo quanh co
Leo lắt hỏa châu trời Sông Pha
(Đóm lửa đời nhau chưa đủ ấm
Ai đang mòn mỏi phía quê nhà)
Đêm dừng chân giữa đèo Ngoạn Mục
Chẳng biết về đâu Đà Lạt ơi
Ta muốn ngược đèo, dù lửa đạn
Nhìn em Đà Lạt một lần thôi
Ta muốn ngươc đèo
Ồ! Không thể!
Lệnh đã lên đường, xuôi Phan Rang
Đâu biết ta đi là đi biệt
Đớn đau như một kẻ quy hàng.
 
                            Lê Văn Trung
(Tặng một người bạn không biết tên, cuối tháng 3. 1975)
 
 
GIỮ GIÙM TÔI EM NHÉ MỘT MÙA THU
 
Em giữ giùm tôi nhé một mùa thu
Sợ nắng thắm sẽ vàng phai áo lụa
Sợ sương biếc sẽ chìm trong tóc úa
Hồn tôi xưa sẽ lạc nẻo thu người
 
Em giữ giùm tôi nhé bóng chiều rơi
Trong mắt đợi mắt chờ loang giấc mộng
Sợ gió tương tư ru hoài trên mặt sóng
Sợ hương người tan quyện đóa quỳnh lan
 
Em giữ giùm tôi nhé một màu trăng
Đừng vội khuyết, đừng chìm trong sương lạnh
Đừng chênh chếch trên non ngàn cô quạnh
Cho tôi nhìn sáng rực một màu thu
 
Em giữ giùm tôi nhé nghìn câu thơ
Đừng vội thả theo lá mùa rơi rụng
Cho tôi trọn một đời hình với bóng
Bóng với hình như vàng đá trăm năm
 
Xin giữ giùm tôi như máu chảy trong tim
Như ngọc biếc là linh hồn của đá
Xin giữ cho nhau tấc lòng thiên cổ
Giữ giùm tôi, em nhé, một mùa thu.
 
                               Lê Văn Trung
 
 
GÓC KHUẤT TRONG ĐỜI
 
Vẫn còn đó những mảnh đời tăm tối
Lao khổ nhọc nhằn gạo chợ nước sông
Ngày cõng mặt trời đêm dầm sương muối
Còng lưng gánh mãi những long đong
 
Vẫn còn đó những gầm cầu bãi rác
Hồn tuổi thơ cháy sạm miếng cơm thừa
Áo rách phất phơ như hồn ma lạc
Sống bơ vơ như xác không mồ
 
Vẫn còn đó mắt môi đời tê dại
Đem phấn hương trao tận đáy bùn nhơ
Hồn thiếu nữ bầm đen dòng máu bẩn
Nỗi kinh hoàng ập xuống cơn mơ
 
Vẫn còn đó những rẻo cao rừng thẳm
Bàn chân non rỉ máu đá tai mèo
Tìm cái chữ trong muôn vàn hoạn nạn
Núi đồi buồn bã đứng trông theo
 
Vẫn còn đó, ôi vẫn còn nguyên đó
Biết bao nhiêu những góc khuất trong đời
Lời cầu nguyện gửi âm thầm theo gió
Xin sáng giùm góc khuất Người ơi!
 
                                 Lê Văn Trung
 
 
GỘI BÓNG HOÀNG HÔN
 
Người về gội bóng hoàng hôn
Chợt nghe sợi tóc rụng buồn như mây
Người cầm sợi tóc trên tay
Thấy lòng hiu hắt chở đầy màu xưa
Hình như trời đang Mười Hai
Gió về đâu? Thổi cho dài nhớ nhung!
Hình như trời đang mùa đông
Lòng như chiếc lá chạnh vàng chớm rơi
Hình như trong cõi tình tôi
Người đem sợi tóc buộc hoài câu thơ.
 
                                   Lê Văn Trung

READ MORE - GIÃ TỪ ĐÀ LẠT, GIỮ GIÙM TÔI EM NHÉ MỘT MÙA THU, GÓC KHUẤT TRONG ĐỜI, GỘI BÓNG HOÀNG HÔN – Thơ Lê Văn Trung

NGƯỜI ĐỢI TÔI TRỞ VỀ - Truyện ngắn Lê Hứa Huyền Trân

Nhà văn Lê Hứa Huyền Trân












NGƯỜI ĐỢI TÔI TRỞ VỀ

Truyện ngắn

LÊ HỨA HUYỀN TRÂN


Ngày tôi rời quê để đến thành phố mới, chạy theo mơ ước tự do của mình nó vì ngăn tôi đã khóc hết nước mắt. Cuối cùng giây phút ấy vẫn là một mình nó ở lại, gánh tất cả những chăm lo mà tôi giao cho, còn tôi lại chạy theo tiếng gọi ước mơ không ngoảnh lại suốt những tháng năm dài… 

Chúng tôi sinh đôi. Ngay khi tôi vừa cất tiếng khóc chào đời thì độ mấy phút sau nó cũng đã o e. Từ bé chúng tôi đã rất khác nhau, tính tôi háo thắng và có đôi phần giống con trai, lại nóng nảy, trong khi nó lại là một người cẩn thận, chu toàn và ý tứ. Đến độ nhiều khi tôi còn đùa nó, có lẽ nếu hai đứa hợp lại hẳn sẽ là một người hoàn hảo, vì chia ra nên bao tính xấu đều đổ cho tôi, còn tốt nhường lại phần nó. Lúc ấy, nó luôn nói: ”Không phải đâu, em tốt vì em là em của chị.” Kì thực, nó luôn tỏ ra tự hào khi là em của tôi, vì tuy tôi có phần hơi cộc tính nhưng tôi rất biết phấn đấu, từ nhỏ tới lớn tôi luôn thích cảm giác có thể vượt hơn người khác nên luôn nỗ lực hết sức mình, vì thế tôi không chỉ là học sinh giỏi, mà còn được đi thi các kì thi và được tuyên dương. Nhưng, trong khi nó nói ra hết thì tôi không bao giờ cho nó biết để có được “tôi“ của ngày hôm đó tất cả là vì nó. 

Nhà chúng tôi khi ấy rất nghèo, chỉ là một căn nhà cấp bốn lợp mái dừa trong một xóm lao động nhỏ. Kí ức sâu sắc của tôi là ở làng quê nghèo ấy, khi ba mẹ suốt ngày đi làm xa, chỉ có nó là ở cạnh chăm sóc và che chở cho tôi. Có thể nói, mỗi khi đi xa nhớ về quê mình khi ấy, kí ức về nó sẽ đọng lại nhiều nhất. Quê hương luôn mang lại cho con người ta cảm giác thật yên bình. Tôi nhớ những khi nước nổi, phía trước nhà chúng tôi là con đường đất, bên cạnh là cả một ao rau muống rất to. Khi mưa về, nước từ dưới ruộng dâng lên, tràn cả lên đường, biết bao nhiêu là cá và cả ốc đều theo đó lên tung tẩy đầy đường. Lúc ấy, khi trăng bắt đầu lên cao, lũ trẻ chúng tôi sẽ bì bõm lội nước, tay mang theo những rổ đi vớt cá chốt. Lũ cá chốt bơi nối đuôi nhau thành đàn năm bảy con, tinh ranh lắm, tụi tôi úp lấy để mới dính được. Tính tôi háu táu, có những khi “ tát” không được con nào lại chực khóc, thế là có bao nhiêu cá trong rổ nó cho tôi hết, tôi lại tham về khoe với mẹ vớt được đầy nấu cháo cả nhà ăn. 

Quê hương còn là những khi tôi đi dọc bờ cát trắng mang cơm cho ngoại ở ngoài cầu chăn lũ vịt. Tôi vốn hay làm việc đó từ nhỏ nhưng có bận vì quá ham chơi thế nào lại lạc đường. Con đường cát trắng quen thuộc bỗng chốc thành một điểm không lối ra, đến tối mịt mới mò được về, bận ấy khi má định đánh tôi vì la cà, nó đã chạy lại ôm tôi khóc rất to không nói được lời nào tròn vành, chỉ bập bẹ:”Em xin lỗi, em xin lỗi.” Có lẽ nó nghĩ vì để tôi đi một mình nên tôi lạc… 

Những tháng ngày ấu thơ của chúng tôi gắn liền với những lần đi vớt ốc ngoài ruộng cho lũ vịt ăn, lại khi theo ngoại đi chạy vịt mệt nghỉ, theo cậu đi chặt lá để dằn dưới ruộng, khi nước lên cua nhỏ sẽ bò vào. Và từng trang nhật kí của cuộc đời tôi luôn có nó bên cạnh. Chúng tôi bằng tuổi, sinh đôi nên hiểu ý nhau, nhiều khi tôi bị ba mẹ mắng vì nghịch, phạt quỳ không cho ngủ, không cho ăn cơm, thể nào nó cũng dành phần, tối đến lại tuồn ra cho tôi một ít. 

Tôi đã từng nghĩ mình rồi sẽ không bao giờ rời xa miền đất ấy cho đến khi trưởng thành. Càng ngày sự chênh lệch trong tính cách chúng tôi càng lớn, trong khi tôi bắt đầu muốn đi đến những nơi khác và muốn  một cuộc sống tự do, thỏa thích viết văn chương, gắn bó với văn chương thì nó lại muốn một cuộc sống an phận. Nó muốn chăm sóc ba mẹ, ngôi nhà nhỏ và cả những công việc quen thuộc. Tôi nhớ như in đó là khi chúng tôi vào đại học. Năm ấy gia đình tôi biến cố lớn, ba mất việc, mẹ đau nặng, việc học đai học trở nên khó khăn, ước mơ của tôi vì thế đứng ngưỡng chòng chành. Nó đã quyết định nghỉ học, vì khi ấy kinh tế gia đình chỉ đủ nuôi một người học tiếp cũng đã rất khó. Đó cũng là ước mơ và tương lại nó, nhưng nó chấp nhận buông bỏ vì tôi. 

Sau bận ấy, tôi tốt nghiệp và quyết định sẽ bỏ lại làng quê nghèo ấy đi tới thành phố khác, một phần vì ước mơ, phần khác vì ở mãi quê nghèo sẽ không thể có tiền nuôi gia đình. Lúc đó nghĩ lại tôi thật ích kỉ, tôi để ba mẹ và cả công việc nhà lại cho nó, nhưng cuối cùng điều tôi nhận được lại là nụ cười chúc tôi thành công của nó. “Em không ngăn chị nữa, vì em là em của chị…”

Những tháng năm sau đó tôi ít về, những dòng văn của tôi những kí ức nơi miền quê nghèo hiện lên mạnh mẽ như nỗi nhớ của tôi. Và cả sự tự trách nên tôi càng không dám về. Nhất là nó, tôi đã sống một cuộc đời quá ỷ lại vào nó, từ bé đến lớn nó luôn gánh những việc tôi không thích khiến tôi sống đúng theo ý mình. Càng xa nó tôi càng nhận ra mình đã sống cuộc đời quá ích kỉ. Định nhấc máy gọi nó nhưng lại chần chừ, bỗng đầu dây bên kia tiếng nó gọi tới vang lên từng hồi. Chúng tôi nói nhiều và cũng thật tự nhiên tôi nói ra mình muốn trở về, giây phút im lặng hồi lâu, và nó cười rất to: "Em biết chứ, thế nên em mới gọi, vì chị sẽ không chịu nói ra đâu.“. A ra thế, ra nó lại biết được suy nghĩ của tôi kể cả khi chúng tôi ở cách nhau rất xa. “Vì em là em của chị”, ở miền quê ấy, luôn có một người đợi tôi trở về.

 

Tác giả: Lê Hứa Huyền Trân 

Hội viên Hội VHNT Tỉnh Bình Định

 

 

 

 

 


READ MORE - NGƯỜI ĐỢI TÔI TRỞ VỀ - Truyện ngắn Lê Hứa Huyền Trân

LƯU LY... – Thơ Tịnh Bình


 
          Nhà thơ Tịnh Bình

 
LƯU LY...
 
"Đã lâu rồi lòng như biển vắng
Bờ bãi dài hoang lạnh
Mãi ru mình trong những giấc mơ xa
Giấc mơ ngập sắc hoa lưu ly tím biếc..."
 
Chợt gặp lại mình trong tuổi đôi mươi
Bài thơ một thời ta viết về hoa lưu ly xanh biếc
Về một tình yêu chẳng bao giờ phai nhạt
Như sắc lưu ly trong nắng chiều vàng
Nàng con gái đơn phương chờ đợi
Có phải là ta đó chăng ?
Sao có thể một thời yêu đến thế...
 
"Lưu ly... lưu ly... muôn đời... mãi mãi...
Sao lại lìa xa ?"
Cô gái ấy một thời ngơ ngác
Cổ tích chuyện tình
Ai đó đánh rơi...
 
Ta muốn viết lại bài thơ năm ấy
Lưu ly thả từng cánh mỏng
Nhưng cô gái năm xưa đã bỏ đi
Và những buổi chiều vàng biến mất
Ô hay
Trái tim ta già cỗi tự lúc nào...
 
"Đã lâu rồi lòng như biển vắng
Bờ bãi dài hoang lạnh
Mãi ru mình trong những giấc mơ xa..."
Cô gái ơi từ trong ta sâu thẳm
Trìu mến gọi lưu ly
Người tình diễm mộng
Không phải chàng đâu
Chỉ là ta
Thương tên hoa đến mơ hồ...
 
                       TỊNH BÌNH
                        (Tây Ninh)

READ MORE - LƯU LY... – Thơ Tịnh Bình

DẤU MÔI... - Thơ Trần Mai Ngân

 



DẤU MÔI...
 
Tìm nhau thăm thẳm nhân gian
Nửa chừng cuộc mộng bẽ bàng bỏ tôi
Ngày xưa vẫn ấm chỗ ngồi
Đưa tay sờ lại dấu môi vẫn còn
 
                          Trần Mai Ngân
                                                       
READ MORE - DẤU MÔI... - Thơ Trần Mai Ngân

HƯƠNG TƯỜNG VY – Thơ Nhật Quang


   


HƯƠNG TƯỜNG VY
 
Ta về, góc phố thầm thì…
Ươm hương thoảng đoá Tường vy đợi chờ
Giọt chiều lãng đãng hồn thơ
Dập dìu muôn sắc mộng mơ…êm đềm
 
Sài Gòn nắng nhạt dịu êm
Chợt cơn mưa thoáng ướt mềm tóc ai?
Nhè nhẹ hạt thấm bờ vai
Còn thơm hương lụa chưa phai một thời
 
Đưa tay nâng cánh hoa tươi
Ơn em đã đến bên đời yêu thương
Gặp nhau trong giấc mộng thường
Ngọt ngào nỗi nhớ…còn vương vấn lòng
 
Ta về ủ ấp hương nồng
Tường vy ngan ngát, thắm hồng trăm năm
Thơm tình xuân ấm nguyệt rằm
Ru em giấc mộng âm thầm…còn say.
 
                                               Nhật Quang
 
..........
 
Tác giả: Nhật Quang
Đc: Q 12 – TP HCM
ĐT: 0975764469

READ MORE - HƯƠNG TƯỜNG VY – Thơ Nhật Quang

Friday, April 16, 2021

KHUNG TRỜI MÂY TRẮNG - Nguyễn Minh Hoàng đọc thơ Nguyễn Văn Trình

 


      KHUNG TRỜI MÂY TRẮNG

      Nguyễn Minh Hoàng, Thạc sĩ Ngữ văn

    Gv Trường THPT Lê Lợi, Đông Hà, Quảng Trị

 

         Những vần thơ trong tập thơ “Mây trắng bên trời của thầy giáo – thi sĩ Nguyễn Văn Trình tràn đầy những lưu luyến, hoài niệm của khung trời thương nhớ - riêng tôi, tôi gọi là “Khung trời mây trắng”, như chính tác giả viết hai câu thơ làm tựa đề cho tập thơ của mình:

                                       “ Trời xanh mây trắng mãi còn,

                                         Cho ai lưu luyến, tuổi đời vàng son .”

                                                       (Nguyễn Văn Trình)

          Đó là những kỉ niệm đẹp về nghề, về muôn màu của đời sống hôm qua và hôm nay, đong đầy kết thành những vần thơ giàu cảm xúc, giàu lòng nhân ái và nặng trĩu tình thầy trò gắn bó cùng bảng đen, phấn trắng bao năm nhọc nhằn “gieo chữ”:

         “Thầy trò cái thuở thân thương / Xa trường thầy nhớ các em thêm nhiều/ Bao điều tâm sự chừ đây/ Mai sau khôn lớn tình thương đong đầy...”

                                                    (Bài giảng giờ chia tay – NVT)

          Hoặc:

         “Em về cho ai chơi vơi/ Em về cả đất trời diệu tím/ Tà áo em bay chiều tím cổng trường/ Ôi dĩ vãng nhuộm tím màu lưu luyến/ Em về cho ai chơi vơi...”

                                                       (Em về cho ai chơi vơi – NVT)


Thầy giáo-Thi sĩ Nguyễn Văn Trình

          Tập thơ: “Mây trắng bên trời” gói trọn những cảm xúc của thi sĩ về đời, người, nghề và những niềm sâu kí ức. Đọc những vần thơ của anh ẩn chứa những năm tháng cuộc đời, tôi bắt gặp cái sâu sắc trong cách nhìn, cái tinh tế trong cách cảm, cái đa dạng trong cách thể hiện những tâm tư. Không cầu kì, không làm duyên, từng câu từng chữ bình dị mà sang trọng, gần gũi như chính cuộc đời mà chứa đựng những triết lí sâu xa. Bởi Nguyễn Văn Trình đến với thơ bằng tấm lòng của nhà giáo, bằng tâm hồn đa cảm của một thi nhân, mang trách nhiệm thiên lương của một người dâng hiến. Dâng hiến cho đời cái đẹp của tiêu chí nghệ thuật thơ ca: “Chân-Thiện-Mỹ”.

          Thơ Nguyễn Văn Trình là sự dấn thân của một người luôn nặng nợ đa mang, với thơ với đời:

         “Áo trắng- Em giờ xa xôi quá rứa?! / Để ai về, ngồi đếm giọt mưa rơi…/ Áo trắng phôi pha, áo thành dĩ vãng/ Để môt đời nặng nợ đa mang...”

                                                             (Áo trắng bên trời – NVT)

           Cái thời áo trắng, cái thời mộng mơ vào thơ anh với cái duyên của một người thời trai trẻ, hoài niệm. Nhưng thơ Nguyễn Văn Trình không chỉ có thế, với tâm hồn đa cảm của thi nhân nên nặng trĩu tình quê hương đất nước:

         “Biết không em bao điều đáng nhớ/ Anh thầm yêu từng thớ đất quê nhà/ Như lá vàng kia gọi thu vàng nức nở/ Trút lên chiều xa nhớ những mùa qua”

                                                               (Bâng khuâng chiều – NVT)

         Trong cuộc sống hỗn mang, ánh hồng lấp lánh, cuộc sống bộn bề bao toan tính thiệt hơn, bao bon chen đáng ghét...! Vậy mà thơ Nguyễn Văn Trình vẫn vang vọng những rung động hồn nhiên, cái “giá như” tiếc nuối của một tình yêu trong sáng, vượt lên cái tôi tầm thường nhỏ bé, ích kỷ, cá nhân:“Biết rằng em chẳng riêng tôi/ Tình như gió thoảng ở ngoài song thưa”

                                                                (Biết rằng - NVT)

         Có lẽ khi ta không còn trẻ là lúc tiếc nuối thời áo trắng thơ ngây của tuổi học trò mộng mơ, những đôi mắt tròn xoe nghe thầy giảng bài trên lớp. Vì thế thơ Nguyễn Văn Trình còn chở nặng đạo lý làm người, những lời khuyên giàu tính nhân văn cao đẹp, mở ra cho người đọc tràn đầy bao hy vọng mới về một ngày mai tươi sáng,thôi thúc người ta sống, vượt qua những oái oăm của đời sống thường nhật:“Hãy chọn cho mình một lối đi riêng/ Em sẽ thấy cuộc đời này đáng yêu biết mấy/ Trời trên đầu vẫn xanh/ Đất dưới chân vẫn bình yên nồng ấm”

                                                (Hãy nuôi dưỡng ước mơ – NVT)

          Trong cuộc sống Nguyễn văn Trình luôn tâm niệm: “Nhân đức ở đời đáng quí – danh lợi phù phiếm – đố kị, ghen ghét, lòng tham, giết chết con người” (Cha tôi – NVT) thì những lời thơ ấy thật đáng quí xiết bao! Cái chân lí giản đơn như cuộc sống thường ngày, vậy mà  tôi – chúng ta mấy ai đủ tỉnh táo nhận ra trên bước đường bươn chải mưu sinh?!   Đi suốt nỗi nhớ, tắm đẫm những niềm yêu để đúc rút thành triết lí. Cái triết lí của  thi sĩ – thầy giáo Nguyễn Văn trình nảy mầm từ những chiêm nghiệm sâu sắc về đời, về nghề, về người.

         Đọc thơ Nguyễn Văn Trình tôi rất thích những lời tình tự man mác, hào hoa mà thấm đẫm tình người. Với tập thơ “Mây trắng bên trời”, anh đã góp vào vườn thơ một bông hoa đẹp, đầy hương sắc, giàu ý vị, tình đời – tình người, rất đáng trân trọng! Tôi tin những vần thơ của anh luôn là những lời tâm tình thủ thỉ mà lắng đọng sâu xa trong lòng bạn đọc. Bởi thơ của Nguyễn Văn Trình đã đi từ trái tim đến trái tim! Xin mượn câu thơ của nhà thơ Thôi Hiệu trong bài “Hoàng hạc lâu” làm lời kết cho bài viết này: “Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay”!                                  

                          Đông Hà, ngày 15 tháng 7 năm 2011    

                                     Nguyễn Minh Hoàng

READ MORE - KHUNG TRỜI MÂY TRẮNG - Nguyễn Minh Hoàng đọc thơ Nguyễn Văn Trình

Wednesday, April 14, 2021

ĐỀN THỜ TỐNG TRÂN - CÚC HOA Ở PHÙ CỪ, HƯNG YÊN - Đặng Xuân Xuyến

 


ĐỀN THỜ TỐNG TRÂN - CÚC HOA Ở PHÙ CỪ, HƯNG YÊN

 

Tục truyền rằng, vào thời nhà tiền Lý (bia Văn Miếu ở Hưng Yên ghi là thời Trần) ở xã An Đô, tổng Võng Phan, huyện Phù Dung (nay là thôn An Cầu, xã Tống Trân, huyện Phù Cừ) có một người họ Tống, tên gọi Thiệu Công thuộc dòng dõi thi thư, lấy vợ người xã Phù Oanh cùng huyện Phù Dung, tên là Đào Thị Cuông. Vợ chồng sống rất nhân từ, hay làm điều thiện... nên nhà Trời đã sai thiên sứ xuống đầu thai. Mang thai 11 tháng, bà Đào Thị Cuông mới sinh một cậu bé khôi ngô, tuấn tú vào ngày rằm tháng Tư năm Bính Ngọ.

 

Lên 3 tuổi, Tống Trân đã rất giỏi âm luật, cha mẹ rất yêu thương nên đặt tên là Trân. Lên 5 tuổi, Tống Trân đã có khí chất thông minh, thiên tư sáng suốt, học một biết mười, trên từ thiên văn, dưới đến địa lý đều am hiểu tinh tường.

 

Khi Tống Trân cùng mẹ lang thang hành khất, đến Sơn Tây vào một gia đình trưởng giả giàu có ăn xin, được Cúc Hoa (con gái ông trưởng giả) đem lòng yêu mến vì tài đối đáp thông minh của Tống Trân. Ba người đưa nhau trở về quê hương làm ăn.

 

Đến năm Tống Trân 7 tuổi vua Lý Nam Đế mở khoa thi để tuyển chọn nhân tài và đến ngày 29 tháng 9, Tống Trân vào kinh ứng thí, cả ba kỳ đều đỗ thủ khoa. Đến ngày mồng 1 tháng 2 năm Quý Sửu, ông đỗ Trạng Nguyên. Vua khen rằng: Kẻ sĩ cả nước chỉ có một Tống Trân là tướng tài mà không có người thứ hai.

 

Ngày mồng 10 tháng 4, vua ban cho cờ biển, một nghìn vuông gấm và mười đĩnh vàng cho về vinh quy bái tổ.

 

Trở về làng bái yết tổ tông, thăm hai bên nội ngoại, khao vọng làng xã trong một tháng, rồi cưới nàng Cúc Hoa làm vợ. Tống Trân làm nhà ở làng Phù Oanh, cho vợ trông coi rồi trở lại kinh thành. Được ba tháng, vua cử ngài đi sứ sang Bắc quốc. Vua Trung Quốc dùng đủ mọi cách để thử tài Tống Trân, nhưng quan Trạng đều ứng đối trôi chảy, xử thế mưu trí. Vua Trung Quốc khen là nhân tài thứ nhất trong 18 nước chư hầu và phong làm "Lưỡng quốc trạng nguyên". Vua Tầu muốn gả con gái cho nhưng Ngài từ chối, vì thế bị giam vào chùa Linh Long trong một trăm ngày, không cho thức ăn, nước uống. Tại đây, ông đã nảy ra sáng kiến bẻ ăn tượng phật (được làm bằng chè lam để thử tài trạng nước Nam) và uống nước lã, nên một lần nữa, vua Tàu phục tài bèn phong làm "Phụ quốc thượng tể Đẩu Nam Tống đại vương".

 

Mười năm đi sứ, khi Tống Trân trở về thì Cúc Hoa đang bị ép lấy chồng khác. Tống Trân giả dạng người hành khất để dò la tình ý, biết Cúc Hoa vẫn thủy chung với mình, khen Cúc Hoa đủ tam tòng, tứ đức, thực là nữ trung Nghiêu, Thuấn. Tống Trân đón vợ về, cùng nhau đoàn tụ. Vua biết chuyện, đã phong cho Cúc Hoa làm "Quận phu nhân".

 

Khi Lý Nam Đế băng hà, Triệu Quang Phục lên ngôi hiệu là Triệu Việt Vương, có vời Tống Trân ra làm "Phụ chính đại thần". Được hơn mười năm, Tống Trân ngoài 60 tuổi, mới dâng biểu cao quan về quê dạy học. Cúc Hoa không có con, lại mắc chứng bệnh đau bụng, ba hôm sau thì mất (ngày 3 tháng 3). Năm năm sau, Tống Trân bị chứng bệnh "mã đao" (hạch ở cổ) và mất ngày mồng 5 tháng 5 năm Tân Hợi.

 

Ngài được phong sắc "Thượng đẳng tối linh phụ quốc Tống Trân đại vương" và về sau được truy phong làm "Thượng đẳng phúc thần".

 

Theo quy định hàng năm, lễ hội làng được tổ chức từ ngày 10 đến ngày 17 tháng 4 âm lịch, trong đó ngày 13 và 14/4 là ngày hội chính. Ngày 13/4 tiến hành rước kiệu từ các đền, chùa trong làng. Trong ngày chính hội (tức ngày 14/4) dân làng rước kiệu quan Trạng đi vòng quanh làng với đoàn tuỳ tùng, cờ xí, võng lọng trông rất uy nghi. Và đến ngày 16/4 lại rước kiệu về các đình, đền, chùa để an vị. Ngày 17/4 làm lễ bế hội. Lễ hội đền Tống Trân là một trong những lễ hội lớn nhất của huyện Phù Cừ.

 

(Trích từ VÀO CHÙA LỄ PHẬT: NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT của Đặng Xuân Xuyến ; Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin 2006). 

Bài nhận được từ email: <baothang_xuanxuyen@yahoo.com.vn> 

 

 

READ MORE - ĐỀN THỜ TỐNG TRÂN - CÚC HOA Ở PHÙ CỪ, HƯNG YÊN - Đặng Xuân Xuyến

GIỌT CẠN - MacDung đọc thơ Titi Dang

 



GIỌT CẠN

MacDung đọc thơ Titi Dang


Men cay như chất xúc tác gợi lên cảm hứng cho thi nhân, có khi chỉ làm nền mô tả cảm giác phẫn uất xung thiên! Nhưng cũng có loại men ẩn tàng trong chất tứ, đọc rồi cứ lâng lâng như vừa nốc cạn tửu hồ… Men say tột cùng hiện hữu, truyền cảm nhận đến người thưởng thức như chính ta đang uống, chia sẻ cùng thơ như hòa làm một.


Không phải thi sĩ tài hoa Vũ Hoàng Chương đã từng thốt:

“Em ơi! Lửa tắt bình khô rượu

Đời vắng em rồi say với ai?...”

Nhưng có một chất rượu lưu ly không bằng men say, lại được ủ kĩ trong sắc tứ thời gian lịm chết con tim. Tác giả Titi Dang đã làm nên điều này qua thi tác:


KÝ ỨC


Nghiêng ly...

cạn giọt Xuân thì

Đông...

vương ký ức

bờ mi đọng sầu

Hạ...

vàng úa nỗi niềm đau

Rụng từng sợi nhớ...

nhạt nhàu...

Thu trôi...!


22.02.2020

TT-Thanh Trước


Xuân Thì vốn quý báu như ngọc. Ai cũng từng ngồi tiếc nuối một thời Xuân sắc hao gầy qua tháng năm! Thế nhưng dòng rượu sóng sánh như mật ngọt có khi chứa nỗi đau thời đã đánh mất, rồi mọi cái hóa thành chất men cay thấm đẫm buồn trôi qua cổ. Ly nghiêng, tất rượu sẽ sóng sánh màu – Màu của ký ức buồn nhiều hơn vui. Nếu nói vui, ai cũng muốn tìm đến sự chia sẻ thay vì ngồi nốc cạn từng giọt say với thời gian… Nghiêng ly uống, nhưng mắt liếc vào đáy, nhìn từng dòng rượu chảy ngược vào miệng, tận hưởng cả chất lẫn lượng từ từ thực hiện chuyến đi chôn sâu nỗi đau trong quá khứ! Cảm giác tuyệt sầu này, thử hỏi mấy ai từng một lần thực chứng trong cõi cô độc!?


Rượu cạn, giọt sẽ tạo ra trên đáy cốc… Vài hạt từ từ lăn xuống trả lại không gian trống vắng. Cách cạn giọt từ tác giả Titi Dang tạo lên hình ảnh tập trung vào ly rượu nhiều hơn người thưởng thức chất men. Câu đầu của Ký Ức sống động lạ thường bởi sự quan sát từ người uống đối chiếu với hình tượng giọt rượu lăn nhẹ, trôi tuột vào miệng một cách lạnh lùng xa vắng… Nghiêng ly cạn giọt Xuân thì!


Vương mang, luôn luôn rối bời với nỗi buồn thay vì buông bỏ! Lý luận nhà Phật cho rằng biết buông bỏ mới có thể tìm đến An Lạc. Nhưng thật ra Biết chưa đủ!? Buông bỏ Được mới là cảnh giới thấu triệt Vô Thường. Thử hỏi, về lý luận là vậy, nhân sinh mấy ai Buông Bỏ Được? Nếu thật sự đắc ngộ chân lý dễ dàng như thế thì nhà chùa không mọc lên! Cuộc sống không rối bời… Và những vần thơ buốt lòng không còn cơ hội để sinh ra…


“Vương vương” có nghĩa vướng mắc, dính vào, là một động từ kết hợp nghĩa với tính từ “mang mang” bằng mênh mông, mịt mù, cho ra từ ghép Vương Mang. Một khi đã vướng vào ký ức mịt mù trong cô đơn sẽ cho ra cảm giác lạnh lẽo khi xung quanh không lấy ai bầu bạn. “Cái ác” của tác giả Titi Dang đã sắp xếp ngữ cảnh rơi vào mùa Đông trong hoàn cảnh bản thân đang run lên vì lạnh – cảm nhận từ nỗi cô đơn. Thế là buồn và cực lạnh đã khiến cho lệ đọng long lanh mi. “Đọng” ở đây không phải chảy thành dòng mà chỉ ứa ra trong cố kiềm chế nhưng… bất thành! Ngữ cảnh chợt hiện sáng tâm ý cần thể hiện: “Đông... vương ký ức, bờ mi đọng sầu…”


Trong nắng Hạ mưa buồn bất chợt. Tâm trạng con người với bao khắc khoải cũng biến thiên theo thời tiết. Nắng vàng của Hạ óng ánh nhưng chỉ trong chốc lát mây đen phủ mù, cơn mưa có thể rơi xuống bất cứ lúc nào. Mùa Hạ mang cả một ký ức đẹp nhất tuổi ấu thơ thời áo trắng, chia tay một niên học. Bao kỷ niệm cũng bắt đầu từ đây với ba tháng hè rong ruổi vui chơi với bè bạn trang lứa…


Mùa Hạ của Titi Dang úa nhàu những ký ức, ẩn sâu bao nỗi buồn – Niềm nhớ chỉ để nhớ, không phương vãn hồi. “Hạ… vàng úa nỗi niềm đau”, như ban cho nét buồn một linh hồn, và niềm đau còn vương sự sống ấy đang thoi thóp từng nhịp trong nắng Hạ cuối cùng…


Ẩn sâu trong nỗi buồn được cân đo đong đếm trên từng sợi tóc bạc màu thời gian. Từng sợi, từng rợi rụng… Từng ngày, từng ngày trôi… Chứng kiến sự thay đổi hiện thực nhưng ký ức còn mãi lưu dấu. Câu cuối Ký Ức như dòng chảy qui luật quá khứ, có dùng dao cắt đoạn như nhà thơ Lý Bạch nói: Trừu đao đoạn thủy, thủy cánh lưu (Rút dao cắt nước, nước càng chảy)… Nỗi sầu là còn mãi… “Rụng từng sợi nhớ nhạt nhàu Thu trôi…!”


Trong tứ thời Xuân, Hạ, Thu, Đông, tác giả Titi Dang sử dụng cách đối chiếu phá vỡ trật tự đầy ẩn ý. Thay vì theo trình tự Xuân đối với Hạ, trong bốn câu Ký Ức mùa Xuân đầy sức sống lại bị đẩy vào thế đối đầu với Đông lạnh lẽo. Từ đó đẩy Ký Ức vào nét Bi, thể hiện tâm trạng tác giả, và người đọc bị kéo vào ngữ cảnh thê lương khi thưởng thức toàn bài.


Bốn mùa trong Ký Ức hầu hết thể hiện ở cuối mỗi thời. Trong lý luận ngũ hành bao gồm: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ; khi ứng vào tứ thời gian: Mộc thuộc Xuân, Hỏa thuộc Hạ, Kim thuộc Thu, Thủy thuộc Đông. Vậy còn hành Thổ ở nơi nào? Tiết khí và âm dương cổ lịch quy định cách gọi 3 tháng trong mỗi mùa là: Mạnh = đầu, Trọng = giữa, Quý = cuối. Mỗi mùa có 3 tháng, vậy Quý của mỗi mùa thuộc hành Thổ (tháng cuối). Ứng việc này vào thi tác cho thấy hầu như qua 4 câu thơ, tác giả Titi Dang luôn chọn hành Thổ trong tứ thời để thể hiện. Hành Thổ lại là trung hòa trong ngũ hành, bởi Thổ chứa đựng 4 hành còn lại… Gom tất cả ngũ hành, tác giả Titi Dang đã cho ra một Ký Ức thật buồn, thật khó tả xiết…!


Ký Ức ai cũng có, nhưng… Ký Ức của Titi Dang đang ban phát hào sảng cho nhiều bạn đọc khắp nơi thưởng thức. Tin rằng còn nhiều thi tác sẽ sớm ra mắt phục vụ cho khách yêu thơ, bởi một nữ nhân say thơ nhiều hơn bất cứ thứ gì hiện hữu trên cõi tục trần…


Chúng ta hãy cùng nhau:

“NGHIÊNG LY CẠN GIỌT XUÂN THÌ..."


VL – 12.6.2020

MacDung


READ MORE - GIỌT CẠN - MacDung đọc thơ Titi Dang