Văn Nghệ Quảng Trị
TRANG THUẦN TÚY VĂN HỌC NGHỆ THUẬT CỦA NGƯỜI QUẢNG TRỊ VÀ NGƯỜI YÊU MẾN QUẢNG TRỊ.
Chúc Mừng Năm Mới
Sunday, September 6, 2026
CHÙM THƠ LƯU LÃNG KHÁCH: Cổ Lũy anh về / Chẳng thốt nên lời / Chịu thua
CỔ LŨY ANH VỀ
Cổ Lũy chiều mưa rợp
bóng dừa
Anh về thương tiếng gọi
đò đưa
Chùa Hang đỉnh núi ai
lên đấy
Đò Cửa rìa sông bạn đến
chưa
Phú Thọ xa trông thuyền
cá chạy
Làng xuân lặng ngắm
chiếu ai vừa
Bàn Cờ phế tích phai
ngày ấy
Bảng lảng ma hời khóc
lũy xưa.
Đầu Xuân 1985
CHẲNG THỐT NÊN LỜI
Một sáng xuân về rộn bướm hoa
Dăm tà áo mộng lướt ngang qua
Kìa em! Xin chúc mừng năm mới
Bẽn lẽn em cười dáng thướt tha
Én liệng trời xanh nắng long lanh
Làm quen theo bé bước song hành
Thơ ngây bé ửng hồng đôi má
Chẳng dám nhìn sâu trong mắt anh
Lời tỏ tình sao chẳng ngọt ngào
Vụng về nói hỏi chuyện đâu đâu
Để đêm say đắm chìm trong mộng
Giận mình sao chẳng dám đôi câu
Sáng ra chuẩn bị đâu vào đó
Lớ ngớ làm sao hỏng nữa rồi
Đêm về thư viết đầy trang vở
Lòng nào thôi thúc mãi không thôi
Chiều xuân đợi bé nơi đầu ngõ
Tim rộn ràng quên cả mỹ từ
Bâng quơ ngắm bé, nhìn hoa cỏ
Lời này không thốt nổi, em ơi!
Chẳng biết thư mình bé đọc không!
Đêm xuân như đốt lửa trong lòng
Chiều quê thơ thẩn nhìn vô vọng
Thấy bé tìm quanh má ửng hồng…
Xuân 1985
Duy Toàn Chợ Chùa
CHỊU THUA
Tôi có người em thật đáng yêu
Khiến tôi trăn trở biết bao chiều
Vườn thơ em mãi về ngự trị
Hiên nhạc hằng đêm vọng tiếng yêu
Yêu để làm thơ để mộng mơ
Cớ sao râu tóc lại bơ phờ
Hay yêu chẳng chịu trong biên giới
Chỉ muốn tình kia chẳng bến bờ
Ngày một ngày hai tôi cố quên
Nào hay tình lại lớn thêm lên
Mắt môi kia mãi về trong mộng
Đêm lộn ngày quên vẫn gọi tên
Đành chịu thua ngồi ngắm lặng thinh
Trông như bại tướng giữa tàn binh
Trời sanh em để cho người khổ
Cho khiếp thi nhân mãi vướng tình.
19/04/1985
Duy Toàn Chợ Chùa
From: Nguyễn Duy Toàn <luulangkhach@gmail.com>
THE OLD WELL STILL WAITS / GIẾNG XƯA VẪN ĐỢI - Thơ: Musharraf Hussain & Thi Lan Anh Tran
THE OLD WELL STILL WAITS
Co-Authors: Thi Lan Anh Tran, Aschaffenburg, Germany
& Musharraf Hussain, Assam, India
Copyright © 2026. All Rights Reserved.
The ancient well beneath the moon,
Still keeps the scent of flowers in spring.
Through countless years that faded soon,
It guards the love that memories bring.
Once we walked along the village lane,
Two hearts beneath the morning light.
By the old well, free from worldly pain,
We shared our dreams in whispers bright.
The crystal water mirrored our eyes,
The gentle words the breezes knew.
Like drifting clouds across the skies,
Our youthful love remained so true.
The seasons passed like flowing streams,
Carrying time beyond our shore.
Yet in the well, our forgotten dreams
Still softly live forevermore.
You wandered through the distant lands,
Through storms and skies unknown to me.
But love still rests within my hands,
A faithful song of memory.
At twilight, by the old well stone,
I stand beneath the fading sun.
The silent wind becomes my own,
Recalling days when we were one.
I gaze into the water deep,
And hear the voices from the past.
The promises our hearts still keep,
The tender moments meant to last.
One silver moon, one ancient tree,
One village path where dreams once grew.
They still remain and speak to me,
Of a love gentle, pure, and true.
Waiting is not a cry of sorrow,
Nor a burden carried alone.
It is the faith that hopes tomorrow,
With roots as deep as ancient stone.
If someday you return again,
And walk the road we knew before,
The old well will remember then
The love we cherished evermore.
Though years may bring the wind and rain,
Though life may change the world we knew,
The vow we made shall still remain,
Like morning skies forever blue.
The village rooster calls the dawn,
The evening winds begin to sing.
The old well keeps the words withdrawn,
Yet holds the truth of everything.
The water speaks no word or sound,
Yet shows the hearts that love can heal.
Within its depths, forever found,
Lives every love that time can't steal.
GIẾNG XƯA VẪN ĐỢI
Tác giả: Thi Lan Anh Tran, Aschaffenburg, Germany
& Musharraf Hussain, Assam, India
Copyright © 2026. All Rights Reserved.
Giếng xưa còn giữ trăng ngà,
Bao mùa hoa nở bên nhà đầu thôn.
Thời gian phủ kín lối mòn,
Mà tình năm cũ vẫn còn trong tim.
Ngày xưa chung bóng đi tìm,
Hẹn nhau bên giếng lặng im cuối làng.
Nước trong soi bóng dịu dàng,
Lời thương gửi gió theo hàng cây xanh.
Tiếng cười còn vọng quanh mình,
Tuổi xuân ở lại với tình ngày xưa.
Gió đưa hương bưởi chiều mưa,
Ru bao kỷ niệm sớm trưa một thời.
Tháng năm như nước xa vời,
Cuốn đi mái tóc, nụ cười ngày nao.
Giếng quê vẫn đứng bên ao,
Giữ bao thương nhớ ngọt ngào thủy chung.
Người đi qua những điệp trùng,
Mang theo nỗi nhớ lạnh lùng trời xa.
Chiều nay bên giếng quê nhà,
Một mình ta ngắm bóng tà hoàng hôn.
Nhìn sâu đáy nước trong nguồn,
Ngỡ nghe tiếng gọi yêu thương thuở nào.
Một vầng trăng, một hàng cau,
Một con đường nhỏ nhuốm màu nhớ thương.
Bao năm vẫn một tình vương,
Chẳng phai theo những vô thường thế gian.
Đợi chờ chẳng phải than van,
Mà là gìn giữ bình an trong lòng.
Nếu mai người trở về mong,
Xin qua giếng cũ giữa dòng quê xưa.
Dẫu cho nắng trải gió mưa,
Lời thề năm ấy vẫn chưa phai nhòa.
Nghe trong tiếng gió hiền hòa,
Có câu chuyện cũ ngân nga bên đời.
Giếng xưa chẳng nói một lời,
Mà soi trọn cả một trời yêu thương.
&&&
From:
E-Mail: Wirtschaftskanzlei@Dipl-Kauffrau-Tran.de
Dipl.- Kauffrau Thi Lan Anh Tran
LỜI CẢI CHÍNH TƯ LIỆU TRONG TRUYỆN NGẮN: "DÒNG XƯA BẾN CŨ” CỦA NGUYỄN BÁ TRÌNH - Nguyễn Bá Trình
![]() |
| Tác giả Nguyễn Bá Trình |
LỜI CẢI CHÍNH TƯ LIỆU TRONG TRUYỆN NGẮN:
"DÒNG XƯA BẾN CŨ”
CỦA NGUYỄN BÁ TRÌNH
Nguyễn
Bá Trình
Kính
gửi quý độc giả,
Cách
đây nhiều năm, tôi có xuất bản truyện ngắn Dòng xưa bến cũ (Nhà xuất bản Hội
Nhà văn, năm 2018). Trong tác phẩm, ở đoạn viết về dòng sông Ô Lâu, người kể
chuyện có đưa ra nhận định rằng dòng sông này khuất lấp và ít được nhắc tới vì
những con người sống ven sông chưa làm nên danh tiếng để người đời nhớ đến. Sai
lầm nầy xuất phát từ sự thiếu hiểu biết địa lý dòng sông Ô Lâu.
Gia
đình tôi ở xóm nhỏ bên bờ Ô Lâu. Trong sự hiểu biết của một đứa bé, tôi cho rằng
Sông Ô Lâu bắt nguồn từ Thác Ma và kết thúc ở ngã ba Câu Nhi. Tôi mang sự hiểu
biết lệch lạc đó trong đầu óc của đứa bé rời xa quê hương từ rất sớm. Ô Lâu với
tôi chỉ một khúc sông ngắn ngủi nhưng đẹp vô cùng. Lớn lên, tôi bắt đầu viết
lách. Tôi đưa hình ảnh khúc sông đầy thơ mộng đó vào truyện ngắn DÒNG XƯA BẾN CŨ
và xem đó là dòng sông Ô Lâu. Từ đó lại đặt câu hỏi rằng tại sao một dòng sông thơ
mộng như thế mà không nổi tiếng như các dòng sông khác trên đất nước Việt Nam…
Phải chăng do những con người ở hai bên bờ sông đã không làm được những kỳ tích
để quê hương được nhắc đến.
Nay
qua quá trình tìm hiểu về địa chí, lịch sử, tôi tự nhận thấy đây là một thiếu
sót rất lớn về tư liệu của bản thân. Dòng sông Ô Lâu hiền hòa thực chất là cả
phần sông còn lại chảy qua thôn Câu Nhi rồi đổ ra biển lớn. Mà Câu Nhi là vùng đất địa linh nhân kiệt, quê hương của
gia đình cụ Bùi Dục Tài – vị Tiến sĩ đầu tiên của xứ Đàng Trong dưới triều Lê
sơ. [1,
2] Hơn
nữa, trong thi ca cũng nói nhiều về con sông nầy mà tôi chưa có dịp đọc.
Một
tác phẩm văn học dù mang tính hư cấu nhưng khi chạm vào các địa danh thực tế
thì không thể tách rời lịch sử oai hùng của vùng đất đó. Vì vậy, tôi viết lời cải
chính này trước hết để tạ lỗi với vong linh cụ Bùi Dục Tài cùng bà con vùng đất
Hải Lăng, Quảng Trị, sau là để quý độc giả khi đọc tác phẩm này hiểu đúng về
giá trị văn hóa - lịch sử quý báu của dòng sông Ô Lâu. [1,
2]
Nếu
có cơ hội tái bản, tôi sẽ bổ sung, chỉnh sửa trực tiếp vào sách.
Trân trọng cảm ơn quý độc giả.
NGUYỄN BÁ TRÌNH
LÁ THƯ 30 NĂM MỚI GỞI - Nguyễn Bá Trình
![]() |
| Tác giả Nguyễn Bá Trình |
Lá thư 30 năm mới gởi
NGUYỄN BÁ TRÌNH
Gần hết đời người
Tôi mới gởi lá thư
Cho một người
Có phải là thư không
Tôi chẳng biết
Tôi cẩn thận gấp vuông tờ giấy
Một tờ giấy trắng tinh
Không có nếp nhăn và không một vết bẩn
Và tôi không viết một chữ nào lên tờ giấy
Tôi xếp lại bỏ vào phong bì ngay ngắn
Trước khi dán
Tôi viết lên phong bì tên người gởi:
Họ và tên của tôi
Địa chỉ:Vẫn địa chỉ cũ tôi từng sống cách đây mấy mươi năm
Tên người nhận
Họ và tên người ấy
Địa chỉ nầy tôi nhớ mãi đến hôm nay .
Trước khi gởi lá thư
tôi ngồi tưởng tượng
Có thể người ấy sẽ xé vụn lá thư rồi bỏ vào sọt rác
Khi thấy người gởi là tôi
chẳng cần mở
ra xem trong thư tôi nói gì.
Đó là điều tôi mong muốn.
Cũng có thể người ấy mở ra xem và thấy tờ giấy trắng
Thư cũng bị xé vụn và ném vào sọt rác
Kèm theo lời ta thán:
Vẫn không thay đổi chút nào
Đó cũng là điều tôi mong muốn
Cũng có thể người ấy
Mở lá thư định đọc
Rồi ngẩn người nhìn tờ giấy trắng
Như muốn tìm hiểu xem lá thư muốn nói lên điều gì
trong trạng thái
vô ngôn
Ngồi như thế thật lâu
Rồi lẵng lặng đứng lên
Tìm bao diêm bật đốt
Và tôi tưởng tương người ấy sẽ nói
Đây chỉ là điều tôi tưởng tượng
người vẫn chưa quên mình
Đó là điều tôi hằng mong muốn
Thư gởi rồi tôi không đợi hồi âm
Thế nhưng chưa đầy một tuần
Lá thư đã trở lại
như một cánh chim bị thương
quay về nơi chốn cũ
với dòng chữ đỏ chói
như những vết cắt rướm máu
Thư được trả lại vì không có người nhận
Một ngọn gió từ đâu thổi đến
Lá thư bứt khỏi tay như bị ai giật
xoay trong gió xa dần rồi mất hút
Chắc chắn lá thư sẽ không bao giờ có cơ hội trở lại!
Đó là điều tôi không mong muốn
xẩy ra bao giờ
Sài Gòn, viết vào sinh nhật thứ 80-3/9/2026
&&&
Lời bình của AI
Đánh giá về lá thư không viết chữ
nào nói lên câu chuyện ngang trái
Ý tưởng "Lá thư trắng – Vô ngôn" là một sáng tạo nghệ thuật xuất sắc của Nguyễn Bá Trình. Một tờ giấy trắng tinh, không nếp nhăn, không một chữ nhưng lại chở nặng khối tình suốt 30 năm.
Nói lên sự bất lực của ngôn từ: Sau
30 năm xa cách, mọi lời thanh minh, xin lỗi hay bày tỏ đều trở nên thừa thãi và
nông cạn. Tờ giấy trắng là đại diện cho sự vẹn nguyên, tinh khôi của tình cảm
thuở ban đầu, không bị vấy bẩn bởi thời gian.
Bi kịch ngang trái: Thư không có chữ
để người nhận tự điền vào đó tâm tư của chính họ. Thế nhưng, bi kịch ngang trái
ở chỗ: Tác giả chấp nhận "vô ngôn" để đổi lấy một sự thấu hiểu ngầm,
nhưng cuộc đời lại trả lời ông bằng một sự "vô ngôn" đáng sợ hơn – sự
im lặng của nấm mồ hoặc sự mất tích của nhân ảnh. Sự trống rỗng của tờ giấy gặp
phải sự trống rỗng của một địa chỉ không người nhận, đẩy bi kịch lên đỉnh điểm.
Vì sao sau 30 năm chôn vùi, đến tuổi
80 tác giả lại muốn khơi lại? Ý nghĩa là gì?
Tâm thế của tuổi 80 – Buông bỏ và Tổng kết: Bài thơ được viết đúng ngày sinh nhật thứ 80, cái tuổi "gần hết đời người". Khi đứng ở dốc bên kia cuộc đời, con người ta không còn thiết tha tranh giành hay oán hận, họ chỉ muốn đối diện với những gì thật nhất trong lòng mình. Việc gửi thư là một hành động nhằm khép lại quá khứ (closure).
Nhu cầu được "giải thoát" tâm linh: Suốt 30 năm qua, tác giả sống với ký ức chôn vùi. Gửi lá thư này đi giống như một lời tổng kết cuối cùng, một nỗ lực cuối cùng để chạm vào thanh xuân trước khi nhắm mắt xuôi tay.
Ý nghĩa triết lý: Hành động khơi lại
không phải để nối lại tình xưa, mà để xác tín xem tình yêu đó đã thực sự chết
đi chưa. Nhưng cái kết của bài thơ – lá thư bị gió cuốn đi mất hút – mang ý
nghĩa triết lý sâu sắc: Có những điều một khi đã bỏ lỡ trong đời, thì dẫu có đợi
đến 30 năm hay 80 tuổi, con người cũng không bao giờ có cơ hội sửa sai hay tìm
lại được nữa. Quá khứ đã khép cửa, và con người buộc phải chấp nhận sự mất mát
tuyệt đối.
&&&
Nghệ thuật tương phản
Trong bài thơ "Lá thư 30 năm mới
gởi" của Nguyễn Bá Trình, nghệ thuật tương phản (đối lập) chính là chiếc bản
lề nghệ thuật nâng đỡ toàn bộ mạch cảm xúc và tư tưởng của tác phẩm. Bi kịch của
một tình yêu ngang trái, sự nghiệt ngã của thời gian và số phận được đẩy lên
cao trào nhờ vào các cặp tương phản sắc nét từ hình thức đến nội dung.
Dưới đây là phân tích chi tiết về
nghệ thuật tương phản trong bài thơ:
1.Tương phản giữa Hình thức (Tờ giấy
trắng) và Nội dung (Khối tình 30 năm)
Biểu hiện: Tác giả gửi đi một tờ giấy
"trắng tinh / Không có nếp nhăn và không một vết bẩn" và "không
viết một chữ nào". Thế nhưng, lá thư ấy lại chuyên chở một câu chuyện dài
suốt "mấy mươi năm" (30 năm nén nhịn, chờ đợi).
Ý nghĩa: Sự đối lập giữa cái "Không"
(vô ngôn) trên mặt giấy và cái "Có" (vô vàn) trong tâm tưởng. Tờ giấy
trắng đại diện cho sự tinh khôi, vẹn nguyên của mối tình đầu không bị vấy bẩn bởi
thời gian. Sự trống rỗng về mặt chữ viết lại tỉ lệ thuận với độ nén, độ nặng của
tâm tư. Tác giả chọn cái "vô ngôn" vì hiểu rằng mọi ngôn từ lúc này đều
trở nên bất lực và chật hẹp để diễn tả một đời người.
2. Tương phản giữa Không gian (Địa
chỉ cũ) và Thời gian (30 năm dịch chuyển)
Biểu hiện: Tác giả ghi địa chỉ người
gửi là "Vẫn địa chỉ cũ tôi từng sống cách đây mấy mươi năm", trong
khi thời gian bối cảnh đã là "Gần hết đời người", viết vào "sinh
nhật thứ 80".
Ý nghĩa: Trục thời gian đã dịch
chuyển đi gần nửa thế kỷ, vạn vật đổi thay, con người đã già nua, nhưng trục
không gian trong tâm tưởng của tác giả vẫn đóng băng ở quá khứ. Sự tương phản
này làm nổi bật sự chung thủy tuyệt đối đến đáng thương. Thân xác tác giả ở hiện
tại (tuổi 80), nhưng tâm hồn ông vẫn trú ngụ ở ngôi nhà cũ, địa chỉ cũ của bấy
nhiêu năm về trước, nơi tình yêu của họ còn sống bừng sáng.
3. Tương phản giữa Nghịch lý cảm
xúc: "Mong đợi bị từ chối" và "Không mong được trả về"
Đây là đỉnh cao nghệ thuật của bài
thơ, tạo nên cấu trúc đảo ngược tâm lý hoàn toàn bóp nghẹt trái tim người đọc:
Ba kịch bản đầu (Mong bị xé, bị đốt):
Thư bị xé nát, bị vứt sọt rác, bị mắng chửi ("vẫn không thay đổi")
hay bị đốt cháy... đều là những hành động phũ phàng, tổn thương. Nhưng tác giả
lại thốt lên: "Đó là điều tôi mong muốn", "Đó là điều tôi hằng
mong muốn". Vì sao? Vì đó là sự phũ phàng có tương tác. Người nhận còn sống,
còn giận, còn nhớ, còn thấu hiểu. Sự hủy diệt lá thư bằng tay người thương
chính là một sự xác nhận cho sự tồn tại của tình yêu.
Kịch bản cuối (Thư còn nguyên vẹn
quay về): Thư không bị xé, còn nguyên vẹn trong phong bì sạch sẽ, nhưng tác giả
lại đau đớn: "Đó là điều tôi không mong muốn / xẩy ra bao giờ". Lá
thư nguyên vẹn đồng nghĩa với việc nó chưa từng được chạm vào bởi người bưu tá
cũ hay người thương. Nó quay về mang theo cái chết bóc trần của thực tại:
"Không có người nhận".
Ý nghĩa: Sự tương phản này cho thấy
tác giả thà nhận về sự oán hận, ghét bỏ từ người yêu (để biết họ còn sống và
còn nhớ) còn hơn phải nhận về sự bình yên vô cảm của nấm mồ hay sự mất tích của
nhân ảnh từ định mệnh.
4. Tương phản về sắc màu thẩm mỹ:
"Trắng tinh khôi" và "Đỏ rướm máu"
Biểu hiện: Màu sắc của lá thư đi là
màu trắng ("tờ giấy trắng tinh") – biểu tượng của sự thanh khiết, lặng
lẽ, một tình yêu không đòi hỏi, không oán ca. Màu sắc của lá thư về là màu đỏ
("một dòng mực đỏ như những vết cắt rướm máu") của con dấu bưu điện
thông báo lạnh lùng.
Ý nghĩa: Sự đối lập màu sắc này
mang tính biểu tượng rất cao. Màu trắng yên bình, vô ngôn của tác giả khi va đập
vào thực tế phũ phàng của cuộc đời đã biến thành dòng mực đỏ rướm máu. Màu đỏ ấy
bóc trần vết thương lòng bấy lâu nay bỗng chốc bị khơi bới và bị cứa sâu thêm bởi
nhát dao của bưu điện – nhát dao của sự thật rằng người xưa đã không còn ở đó nữa.
5. Tương phản giữa Hành vi bám níu
và Kết cục mất hút
Biểu hiện: Đoạn đầu, tác giả vô
cùng tỉ mỉ, trân trọng, nâng niu lá thư ("cẩn thận gấp vuông",
"ngay ngắn", "nhớ mãi đến hôm nay"). Đoạn cuối, lá thư bị bứt
khỏi tay bởi một ngọn gió vô tri: "bứt khỏi tay như bị ai giật / xoay
trong gió xa dần rồi mất hút".
Ý nghĩa: Sự tương phản giữa sự cố gắng
níu giữ, chuẩn bị trân trọng suốt 30 năm của con người và sự tước đoạt dễ dàng,
nhanh chóng trong một tích tắc của thiên nhiên (ngọn gió). Nó gợi lên sự bất lực
của nhân loại trước định mệnh và thời gian. Con người có thể giữ một khối tình
30 năm trong lòng, nhưng không thể giữ nổi một mảnh giấy trước cơn gió của số
phận.
Tóm lại: Nghệ thuật tương phản
trong bài thơ không đơn thuần là kỹ thuật bẻ đôi câu chữ, mà là cách Nguyễn Bá
Trình phơi bày quy luật nghiệt ngã của cuộc đời. Chính sự tương phản này đã
giúp bài thơ dù không dùng từ ngữ đao to búa lớn, vẫn tạo ra một dư chấn cảm
xúc mãnh liệt, khiến người đọc phải xót xa cho một kiếp người, một kiếp tình ở
tuổi 80.
&&&
Tiểu sử NGUYỄN BÁ TRÌNH
Trích từ:
Sinh ngày 3 tháng 9 năm 1946
Tại Lương Điền, Hải Sơn, Hải Lăng, Quảng Trị
Tốt nghiệp Đại học SP, ban Toán, Trường Đại học Sư phạm
Huế
Giáo viên trung học phổ thông, đã nghỉ hưu.
Hiện ở tại Tp .HCM
CÁC TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN
Tác phẩm xuất bản năm 2008
MỘT NGÀY CHO TRĂM NĂM
Tiểu thuyết.
Tái bản năm 2009.
Xếp loại: Sách được bạn đọc yêu thích bình chọn
Tác phẩm xuất bản năm 2018
SÓNG KHÔNG NGỪNG VỖ
Tập truyện ngắn
CHỢ HOA TỐI BA MƯƠI TẾT
Tập truyện ngắn
NGƯỜI ĐÀN ÔNG ĐƯỢC CÔ GÁI CHỌN ĐÊM ĐẦU
Tập truyện ngắn và một truyện vừa
VƯỜN HOA KHÔNG BƯỚM LƯỢN
Tập truyện ngắn
RÉT HÀ NỘI
Tập truyện ngắn
CHIM SƠN CA VÀ CHÚ SÂU NHỎ
Tập truyện ngụ ngôn
MỘT CHUYẾN CHÂU ÂU
Du ký
Tác phẩm sắp xuất bản:
NGƯỜI MẸ VÀ ĐỨA CON GÁI CỦA BA NGƯỜI ĐÀN ÔNG
Tiểu thuyết
MƯA BÓNG MÂY
Thơ
Saturday, September 5, 2026
CHÀO MỪNG KỈ NIỆM 100 NĂM CAFÉ KHE SANH - Chùm thơ: Kim Cương
![]() |
| Ảnh từ: https://sovaba.travel/blog |
Kim Cương
TRĂM NĂM ĐƯỢM VỊ CÀ PHÊ
Trăm năm hạt ngủ trong lòng đất
Thức giấc cùng mây trắng Trường Sơn
Đất đỏ quặn mình qua mưa lửa
Chắt thơm từng giọt nắng cao nguyên.
Hương cà phê nghiêng qua khe núi
Quyện tiếng Đakrông gọi đại ngàn
Tà Puồng thả mái tóc dòng nước
Mây Chênh Vênh đậu cánh chim ngang.
Có vị thời gian trong đất lửa
Thấm vào bazan đỏ nghìn đời
Chiến hào cũ hóa màu xanh biếc
Cho đất hồi sinh những mùa tươi.
Người Vân Kiều mang họ Hồ ấy
Bền như vách đá giữa phong sương
Bàn tay nhóm lửa nuôi cây trái
Giữ nghĩa tình sâu như suối nguồn.
Họ gùi bình minh qua lưng dốc
Gùi cả trăng ngàn xuống bản xa
Tiếng khèn đêm chao trong men khói
Ủ ấm sườn non lạnh sương nhòa.
Trăm năm cà phê xanh Khe Sanh
Rễ bám vào ký ức Trường Sơn
Mỗi hạt nâu mang hồn đất đỏ
Đắng mà thơm như nghĩa quê hương.
ĐƯA CON VỀ KHE SANH
Cha đưa con lại Khe Sanh đỏ
Mây Tà Cơn vẫn đậu lưng trời.
Ngày ấy con cất tiếng chào đời
Huyền thoại Khe Sanh vang khắp
trời.
Xe tăng nằm giữa miền cỏ biếc
Nòng súng thôi nhả lửa cuồng
điên.
Rêu thời gian phủ màu trầm mặc
Đất vẫn âm thầm giữ khí
thiêng.
Cha lặng đứng giữa ngàn gió
núi
Ngỡ người còn khuất phía đồi
sim.
Bao gương mặt chưa từng quen
biết
Hóa mây ngàn, hóa đất lặng
im.
Con nhìn xe vượt miền Lao Bảo
Chở bốn phương về với đại
ngàn.
Cà phê phủ xanh triền đất đỏ
Hương đời lấn dần vết chiến
chinh.
Cha chẳng kể thêm điều năm
cũ
Chỉ cầm tay bước giữa thanh
bình.
Để con hiểu từng đồi, ngọn cỏ
Được giữ bằng máu của chiến
binh.
Mai này dẫu khắp nẻo đường
xa
Xin nhớ màu đất đỏ Khe Sanh.
Huyền thoại đâu nằm trong
quá khứ
Đã thành nhựa sống thắm trên
cành
KHE SANH TOẢ SÁNG
Khe Sanh thức giữa ngàn sương bạc,
Đường Chín âm vang dấu quân hành.
Hàng rào điện tử từng ngạo nghễ
Cũng hóa tro tàn giữa bão binh.
Tà Cơn gió lộng qua hầm thép,
Cỏ úa ru tàn xác phi cơ.
Làng Vây, Lao Bảo còn in bóng
Một thuở cha anh giữ cõi bờ.
Đất đỏ bazan thơm mùa trái,
Cà phê trăm tuổi bén rễ sâu.
Hạt ngọc Arabica cháy nắng
Mang hồn đại ngàn đi địa cầu.
Tà Puồng buông mái tóc xanh biếc,
Chênh Vênh mây ngủ giữa lưng đồi.
Đakrông ngân dài câu huyền thoại,
Ru người Pa Kô giữa đại ngàn.
Giờ đây gió dựng ngàn cánh bạc,
Điện gió vươn cao chạm mây ngàn.
Khe Sanh từ chiến trường lửa đạn
Đã hóa miền quê của vinh quang.
Nguyễn Kim Cương
Tổ
dân phố Tây Lộc Đại – Phường Đồng Thuận – Quảng Trị
kimcuongqb@gmail.com




