Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, September 28, 2026

CHÙM THƠ LÊ THANH HÙNG: Gửi lại những ước mơ / Khi ta đã từng lựa chọn / Cô giáo mới

 


Gửi lại những ước mơ

 

Nắng dịu mềm, theo tà áo tung bay

Nghe xao xuyến trong ngày ta họp mặt

Rộn rã tiếng cười, long lanh ánh mắt

Gần mà cả năm mới gặp lại nhau

 

Suốt một đời, từ giã bao mái trường

Trường ta học và những trường mình dạy

Lần từ giã cuối cùng này mới thấy

Về hưu rồi, hụt hẫng những yêu thương

 

Còn lại tháng ngày, quanh quẩn vào ra

Sức trẻ bao năm, giờ đây trăm thứ bệnh

Cạn chiều rồi, đưa cái nhìn lơ đễnh

Bạn bè xưa, giờ mỗi lúc mỗi xa…

 

Kiếm tìm gì trong ánh mắt xa xăm

Họp mặt đông vui, hình như chợt thấy

Sống lại tuổi hai mươi, lòng sóng dậy

Như chưa hề phai nhạt, những tháng năm…

 

Trôi đâu hết những lời xưa đưa đẩy

Còn lại chân tình nồng ấm rung ngân

Năm mươi năm, sao vẫn còn đẹp vậy

Bởi yêu người, nên hoa mãi mùa xuân 


 

Khi ta đã từng lựa chọn


Đời chỉ có một sai lầm duy nhất

Là không tin, mình mắc phải sai lầm

Còn nguyên đó, những nẻo đời quăng quật

Thẩn thờ rơi, trong suốt cõi trăm năm

 

Ta là ai, đâu có gì quan trọng

Sẽ định hình sau những việc ta làm

Đâu chỉ có những hoa ngôn lẹm óng

Giăng mắc đôi đường, sai đúng lam nham

 

Mơ ước tương lai, sao quên hiện tại

Cứ loay hoay trong quá khứ u buồn

Day dứt mãi, nặng lòng lời phiếm ái

Trắng tay nghe vò võ một đêm suông

 

Ta đã tạo ra rất nhiều lựa chọn

Nhưng lựa chọn nào, xếp lại hình ta?

Buông thả hết, những lối mòn đưa đón

Sống bao dung, trong nắng muộn chiều tà

 

Gấp gọn lại, những điều từng nuối tiếc

Lang thang trong giấc mộng đầy vơi

Lời tạm biệt, đâu ngờ là vĩnh quyết

Lặng lẽ chìm trôi, từ buổi yêu người…

 


Cô giáo mới


Cô giáo mới em đấy

Ra trường về nơi này

Thì cũng như em vậy

Trường xa, chuyển về đây

                *

Nơi ngày xưa cô học

Ngập ngừng bên hàng cây

Chiếc lá rơi vướng tóc

Rợp bóng nắng loang đầy

                *

Trường mới, em lạ lẫm

Ngượng ngùng, ngại hỏi thăm

Lơ ngơ từng bước chậm

Bên hiên đứng lặng thầm

                *

Chỉ cười khi cô hỏi

Này em, lớp ở đâu?

Sao cười mà không nói

Dạ! Em đến lần đầu

                *

Cô, trò đi tìm lớp

Ơ kìa, bước vào chung

Duyên gì mà trùng hợp

Tròn tiếng cười bao dung


               Lê Thanh Hùng

        Bắc Bình, Lâm Đồng

<lethanhhung4625@gmail.com>

READ MORE - CHÙM THƠ LÊ THANH HÙNG: Gửi lại những ước mơ / Khi ta đã từng lựa chọn / Cô giáo mới

TRĂNG VỀ KHÔNG MẸ / WHEN THE MOON RETURNS WITHOUT MOTHER - Đồng tác giả: Thi Lan Anh Tran — Aschaffenburg, Germany & Musharraf Hussain — Assam, India

 


TRĂNG VỀ KHÔNG MẸ

 

Co-authors:
Thi Lan Anh Tran —
Aschaffenburg, Germany
Musharraf Hussain — Assam, India

 

Thu về chạm ngõ chiều nay
Trăng treo trước ngõ, heo may gọi buồn
Lòng con chợt thấy cô đơn
Nhớ bàn tay mẹ chập chờn năm nao

 

Ngày xưa dưới ánh trăng sao
Mẹ ru con ngủ ngọt ngào câu ca
Ngoài sân hương bưởi bay qua


Tiếng cười thơ dại chan hòa đêm thu

Đèn lồng đỏ thắm lời ru
Theo chân lũ trẻ vi vu cuối làng
Trống lân rộn rã xóm làng
Mà con chỉ nhớ dáng nàng mẹ thôi

 

Thời gian như nước xa xôi
Mang theo bóng mẹ về nơi cuối trời
Trăng còn soi sáng cuộc đời
Mà sao chẳng thấy mẹ ngồi bên con

 

Đêm nay lệ ướt môi son
Con gom thương nhớ gửi hồn theo trăng
Ước gì trăng ghé đầu làng
Đưa con về lại bên nàng năm xưa.

 

LỜI TÁC GIẢ

 

Có những mùa trăng đi qua đời người, ánh trăng vẫn vẹn nguyên mà người xưa đã chẳng còn bên cạnh. Trung Thu vốn là mùa của đoàn viên, của tiếng cười trẻ nhỏ, của những chiếc đèn lung linh và những mâm cỗ ngọt ngào. Nhưng với người đã mất mẹ, chính mùa trăng ấy đôi khi lại trở thành khoảng lặng sâu nhất của nỗi nhớ.

 

“Trăng Về Không Mẹ” được viết từ những hồi ức bình dị về một tuổi thơ có lời ru, có vòng tay mẹ, có đêm trăng và những ngày tháng tưởng như sẽ còn mãi. Khi trưởng thành, con người có thể đi rất xa, nhưng chỉ một vầng trăng cũ cũng đủ đưa ta trở về bên mái nhà năm nào, nơi có bóng mẹ dịu dàng.

 

Bài thơ là lời của một người con gửi vào ánh trăng những điều chưa kịp nói, gửi vào ký ức lòng biết ơn và thương nhớ. Mong rằng khi đọc những câu thơ này, mỗi chúng ta sẽ biết trân trọng hơn những phút giây còn được ở bên mẹ, bởi có những yêu thương khi đã xa rồi, cả một đời cũng chỉ có thể tìm về trong ký ức.

 

© 2026 Thi Lan Anh Tran & Musharraf Hussain — All Rights Reserved.

 

 

WHEN THE MOON RETURNS WITHOUT MOTHER

Co-authors:
Thi Lan Anh Tran — Aschaffenburg, Germany
Musharraf Hussain — Assam, India

 

Autumn comes softly to the gate tonight,
The moon hangs low; the wind sighs through the night.
A sudden loneliness fills my heart—
I miss my mother’s hands, though years keep us apart.

 

Once, beneath the starlit moon’s soft glow,
Mother sang sweet lullabies, gentle and low.
Across the yard, the pomelo blossoms flew,
While childhood laughter filled the autumn blue.

 

Red lanterns glowed, her lullaby still near,
Children ran laughing through the village clear.
The lion drums resounded down each lane,
Yet I remembered only Mother’s face again.

 

Time flows like water, distant, deep, and wide,
Carrying Mother to the farthest side.
The moon still lights the world as once before—
So why can I not find her at my door?

 

Tonight, tears tremble softly on my lips;

I gather all my longing for the moon to keep.

Oh, if the moon would visit our old lane,

And carry me back to Mother once again.



AUTHOR'S NOTE

 

There are moonlit seasons that pass through every life;
the moon remains unchanged, while those we loved are gone.


The Mid-Autumn Festival is traditionally a season of reunion—
a time of children’s laughter, glowing lanterns,
and sweet offerings gathered around the family table.


Yet for those who have lost their mothers,

that very moonlit season can become

the deepest silence of remembrance.

“When the Moon Returns Without Mother”
was born from the simplest memories of childhood:
a mother’s lullaby, her loving arms,
the autumn moon, and those tender days
we once believed would last forever.

 

As we grow older, we may travel far from home,
but a familiar moon can still carry us back
to the little home of our childhood—
the place where Mother’s gentle shadow once remained.

 

This poem is a child’s message entrusted to the moon:
the words left unspoken,
the gratitude held within the heart,
and the longing that time can never erase.

 

May these verses remind each of us
to treasure every moment we are still blessed
to share with our mothers.


For some loves, once they have gone beyond our reach,
can only be found again
in the quiet country of memory.

 

© 2026 Thi Lan Anh Tran & Musharraf Hussain — All Rights Reserved.

***

From: Dipl.-Kauffrau Thi-Lan Anh Tran 

Email: Wirtschaftskanzlei@dipl-kauffrau-tran.de

 

READ MORE - TRĂNG VỀ KHÔNG MẸ / WHEN THE MOON RETURNS WITHOUT MOTHER - Đồng tác giả: Thi Lan Anh Tran — Aschaffenburg, Germany & Musharraf Hussain — Assam, India

CHÙM THƠ NGUYỄN VĂN TRÌNH: Tổ quốc trong tim / Người giữ đảo bình yên / Nơi - người gác cửa / Vững vàng nơi đầu sóng

 


Tổ quốc trong tim

                     Nguyễn Văn Trình

 

Chiều rót xuống

Sông Sêpôn một gam trầm rất nhẹ

dòng nước khẽ lặng, như mang theo nỗi nhớ không tên

bên kia đất bạn Lào

mờ ảo trong màn mưa tĩnh lặng

bên này Hướng hóa

nắng quê nhà gần gũi đến thiêng liêng

 

Mưa rừng buông

những sợi dài như thời gian không dứt

thấm vào áo, vào da và vào cả những tĩnh thức

anh cùng đồng đội trực, đi giữa miền biên viễn

bước chân chắc, hiển nhiên như một lời thề

 

Không ai gọi tên nhau

giữa mênh mang trời quê và đại ngàn

ánh mắt chứa chan

thay lời giữ chặt một niềm tin

có những điều, chỉ lặng im mới nói được

như tình yêu Tổ quốc

âm thầm mà sâu hơn nước dòng sông

 

Trường Sơn đông dựng trước mặt

xanh đến tận cùng nỗi nhớ

như vòm trời che chở, những bước chân đi

sau lưng anh là những gì

bản làng ấm mùi khói bếp

những nếp nhà, gửi trọn niềm tin nơi anh

 

Anh đi qua chiều

qua mưa, qua những giới hạn của mình

lặng thinh như dòng sông không cần gọi tên để nhớ

từ trong nhịp thở

anh mang theo một điều rất nhớ – Tổ quốc trong tim

 

                                                                NVT

 

Người giữ đảo bình yên

                          Nguyễn Văn Trình

 

Đảo thức dậy trong tiếng sóng vỗ

một màu xanh trải dài

từ bãi biển đến rừng nguyên sinh

nơi ấy, có người lính biên phòng đứng gác

như cột mốc sống giữa sóng bạc trùng khơi

 

Anh đi qua những rạn san hô lấp lánh

nơi đàn cá đang bơi

có đủ ánh sáng, sắc màu dưới biển

anh nghe gió luồn qua triền rừng phong ba

qua những cây bàng vuông bền bỉ

như không bao giờ ngừng nghỉ giữa biển trời

 

Những bãi biển đẹp hoang sơ

cát trắng ven bờ trải dài

không chỉ đẹp bởi ánh nắng ban mai

mà còn bởi dấu chân của các anh

in lên đó sau mỗi lần tuần tra

bình yên đến lạ, từ những điều hoang sơ

 

Anh bước chân qua

những hệ thống hầm hào cũ sót lại

nơi còn mang hơi thở của thời gian dài lửa đạn

đứng trước tượng đài liệt sĩ anh cúi đầu

nghe tim mình vang lên thẳm sâu lời hứa

tiếp nối ngọn lửa đấu tranh

những gì cha anh đã giữ gìn bằng máu

 

Cột cờ trên đảo vẫn đứng đó

vẫn hiên ngang trước gió

lá cờ tung bay như con tim gõ nhịp

con tim Tổ quốc đang đập giữa Biển Đông

và trong các anh, những người lính trẻ

là phần tiếp nối quá khứ

luôn giữ ý chí kiên cường

để đảo mãi bình yên ...

 

                                      NVT

 

Nơi - người gác cửa

                Nguyễn Văn Trình

 

Có những buổi chiều

trôi rất chậm trên dãy Trường Sơn

mây chờn vờn như quên mất lối về

người lính gác, giữa bốn bề yên tĩnh

nghe thời gian rơi, in từng nhịp rất khẽ

 

Sông Sê pôn

mang màu nước dịu nhẹ, của những điều rất cũ

không như thác lũ, nhưng khi chạm vào ánh mắt

người lính thấy mình trong dòng nước ấy

một bóng nhỏ, nhưng đầy kiêu hãnh

 

Cửa khẩu Lao Bảo người đến và đi

hành lang kinh tế Đông - Tây

nơi đây, mở ra như một cánh cửa

người lính, giữ cho cánh cửa ấy

luôn bình yên, rộng mở

 

Đêm rơi muộn

nhẹ như một nhịp thở

khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa

từng thanh âm vang lên, như một lời ca không dứt

anh giữ đất bằng sự lặng im bền bỉ

như giữ một giấc mơ, không dễ gì lay chuyển....

 

                                                                 NVT

 

Vững vàng nơi đầu sóng

                           Nguyễn Văn Trình

 

Chiều muộn

rơi xuống mặt biển

tàu anh vẫn vững vàng nơi biên cương đầu sóng

một chấm nhỏ giữa đại dương mênh mông

nhưng mang dáng hình của Tổ quốc

 

Anh ngồi trên boong tàu

chỉ lặng im, đôi mắt dõi theo từng chuyển động

nơi đường chân trời chưa yên

từng con sóng bạc đầu

nối nhau sắp thành hàng hàng, lớp lớp

 

Súng anh đã sẵn sàng

như một lời cảnh báo âm thầm

rằng biển này đang có người canh giữ

và không ai được phép xâm phạm

 

Biển xanh, trời rộng

hải âu gọi nhau trên từng lớp sóng

anh nghe lòng mình dịu lại

và tình yêu biển, mãi lớn dần theo gió

 

Trong mờ xa kia, là đất liền

là nơi luôn bình yên trong tim anh

vì nơi ấy có trời xanh quê hương và gia đình

là điểm tựa để anh đứng vững ở nơi này

để biển trời, mãi trong xanh

như nỗi lòng của người đầu sóng

 

                                        NVT

 

 

Tác giả NGUYỄN VĂN TRÌNH

Bút danh: KATHI              

Hội VHNT tỉnh Quảng Trị - ĐT 0914 415 931

Email: nguyenvantrinh58@gmail.com

Đ/C: 65B Đường Chu Mạnh Trinh, Phường Nam Đông Hà, tỉnh Quảng Trị

 

 

 

READ MORE - CHÙM THƠ NGUYỄN VĂN TRÌNH: Tổ quốc trong tim / Người giữ đảo bình yên / Nơi - người gác cửa / Vững vàng nơi đầu sóng

Saturday, September 26, 2026

CHÙM THƠ BÀNH PHI LÂN: Ngày trở laị / Lắng nghe tiếng lòng / Thương nhớ quê nghèo

 


 

NGÀY TRỞ LẠI

 

Ngày trở lại bên dòng sông năm cũ

Bóng con đò đứng đợi khách sang sông

Giờ đã xa như tháng ngày biền biệt

Vẫn trong ta em dáng nhỏ lụa là

Gần hết đời người vẫn thương hoài xứ ấy

Ta trở về ôm lấy mối tình thơ

Con đường xưa vẫn thơm mùi cỏ dại

Sợi tóc dài còn vương mãi trong mơ

Núi vẫn xanh như tình yêu muôn thuở

Tiếng chuông chùa vọng lại đến ngàn sau

Đời biển dâu dù chỉ là quán trọ

Đôi mắt trong thánh thiện đến vô cùng!

Ngày trở lại chiếc cầu xưa còn đó

Đã bao lần ta ngắm dáng em qua

Bao sắc màu thi nhau nhấp nháy

Làm sao quên dầu mưa gió phôi pha!

Ngày trở lại về thăm vườn cũ

Gió trong vườn xào xạc hương bay

Bao kỷ niệm từng cây dâu, cây bưởi

Góc thềm xưa lá rụng rơi đầy!

Ta dừng lại chợt thấy mình khang khác

Có nghe chăng nhịp bước của thời gian

Góc thành cũ còn rêu phong, khói nhạt

Ta vẫn yêu thời hoa mộng trăng ngàn!


Một ngày mưa tháng 9/26. 

Bành Phi Lân

 

LẮNG NGHE TIẾNG LÒNG

 

Lắng nghe tiếng gió miền xa

Thổi từ châu thổ thổi qua núi đồi

Lắng nghe lời mẹ ru hời

Ru từ bụng mẹ, cả đời không quên

Lắng nghe mưa giọt bên thềm

Tiếng mưa rơi nhẹ êm đềm giấc khuya

Lắng nghe tiếng sóng vỗ đều

Vỗ bờ cát mịn, vỗ mềm bước ai

Lắng nghe từng giọt sương mai

Nghe từng hơi thở dặm dài cỏ xanh

Lắng nghe hạt nắng long lanh

Cùng đàn chim nhỏ trên cành líu lo

Lắng nghe tiếng trẻ bi bô

Nụ cười sảng khoái giữa bờ yêu thương

Lắng nghe tiếng khóc đoạn trường

Bao nhiêu nước mắt con đường khổ đau

Lắng nghe lời nói của nhau

Trái tim mềm lại, nỗi sầu dần vơi

Lắng nghe tiếng hát trong đời

Từ trong sâu thẳm nghe lời mình ra

Lắng nghe mặt đất chan hoà

Ấm lên tình nghĩa mặn mà nhà chung.


Sáng 22/9/21. 

Bành Phi Lân


THƯƠNG NHỚ QUÊ NGHÈO

 

Quê tôi nghèo nắng cháy

Gió nóng đốt buồng cau

Khô queo từng cọng lá

Vẫn có lắm anh hào!

Dân tôi luôn lam lũ

Quần quật trên đồng khô

Đổ mồ hôi muối mặn

Mong có bát cơm đầy

Trời thường làm cơn lũ

Bão hay ghé qua đây

Dân đã nghèo lại khổ

Một cổ biết mấy tròng

Chiến tranh tàn phá hết

Nhà cửa lắm tan hoang

Dân cư đành li tán

Chạy, chạy mãi đau lòng

Đã hai lần chia cắt

Hai dòng sông li biệt

Bên này nhớ bên tê

Máu và đầy nước mắt

Có “con đường không vui”

Có “chiếc cầu không ngắn”

Có mồ chôn lấp tạm

Đều máu thịt anh em

Quê hương ngưng tiếng súng

Đã gần năm mươi năm

Bao người đi không về

Bao oan hồn vất vưởng

Trên mọi nẻo đường quê

Người tìm đường mở nước

Xây cứ địa nơi đây

Mấy trăm năm mở cõi

Để tàn lạnh bao ngày!

Quê tôi nghèo rứa đó

Quê tôi khổ ri đây

Người dân biết “vịn” dậy

Vá lại bóng hao gầy!


25/9/21.

Bành Phi Lân

<lanbanhphi@gmail.com>

READ MORE - CHÙM THƠ BÀNH PHI LÂN: Ngày trở laị / Lắng nghe tiếng lòng / Thương nhớ quê nghèo

Youtube: KHÓI LAM CHIỀU BAY - Thơ: Nguyễn Hồng Linh - Nhạc: Nguyễn Cửu Dũng - Ca sĩ: Mai Trang

 




KHÓI LAM CHIỀU BAY


Chiều buông nhẹ xuống bến quê xưa cũ Mẹ ngồi đan áo lạnh giữa mùa đông Gió đưa thoảng nhẹ hương đồng lúa trổ Nắng tàn dần khuất phía cuối dòng sông. Mưa lất phất rơi trên con đường nhỏ Ướt mái tranh nghèo lặng lẽ ven thôn Hàng tre già khẽ nghiêng mình trong gió Nghe thời gian trôi chậm giữa hoàng hôn. Con đò cũ nép mình bên bến vắng Cánh cò bay hòa cùng bóng chiều rơi Không gian phủ một màu buồn trầm lắng Gợi trong tim bao nỗi nhớ xa vời. Khói lam chiều bay ngang qua mái rạ Tiếng gọi ai vọng lại giữa mênh mang Mẹ đón con nụ cười hiền êm ả Ru lòng người quên hết những đa đoan. Stuttgart, 16.04.2026 Nguyễn Hồng Linh
READ MORE - Youtube: KHÓI LAM CHIỀU BAY - Thơ: Nguyễn Hồng Linh - Nhạc: Nguyễn Cửu Dũng - Ca sĩ: Mai Trang

MẤY NGƯỜI BẠN CŨ - Tùy bút: Lê Văn Trạch





MẤY NGƯỜI BẠN CŨ

Tùy bút: Lê Văn Trạch

 

Hình như mọi bà mẹ quê Quảng Trị đều có chung một điều mong ước là làm sao con mình được vào học Trường Nguyễn Hoàng: vừa đỡ tốn một khoản học phí, vừa đánh giá sức học sau khi đạt số điểm qua một kỳ thi tuyển và cảm thấy có niềm hãnh diện vô hình nào đó. Điều này tôi đã làm Mẹ tôi thất vọng mặc dầu trước đó mấy hôm Bà chuẩn bị rất kỹ: mua một con gà đúng giò nhốt sẵn cho sạch chân để cúng "trửa trời", không cho tôi ăn trứng sợ bị điểm không ... sau hôm cúng ông bác tôi coi giò bảo rất tốt: "Sởn sơ không một vết bầm, nội phò, ngoại giang, huyết đáo thượng trần, mọi chuyện sẽ thông suốt tốt đẹp", nhưng không hiểu sao tôi bị rớt trong kỳ thi vào Đệ Thất năm đó. Mẹ tôi âm thầm thở dài với lời tự thán an ủi "học tài thi phận". Tôi phải vào trường Thánh Tâm một năm và năm sau trở lại quê vì lúc này ở quận bắt đầu mở trường Bán Công với hai lớp Đệ Thất và Đệ Lục.

 

Những năm ở Trung học, tôi cứ nghĩ là sau này mình sẽ đi ban Toán vì đây là môn tôi rất thích và thường có điểm số cao nhất: nhớ năm Đệ Lục, thầy Lê văn Quang cứ vào đầu giờ đều cho làm toán chạy với phần thưởng 3,2,1 kẹo Nougat cho 3 người nhanh nhất. Lúc nào tôi cũng được 3 cái. Rồi những năm sau, tháng nào tôi cũng được thầy Lê Văn Ni tặng cho những cuốn sách tự chọn vì tôi đã làm được hầu hết các bài toán Lý hóa trong sách của thầy Đặng Sĩ Hỹ .. Thế mà khi vào Đệ Tam Nguyễn Hoàng, tôi không được đi ban B như trong đơn thỉnh nguyện, mà phải vào ban C. Sau một thời gian ngắn, tôi mới biết là lúc này trường bắt đầu mở ban Văn chương Sinh ngữ nhưng số học sinh ghi danh quá ít, quý thầy phải giở học bạ ra rà xét, tìm những người tạm có khả năng đưa vào cho đủ sĩ số ... Trong học bạ của tôi, sau môn Toán, Sinh ngữ chỉ ở mực trung bình, nhưng môn Việt văn trội hơn một chút, lại quý thầy thương tình dễ dãi trong việc cho điểm: Có lần thầy Lê Hữu Thăng khi ra đề luận văn "Tâm sự Thúy Kiều ở lầu Ngưng Bích" đã cho tôi số điểm tối đa, có lẽ đây là cái "Duyên" thầy đã gieo để gần 40 năm sau liên lạc được với nhau trên đất Mỹ, tôi phải trả "nợ". Lần này thầy cũng ra một đề luận văn, khó hơn với nội dung chi tiết gạch đầu dòng. Tôi cố gắng viết trong nhiều cảm xúc khác nhau, không biết thầy "cho bao nhiêu điểm", nhưng đã chọn đăng trên Kỷ yếu Quảng Trị.           

 

Lớp C ban Pháp văn năm đó chỉ có 37 học sinh, gần một nửa đi vào với những bước chân bất đắc dĩ, sức học trung bình hoặc dưới, trong đó có tôi, bởi thế tôi phải học hai năm Đệ Nhị để được làm quen thêm nhiều bạn khác. Mặc dầu "văn dốt, vũ nát", tôi cũng có được cái vinh dự lịch sử là một trong những học sinh ban C đầu tiên của trường Nguyễn Hoàng.           

 

Nhập học niên khóa 1963 - 1964, tôi lạc lõng trong mặc cảm một học sinh trường quận với bản tính trầm lặng, nhút nhát, không có bạn thân, tuy thế hai tháng sau, xảy ra vụ đảo chánh 1 - 11 với những cuộc bãi khóa xuống đường liên tục do các anh Lê Đình Cai, Thái Tăng Phương ... dẫn đầu, tôi cảm thấy dạn dĩ và gần gũi với bạn học hơn. Một trong những người thân nhất và để lại trong tôi nhiều dấu ấn đẹp đến sau này là Nguyễn Ngọc Hùng. Anh có nhiều biệt danh: Hùng Bắc, Hùng La Vang, Hùng Lì… nổi tiếng về cái nghịch ngợm của mình, là biểu hiện đúng đắn nhất ở vị trí thứ 3 sau ma và quỷ! Trong các môn học, chỉ giỏi về văn, còn lại là mù tịt. Đam mê của Hùng là tán gái và làm thơ. Trong cặp sách lúc nào cũng có sẵn một hai bài thơ và thư tình. Gặp cô nào hợp nhãn, sau vài câu mở đề là điền tên vào và nộp bài ngay! Anh thường công khai hóa những mối tình học trò thầm lén cho cả lớp biết, có lần đọc đâu đó mấy câu thơ của anh Thiệu gửi cho chị Lan:

"Ngập ngừng tôi gọi Lan bằng chị

Ôi đẹp làm sao chuyện chúng mình"

 

Anh chẳng ngại ngùng phổ biến .. Cuộc tình nhen nhúm từ lớp học đã cột chặt hai người lại với nhau cho đến bây giờ . Hiện anh chị sống rất hạnh phúc với cả đàn con thành đạt ở Dallas ...  Những kỳ thi lục cá nguyệt, cứ mỗi câu hỏi về toán anh làm một bài thơ, thế mà cô Kim Sa vẫn cho anh điểm trung bình, mỗi thầy cô anh đều đặt thêm một biệt danh: thầy Sang dạy Sử Địa là "quả lắc Faucault", cô Kim Sa là "Cô 36", thầy Châm dạy Anh văn là "Nez Rouge", thầy Nguyễn Đăng Ngọc dạy văn là "Tâm Vô Cầu" .. Giờ đầu Công dân, thầy Quý giới thiệu: Tôi, Thái Tăng Quý, cử nhân Luật khoa. Thế là lần sau, trước khi thầy vào đã thấy Hùng lấy phấn viết lên bảng:

"Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt

Dưới sân ông cử ngẩng đầu rồng” 

 

Có lần anh ráp nối một bài thơ Đường rồi đem hỏi thầy Ngọc: bài thơ con đọc một lần rất thích và nhớ mãi trong một tuyển tập thơ của Đỗ Phủ, Lý Bạch và Bạch Cư Dị, nhưng không rõ cụ thể là của ai, thầy có nhớ chỉ dùm con với ... Một lần khác, anh không làm theo đề luận văn của thầy mà theo một đề khác do mình tự đặt, đương nhiên thầy không chấm. Trong phần lời phê của giáo sư, anh mạo chữ của thầy viết: Nhất Linh viết thua anh, Khái Hưng sống lại viết bằng anh là cùng… rồi chuyển lên khoe với cách chị Ngọc Bích, Lệ Hằng, Nguyễn Thị Thanh, Nguyễn Thị Liễu…          

 

Về Quảng Trị, lúc đầu tôi ăn cơm tháng ở Thạch Hãn, sau anh Ngô Xuân Lưu giới thiệu đến dạy kèm cho con bà dì ở Góc Bầu, phía sau lò rèn ông Lem, cạnh nhà anh Hàm, anh Thám, có cô em tên Khiểm rất dễ thương. Một lần đứng chơi trước lò rèn, chung quanh có mấy bà mẹ trẻ, anh thản nhiên sửa lời của một bài thơ tiền chiến rồi ngâm: 

Ngày mai trong đám bồng con ấy

Có kẻ theo tôi bỏ cả chồng (!)         

 

Sau này, gần lúc thi cử, tôi dọn xuống ở nhà chị Bé, người cùng quê phía sau chùa Tỉnh Hội. Những ngày nghỉ, Hùng thường rủ tôi đi chơi, lúc nào cũng có một nắm bạc cắc "cuỗm" của bà O bán tạp hóa (?!), nhờ chị Bé đổi ra tiền giấy rồi đi đá Jeton ở quán ông Mười trước rạp Đại Chúng hoặc ăn bún bò ở đường Lý Thái Tổ, thỉnh thoảng có dẫn theo Phán, học Thánh Tâm, nghịch như Hùng vậy. Địa bàn hoạt động của anh là Trường Nữ Theresa. Phán cũng có năng khiếu về thơ văn, sau này làm Ban Báo chí ở TTHL/Vũng Tàu. Những khi không có tiền, chúng tôi mượn "súng cóng dù bắn đạn ria" của anh Trang, chồng chị Bé, đi bắn chim sẻ hoặc dạt ở cánh đồng Hạnh Hoa. Những cuối tuần lên thăm nhà, Hùng thường theo tôi và chỉ mấy lần cũng đã quen được nhiều cô .. Hùng không bao giờ xem lại bài vở ở nhà, chúng tôi đều học hai năm Đệ Nhị, kỳ thi sau anh phải nhờ một người bạn đóng vai giám thị hành lang - cũng kiếng trắng, veston, giày cuire, cặp táp, mang bài luận Pháp văn vào đứng ngay trước mặt, đợi anh chép xong rồi đi ra, không hiểu sao quý Thầy coi phòng thi chẳng có ý kiến gì cả. Có bằng TT I (Tú tài bán phần),  anh nhập ngũ ngay khóa 22/TĐ ... Sau này gặp một số bạn của Hùng kể chuyện: Hùng là cứu tinh cho bạn bè thân tình ở Trung đội, nếu lỡ bị mất nút ống hơi của súng Garant M1, chỉ cần cho Hùng biết 30 giây là có ngay; thường chơi kết bạn bốn phương với nhiều người, cuối tuần hẹn lên vườn Tiếp tân của trường, chọn cô nào đẹp, chịu chơi, dẫn đi. Hùng nghịch, nhưng thông minh, vui tính, nên được quý thầy và bạn bè thương ...          

 

Để giữ lại một kỷ niệm cho lớp, cho trường và giải bày những tâm tư học trò trong thời điểm mình có mặt, các anh chị đầu đàn trong lớp như Lê Đình Lộng Chương, Lê Hữu Ty, Đỗ Tư Nghĩa, Đoàn Thị Tình, Hoàng Hữu Ly, Hoàng Mỹ, Hồ Sĩ Kỷ, Lê Mậu Thiên, Nguyễn Cư .. đã bàn bạc để ra tập san lấy tên là "DẤU CHÂN CHIM", một tên gọi thật hay và ý nghĩa: dấu chân của những chú chim nho nhỏ ríu rít quanh quẩn bên tổ đợi mẹ mớm mồi, sau này những cánh chim bay đi khắp bốn phương trời đậu lại ở những vị trí khác nhau nhưng có lúc ngoảnh đầu nhìn lại chắc không khỏi cảm xúc bồi hồi. Trụ sở Ban Biên Tập đặt tại Thạch Hãn. Cả lớp cùng nhau hì hục làm việc: quay Roneo ở Ty Thông Tin, xếp bài, đóng sách, hơn một nửa học sinh trong lớp đều có góp bài, chừ thì chỉ nhớ lờ mờ hình bìa, còn nội dung xin chịu, ngay cả bài của mình viết, chỉ nhớ được bút hiệu Ngữ Quyên của anh Nguyễn Cư, điều thú vị là năm 95, tình cờ gặp anh tại Saigon, chúng tôi đều nói là không có đứa nào lạ cả, anh vẫn vui tính tươi cười với chiếc răng khểnh rất dễ thương ... 

Trước khi rời VN mấy hôm, chúng tôi có gặp nhau tại quán số 3 Lê Lai, trong đó có mấy người bạn cùng lớp: Nguyễn Cư, Nguyễn Văn Tịnh, Lê Ngọc Giao, Thái Thạch. Rời trường, mỗi người trôi nổi theo những công việc khác nhau, ít khi hội ngộ. Chỉ năm 72, gặp anh Lê Văn Hoàn ở trại Tình Thương của TK/QT ở Mỹ Thị, Đà Nẵng, hỏi tôi có cần sổ xanh, anh ta giúp. Lần khác, lúc đơn vị  đang tái huấn luyện tại Phú Bài, tôi chuồn vào thăm nhà ở Đà Nẵng, khi trở lại, có lệnh cấm trại và quân cảnh hỏi rất gắt, biết là một người bạn cùng lớp đang chỉ huy tại đây, không đợi xét giấy tờ, tôi hỏi một QC để gặp Trung úy Thợ, anh bảo Trung úy đang ở Huế, rồi chào đi ... Năm 1974, khi bà con QT hồi cư tại Hải Lăng, nhân chuyến về thăm, tôi ghé bệnh viện và gặp Lê Mậu Thiên lúc này là bác sĩ, hứa là sẽ giúp để bà xã sớm thuyên chuyển vào Đà Nẵng .          

 

Tết Mậu Thân, Hùng về phép và bị kẹt lại, anh được quân trấn Quảng Trị chỉ định làm trưởng toán bảo vệ trong thị xã (gồm những quân nhân xa đơn vị). Anh dẫn tôi vào quán Lưu Khách, ăn uống xong không cho tôi chi, anh đến bàn bên cạnh bảo trả tiền dùm ...         

 

Tôi gặp lại Nguyễn Ngọc Hùng một lần nữa vào đầu năm 69 tại Saigon, lúc này tôi mới nhập ngũ còn anh đã là Trung úy Biệt Động Quân, bị thương đang ở đơn vị 3 Quản Tri, có dự định nạp đơn vào Quốc Gia Hành Chánh, tính tình vẫn thế, anh dẫn tôi đến giới thiệu với người bạn gái trong chợ Phú Nhuận - nói là sẽ cưới làm vợ - rằng tôi là người em con bà dì ruột ... Tôi mất liên lạc với Hùng từ đó!           

 

Cho đến giờ này, tôi không hiểu sao chúng tôi lại thân nhau khi tính nết hai đứa một trời một vực, chắc anh cũng nghĩ thế. Trước khi nhập ngũ, anh có tặng tôi một tập thơ, tên là Tao Mày, trình bày rất đẹp, có mấy câu thơ tôi còn nhớ:

“Tao nhớ ngày xưa tao mê gái

Mải miết rong chơi với bạn bè

Còn mày câm nín trong sách vở

Thế mà hai đứa mến nhau ghê” ...           

 

Mang tiếng là bạn học thân tình, nhưng quan hệ giữa chúng tôi chỉ có chơi là chủ yếu. Một người bạn khác - Lê Ngọc Giao - Ban C Anh văn, lại rất tâm đắc với nhau trong học tập, nhất là văn học nghệ thuật. Anh trọ trên căn gác nhỏ phía bên trái chùa trên đường Lê Văn Duyệt do anh Đỗ Bá Chi tài trợ. Anh thường chỉ giúp tôi thêm tiếng Anh, thảo luận về những đề luận trong lớp. Chúng tôi thường rủ nhau đi qua mấy hiệu sách Văn Hóa, Sáng Tạo, Tùng Sơn và cuối cùng dừng lại để mua ở quán Lương Giang; chỉ mua sách hoặc đọc báo cọp chứ không phải như anh chàng nọ sau này gặp ở Saigon, nhân kể chuyện cũ đã tự thú rằng mình đến quán Lương Giang cũng giả đò lật lật sách báo nhưng thực sự để lâu lâu được nhìn đôi bàn chân nõn nà và một khoảng trắng trên mắt cá của cô Tâm con gái ông chủ thường có cái tật dùng hai tay kéo xách ống quần lên!           

 

Có một cuốn sách lúc đó là thời thượng, hai đứa phải để dành cả tháng với sự phụ trợ của Hùng mới mua được: "Ý thức mới trong văn nghệ và triết học" của Phạm Công Thiện, với nhiều bài viết vượt quá sự hiểu biết của chúng tôi, nhưng những quan điểm và giới thiệu của ông về thơ rất thú vị. Đặc biệt, hai đứa cùng mê tạp chí Văn: đây là nơi tập trung hầu hết các nhà văn của miền Nam, đồng thời giới thiệu những trào lưu văn nghệ và những nhà văn nổi tiếng trên thế giới. Chúng tôi đọc rất kỹ và vui thích khi phát hiện một điều mới lạ nào đó. Sau này anh vẫn còn nhắc về chuyện tôi đã chỉ cho anh xem cách dùng chữ sáng tạo của Mai Thảo như "phiến trời" hoặc "mỡ đông" (để chỉ màu trắng của làn da phụ nữ). Có lần hai đứa ngẩn tò te vì sau khi đọc truyện "Người đàn bà ngoại tình" của Albert Camus mà chẳng thấy bà vợ ngoại tình ở chỗ nào, mãi sau này khi đọc thêm những bài phân tích của nhà văn Trần Thiện Đạo mới vỡ lẽ. Trong một bức thư viết năm 1999, anh nhắc: "Tôi còn nhớ như in hôm nào anh và tôi ngồi ở bàn cuối lớp, anh mở tờ Nghệ thuật chỉ vào bài Tống Biệt Hành và nói rất gọn "bài này hay" hoặc một lần anh cũng bình phẩm về một truyện ngắn mà hồi anh còn ở VN tôi đã nhắc lại. Tuổi trẻ chúng ta qua đi như thế, cho đến giờ đây, bài thơ vừa mang hương vị cổ phong vừa man mác mùi Đường thi của Thâm Tâm vẫn khiến ta quá đỗi ngậm ngùi: "Bóng chiều không thắm không vàng vọt. Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong." 


Tôi có tạp chí Văn ngay từ số 1 và để vào ngăn tủ ngăn nắp tại nhà ông bác tôi.            

 

Đầu năm 2001, trả lời phỏng vấn của Thụy Khuê trên đài RFI, nhà văn Trần Thiện Đạo có nhắc đến một chi tiết làm ông phấn chấn là trong đợt về Hà Nội mới đây theo lời mời của những người mến mộ văn học. Nhân buổi tiệc trà, một nhà phê bình tên tuổi đương đại đã ghé tai ông nói thầm: "Tôi biết anh gần 30 năm nay." Không đợi để nhà văn đương trố mắt ngạc nhiên định hỏi, ông tiếp: "Vào năm 1972, theo bộ đội đóng quân vùng Quảng Trị, vớ được một số sách báo xuất bản ở Sài Gòn, tôi đọc ngấu nghiến nhiều bài văn và mấy bản dịch của anh đăng trên tờ Văn". Đọc đoạn này, tôi cứ ngờ ngợ không chừng ông này đã đụng đến tủ sách của tôi, bởi thời điểm đó, quê tôi còn lành lặn, là hậu cứ của quân đội Bắc Việt tiếp ứng cho chiến trường Cổ Thành.          

 

Lê Ngọc Giao khác tôi một điểm là nói nhiều, theo một số người thì Giao "Lộng ngôn" hay "chế", có lần nói chuyện với Thái Tăng An ở Hà Lan, tôi nhắc đến anh, An hỏi có phải Giao phịa chuyện không? Từ ngày rời trường, chúng tôi không gặp nhau, chỉ biết là anh "đứng" bên lề cuộc chiến với một đời sống rất thoải mái.            


Trong một lúc bất ngờ nhất vào những ngày lam lũ ở quê nhà khoảng năm 1990, tôi nhận được thư anh: anh có một lối viết rất sảng khoái, tâm sự như không bao giờ dứt, sau đó anh thường cung cấp sách báo, băng nhạc, tổng lược những thông tin văn học nghệ thuật trong và ngoài nước, cố gắng bằng mọi cách để tìm tin tức Nguyễn Ngọc Hùng nhưng không được .. Anh làm trợ lý Giám đốc cho một công ty xây dựng nước ngoài, đứa con gái đầu học ở Pháp, hai đứa sau học Đại học Saigon ... Cuộc sống cứ nghĩ sẽ bình thản êm trôi, ai ngờ đến năm 95, khi tôi vào SG cũng là lúc anh nhuốm bệnh. Một căn bệnh hiểm nghèo: ung thư thanh quản. Đêm chia tay ở Lê Lai, chúng tôi chẳng nói với nhau nhiều, trong cái siết tay cuối cùng, nhìn vào mắt anh, một thoáng buồn, âu lo và ngấn lệ!           

 

Tôi vẫn thường xuyên liên lạc, động viên an ủi để anh có thêm chút nghị lực, nhưng bệnh tình càng trầm trọng, những trang thư bắt đầu nhuốm niềm bi lụy: "Tôi không được như Mai Thảo: 'Gối tay lên bệnh nằm thanh thản / Thành một đôi ta rất đá vàng' mà đau đớn triền miên đã hủy hoại hết thân thể và tâm trí tôi .."           

 

Linh cảm những điều không may sẽ xảy ra, tôi viết thư cho anh với yêu cầu, trong lúc khỏe, anh nên viết ra những gì về ngày tháng cũ. Anh đã trả lời: "Thư viết đi, chữ nghĩa chảy ra từ tấm lòng, những ẩn ức phiền muộn hoặc niềm lạc quan về một điều gì đây với tôi, trong tôi đã tắt ngấm bấy lâu rồi. Vâng, giờ đây với tôi, điều mong mỏi thì tôi đã bày tỏ và được anh đón nhận. Một mình lang thang trong phòng đã mấy năm nay, tôi cố sống an nhiên tự tại, mong ước về kỷ niệm xưa dẫu vui ít buồn nhiều, nhưng ít ra đó vẫn là cái phải có và phải làm trong lúc này. Tôi sẽ cố gắng theo gợi ý của anh mà viết lại những năm tháng tuổi thơ mà bối cảnh là Trường Nguyễn Hoàng, ở đấy tôi đã gặp nhiều con người có nhiều cá tính. Chắc chắn tôi sẽ nhắc đến anh ở những ngày đầm ấm đó, bản tính trầm tĩnh, ít nói, nhưng lại rất chân tình và chia sẻ của anh đã cho tôi sự cảm mến tuy âm thầm mà lại dai dẳng, nó kéo theo cho đến lúc này và mãi mãi về sau".           

 

Tháng 6/2000 về lại VN, nghỉ ngơi mấy tiếng, tôi đến thăm anh ngay, không ngờ anh thay đổi nhiều đến thế, tiếng nói không còn rõ nữa, hai đứa vừa ôm nhau vừa khóc. Chúng tôi giữ sự im lặng thật lâu ... Tôi mang về nhiều sách báo, trong đó có cuốn Nghìn Thương Đất Mẹ của Vũ Hối: một nhà thơ, một nhà thư họa mà trước đây anh rất cảm mến. Sau này, tình cờ được tiếp chuyện với nhà thơ Vũ Hối trên điện thoại (tại nhà anh Phan Khâm) để cảm ơn anh đã phóng bút bài thơ của anh Khâm trên một bức tranh làm quà đám cưới con gái tôi, tôi kể chuyện này, nhà thư họa ngạc nhiên bảo có lẽ đây là cuốn độc nhất lọt về VN. Anh vẫn ở chỗ cũ, một căn hộ tầng trệt của khu H, cư xá Thanh Đa. Tôi trở lại một lần nữa khi ở quê vào để chuẩn bị qua Mỹ. Lần này, bình tĩnh hơn, chúng tôi nhắc nhiều chuyện, có những chi tiết dễ thương từ thời xa xăm, anh nói là đã viết được một ít về ký ức Nguyễn Hoàng, chừng nào xong sẽ gửi qua. Tôi kể với anh về chuyến đi Atlanta, có ghé thăm Hồ Dân Thính lúc anh ấy bị đột quỵ.            

 

Trở lại Mỹ 2 tuần, tôi nhận được thư anh, tinh thần có phần sáng sủa hơn một chút: "Nếu có dịp trở lại Atlanta thăm Thính, anh cho tôi gởi lời thăm anh ấy, đồng bệnh tương thân mà! Tôi hiểu sâu sắc nỗi đau nhiều mặt của người bệnh. Phần tôi, sau bao năm, hầu như đã ngộ ra cái triết lý To Be or Not To Be đã rèn cho tôi cái ý chí và tôi cũng suy gẫm về một câu nói rất chí lý của một nhà văn Anh: Ta nhìn vào cuộc đời như ta nhìn vào tấm gương. Ta cười với nó thì nó cười với ta, ta nhăn với nó thì nó cũng nhăn với ta tức khắc và tâm nguyên là lẽ đời của mình". Không ngờ đó là bức thư cuối cùng. Một tháng sau, Thái Thạch viết thư báo tin anh đã ra đi vào ngày  2 tháng 9 năm 2000. Dù biết trước sau sự việc ấy cũng sẽ xảy đến, nhưng tôi cảm thấy hụt hẫng, choáng váng, tôi xem lại một đoạn phim ghi hình ảnh hai đứa vào ngày 12-7-2000.            

 

Định mệnh quái ác đã làm anh thất hứa với tôi, những trang ký ức viết dở chẳng bao giờ được nhận. Tôi viết thư chia buồn với gia đình và có nhắc đến điều này, nhưng không có hồi âm! Dù sao thì tôi cũng có một chút mãn nguyện là được gặp lại, chia sẻ với anh một đôi điều trong những ngày cuối đời. Đi bên anh đến nơi an nghỉ có Thái Thạch đại diện cho nhóm bạn thân tình ở xa và đông đảo anh em cựu học sinh Nguyễn Hoàng ở Sài Gòn… Lần này chắc chắn anh đã được như Mai Thảo: Thế giới có triệu điều không hiểu. Càng hiểu không ra lúc cuối đời. Chẳng sao, khi đã nằm trong đất. Đọc ở sao trời sẽ hiểu thôi.            

 

Một người không học cùng lớp, không quen lắm lúc ở Nguyễn Hoàng, nhưng sau này qua cái duyên văn nghệ đã có sự liên lạc rất chân tình. Dân Quảng Trị có rất nhiều người thành danh trong văn học nghệ thuật. Nhưng cựu nữ sinh Nguyễn Hoàng có thơ xuất bản, theo chỗ tôi biết, chỉ có một.         

 

Những ngày bức bách tăm tối sau khi ở tù ra, tôi có cái may là liên lạc được với Lê Ngọc Giao và chị để tâm trí mình mở ra thế giới bên ngoài. Chị sống nhiều với nội tâm, với hoài niệm về ngày tháng cũ. Tôi hiểu và chia sẻ với chị những điều ấy, đôi lúc làm chị ngạc nhiên.         

 

Tập thơ Giăng Sợi Tơ Tình của Nguyễn Thị Kim Cúc được nhà xuất bản Văn Hóa Dân Tộc phát hành năm 1998 tại VN do nhà văn Võ Hồng viết đề tựa, ông nhận xét: "Thơ không uốn mình theo thể, không theo niêm luật vần điệu, cứ ngắt câu ra từng đoạn, từng khổ nhỏ uốn theo tình huống gây sự ngạc nhiên, rồi êm em trôi theo dòng thơ êm ái quen thuộc của tình buồn. Phong thái độc lập, tự lập .. Tập thơ có 23 bài mang chung một chủ đề tình yêu và chỉ nói về tình yêu nơi người đàn bà: đó là những phụ nữ có thật, những nhân vật lịch sử, những nhân vật trong văn chương, những nhân vật huyền thoại." Nhà văn đọc rất kỹ, thấy hết những điều tác giả nói, nhưng không cảm nhận được cái tâm sự lắng đọng đâu đó trong tâm thức: Nay chỉ còn một cái cốc cuối này thôi / Hãy để mình em uống cho tình đẹp. Tuy thế nhà thơ vẫn hoài vọng vớt một mong manh hạnh phúc: Như lá trầu xanh / Hòa cau vôi đỏ thắm / Đã hóa thân còn quấn quít không rời / Đã hóa thân / Vẫn còn làm sứ giả / Giăng sợi tơ tình / Thắm thiết mãi không thôi.   

        

Tôi gởi tập thơ đến các Ban Biên Tập Đặc San Quảng Trị Washington, DC, Atlanta và đã được chọn đăng trong dịp Xuân Tân Tỵ. Nhận được tin này, chị rất đỗi vui mừng: "Chị rất cảm ơn về những hoạt động và nhận xét của T với sợi tơ giăng, phải nói chỉ có T mới làm được những việc ấy cho chị . Lời cảm ơn chắc không đủ nói hết lòng mình, ngoài cuộc sống lắm khi tìm được ở bạn bè những điều mà khó có người thân nào giúp được, bên này chị không chủ trương phổ biến rộng rãi ... Tơ cứ giăng, sương cứ rơi, ngày tháng vẫn qua, vui buồn ta cứ một mình ta ..."         

 

Ở trong Nam, lâu lâu chị lại ra thăm quê: "Chị về Quảng Trị gặp mấy ngày mưa không kịp vuốt mặt, thành ra chỉ kịp vòng một vòng qua trường Nguyễn Hoàng cũ, đường Duy Tân, Lê Văn Duyệt, ra bờ sông vào một chặp hửng nắng cuối ngày. Hôm sau lại tất tả vào lại. Quê nhà - nhớ lắm, thương lắm, muốn về nhưng chỉ kịp ngoái lại rồi đi, cuộc sống chắc luôn là như thế. Nơi này một thuở xưa kia /  Cùng người nắng sớt, mưa chia bao mùa ..           

 

Tôi rời trường cuối năm 66, thỉnh thoảng trong những dịp về phép, đi ngang ghé lại nhìn trường cũ, những đoàn học sinh vui chơi với bao điều xao xuyến.          

 

Sáng 1 tháng 5 năm 1972, trên chiếc M13 rời cổ thành Đinh Công Tráng rẽ phải vào Lê Văn Duyệt, Duy Tân, rẽ trái về Trí Bưu, Quy Thiện ... Trong lúc đổi thế ngồi, trường Nguyễn Hoàng hiện ra trước mặt rất rõ. Không ngờ đó là hình ảnh cuối cùng ...           

 

Cuộc đời như dòng sông tùy theo địa thế chung quanh mà nắn dòng để cuối cùng ra biển, rác rưởi sẽ được bỏ lại, có mang theo chăng chỉ là những hạt cát óng ánh bám sát tâm mình. Tôi đã đọc đâu đó một câu thật hay: "Bạn cũ là thứ đồ cổ quý giá nhất."  Các bạn có thể đang lưu lạc đâu đó hoặc biến mất khỏi cuộc đời này, nhưng trong tôi vẫn còn nguyên vẹn như mới hôm nào. Tuy trong "giờ ra chơi lịch sử này" không có các anh tham dự, tôi vẫn thấy thật gần - sự có mặt của các anh - và thấm thía với mấy dòng thơ của một Thiền sư: Ta vẫn còn đến đi thong dong / Có không còn mất chẳng băn khoăn / Bước chân "anh" hãy về thanh thản / Không tròn, không khuyết một vầng trăng.  


Lê Trạch

http://trachcamlo.blogspot.com/


READ MORE - MẤY NGƯỜI BẠN CŨ - Tùy bút: Lê Văn Trạch