 |
| Ảnh minh họa của Gemini. |
KHI ANH ĐI KHÔNG NGƯỜI
ĐƯA ĐÓN
KHI ANH VỀ TÁM CHÍN
NGƯỜI KHIÊNG
Hoàng Thị Bích Hà
Ra trường, sau vài năm trải nghiệm nghĩa vụ
miền núi, tôi được bổ về dạy học tại một trường trung tâm nội đô. Hôm ấy tôi
trống tiết 2 và 3, nên tranh thủ ra trước cổng trường, ăn sáng. Quán này
chuyên cung cấp hải sản, cơm văn phòng và một vài món ăn sáng. Chợt tôi thấy
một người đàn bà ngoài ngũ tuần, da hồng hào, đôi môi đỏ thắm. Trên cổ là
sợi dây chuyền vàng nặng trĩu. Hai tay đeo kín vòng xuyến hay ximen 7 chiếc.
Mười ngón tay gần như chẳng ngón nào không mang nhẫn với đủ loại mặt ngọc.
Tôi nhìn chị gật đầu chào, chị cười hiền chỉ
vào trong quán:
-Cô giáo dùng gì, vào mấy em làm cho!
Đó là chị Lâm, chủ quán.
Chị từ vùng biển Thuận An lên Thành Nội mua
căn nhà mặt tiền cách đây vài năm. Hồi mới mua, nhà chỉ môt trệt, một lững cũ
kỹ. Sau một thời gian, chị xây lại thành hai tầng khang trang rồi mở quán ăn.
Chị thuê người làm hết. Chị chỉ đi ra đi vào quán xuyến chung, dáng bộ rất
thảnh thơi.Tuy nhiên, lúc nào cũng giản dị, bình dân. Khách ăn trong quán còn
ngồi bàn ghế đàng hoàng, còn chị lại hay ngồi bên bậc thềm trò chuyện với hàng
xóm một cách vui vẻ, ăn sáng, ăn vặt gì chị cũng chỉ ngồi đó, không cần bàn ghế
gì sất. Khi có cái đòn, có khi chị ngồi ngay bậc thềm chuyện vãn với láng
giềng. Trong xóm và khách của quán, ai cũng quý chị. Tôi quen chị từ đó.
…
Sau mấy tháng nghỉ hè, tôi mới quay lại
trường.
Chị chủ nhà vẫn ngồi đó, nhưng bộ điệu đã
khác, nụ cười buồn hơn. Vàng trên hay tay không còn nhiều như mọi khi. Gương
mặt sầu thảm, mất hết cả sinh khí!
Tôi nghĩ thầm, có lẽ chị ốm, hỏi:
-Dạo này khỏe không, chị Lâm?
Chị không trả lời ngay mà theo tôi đi vào
trong quán. Tôi mua ít cá, tôm về cho gia đình. Đợi em nhân viên soạn hàng cho tôi.
Chị bảo:
-Cô giáo dùng chén trà ấm đi!
Khói trà bay lên rồi tan mất giữa khoảng sân
đầy nắng.
Chị nhìn tôi, ánh mắt chị buồn như ngày tận
thế, chị chậm rãi nói:
- Tui mất nhà rồi, cô giáo!
Tôi giật mình. Căn nhà hai tầng trước mặt còn
đó. Bức tường mới sơn còn thơm mùi vôi mới. Mất nhà là mất làm sao?
Chị hiểu thắc mắc của tôi, cúi đầu nhìn xuống
chén trà rồi nói:
- Chồng tui bán rồi.
Giọng buồn, trầm mang vẻ cay đắng. Có những
nỗi đau chỉ muốn khóc, mà đau quá có khi khóc không nổi.
-Tuần sau tui phải vô trong hẻm thuê nhà để 4
mẹ con sống với nhau. Chắc cũng tiếp tục bán quán ăn nhưng nấu ít lại, cho nhân
viên nghỉ bớt, chỉ để lại một người đứng bếp.
Chị chậm rãi kể tiếp:
- Chẳng giấu gì cô. Vợ chồng tôi làm ăn, tích
cóp mà có. Ngày trẻ, vợ chồng theo ghe đánh cá. Những chuyến biển kéo dài hàng
tháng trời. Có khi đi tận vùng đảo xa. Những lần gặp bão, chỉ biết ôm nhau, cầu
trời cho ghe đừng lật. Mưa gió, sóng lớn, hiểm nguy đủ thứ. Cực khổ vậy nhưng
cũng dành dụm được chút vốn.
Khi có chút vốn, tôi mới tính lên phố mua nhà,
làm ăn, đặng kiếm chỗ con cái học hành cho thuận tiện.
Thế rồi, tui mở quán ăn cũng có đồng vô, đồng
ra đủ chi phí sinh hoạt và lo cho con cái học hành. Tưởng cuộc đời từ đó sẽ yên
ổn. Ai ngờ lúc túi có tiền, người lại sinh chuyện.
- Đàn ông nhiều khi lạ lắm, cô giáo à. Hồi
nghèo thì chăm chỉ làm ăn. Đến lúc có vài đồng trong túi, rảnh rỗi sinh tật.
Ông ấy đi nhậu.
Chị nói mà giọng bình thản đến lạ, như đang kể
chuyện của ai khác.
- Ban đầu chỉ là nhậu nhẹt. Sau đó là bia ôm.
Rồi dính luôn một con nhỏ thua ổng ba chục tuổi, chỉ bằng tuổi đứa con đầu của
ổng.
Tôi lặng lẽ nghe chị kể, nhìn xuống những ngón
tay chị. Những ngón tay từng kéo lưới, từng vá chài, từng gói ghém cả tuổi trẻ
trong mưa gió và mùi muối biển, đang run rẩy.
-Ổng bán nhà.
Chị ngừng lại, nhấp ngụm trà.
-Ban đầu ổng giấu. Sau thì chẳng buồn giấu
nữa.
Ổng về bán căn nhà này, lấy tiền đi theo gái
rồi. Nghe nói vô Nam sống. Còn nhà này đã có chủ mới, người ta hẹn tuần sau
giao nhà. Tui ngao ngán chỉ biết kêu trời!
Nói tới đây, mắt chị đỏ hoe.
-Tui vẫn nghĩ rồi sẽ có ngày ổng tỉnh ra mà
quay về.
Nhưng quay về đâu chẳng thấy lại còn ngày một
sa chân.
Tôi chỉ biết động viên chị ráng giữ gìn sức
khỏe, buôn bán và lo cho con. Rồi mọi việc sẽ qua!
Thời gian trôi đi mới đó đã ba năm, tui thỉnh
thoảng vẫn ghé ủng hộ chị. Nghe chị kể, tiền buôn bán không đủ chi phí trả
mặt bằng. Chị tính gọi điện qua Mỹ, nói với chú Út là cho dựng tạm căn nhà tôn
ở trên đất chú, chèo chống cho con lớn lên một khúc nữa, để các cháu học xong
phổ thông mà kiếm việc làm. Khi nào chú về Việt Nam nghỉ hưu thì trả lại đất
cho chú.
(Chú Út là em trai ba nó, qua bên Mỹ đánh cá
cũng khá, gửi tiền về nhờ mua giùm một miếng đất để sau này về dưỡng già).
Nhưng đâu còn nữa, ăn hết tiền, ổng về bán
luôn miếng đất của chú em và mang tiền đi rồi!
(Có lẽ lúc đi mua nhà, chị bận buôn bán, lại tin tưởng chồng nên ủy quyền cho
anh ta đi giao dịch, nên sổ đỏ nhà chị và miếng đất của chú em đều đứng tên anh
ta)
-Tui nghe mà rụng rời tay chân. Theo gái trẻ
mà như bị người ta lấy mất hồn vậy đó, cô giáo.
-Đứa con trai đầu bảo tôi (chị kể tiếp): “Mẹ
cho con đi nhảy tàu vài năm cho cứng cáp để con tìm ba, con chém, chơ con tức
quá rồi!
Tôi hết hồn hết vía bảo con:
- Mạ lạy con! Ổng sai thì có trời biết. Mình
đừng gây thêm tội. Ông ấy chết rồi, nhà cửa mình cũng đâu lấy lại được, còn
chưa kể con ngồi tù, mẹ làm sao mà bới xách vừa lo làm lụng để nuôi mấy em.
May mà thằng nhỏ cũng nguôi.
Thế rồi thôi, mấy mẹ con cứ cặm cụi làm ăn qua
ngày đoạn tháng. Bây giờ hai đứa đã tốt nghiệp phổ thông và đi làm ở Bình
Dương.
Tôi ghé thấy quán nhỏ hơn, bàn ghế ít hơn.
Nhân viên cũng ít hơn. Nhưng chị vẫn ở đó, cặm cụi làm ăn, chống chọi với những
món nợ mà mình không gây ra.
Bẵng đi một thời gian, tôi bận rộn quá, không
ghé.
Cho đến một buổi trưa. Bước vào quán, tôi thấy
trong góc nhà có một người đàn ông đang nằm. Ông gầy đến mức chỉ còn da bọc
xương. Cái bụng trướng lên như chiếc trống cũ. Mắt đục. Hơi thở đứt quãng.
Tôi nhận ra đó là chồng chị. Người đàn ông đã
bán nhà. Đã bỏ vợ, bỏ con, đi theo tình trẻ.
Tôi ghé tai hỏi nhỏ: “Ổng quay về rồi, hả chị?”
Vậy là ổng “quay đầu là bờ”.
Chị bảo:
-Đâu có, ổng không quay đầu mà là lâm trọng
bệnh, con nhỏ đó nó lấy hết tiền rồi nó đá ổng luôn. Bệnh viện trong đó mới gọi
vào nhận. Mấy mẹ con tui nghĩ thôi thì đưa ổng về. Dù sao cũng là cha tụi nhỏ.
Tôi nhìn chị, Không biết trong lòng người đàn
bà ấy còn lại gì? Hận, Buồn? Hay đã mệt đến mức không còn sức để oán trách?
- Rồi tui nhờ người em gái của ổng vô đem ổng
về, nằm bên Bệnh viện Huế một thời gian, nay cũng hơi đỡ chút, nhưng không còn
đi được nữa. Hôm xe chở về, phải mấy người khiêng ổng vô mới được vì ổng bị xơ
gan cổ trướng, hẻm nhỏ xe không vô được nên phải mỗi người mỗi tay mà đưa cáng
ổng vô. Mấy đứa trong xóm nhìn thấy cảnh ấy mới nói rằng: “Khi anh đi không
người đưa đón. Khi anh về tám chín người khiêng” là vì vậy!
Thôi thì còn chút nghĩa tào khang, chị chăm
sóc ổng những ngày tháng cuối đời như một cách làm phước. Cũng là một cách chị
thương con. Vì chị không chăm, con cái ổng cũng sẽ phải lo cho cha nó. Thôi
không tính toán gì với ổng nữa. Chắc ổng cũng bị lương tâm dày vò, ân hận lắm
rồi!
Lúc ra về, tôi ngoái nhìn. Người đàn ông nằm
im trong góc nhà.
Ngoài sân, chị Lâm đang lau bàn cho khách.
Nắng chiều rơi xuống mái tóc đã lấm tấm bạc. Còn người phụ nữ ấy, sau tất cả
những gì bị lấy đi, vẫn giữ được một điều. Đó là lòng nhân hậu. Và có lẽ, đó
mới là tài sản lớn nhất của một đời người.
Saigon, ngày 10/6/2026
Hoàng Thị Bích Hà
habich1963@gmail.com