NHỮNG PHẬN NGƯỜI
TRÊN SÔNG NƯỚC QUÊ TÔI
Khê Giang
Thời gian vẫn là
dòng trôi thăm thẳm nhưng mỗi khi đặt chân qua cầu Bến Đá hay đi dọc theo dòng
sông Ô Khê nhìn xuống dòng nước lững lờ, tôi vẫn thấy thấp thoáng trong cõi nhớ
đâu đó những chiếc ghe xập xệ, chênh vênh neo vào bờ trên dòng chảy của người dân xứ Vạn.
Do tập tục làng
quê còn sót lại từ thời phong kiến, người xứ Vạn luôn chịu sự thua thiệt trước
người dân của làng, họ không có nhà trên đất liền, nhà của họ là chiếc ghe cũ kỹ,
lợp lá hoặc phên tre, có khi chỉ che tạm bằng mảnh bạt cũ. Cuộc đời họ trôi
theo con nước, không nhà cửa, không ruộng vườn, chẳng có một tấc đất để chôn
mình khi đến ngày nằm xuống, vì vậy khi hữu sự họ sẽ được chôn cất trên những
bãi bồi hoặc phải đưa về bản quán để nương náu cùng đất trời.
Người làng gọi họ
là “dân vạn đò” hoặc dân ngụ cư . Trong ngôn ngữ biểu đạt hoặc giao tiếp có câu
từ ấy khi là thương cảm, mà cũng có khi là sự thiếu thiện ý.
Trong cộng đồng
của xóm Vạn, những gia đình khá hơn thì ngôi nhà của họ cũng lớn hơn, họ sở hữu
những chiếc trồng hay còn gọi là noốc. Những chiếc noốc này lớn và bề thế hơn,
vì vừa dài vừa rộng, đặc biệt ở đầu mũi thuyền có gắn một cái rớ bà (vó lớn) để
đánh bắt cá.
Thuở ấy, quê tôi
còn nghèo, chiến tranh liên miên, ruộng
đồng nhiều nơi hoang hóa, cát trắng bò vào vườn tược. Trên sông, những người ngụ
cư cũng rơi vào cảnh vất vả khốn cùng, lúc này họ mưu sinh nhọc nhằn bằng nhiều
công việc khác nhau như chài lưới, mò hến, cào ngao hoặc đưa đò.
Hồi đó chạy dọc
bờ sông từ Bến Đá (Ô Khê) đến rào Cái (Ô Giang) mỗi sáng sớm, khi sương còn
giăng trắng mặt nước, đã nghe xao xác tiếng khua mái chèo, tiếng rổ xọc xọc, rồi
tiếng cười đùa con trẻ hòa trong làn hơi lạnh.
Nhưng đằng sau
những tiếng cười ấy là những bữa cơm đạm bạc đến nao lòng, những năm đói, nồi
cơm thường chỉ có vài nắm gạo trộn với khoai lang, sắn lát. Cá tôm đánh bắt được
họ phải đem đi bán để đong gạo, họ ăn mắm, ăn muối hột với ớt giã, chan nước
sông, luộc rau tập tàng hái dọc bờ để độn thêm cho dạ dày đỡ trống.
Không ai hiểu được
cái rét của Bến Đá nếu chưa từng trải qua một đêm đông trên sông nước. Gió từ
Rào Cái thổi ngược lên, hun hút, lạnh buốt như dao cắt. Nước sông lạnh ngắt,
hơi nước bốc lên mù mịt. Những mái ghe lều chõng rung lên bần bật theo từng cơn
gió.
Người vạn chài
phải lấy bao tải rách che quanh mạn ghe, gom củi khô nhóm bếp than giữa lòng
ghe cho ấm. Nhiều đêm, nước dâng cao, bếp tắt, trẻ con co ro trong chăn ướt,
run rẩy cả đêm. Có những mùa lũ, dòng sông dâng tràn, cuốn trôi cả mái nhà duy
nhất của họ.
Nhà tôi có một cửa
hàng tạp hóa ở làng, đây là một nghề nghiệp hiếm hoi giữa ngôi làng thuần nông,
nhưng đây cũng là điều kiện để gia đình tôi tiếp cận trao đổi mua bán với bà
con trên miền sông nước.
Qua tiếp xúc, tôi
thấy họ hiền lành chân chất, chỉ có điều sống trong không gian chật chội, ẩm ướt
và nghèo túng, nên trang phục của họ rất dễ nhận diện giữa đám đông của dân
làng.
Mẹ tôi rất quý họ,
và họ cũng rất mến gia đình tôi.
Trên sông Bến Đá
và Rào Cái ngày đó, có những đứa trẻ sinh ra và lớn lên trong lòng ghe. Có đứa
chưa từng được đến trường, cứ đứa lớn
chăm đứa nhỏ, trần truồng tắm sông từ sáng đến chiều. Mùa nắng thì da đen sạm,
mùa mưa thì tím tái. Chúng lặn ngụp bắt cá, mót củi dọc bờ, chèo đò cho khách
qua sông.
Ở Quảng Trị, dân
ngụ cư bị xem là “không gốc gác”. Họ đến từ nhiều nơi: Thừa Thiên, Quảng Bình,
Nghệ An… trôi dạt về vùng sông nước này tìm kế sinh nhai. Có người từng là dân
chạy loạn, có người lưu lạc tìm kế sinh nhai, chỉ có điều dù là ai, khi đã sống
dưới ghe, họ đều bị gọi bằng một tiếng “dân vạn chài”.
Trẻ con trong
làng ít khi chơi với con dân vạn. Người lớn cũng ít giao tiếp, họ còn không được
kết tình thông gia với người làng.
Thế nhưng, chính
những người “ngụ cư” ấy lại là những người biết sẻ chia nhất. Hễ có ai gặp nạn
giữa sông, họ liền quăng dây, quăng sào cứu giúp. Mùa lũ, họ là người chèo ghe
cứu hàng xóm, vớt đồ, chở người qua vùng ngập. Có người mất cả ghe trong cơn
sóng dữ vì cứu người khác.
Năm 1971, một trận
lụt lịch sử tràn qua làng, do nước lũ
lên quá nhanh, cả nhà tôi không kịp tản cư, lúc này ba tôi lại vắng nhà. Tôi nhớ
như in khi nước dâng cao, cả nhà bắc thang trèo lên tra (khung gỗ để đựng lúa),
khi nước xâm xấp nền tra, cả nhà chui ra "khu đị" để leo lên nóc nhà. Nước vẫn tiếp
tục dâng cao, mẹ tôi kêu gào thảm thiết trong đêm vắng. Trong khi tính mạng cả
nhà tôi như ngàn cân treo trên sợi tóc thì có một chiếc đò từ xa hướng tới giải
cứu, đó là chiếc troòng (thuyền gỗ nhỏ) của bà con người xứ Vạn, họ đã liều mình băng đi trong
đêm để cứu giúp dân làng.
Qua lần chết hụt
đó, mẹ tôi càng trân quý những người ở dưới vạn hơn, bà vẫn nhắc đi nhắc lại
câu chuyện đó với chúng tôi như một lời tri ân để nhớ đến những người đã cứu sống
mình trong lúc nguy nan.
Nói về những người
phụ nữ ở vùng sông nước, cuộc sống của họ còn khổ sở vất vả hơn đàn ông. Họ làm
lụng quần quật từ tinh mơ tới tối mịt. Sáng chèo ghe theo chồng thả lưới, trưa
nấu cơm, chiều ra chợ bán cá. Đêm đến, gió lạnh thổi xuyên manh chiếu, họ vẫn
phải giặt giũ, vá áo, chăm con. Có người sinh con ngay trên ghe, không bà đỡ, không thuốc men, cắt rốn bằng con dao
cũ rửa qua nước sông.
Chỉ vài hôm sau,
bão tan nước rút, người mẹ mới sinh ấy vẫn chống ghe ra chợ như chưa có chuyện
gì xảy ra trước đó. Cái mạnh mẽ, kiên cường của người đàn bà dân vạn khiến ai
cũng nể phục, nhưng cũng xót xa: họ sinh ra như con nước sông kia — không bao
giờ được ngơi nghỉ.
Sau gần nửa thế
kỷ, những đứa trẻ dân ngụ cư ngày xưa giờ đã trở thành ông bà và con cái của
họ cũng đã trở thành thầy cô, kỹ sư, công nhân… nhưng cũng như tôi, mỗi lần về
thăm Bến Đá, khi nghe tiếng sóng ì oạp vỗ bờ, họ vẫn bồi hồi nhớ lại những ngày
thơ ấu chông chênh trên ghe đò sông nước.
Bây giờ, nếu đi
dọc Bến Đá, Rào Cái hiếm khi còn thấy dân ngụ cư. Chỉ còn vài chiếc thuyền chài
chỉ đi khai thác đánh cá theo buổi, phần
còn lại của thời gian họ vẫn trở về ngôi nhà êm ấm của mình, những ngôi
nhà bên bờ sông, trên những doi đất bây giờ đã là sở hữu của họ.
Giờ đây, đứng
trên cầu nhìn xuống, tôi vẫn tưởng như thấy bóng dáng những chiếc ghe troòng năm
xưa, tiếng mái chèo khua, tiếng cười con trẻ, tiếng người đàn bà gọi chồng giữa
sương sớm… trong đó có hình ảnh những người dân lam lũ chất phác ngày nào
đã cứu gia đình tôi thoát lưỡi hái tử thần trong một đêm mưa bão. Tất cả như
đang ẩn hiện trong làn nước bạc thấp thoáng hiện về.
Dòng sông vẫn
đó, chảy hoài, nhưng những phận người ngụ cư thì đã trôi xa, mất hút trong dòng
đời vô tận.
Và câu ca dao
xưa:
“Đò dọc phải
tránh đò ngang
Dân ngụ cư phải
tránh dân làng cho xa”
cũng đã nhạt
nhòa mờ theo năm tháng!
Khê Giang