Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, July 31, 2026

HIỀN LƯƠNG SÁU XÓM, SÁU PHƯỜNG - Trương Tam Phong

Tác giả: Trương Tam Phong

         
HIỀN LƯƠNG SÁU XÓM, SÁU PHƯỜNG


1. Đặt vấn đề

Làng Hiền Lương (nay thuộc TDP Đông Hiền, phường Phong Thái, thành phố Huế.) vốn có tên là Hoa Lang. Theo các nguồn sử liệu và văn bản Hán Nôm, cư dân đã đến khai phá, lưu trú ổn định tại đây từ khoảng thế kỷ XV. Đến năm 1841, dưới triều vua Thiệu Trị, do kiêng húy tên Hoàng thái hậu Hồ Thị Hoa, làng được đổi tên từ Hoa Lang thành Hiền Lương và giữ tên gọi này cho đến nay [1, 2, 3, 4, 5]

Trải qua nhiều thế kỷ, Hiền Lương trở thành một trong những làng rèn nổi tiếng của xứ Thuận Hóa. Việc mở rộng làng, cùng với nghề rèn, không chỉ tạo nên các vùng đất mới mà còn tạo nên sinh kế bền vững cho nhiều thế hệ cư dân và góp phần hình thành bản sắc văn hóa đặc trưng của làng cổ Hiền Lương. Góp phần đưa Hiền Lương trở thành một địa danh quen thuộc trong lịch sử thủ công truyền thống Việt Nam.

Cư dân Hiền Lương từ bao đời nay vẫn thường nhắc nhớ về quê hương qua câu khẩu quyết quen thuộc: "Làng sáu xóm, sáu phường". Trong cấu trúc ấy, sáu xóm bao gồm Siêu Quần, An Hội, Đồng Nhơn, Võ Đình, Văn Quán và Phước Tự; song hành cùng sáu phường là Công Thành, Hưng Long, Thượng Hòa, Triều Dương, Khánh Mỹ và La Vần. Hai hệ thống này không đơn thuần là tên gọi hành chính, mà còn phản ánh hai không gian cư trú, sinh kế trong tiến trình mở cõi, lập làng và phát triển lâu dài của cộng đồng.

Hệ thống sáu phường không hình thành đồng thời mà là kết quả của một quá trình mở rộng không gian lịch sử. Bốn phường Công Thành, Hưng Long, Thượng Hòa và Triều Dương ra đời sớm hơn cả, gắn liền với công cuộc khai phá vùng gò đồi phía tây của các bậc tiền nhân. Trong khi đó, Khánh Mỹ và La Vần xuất hiện muộn hơn vào thời Nguyễn; đến thời Khải Định, hai phường này đã chính thức nằm trong địa giới làng và được triều đình ban sắc phong chuẩn định. Sự góp mặt của Khánh Mỹ và La Vần đã hoàn thiện cấu trúc “sáu xóm, sáu phường” của làng Hiền Lương.

Mỗi phường mang trong mình những đặc điểm riêng biệt về lịch sử hình thành, các bậc Khai canh – Khai khẩn, hệ thống địa danh cũng như những dấu ấn đậm nét trong văn bản Hán Nôm và hệ thống sắc phong triều đình. Bên cạnh đó, qua các nguồn tư liệu lịch sử và điền dã, một số nơi còn lưu giữ nhiều tên gọi song hành qua các thời kỳ: Triều Dương gắn liền với tên nôm Vĩnh Nẫy, Khánh Mỹ gắn với vùng đất mang tên Đức Thắm (Đất Thắm), hay La Vần xưa vốn thuộc sự quản lý của xóm Văn Quán. Bài viết này xin giới thiệu quá trình hình thành, đặc điểm cụ thể của sáu phường cùng các tên gọi và dấu ấn lịch sử, qua đó làm rõ cấu trúc địa giới và sự mở rộng không gian cư trú bền bỉ của làng Hiền Lương.



2. Một vài đặc điểm của sáu phường thuộc làng Hiền Lương

2.1. Phường Công Thành

Là một trong bốn phường hình thành sớm nhất trên dải gò đồi phía tây, cách trung tâm làng Hiền Lương khoảng 17 cây số. Bản sắc phong 68 (1), triều đình ghi nhận ngài Hoàng Ngọc Tích có công khai khẩn vùng đất này. Từ đó, trải qua các thế hệ, hậu duệ nơi đây phát triển thành hai nhà thờ họ (với khoảng 17–18 thế hệ),

Công thành, nay thuộc TDP Tây Bắc Sơn, phường Phong Thái, thành phố Huế. Bên cạnh dòng họ Hoàng chủ đạo, vùng đất này còn đón nhận dòng chảy cư dân từ các họ khác đến sinh cơ lập nghiệp như họ Trương Tất, họ Dương.

2.2. Phường Hưng Long

Cũng nằm trong nhóm các phường hình thành sớm, gắn liền với công cuộc khai phá đầu tiên ở phía tây làng. Hệ thống sắc phong ghi nhận hai vị Đồng Hậu Khai khẩn có công lớn là ngài Dương Phước Lộc và ngài Dương Phước Dã. Tên gọi Hưng Long được thế hệ con cháu trân trọng gìn giữ nguyên vẹn qua nhiều thời kỳ.

Về mặt hành chính hiện nay, địa bàn Hưng Long, Thượng Hòa và Vĩnh Nãy đều thuộc TDP Bắc Hiền phường Phong Thái, thành phố Huế. [1, 2, 3, 4, 5]

2.3. Phường Thượng Hòa (Đất Thắm)

Thuộc nhóm bốn phường hình thành sớm trên vùng gò đồi phía tây, Thượng Hòa hiện còn lưu giữ hai đạo sắc phong quan trọng là Sắc phong số 78 (ban cho ngài Hoàng Ngọc Tuấn và Trần Văn Công) cùng Sắc phong số 79 (1) (ban cho ngài Hoàng Thanh Vật) [1, 2, 3, 4, 5] .Thượng Hòa từ lâu gắn liền với tên gọi dân gian là Đất Thắm (xuất hiện song hành cùng Khánh Mỹ trong tư liệu sắc phong), phản ánh sự đan xen hài hòa giữa danh xưng của hai vùng đất.

Địa bàn này nay cùng chung không gian hành chính với Hưng Long, Vĩnh Nẫy, thành TDP Bắc Hiền, phường Phong Thái, thành phố Huế.

2.4. Phường Triều Dương (Vĩnh Nẫy)

Là phường có bề dày lịch sử lâu đời thuộc nhóm đầu của làng. Theo dòng phát triển, cư dân tiếp tục mở rộng thêm vùng đất Vĩnh Nẫy sát kề, khiến trong dân gian quen gọi gộp là Triều Dương - Vĩnh Nẫy. Theo địa thế xưa, đây là vùng đất có đầm nước ngập, trên mặt phủ đầy các loài cỏ mọc đan kết dày đặc thành một lớp thảm thực vật vững chắc; khi người qua lại trên mặt đầm thường có cảm giác chân bước "nảy lên, nảy xuống", từ đó dân gian gọi vùng này là “Vịnh Nảy”, về sau đọc chệch thành Vĩnh Nẫy.

Sắc phong bản số 76 (1) ghi rõ "...Hiền Lương xã, Vĩnh Nẫy ấp..." (永朏邑) và ban sắc phụng thờ vị Khai khẩn Hoàng Như Phượng Đại Lang Chi Thần. Ngôi miếu cổ tại đây hiện vẫn phụng thờ thêm ba vị Khai khẩn khác là Nguyễn Đức Thọ, Trương Công Cổ và Hoàng Quý Công.

Ngày nay, vùng đất Triều Dương - Vĩnh Nẫy cùng với Thượng Hoà, Hưng Long  thuộc TDP Bắc Hiền, phường Phong Thái, thành phố Huế, là minh chứng sinh động cho sự bảo lưu bền vững các lớp địa danh truyền thống. [1, 2, 3, 4, 5,6]

2.5. Phường Khánh Mỹ (Đất Thắm)

Hình thành muộn hơn khi không gian gò đồi phía tây đã tương đối ổn định. Sắc phong bản số 65 (1)ghi nhận công lao của vị Khai khẩn Trần Ngọc Lãng[1, 2, 3, 4, 5] (1). Nơi đây từng là điểm quy tụ của nhiều dòng họ di cư từ trung tâm làng ra, trong đó tiêu biểu có phái Trương Duy (gốc từ xóm An Hội). Khánh Mỹ còn được gọi với cái tên quen thuộc là Đức Thắm, gắn liền với vùng Đất Thắm chung với Thượng Hòa. Địa bàn hiện nay thuộc TDP Khánh Mỹ, phường Phong Điền, thành phố Huế.

2.6. Phường La Vần (Truông Vần)

Là phường hình thành muộn nhất cùng với Khánh Mỹ. Khởi thủy, đây là khu vực do xóm Văn Quán trực tiếp quản lý, sau đó mới chính thức lập thành phường dưới thời Nguyễn (đến thời Khải Định được ghi nhận trong Hiền Lương chí lược tân biên). Trong đời sống dân gian, nơi đây còn được gọi là Truông Vần hay Truông Cầu. Ngày nay, La Vần- Truông Cầu  địa bàn này thuộc TDP Tây Hiền  Hiền phường Phong Thái, thành phố Huế.

 

 

Các phường thuộc làng Hoa Lang- Hiền Lương

trong quá trình mở rộng không gian cư trú (1)

STT

Địa danh cổ / Phường / Vùng đất

Vị trí hành chính hiện nay (Thuộc TP. Huế)

 

Các vị tiền hiền có công Khai canh  có sắc phong  lập phường (2)

 

1

Làng Hiền Lương

TDP Đông Hiền, phường Phong Thái, thành phố Huế.

Các vị khai canh lập làng

2

Phường

Công Thành

TDP Tây Bắc Sơn, phường Phong Thái, thành phố Huế

Ngài Hoàng Ngọc Tích

Bản số 68

3

Phường Thượng Hòa (Đất Thắm)

TDP Bắc Hiền phường Phong Thái, thành phố Huế.

-Ngài Hoàng Ngọc Tuấn

-Ngài Trần Văn Công

Bản số 78

-Ngài Hoàng Thanh Vật

Bản số 79

4

Phường

Hưng Long

TDP Bắc Hiền, phường Phong Thái, thành phố Huế.

-Ngài Dương Phước Lộc

-Ngài Dương Phước Dã

5

Phường

Triều Dương

(Vĩnh Nãy)

TDP Bắc Hiền, phường Phong Thái, thành phố Huế.

Bản số 76: Ghi nguyên văn "...Hiền Lương xã, Vĩnh Nẫy ấp..." (永朏邑), ban sắc phụng thờ Khai khẩn Hoàng Như Phượng (Đại Lang Chi Thần).

Chú thích tư liệu ghi nhận thêm tại Vĩnh Nẫy còn có miếu thờ 3 vị Khai khẩn

-Ngài Nguyễn Đức Thọ

-Ngài Trương Công Cố

-Ngài Hoàng Quý Công

6

Phường

Khánh Mỹ

TDP Khánh Mỹ, phường Phong Điền, thành phố Huế

-Ngài Trần Ngọc Lãng

Bản số 65

Khai khẩn lập nên phường Khánh Mỹ                

 

7

Phường La Vần

TDP Tây Hiền phường Phong Thái, thành phố Huế.

 

 


 

3. Một vài cảm nhận.

a. Về sắc phong, miếu thờ và danh xưng Vĩnh Nẫy - Triều Dương

Trong Sắc phong số 76 (1) ban hành ngày 25 tháng 7 năm Khải Định thứ 9 (1924), triều đình ghi rõ: "...Hiền Lương xã, Vĩnh Nẫy ấp..." (永朏邑) và sắc phong cho vị Khai khẩn Hoàng Như Phượng. Bên cạnh đó, tại đây còn có miếu phụng thờ thêm ba vị đồng Khai canh và Khai khẩn gồm:

Ngài Nguyễn Đức Thọ

Ngài Trương Công Cổ

Ngài Hoàng Quý Công

Tuy nhiên, khi đối chiếu với tài liệu khảo cứu Hiền Lương chí lược tân biên (Thượng tọa Thích Tín Nghĩa, 1993), văn bản lại ghi nhận rõ: "Phường Triều Dương còn có tên là Vĩnh Nẫy...". Như vậy, Vĩnh Nẫy không phải là một địa danh độc lập đứng ngoài khung sáu phường cổ truyền, mà nhiều khả năng chính là tên ấp (tên nôm/đơn vị phụng tự) tương ứng với phường Triều Dương (朝陽) trong giai đoạn cuối triều Nguyễn. Sự song hành giữa tên chữ trang trọng và tên nôm truyền miệng này tạo nên một nét dày dặn trong lớp lang lịch sử địa phương (2, 3, 5).

Như vậy, một số ngài khai canh, khai khẩn không có được sắc phong của triều đình thì được dân làng xây dựng miếu thờ, xuân thu nhị kỳ hương khói nhớ ơn. Ngoài ra, một số vị không có cả miếu thờ thì dân làng góp ruộng để nhớ ơn các vị tiền hiền có công mở đất. Đó là ruộng thưởng, không phải ruộng “hương hỏa” như 12 ngài thủy tổ lập làng Hiền Lương theo lệ: “Hữu miếu vô điền, hữu điền vô miếu”.

 

b. Danh xưng “Phường Đất Thắm”

Dân gian Hiền Lương thường gọi phường Thượng Hòa (上和) và Khánh Mỹ (慶美) bằng cái tên chung mộc mạc là Đất Thắm (坦閏). Đối chiếu với hệ thống sắc phong triều Khải Định năm thứ 9 (1924) dành cho các bậc tiền hiền:

Phường Thượng Hòa: Gắn liền với các ngài Hoàng Ngọc Tuấn (Bản số 82) (1), Trần Văn Công (Bản số 78) và Hoàng Thanh Vật (Bản số 79). [2,3,6]

Phường Khánh Mỹ: Gắn liền với công lao khai khẩn lập nên phường của ngài Trần Ngọc Lãng (ghi nhận qua Sắc phong Bản số 65). [2,3,6]

Trong Sắc phong bản số 82 [2, 6], triều đình ghi trực tiếp danh xưng "Phường Đất Thắm" (坦閏) bằng chữ Nôm. Theo cách đặt tên cho vùng đất này, tên gốc là "Đức Thắm". Tuy nhiên, trong cách phát âm của cư dân địa phương, "Đức Thắm" thường được đọc chệch thành "Đứt Thắm" (âm ư chuyển thành â), rồi dần phổ biến dưới dạng "Đất Thắm". Phải chăng, chính tên gọi đã được sử dụng rộng rãi trong cộng đồng này đã được triều đình tiếp nhận và ghi trực tiếp vào sắc phong bằng chữ Nôm với danh xưng "Phường Đất Thắm

c. Vị thế của dòng họ Dương - Dòng họ lớn trong hành trình lập làng Hiền Lương

Xét về công đức khai phá, lập nên phường Hưng Long (興隆) tiêu biểu là hai ngài thuộc dòng họ Dương lớn: ngài Dương Phước Lộc và ngài Dương Phước Dã. Thế nhưng, thực tế phân bố các nhánh tộc phái hiện nay lại ghi nhận những dấu ấn rất đáng suy ngẫm: Tại La Vần (羅凡) hiện có hai nhánh họ Dương lập nhà thờ tộc tại đây. Theo Hiền Lương chí lược tân biên, phường La Vần (Truồng Vần) lại là phường hình thành muộn nhất, do xóm Văn Quán (文 quán) quản lý và lập nên dưới thời Nguyễn. Ngoài ra, tại phường Công Thành (功成) cũng có một nhánh họ Dương lập nhà thờ tộc tại đây.

Điều này làm nổi bật một thực tế lịch sử sâu sắc: Họ Dương vốn là một dòng họ lớn có công đức to lớn trong việc khai hoang, lập ấp và dựng làng Hiền Lương thuở ban đầu. Dù con cháu phân lưu tỏa rộng và có tới ba nhánh lập nhà thờ tộc tại các phường khác nhau, nhưng điều đáng chú ý là tại chính gốc làng Hiền Lương xưa lại không tồn lập một ngôi nhà thờ chính của dòng họ này. Sự phân bố ấy minh chứng cho tầm vóc vươn xa của dòng họ trong công cuộc mở đất, đồng thời gợi mở thêm những suy ngẫm về hành trình phân lưu của dòng họ và sự gắn bó với cội nguồn làng cũ.

 

d. Từ phường thành làng và sự chuyển hóa không gian cư trú, sinh kế

Sự mở rộng không gian của làng Hiền Lương luôn gắn liền với tiến trình phát triển sinh kế của cộng đồng. Ban đầu, một số gia đình đông con không theo nghề rèn truyền thống đã di cư đến các vùng gò đồi phía tây để lập nên các phường mới. Việc lập các phường này chịu sự chi phối chặt chẽ theo lệ làng và quan hệ huyết thống. Hằng năm, con cháu tứ xứ đều phải quay về tham dự các lễ lớn của họ làng. Do khoảng cách đi lại bất tiện, các phường như Hưng Long, Thượng Hòa từng đề nghị được lập làng mới, nhưng Hội đồng làng gốc không chấp thuận. Lý do là vì mỗi phường lúc bấy giờ chỉ có khoảng 20 hộ gia đình sinh sống trên vùng gò đồi, trong khi theo nguyên tắc cổ truyền, làng gốc phải duy trì sự chia sẻ rộng rãi cho các “đinh” trong toàn làng [1]

Tuy nhiên, với trường hợp Họ Hoàng của Thủy tổ Hoàng Khi đại lang lại khác. Từ đời thứ ba, hai ngài Hoàng Hùng và Hoàng Khắc đã khai canh và lập nên làng Cao Ban và làng Kế Môm. Hai vị này đều được sắc phong thần hoàng làng tại đây. Từ đó hình thành nên cộng đồng họ hoàng :”Hiền Cao Kế Đồng Tộc”




Mặc dù cư dân tại các phường mới lập chủ yếu chuyển sang làm nông nghiệp và không còn trực tiếp nhóm lò rèn như ở trung tâm Hiền Lương, kết quả khảo sát điền dã lại mang đến những thông tin bổ sung có giá trị. Nhiều gia đình người Hiền Lương khi lên lập nghiệp tại phường Công Thành vẫn duy trì ngọn lửa nghề rèn truyền thống. Theo chia sẻ của ông Hoàng Ngọc Chiến (69 tuổi, hậu duệ đời thứ 15 dòng họ Hoàng Ngọc), khoảng 20–30 năm trở lại đây, nhiều lò rèn tại đây đã từng bước chuyển đổi sang các cơ sở gia công cơ khí và hiện vẫn đang hoạt động mạnh mẽ. Chi tiết này cho thấy người Hiền Lương tại Công Thành không chỉ duy trì nghề rèn truyền thống mà còn từng bước tham gia vào các công đoạn luyện sắt sơ chế để chủ động nguồn nguyên liệu cho các lò rèn tại chỗ lẫn trung tâm làng.

Theo dòng thời gian, dẫu vẫn chịu sự chi phối của hương ước và lệ làng thuở ban đầu, nhưng khi cư dân ngày càng đông đúc, các cấp chính quyền qua từng giai đoạn lịch sử đã cho phép các phường này tách lập thành các làng, thôn mới, không còn lệ thuộc hành chính vào hương ước khép kín của làng Hiền Lương xưa. Đồng thời, các dòng họ tại những vùng đất mới cũng thiết lập nên hệ thống nhà thờ cho các chi phái tách ra từ họ gốc ở làng để tiện bề hương khói. Dù vậy, sợi dây kết nối với làng cũ, với huyết thống dòng họ và âm vang của tiếng búa rèn truyền thống chưa bao giờ phai nhạt trong mỗi dịp việc làng, việc họ hay ngày giỗ Tổ nghề rèn.



Bản độ mở rộng các phường và không gian sinh kế làng Hiền Lương xưa


Thay lời kết

Quá trình hình thành sáu phường của làng cổ Hiền Lương không chỉ phản ánh sự mở rộng không gian cư trú, mà còn ghi dấu hành trình khai phá bền bỉ của nhiều thế hệ tiền nhân. Từ những vùng đất hoang sơ được mở mang, các phường từng bước trở thành những cộng đồng dân cư ổn định, có đình, miếu, nhà thờ họ và các bậc Khai canh, Khai khẩn được triều đình sắc phong, được con cháu đời sau tôn kính như những vị Thủy tổ của từng vùng đất mới. 

Theo dòng thời gian, từ các phường ấy, nhiều khu vực tiếp tục phát triển thành các thôn, tổ dân phố như ngày nay. Dẫu địa giới hành chính đã nhiều lần thay đổi, những địa danh như Công Thành, Hưng Long, Thượng Hòa, Triều Dương, Khánh Mỹ, La Vần cùng các tên gọi song hành như Vĩnh Nẫy, Đất Thắm, Truông Vần vẫn được lưu giữ trong ký ức cộng đồng, trong gia phả các dòng họ, trong hệ thống sắc phong và trong đời sống thường nhật. Đó không chỉ là những địa danh trên bản đồ, mà còn là những lớp trầm tích lịch sử gắn liền với quá trình mở đất, lập làng của cha ông.

Điều đáng quý là, dẫu con cháu Hiền Lương hôm nay sinh sống, lập nghiệp ở nhiều nơi, truyền thống "ly hương bất ly tổ" vẫn luôn được gìn giữ. Mỗi dịp tế xuân thu, giỗ họ hay giỗ Tổ nghề rèn, nhiều người con xa quê vẫn trở về đình làng, từ đường dòng họ và Tổ đường nghề rèn để tưởng nhớ tiền nhân. Đó không chỉ là sự tri ân đối với các bậc Khai canh, Khai khẩn và Thủy tổ các dòng họ, mà còn là sự tiếp nối bền bỉ của truyền thống văn hóa và đạo lý uống nước nhớ nguồn.


Có thể nói, lịch sử sáu phường của làng Hiền Lương không chỉ là câu chuyện về sự hình thành các đơn vị cư trú, mà còn phản ánh quá trình mở đất, thích ứng và phát triển của một cộng đồng làng nghề truyền thống. Từ những bước chân khai hoang đầu tiên đến sự hình thành các phường, thôn và tổ dân phố ngày nay, tất cả đã góp phần tạo nên bản sắc riêng của Hiền Lương. Dẫu trải qua nhiều biến đổi của thời gian, cội nguồn quê hương, truyền thống dòng họ và Tổ nghề rèn vẫn luôn là sợi dây gắn kết các thế hệ người Hiền Lương ở mọi miền đất nước.


Ghi chú (1) Các số các bản sắc phong trong bài, dựa theo thứ tự các sắc phong trong Văn bản Hán Nôm Hiền Lương [2]

Tp. HCM tháng Tám năm 2026

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.      BÙI THỊ TÂN. Về nghề rèn truyền thống: Luyện sắt Phú Bài và Rèn Hiền Lương, tỉnh Thừa Thiên Huế. Luận án Tiến sĩ Lịch sử. Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội, 1996.

2.      DƯƠNG PHƯỚC THU và DƯƠNG THỊ HẢI VÂN. Văn bản Hán Nôm Hiền Lương. Huế: Nxb Thuận Hóa, 2013.

3.      HUỲNH HỮU HIẾN. Hiền Lương chí lược. Thừa Thiên Huế: Sở Văn hóa Thông tin Thừa Thiên Huế tái bản, 1991.

4.      HUỲNH HỮU HIẾN. Hiền Lương Chí lược. [s.l.]: [s.n.], 1962.

5.      THƯỢNG TỌA THÍCH TÍN NGHĨA. Hiền Lương chí lược tân biên. California, Hoa Kỳ: Nxb Đại Nam, 1993.

6.      Đỗ Minh Điền (2022),  Tìm hiểu tín ngưỡng thờ Khai canh, Khai khẩn ở một số làng xã vùng Huế, Trang văn nghệ Huế đăng ngày 27/01/2022, http://vannghehue.vn/tin-tuc/p0/c162/n3774/

 

 TRƯƠNG TAM PHONG

EMAIL: bsphong9999@gmail.com
READ MORE - HIỀN LƯƠNG SÁU XÓM, SÁU PHƯỜNG - Trương Tam Phong

XIN MÃI GỌI TÊN EM - Truyện ngắn: Lê Thi


  

XIN MÃI GỌI TÊN EM 

               Thân Tặng - T.T

 

     Có những cuộc tình không bắt đầu bằng những lời hứa lớn lao, cũng không cần những điều lãng mạn rực rỡ. Không cần những món quà đắt tiền, chỉ cần một tiếng gọi từ trái tim. Chúng đến rất khẽ và rung lên những nhịp thổn thức đồng điệu. 

Như một buổi chiều nắng rơi xuống sân trường. Như tiếng cầu lông chạm vợt giữa khoảng sân đất đỏ. Như ánh mắt chạm nhau rồi không rời đi nữa. 

Thành gặp Hương vào một mùa hè như thế. 

Anh vừa tốt nghiệp trường sư phạm và nhận công tác tại một ngôi trường vùng sâu, nơi con đường đất đỏ bụi mù mỗi mùa nắng và lầy lội mỗi mùa mưa. Nhiều người trẻ tìm cách rời đi, còn anh lại chọn đến. Ngôi trường nhỏ nằm giữa những rặng keo xanh dưới chân đồi, nơi người dân quanh năm trồng bắp và bí đỏ. Lũ học trò chân đất, áo sờn vai nhưng ánh mắt trong veo. Mỗi sáng, tiếng gọi “Thầy ơi!” vang lên khiến mọi vất vả trong anh tan biến. Anh yêu dải đất ven biển này hơn cả phố thị phồn hoa. 

Cách trường không xa là một tiệm may nhỏ. Chủ tiệm là Hương, một cô gái vùng quê có đôi mắt hiền, giọng nói nhẹ nhàng và nụ cười ấm áp như nắng cuối ngày. Cha cô bán cà rem dạo, mẹ bán hàng nước ven đường. Cuộc sống nghèo khó, nhưng họ luôn dạy con gái sống tử tế và biết yêu thương mọi người. Lớn lên trong thiếu thốn, Hương mở một tiệm may nhỏ để mưu sinh. 

Ban đầu họ chỉ là những người hàng xóm biết mặt. Cho đến một buổi chiều trên sân cầu lông của xã. 

- Thầy giáo có biết chơi không?

Hương cười hỏi. 

- Biết chút chút thôi.

-Vậy đánh thử một trận thầy nha. 

-Nếu em thua phải đi ăn chè với thầy nhé? 

-Dạ thầy .

 

Trận cầu đầu tiên bắt đầu như thế.

 

Không ai ngờ từ một buổi chiều bình thường, cuộc đời họ lại gắn chặt với nhau. Chiều nào tan trường, Thành cũng ghé sân cầu lông. Hương luôn ở đó. Tiếng cười của họ vang lên giữa khoảng trời quê bình yên. Người trong xã bắt đầu trêu: 

- Cô thợ may với thầy giáo đẹp đôi quá.

Hương đỏ mặt. Thành chỉ cười. Nhưng trong lòng anh, một tình cảm dịu dàng đã âm thầm lớn lên.

 

Thành đã có những năm tháng xa quê, xa cha mẹ. Anh luôn khát khao một mái ấm gia đình để cuộc sống phương xa không còn cô đơn. Dù gia cảnh Hương không khá giả, anh chưa từng bận tâm. Anh từng từ chối nhiều đồng nghiệp, bởi tin rằng điều quý giá nhất của đời người là tìm được một người đồng hành chân thành. Anh đã chia tay một tiểu thư con “Tổng cục trưởng” đang đương chức.. Anh quan niệm hôn nhân phải có một tình yêu thực sự mới bền vững.

 

Một buổi chiều cuối hạ, sau trận cầu kéo dài đến khi trời tối, Hương chợt hoảng hốt: 

- Dây chuyền của em đâu rồi?

Đó là kỷ vật cuối cùng mẹ cô để lại. Cả sân rộng chìm trong bóng tối. Ai cũng nghĩ không thể tìm lại được. Nhưng Thành chạy về lấy đèn pin rồi quay lại. 

- Anh sẽ tìm giúp em.

Đêm ấy anh lội khắp cánh đồng, soi từng bụi cỏ, từng mô đất. Gần nửa đêm, ánh đèn pin phản chiếu một tia sáng nhỏ. 

- Tìm thấy rồi!

Hương bật khóc khi nhận lại sợi dây chuyền. Đó không chỉ là món trang sức, mà còn là ký ức của mẹ, là một phần tuổi thơ của cô. Từ khoảnh khắc ấy, trái tim hai người thật sự thuộc về nhau. Hương đứng lặng để anh đeo sợi dây vào cổ, Thành nghe rõ từng nhịp đập từ trái tim cô và mùi hương của tóc.

 

Bốn năm sau, họ tổ chức đám cưới. Không xa hoa lộng lẫy nhưng đủ đầy niềm vui. Bà con lối xóm, đồng nghiệp và học trò đến chúc phúc đông vui. Nhiều người bất ngờ khi Thành chọn Hương bởi anh từng có cơ hội quen biết những cô gái xuất thân từ gia đình danh giá. Nhưng với anh, tình yêu chân thành luôn đáng quý hơn mọi điều kiện vật chất.

 

Trong chiếc áo dài trắng do chính tay mình may, Hương bước đến bên người đàn ông của đời mình. 

- Anh nhìn gì vậy?

- Nhìn người anh muốn cô học trò theo thầy mãi những mùa hoa phượng.

Nụ cười của Hương hôm ấy theo anh suốt cả cuộc đời.

 

Những năm tháng sau đó là hành trình đầy yêu thương nhưng cũng không ít khó khăn. Đồng lương giáo viên ít ỏi. Sau giờ dạy, hai vợ chồng chạy chiếc xe Dame chở chuối từ xã khác về làm kem chuối bán thêm cho học sinh. Thành mua dê, mua bò, gửi người dân nuôi ăn chia. Anh trồng tràm bông vàng với ước mơ một ngày thu hoạch đủ tiền mua chiếc Dream II, niềm mơ ước của biết bao thanh niên những năm 1990. Tiệm may của Hương khi đông khách, khi vắng khách. Nhiều đêm hai vợ chồng ngồi tính toán từng đồng chi tiêu, nhưng chưa bao giờ than trách số phận. Họ tin rằng chỉ cần đồng lòng thì sẽ vượt qua tất cả.

 

Rồi hai người con lần lượt ra đời. Một trai, một gái. Ngôi nhà nhỏ lúc nào cũng đầy tiếng cười. Ban ngày, Thành đứng lớp; tối về phụ vợ làm sinh tố, cắt may, dạy thêm. Hương vừa may đồ vừa kèm con học bài. Cuộc sống tuy vất vả nhưng ấm áp và hạnh phúc.

 

Năm tháng trôi qua. Con trai chuẩn bị tốt nghiệp ngành Dược, con gái bước vào cấp ba. Gia đình đứng trước một ngã rẽ lớn. Năm 2019, sau mười bốn năm chờ đợi, họ sang Mỹ định cư theo diện bảo lãnh.

 

Ngày rời quê, hai người đứng rất lâu trước ngôi trường cũ. Hàng phượng vẫn đỏ, những chiếc ghế đá, nơi in dấu hai người đã qua bao mùa mưa nắng. 

- Anh có tiếc khi chia tay nghề giáo không?

Thành im lặng hồi lâu rồi khẽ nói: 

- Có chứ. Nhưng ở đâu có em thì ở đó là nhà.


Những ngày đầu nơi đất khách đầy thử thách. Từ một người thầy giáo có công việc ổn định, có nhà cửa ở quê hương, nay anh cùng gia đình sống trong căn hộ nhỏ chỉ khoảng bốn mươi mét vuông. Các con vừa học vừa làm. Thành làm nhiều nghề để mưu sinh. Mỗi ngày là một lần bắt đầu lại. Nhưng rồi thời gian cũng mỉm cười với những người biết cố gắng, tràn đầy nghị lực. 

Sau sáu năm, cả gia đình ổn định cuộc sống. Họ mua được nhà riêng trong khu Villa Court. Các con thành đạt, hiếu thảo và luôn ở bên cha mẹ. Con trai mua nhà gần nhà cha mẹ. Con gái cuối tuần nào cũng đưa các cháu đến chơi. Ngôi nhà nơi xứ người lúc nào cũng rộn vang tiếng cười.

 

Sau bao năm vất vả, Thành và Hương bắt đầu thực hiện những chuyến đi mà tuổi trẻ chưa từng dám nghĩ đến. Họ ngắm mùa thu vàng ở Bắc Mỹ, câu cá trên vùng Ngũ Hồ lộng gió, ngắm hoa anh đào nở rực ở Washington và thăm lại những học trò cũ ở khắp các tiểu bang. 

Rồi một ngày, họ cùng nhau đặt chân đến châu Âu. Buổi sáng ở Paris, hai người ngồi bên quán cà phê nhỏ nhìn dòng người đi dưới những hàng cây cổ thụ. Tháp Eiffel hiện lên giữa bầu trời xanh như một bức tranh. Hương mỉm cười: 

- Hồi trẻ em đâu dám nghĩ có ngày mình ngồi ở đây. Em chưa dám nghĩ mình bước khỏi lũy tre làng.

Thành nắm nhẹ tay vợ: 

- Anh cũng vậy. Nhưng có lẽ hạnh phúc không phải là mình đi được bao xa, mà là người đi cùng mình là ai.

Ở Venice, hai người ngồi trên chiếc thuyền gondola trôi qua những con kênh cổ kính. Ánh chiều vàng phủ lên những mái nhà hàng trăm năm tuổi. Hương tựa đầu lên vai chồng như cô gái ngày nào trên sân cầu lông năm ấy. Họ lại nhớ những ngày tháng đi du thuyền trên sông Hương ngắm chùa Thiên Mụ, cầu Tràng tiền những dịp về thăm quê ngoại. 

Tại Thụy Sĩ, họ đứng trước những dãy núi phủ tuyết trắng. Những đồng cỏ xanh trải dài đến tận chân trời. Thành lặng người trước vẻ đẹp thiên nhiên kỳ vĩ rồi quay sang nhìn vợ. 

- Cảnh đẹp thật.

- Dạ đẹp. 

- Nhưng vẫn không đẹp bằng người ngồi cạnh anh hơn bốn mươi năm qua. 

Hương bật cười, nụ cười vẫn dịu dàng như thuở nào.  Không chỉ đi du lịch, hai vợ chồng còn tham gia các hoạt động thiện nguyện. Họ góp tiền xây giếng nước cho trẻ em nghèo, giúp học sinh khó khăn ở quê nhà, hỗ trợ người già neo đơn. Thành làm thơ, viết báo, in sách tặng thư viện vùng cao. 

Anh thường nói với các con: 

- Tiền bạc chỉ thật sự có ý nghĩa khi giúp được người khác.

Những năm tháng tuổi già trôi qua bình yên. Mỗi sáng cùng nhau uống trà. Mỗi chiều dạo bộ dưới hàng cây vàng lá. Mỗi cuối tuần quây quần bên con cháu. Nhìn con trai thành đạt, con gái hạnh phúc và những đứa cháu khỏe mạnh lớn lên, hai người hiểu rằng mọi nhọc nhằn năm xưa đều xứng đáng.

 

Một buổi chiều mùa thu, ánh nắng vàng phủ kín khu vườn sau nhà. Hương tựa đầu lên vai chồng. 

- Anh còn nhớ sân cầu lông ngày xưa không?

- Nhớ chứ.

- Nếu hôm đó em không rủ anh đánh cầu thì sao?

Thành bật cười. 

- Thì anh vẫn tìm cách gặp em.

Nụ cười của Hương vẫn hiền như ngày nào. Sau hơn bốn mươi năm chung sống, bàn tay ấy vẫn nằm trong tay anh. Họ đã đi qua nghèo khó, đi qua những tháng ngày gian nan, đi qua hai bờ đại dương để làm lại từ đầu. Và giờ đây, họ đang tận hưởng mùa vàng của hạnh phúc. 

Những hạt giống yêu thương gieo từ tuổi trẻ cuối cùng đã đơm hoa kết trái. Con cháu sum vầy. Gia đình trên thuận dưới hòa. Dâu hiền, rể thảo. Tuổi già an yên.

 

Chiều xuống thật chậm. Những dải nắng cuối ngày trải như chiếc khăn lụa vàng trên sân vườn. Thành nắm chặt tay Hương. Hai người cùng nhìn đàn cháu đang chạy nhảy dưới nắng. Không ai nói gì. Nhưng cả hai đều hiểu. 

Điều đẹp nhất trong cuộc đời một người thầy giáo vùng sâu không phải là những thành công hay những chuyến đi xa. Mà là ngày năm ấy, giữa sân cầu lông nhỏ của quê nghèo, anh đã gặp cô gái mang tên Hương. 

Người đã cùng anh đi hết một đời. 

Trong phòng khách, chiếc máy may hiệu Con Bướm và đôi vợt cầu lông được đặt ở nơi trang trọng nhất. Như lưu giữ một thời tuổi trẻ. Như nhắc nhớ về những ngày gian khó đã qua. Và như minh chứng rằng tình yêu chân thành, nếu được gìn giữ bằng sự hy sinh và tử tế, nhất định sẽ cho một mùa quả ngọt.

Lê Thi

         thivanle1569@gmail.com

READ MORE - XIN MÃI GỌI TÊN EM - Truyện ngắn: Lê Thi