Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, August 24, 2026

“DỊU DÀNG XUÂN” - NHỮNG VẦN THƠ NỒNG HẬU! - Bài viết của Phạm Ngọc Tâm Dung



Đã dăm năm nay, chúng tôi quen nhau, là bạn phây rồi gặp gỡ giao lưu ở Miền Cổ Tích và một số hội thơ. Ái Nhân đã tặng tôi bốn tập thơ, trong số mười một tập thơ tình của anh được Nhà xuất bản Hội Nhà văn cấp phép. Thật thú vị, tập nào cũng là 101 bài. Có lần, tôi hỏi anh: Tại sao cậu lại in mỗi tập 101 bài? Ái Nhân cười hóm hỉnh, trả lời đùa tôi bằng mấy câu thơ:
 
“Bắc thang lên hỏi ông giời
Rằng trăm thằng Cuội thằng nào là anh?
Cuộc người dâu bể mong manh
Một trăm lẻ một - là Cuội anh thật thà”.
 
Quả thật, Ái Nhân là “Chàng Cuội thật thà” và lãng mạn nhất mà tôi được biết!
Là bạn văn và cũng là một người chị mà Ái Nhân yêu quý, Ái Nhân kể cho tôi nghe về cuộc đời chìm nổi ba đào của mình. Anh đã từng là người lính Quân đoàn 2, về học sĩ quan chính trị, tốt nghiệp năm 1985, đi dự nhiệm biên giới một năm (làm Chính trị viên Đại đội, giữ chốt Pa Đí – Lộc Bình – Lạng Sơn).
 
“Dự nhiệm chuyên ban một năm biên ải
Tao xung phong lên điểm chốt tiền tiêu
Chính Ủy hỏi: Vì sao đồng chí lại (…)?
Hồn nhiên cười: “Để làm thơ cho phiêu!”
(Đồng đội à - Thơ Ái Nhân)
 
Năm sau về học lớp giáo viên Kinh tế Chính trị, tháng 8 năm 1987 tốt nghiệp. Chàng Thượng úy trẻ măng 25 tuổi, hứa hẹn một tương lai cống hiến.
Vậy mà…
Rằm tháng Tám năm đó, anh bị tai nạn ô tô. Nằm viện sáu tháng, rồi năm sau chống nạng vào Trường sĩ quan Lục quân 2 -  Đồng Nai, bắt đầu sự nghiệp làm thày.
Một năm sau anh lại bị thần kinh, rồi cuối năm 1990 ra quân.
    
Cuộc đời thật trớ trêu, có hơn một triệu tiền trợ cấp phục viên của tám năm mười tháng quân ngũ, anh bị một gã buôn chuyến, rủ đi buôn cùng, hơn một tháng sau, bị hắn lừa hết, hắn bỏ anh bơ vơ ở ga Hàng Cỏ.
 
Về quê, lang thang đó đây gần sáu năm giời, anh mới lấy được vợ. Anh kể nhiều lúc muốn gục ngã, nhưng nghĩ đến mẹ già, anh lại gượng dậy, anh vịn vào thơ mà đứng lên làm một Người thơ chân thành tốt bụng.
Ái Nhân đã làm thơ từ hơn bốn mươi năm trước, bài thơ đầu tiên được in trong tập "Kiếp dã tràng" - Nxb hội Nhà văn - 2007. Bài thơ như lời tự sự về cuộc tình thầm của anh:
 
MƠ MÀNG
"Đêm đầu tháng trăng tàn quá sớm
Ngoài trời mưa cứ lất phất rơi
Chỉ còn riêng một mình thôi
Nhớ vừng trăng của hồn tôi mơ màng".
(Ân Thi – Thu 1980)
 
Thơ Ái Nhân luôn thấp thoáng những bóng hồng hoài niệm, những bóng hồng ký ức ấy như muốn cổ vũ anh phải kiêu hãnh sống đẹp, phải tự tin sống như dòng máu lính trong anh. Hơn hai mươi năm ra Hà thành ở trọ, nuôi mẹ già, vợ con ở “phố đường tàu”, đánh vật với miếng cơm, manh áo, Ái Nhân vẫn làm thơ. Rồi cũng vẫn là Ái Nhân, gần mười năm nay, dành số tiền nhuận bút ít ỏi, với tiền bán thơ cho bạn phây, cùng một số bạn trẻ thành lập câu lạc bộ thiện nguyện “Tấm Lòng Thơ”. Ái Nhân là thế đấy!
 
Cầm bản thảo tập thơ “Dịu dàng xuân” trong tay, lòng tôi đắn đo, nên viết sao đây?
 Tôi chợt nhớ, trong tập “Đóa Thu mơ” của Ái Nhân có bài thơ “Dịu dàng” mà tôi từng ấn tượng thật sâu:
 
“Dịu dàng ánh trăng như lụa
Biển dâng cong ngọn thủy triều
Mơ màng mắt đen lay láy
Cồn cào lửa cháy tim yêu”
 
Thôi đúng rồi, đây là một sự vỡ lẽ chân thành qua bao chua xót, đắng cay; Một mỉm cười nghèn nghẹn sau khi thấm thía bao nhiêu là trải nghiệm; Một thú vị, khi ta thấy tác giả dành hẳn một trăm lẻ một bài thơ cho sự “dịu dàng”. Hướng chủ đạo của tập thơ, trước hết làm tâm thế một Người thơ đi tìm vẻ đẹp của làng quê xưa, mùa xuân xưa, nụ cười xưa, ánh mắt xưa, giai điệu xưa, dịu dàng xưa và niềm tự hào về quê hương trong những câu thơ chân chất, hiền lành:
 
“Quê anh ở cạnh Sông Hồng
Bốn mùa mướt mát xanh đồng lúa ngô
...
Trống quân níu lấy câu hò
Đồng Tam Thiên Mẫu cánh cò lả lơi”
(Về với quê anh)
 
Người Thơ đa tình ấy đã dành những lời thơ rất đỗi dịu dàng khi viết về những thôn nữ:
 
“Làm duyên con gái chưa chồng
Bên hoa, tóc thả bềnh bồng ban mai
Nồng nàn mắt ngọt Giêng Hai
Vân vê tà áo liếc dài tiếng quyên
Mi cong má lúm đồng tiền
Ngẩn ngơ xuân nở xanh miền thảo thơm”
(Duyên xuân)
 
“Áo em mây trắng ngỡ ngàng
Lưng ong, môi thắm, mơ màng mắt nai”
(Thức nụ)
 
“Đoan trang em gái chưa chồng
Cổ kiêu ba ngấn phiêu bồng tóc mây
Rỡ ràng trinh trắng thơ ngây
Miệng như hoa thắm hây hây má đào”
(Hương Xuân)
 
Ái Nhân say sưa viết về vẻ đẹp của các thôn nữ, những cô gái góp phần dệt lên mùa xuân xanh:
 
“Chân trần nà nõn, vai thon
Đường xuân em gánh mạ non ra đồng
Ban mai hương bưởi thơm nồng
Thơ mơ lên lối phiêu bồng hân hoan”
(Bóng quê)
 
“Chân trần nà nõn gái quê
Tóc thơm hương bưởi bùa mê hồn làng”
(Thương thầm)
 
Nếu đem so sánh những hình ảnh đẹp của những người con gái xinh, ngoan hiền trong tập thơ này, với hình ảnh những “Nàng Tiên” trong tập “Phiêu diêu đường Giời” (Nxb Hội Nhà văn in – 2019), thì ta thấy, vẻ đẹp ảo ảnh đã bị khuất lấp bởi những hiện thực tràn ngập trong cuộc sống mà chính tác giả đã nhìn thấy, cảm thấy một cách ngọt ngào.
Nhất là khi Người thơ tìm thấy những hình bóng đẹp trong lễ hội mùa Xuân. Ở đây, có gì như gặp lại những câu thơ quen thuộc ngày trước, trong những bài thơ chưa xa của cố Nhà thơ Nguyễn Bính
 
“Yếm đào ôm lấy eo xinh
Quai thao nón trắng rung rinh hội làng
Lả lơi lên mắt trăng vàng
Dây lưng xanh thắt trễ tràng lưng ong”
(Hẹn mùa)
 
 Nhớ về miền quê Kinh Bắc, nơi anh đã từng sống và học tập gần năm năm trời, Ái Nhân đã hoá mình thành một “Liền anh” Quan Họ, để hát giao duyên với Chị hai Quan họ làng Y Na, Làng Diềm duyên dáng:
 
“Miếng trầu năm ấy nhạt vôi
Môi thơ chẳng đỏ chơi vơi nỗi niềm
Mắt đen em gái Làng Diềm
Lả lơi mời gọi sang miền nhớ mong”
(Tương tư Quan họ)
 
 Có thể thấy tình yêu thương miền quê Quan họ, mê say những làn điệu dân ca, những bóng hình Quan họ, được Người thơ thể hiện trong các bài thơ: Lỡ hẹn, Uống lời quan họ, Dấu xuân, Tầm xuân, Giã bạn, Hoài niệm áo vàng, Ngóng sang Quan họ... thật duyên.
 
“Dịu dàng xuân” còn là sự cảm thông và chia sẻ với những cô gái lỡ làng, những phận nạ dòng, những cô gái không may mắn trong hạnh phúc. Động viên họ vượt qua đau khổ, khép lại quá khứ buồn, hướng đến tương lai:
 
“Nào nâng chén uống đi quên dĩ vãng
Bao đau thương nuối tiếc mộng phù vân
Em cứ khóc nước mắt cay hòa rượu
Gột trần em lòng kiêu hãnh thiên thần

Nào nâng chén chúc mừng xuân náo nức
Gọi mùa xuân thao thiết đợi tình xuân.”
(Uống đi xuân)
 
Cách chia sẻ thật lạ và chỉ có cách diễn đạt ấy mới dỗ dành được nước mắt của người con gái bất hạnh đến xót thương ngưng chảy...
Từng là người lính nên Ái Nhân cảm thông, trân trọng những người vợ, người yêu của lính, chia sẻ những mất mát đau thương của họ:
 
“Bến sông quê lở bồi
Mắt răm vời vợi khóc
Lau trắng màu tang tóc
Sông Sứ buồn mênh mang”
(Chuyện tình hoa cải)
 
Những câu thơ khắc khoải như níu vào lòng người, nhắc nhở chúng ta đừng bao giờ quên những hy sinh mất mát của những người lính, người vợ, người yêu của lính…để cho chúng ta có được những mùa xuân tươi đẹp hôm nay.
 
Trong “Dịu dàng xuân”, Cái tình sâu đậm nhất, ấn tượng nhất trong thơ Ái Nhân là tình yêu quê hương đất nước, yêu làng quê mình, yêu những vùng quê anh đã đi qua; Tình yêu những người lao động, những người dệt nên những mùa vàng bội thu.
 Với một trăm lẻ một bài thơ trong “Dịu dàng xuân”, Ái Nhân đã đánh dấu một cột mốc mới cho con đường thơ đầy truân chuyên của mình.Tác giả tỏ ra khá vững vàng khi sử dụng những thủ pháp nghệ thuật thường gặp trong thơ. Ái Nhân thành công trong nhiều thể loại thơ, nhưng hay nhất vẫn là lục bát.
Những câu lục bát nhiều khi khá gấp gáp, mạnh mẽ, cồn cào, khắc khoải nhưng không vì thế mà mất đi sự duyên dáng dịu dàng, có nhiều câu đạt đến độ: “Trong veo tiếng ngọc gieo lời”.
 
Thơ và văn của Ái Nhân, là kết tinh của sự từng trải, là cảm xúc mạnh mẽ của một người yêu đời, của lòng nhân ái khát khao cống hiến. Nội lực mạnh của một trang nam tử, lúc nào cũng như muốn bung ra, để giải phóng cho chính mình, cho tình yêu của mình. Và vì thế, đôi khi thơ tình của Ái Nhân hơi liêu trai một chút, mơ màng một chút và hơi kiêu hãnh một chút, nhưng vẫn giữ được sự dịu dàng, đằm thắm, nồng hậu, đáng yêu.
 
Hà Nội tháng Giêng – 2023
Nhà văn Phạm Ngọc Tâm Dung
 
READ MORE - “DỊU DÀNG XUÂN” - NHỮNG VẦN THƠ NỒNG HẬU! - Bài viết của Phạm Ngọc Tâm Dung

Saturday, August 22, 2026

CHIM TRỜI – Thơ Lê Kim Thượng


   

Chim  Trời
 
1.
Đôi ta như cánh chim trời
Đôi chim liền cánh không rời xa nhau…
Dừng chân đứng lại bên cầu
Nhớ nơi lưu giữ tình đầu chứa chan
Yêu nhau yêu tới vô vàn
Yêu bờ mi khép, yêu làn môi xinh
Yêu nhau cho cạn lời tình
Những ngày hạnh phúc chúng mình chân quê
Mắt nhìn đăm đắm si mê
Tôi và em giữa bốn bề tình yêu
Nụ hôn trong nắng liêu xiêu
Ngọt ngào thắm thiết với nhiều chút chăm
Ước gì “Hạnh phúc trăm năm…”
Tình ta như bóng trăng rằm vẹn nguyên
Quên đi cơm áo, gạo tiền
Trái tim son đỏ thề nguyền mãi yêu…
 
2.
Cuối Thu cây lá tiêu điều
Heo May thổi rụng bao nhiêu lá vàng
“Ừ thôi… tình đã sang trang
Chúc em Hạnh phúc…” lỡ làng riêng tôi
Nợ duyên, duyên nợ hết rồi
Nhớ thương một bóng, tim bồi hồi đau…
Mưa rơi nặng hạt về đâu
Giọt thương, giọt nhớ, giọt sầu đêm đêm
Còn gì đâu nữa “Ơi em…”
Con tim đau nhói, lòng thêm đau lòng
Cuộc tình như một dòng sông
Tan vào biển cả mênh mông mất rồi
Tiễn em về xứ xa xôi
Quay lưng ôm nặng đơn côi tình sầu…
Ước gì có được kiếp sau
Tôi em giữ mãi tình đầu… vẹn nguyên…
 
                 Nha Trang, tháng  08. 2026       
                       LÊ KIM THƯỢNG

READ MORE - CHIM TRỜI – Thơ Lê Kim Thượng

Thursday, August 20, 2026

HỌA SĨ LÊ BÁ ĐẢNG VỚI HẠT GẠO QUÊ NHÀ VÀ SÔNG NÚI TRƯỜNG SƠN - Nguyễn Hoàn (thực hiện)

 

 

Họa sĩ Lê Bá Đảng (trái) và nhà báo Nguyễn Hoàn


HỌA SĨ LÊ BÁ ĐẢNG VỚI HẠT GẠO QUÊ NHÀ 
VÀ SÔNG NÚI TRƯỜNG SƠN

Nguyễn Hoàn (thực hiện)


Đông Hà, một ngày ấm áp đầu Xuân Tân Tỵ 2001, họa sĩ Lê Bá Đảng nhân chuyến về thăm quê đã đến tại trụ sở Ủy ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em tỉnh Quảng Trị để trao quà (trị giá 200 ngàn đồng/suất) cho 100 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trong đó có nhiều em khuyết tật, có em bố chết bắt đắc kỳ tử vì tai nạn, hai mẹ con còn nguyên vành tang trắng. Họa sĩ nghẹn ngào không cầm được nước mắt: “Bác không nói gì được nữa! Bác sẽ về thăm lại các cháu!”

 

Trong không khí nồng ấm và xúc động của ngày xuân, dĩ nhiên, tôi đã dò hỏi đến những cảm nhận mới nhất của họa sĩ về mạch nguồn quê hương, tôi đã đề nghị họa sĩ hé mở thêm về “không gian Lê Bá Đảng”.

 

- Ông đã có nhiều lần về thăm quê hương, xin ông cho biết cảm nhận của mình sau những lần về thăm đó, nhất là với lần về đầu xuân Tân Tỵ này.

 

Cảm nhận của tôi là thấy Quảng Trị khá hơn trước, đời sống dân tình khá hơn. Về nhà quê thấy rất hay, nhà nào cũng có đủ ăn, các cháu giờ đây nhanh nhẹn hơn do có lẽ được ăn no đủ hơn. Tôi thấy việc dẫn nước tưới vào ruộng là hay nhất, thời trước chưa có. Trí thức mình bây giờ đã nhiều hơn, nhưng đứng nên sa vào tình trạng cái gì cũng bắt chước nhau. Mấy năm nay, tôi cố ý lắm, cố ý làm ra cái gì đó. Nhưng muốn làm mà chưa làm được. Có người bảo ông này chết đi thì 20 năm sau người ta mới biết ông. Nghe nhiều khi cũng có lý nhưng mà không có lý. Phải làm sao cho từ trong cây cỏ của mình, đất đai của mình nó thành hình nên cái gì đó, khi ấy nó mới khác người ta và nó chắc chắn, không thì thời gian sẽ cuốn trôi đi. Sao ta không chữa lại hòn núi, chữa lại con sông cho đẹp. Anh em tôi sẽ kêu gọi các nghệ sĩ hoặc những người không phải nghệ sĩ cũng được. Nghệ sĩ học ở trường có cái nếp của người ta, nghệ sĩ mình không cần cái nếp ấy. Quảng Trị có thể làm được điều đó, vì tôi là người Quảng Trị, tôi còn làm được hơn người ta.

Tôi có ý về đào tạo một nhóm người, gồm trẻ em tàn tật, những người thương binh, những người về hưu chẳng hạn, để làm ra những thứ gì đó. Phải tạo ra một trường phái mới. Vừa rồi, tôi có đưa mấy bức tranh lên Internet, chấp nhận bán mất giá để lấy tiền về giúp trẻ em đấy. Tôi có bán một hột gạo bằng đất nung giá 1000 프랑franc Pháp.

 

- Xin ông cho biết kỹ hơn về cấu trúc, về kỹ thuật làm ra hột gạo này? Ông có thể giúp cho người khác “sản xuất” ra hàng loạt hột gạo này không?

 

Ở quê nhà, tôi đã từng thấy cảnh bà con ta còng lưng cày cấy suốt ngày suốt đêm mà không đủ ăn. Tôi chỉ mấy phút đã làm ra hột gạo. Hột gạo của tôi có thể tròn, méo, vuông, dài, ngắn. Có cái có thể làm lớn như ngôi nhà tôi ở trong đó được. Có cái nhỏ nhỏ, tôi bỏ trong túi, lúc buồn, tôi sờ đến hột gạo của tôi, gây một tình cảm. Tôi có thể bó hột gạo dưới gối và nó “nói chuyện” với tôi. Hột gạo đó chưa ai có, nó ở tỉnh Quảng Trị này ra đấy. Vậy đó. Không phải cao siêu, văn chương trăng gió gì đâu, tôi không có những cái đó. Tôi sẽ chỉ cho những “đệ tử” của tôi làm được những hột gạo đó. Tôi làm cái gì là phải làm ra tiền, nếu không thì không có giá trị. Tôi muốn nghệ thuật của tôi thành một kỹ nghệ. Mà phải là một nghệ thuật không ai có. Ai cũng vẽ cái này, cái kia, tôi không vẽ mà in nổi, đắp nổi lên thì có khác người ta không nào.


- Nhiều người rất quan tâm đến các dự án nghệ thuật lớn của ông như dự án về Thánh Gióng ở Sóc Sơn, dự án về Cõi người ta ở đồi Vọng Cảnh, Huế, nhưng vì sao các dự án này vẫn chưa thành hiện thực? Biết đến bao giờ? Vướng mắc ở chỗ nào?

 

Tôi đã mất 2 năm để bàn cãi với trong nước về dự án Vọng Cảnh này. Tôi chỉ cần một lời đảm bảo để tôi làm, không yên tâm thì tôi không làm. Và phải để cho tôi tự do thực hiện ý tưởng của mình, chứ bắt tôi phải làm thế này, làm thế kia mới được thì tôi không làm được. Tôi đợi mãi mà chưa thấy hồi âm thì chưa làm được. Anh có hỏi sau mấy năm các dự án của tôi mới làm được ư? Ai cũng đã biết tôi từ xưa. Từ ngày kháng chiến đến giờ ai cũng đã biết tôi làm những cái gì rồi. Hồi năm 1970, ở bên Pháp, tôi nghe nói đến đường mòn Hồ Chí Minh, tôi suy nghĩ làm thế nào về nước. Ông Lê Đức Thọ và ông Xuân Thủy báo anh về thì chết mất. Thế là, qua trí tưởng tượng, qua sách báo và qua lời kể lại của nhiều người, tôi đã đưa con đường mòn Hồ Chí Minh vào trong óc tôi, tôi đã làm cả hàng trăm cái tranh về con đường mòn Hồ Chí Minh, đặt tên là “Phong cảnh Bất Khuất”, đem triển lãm ở Mỹ, Pháp, Thụy Điển, bán rất chạy... Ông Thọ còn mang sang cho tôi một thùng mảnh xác máy bay B52 để tôi có chất liệu sáng tạo. Năm 1976 về nước, tôi đã được đi trên đường Hồ Chí Minh.


- Riêng với Quảng Trị, ông có tâm nguyện để lại công trình gì mang dấu ấn Lê Bá Đảng không? Hiện ở Quảng Trị đang hướng đến một dự án tạo dựng một không gian nghệ thuật ngoài trời tại khu di tích danh thắng Đakrông, có tên gọi là “Cõi Trường Sơn”. Nếu đem gắn “Phong cảnh Bất khuất” của ông trước đây với “Cõi Trường Sơn” của Quảng Trị giờ đây thì tốt quá.

 

Như thế thì hay biết mấy. Nếu tôi làm được cái gì đó ở Trường Sơn, ở trên Sông Đakrông, hỏi ai có, chỉ Việt Nam có. Nhưng đừng bắt tôi phải thế này, phải thế kia, tôi không làm được.


- Nghĩa là phải dành cho ông một khoảng tự do sáng tác, một khoảng tung hoành?


 Đúng thế. Nhưng mục đích cuối cùng là vì dân tộc. Cái gì cũng nằm trong dân tộc hết. Ra ngoài dân tộc là không được.


- Quê hương luôn sẵn sàng kêu gọi ông Đảng. Nếu quê hương sẵn sàng giao một đoạn sông, một đoạn núi cho ông Đảng sáng tạo, vậy thì còn vướng ở điểm gì nữa? Vướng do kinh phí đầu tư, do ngân sách Quảng Trị hạn hẹp, hay do cái gì? 


Chuyện này để lo sau. Chuyện tài chính là chuyện thứ hai và cũng không đáng ngại lắm đâu. Hôm qua, tôi đi thuyền trên dòng Đakrông, tôi thấy có những núi đá, cục đá, cây rừng rất đẹp. Cái ý tưởng tạo dựng không gian mỹ thuật ngoài trời mà tôi từng viết trong cuốn sách: “Ta về ta tắm ao ta” là rất hợp với Quảng Trị. Dọc bờ sông Đakrông, tôi sẽ tạo ra được những hình tượng lớn, chẳng hạn, tôi làm cho người đi thuyền ở dưới sông nhìn thấy ở bờ bên kia có cái gì như hình hạt gạo, người ta có thể đến tắm và ở đấy, ai cũng muốn đến. Người ta có những khách sạn 5 sao, 6 sao nhưng không bao giờ có những thứ đó. Mỹ thuật của tôi nó khác người ta, không cần láng bóng, không ai có. Làm thế nào cho có một đoạn trên sông Đakrông, cái đó rất dễ dàng, tôi đào tạo một nhóm “đệ tử” làm được ngay. Đây là chuyện đầu năm có thể làm nhanh.


- Như vậy là các ý tưởng nghệ thuật đã có rồi, ngân sách không thành vấn đề, cái còn lại là cách làm thôi, cách quản lý sao cho đồng tiền không hao hụt và ý tưởng nghệ thuật không bị xâm phạm. Xin cảm ơn ông và xin chúc cho ước nguyện: “Ta về ta tắm ao ta” của ông sớm trở thành hiện thực.

 

NGUYỄN HOÀN (thực hiện)

Quảng Trị Cuối tuần09-2-2001 | 5


Những lần gặp gỡ danh họa Lê Bá Đảng:










READ MORE - HỌA SĨ LÊ BÁ ĐẢNG VỚI HẠT GẠO QUÊ NHÀ VÀ SÔNG NÚI TRƯỜNG SƠN - Nguyễn Hoàn (thực hiện)

CHÙM THƠ LÊ THANH HÙNG: Bạn trẻ ngồi hóng chuyện ngày xưa / Đợi một điều gì? / Cơn mưa đầu mùa trên bãi vắng

 


Bạn trẻ ngồi hóng chuyện ngày xưa


Ngồi kể chuyện mấy ông bạn cùng thời

Chúng nó bảo, mấy ông già nói quá

Chuyện đâu xưa, sao mà nghe là lạ

Thêm bớt gì không, những chuyện trời ơi

 

Thời cấm vận, bao vây, những đói nghèo

Khổ như thế, làm sao mà sống được

Nhưng vẫn bền lòng, nghĩa tình sau trước

Giữ lấy nếp nhà, khắc khoải lần theo…

 

Những gian nan, có thể chúng không tin

Thời tao loạn, giặc phía nam, phía bắc

Giật gấu vá vai, áo cơm tối mặt

Nhưng sáng bừng lên, trong mỗi góc nhìn

 

Ngồi lai rai, ôn chuyện cũ một thời

Ai cũng khó, nên mình không thấy khổ

Cuộc sống mới, đang mỗi ngày hiển lộ

Một niềm tin, soi tỏ những cuộc người

 

Dặm đường xa, vững bước chúng ta đi

Vượt qua đói nghèo, khó khăn ngăn lối

Năm tháng dãi dầu, mưa tuôn nắng gội

Cho hôm nay, đời lộng gió đương thì…

 

 

 Đợi một điều gì?


Em đợi gì trong nắng sớm mai

Mà lúng túng vê tròn ngọn tóc

Cơn gió thỏang qua miền tuổi ngọc

Để lại đôi bờ sóng mắt cay…

 

Ngước mắt nhìn phía núi xa xăm

Mây lễnh lõang pha màu quên nhớ

Năm tháng đã gần xa cách trở

Khát khao nghe một tiếng ru trầm

 

Em đợi gì, trong tiếng gió xoay

Tóc rối chiều xưa, ngày biển động

Bầy hải âu vờn đôi cánh mỏng

Bến đợi thuyền, sâu thẳm đường mây…

 

Gió mưa theo ngày cũ qua rồi

Sao trăn trở bên làn nắng ấm

Nồng nàn gió, trời trong xanh lắm

Mơ hồ nghe, câu chuyện lứa đôi…

 

Cơn mưa đầu mùa trên bãi vắng


Mảnh ký ức và khát khao vụn vỡ

Cuốn trôi đời, năm tháng cũ mờ theo

Sao lướng vướng, nỗi buồn trên đỉnh nhớ

Trắc dọc trắc ngang, loang lổ ngoằn ngoèo

 

Không quên được, thiệt tình không quên được

Một vòng tay, khê đọng bốn mươi năm

Giấc mộng hoàng hoa, những điều mong ước

Lẳng lặng chìm trôi trong tiếng sóng thì thầm…

 

Biết nhịp sống theo thói đời buông trả

Nỗi nhớ phai dần, năm tháng quẩn quanh

Chiều bất chợt, tiếng mầm cây tách lá

Cơn mưa đầu mùa, gọi những vòm xanh

 

Như khách lạ, thẩn thờ trên bãi vắng

Anh lơ ngơ tìm lại dấu yêu quen

Trôi đâu mất, vạt nắng chiều dấm dẵng

Kệ ngoài kia, phố xá đã lên đèn…

 

Một dĩ vãng, những vui buồn thấm đẫm

Người chân mây, không biết đã về đâu?

Còn nguyên đó, những ân tình sâu đậm

Vọng đổ ngàn khơi, con sóng bạc đầu…

            Lê Thanh Hùng

     Bắc Bình, Lâm Đồng


From: Thanh Hùng Lê <lethanhhung4625@gmail.com>

READ MORE - CHÙM THƠ LÊ THANH HÙNG: Bạn trẻ ngồi hóng chuyện ngày xưa / Đợi một điều gì? / Cơn mưa đầu mùa trên bãi vắng

NẮNG THU VÀNG - Thơ: Phong Nguyễn

 



N ắ n g t h u v à n g

    --- phong nguyễn


Mai em về lại

khoe thu mới

Đôi tà áo mỏng lụa vàng au


Nhớ khoe cho đủ làn môi đỏ

Một chút hây nghe đôi má đào

Nghiêng thôi thật nhẹ nghiêng vành nón

Kẻo gió cuồng hôn lên tóc đau


Mai em về lại

thềm xưa cũ

Gói nắng đầu thu trong áo thơm


Nhớ thả bay đi mùa hạ nắng

Chỉ giử giùm cho chút hương nồm

Xin em nán lại bờ hiên vắng

Lằng lặng nhìn xem hoa khế đơm


mai em về lại...ừ. chỉ rứa

Nhếch nhẹ thôi nghe nửa nụ cười


Bên vườn chắc đã hanh màu nắng

Chỉ tội người xa mãi luyến thương

Cuối sân cau rụng mùa trổ ngược

Trắng cả vườn xưa gió đưa hương...

      ---  phong nguyễn

READ MORE - NẮNG THU VÀNG - Thơ: Phong Nguyễn

ĐẾN TUỔI NÀO MỚI THOÁT ĐƯỢC BẪY TÌNH? - Truyện ngắn: Hoàng Thị Bích Hà



Hoàng Thị Bích Hà 

ĐẾN TUỔI NÀO MỚI THOÁT ĐƯỢC BẪY TÌNH?


Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh.

Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn còn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu, ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.

Ông Tuấn về hưu đã mấy năm. Trước đây, ông từng nghĩ về hưu là được nghỉ ngơi, được sống thong thả sau mấy chục năm làm việc. Nhưng ông không ngờ cái đáng sợ nhất của tuổi già không phải là bệnh tật. Mà là những buổi chiều cô đơn trống trải. Con gái ông, Trần Thiên Thanh, làm kế toán ở quận Tư. Nó lấy chồng rồi ly hôn, mang theo con gái (bé Na mười hai tuổi) về sống với ông. Ba người trong một căn nhà, mà vẫn thấy trống vắng

Ban ngày Thiên Thanh đi làm. Na đi học. Ông Tuấn quanh quẩn với cơm nước, chợ búa, thuốc men và mấy chậu cây trước sân. Buổi tối, khi hai mẹ con về nhà, tiếng trẻ con ríu rít lại làm căn nhà bỗng ấm áp hẳn lên. Nhưng chỉ cần Na lên phòng học bài, Thiên Thanh đóng cửa phòng làm việc, ông Tuấn lại trở về với sự im lặng của mình. Nhiều đêm, ông lấy cuốn album cũ ra. Ông lật từng trang ảnh: Bạch Nhàn đứng bên ông trong ngày cưới. Bà ngoại bế Thiên Thanh lúc nó còn đỏ hỏn. Bạch Nhàn đứng bên nồi bánh chưng ngày Tết. Bạch Nhàn ngồi trên bậc thềm, tóc đã bạc, vẫn cười với ông bằng nụ cười ấm áp.

Ông Tuấn đưa tay chạm nhẹ lên tấm ảnh.

- Bà nhàn à! Tôi tưởng về hưu, hai vợ chồng gia mình sẽ dành thời gian cho nhau nhiều hơn... Ai ngờ bà đi trước, bỏ lại tôi thế này!

Nói xong, ông lại tự cười. Tuổi này rồi, nói chuyện với người trong ảnh cũng thành một thói quen.

Một buổi sáng, ông đi chợ. Ở góc cuối dãy hàng ăn có một người đàn bà khoảng năm mươi tuổi đang phụ bán hàng thuê. Bà tên Kim Lan. Lần đầu tiên, ông Tuấn chỉ hỏi:

-Hôm nay cá lóc bao nhiêu một ký vậy chị?

-Sáu mươi nghìn.

-Cho tôi con nhỏ thôi. Nhà có hai người lớn với đứa cháu.

Bà Lan cười:

- Ông mua con này đi. Cá lốc đồng đó. Tôi lựa cho!

Chỉ vậy thôi. Ngày hôm sau ông lại gặp bà. Rồi ngày hôm sau nữa. Ban đầu chỉ là những câu chuyện vụn vặt ở chợ, chuyện thời tiết, rồi chuyện con cái. Bà Lan biết ông góa vợ. Ông cũng biết bà góa chồng. Một lần, bà Lan nói:

- Chồng em mất mấy năm rồi. Thằng con trai đi Nhật làm ăn. Nó cũng khá, nhưng ở xa. Em ở đây một mình.

Ông Tuấn im lặng. Bà nhìn ông, cười hiền:

- Em làm cũng đủ sống. Có tuổi rồi, người ta chỉ cần một người biết hỏi mình: “Hôm nay khỏe không?”

Câu nói ấy khiến ông Tuấn im lặng rất lâu. Bởi đã lâu rồi không ai hỏi ông như thế.

Thiên Thanh có hỏi ông uống thuốc chưa. Na có hỏi ông ngoại mua bánh chưa. Nhưng một người đàn bà ngồi trước mặt ông, nhìn vào mắt ông và hỏi:

- Hôm nay ông có khỏe không?

Đôi khi chỉ một câu như vậy cũng đủ làm một người cô đơn mềm lòng.

Từ đó, ông Tuấn đi chợ lâu hơn. Ông mua thức ăn cho Na nhưng cũng tiện thể ngồi uống ly trà với bà Lan. Hai người nói chuyện. Rồi uống cà phê. Rồi những buổi cà phê bên nhau. Bà Lan kể về những ngày khó khăn sau khi chồng mất. Ông Tuấn kể về Bạch Nhàn. Bà Lan im lặng ngồi nghe, thỉnh thoảng khen người vợ đã mất của ông. Chị giỏi giang, hiền lành và chu toàn, anh nhỉ. Tiếc là chị vắn số. Bà còn nói:

-Người đàn ông sống được với một người phụ nữ mấy chục năm như ông là người có tình nghĩa. Câu nói ấy khiến ông Tuấn thấy mình được tôn trọng. Một hôm, bà Lan dẫn ông về nhà. Nhà bà cách nhà ông chừng ba cây số, nằm trong một con hẻm nhỏ. Căn nhà cũ, nhưng sạch sẽ. Bà Lan chỉ vào khoảng sân:

-Em tính sửa lại chỗ này. Nếu mở được quán cà phê nhỏ thì em khỏi phải đi bán thuê ngoài chợ. Ông Tuấn nhìn căn nhà rồi nói:

- Làm quán cà phê cũng được đấy.

Bà Lan cười:

- Nhưng hiện tại thì em vẫn chưa dành dụm được bao nhiêu?

Ông Tuấn không trả lời. Vài ngày sau, ông rút hai trăm triệu tiền tiết kiệm đưa cho bà.

- Sửa nhà trước.

Bà Lan ngần ngại:

-Em không nhận đâu, cũng muốn anh hiểu lầm.

Ông nghĩ đó là tiền mình dành dụm cả đời, không tiêu thì cũng để lại cho con. Bà Lan không xin mà chính ông chủ động đề nghị. Bà Lan ban đầu từ chối nhiều lần.

- Tôi cho bà mượn, xem như là góp vốn làm ăn chứ có cho bà đâu.

Một thời gian sau, ông lại đưa thêm hai trăm triệu mua bàn ghế, máy pha cà phê và một số vật dụng. Ông Tuấn bắt đầu nghĩ đến một cuộc sống mới. Ông tưởng tượng buổi sáng hai người mở cửa quán. Ông pha cà phê. Bà Lan bán hàng. Chiều tối đóng cửa, hai người ăn với nhau một bữa cơm. Không cần cưới hỏi linh đình. Không cần tiền bạc của nhau.Ông có lương hưu, bà có tiền bán cà phê. Chỉ cần có người bên cạnh. Ở tuổi ấy, đôi khi hạnh phúc được người ta định nghĩa rất giản dị.

Nhưng Thiên Thanh bắt đầu nhận ra sự thay đổi của cha. Cha đi chợ lâu hơn. Điện thoại thường xuyên có tin nhắn. Có những hôm ông ăn mặc chỉnh tề rồi ra khỏi nhà. Thiên Thanh hỏi:

-Ba đi đâu?

-Ba đi uống cà phê.

-Với ai?

Ông Tuấn nhìn con gái:

-Ba đi với bạn.

Từ sinh nghi Thiên Thanh bắt đầu âm thầm tìm hiểu. Rồi nó biết ông thường đến nhà bà Kim Lan. Một người hàng xóm nói:

-Bà ấy sắp lấy chồng đó. Ông ấy khá giả giúp bà ấy sửa nhà để mở quán cà phê. Thiên Thanh nghe xong, mặt nóng bừng. Tối ấy, nó chờ cha về.

-Ba đưa tiền cho bà ấy phải không?

Ông Tuấn sững người.

-Ai nói với con?

- Ba không cần biết ai nói. Con hỏi ba có đưa không?

-Ba có.

Nhưng ba chỉ cho bà ấy mượn thôi. Khi nào quán bán được, bà ấy sẽ trả dần. Ông Tuấn im lặng. Thiên Thanh bật cười, nhưng trong tiếng cười có sự cay đắng:

- Bốn trăm triệu rồi phải không?

Ông Tuấn nhìn con:

- Đó là tiền tiết kiệm của ba.

-Con biết. Nhưng ba có biết bà ta có thật lòng với ba không hay đang toan tính gì?

-Con đừng gọi người ta như vậy.

-Vậy gọi là gì? Ba mới quen người ta bao lâu?

Ông Tuấn nổi giận:

- Ba hơn sáu mươi tuổi rồi. Chẳng lẽ muốn quen ai cũng phải xin phép con sao?

Thiên Thanh cũng lớn tiếng:

- Con chỉ sợ ba bị lừa!

-Khi ba đau, ai chăm ba?

Câu hỏi ấy khiến Thiên Thanh nghẹn lại.

Ông Tuấn nói tiếp:

-Khi mẹ con mất, ba một mình. Con đi làm cả ngày. Ba có trách con đâu. Ba chỉ muốn những năm còn lại của mình được sống một chút cho mình.

Thiên Thanh quay mặt đi. Nhưng trong đầu nó lúc ấy không chỉ có nỗi lo cho cha.

Nó còn có một khoản nợ gần một tỷ đồng do đầu tư chứng khoán thất bại. Nó đã giấu cha chuyện ấy. Và căn nhà của ông Tuấn là tài sản lớn nhất còn lại của gia đình

Từ hôm đó, tình cha con bắt đầu có vật gì len vào giữa.

Thiên Thanh mất ngủ gầy ruộc hẳn đi vì áp lực vì khoản nợ, nhìn con gái mà lo tương lai, nhiều lần định nói thật với cha nhưng không dám. Thiên Thanh thuê luật sư âm thầm tìm cách để cha chuyển căn nhà sang tên mình.

Nó tự thuyết phục bản thân:

“Mình làm vậy cũng chỉ để giữ tài sản cho gia đình. Sau này ba mất, căn nhà vẫn là của mình và con Na.”

Nhưng sâu trong lòng, nó biết mình còn một lý do khác. Nó cần tiền.

Còn ông Tuấn thì ngày càng tin rằng con gái không muốn mình có cuộc sống riêng. Một buổi tối, sau một trận cãi vã, ông xếp vài bộ quần áo vào chiếc túi nhỏ.

-Ba đi chơi mấy bữa.

Thiên Thanh đứng chết lặng.

-Ba đi đâu?

- Đi đâu cũng được. Hơn sáu mươi tuổi rồi mà sống như người không có quyền quyết định cuộc đời mình.

Ông kéo vali ra khỏi cửa.

Na chạy theo:

-Ngoại!

Ông quay lại ôm cháu.

-Na ở nhà ngoan. Ngoại đi vài hôm rồi về.

Nhưng ông không ngờ những ngày ở nhà bà Kim Lan lại là những ngày ông bắt đầu nhìn thấy một sự thật khác. Ban đầu mọi chuyện rất êm đẹp. Bà Lan chăm sóc ông chu đáo. Nhưng chỉ vài ngày sau, ông bắt đầu thấy những điều bất thường. Có người gọi điện đòi nợ. Có người đến nhà tìm bà. Bà Lan né tránh.

Ông hỏi:

-Em nợ người ta tiền à?

-Chuyện làm ăn thôi.

-Bao nhiêu?

-Không đáng kể.

Một đêm, ông nghe bà khóc trong phòng. Ông đứng ngoài cửa.

Bà đang nói điện thoại:

-Mẹ biết rồi... Mẹ sẽ tìm cách trả...

Ông Tuấn không ngủ được. Sáng hôm sau, ông hỏi thẳng.

Bà Lan cuối cùng cũng thú nhận con trai bà, Quốc Thắng, đang vướng vào chuyện nghiện ngập, nợ nần và đang ở trại cải tạo.

Ông Tuấn chết lặng.

-Tại sao em không nói với tôi?

Bà Lan cúi đầu:

-Em sợ anh bỏ đi.

-Tôi giúp em vì tôi thương em. Không phải vì tôi có tiền.

Bà Lan bật khóc.

Nhưng lúc ấy, trong lòng ông Tuấn đã có một vết nứt. Ông quyết định đến thăm Quốc Thắng. Tại nơi cải tạo, ông tự giới thiệu mình là người họ hàng xa. Quốc Thắng nhìn ông hồi lâu rồi hỏi:

-Mẹ cháu nói với bác chuyện của cháu chưa?

Ông Tuấn không trả lời. Thắng cúi đầu. Rồi kể hết những khoản nợ, những lần mẹ phải chạy vạy. Căn nhà đã cầm cố. Và cả việc mẹ đang tính mở quán cà phê để có tiền trả nợ. Ông Tuấn nghe mà lòng nặng như đá. Trên đường về, ông không khóc. Nhưng ông thấy trong mình có cái gì đó vỡ ra. Ông từng nghĩ mình tìm được một người đàn bà hiểu nỗi cô đơn của mình. Hóa ra người đàn bà ấy cũng đang tìm một chiếc phao để bám vào. Có thể bà Lan có tình cảm với ông. Có thể không. Và khi Quốc Thắng nói chuyện, nên có một chi tiết khiến ông Tuấn nhận ra: bà Lan không hẳn là kẻ lừa đảo, nhưng bà đang sống trong một hoàn cảnh mà ông không thể bước vào. Từ giây phút ấy, ông không còn đủ niềm tin để sống chung với bà nữa. Ông trở về nhà vào một buổi chiều. Cánh cửa khép hờ. Ông bước vào rất nhẹ.Từ trong phòng, ông nghe tiếng Thiên Thanh:

- Nếu ba không chịu sang tên, thì luật sư cứ tìm cách giải quyết. Con chỉ cần bán căn nhà, trả hết gần một tỷ tiền nợ. Phần còn lại, con mua một căn hộ nhỏ. Ba con, con với bé Na ở chung cũng được.

Ông Tuấn đứng chết lặng ngoài cửa. Một lúc lâu sau, ông mới lên tiếng:

-Con tính bán nhà của ba à?

Thiên Thanh quay lại. Hai cha con nhìn nhau. Không ai nói được câu gì. Cuối cùng Thiên Thanh khóc:

-Con làm vậy cũng vì gia đình.

Ông Tuấn cười buồn:

- Còn ba thì không phải gia đình sao?

Thiên Thanh cúi đầu.

-Con sợ ba bị người ta lừa.

- Ba biết.

Ông ngồi xuống.

-Nhưng con cũng đang lừa ba.

Thiên Thanh ngẩng lên.

- Ba biết con nợ tiền. Ba cũng biết con định lấy căn nhà để trả nợ.

Căn phòng im phăng phắc. Ông Tuấn nói chậm rãi:

- Người ngoài muốn tiền của ba. Con muốn căn nhà của ba. Vậy rốt cuộc ba phải tin ai?

Thiên Thanh bật khóc.

-Ba...

-Ba không trách con vì con nợ. Ba chỉ buồn vì con không nói thật.

Vài ngày sau, bà Kim Lan cho người mang đến trả ông hai trăm triệu kèm theo bức thư xin lỗi. Bà còn gửi tin nhắn cho ông và hứa: “Phần còn lại tôi sẽ trả dần. Ông Tuấn nhận tiền. Ông không chửi mắng cũng không làm ầm ĩ.

Hôm sau bà hẹn gặp ông lần cuối:

Bà hỏi ông có trách bà không?

- Tôi không trách bà. Nhưng từ nay chúng ta không sống chung nữa.

Bà Lan ngồi lặng rất lâu.

- Anh còn thương em không?

Ông Tuấn nhìn người đàn bà trước mặt. Một lúc sau, ông nói:

- Có lẽ tôi từng thương. Nhưng tình thương mà không có sự thật thì không đủ để sống cùng nhau. Bà Lan cúi xuống, mắt đỏ hoe. Bà đã khóc rấm rức vì nỗi khổ của bà làm liên lụy đến ông, và bà vừa đánh mất một tấm chân tình.

Ông đứng dậy bước ra cửa, dáng đi thong thả nhưng dứt khoát. Bà nhìn theo, những giọt nước mắt lăn dài.

Sau chuyện ấy, ông Tuấn gọi luật sư. Ông lập di chúc. Căn nhà vẫn là tài sản của ông. Khi ông còn sống, không ai có quyền ép ông bán, sang tên hay chuyển nhượng. Ông gửi bản di chúc cho luật sư giữ. Thiên Thanh biết chuyện. Nó hỏi:

- Ba không tin con nữa sao?

Ông nhìn con gái rất lâu.

-Ba vẫn tin con là con của ba. Nhưng tin con không có nghĩa là giao hết quyền quyết định cuộc đời ba cho con.

Thiên Thanh im lặng. Ông nói tiếp:

- Ba còn sống thì ba phải được quyền sống. Ba già rồi, nhưng chưa chết. Đừng chia tài sản của ba khi ba còn ngồi trước mặt con.

Câu nói ấy khiến Thiên Thanh bật khóc.

Hai trăm triệu bà Lan trả lại, ông đưa cho Thiên Thanh.

- Con đem trả bớt nợ đi.

Thiên Thanh ngẩng lên:

- Ba cho con sao?

- Không. Ba giúp con.

- Con sẽ trả.

-Ừ. Trừ dần vào lương. Ba không cần con trả một lần. Ông dừng lại rồi nói:

-Nhưng từ nay đừng giấu ba chuyện gì nữa.

Thiên Thanh ôm lấy cha. Lần đầu tiên sau nhiều tháng, hai cha con cùng khóc. Na đứng ngoài cửa nhìn hai người. Nó không hiểu hết chuyện của người lớn. Nhưng nó thấy ông ngoại và mẹ hòa thuận, nó cũng vui lây!

Cuộc sống sau đó trở lại bình thường. Buổi sáng ông Tuấn đi chợ. Buổi trưa ông nấu cơm. Chiều đón Na. Tối ba người ngồi ăn với nhau. Ông vẫn nhớ Bạch Nhàn. Nhưng nỗi nhớ không làm ông bạc nhược mà ông phải sống theo cách của riêng mình một cách bình yên bên cạnh con gái và cháu ngoại của mình. Ông bắt đầu chăm sóc mấy chậu hoa trước sân. Tham gia câu lạc bộ người cao tuổi. Thỉnh thoảng đi uống cà phê với vài người bạn cũ. Có hôm ông ngồi một mình trong quán, nhìn dòng người qua lại và mỉm cười. Ông chợt hiểu: Tuổi già không đáng sợ vì cô đơn. Điều đáng sợ là vì cô đơn mà trao nhầm niềm tin. Nhưng cũng không thể vì từng bị tổn thương mà khóa chặt trái tim mình. Bởi con người, dù sáu mươi hay bảy mươi tuổi, vẫn cần tình yêu, tình bạn, sự sẻ chia. Chỉ có điều, ở tuổi ấy, người ta cần thêm một thứ mà thời trẻ thường xem nhẹ: sự tỉnh táo.

Một buổi tối, ông mở cuốn album cũ. Bà Bạch Nhàn vẫn cười trong tấm ảnh. Ông đưa tay chạm lên khuôn mặt vợ.

- Bà biết không, tôi vừa học được một bài học muộn quá.

Ông cười: Hóa ra đến tuổi này người ta vẫn có thể mắc bẫy tình. Nhưng lần này tôi đã biết cách bước ra.

Ngoài sân, Na gọi:

- Ngoại ơi! Xuống ăn cơm!

Ông đóng cuốn album lại.

-Ngoại xuống đây!

Ông đứng dậy, chậm rãi nhưng bước chân nhẹ nhõm. Ông hiểu rằng phần đời còn lại không cần phải sống bằng sự thương hại của ai. Cũng không cần phải tranh giành với con cái. Càng không cần một người đàn bà đến để lấp đầy khoảng trống bằng tiền bạc. Ông chỉ cần một mái nhà còn thuộc về mình, một khoản lương đủ sống, vài người bạn tử tế và những người thân biết tôn trọng mình. Còn tình yêu? Nếu có, xin hãy đến bằng sự thật. Nếu không có, một mình cũng chẳng sao. Và sau hơn sáu mươi năm sống trên đời, ông Trần Đình Tuấn cuối cùng hiểu ra: Bẫy tình không dành riêng cho tuổi trẻ. Đôi khi, cái bẫy nguy hiểm nhất không phải do một người xa lạ giăng ra. Mà là cái bẫy được giăng bằng chính sự cô đơn của mình.

Sài Gòn, ngày 08/8/2026

Hoàng Thị Bích Hà

 From: Bích Hà <habich1963@gmail.com>

READ MORE - ĐẾN TUỔI NÀO MỚI THOÁT ĐƯỢC BẪY TÌNH? - Truyện ngắn: Hoàng Thị Bích Hà