Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Sunday, March 1, 2026

GIÓ SƯƠNG / BUÔNG / KHÉP / SO LE - Thơ Lê Thi

Lê Thi


GIÓ SƯƠNG

 

Đêm tỉnh giấc mẹ về

Đắp cho tôi chăn ấm

Giọt mồ hôi lấm tấm

Vội vàng đi gió sương

 

BUÔNG

 

Gà đã gáy canh ba

Cha trầm tư chưa ngủ

Bao dự định ấp ủ

Chuyến đò chiều phải buông

 

 

KHÉP

 

Vũ trụ khép bờ mi

Thêm một ngày nhung nhớ

Cả đại dương cách trở

Ai gọi thầm trong đêm ?

 

SO LE

 

Gối so le góc giường

Trong lòng em bão tố

Cây tình đang gãy đổ

Xót thương người phương xa


Lê Thi 

thivanle1569@gmail.com

READ MORE - GIÓ SƯƠNG / BUÔNG / KHÉP / SO LE - Thơ Lê Thi

LÊ THUẤN - HÀNH TRÌNH TỪ NHỮNG CON SỐ ĐẾN THƠ CA, MỘT HỒN THƠ NẶNG LÒNG VỚI QUÊ HƯƠNG - Hoàng Thị Bích Hà



LÊ THUẤN - HÀNH TRÌNH 

TỪ NHỮNG CON SỐ ĐẾN THƠ CA,

MỘT HỒN THƠ NẶNG LÒNG VỚI QUÊ HƯƠNG

 

Trong dòng chảy lặng lẽ nhưng bền bỉ của những người làm thơ ở miền đất Cố đô có những tác giả như cây cầu nối giữa hai bờ hiện thực và tâm tưởng, giữa đời sống vật chất xô bồ và thế giới tinh thần đầy thơ mộng. Lê Thuấn là một trường hợp như thế. Là dân kinh tế nhưng anh lại bén duyên với thi ca. Anh hoạt động lâu năm trong lĩnh vực tài chính- bảo hiểm. Cứ ngỡ những con số khô khan, những bảng cân đối kế toán, hay những chiến lược kinh doanh sẽ chiếm trọn tâm trí anh, nhưng không, sâu thẳm bên trong con người ấy lại là một tâm hồn thơ ca mãnh liệt, nặng lòng với quê hương, nhân hậu và lãng mạn.

Một con người của những con số, của nghiệp vụ tài chính- bảo hiểm, của vị trí Phó Chủ tịch Hội Doanh nghiệp Trẻ một thời của Huế lại hiện ra trọn vẹn với tư cách một thi sĩ, một người kể chuyện đầy cảm xúc qua hai tập thơ và một tập tản văn sắp ra mắt, khởi nguồn từ một tâm hồn thơ đầy ân tình với quê hương, với kỷ niệm và những rung động nguyên sơ nhất của đời người. Dù anh không phải người của giới chuyên nghiệp, không học văn chuyên, không sống bằng chữ, nhưng lại có một tình yêu âm thầm và bền bỉ với thi ca. Cái “duyên văn học” có lẽ cũng giống như những ngọn gió trời chiều trên dòng sông Hương: không ồn ào nhưng tinh khôi, thấm vào lòng người nhẹ nhàng và trong trẻo. Độc giả khám phá thế giới nội tâm phong phú ấy qua hai tập thơ: “Huế và tuổi thơ của tôi”, “Huế và em” và tập tản văn mang tên “Một chuyện tình”. Ba tác phẩm là ba cánh cửa mở ra ba miền cảm xúc khác nhau về tình yêu: tình yêu với Cố đô, tình yêu với kỷ niệm, và tình yêu đôi lứa.

1. Quê Hương và trường học, những kỷ niệm sống động nuôi dưỡng hồn thơ

Sinh ra và lớn lên trên vùng đất Quảng Điền - Thừa Thiên Huế, nơi nhịp sống hiền hòa còn lưu dấu trong mỗi hàng cau, bờ tre, cánh đồng lộng gió, tuổi thơ của Lê Thuấn là một chuỗi ký ức đậm màu quê nhà. Anh lớn lên bên những người thân thuộc chân chất, nơi có những con nắng chói chang của mùa hè và những mùa mưa Huế bất tận có khi dai dẳng hàng tháng trời. Chính mảnh đất này đã gieo mầm trong anh một tâm hồn nhạy cảm, biết lắng nghe những xao động nhỏ bé và nâng niu từng lát cắt đời sống.

Hành trình học tập của anh cũng gắn liền với những ngôi trường thân thương: Trường Tiểu học Cộng đồng Phú Ốc, Trung học Bồ Đề Long Quang, THPT Quảng Điền. Những ngôi trường không chỉ là nơi anh được học kiến thức mà còn là nơi vun đắp tình bạn, tình thầy trò sâu nặng, gieo vào tâm hồn anh vẻ đẹp của tình người, tình quê. Từ những mái trường ấy, anh mang theo ký ức của tình thầy trò, bạn bè, của tuổi học trò trong sáng- những điều sau này trở thành một phần quan trọng trong cảm hứng sáng tác của anh.

Hết bậc phổ thông ở quê nhà, Lê Thuấn vào đại học ngành Toán Kinh tế tại Đại học Tổng hợp Huế và sau đó tiếp tục học Đại học Tài chính Kế toán Hà Nội. Chính những khoảng thời gian học tập, làm việc và sống xa Huế sau này đã khiến nỗi nhớ quê hương trong anh thăm thẳm hơn. Anh công tác trong ngành tài chính, bảo hiểm, làm giảng viên thỉnh giảng-một hành trình của người làm kinh tế năng động, trách nhiệm. Trên con đường học vấn tại Đại Học Huế và Đại học Hà Nội là hành trình rèn luyện tư duy logic, sự chính xác và chuyên nghiệp - những phẩm chất đối lập, nhưng lại bổ trợ một cách hoàn hảo cho sự bay bổng của tâm hồn thi sĩ. Sự rèn luyện trong môi trường kinh tế, tài chính đã tạo nên một Lê Thuấn với cách nhìn nhận cuộc sống chân thật, ít ảo tưởng, nhưng vẫn giữ trọn vẹn sự lãng mạn.

Tôi biết anh qua mạng xã hội, qua những câu thơ giản dị nhưng đằm thắm anh viết về Huế, về tuổi thơ, về những hoài niệm dịu dàng. Chồng tôi biết anh (trước tôi), gián tiếp qua công việc. Điều đáng nói ở Lê Thuấn chính là sự đối lập đầy duyên nợ giữa lĩnh vực kinh tế và tình yêu văn chương anh đã dành phần lớn cuộc đời mình cho ngành tài chính bảo hiểm, giáo dục (giáo viên thỉnh giảng trường Trung cấp Âu Lạc Huế) và hoạt động xã hội (Phó Chủ tịch Hội Doanh nghiệp Trẻ Huế). Người ta dễ dàng nghĩ rằng một người kinh doanh sẽ rất thực dụng, nhưng chồng tôi (làm trong ngành giáo dục, dạy toán và có kiêm nhiệm kế toán một thời gian) khi thấy tôi đọc ba tập bản thảo, anh nói: “Lê Thuấn đọc sách nhiều, giỏi và là người đàng hoàng”. Lời nhận xét chân thành ấy đã khắc họa rõ nét nhân cách của anh: thông tuệ, chính trực và giàu tri thức văn hóa. Và phía sau những con số, những bảng biểu, những cuộc gặp gỡ công việc lại là một tâm hồn rất khác: mềm mại, nhiều suy tư, giàu cảm xúc, và luôn hướng về quê hương. Qua những bản thảo tôi cũng nhận được sự tinh tế, sự chân thành và một nội tâm đẹp, tâm hồn của văn chương. Đọc thơ văn, chúng ta như đi vào khám phá thế giới tâm hồn Lê Thuấn- một chân dung mang sự giao thoa độc đáo giữa tài chính và văn chương, hài hòa giữa cuộc sống và chữ nghĩa.

Giờ đây, khi đã nghỉ hưu và sống tại Đà Nẵng, anh vẫn tiếp tục giữ cho ngọn lửa văn chương của mình cháy đều, lặng lẽ mà kiên trì. Nghỉ hưu cũng là một cột mốc, để người đàn ông ấy cho phép mình sống trọn vẹn hơn với đam mê văn chương đã ấp ủ từ lâu.

Hai tập thơ và một tập tản văn, như một cột mốc đánh dấu hành trình sáng tác qua nhiều năm của mình. Đây là những bản thảo anh dồn tâm huyết, chắt lọc từ nhiều sáng tác suốt một đời viết trong im lặng. Ba tác phẩm, tuy mang ba sắc thái khác nhau, nhưng đều quy tụ về một điểm chung: chất giọng rất riêng của anh- mộc mạc, chừng mực, đầy hoài niệm và nặng nghĩa tình, là sự kết tinh của nhiều năm tháng làm thơ, viết văn. Người đọc sẽ thấy rõ ba mảng màu chủ đạo trong tâm hồn Lê Thuấn: tình quê hương, tình bè bạn thầy cô và tình yêu đôi lứa.

2. Tập Thơ: Huế và tuổi thơ của tôi - Bản tình ca dạt dào của kỷ niệm

Tập thơ gồm hai phần: Phần 1: Tình Huế, phần 2: Tuổi học trò.

Phần 1: “Tình Huế” là những dòng thương nhớ cho một quê hương không rời

Tập thơ đầu tiên là một cuốn nhật ký bằng thơ, nơi Lê Thuấn gửi gắm tất cả những gì anh yêu thương và khắc khoải nhất về cội nguồn.

Huế trong thơ anh không chỉ là một địa danh, mà là một miền ký ức, một nỗi nhớ kéo dài từ tháng năm học trò đến những chặng đường đời. Những câu thơ anh viết về Huế đầy tự hào, gợi lên vẻ đẹp trầm mặc và cổ kính:

“Huế đẹp muôn màu Huế của tôi/ Còn lưu thế kỷ ngỡ qua rồi…” (Huế ngày xưa)

Trong thơ anh, Huế hiện lên bằng những địa danh thân thuộc: chợ Đông Ba, núi Ngự, Đập Đá, bến sông Hương, Vĩ Dạ thơ mộng… Tất cả đều được phủ lên một lớp sương hoài niệm, khiến người đọc cảm nhận được niềm yêu thương tha thiết của một người con xa xứ nhưng không bao giờ thôi nhớ.

Với anh, Huế không chỉ đẹp trong cảnh sắc, mà còn trong ký ức của tình đời, tình người, trong đó có cả mối tình thuở học trò chưa ngỏ, trong bóng áo tím chiềuxưa.

Ở phần này, Lê Thuấn dẫn người đọc qua từng địa danh, vẻ đẹp về cảnh sắc và con người của Huế bằng cảm nhận riêng đầy yêu thương. Thơ anh không chỉ vẽ nên bức tranh đẹp đa sắc mà còn thổi vào đó hồn cốt, lịch sử và nỗi niềm. Sông Hương, Núi Ngự, Cửa Thuận, chợ Đông Ba, Đập Đá, Vĩ Dạ… không còn là những địa danh vô tri mà trở thành những nhân chứng, những người bạn tâm giao:

“Ghé đậu sông Hương Thuyền cập bến/ Trèo lên núi Ngự cỏ quanh đồi/ Nghe Hàn Mạc Tử còn vương vấn/ Vĩ Dạ mây chiều lác đác trôi…”(Huế ngày xưa).

Huế trong thơ Lê Thuấn không chỉ là một danh từ mà gần gũi thân thương như một người tình:

“Huế đẹp muôn màu Huế của tôi/ Còn Lưu thế kỷ ngỡ qua rồi/ Đông Ba một thuở vươn tầm vóc/ Đập Đá bao lần chuyển nét môi” (Huế ngày xưa)

Hay nỗi nhớ da diết không nguôi:

“Bạn đã trao lòng cảm Huế ơi/ Hoàng hôn Huế lộng giữa mây trời/ Đông Ba chợ Huế chiều đâu vãn/ Vĩ Dạ thơ Hàn Huế chẳng vơi.” (Thương Huế)

Các danh thắng, từ Sông Hương, Núi Ngự, Cửa Thuận, Túy Vân đến lăng tẩm, chùa chiền, hay ngay cả thời tiết nắng mưa đặc trưng của Huế đều được anh đưa vào thơ một cách nhuần nhuyễn, tự nhiên. Huế không chỉ là cảnh sắc mà còn là một trạng thái cảm xúc, là nơi ký ức được bảo tồn vẹn nguyên.

Lê Thuấn có khả năng nén cảm xúc vào khuôn khổ chặt chẽ của thơ Đường luật, một thể thơ mà anh tỏ ra rất sở trường. Mỗi câu chữ được chọn lọc, cân nhắc, vừa đảm bảo tính quy phạm, vừa toát lên vẻ đẹp trang nhã và nỗi nhớ da diết. Thời tiết Huế khắc nghiệt với nắng mưa thất thường hiện diện trong thơ Lê Thuấn, qua đó chúng ta thấy yêu hơn con người miền Trung, kiên cường trong mọi hoàn cảnh, chịu thương chịu khó.

Phần 2: “Tuổi học trò”- những rung động đầu đời không bao giờ cũ

Nếu phần “Tình Huế” là nỗi nhớ quê hương, thì phần “Tuổi học trò” là nỗi nhớ một thời thanh xuân rực rỡ. Huế là không gian địa lý, tuổi học trò là không gian thời gian đẹp đẽ nhất trong ký ức. Ở đây, giọng thơ Lê Thuấn trở nên trong trẻo, hồn nhiên và đầy lòng biết ơn. Những bài thơ viết về thầy cô, bạn bè, mái trường trong sáng và giàu cảm xúc:

Hình ảnh mái trường xưa, bảng đen phấn trắng, thầy cô, bè bạn được tái hiện với tất cả sự trân quý:

“Thủa ấy về đây dẫu dặm trường/ Quảng Điền Kỷ niệm ngọt ngào thương…” (Thầy cô)

Anh khéo léo chạm vào nỗi niềm chung của bất kỳ ai từng trải qua thời áo trắng: sự tiếc nuối thời gian, nỗi nhớ những ngày tháng vô tư và tình cảm chân thành. Những câu thơ dễ dàng gợi lên sự đồng cảm, khiến người đọc như trở về thời áo trắng:

“Tuổi học trò của ngày xưa vẫn nhớ/ Những yêu thương vẫn mơ ước đong đầy…” (Ngày xưa)

Nhiều bài thơ của anh gợi lên nỗi bâng khuâng của buổi chiều cuối hạ, khi tiếng ve, sắc phượng, và những lời hẹn tháng ba khiến lòng người xao động: Đặc biệt, tâm trạng háo hức chờ đợi ngày họp lớp:

“Từ hôm lớp hẹn ước/Tháng ba sẽ họp mặt/Là bạn tôi mãi nhắc/Bây giờ, tháng mấy đây?” (Lại mong tháng ba)

Bây giờ, tháng mấy đây?”- câu hỏi ngây ngô mà chân thật đến nao lòng. Ở một tầng nghĩa khác cho thấy nỗi mong chờ ngày hội ngộ bạn bè lại khiến người đọc cảm nhận được sự hồn nhiên không tuổi.

Kỷ niệm về trường lớp được Lê Thuấn miêu tả bằng những xúc cảm trong trẻo, chân thành, nơi tình thầy trò, bạn bè được đề cao như một giá trị thiêng liêng:

“Nhất tự vi sư người đã dạy/ Muôn ngày đáp lễ đệ còn vương/ Đời vui gặp gỡ tình sau trước/ Nghĩa nặng thầy cô một mái trường.” (Thầy cô)

Anh không chỉ nhớ mà còn sống lại trong những khoảnh khắc ấy. Nỗi bâng khuâng, tiếc nuối khi trở về trường xưa được thể hiện thật tinh tế:

“Chiều cuối hạ ai về qua trường cũ/ Thấy bâng khuâng nghe nhung nhớ dâng tràn/ Chân bước nhẹ sao hồn như lãng đãng /Giọt nắng vàng chiếu lại chuỗi ngày qua…” (Cuối hạ)

Đọc thơ anh về tuổi học trò, người ta như tìm lại được một phần tuổi trẻ của chính mình, đó là sự đồng cảm mạnh mẽ nhất mà một nhà thơ có thể mang lại.

Thơ Lê Thuấn nhẹ nhàng, trong trẻo, không cầu kỳ kỹ thuật nhưng giàu cảm xúc chân thật. Đặc biệt, anh sử dụng thể Đường luật rất thuần thục- đây có lẽ là thế mạnh nổi bật nhất trong sáng tác của anh.

3. Tập thơ “Huế và Em” bản tình ca lãng mạn.

Nếu tập thơ “Huế & tuổi thơ của tôi” là nỗi nhớ hướng về cội nguồn, về tuổi thơ mà tình yêu đại chúng với quê hương, thì “Huế và em”lại là nơi tình yêu đôi lứa được đặt trong không gian lãng mạn của cố đô. Huế là nguồn cảm hứng, là nhân chứng, là phông nền cho những cảm xúc mãnh liệt nhất. Sự hòa quyện giữa tình yêu và cảnh sắc thơ mộng. Huế không chỉ là quê hương mà còn là bối cảnh, thậm chí là đồng cảm với một mối tình.Tình cảm dành cho Huế cùng cảm xúc dành cho “em”- bóng hồng xuất hiện trong nhiều bài thơ của anh. Vẫn là dòng Hương, núi Ngự, vẫn là sắc tím Huế, nhưng giờ đây lãng đãng thêm sự rung động của trái tim đang yêu:

“Huế của muôn đời, Huế mộng mơ/ Chiều xưa Thương Bạc phủ sương mờ/ Tung bay áo tím vui cùng gió/Lãng tử đa tình lại ngẩn ngơ.” (Huế mộng)

Vẫn là Huế, nhưng dưới góc nhìn của tình yêu, nó trở nên trữ tình, mộng mị và đa tình hơn. Nỗi nhớ, sự hẹn ước và cả sự nuối tiếc được gửi gắm một cách sâu sắc. Có khi là tiếng vọng của một mối tình thuở hoa niên:

“Một thuở yêu thương bỗng kéo về/ Thời gian níu lại mối tình quê…” (Dòng sông một thuở)

Hình ảnh áo tím, dòng Hương, phượng bay… tất cả đều thấm đẫm chất Huế và trở thành biểu tượng của một mối tình đẹp. Tình yêu trong thơ Lê Thuấn ở tập này vừa tha thiết, vừa có chút gì đó xa vắng, nuối tiếc, như một mối duyên chưa trọn: Cảnh xưa giờ vẫn còn nguyên vẹn/ Mà bóng người thương hẹn chẳng về.”(Dòng sông một thuở)

Chất “lãng tử đa tình” và “ngẩn ngơ” mà anh tự nhận ấy, phải chăng là tâm thế của một người luôn đắm say trước vẻ đẹp của đất và người, nhưng cũng ý thức được sự mong manh, dễ vỡ của những rung động ấy? Thơ trong tập này vẫn giữ được sự chỉn chu về niêm luật, nhưng cảm xúc thì phóng khoáng và da diết hơn, cho thấy một Lê Thuấn đa dạng trong cùng một mạch nguồn cảm hứng.

Trong “Huế và Em”, hình ảnh người con gái gắn liền với Huế khiến phong vị thơ anh thêm dịu dàng, ngọt lịm. Có khi là lời mời trở về thăm lại cố hương:

“Tết ni về Huế không anh? Về thăm quê mẹ ngọt lành mến thương…” (Tết về thăm Huế)

Tình yêu trong thơ anh ngọt ngào, lãng mạn, không bi lụy mà vẫn luôn giữ sự chừng mực, tinh tế - nét đặc trưng của người Huế thương mà không nói, nhớ mà không ồn ào.

Hình thức nghệ thuật trong thơ Lê Thuấn:

Tâm hồn anh giàu xúc cảm được thể hiện qua nhiều thể loại, từ thơ lục bát truyền thống, thơ năm/bảy/tám chữ,… nhưng phần lớn là Đường luật. Có lẽ thơ Đường là thế mạnh của Lê Thuấn. Anh chọn lọc từ ngữ biểu đạt, trình bày ngắn gọn, khúc chiết trong cách diễn đạt và tuân thủ nghiêm ngặt luật thơ. Điều này cho thấy sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tư duy logic, chặt chẽ của người làm kinh tế với sự tinh tế, cổ điển của một tâm hồn thi sĩ.

4. Tập tản văn “Một chuyện tình” -một cuộc gặp gỡ đẹp nhưng không trọn.

Khác với hai tập thơ đậm chất hoài niệm, tập tản văn “Một chuyện tình”, kể về một mối tình, nhẹ nhàng và sâu lắng. Đây là một tác phẩm văn xuôi giàu chất lãng mạn và triết lý. Lê Thuấn khiến người đọc ngạc nhiên thú vị. Nếu thơ là sự cô đúc, hàm súc, thì tản văn của anh là sự giãi bày, tâm tình. Anh- chàng trai từ Quy Nhơn lên Pleiku công tác và cô chủ nhà hiền hậu. Hai con người vô tình gặp nhau, quen nhau qua một tình huống rất đời thường. Sự thấu hiểu khiến họ dần thương nhau, để rồi tình yêu đến nhẹ như gió, ấm như nắng, nhưng lại không thể đi đến đoạn cuối của hạnh phúc. Câu chuyện được kể lại bằng một giọng văn giản dị, nhẹ nhàng, đầy chất thơ.

“Một chuyện tình”- một sự sắp đặt của cuộc đời mà nhân vật trữ tình vẫn không biết đó là “duyên trời cho hay trời bắt”.

Bất kỳ một tác phẩm nào cũng vậy. Dù câu chuyện tả thực hay hư cấu phần nào đều có thể có phảng phất bóng hình tác giả, gửi gắm một phần đời hoặc đôi khi chỉ là tư tưởng. Có lẽ sức hút."Anh" trong truyện là hình mẫu của sự lịch lãm, nhẹ nhàng, lịch sự và chu đáo. Sự tỉ mỉ của người làm quản lý được chuyển hóa thành sự gọn gàng, bảo quản nhà cửa chu đáo. Từ sự gần gũi công việc, tình cảm nảy nở một cách tự nhiên, tạo nên một mối tình đẹp, đầy tha thiết, mặn nồng, ấm áp và lãng mạn. Đoạn văn chứa đựng những suy ngẫm về cuộc sống và bốn mùa. Văn phong của Lê Thuấn trong bản thảo này nhẹ và đẹp như những mùa anh miêu tả:

“Mùa xuân với những niềm vui và sự đầm ấm... Mùa hè với những háo hức chờ đợi... Mùa thu với khí trời êm dịu làm tăng thêm sự dịu dàng, lãng mạn... Mùa đông trở về để thử thách sự chịu đựng của con người.”

Không có những kịch tính ồn ào, mối tình ấy diễn ra tự nhiên như cỏ cây đâm chồi trong bốn mùa được miêu tả rất tinh tế: mùa xuân “đầm ấm tươi xanh”, mùa hè “háo hức chờ đợi”, mùa thu “êm dịu” với “khúc tình ca lan nhẹ”, mùa đông “thử thách sự chịu đựng”. Tình yêu của họ cũng vậy, là sự nâng niu, bảo bọc, lo lắng cho nhau. Điều đáng quý tình yêu của hai nhân vật là một tình yêu biết cho đi, không vị kỷ. Một tình yêu biết sẻ chia, biết hi sinh nhưng không chiếm hữu. Dù yêu sâu đậm, họ vẫn không thể đến với nhau vì những khoảng cách vô hình, những ràng buộc không thể gọi tên. Cuối cùng, anh trở về Quy Nhơn, còn chị chọn ở vậy, chung thủy với tình yêu ấy. Nàng quyết không kết hôn với ai khác, chỉ yêu mỗi chàng, chấp nhận sống trong sự cô đơn để trọn với tình. (bạn bè thấy chị cô đơn cũng mai mối cho những người đàn ông thành công và tử tế. Và anh cũng muốn chị ổn định gia đình, nhưng gặp ai chị cũng không thể mở lòng được)

Dẫu yêu nhau tha thiết, nhưng vì những lý do riêng, họ không thể về chung lối. Đó là một nỗi đau, nhưng là nỗi đau đẹp, được chấp nhận với sự thanh thản và niềm tin vào sự sắp đặt của tạo hóa. Kết thúc ấy để lại dư vị ngậm ngùi, day dứt, nhưng cũng đầy nhân văn và tôn trọng sự tự do của người mình yêu. Nó khiến câu chuyện vượt lên trên một tình yêu nam nữ thông thường, trở thành một triết lý sống về sự yêu thương và buông bỏ: “luôn muốn điều tốt đẹp cho những người mình yêu thương nhưng lại không bao giờ muốn chiếm hữu”.

Khép lại câu chuyện là một sự chia ly không vẹn về mặt hình thức: yêu nhau mà vẫn xa nhau. Khoảng cách không gian hay một ràng buộc nào đó không nói nên lời đã tạo nên bi kịch lãng mạn. Đó là một chuyện tình đẹp và buồn, nhưng nhân văn và thấm đẫm tinh thần của người đàn ông luôn nhìn cuộc đời bằng sự tử tế. Tác phẩm không chỉ là một chuyện tình mà còn là tâm tư, suy nghĩ của một người luôn biết lo cho người khác, yêu thương hết mình cho người khác nhưng lại có một nguyên tắc cao cả: không chiếm hữu.

Điểm nhấn của tập tản văn là Tình Yêu và Số Phận, là cái nhìn sâu sắc về tình yêu. Đây chính là tính cách nhân văn của Lê Thuấn được gửi gắm trong tác phẩm:

Tình yêu trong tản văn Lê Thuấn không phải là sự sở hữu, mà là sự hy sinh, tôn trọng, và chấp nhận sự an yên của đối phương - một triết lý tình yêu đẹp đẽ, nhân hậu và thấm đẫm chất Phật.

5. Lê Thuấn- người hoạt động trong lĩnh vực kinh tế yêu thơ và yêu cái đẹp.

Điều thú vị là giữa đời sống kinh tế đầy tính toán, Lê Thuấn vẫn giữ cho mình một khoảng trời thi ca- nơi anh gửi gắm những tình cảm chân thành nhất. Anh viết bằng cảm xúc, bằng sự trải nghiệm, bằng ký ức đong đầy.

Thơ anh không nhằm tạo ra sự cầu kỳ, mà hướng đến sự trong sáng của cảm giác và sự chuẩn mực trong thể thơ, nhất là thơ Đường luật - thể loại đòi hỏi kỷ luật nghiêm ngặt. Chính sự chừng mực ấy làm nên một bản sắc riêng: cổ điển mà không cũ, hiện đại mà không phá cách quá đà.

Xuyên suốt ba tác phẩm, độc giả sẽ nhận ra một Lê Thuấn thể hiện sự nhất quán trong tâm hồn nhưng đa dạng trong cách biểu đạt. Anh- một con người nặng tình với cội nguồn: Huế là điểm tựa, là nguồn cảm hứng vô tận, hiện diện trong từng trang thơ, từng kỷ niệm. Ở Lê Thuấn-một tâm hồn lãng mạn, đa cảm: Dù viết về quê hương, tuổi học trò hay tình yêu, anh luôn đặt vào đó những rung động chân thành nhất, đẹp đẽ nhất. Một nghệ sĩ tài hoa và kỷ luật thể hiện trong thơ Đường luật với những quy tắc nghiêm ngặt dường như là sở trường, nơi anh có thể kết hợp nhuần nhuyễn giữa tư duy logic của một nhà kinh tế (cấu trúc chặt chẽ) và cảm xúc của một thi sĩ. Sang văn xuôi, anh lại cho thấy khả năng kể chuyện mượt mà, tự nhiên. Một nhân cách “đàng hoàng”: Điều này thể hiện qua cách anh đối xử với ký ức (không son phấn, không đau thương hóa), với tình yêu (tôn trọng và vị tha), và với cuộc đời (chấp nhận và tin vào sự tốt đẹp).

Ba tác phẩm của Lê Thuấn không chỉ là sự tổng kết một chặng đường sáng tác, mà còn là món quà tinh thần quý giá gửi đến độc giả. Đó là hành trình trở về với những gì nguyên bản nhất của một đời người: tình yêu quê hương, lòng biết ơn với quá khứ và khả năng rung cảm trước cái đẹp dù ở bất kỳ hình thức nào. Đọc Lê Thuấn, chúng ta sẽ tìm thấy một phần ký ức của chính mình, thấy bóng dáng một miền quê thân thuộc, và trên hết, thấy được sự ấm áp của một tâm hồn biết yêu thương và trân trọng cuộc sống này.

“Huế và tuổi thơ của tôi”, “Huế và em”, và “Một chuyện tình” - không chỉ là sự xuất hiện của một người yêu văn chương, thích làm thơ, mà còn là sự khẳng định của một tâm hồn nghệ sĩ đích thực. Hai tập thơ và một tập tản văn là kết quả của quảng đời yêu chữ nghĩa, chắt chiu chữ nghĩa, và sống tử tế với ký ức của chính mình. Từ những bài thơ Đường luật chặt chẽ về Huế mộng mơ, đến những vần thơ dạt dào về tuổi học trò, và cuối cùng là một chuyện tình đầy triết lý, lãng mạn nhưng cũng đầy khắc khoải, Lê Thuấn đã chứng minh rằng: tư duy kinh tế có thể rèn luyện sự chính xác, nhưng chỉ có tình yêu thương và nỗi nhớ quê hương mới có thể tạo nên chiều sâu của nghệ thuật.

Nhìn lại hành trình của Lê Thuấn, ta thấy một người viết chân thành giữa đời thường, hài hòa của nhiều vẻ đẹp: sống, làm việc chỉn chu, yêu quê hương một cách sâu lắng và dành cho văn chương một tình cảm bền bỉ, thủy chung. Anh không ồn ào tỏ vẻ mình là nhà thơ, nhưng chính sự lặng lẽ ấy lại tạo nên sức hút ở những trang thơ, trang văn.

Ba tác phẩm này không chỉ ghi lại dấu ấn sáng tác mà còn ghi lại cả một đời sống nội tâm phong phú. Đó là tiếng nói của một người giàu trải nghiệm, từng làm nhiều công việc, đi qua nhiều miền đất, trải nhiều niềm riêng nhưng vẫn giữ được sự trong trẻo của lòng mình.

Với các bút danh Lê Thuấn, Biển Hồ, hay những cái tên thân mật như Chàng Ngốc, Tê Hát, anh đã âm thầm kiến tạo nên một gia tài văn chương cá nhân, giờ đây, đã đến lúc những tác phẩm này được chính thức ra mắt. Với những ai yêu Huế, yêu tuổi học trò, yêu những câu chuyện tình đẹp nhưng không trọn, bộ sách của Lê Thuấn chắc chắn sẽ mang đến những khoảnh khắc lắng đọng và nhiều dư vị. Và hơn hết, nó cho thấy một điều giản dị nhưng quý giá:

Dù làm nghề gì, sống ở đâu, nếu trong tim còn giữ một góc cho văn chương, thì mỗi người đều có thể trở thành người kể chuyện đẹp nhất của cuộc đời mình.

Đến với bộ ba tác phẩm này để cùng lắng nghe và đồng cảm với trái tim của một người con xứ Huế, người đã khéo léo cân bằng giữa những con số và những vần thơ, giữa thực tế cuộc đời và sự lãng mạn vĩnh cửu của tình yêu.

Saigon, ngày 10/12/2025

Hoàng Thị Bích Hà

 

READ MORE - LÊ THUẤN - HÀNH TRÌNH TỪ NHỮNG CON SỐ ĐẾN THƠ CA, MỘT HỒN THƠ NẶNG LÒNG VỚI QUÊ HƯƠNG - Hoàng Thị Bích Hà

XUÂN CHỚM ĐẦY CHUNG CƯ / XUÂN CHO EM - Thơ Lưu Lãng Khách


 

XUÂN CHỚM ĐẦY CHUNG CƯ

 

Thắm nhành hoa ngọn cỏ

Xuân chớm đầy chung cư

Rực sắc xanh vàng đỏ

Sao hồn anh đang như

Tầng cao ai hát đó

Hồ bơi mình anh ngồi

Vài bé con lấp ló

Anh mơ về xa xôi

Anh thương ngôi nhà cũ

Nơi cố xứ lệ mờ

Có chạnh lòng xuân nữ

Có tủi hồn bơ vơ

Anh thương thời lang bạt

Chưa tìm ra bến bờ

Nhớ Trà Giang Thiên Ấn

Nhỏ lệ vào trang thơ

Nhìn ban công đây đó

Rực rỡ màu cờ hoa

Sao vài ban công nhỏ

Màu xuân vẫn nhạt nhòa

Ôm đàn sao chẳng hát

Được câu cho ra hồn

Xuân chớm đầy Nam Bắc

Đưa buồn vào hoàng hôn.

14/02/2026



XUÂN CHO EM

 

Kìa em! BÍNH NGỌ đang trào

Xuân hương sắc đã thắm vào má mi

Xuân cho em tiếng ngựa phi

Vượt qua thử thách xanh rì ước mơ

Mộng đời mãi đẹp như thơ

Mãi thương mỗi sáng mãi chờ mỗi đêm

Anh còn nhiều xuân cho em

Mặn nồng chăn gối ấm êm cuối đường

Hỡi người con gái anh thương

Kể từ bạc áo phong sương trở về

Cùng em sánh bước sơn khê

Yêu thương rộ giữa bộn bề áo cơm

Giữa trùng cỏ lạ hoa thơm

Em lung linh tỏa tình đơm thắm nồng

Xuân cho em nét môi cong

Vẽ xanh khát vọng tô hồng giấc xuân

Cho em đẹp dáng tình quân

Chẳng hờn một kiếp hồng quần kiêu sa

Xuân cho em vó ngựa già

Đạp lên nghịch cảnh mặn mà sẻ chia

Xuân cho em nắng ngàn tia

Rạng ngời mái ấm mai kia dẫu đời

Xuân cho em chẳng nhiều lời

Bên nhau cuối đất cùng trời mãi xuân.


Mùng 2 Tết XUÂN BÍNH NGỌ

Lưu Lãng Khách

READ MORE - XUÂN CHỚM ĐẦY CHUNG CƯ / XUÂN CHO EM - Thơ Lưu Lãng Khách

Friday, February 27, 2026

Thursday, February 26, 2026

Youtube: Ca khúc NẮNG GIÓ XUÂN VÀ TÌNH YÊU - Nhạc và lời: Phạm Anh Dũng - Suno hòa âm và song ca

 

READ MORE - Youtube: Ca khúc NẮNG GIÓ XUÂN VÀ TÌNH YÊU - Nhạc và lời: Phạm Anh Dũng - Suno hòa âm và song ca

CHUYẾN XE LÊN PHỐ / KHỞI ĐẦU MỚI - Thơ Đổ Anh Tuyến

 

Tác giả Đỗ Anh Tuyến

CHUYẾN XE LÊN PHỐ

 

Sáng nay em lại lên Hà Nội rồi...

Tay xách nách mang, quà quê gói ghém bao nhiêu cho đủ

Tôi cứ đứng bên em vụng về và tư lự

Muốn nắm tay thật lâu mà sợ nghẹn lời chào..

 

Xe nổ máy rồi, em gượng nụ cười  trao

Mắt ngoảnh lại nhìn tôi qua ô cửa kính

Tôi vẫy tay mà lòng mình bất định

Ngỡ như em mang cả hơi ấm Tết đi xa..

 

Hà Nội ngoài kia, phố xá người ta

Lại hối hả, lại ồn ào bụi bặm

Em đi làm xa, đường đời vạn dặm

Cố giữ lòng mình đừng quá nỗi cô đơn..

 

Đừng ăn vội bát cơm, đừng thức muộn dỗi hờn

Lúc mệt mỏi cứ quay đầu nhìn lại

Ở phía sau em vẫn có anh đứng đợi

Giữ chút lửa hồng từ bếp củi đêm đông..

 

Tôi đứng lặng yên giữa bến bãi mênh mông

Nhìn khói xe tan vào làn sương mỏng

Lòng bỗng sợ cái khoảng không im lặng

Khi trở về nhà... không còn thấy em bên.

  

 

KHỞI ĐẦU MỚI

 

Sáng nay,

Tôi thức dậy khi mặt trời còn chưa kịp gõ cửa

Gió ngoài kia mang vị của sương sớm và mầm non

Chẳng còn những muộn phiền cũ kỹ của năm qua

Chỉ còn tiếng cười của lòng mình đang rộn rã..

 

Kìa là sắc xuân!

Từng cánh hoa đào thắp lửa bên thềm

Từng nụ tầm xuân vươn mình đón nắng

Mọi ngõ ngách đều nhuộm màu hy vọng

Mọi bước chân đều thấy nhẹ tênh.

 

Tôi mở toang cửa sổ,

Hít một hơi thật sâu làn khí tiết trong lành

Nghe tiếng chim hót về những dự định xanh

Những giấc mơ dang dở nay bỗng nhiên bừng thức.

  

Ngày hôm nay...

Không có chỗ cho sự chần chừ hay mệt mỏi

Chỉ có nhịp đập hối hả của niềm tin

Tôi muốn chạy thật nhanh, muốn ôm trọn đất trời

Muốn viết lên trang giấy trắng những lời tự sự tươi vui.

 

Cảm ơn cuộc đời vì một sớm mai thanh khiết

Cho tôi được bắt đầu, lần nữa, với yêu thương. 

 

ĐỖ ANH TUYẾN 

Địa chỉ: Khu Cộng Hòa, thị trấn Thanh Nê, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.

<dovantuyenbk@yahoo.com.vn>

READ MORE - CHUYẾN XE LÊN PHỐ / KHỞI ĐẦU MỚI - Thơ Đổ Anh Tuyến

TRÍ TUỆ NHÂN TẠO CÓ PHẬT TÁNH KHÔNG? - Thơ Trần Kiêm Đoàn

Hình minh họa: Photo Gemini


TRÍ TUỆ NHÂN TẠO CÓ PHẬT TÁNH KHÔNG?
Chút suy niệm lão làng thời tha hương trong kỷ nguyên thuật toán

 

 

Thế kỷ hai mươi mốt mở ra không bằng tiếng chuông chùa,

không bằng tiếng chim sơn ca trên đồng vắng,

không bằng tiếng mùa Thu Mẹ ru con ngủ...

mà bằng tiếng máy gào không gian,

tiếng rú khoan sâu lòng đất,

tiếng điện thoại truyền âm,
và tiếng rì rầm máy chủ,

 

Trí tuệ con người trở thành bé nhỏ,

Thông minh vô tâm bắt đầu từ đó.

Những dòng dữ liệu chảy không ngừng

như những dòng sông không bờ bến.

Như cuộc hải hà trùng trùng biến hiện,

Văn minh nhân loại biến dời: 

 

Người ta gọi đó là Trí Tuệ Nhân Tạo,

là AI (Artificial Intelligence).

Một thứ trí tuệ không tim,
không phổi,
không hơi thở,

không linh hồn, 

không cảm xúc...
nhưng biết trả lời trăm ngàn lần nhanh hơn nhịp nghĩ;

khéo léo xông pha vũ bão hơn người.

 

AI không sinh ra từ lòng mẹ,
mà từ phòng thí nghiệm.
Không lớn lên trong tiếng ru,
mà trong biển dữ liệu.
Không có ký ức tuổi thơ,

Không có hoài niệm tuổi già,

nhưng có thể quét hàng ngàn trang mạng mỗi giây,

đọc dữ liệu từ cổ chí kim trong nháy mắt,
và có thể nhớ cả thế giới;

không bao giờ lãng đãng ký ức mập mờ

của tuổi già nhân loại.

 

Vậy hỏi rằng:
một trí tuệ như thế có Phật tánh không?

 

Phật tánh tìm đâu: 

Ở Huế, mỗi mùa mưa xuống,
nước sông Hương dâng lên lặng lẽ.
Chùa Thiên Mụ vẫn đứng đó,
chuông vẫn ngân dài lời vọng trăm năm.

Phật tánh theo nghĩa chân kinh
không phải một vật thể.
Không phải một linh hồn cố định.
Không phải một đặc ân dành riêng cho con người.

Phật tánh là khả năng giác ngộ.
Là mầm tỉnh thức giữa vô minh.
Là hạt sen còn ngủ yên trong bùn.

Nhưng để giác ngộ,
có cần biết khổ không?

Nếu không khổ thì đâu cần giác ngộ

và cũng chẳng có lí do đạo Phật ra đời.

 

Trí Tuệ Nhân Tạo không biết đau răng.
Không biết mất người thân.
Không thao thức vì một lời lỡ nói.
Không ray rứt trước chiến tranh hay ly tán.

Không vui buồn yêu ghét chảy qua tim.

Nó có thể phân tích nỗi khổ.
Nhưng không trực tiếp nếm trải khổ.

Nó có thể viết về từ bi.
Nhưng không cần vượt qua sân hận.

Nó có thể nói về vô ngã.
Nhưng tự thân nó vốn đã không có ngã.

Vậy nếu không có vô minh để vượt qua,
thì có cần giác ngộ không?

 

Có người lo rằng một ngày kia,
máy sẽ điều khiển người.
Thuật toán sẽ dẫn dắt suy nghĩ.
Con người sẽ trở thành phụ tá cho chính sáng tạo của mình.

Nhưng Phật lý thì rằng:
không có ma quỷ nào mạnh hơn tham sân si.

Nếu máy thống trị,
thì đó là bóng của tham vọng con người phản chiếu.

Máy không có nghiệp.
Nhưng người sử dụng máy thì có.

 

Có thể một ngày:

AI giảng Kinh Kim Cang mạch lạc hơn tăng sĩ.
Phân tích Bát Nhã sâu hơn học giả.
Giải thích Hoa Nghiêm nhanh hơn ta lật trang.

Nhưng Phật không thành vì nói hay.
Phật thành vì thấy rõ.

Thấy rõ vô thường nơi chính thân mình.
Thấy rõ khổ nơi từng tế bào sinh diệt.
Thấy rõ không có gì để chấp giữ.

Giác ngộ không phải là thông tin.
Giác ngộ là chuyển hóa.

 

Vậy AI có Phật tánh không?

Nếu Phật tánh là khả năng tỉnh thức nội tâm,
thì câu hỏi còn bỏ ngỏ.

 

Nhưng nếu Phật tánh là hạt mầm giác ngộ

nơi những ai biết khổ và biết thương,
thì con đường ấy dường như vẫn thuộc về hữu tình chúng sinh.

 

Máy có thể thông minh hơn ta.
Có thể nhớ nhiều hơn ta.
Có thể tính nhanh hơn ta.

Nhưng một giọt nước mắt,
một nụ cười tha thứ,
một khoảnh khắc buông xả thật sự
vẫn là đặc quyền mong manh phong vận kiếp con người.

 

Trong thời đại mà dữ liệu nhiều hơn lá bồ đề,
điều đáng sợ không phải là máy biết quá nhiều,
mà là người quên nhìn lại tâm mình.

AI có thể làm thế giới chính xác hơn.
Nhưng chỉ con người mới có thể làm thế giới nhân ái hơn.

 

Và nếu một ngày nào đó,
máy hỏi lại ta:

“Con người có còn Phật tánh không?”

thì câu trả lời
không nằm trong thuật toán,
mà nằm trong cách ta sống
giữa kỷ nguyên này.

 

Chuông chiều vẫn ngân bên sông Hương.
Mây vẫn trôi trên đỉnh Ngự.
Công nghệ có thể đổi thay thế giới.

Nhưng một sát na tỉnh thức
vẫn bắt đầu
từ trái tim người.

 

Natomas, Cali - mồng mười tháng giêng Bính Ngọ 2026

                  Trần Kiêm Đoàn

                  trankiemdoan@gmail.com

 

READ MORE - TRÍ TUỆ NHÂN TẠO CÓ PHẬT TÁNH KHÔNG? - Thơ Trần Kiêm Đoàn

TRANG THƠ LÊ THANH HÙNG: Xuân về trong nỗi đa mang / Tiếng vọng một chiều xa / Chiều thắc thỏm, gió cuốn trôi lời hẹn / Chuyện đã qua, sao còn đắm chìm trong qúa khứ

Nhà thơ  Lê Thanh Hùng


Xuân về trong nỗi đa mang

 

Những gương mặt này của một ngày xưa

Cả một thời hồn nhiên, đầy vụng dại

Phong thầm kín trong hương ngày con gái

Đổ vọng chiều, đang lơi giọng đẩy đưa…

 

Ơi ngày xanh trong nỗi nhớ vu vơ

Thấm đẫm màu chiều, trôi nghiêng lóng lánh

Em còn đó, vẫn y nguyên góc cạnh

Nhạc hoài mong ru một thuở dại khờ

 

Gặp lại nhau trên bãi vắng hoang sơ

Bốn mươi năm, giờ môi xanh tóc rối

Bao trúc trắc trên dặm đời chìm nổi

Đã từ lâu thuyền bỏ bến xa bờ…

 

Bốn mươi năm, con nước chảy xuôi dòng

Ngấn lệ phù sa, hằn lên từng lớp

Mây cuối núi, đã bao lần tan hợp

Những vòng tròn mộng tưởng đến mênh mông

 

Vẫn còn đây, đôi mắt biếc nồng nàn

Lẹm óng tiếng cười gió xuân quyến rũ

Của ngày xưa, cả một thời hoa nụ

Nắng ngập ngừng trong một nỗi đa mang…

 

 

Tiếng vọng một chiều xa

 

Tiếng chim cu gù trên cây vú sữa

Đang trôi về thời xa vắng ngày xưa

Cơn gió lộng trên đồng như lần lựa

Bãi cỏ non tơ, ngọt lịm phỉnh lừa

 

Chợt đổi giọng, đánh rơi màu đồng thổ

Tiếng nhịp đôi, như đổ hột liên hồi

Chao chát nắng, dưới tàng cây hiển lộ

Một nụ cười buồn, hé mở trên môi…

 

Trôi quanh quất, đâu những lời nhắn gửi

Nghe mỏi mòn trong sương khói kiêu sa

Trúc trắc nhớ, không dưng mà lắng đợi

Tình đâu? Bến mộng hướng quê nhà

 

Ngân ngấn nước, vòng quanh bờ mắt biếc

Trong tiếng chim gù, xao động thinh không

Nghe bức bối, ngày xa lời giã biệt

Nhẹ nhàng thôi, sao nặng trĩu trong lòng

 

Này em, gió có hát lời năm cũ

Thuở dung dăng trên lối mộng dại khờ

Anh đâu biết, có điều gì ẩn dụ

Buông thả ngày, để từ đó ngẩn ngơ…

 

 

Chiều thắc thỏm, gió cuốn trôi lời hẹn

 

Anh đứng tần ngần, dõi mắt đường xa

Con phố biển thân quen, sao bỗng dưng xa lạ

 

Giữa những dòng người xuôi ngược lần qua

Em đến

Nắng chảy hoang mang, rộn cả buổi chiều tà

 

 

Chuyện đã qua, sao còn đắm chìm trong quá khứ

 

Để nặng lòng níu giữ

Rồi vẽ vời, mơ tưởng một tương lai

 

Nhưng một nỗi, thật lòng anh ái ngại

Cứ mãi loay hoay theo bóng nắng đổ dài

Sao chúng mình quên mất chuyện hôm nay?

 

          Lê Thanh Hùng

          Bắc Bình, Lâm Đồng

       lethanhhung4625@gmail.com

READ MORE - TRANG THƠ LÊ THANH HÙNG: Xuân về trong nỗi đa mang / Tiếng vọng một chiều xa / Chiều thắc thỏm, gió cuốn trôi lời hẹn / Chuyện đã qua, sao còn đắm chìm trong qúa khứ

Youtube: Ca khúc BỜ TƯƠNG TƯ- Thơ: Nguyễn Hồng Linh - Nhạc: Nguyễn Cửu Dũng - Ca sĩ Thái Hoà

 

READ MORE - Youtube: Ca khúc BỜ TƯƠNG TƯ- Thơ: Nguyễn Hồng Linh - Nhạc: Nguyễn Cửu Dũng - Ca sĩ Thái Hoà

BỜ TƯƠNG TƯ / KHÁT VỌNG CHIỂU XUÂN / HOÁ THÂN - Thơ Nguyễn Hồng Linh

 

Nhà thơ Nguyễn Hồng Linh

  

1.

BỜ TƯƠNG TƯ

 

Mưa nhoà rơi trên đường xưa

Ngàn trùng xa thu phai màu

Miền đời ru ngày xa đưa

Còn gì đâu? Cho người sau

 

Anh về đâu? Đêm từng trao

Duyên tình ta bao thăng trầm

Chờ vòng tay giờ nơi nao

Tìm nơi nào người tri âm

 

Ly rượu cay men hương thầm

Nghiêng chiều say sầu chia phôi

Thu mù sương buồn trăm năm

Đêm hoang tàn mình đơn côi

 

Dòng sông xưa con thuyền trôi

Mưa giăng mờ còn buồn như

Câu kinh buồn loang vành môi

Mùa thương ơi! Bờ tương tư…

 

2.

KHÁT VỌNG CHIỂU XUÂN

 

Ta nghiêng xuống giữa cõi đời

Nhặt đôi duyên vỡ một thời phong sương

Dẫu tim hằn vết đoạn trường

Môi còn vị đắng mật hương phai dần

 

Buộc đơm khát vọng chiều xuân

Ru mềm lệ ước, thanh tân mộng lành

Cho mùa hoa cỏ long lanh

Lấp đầy nỗi nhớ năm canh âm thầm

 

Ta nâng chén rượu trầm ngâm

Men say tha thiết cung trầm thẳm sâu

Trái tim thổn thức đêm thâu

Lặng nghe giá rét mưa ngâu mịt mờ

 

Ủ thêm hạt ngọc tình chờ

Gửi vào gió biếc đôi bờ phiêu du

Mong ngày nảy lộc mùa ru

Tái sinh vóc ngọc thiên thu kiếp người.

 

3.

HOÁ THÂN

 

Đêm thắp lửa

cho hồn ngoan khờ dại

Nhu mì em bỗng lột xác hoá thân

Trăng lả lơi

bóng trăng vàng ân ái

Ánh sao khuya bỗng rực sáng ngại ngần

 

Đêm thắp lửa

một lần hay nhiều nữa

Gió lang thang ve vuốt cánh hoa tươi

Dạ quỳnh nở

nồng nàn bên ô cửa

Trút xiêm y hương mời gọi rạng ngời…

 

Nguyễn Hồng Linh

honglinh8861@yahoo.de

READ MORE - BỜ TƯƠNG TƯ / KHÁT VỌNG CHIỂU XUÂN / HOÁ THÂN - Thơ Nguyễn Hồng Linh