 |
| Vương Hoài Uyên |
Có những văn sĩ
sinh ra để viết, nhưng không phải lúc nào cũng được sống trọn vẹn với đam mê.
Hành trình đời chị là hành trình của một người phụ nữ đi qua chiến tranh, qua
biến thiên thời cuộc, qua những dâu bể riêng tư để rồi cuối cùng trở về trọn vẹn
với văn chương. Nhà thơ, nhà văn Vương Hoài Uyên là một người như thế. Sự nghiệp
văn chương của chị không ồn ào, không vội vã, mà âm thầm như dòng sông chảy dưới
lòng đất, để rồi khi gặp được không gian tự do, nó tuôn trào thành những tác phẩm
đầy sức hút.
1. Vương Hoài Uyên
từ một cô giáo dạy Văn đến một cây bút văn xuôi sắc sảo, một nhà thơ rất “chất”.
Chị đến với thơ
rất sớm. Trước 1975, thơ chị đã xuất hiện trên các tạp chí như Khởi Hành, Thời
Nay, Tuổi Ngọc… Nghĩa là chị làm thơ từ hồi còn học sinh, sinh viên. Nhưng có một
quãng thời gian các sáng tác của chị không xuất hiện vì một lý do riêng. Nhưng
niềm đam mê văn chương chưa khi nào thôi khắc khoải, vẫn âm ỉ cháy như ngọn lửa
nồng đượm dưới lớp tro. Và khi hoàn toàn tự do, được sống với niềm đam mê, chị bắt
đầu xuất bản dồn dập, mãnh liệt như để bù đắp cho những năm tháng im lặng: Mùa
trăng cũ (2009),Đèn thức cho ai (2014), Giọt nắng cuối ngày (2014), Ranh giới
mong manh (2018), Khi loài gấu ngủ đông (2020), Điệu valse mùa cũ (2020), Điệu
valse mùa cũ (2020), Miền gió gọi (2023). Một chuỗi tác phẩm dày dặn như thế
cho thấy sức viết bền bỉ và nguồn cảm xúc chưa từng cạn. Qua sự nghiệp sáng tác
của Vương Hoài Uyên, có thể dựng lên một chân dung văn học nhất quán: một tâm hồn
lãng mạn, nhiều hoài niệm, giàu nữ tính, giàu nhân ái và mang nỗi buồn mang tên
“thời gian”. Có thể thấy, ngay từ những sáng tác đầu đời, Vương Hoài Uyên đã bộc
lộ khả năng cảm thụ sâu sắc văn học cổ điển và khả năng chuyển tải những cảm
xúc phức tạp thành những vần thơ giàu nhạc tính.
2. Chị bước vào
đời bằng bảng đen phấn trắng và bước vào văn chương bằng một vầng trăng không
bao giờ tắt. Từ Quảng Ngãi, học hành, trưởng thành ở Huế, dạy học ở Đà Nẵng, đến
sống tại Sài Gòn và cuối cùng là định cư tại Hoa Kỳ. Hành trình đời chị là hành
trình của ký ức, của những mùa chia xa và của nỗi buồn được chưng cất thành thi
ca.
Vương Hoài Uyên,
tên thật Trần Thị Minh, quê ở Quảng Ngãi, ban đầu học Đại học Văn Khoa Sài Gòn.
Khi chuyển ra Huế, chị vừa học Đại học Sư phạm vừa tiếp tục học Đại học Văn
khoa. Năm 1972, tốt nghiệp thủ khoa ĐHSP, được chọn nhiệm sở, chị về dạy tại trường nữ THPT Hồng Đức, Đà Nẵng. Khi nghỉ hưu, chị sống tại TP.HCM (15 năm) và từ năm
2017 định cư ở Denver, Colorado (Hoa Kỳ) đến nay đã gần mười năm.
Quay ngược thời
gian, từ cô sinh viên văn khoa & sư phạm xinh đẹp (quả thật chị có đôi mắt
rất đẹp và buồn, bạn bè đồng trang lứa của chị cũng từng nhận xét như thế) trở
thành cô giáo tận tụy với nghề, thương yêu học sinh đã in đậm trong tâm trí bao
thế hệ học trò. Và chính môi trường ấy cũng nuôi dưỡng tâm hồn văn chương của
chị, để rồi những bài thơ đầu đời ra đời từ những đêm trăng sáng trong vườn
nhà, từ những rung động của tuổi "trăng tròn mộng mơ".
Nhưng cuộc đời
không bằng phẳng như những trang sách. Chiến tranh, biến động, rồi những hoàn cảnh
riêng bất khả kháng đã khiến chị phải tạm ngưng sáng tác trong một thời gian
dài. Chị từng tâm sự với tôi — một người em cùng là dân học văn và cùng sở thích
ham mê đọc sách. Chúng tôi có mối đồng cảm đặc biệt. Hơn ai hết, Vương Hoài
Uyên hiểu nỗi đau của người nghệ sĩ khi không được sống với đam mê. Nhưng chị
“cũng bắt chước mùa đông/ Tập bao dung trước nỗi đau cuộc đời bỏ lại.”
3. Thơ Vương
Hoài Uyên -Miền ký ức của trăng, mùa và thời gian
Trong tập Mùa
trăng cũ là một hành trình xuyên suốt từ tuổi mới lớn đến "hơn nửa đời người".
Tự khúc I mang dấu ấn của “văn học một thời”. Hành trình văn chương của Vương
Hoài Uyên là một sự tiếp nối bền bỉ. Bằng trải nghiệm sống của mình, chị biết
lưu giữ quá khứ, trân trọng từng dấu ấn của tuổi trẻ. Chị không ngại đưa vào những
bài thơ sáng tác từ 1966 đến 1980, với cách diễn đạt tươi mới, hồn nhiên nhưng
không kém phần sâu sắc. Dù có người cho rằng “quá cũ”. Nhưng chính sự “cũ” ấy lại
làm nên giá trị. Đó là giọng điệu văn học của một thời còn vang bóng, với cách
diễn đạt trang trọng, tiết chế và đậm chất cổ điển.
"Muộn màng
biết mấy chàng Kim/Mười lăm năm mới đi tìm cố nhân/ Biết Kiều trôi dạt phong trần/
Mà sao người vẫn cầm đàn nỉ non"
(Đọc Kiều)
Chị đối thoại với
Truyện Kiều, nhưng thực chất là đối thoại với thân phận người phụ nữ. Thúy Kiều
và Mị Châu hiện về như những biểu tượng của “tấm thân gái nỗi đau đời chìm nổi”.
Đó cũng là sự đồng cảm với phận người: Chị nhìn vào văn học cổ điển (Kiều, Mị
Châu) để xót xa cho thân phận "bên hiếu bên tình". Ở đây, ta nhận ra
Vương Hoài Uyên không chỉ hoài niệm cá nhân mà còn ý thức sâu sắc về lịch sử và
văn hóa dân tộc.
Những vần thơ viết
về Mị Châu đầy ám ảnh:
"Này giếng
Ngọc trong lành như nước mắt/ Hồn Mị Châu nghi ngút khói hương vàng/ Tấm thân
gái nỗi đau đời chìm nổi/ Bên hiếu, bên tình một kiếp đa đoan"
(Bài ca xanh)
Nỗi nhớ trường
xưa, bạn cũ thể hiện trong nhiều tập thơ của Vương Hoài Uyên. Hoài niệm là mạch
nguồn xuyên suốt trong thơ. Từ “Mùa trăng cũ” đến “Miền gió gọi”, thơ chị là tiếng
gọi của ký ức.
“Ơi bè bạn của
thời xa xưa ấy/ Nay về đâu? Tan tác mấy phương trời/ Sông khô cạn cũng như người
ly tán/ Ta níu làm sao được tháng năm trôi”
(Qua sông)
Vương Hoài Uyên
viết về trường lớp, bạn bè, thầy cô với tất cả nỗi nhớ thương da diết. Những
bài thơ (Tặng bạn học lớp 10 C Trung học Cường Để Quy Nhơn năm1966-1967) hay những
vần thơ viết khi trở lại trường cũ đều chất chứa một nỗi niềm khôn tả:
"Trường cũ
xa rồi thuở ra đi/ Bỏ lại sau lưng một khoảng trời thơ dại
Ta trở về đây nửa
đời ngoảnh lại/ Chỉ thấy cuối chân trời một khoảng tím mênh mang"
(Nửa đời ngoảnh
lại)
Chữ "tím
mênh mang" trong thơ chị không chỉ là một màu sắc, mà còn là cả một không gian
hoài niệm, nơi ký ức ùa về với tất cả những gì đẹp đẽ nhất của tuổi học trò.
Màu “tím” ở đây cũng là màu tím của chiều tà, của hoàng hôn đời người, của nỗi
buồn không thể gọi tên.
Và nỗi đau khi
có bạn đã không còn hiện diện trên dương thế càng làm cho những vần thơ thêm phần
thấm thía về sự hữu hạn của kiếp người.
"Trường cũ
xa rồi bạn cũ ra đi/ Mỗi đứa dạt một phương trời xa lắc
Có đứa bây giờ nằm
yên dưới đất/ Hơn nửa đời quay quắt nhớ trường xưa"
(Nửa đời bỗng nhớ)
Nỗi nhớ trường
xưa, bạn cũ, mẹ già… trong những bài như: "Nghe tiếng trống bãi trường",
"Nửa đời ngoảnh lại", tạo thành một “miền ấu thơ” bất khả hồi sinh.
Đọc thơ Vương
Hoài Uyên, người đọc dễ dàng nhận ra một giọng điệu buồn, nhưng không phải thứ
buồn bi lụy, tuyệt vọng. Đó là nỗi buồn trong trẻo, có phần lãng mạn của người
phụ nữ từng yêu, từng đau và từng vượt qua tất cả để sống tiếp. Chị chiêm nghiệm:
"Trong ánh trăng huyễn hoặc đó là những vần thơ buồn nhiều hơn vui, đau khổ
nhiều hơn hạnh phúc." Chị mượn lời Thúy Kiều "Tẻ vui âu cũng tính trời
biết sao" để lý giải cho những vần thơ buồn nhiều hơn vui của mình. Đó là
nỗi buồn của một trái tim luôn thao thức, từ tiếng gà trưa lẻ loi đến vầng
trăng xế chiều.
Tình mẫu tử
thiêng liêng trong thơ Vương Hoài Uyên. Hình ảnh người mẹ hiện lên thật giản dị
mà lớn lao. Bài thơ "Gửi mẹ" làm rung động trái tim người đọc:
"Mẹ không
còn nữa vườn xưa vắng/ Con về đứng lặng dưới hàng cây/ Lẻ loi một tiếng gà
trong nắng/ Xao xác vườn hoang nắng cuối ngày"
Không cần những
từ ngữ hoa mỹ, chỉ với hình ảnh "đứng lặng dưới hàng cây" và "tiếng
gà trong nắng", Vương Hoài Uyên đã vẽ nên bức tranh chiều tà đầy ám ảnh,
nơi nỗi nhớ mẹ hòa vào không gian vắng lặng, xao xác.
Tập thơ “Đèn thức
cho ai” - nỗi buồn của thi nhân đi qua yêu thương
Nếu “Mùa trăng
cũ” là tiếng nói của tuổi trẻ và trung niên, thì “Đèn thức cho ai” là ánh đèn
khuya của một thi nhân giàu trải nghiệm sống. Trong “Đèn thức cho ai”, người phụ
nữ hiện lên với chờ đợi, yêu thương, hy sinh:
“Anh có về kẻo
muộn mất mùa xuân
…
Em đếm ngày qua
trong từng hơi thở”
Nhưng đồng thời
cũng tự ý thức về nỗi cô đơn: “Đợi đông về chắc mùa đông hiểu thấu/ Ta ôm vai
mình nhung nhớ một vòng tay” (Gõ cửa mùa đông)
“Anh bây giờ xa
lắc/ Em vẫn là em xưa/ Về ngang con phố cũ/ Nhớ thương mấy cho vừa”. (Bây giờ
nơi xa ấy)
Thơ chị đầy những
câu hỏi không lời đáp: “Chẳng còn gì phải không anh?…
Nỗi buồn trong
thơ chị bảng lảng khói sương. Đó là nỗi buồn của người đã đi qua những vui buồn,
mất mát, nuối tiếc và thương đau.
Trong tập thơ
"Đèn thức cho ai" chị tiếp tục viết về mẹ với những hình ảnh giản dị
mà thấm thía:
"Mẹ ngồi
khâu áo ngoài hiên/ Mũi kim khâu cả bao niềm đắng cay"
(Mẹ tôi)
Một câu thơ ngắn
mà chứa đựng cả một trời thương nhớ - "Mũi kim khâu cả bao niềm đắng
cay" - vừa tả thực công việc của mẹ, vừa ẩn dụ cho những nhọc nhằn, hy
sinh mà mẹ đã trải qua.
Những bài như:
"Muốn", "Mùa nhớ" cho thấy khát vọng ẩn náu và nữ tính
trong thơ chị không bộc phát dữ dội mà mềm, sâu và thẳm.
"Muốn làm
con ốc nhỏ/ Dạt trôi trên biển đời/ Chui sâu vào góc vỏ/ Nghe nỗi buồn chơi
vơi”
Hai tập thơ
“Ranh giới mong manh” và “Khi loài gấu ngủ đông” mang triết lý của mùa đông
và lòng bao dung.
Ở giai đoạn sau,
giọng thơ chậm hơn, suy tư hơn.
Mùa đông trở thành ẩn dụ lớn: “Em cũng bắt chước mùa đông/ Tập bao dung trước nỗi đau cuộc đời bỏ lại/ Biết vùi lấp và chôn vùi mãi mãi/ Những tàn tro đời đã phủ lên mình"… Điều đáng quý ở Vương Hoài Uyên là sự bao dung, vị tha. Trong tập
thơ "Khi loài gấu ngủ đông".“Bao dung” đó là từ khóa. Không oán
trách, không bùng nổ, chị chọn cách vùi lấp tro tàn và sống tiếp. Chọn cách tha
thứ cho những nỗi đau mà cuộc đời để lại.
“Miền gió gọi” là tiếng thơ của người sống xa quê hương. Định cư ở Mỹ, thơ chị mở thêm một không
gian mới, mang thêm một tầng nghĩa mới: Trong “Miền gió gọi” và “Khi loài gấu ngủ
đông”, ta bắt gặp Houston, Denver, Melbourne…
“Ôi Houston cho
ta một chút nắng Sài Gòn…”/ “Trời Denver tháng chín lá chưa vàng”
Dẫu cuộc sống
bên người thân, cũng có bạn bè, tuy nhiên, vẫn phảng phất nỗi buồn của người xa
xứ. "Trong nắng vàng có chút gió mùa buôn buốt”
Trên những dặm
đường du lịch hay thăm thú, mỗi địa danh đi qua đều để lại dấu ấn trong các
sáng tác của Vương Hoài Uyên. Sự thú vị trước cảnh sắc quê người, sự ngỡ ngàng
trước xứ lạ, liên tưởng đến quê hương, và cả nỗi nhớ của người xa quê đã đi vào
thơ chị một cách tự nhiên, sâu lắng:
"Đất
Meibourne/ Nào phải đất quê ta/ Sao nghe tiếng cu gù thân thuộc quá/ Ta chợt ngỡ
mình không là khách lạ/ Mà ngỡ như mình đang ở giữa vườn xưa"
(Giã từ
Meibourne)
Hay:
"Qua chợ Hồng
Kông thấy tà áo dài tha thướt/ Chợt nao lòng như thấy bóng quê hương"
(Ơi Houston)
Những câu thơ
như nỗi nhớ của người xa xứ, luôn kiếm tìm những mảnh nhỏ quê hương trong cuộc
sống mới. Một chút nắng, một bóng áo dài, một tiếng cu gù cũng đủ làm nao lòng
người lữ khách.
Denver, Houston,
Melbourne… là những địa danh trên bước đường xê dịch, nhưng linh hồn vẫn quay về
“vườn xưa”. Thơ chị không ồn ào về thân phận tha hương mà là nỗi chông chênh lặng
lẽ: “Chợt thương mình như lữ khách lang thang.”
Ở đây, chân dung
Vương Hoài Uyên hiện lên rõ nét: một người phụ nữ luôn mang quê hương trong ký ức.
Trong các tập
thơ sau này, đặc biệt là "Ranh giới mong manh" "Khi loài gấu ngủ
đông" và “Miền gió gọi” Vương Hoài Uyên thể hiện một chiều sâu trí tuệ,
chiều sâu nội tâm trong tư duy thơ. Đó là những chiêm nghiệm về cuộc đời, về
tình yêu và về sự cô đơn của người nghệ sĩ.
Bài thơ “Muốn”
trong tập “Đèn thức cho ai” thể hiện khát vọng được sống một cuộc đời khác, dù
chỉ trong khoảnh khắc:
"Muốn làm hoa quỳnh
nhỏ/Đời ngắn ngủi một đêm/Tỏa hương cùng mây gió/ Giấu nỗi buồn trong tim”
Hình ảnh “hoa quỳnh
nhỏ” chỉ nở một đêm - đó là ẩn dụ cho kiếp người mong manh, nhưng vẫn muốn tỏa
hương, vẫn muốn sống trọn vẹn dù chỉ trong phút giây ngắn ngủi.
Bài thơ “Trở lại
Sài Gòn” trong tập “Đèn thức cho ai” có lẽ là một trong những bài thơ ám ảnh nhất
của Vương Hoài Uyên. Chỉ với vài dòng ngắn ngủi, hiện lên sự thiếu vắng, tiếc
nuối cả một đời với những mất mát của thời gian không thể bù đắp được.
“Chẳng còn gì/
Thời gian chẳng đợi ai/ Mọi thứ đều trôi về quá vãng
...
Sài Gòn hơn bốn
mươi năm sau/ Cô gái ngày xưa giờ trở thành góa phụ/ Âm thầm đi qua những con
đường xưa cũ/ Gọi thời gian về lại trái tim mình”
Thời gian trong
thơ Vương Hoài Uyên là dòng chảy không cưỡng lại. Tình yêu, tuổi xuân, mái tóc,
bạn bè — tất cả trôi về “quá vãng”. “Cô gái ngày xưa giờ trở thành góa phụ." Đó
là sự chấp nhận quy luật nghiệt ngã của thời gian. Hình ảnh "cô gái ngày
xưa” đi qua những con đường xưa cũ, âm thầm "gọi thời gian về lại trái tim
mình" - đó là nỗi đau của người phụ nữ khi đối diện với quá khứ và hiện tại,
khi tuổi trẻ đã qua, cha mẹ đã mất, chỉ còn lại những kỷ niệm và nỗi nhớ.
Bài thơ “Một
mình với cỏ” thể hiện triết lý sống giản dị mà sâu sắc. Đó là phẩm chất của người
phụ nữ từng đi qua chiến tranh, dâu bể, ly tan nhưng không đánh mất lòng nhân hậu.
Có thể nói “Một mình với cỏ” là tuyên ngôn sống: Chị nhìn vào cỏ cây để thấy sự
kiên cường. Đây là vẻ đẹp của sức sống vượt qua mọi trở lực.
“Vô tư như phận
cỏ/ Dẫu đời không nâng niu/ Người khinh thường giẫm đạp/ Vẫn xanh trong bóng
chiều”
Phận cỏ - nhỏ bé,
khiêm nhường, nhưng vẫn xanh, vẫn sống, bất chấp “người khinh thường giẫm đạp”.
Đó chẳng phải là hình ảnh của con người kiên cường. Trải qua bao thăng trầm, mất
mát, vẫn giữ được tâm hồn trong sáng, vẫn “xanh trong bóng chiều". Hiện ra
thân phận người phụ nữ mong manh mà đầy kiêu hãnh. Hoài niệm trong thơ Vương
Hoài Uyên không chỉ là nhớ người, nhớ mẹ, nhớ trường xưa mà còn là nhớ chính
mình của một thời đã mất.
Không gian xứ
người trong thơ chị không chỉ là địa lý mà còn là tâm trạng. Đó là sự chênh vênh giữa
quá khứ và hiện tại, giữa quê nhà và nơi ở mới.
Thơ chị vì thế
mang sắc thái của một người “đứng giữa ranh giới mong manh” – giữa mùa đông và
mùa xuân, giữa hiện thực và hồi ức, giữa còn và mất. Càng về sau, thơ chị càng
tĩnh lặng và bao dung. Trong khi loài gấu ngủ đông, chị học cách sống lạc quan
khi phải đi qua những thăng trầm dâu bể của đời người: “Mỏi mòn một kiếp rong
chơi/ Dừng chân đứng lại nửa đời xuân xanh”.
Vương Hoài Uyên
từng viết: "Ta mơ làm trò nhỏ / Theo cánh diều ngẩn ngơ" - có lẽ đó
cũng là hình ảnh của thi nhân luôn mơ mộng, luôn bay bổng cùng những cánh diều
văn chương, bất chấp tuổi tác, bất chấp không gian và thời gian. Và chúng ta,
những người đọc, may mắn được cùng chị thả hồn theo những cánh diều ấy, để thấy
cuộc sống này đẹp hơn, đáng sống hơn qua từng trang viết đầy yêu thương.
“Bao năm rồi trở
lại/ Vắng đi bao nhiêu người/ Đời qua như nước chảy/ Bao nỗi niềm buông xuôi/ Một
mình ta đứng đó/ Chơ vơ trong cõi đời/ Bạn bè giờ lưu lạc/ Đã xa rồi cuộc chơi”
(Vườn xưa)
Nhưng với Vương
Hoài Uyên, “cuộc chơi” văn chương vẫn tiếp diễn. Ở tuổi xế chiều, giữa Denver
xa xôi, chị vẫn viết, vẫn sáng tạo (cộng tác với những tờ báo của người Việt ở
Mỹ như Tạp chí Trẻ (Dallas - Texas ), Văn học Việt ( Florida), Báo Người Việt,
Phụ nữ California (California), "Newviettart.com ( Pháp )...và vẫn gửi về quê hương những vần
thơ, trang văn thấm đẫm tình người. Đó là món quà vô giá mà chị dành tặng cho
những ai yêu quý văn chương và trân trọng những giá trị nhân văn cao đẹp.
Trong 5 tập thơ
của Vương Hoài Uyên có những vần thơ thiêng liêng dành cho mẹ, thơ về tình thầy
trò, tình bạn và cả những nỗi cảm thông sâu sắc với những phận đời thời covid,…
Nhưng dung lượng chiếm phần lớn là mảng thơ tình. Thơ tình của Vương Hoài Uyên
rất ngọt ngào, lãng mạn, có chiêm nghiệm về thời gian và phận người.Thơ thấm đẫm
nỗi niềm của một người đi qua đủ vui buồn của hạnh phúc và khổ đau, có nuối tiếc
chia xa của mối tình dang dở. Ở đó có nghịch lý của yêu thương: “Dẫu vẫn biết
thời gian không đủ rộng/ yêu một ngày mất một đời để quên” gợi cảm thức sâu sắc
về độ dài của ký ức so với khoảnh khắc yêu thương.
Ở đó, thời gian
không chỉ là bối cảnh mà còn trở thành lực lượng âm thầm thử thách trái tim. Thời
gian trong thơ chị không đủ rộng để níu giữ, con người dường như sinh ra đã chậm
trễ với chính hạnh phúc của mình. Hình ảnh mùa thu không chờ ai, tình cũng thế,
gợi lên sự xa vắng và những lần lỡ hẹn định mệnh:
“Đâu phải chỉ lần
này ta suốt đời chậm trễ/ Mùa thu đâu chờ ta và tình yêu cũng thế! Đã bao lần lỡ
vuột khỏi tầm tay" (Đi về phía tàn phai).
Hình ảnh “suốt đời
chậm trễ” cho thấy nỗi tự vấn, tiếc nuối trước những lần lỡ hẹn với hạnh phúc.
“Mùa thu đâu chờ
ta và tình yêu cũng thế” là một cách so sánh giản dị mà thấm thía về sự tàn phai tất
yếu.
Khi viết: “Người
về cõi ấy xa xôi/để ta trôi giữa biển đời mênh mông” (Còn lại) , thơ chị chạm đến
nỗi cô đơn tận cùng của chia biệt. “Em trở về cùng năm tháng đi qua/ chợt hoảng
hốt khi trăng đời đã xế/ hồn đắng nghẹn trước bao điều dâu bể/ ngẩn ngơ tìm một
nửa mảnh trăng xưa” (Mùa trăng cũ).
Khi một người “về
cõi ấy”, người ở lại lạc lõng trôi giữa biển đời, một nỗi cô đơn bao trùm. Đến
“Mùa trăng cũ”, thời gian hiện ra đầy ám ảnh qua hình ảnh “trăng đời đã xế”,
khiến lòng người hoảng hốt và đắng nghẹn trước bao điều dâu bể.
Hình ảnh “một nửa
mảnh trăng xưa” gợi khát vọng tìm lại phần yêu thương đã khuyết. Đây là một
phát hiện đầy tính thơ, vừa là hiện thực của sự khuyết thiếu, vừa là khát vọng
vĩnh cửu được hàn gắn. Hành trình tình yêu của chị ẩn chứa những mất mát, sự
tan vỡ và những nỗi đau thầm lặng. Nhưng trên tất cả, giọng thơ vẫn giữ được sự
dịu dàng, không oán trách, không hờn giận. Thơ buồn mà đẹp! Tổng thể, thơ tình
Vương Hoài Uyên là tiếng lòng của một tâm hồn yêu tha thiết, chấp nhận thiệt
thòi với một nỗi buồn trong veo và vẫn giữ được sự dịu dàng và nhân hậu trong
cách nhìn về tình yêu.
4. Nếu thơ là miền
nội tâm, nơi trú ngụ của cảm xúc, thì văn xuôi là đời sống cụ thể, là nơi Vương
Hoài Uyên quan sát cuộc sống một cách sắc sảo và tấm lòng nhân hậu trước những
mảnh đời.
Chị viết văn
xuôi như một người lưu lại những gì mình chứng kiến, những số phận mình gặp gỡ
qua cảm quan nghệ thuật của mình. Nhân vật trong truyện của chị phần nhiều là
nam thanh nữ tú và học thức, là bạn bè, người thân, thầy cô, đồng nghiệp. Họ có
thể tài hoa, nhan sắc, nhưng không phải ai cũng được cuộc đời ưu ái. Chiến
tranh, biến động thời cuộc, những đổ vỡ trong tình cảm, những mất mát trong cuộc
sống - tất cả đều hiện diện trong trang văn của chị.
Nhưng điều đáng
quý nhất ở Vương Hoài Uyên là cách nhìn cuộc đời bằng đôi mắt yêu thương. Dù viết
về những số phận bất hạnh, chị vẫn tìm thấy những tia sáng của lòng tốt, sự sẻ
chia giữa con người với con người.
Hai tập truyện
“Giọt nắng cuối ngày” & Điệu valse mùa cũ - Cái nhìn trực diện vào đời sống,
hiện thực không tô hồng.
Hai mươi truyện
ngắn trong Giọt nắng cuối ngày là những câu chuyện rất đời của cuộc sống, của
phận người, của tình yêu. Có chuyện tình kết cục có hậu và cũng có chuyện tình
dang dở để lại nhiều nuối tiếc. Bối cảnh không gian ở trong nước và ở hải
ngoại qua góc nhìn của Vương Hoài Uyên. Đặc biệt, có những câu chuyện phản ánh đời
sống người Việt nơi xứ người. Không ít cảnh đau lòng: mẹ chồng bị sỉ nhục, người
cha già bị đuổi ra đường, người vợ bị bỏ rơi sau khi sang Mỹ. Chị không ngần ngại
viết về những mảng tối của đời sống hải ngoại: sự bạc bẽo của con cái, sự tan vỡ
của hôn nhân nơi xứ người. Tuy nhiên, giữa sự nghiệt ngã đó, chị luôn thắp lên
ánh sáng của tình đồng hương, tình bạn. Nhân vật Lê và anh Khang sẵn sàng cưu
mang người lạ. Vương Hoài Uyên không phán xét; chị quan sát, ghi nhận và để
lòng nhân ái tự tỏa sáng. Truyện “Xuân muộn” cũng là một trong những truyện đầy
ám ảnh, có nhiều tầng nghĩa nhưng triết luận cuối cùng là: “Của Caesar hãy trả
cho Caesar”. Truyện “Biển bình yên” cho thấy một tấm lòng cô giáo chủ nhiệm luôn thương yêu, quan tâm đến học trò của mình, đặc biệt là những em có hoàn cảnh khó khăn. Trường hợp “Hải An”, em nữ sinh nghèo từ chỗ gia đình bất hạnh, cha chết, mẹ
bỏ đi lấy chồng khác, anh trai phải bỏ học đi làm sớm để nuôi em. Cô dõi theo từng bóng dáng bé nhỏ của em đạp xe đi trong chiều gió rét, chỉ với bộ áo dài cũ “màu cháo lòng”, lòng cô xót xa. Cô luôn động viên để em có thêm điểm tựa tinh thần.
Em đã nỗ lực cố gắng và trời đã không phụ lòng, em đỗ thủ khoa vào một trường đại
học rồi du học Úc. Sau này gặp lại em, cô vui biết em thành công nhưng cũng
thoáng chút buồn vì người anh trai của em đã bị bệnh nan y mất khi em chưa kịp
báo hiếu. Còn người mẹ bỏ con, chị bảo: “Biết đâu đấy, khi Hải An có sự nghiêp
trong tay bà ta lại chẳng quay về”. Chị không hài lòng với những người mẹ bỏ
con mà đi lấy chồng và tôi cũng vậy. Đây cũng là thêm một nét đồng cảm sâu sắc
của tôi với chị.
Giọng văn của Vương
Hoài Uyên trong sáng, nhẹ nhàng, giàu chi tiết đời thực. Không bi kịch hóa
nhưng đủ khiến người đọc nhói lòng.
Truyện ngắn
"Tuyết lạnh bên trời" trong tập "Giọt nắng cuối ngày" là câu
chuyện về lòng nhân ái giữa xứ người. Truyện kể về một người vợ được chồng bảo
lãnh sang Mỹ, nhưng thực chất anh ta đã có người khác. Vừa đặt chân đến xứ lạ,
cô nhận được đơn ly hôn. Bơ vơ, không người thân thích, không biết tiếng Anh,
cô tìm đến người bạn gái cùng lớp cũ. Câu trả lời của người bạn thật giản dị mà
ấm áp:
“Không sao, mày
cứ đến đây ở với tao. Nhà tao rộng lắm, có phòng cho thuê. Nhưng mầy thì tao
không lấy tiền thuê đâu. Còn chuyện như thằng chồng mầy bên này là “chuyện thường
ngày ở huyện”, tao không ngạc nhiên tý nào đâu”.
Chi tiết nhỏ
nhưng nói lên tất cả tình người giữa chốn phồn hoa đô hội. Giữa những mảnh đời
bất hạnh, vẫn có những bàn tay dang rộng, vẫn có những trái tim biết sẻ chia.
Đặc biệt ấn tượng
trong truyện ngắn này là những cảnh đời éo le mà tác giả ghi lại qua lời kể của
nhân vật Lê:
“Trong chừng ấy
năm ở xứ này, Kim từng thấy nhiều cảnh đau lòng khi một bà mẹ chồng mới chân ướt
chân ráo sang Mỹ chơi nhà con trai, đã nghe con dâu phủ đầu bằng những lời lẽ cạn
tàu ráo máng. Bà mẹ chồng mới đến nhà được một ngày, cô con dâu tiếp mấy cô bạn
đến chơi đã nói những lời cay nghiệt: 'Bọn bây biết không mọi hôm nhà tao chỉ
có một con chó coi nhà, hôm nay có đến hai con chó'. Bà mẹ ra khỏi nhà, lang
thang ngoài công viên, cũng may gặp được người đồng hương tốt bụng giúp đỡ trở
về Việt Nam.”
Hay câu chuyện về
ông già bị con dâu “cầm chổi đập lên đầu, đuổi đi”, lang thang mấy hôm, được vợ
chồng Lê và Khang cưu mang. Những mảnh đời ấy, dưới ngòi bút của Vương Hoài
Uyên, không chỉ là câu chuyện để đọc mà còn là tiếng chuông cảnh tỉnh về đạo lý
làm người, về cách đối xử giữa con người với nhau, đặc biệt là với những người
già yếu, neo đơn.
Truyện ngắn
“Chim mùa thiên di” có lẽ là một câu chuyện ám ảnh nhất kể về một mối tình. Câu
chuyện Miên - Thụy là bản valse của thời gian. Một mối tình tưởng như “bọt bèo”
lại kéo dài bốn mươi năm trong ký ức. Miên và Thụy yêu nhau từ thời sinh viên — cô học Sư phạm, anh học Y khoa. Rồi Thụy du học ở Mỹ, biền biệt không tin tức.
Miên vì tự ái không hỏi han, nhưng hình bóng anh vẫn in đậm trong tim suốt thời
con gái và cả sau khi lấy chồng.
“Đám bạn gái của
Miên bực mình: 'Khiếp, người ta đã không đoái hoài đến mình, mà mình lại cứ nhớ
người ta. Con cá mất bao giờ cũng là con cá to. Mày vứt cái mối tình bọt bèo ấy
đi cho tao nhờ với.'
Đã gọi là mối
tình thì không thể vứt như vứt một mảnh giấy lộn vào giỏ rác. Bao nhiêu bài thơ
của Miên viết về mối tình mong manh ấy trong suốt thời con gái và cả sau khi lấy
chồng. Hơn 40 năm dài như thế cho đến khi chồng Miên qua đời. Một lần đi Mỹ
thăm con gái định cư ở đây, Miên cứ thầm mong biết đâu mình sẽ gặp lại Thụy”.
Cái kết có hậu:
họ gặp lại nhau sau góa bụa và ly hôn và có những tháng ngày hạnh phúc bên
nhau. Hạnh phúc đến không ồn ào mà như một ân huệ muộn màng, nhưng đó là một phần
thưởng xứng đáng cho tình yêu. Ở đây ta thấy rõ quan niệm của tác giả: tình yêu
chân thành không mất đi, chỉ ngủ yên.
Nhưng điều đáng
nói là cách Vương Hoài Uyên xây dựng nhân vật Miên - một người phụ nữ vừa mạnh
mẽ, vừa yếu đuối, vừa lý trí, vừa đa cảm. Hình ảnh "những bài thơ của Miên
viết về mối tình mong manh ấy trong suốt thời con gái và cả sau khi lấy chồng"
khiến người đọc liên tưởng đến chủ thể trữ tình - người cũng đã viết những vần
thơ về những mối tình, những nỗi nhớ xuyên suốt cuộc đời mình. Chất liệu từ cuộc
sống đời thực mà chị quan sát được hay từng trải nghiệm qua. Chuyện của chị có
thể có bóng hình hay một phần đời tác giả, tạo nên sức lôi cuốn nhờ sự chân thực,
không tô vẽ. Cách kể của chị nhẹ nhàng, không kịch tính, nhưng đầy sức lay động.
Văn xuôi của chị
vì thế phảng phất chất lãng mạn cổ điển. Nhân vật phần lớn là người có học cùng
thế hệ với chị, hay nói gần hơn là những người bạn bè chị em thân thuộc xung
quanh chị có chiều sâu nội tâm. Những câu chuyện phản chiếu thế hệ của chính chị:
đi qua chiến tranh nhưng vẫn giữ được nhân phẩm và học vấn. Văn của chị không
lên án gay gắt. Chị quan sát bằng ánh mắt nhân hậu của một cô giáo tin vào sự tử
tế còn tồn tại.
5. Phong cách
nghệ thuật và những đóng góp cho văn học của Vương Hoài Uyên.
Điểm nổi bật
trong văn xuôi của Vương Hoài Uyên là giọng văn trong sáng, dễ hiểu, nhưng
không hề đơn giản. Cách nhìn đời thấu hiểu nhưng không cực đoan. Chị viết bằng
vốn sống phong phú, bằng kiến văn rộng mở của một người giàu vốn sông. Những
câu chuyện của chị dù buồn đến đâu vẫn toát lên vẻ đẹp của tình người, của lòng
nhân hậu. Nét buồn trong thơ chị không ủy mị mà mang vẻ thanh tao.
Có một điều đặc
biệt trong văn Vương Hoài Uyên: dù viết về những điều bình dị nhất, những số phận
éo le nhất, văn chị vẫn giữ được sự sang trọng và lãng mạn. Có lẽ điều này xuất
phát từ tâm hồn của một người làm thơ, một cô giáo dạy Văn, luôn nâng niu cái đẹp,
dù là cái đẹp trong tâm hồn con người hay cái đẹp trong ngôn từ.
Đọc Vương Hoài
Uyên, dù là thơ hay văn xuôi, người đọc đều cảm nhận được tấm lòng nhân hậu của
tác giả. Chị viết về những mảnh đời bất hạnh không phải để khơi gợi sự thương hại,
mà để đánh thức lòng trắc ẩn, để nhắc nhở chúng ta về những giá trị nhân văn
cao đẹp. Những nhân vật tốt bụng, những hành động sẻ chia trong truyện của chị
như những điểm sáng trong bức tranh cuộc sống vốn nhiều mảng tối.
6. Vương Hoài
Uyên - cô giáo dạy Văn tâm huyết, một nhà thơ lãng mạn, nhà văn tài hoa.
Một cô
giáo luôn nhớ về trường cũ, bạn xưa với những kỷ niệm đẹp đẽ. Một người mẹ yêu
con và hy sinh tất cả cho con, người vợ đầy trách nhiệm với những mất mát không
thể nguôi ngoai. Và ta thấy một nhà văn, nhà thơ luôn trăn trở với những số phận,
những mảnh đời quanh mình. Chị là một “người gom nhặt những mảnh rời của thời
gian”. Chị dùng thơ để an ủi chính mình và dùng văn xuôi để sưởi ấm cho những
thân phận lạc lõng.
Đọc thơ văn
Vương Hoài Uyên, ta thấy một người đàn bà từng trải, từng đau, từng mất, nhưng
vẫn giữ được tâm hồn trong trẻo, nhân hậu. Dù viết về đổ vỡ, chị không cay nghiệt.
Dù viết về cô đơn, chị vẫn mở lối cho hy vọng.
Nhưng trên hết,
Vương Hoài Uyên là một tấm gương về lòng yêu văn chương và sự kiên trì theo đuổi
đam mê. Có một thời gian phải tạm ngưng sáng tác, nhưng niềm yêu thích văn
chương vẫn âm ỉ cháy trong tâm hồn. Và khi có cơ hội, chị đã “bung lụa” - một sự
bùng nổ đầy mạnh mẽ. Hành trình văn chương của chị là hành trình của một người
phụ nữ vượt qua bao thăng trầm để được sống với đam mê, để cất lên tiếng nói của
mình. Từ "Mùa trăng cũ" đến "Miền gió gọi", từ "Giọt nắng
cuối ngày" đến "Điệu valse mùa cũ", mỗi tác phẩm là một mảnh
ghép của tâm hồn chị, là những trăn trở, những suy tư, những yêu thương và cả
những mất mát.
Chân dung văn học
của chị là chân dung của người nghệ sĩ chân chính: tài hoa, nhân hậu và luôn
khát khao được cống hiến cho văn chương, cho cuộc đời. Chị hiện lên với vẻ nhân
hậu đài các nhưng vô cùng gần gũi. Đó là sự kết hợp giữa tâm hồn nhạy cảm của một
thi sĩ và cái nhìn bao dung của một người mẹ, một nhà giáo.
Chị thuộc thế hệ
phụ nữ trí thức miền Trung: đi qua dâu bể cuộc đời có loạn lạc, li tán và chia
xa, nhưng vẫn giữ được sự thanh cao trong tâm hồn và tình yêu cháy bỏng với văn
chương. Vương Hoài Uyên không phải là nhà thơ cách tân ồn ào, cũng không phải
cây bút hiện thực gai góc. Chị là người gìn giữ một vẻ đẹp cổ điển: trăng, mùa,
tiếng trống trường, hàng cây vườn cũ, mối tình không trọn. Hành trình chị sống
và viết từ Quảng Ngãi, Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn đến Hoa Kỳ là một hành trình dài,
nhưng sợi dây gắn kết lại chính là văn chương. Chị viết để “gọi thời gian về lại
trái tim mình”.
Saigon, ngày
25/02/2026
Hoàng Thị Bích
Hà