Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Saturday, May 9, 2026

Truyện ngắn: TẤM LÒNG TRUNG TRINH - HoàngThị Bích hà


 Hoàng Thị Bích Hà

Truyện ngắn

TẤM LÒNG TRUNG TRINH

  

Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt, chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học, chị là hàng xóm của tôi.

Chị lập gia đình với anh - một sĩ quan cấp tá của quân đội VNCH. Anh làm trưởng bộ phận gì mà phụ trách sắc tộc, cơ quan đóng bên bờ nam thành phố Huế.

Tôi chưa gặp anh bao giờ, nhưng qua hình ảnh chị Hương, tôi vẫn hình dung ra người chị chọn làm chồng chắc phải đẹp trai, lịch lãm, học thức lắm mới xứng đôi với chị.

Thế rồi biến cố 75, anh là sĩ quan, dĩ nhiên anh phải đi tập trung cải tạo. Chị Hương chưa kịp sinh đứa con nào cho anh. Chị khóc nức nở khi tiễn anh đi tập trung lao cải. Ở lại thành phố không có chồng bên cạnh mà với nhan sắc mặn mà, đẹp như diễn viên (Nhìn chị Hương tôi thường liên tưởng đến các cô diễn viên người mẫu) như thế tránh sao khỏi cạm bẫy bướm ong, sự ve vãn của các gã trai xung quanh. Chị quyết định rời thành phố lên một huyện miền núi của Thừa Thiên Huế. Ở đó có nhà ba mẹ anh. Rồi chị làm một căn nhà nhỏ ở cạnh bên. Chị ra chợ huyện tạo một quầy hàng nhỏ bán áo quần và những vật dụng gia đình kiếm kế mưu sinh. Chị Hương vừa lo kinh tế vừa chăm sóc cha mẹ chồng già yếu. Bà con quanh vùng ai cũng khen! Chị tự nguyện làm bổn phận dâu con, thay mặt anh để lo tròn hiếu đạo. Khi có dịp chị lại thăm nuôi, bới xách cho anh. Chuyện thăm nuôi cũng “trần ai khoai củ lắm” vì anh không được ở cố định mà khi chuyển trại này, lúc trại khác xa ngút ngàn. Mỗi lần đi phải xin giấy phép của địa phương, rồi mua vé tàu xe cũng là một vấn đề. Rất khó nhưng chị đều vượt qua, lòng thầm cầu mong ơn trên cho anh sức khỏe, chị “chân cứng đá mềm”. Chị hiền lành, với phong thái của người có học thức, ăn nói nhã nhặn, giao tế dịu dàng, và rất chỉnh chu nên được mọi người xung quanh quý mến. Lên chợ huyện hỏi thăm về chị Hương, không ai là không biết. Chị nổi bật lên ở khu chợ huyện như một bông hoa trang điểm cho núi rừng . Cũng có một đôi lần công an gởi giấy mời lên làm việc. Người ta nghĩ rằng chị là vợ sĩ quan, rời thành phố lên miền núi sát biên giới sống có mục đích gì chăng? Lần nào chị cũng trả lời rành mạch, đầy đủ là chồng đi vắng về quê chồng sinh sống để chăm sóc bố mẹ chồng đợi ngày chồng trở về. Vì vậy sau vài lần “thăm hỏi” như vậy, chị vẫn ngày ngày ra chợ mưu sinh, duy trì cuộc sống, thăm nuôi bới xách cho chồng và khắc khoải chờ chồng trong nỗi thương nhớ không nguôi.

Chục năm sau, cha mẹ chồng chị cũng đã dìu nhau về cõi Phật. Chị Hương vẫn gắn bó với vùng đất này trong một căn nhà nhỏ ở quê anh, đối diện với một trường học. Có vài người bạn của tôi khi ra trường được điều lên dạy ở đây. Nhờ vậy, tôi vẫn biết được thông tin về chị trong quãng thời gian sau này.

Năm tháng trôi đi, những vết thương chiến tranh đã khép lại, thay da đổi thịt, những đồi thịt băm, cây cối phủ màu xanh nhưng không thấy anh trở về. (có lẽ anh đã mất trong trại cải tạo.) Nếu anh về thì anh chị lại có nhau để cùng xây dựng cuộc sống, hoặc nếu đủ tiêu chuẩn HO thì anh chị sẽ đi định cư ở nước ngoài theo chương trình, chứ sao chị chỉ có một mình. Khi tôi viết truyện ngắn về chị thì tôi đang ở cách xa chị cả ngàn cây số. Tôi hỏi thăm những người bạn dạy ở huyện này thì họ kể chị vẫn vậy, vẫn sống một mình ngày ngày kinh doanh ở chợ huyện.

Bây giờ đã xấp xỉ thất thập rồi, chị vẫn đẹp, vẫn đài các và duyên dáng như thế!

Nhớ lại ngày ấy, chị cũng như bao hoàn cảnh, những thiếu phụ vợ sĩ quan, chồng đi cải tạo, họ ở nhà vừa làm lụng nuôi con, thăm nuôi chồng, chờ chồng về đoàn tụ. Rồi cũng được Trời ngó lại họ đón chồng trở về làm ăn sinh sống. Dẫu nghèo nhưng hạnh phúc, cũng nuôi được con cái ăn học nên người tại quê nhà. Có người về đôi ba năm gì đó rồi đi HO. Vẫn biết rằng mỗi người một hoàn cảnh, người ở nhà cũng lắm nhiêu khê, trầy trật kiếm sống trong giai đoạn rất khó khăn. Nhưng thật đáng buồn vì có những người vợ ở nhà thay lòng đổi dạ, đi bước nữa, có khi là cán bộ địa phương để ấm thân. Có khi là đồng nghiệp trẻ, họ nhẫn tâm đưa đơn vào trại. Thấy vợ lên thăm, người chồng mừng lắm! Hóa ra không phải. Vợ tới trại bắt chồng ký vào đơn ly dị để về tự do sống với người khác. Mỗi người một số phận. Dẫu rằng trải qua những thăng trầm dâu bể, nhưng xét ra, có đau đớn nào hơn thế! Có gì tàn nhẫn hơn thế! Người chồng đang cải tạo đã buồn vì xa nhà, thiếu thốn mọi thứ, lao động vất vả, lại bị bồi thêm nỗi đau tận xương tủy là vợ bội tình nữa thì còn gì để sống. Nên vì thế, có người không chịu nổi cú sốc này đã ngã bệnh và qua đời. Gần nhà tôi có trường hợp cô giáo nọ, vợ sĩ quan, đã có với nhau đứa con trai. Chồng đi cải tạo, cô được lưu dung giảng dạy nhưng cô ưa người khác. Đó là một thầy giáo trẻ còn son. May mà chồng cũ của chị có bản lĩnh nên anh đã vượt qua cú sốc này và yên tâm cải tạo, đợi ngày về đón đứa con riêng, rồi hai cha con sống với nhau. Khi anh được gọi đi diện HO, anh và con trai lên đường định cư ở Mỹ. Trước những trường hợp phụ tình nhan nhãn như vậy, so với chị Hương, tôi cảm phục chị vô cùng. Chị chưa có con, lại quá đẹp, một vẻ đẹp thánh thiện, khả ái mà phụ nữ trong vùng ít ai sánh nổi. Không những đẹp, chị vừa nhân hậu, giỏi giang vậy, thiếu gì người đeo đuổi tán tỉnh. Nhưng không! Chị vẫn một lòng chung thủy, dẫu chồng đi mãi không về. Chị Hương quả là một tấm gương trung trinh xứng danh tiết phụ. Có thể chị có một tình yêu duy nhất với anh, ngoài anh ra chị không có một rung cảm nào khác. Hay nói cách khác là không ai vượt qua cái bóng của anh trong lòng chị. Đến nay chị đã ở tuổi thất thập. Bước vào thu, chị vẫn là một phụ nữ đẹp, vẻ đẹp thanh tao, trang nhã. Dẫu vẻ đẹp đã nhuốm màu thời gian, nhưng vẫn còn lưu lại dấu ấn của một thời xuân sắc. Và chị vẫn sống một mình bình yên nơi ngôi chợ huyện nghèo. Có lẽ chị có niềm tin nơi anh. Dù sống hay thác thì chị vẫn xem mình là người của anh để giữ lời vàng đá. Khi buồn vui chị lại tâm sự cùng anh dù anh đang ở một thế giới khác chị. Nhưng không sao, miễn trong lòng chị có anh, thì chị vẫn nghĩ là điểm tựa an yên. Cuộc sống tinh thần của chị vẫn luôn có anh bên cạnh và đó cũng là hạnh phúc!

 

Sài Gòn ngày 25/11/2021

Hoàng Thị Bích Hà

 

READ MORE - Truyện ngắn: TẤM LÒNG TRUNG TRINH - HoàngThị Bích hà

TRANG THƠ LƯU LÃNG KHÁCH: Cuốc đất / Chắc phải ra đi / Bất đắc chí / Ba Làng An anh yêu / Hai Chính

 


CUỐC ĐẤT

 

Cuốc đất than ôi trời nắng gắt

Ông cùng bố mẹ sôi con mắt

Cơm đồng một đĩa cá tươi ngon

Nước bãi hai siêu chè lạnh ngắt

Lắm lúc buồn lòng chống cuốc chơi

Đôi khi xót dạ làm nhanh hắt

Cầu trời vụ mới hãy thương cho

Kinh tế bao năm nhà vẫn ngặt.

         Mùa Đông 1983

        Duy Toàn Bàu Đình

 

 

 CHẮC PHẢI RA ĐI

 

Có việc vui sao buồn quá thể

Ra trai thất chí đời khi dể

Công danh lận đận rối lòng cha

Sự nghiệp lao đao đau dạ mệ

Hổ Tiếu ngồi đây nhớ thiết tha

Nghĩa Hà đứng đó yêu nhiều thế

Nghĩa Bình đứng cánh Nghĩa Hành ta

Sao hắt hiu chiều đông đổ lệ.

               Đông 1983

           Duy Toàn Bàu Đình

 

BẤT ĐẮC CHÍ

 

Ước nguyện coi như đà khép lối

Mơ mây mộng gió chiều khuya tối

Công danh bất đắc chí thôi đành

Sự nghiệp chưa đôi mươi chẳng vội

Xót mẹ tàn hao mặt mũi xanh

Thương cha héo hắt thân cằn cỗi

Hè trôi cuốn cả mộng chưa thành

Có lẽ ngày sanh ta bị lỗi.

                 Thu 1983

             Duy Toàn Bàu Đình xứ

 

BA LÀNG AN ANH YÊU

 

Nắng thu vàng gương vỡ

Một chiều anh đến thăm

Ba Làng An duyên nợ

Kìa cô em da ngăm

Anh ngồi nghe biển hát

Gió hòa ca ngọt ngào

Rừng du dương tấu nhạc

Đá nằm gối tay nhau

Xuống sát miệng núi lửa

Kìa em gái Bình Châu!

Hãy dìu anh lên với!

Anh đến thăm lần đầu

Miệng núi không phun lửa

Mà nhả ngọc phun châu

Là sóng triều bung lụa

Trắng ngời như hoa lau

Ôi rong rêu đất đá!

Ôi ốc cá cua tôm

An lành trong miệng há

Đẹp da khô nẻ hàm

Núi- biển- thuyền em nữa

Quá hùng vĩ nên thơ

Hải đăng cười không nói

Tình vui đến bất ngờ

Những cột đá vách đá

Đen nhánh đẹp mê hồn

Sóng khơi đà tan xác

Còn dựng ngược lên hôn

Cụm đá dễ thương quá

Em gọi là bãi Mơ

Gác chèo nằm ửng má

Tình ơi! Anh làm thơ

Hòn Nhàn ôi lạ quá!

Hoàng hôn pha vàng nâu

Gối đầu lên gành đá

Mắt muốn nhìn gì đâu

Biển sóng vỗ lớp lớp

Trời đôi cánh hải âu

Đá tầng tầng choáng ngợp

Đưa tình anh lên cao

Tạm biệt Ba Làng nhé!

Một ngày thật ngọt ngào

Đêm về anh xếp chữ

Nghe lòng còn xôn xao.

      Thu 1983

  Duy Toàn Bàu Đình

 

       HAI CHÍNH

        (Kính tặng đại ca Viên Chính)

 

Hổ Tiếu trên thôn,dãy cận đồng

Có chàng Hai Chính tựa Quan Công

Tóc xanh mắt sáng ngời tia biếc

Mặt đỏ môi son rực ánh hồng

Khí phách vùi chôn nơi gạch ngói

Anh hùng lỗi hẹn chốn non sông

Hiền tài chẳng được đời ưu ái

Thất chí trơ như bức tượng đồng.

 

                             Hè 1983

               Duy Toàn Bàu Đình xứ


READ MORE - TRANG THƠ LƯU LÃNG KHÁCH: Cuốc đất / Chắc phải ra đi / Bất đắc chí / Ba Làng An anh yêu / Hai Chính

KHI NGỌN LỬA BIẾT CHỜ - Thơ Trần Thị Lan Anh


 

KHI NGỌN LỬA BIẾT CHỜ

Tác giả: Thi Lan Anh Tran, Aschaffenburg,Germany

Bản quyền thuộc về tác giả


Giữa khoảng cách của hai lục địa—
em vẫn gọi tên anh
như gọi một ngọn lửa
không nhìn thấy
nhưng luôn sưởi ấm tim mình.

Anh nói lửa biết yêu—
còn em nói
lửa cũng biết chờ,
chờ qua những đêm dài chênh lệch múi giờ,
chờ qua những dòng tin nhắn
chưa kịp gửi đi đã thành nỗi nhớ.

Ở Đức, trời vẫn lạnh—
không phải vì mùa đông,
mà vì vòng tay anh
còn ở rất xa,
nơi Ấn Độ
nắng vẫn cháy trong mắt anh.

Em tự hỏi—
liệu ngọn lửa của chúng ta
có đủ mạnh
để vượt qua đại dương,
để không tắt
giữa những nghi ngờ và im lặng?

Nhưng rồi em hiểu—
lửa không cần gần
mới có thể cháy,
cũng như tình yêu
không cần chạm
vẫn có thể đau…
và vẫn có thể sống.

Anh là ngọn lửa—
còn em là làn gió,
không dập tắt anh,
mà giữ cho anh cháy
một cách dịu dàng.

Người ta nói—
xa cách là thử thách,
còn em tin—
xa cách là phép thử
để biết điều gì là thật.

Nếu một ngày
chúng ta gặp nhau
giữa một nơi không còn khoảng cách—
em sẽ không hỏi gì nữa,
chỉ lặng im
đặt tay mình vào tay anh
và biết rằng—
mọi chờ đợi
đều xứng đáng.

Vì cuối cùng—
dù Đức hay Ấn Độ,
dù đông hay hạ,
chúng ta vẫn giữ được
một ngọn lửa nhỏ—
không ai thấy
nhưng không gì có thể dập tắt.

Tên của nó là—
Chúng ta.



 




READ MORE - KHI NGỌN LỬA BIẾT CHỜ - Thơ Trần Thị Lan Anh

MẸ - CHÚT NẮNG ẤM GIỮA MIỀN HƯ KHÔNG - Đặng Xuân Xuyến cảm nhận thơ Trịnh Đình Bích

Ảnh của ChatGPT


MẸ - CHÚT NẮNG ẤM 

GIỮA MIỀN HƯ KHÔNG

(Cảm nhận khi đọc “Mẹ là chút nắng cuối đông” 

của nhà thơ, nhà giáo Trịnh Đình Bích) 

.

 

Chiều qua, nhận được tập thơ “LỐI VỀ”, món quà quý nhà thơ, nhà giáo Trịnh Đình Bích gửi tặng, tôi ngồi chậm rãi đọc rồi bỗng khựng lại khi gặp bài thơ “Mẹ là chút nắng cuối đông” bởi những hình tượng ẩn dụ vừa lạ vừa quen, nơi “cái nắng cuối đông” mỏng manh lại trở thành biểu tượng bất diệt cho hơi ấm tình mẫu tử. Bài thơ không chỉ là tiếng lòng hiếu nghĩa mà còn là một khoảng lặng đầy chiêm nghiệm về lẽ vô thường và giá trị của sự hiện diện - một thông điệp nhân văn mà tác giả đã chắt chiu gửi gắm qua từng nhịp thở của chữ nghĩa.

 

MẸ LÀ CHÚT NẮNG CUỐI ĐÔNG

  

Ai tin rằng cái nắng cuối mùa đông 

 Đủ làm ấm, để em hồng đôi má 

 Mấy ai nghĩ yếu mềm như tàu lá 

 Mà lạt mềm gói chặt cái bên trong


Ai tin rằng cái nắng cuối mùa đông 

Nhè nhẹ lắm như một làn hơi thở 

Mẹ ra sưởi, mẹ ngồi trên bậu cửa 

Mà liêu xiêu khi con ở xa về..

 

Không còn nồng như cái nắng hè kia 

Không yếu đuối trong mưa phùn ẩm ướt 

Mẹ ngồi đó là con còn có được

Sưởi ấm lòng dù chỉ nắng mùa đông. 

 

Ừ! Biết rằng tất cả sẽ hư không

Chỉ xin giữ trong hồn hình bóng mẹ 

Cao như núi, và rộng nào bằng bể 

Xin vo tròn trong một chữ tình con.

 *.

 TRỊNH ĐÌNH BÍCH

 *

Ngay từ khổ đầu bài thơ, nhà thơ sử dụng cấu trúc nghi vấn (Ai tin rằng... Mấy ai nghĩ...) như một lời khẳng định về một chân lý không thể chối cãi: Sự mềm mỏng, nhẫn nại và bao dung luôn có sức mạnh giữ gìn tình yêu và gắn kết lòng người một cách bền bỉ:

 

 “Ai tin rằng cái nắng cuối mùa đông 

 Đủ làm ấm, để em hồng đôi má 

 Mấy ai nghĩ yếu mềm như tàu lá 

Mà lạt mềm gói chặt cái bên trong”

 

Mở đầu bằng “cái nắng cuối mùa đông”, một thứ nắng mỏng manh, dịu ngọt nhưng lại "đủ làm ấm" “hồng đôi má” người thương. Rồi tiếp đến mượn cái vẻ mỏng manh “yếu mềm như tàu lá” để nói về khả năng "gói chặt cái bên trong", minh chứng cho sức mạnh tiềm ẩn bên trong vẻ ngoài mong manh của người phụ nữ: Lấy sự dịu dàng để gắn kết và gìn giữ những điều trân quý. 

 

Cái hay của khổ thơ không nằm ở sự cầu kỳ chữ nghĩa mà ở cái tình chân thật, ở ẩn dụ cho tình yêu và sự tử tế của “cái nắng cuối mùa đông” và “lạt mềm gói chặt”, “vừa đủ” để thấu cảm và sưởi ấm lòng người. Đọc thơ mà thấy hiện lên một triết lý sống đầy bản lĩnh, khi sự “yếu mềm” không còn là yếu đuối, mà chính là sợi dây thắt chặt nghĩa tình, khiến người đọc phải suy ngẫm sâu xa về sức mạnh của tình yêu và lòng nhân ái. 

 

Nối tiếp mạch cảm xúc ấy, những câu thơ tiếp theo ở khổ thơ thứ 2 không nằm ở chữ nghĩa bóng bẩy mà nằm ở sự mộc mạc và thấm đẫm tình Mẫu Tử:

 

“Ai tin rằng cái nắng cuối mùa đông  

Nhè nhẹ lắm như một làn hơi thở 

Mẹ ra sưởi, mẹ ngồi trên bậu cửa 

Mà liêu xiêu khi con ở xa về.”

 

Trịnh Đình Bích đã dùng “cái nắng cuối mùa đông" mỏng manh, yếu ớt như "làn hơi thở" để ví von sức khỏe của Mẹ anh (của người già) như hơi thở nhẹ bẫng, có thể tan biến bất cứ lúc nào. Đọc những câu chữ ấy người đọc chùng lòng lại bởi sự lo lắng thầm lặng thường trực trong suy nghĩ của người con. Hình ảnh "mẹ ngồi trên bậu cửa" thì quá quen thuộc, quá nhiều người viết rồi nhưng “Mẹ ra sưởi” nắng không chỉ cho ấm người, cho bớt nỗi cô đơn mà còn vì thương nhớ con, vì đang mong đợi bóng dáng con sớm về nhà lại là hình ảnh Mẹ rất riêng của nhà thơ Trịnh Đình Bích. 

 

Hai chữ "liêu xiêu" ở câu “Mà liêu xiêu khi con ở xa về” như cơn bùng nổ của cảm xúc, của hạnh phúc, đã diễn tả trọn vẹn tình yêu cả đời Mẹ dành cho con và sự lo lắng của người con nhận ra mẹ đã già lắm rồi, đã mỏng manh như "nắng cuối mùa đông." Sự tương phản giữa cái tĩnh lặng, chậm chạp ở ba câu đầu với cái vội vã, run rẩy ở câu cuối khổ thơ làm người đọc thấy nhoi nhói lòng. 

 

Tiếp đến khổ thơ thứ 3, hình ảnh Mẹ được nhà thơ Trịnh Đình Bích tạc bằng những câu chữ không cầu kỳ ước lệ nhưng lại rất cẩn trọng trong việc chắt chiu từng ngữ nghĩa: 

 

“Không còn nồng như cái nắng hè kia  

Không yếu đuối trong mưa phùn ẩm ướt  

Mẹ ngồi đó là con còn có được 

Sưởi ấm lòng dù chỉ nắng mùa đông.”

 

Không nằm ở sự so sánh cao siêu, ở những hình ảnh ước lệ, mà nằm ở cái tâm thế tri ân đặt Mẹ cao hơn tất cả các quy luật của thời tiết. Nắng hè có thể “nồng”, mưa phùn có thể “ẩm ướt”, nhưng sự hiện diện của Mẹ mới là hoàn hảo nhất. Câu thơ "Mẹ ngồi đó là con còn có được" chính là linh hồn của cả đoạn thơ, cả bài thơ, là một sự khẳng định đầy sức nặng. Hai chữ "còn có" đọc lên nghe mộc mạc, giản đơn nhưng lại chứa đựng cả một niềm hạnh phúc. Ở cái tuổi mà thời gian đã nhuốm màu lên tóc mẹ thì việc thấy mẹ vẫn "ngồi đó" khỏe mạnh và bình yên chính là một báu vật mà người con đang còn được sở hữu.

 

Hình ảnh "nắng mùa đông" ở câu “Sưởi ấm lòng dù chỉ nắng mùa đông” là một ẩn dụ tuyệt đẹp. Nhà thơ, nhà giáo Trịnh Đình Bích đã khéo léo đồng nhất hình ảnh Mẹ với cái "nắng mùa đông", cái nắng dịu ngọt và quý báu của mùa đông lạnh giá nhưng đủ sức mạnh "sưởi ấm lòng" người con sau những bôn ba, vì đó là hơi ấm của tình Mẹ.

 

Rồi tiếp đến khổ thơ cuối bài, diễn tả một tâm thế sống, một triết lý nhân sinh sâu sắc của tình mẫu tử:

 

“Ừ! Biết rằng tất cả sẽ hư không

 Chỉ xin giữ trong hồn hình bóng mẹ 

 Cao như núi, và rộng nào bằng bể 

 Xin vo tròn trong một chữ tình con.”

 

Tiếng “Ừ” trong câu “Ừ! Biết rằng tất cả sẽ hư không” tưởng là lời bình thản của sự giác ngộ nhưng sao đọc lên lại nghe trĩu nặng đến vậy. Biết đó là lẽ vô thường của cuộc đời, rồi “tất cả sẽ hư không”, mọi danh lợi, phù hoa rồi cũng tan thành mây khói, nhưng giữa cái hư không mênh mông ấy, nhà thơ cúi đầu trầm khẩn: “Chỉ xin giữ trong hồn hình bóng mẹ”, “Xin vo tròn trong một chữ tình con”. Chữ “vo tròn”ở đây thật sâu sắc, gợi lên sự nâng niu, cẩn trọng, sự mềm mại, tinh khiết với khát khao mãnh liệt được lưu giữ tình Mẹ tròn đầy, không góc cạnh, không thể sứt mẻ trong trái tim mình. 

 

Khép lại “Mẹ là chút nắng cuối đông”, người đọc không thấy những câu chữ cầu kỳ, cũng không thấy “thủ pháp ôn nghèo kể khổ” cuộc đời của mẹ như khá nhiều nhà thơ cố tận dụng để “vay mượn” sự đồng cảm của người đọc, mà chỉ thấy một tâm hồn hiếu thảo của người con đang nghiêng mình trước bóng dáng hao gầy của Mẹ. 

 

Qua hình ảnh "cái nắng cuối mùa đông" hay sợi "lạt mềm" dung dị, người đọc nhận ra một thông điệp vĩnh cửu: Giữa dòng đời vô thường, khi mọi danh lợi rồi sẽ tan thành hư không thì tình mẹ chính là điểm tựa cuối cùng, là hơi ấm duy nhất đủ sức sưởi ấm lòng người qua mọi mùa đông giá rét. 

 

Bài thơ không chỉ là tiếng lòng của riêng nhà thơ, nhà giáo Trịnh Đình Bích mà còn là lời nhắc nhở nhẹ nhàng nhưng thấm thía cho mỗi chúng ta: Hãy biết nâng niu và "vo tròn" hạnh phúc khi vẫn còn được thấy mẹ "ngồi đó", bởi đó chính là báu vật quý giá nhất mà đời người có thể sở hữu.

 

*.

6

Hà Nội, chiều 08 tháng 05 năm 2026 

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

baothang_xuanxuyen@yahoo.com.vn

READ MORE - MẸ - CHÚT NẮNG ẤM GIỮA MIỀN HƯ KHÔNG - Đặng Xuân Xuyến cảm nhận thơ Trịnh Đình Bích

TRANG THƠ LÊ THANH HÙNG: Gió qua miền nhớ / Chiều Cao Lãnh / Tháng ba hanh hao trong ngọn nắng khô giòn / Gió tháng tư ngang trời lồng lộng

 

Tác giả Lê Thanh Hùng

Gió qua miền nhớ

 

Sao cứ ngồi suy nghĩ mãi về em

Đêm bối rối trước vầng trăng mờ tỏ

Ở nơi đó, trời đương mùa trở gió

Lá me bay trên góc phố thân quen

 

Lòng cứ bần thần xa vắng ngẩn ngơ

Cơn gió lông bông quên ngày quên tháng

Thổi rối vê tròn chút gì kiêu mạn

Con thuyền xưa đã bỏ bến xa bờ…

 

Sao nuối lòng, còn đọng lại dư ba

Anh đã biết thời gian không trở lại

Lấp láy dấu ngày cuốn mùa đi mãi

Vương vãi ân tình năm cũ lần qua

 

Biết lòng người như con nước chảy xuôi

Trôi mê mãi đâu cần gì bến đợi

Cứ háo hức giữa đôi bờ xanh mới

Con sóng lăn tăn gờn gợn ngậm ngùi

 

Nỗi niềm gì mà thổi mãi gió ơi!

Về nơi đó, có qua lòng phố hẹp

Cứ thong thả, đừng mơ hồ gượng ép

Nhắn giùm ta, lời thương nhớ ngang đời…

 

Chiều Cao Lãnh

 

Có một chiều ngồi nghe lá hát

Bên sông Tiền, đỏ rựng hoàng hôn                      

Thương một nỗi, cánh cò cánh vạc

Lẽ loi trên sóng nước dập dồn

                    *

Trời Cao Lãnh mướt màu hoa cỏ

Phố bình yên rực rỡ sắc cờ

Kệ cho những cái nhìn méo mó

Cuộc sống còn đọng nét nguyên sơ

                    *

Biêng biếc non tơ, cây trái chín

Lẫn khuất hương, trong gió nồng nàn

Anh ngồi đây, nghe lòng bịn rịn

Lấp lững chiều trong tiếng xự xang

                    *

Em còn đó, chiều trong tóc rối

Mái tóc dài ngày tháng hao vơi

Vạt áo bung giấc mơ gấp vội

Một tuổi nào đang đẫm mộng đời ...

                    *

Hãy cùng anh giẫm lên kỷ niệm

Trên con đường ta đã có nhau

Anh có lỗi, không hề giấu giếm

Để giờ anh gậm nhấm niềm đau ...

 

 

Tháng ba hanh hao trong ngọn nắng khô giòn

 

Khẳng khiu đàn bò trên đồng mòn trơ gốc rạ

Bên cánh rừng thưa đang mùa trút lá

 

Người nông dân cần mẫn những lo toan

Nắng hạn kéo dài lệch pha thời vụ

Chuyển đổi cây trồng gì đây, để bứt phá lối mòn…

 

 

Gió tháng tư ngang trời lồng lộng

 

Cờ bay   

Cuộc chiến đi qua, những gì còn đọng lại

 

Trong tiếng hát khan khan của tuổi bảy mươi

Buổi họp mặt mỗi năm dù thưa vắng

Vẫn còn nguyên đây, trọn vẹn những nụ cười

          

Lê Thanh Hùng

Bắc Bình, Lâm Đồng

lethanhhung4625@gmail.com

READ MORE - TRANG THƠ LÊ THANH HÙNG: Gió qua miền nhớ / Chiều Cao Lãnh / Tháng ba hanh hao trong ngọn nắng khô giòn / Gió tháng tư ngang trời lồng lộng

Thursday, May 7, 2026

CHIÊM NGHIỆM / MIỀN TRUNG QUÊ MÌNH - Thơ Đàm Ngọc Năm

 

Tác giả Đàm Ngọc Năm

CHIÊM NGHIỆM

 

Ta đã đi qua hai cuộc chiến tranh

Sướng khổ, vui buồn từng nếm cả

Có những thời sắn khoai thay bữa

Dù đói cơm nhưng tình nghĩa tràn đầy.

 

Đã có thời bươn chải suốt tháng ngày

Cơn mưa rừng một mình ướt sũng

Đất níu chân trên đường vắng lặng

Tiếng hoẵng kêu đơn lẻ lúc chiều về.

 

Rồi một ngày được trở lại miền quê

Giống nơi ta sinh khi còn bé nhỏ

Nghe tiếng líu lo gợi bao nỗi nhớ

Nơi Mẹ sinh ra, bập bẹ làm người.

 

Giờ tuổi đã cao, gần hết cuộc đời

Vẫn có bạn bè, anh em bên cạnh

Đến tuổi Mẹ xưa, phải dừng quang gánh

Mới hiểu đời, thương Mẹ thuở nuôi con.

 

 

 

MIỀN TRUNG QUÊ MÌNH

 

Ở đâu rồi, sao anh tìm chẳng thấy

Để cùng anh ta về lại miền Trung

Mỗi buổi sáng chúng mình ra tắm biển

Ngắm mặt trời lên, trên sóng vẫy vùng.

 

Chiều hoàng hôn ta ngồi bên bếp lửa

Nướng cá tôm, nghe tiếng sóng vỗ bờ

Mặc tuổi cao, vẫn như ngày xưa ấy

Cứ yêu đời, yêu cả những giấc mơ.

 

Đang mùa nóng, ra đảo khơi đón gió

Vị mặn vào làm da sạm nhanh hơn

Đừng ngại chi em làn da rám nắng

Có anh rồi, đâu còn sợ cô đơn.

 

                                       Tháng 4-2026

                                      Đàm  Ngọc  Năm

                                  <namdnvietsing@gmail.com>

                  ******

READ MORE - CHIÊM NGHIỆM / MIỀN TRUNG QUÊ MÌNH - Thơ Đàm Ngọc Năm

NỐI - Thơ Huỳnh Liễu Ngạn

Cầu vượt biển Thuận an- Huế

Ảnh: Internet



HUỲNH LIỄU NGẠN 

NỐI

 

qua cầu đếm bước em theo

bên kia bên ấy cheo leo bên nào

em còn hồng má tầng sao

để rêu trên đá nằm chao đảo chờ

 

bây giờ cầu nối thành thơ

treo lên độn cát giấc mơ đã thành

gởi em ít chút mộng lành

để rung nhịp đập tròng trành giữa đêm

 

những ngày thân ái nối thêm

bờ đồng bờ bắc êm đềm bờ anh

nhìn theo phía có trời xanh

em còn thả tóc cho nhanh qua cầu

 

gió chiều vướng nhẹ bờ lau

áo em nghiêng ngọn cỏ khâu anh về

nhịp đời như thể ngủ mê

để con nước cuộn chân đê nối dài

 

hai lòng cách một bờ vai

anh qua không kịp hẹn mai mới cùng

em vui ngày hội non bồng

quê nghèo không nhớ dòng sông nữa rồi.

 

1.5.2026

 

HUỲNH LIỄU NGẠN

hiephuynh479@gmail.com

 


READ MORE - NỐI - Thơ Huỳnh Liễu Ngạn

Giữa mặt nạ và ký ức: Karneval, bản sắc văn hóa và truyền thống lễ hội sống của Đức — Phỏng vấn: Emmanuel Chimezie (Nigeria) & Lan An Tran (Đức)



Giữa mặt nạ và ký ức: 

Karneval, bản sắc văn hóa và truyền thống lễ hội sống của Đức 

Phỏng vấn  giữa hai nhà thơ 

Emmanuel Chimezie (Nigeria)

& Lan Anh Trân (Đức)

 

TÓM TẮT

 

Cuộc phỏng vấn này khám phá cách các lễ hội văn hóa Đức, đặc biệt là Karneval, phản ánh bản sắc xã hội, ký ức văn hóa và các giá trị cộng đồng. Thông qua đối thoại có cấu trúc giữa nhà thơ Nigeria Emmanuel Chimezie và nhà thơ kiêm bình luận văn hóa người Đức Lan Anh Trân, cuộc trao đổi phân tích cách lễ hội gìn giữ truyền thống, hỗ trợ giáo dục và hình thành bản sắc tập thể.

 

Bài viết xem văn hóa như một quá trình sống động, liên tục được thực hành, thể hiện và tái tạo.

 

GIỚI THIỆU

 

Cuộc phỏng vấn quy tụ nhà thơ Nigeria Emmanuel Chimezie và nhà thơ kiêm bình luận văn hóa người Đức Lan Anh Trân nhằm suy ngẫm về ý nghĩa và tầm quan trọng của các lễ hội văn hóa tại Đức. Trọng tâm là Karneval — một biểu hiện quan trọng của đời sống văn hóa Đức, nơi lịch sử, bản sắc và hoạt động cộng đồng gặp gỡ và hòa quyện.

 

Mục tiêu của cuộc trao đổi là tìm hiểu cách các lễ hội bảo tồn truyền thống, thể hiện bản sắc xã hội và truyền tải các giá trị văn hóa qua trải nghiệm sống, thay vì chỉ thông qua giáo dục mang tính lý thuyết.

 

PHỎNG VẤN

 

Câu 1: Các lễ hội văn hóa Đức như Karneval phản ánh sự tiến hóa lịch sử của bản sắc xã hội ở Đức như thế nào?

Lan Anh Trân: Karneval là một dạng ký ức văn hóa được thể hiện qua lễ hội. Nó khởi nguồn từ truyền thống tôn giáo nhưng đã phát triển thành phản ánh của xã hội. Đức nổi tiếng với tính kỷ luật và trật tự, vì vậy Karneval cho phép con người có khoảng thời gian “giải phóng” khỏi khuôn khổ đó. Nó phản ánh cách bản sắc có thể chuyển đổi trong một khung văn hóa chung.

 

Câu 2: Các lễ hội có cấu trúc tại Đức góp phần bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể như thế nào?

Lan Anh Trân: Các lễ hội được tổ chức theo cấu trúc giúp bảo tồn văn hóa thông qua sự lặp lại. Những yếu tố như trang phục, âm nhạc và nghi lễ được thực hiện hằng năm. Sự lặp lại này giúp cộng đồng truyền tải tri thức văn hóa từ thế hệ này sang thế hệ khác một cách bền vững và sống động.

 

Câu 3: Sự cân bằng giữa trật tự và lễ hội trong văn hóa Đức ảnh hưởng thế nào đến các hoạt động công cộng?

Lan Anh Trân: Các lễ hội Đức kết hợp giữa tính tổ chức và biểu đạt cảm xúc. Trật tự đảm bảo an toàn và tính liên tục, trong khi lễ hội mang lại sự tự do và niềm vui. Sự cân bằng này giúp lễ hội vừa có ý nghĩa vừa bền vững.

 

Câu 4: Vai trò của Karneval trong việc hình thành sự tham gia của công dân và gắn kết cộng đồng là gì?

Lan Anh Trân: Karneval khuyến khích sự tham gia của mọi tầng lớp xã hội. Trong thời gian lễ hội, các khác biệt xã hội được thu hẹp, con người chia sẻ một không gian văn hóa chung. Điều này củng cố sự đoàn kết và cảm giác thuộc về cộng đồng.

 

Câu 5: Các lễ hội mùa vụ của Đức có thể được hiểu như hình thức kể chuyện văn hóa xuyên thế hệ như thế nào?

Lan Anh Trân: Mỗi lễ hội đều mang theo những câu chuyện từ lịch sử, tôn giáo và văn hóa địa phương. Những câu chuyện này không chỉ được kể mà còn được tái hiện hằng năm. Nhờ đó, văn hóa được truyền tải qua trải nghiệm và sự tham gia thực tế.

 

Câu 6: Các lễ hội Đức đóng vai trò giáo dục đến mức nào trong việc truyền tải giá trị, truyền thống và ký ức tập thể?

Lan Anh Trân: Lễ hội truyền tải các giá trị như tôn trọng, kỷ luật và tinh thần cộng đồng thông qua sự tham gia. Người trẻ học những giá trị này bằng cách quan sát và trực tiếp trải nghiệm, thay vì chỉ học qua lý thuyết.

 

Câu 7: Sự đa dạng vùng miền ở Đức ảnh hưởng như thế nào đến biểu hiện của các lễ hội quốc gia?

Lan Anh Trân: Các vùng khác nhau của Đức có phong cách lễ hội riêng. Tuy nhiên, tất cả đều góp phần tạo nên bản sắc văn hóa chung. Sự đa dạng không làm suy yếu mà còn củng cố bản sắc văn hóa quốc gia.

 

Câu 8: Trang phục, âm nhạc và nghi lễ trong Karneval phản ánh bản sắc văn hóa Đức như thế nào?

Lan Anh Trân: Trang phục và âm nhạc là hình thức giao tiếp biểu tượng. Chúng thể hiện lịch sử, sự hài hước và các vai trò xã hội. Tất cả cùng nhau giúp con người thể hiện bản sắc một cách sáng tạo và giàu ý nghĩa.

 

Câu 9: Các yếu tố hiện đại như du lịch và truyền thông đang tái định hình lễ hội truyền thống Đức ra sao?

Lan Anh Trân: Các yếu tố hiện đại làm tăng khả năng tiếp cận và sự quan tâm toàn cầu. Dù một số yếu tố thay đổi, các giá trị cốt lõi vẫn được giữ vững vì chúng tiếp tục được cộng đồng địa phương thực hành.

 

Câu 10: Có thể xem các lễ hội văn hóa Đức như một dạng nhân học sống hay không, và vì sao?

Lan Anh Trân: Có. Các lễ hội này thể hiện cách văn hóa được sống và trải nghiệm trong thời gian thực. Chúng cho phép quan sát cách truyền thống được duy trì, thích nghi và chia sẻ trong xã hội.

 

KẾT LUẬN

 

Cuộc phỏng vấn cho thấy các lễ hội văn hóa như Karneval không chỉ là hoạt động giải trí công cộng, mà còn là những hệ thống sống động của ý nghĩa văn hóa. Chúng bảo tồn ký ức, truyền tải giá trị và củng cố bản sắc xã hội thông qua sự tham gia của cộng đồng.

 

Cuộc đối thoại giữa hai nhà thơ Nigeria và Đức nhấn mạnh rằng văn hóa không cố định. Nó tiếp tục phát triển thông qua thực hành, trải nghiệm chung và sự kế thừa qua nhiều thế hệ, kết nối quá khứ với hiện tại trong một hình thái sống động và hữu hình.


-----------------------------------------------------------------

From: 

E-Mail: Wirtschaftskanzlei@Dipl-Kauffrau-Tran.de

Dipl.- Kauffrau Thi Lan Anh Tran


Ảnh từ: 

Facebook: Trung tâm tiếng Đức NDF

READ MORE - Giữa mặt nạ và ký ức: Karneval, bản sắc văn hóa và truyền thống lễ hội sống của Đức — Phỏng vấn: Emmanuel Chimezie (Nigeria) & Lan An Tran (Đức)