Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Saturday, October 10, 2026

Youtube: Ca khúc QUẢNG TRỊ MÌNH ƠI - Sáng tác: Khê Giang - Trình bày: Lê Thu Uyên

 

READ MORE - Youtube: Ca khúc QUẢNG TRỊ MÌNH ƠI - Sáng tác: Khê Giang - Trình bày: Lê Thu Uyên

LÊ THU UYÊN – CHẤT GIỌNG HUẾ TỪ MỘT MIỀN QUÊ QUẢNG TRỊ - Khê Giang




LÊ THU UYÊN – CHẤT GIỌNG HUẾ 

TỪ MỘT MIỀN QUÊ QUẢNG TRỊ

                                       Khê Giang


Vì sao một người con Quảng Trị lại có giọng Huế?

Khi nghe Lê Thu Uyên cất tiếng hát, nhiều người có cảm giác rất rõ rằng cô mang một chất giọng Huế: mềm, trong, nhẹ, thanh và có độ ngân rất riêng. Chính điều đó đôi khi dẫn đến một lời đồn đoán rằng Lê Thu Uyên là người Quảng Trị nhưng đã “giả giọng Huế” để tạo màu sắc cho tiếng hát.

Theo tôi, cách lý giải ấy chưa thật sự thuyết phục.

Điều đáng chú ý hơn nằm ở quê quán và không gian địa lý đặc biệt của Lê Thu Uyên. Cô là người quê làng Phú Kinh, xã Hải Hòa xưa, huyện Hải Lăng, Quảng Trị. Đây là một trường hợp khá thú vị về phương diện thổ âm địa phương: một làng thuộc địa giới Quảng Trị nhưng lại lưu giữ một chất giọng mang nhiều đặc điểm gần với giọng Huế.

Vì vậy, cái “Huế” trong tiếng nói và tiếng hát của Lê Thu Uyên không nhất thiết phải được hiểu là một sự bắt chước. Nó có thể chính là dấu vết tự nhiên của địa lý, lịch sử giao lưu dân cư và sự tiếp biến ngôn ngữ ở vùng đất nằm giữa Quảng Trị và Huế.




1. Địa giới hành chính không phải lúc nào cũng trùng với ranh giới phương ngữ

Một điều rất dễ bị nhầm lẫn khi nói về giọng nói địa phương là đồng nhất ranh giới hành chính với ranh giới ngôn ngữ.

Một người ở phía Bắc của một tỉnh chưa chắc có giọng hoàn toàn giống người ở phía Nam của tỉnh ấy. Ngược lại, hai vùng thuộc hai địa phương khác nhau vẫn có thể chia sẻ những đặc điểm phát âm rất gần nhau nếu họ nằm trong cùng một không gian giao lưu văn hóa, cư dân và sinh hoạt lâu đời.

Quảng Trị là một trường hợp đặc biệt.

Đây là vùng đất nằm giữa Quảng Bình ở phía Bắc và Thừa Thiên Huế ở phía Nam. Trong lịch sử, Quảng Trị không phải là một không gian biệt lập. Người dân qua lại, kết hôn, buôn bán, di cư và giao lưu văn hóa với các vùng lân cận trong thời gian rất dài.

Bởi vậy, tiếng Quảng Trị cũng không phải là một khối hoàn toàn đồng nhất.

Trong chính nội bộ Quảng Trị đã có những sắc thái thổ âm khác nhau. Những vùng gần Quảng Bình có thể mang những nét gần với phương ngữ phía Bắc hơn; những vùng phía Nam lại có sự giao thoa mạnh hơn với không gian ngôn ngữ Huế.

Và chính tại những vùng chuyển tiếp ấy, ta có thể gặp những trường hợp rất thú vị như Phú Kinh.

2. Phú Kinh – một “ốc đảo” thổ âm đặc biệt của Quảng Trị

Làng Phú Kinh, quê quán của Lê Thu Uyên, thuộc xã Hải Hòa xưa, huyện Hải Lăng, Quảng Trị.

Điều đặc biệt là dù nằm trong địa giới Quảng Trị, thổ âm của người Phú Kinh lại có sắc thái rất gần với tiếng Huế.

Đây là một hiện tượng cần được nhìn nhận dưới góc độ địa lý ngôn ngữ chứ không nên chỉ nhìn bằng bản đồ hành chính.

Một vùng đất có thể mang căn cước Quảng Trị rất rõ ràng về lịch sử, văn hóa, phong tục, ký ức cộng đồng và quê quán, nhưng đồng thời lại có một lớp ngôn ngữ chịu ảnh hưởng mạnh từ không gian văn hóa kế cận.

Điều đó hoàn toàn không mâu thuẫn.

Nếu nghe kỹ, chất giọng của Lê Thu Uyên có những đặc điểm khiến người nghe dễ liên tưởng đến Huế: âm sắc mềm, độ mở vừa phải, cách nhả chữ nhẹ, không quá nặng, không quá gằn và đặc biệt có độ trong trẻo ở những nguyên âm.

Nhưng cái hay là giọng của cô không tạo cảm giác như một người miền Bắc hay miền Nam đang cố “diễn” giọng Huế.

Nó tự nhiên.

Chính sự tự nhiên ấy là một dấu hiệu đáng chú ý.

3. “Giọng Huế” của Lê Thu Uyên không đồng nghĩa với “người Huế”

Đây là điểm cần phân biệt rất rõ.

Giọng nói và quê quán là hai khái niệm khác nhau.

Một người có thể quê ở Quảng Trị nhưng nói giọng gần Huế. Một người quê Huế nhưng lớn lên ở nơi khác lại có thể không còn giữ nguyên giọng Huế.

Ngôn ngữ không đi theo đường biên giới hành chính một cách máy móc.

Nó đi theo cộng đồng cư dân.

Nó đi theo dòng người.

Nó đi theo quan hệ hôn nhân, giao thương, văn hóa và lịch sử cư trú.

Vì thế, việc Lê Thu Uyên là người Quảng Trị nhưng sở hữu chất giọng rất Huế không phải là một nghịch lý. Ngược lại, đó chính là một minh chứng sinh động cho sự phong phú của thổ âm miền Trung.

Có thể nói, Lê Thu Uyên mang quê Quảng Trị trong căn cước, nhưng mang một sắc thái Huế rất đặc biệt trong âm sắc tiếng nói của mình.

4. Điều thú vị hơn: chất giọng ấy còn có độ trong trẻo riêng.

Nếu chỉ nói Lê Thu Uyên có “giọng Huế” thì vẫn chưa đủ.

Điều đáng chú ý là chất giọng của cô không hoàn toàn giống mọi giọng Huế.

Qua tiếng hát, người nghe có thể cảm nhận một sắc thái rất riêng: mềm nhưng không quá nặng; ngọt nhưng không quá kiểu cách; nhẹ nhưng vẫn có độ vang.

Có những vùng giáp ranh với Thừa Thiên Huế cũng có chất giọng gần Huế, nhưng sắc thái phát âm của Phú Kinh, theo cảm nhận của người nghe địa phương, thậm chí còn có nét trong trẻo và mềm mại rất riêng.

Chính điều này tạo cho Lê Thu Uyên một lợi thế đặc biệt khi hát những ca khúc mang màu sắc Huế.

Bởi người ca sĩ không phải “đi tìm” chất Huế từ bên ngoài.

Chất Huế đã nằm sẵn trong tiếng nói đời thường.

Khi chuyển từ tiếng nói sang tiếng hát, nó chỉ được khuếch đại, trau chuốt và nghệ thuật hóa.

5. Vì sao khi hát, chất giọng ấy càng nổi bật?

Một ca sĩ không chỉ hát bằng kỹ thuật thanh nhạc.

Ca sĩ còn hát bằng thổ âm của quê hương.

Cùng một ca khúc, hai người có thể phát âm đúng cao độ, đúng trường độ, nhưng màu sắc lại hoàn toàn khác nhau. Một phần rất lớn đến từ cách đặt khẩu hình, cách phát âm nguyên âm, phụ âm, cách nối âm và thói quen nhả chữ đã hình thành từ thời thơ ấu.

Với Lê Thu Uyên, điều này càng đáng chú ý.

Nếu cô lớn lên trong môi trường ngôn ngữ Phú Kinh, thì những đặc điểm thổ âm ấy đã trở thành một phần tự nhiên trong giọng nói trước khi cô bước lên sân khấu.

Bởi vậy, khi hát những tình khúc Huế, những bài mang âm hưởng dân ca miền Trung hay những ca khúc cần một chất giọng mềm mại, cô không cần phải “đóng vai một người Huế”.

Cô chỉ cần hát bằng chính giọng của mình.

Và đó mới là điều tạo nên sức thuyết phục.

6. Thành công của Lê Thu Uyên và giá trị của một chất giọng bản địa

Việc Lê Thu Uyên trở thành Quán quân Hãy nghe tôi hát 2022 càng khiến câu chuyện về giọng hát của cô trở nên đáng chú ý.

Trong nghệ thuật biểu diễn, kỹ thuật có thể được học, cách xử lý ca khúc có thể được rèn luyện, nhưng màu giọng bẩm sinh và thổ âm quê hương là thứ rất khó tạo ra bằng kỹ thuật.

Một ca sĩ có thể học cách luyến láy của Huế.

Có thể học cách ngân.

Có thể học cách phát âm.

Nhưng để tạo ra cảm giác tự nhiên như một người đã lớn lên với âm sắc ấy thì không đơn giản.

Đó chính là giá trị đặc biệt của Lê Thu Uyên.

Nếu bỏ qua câu chuyện “cô có phải người Huế hay không”, chúng ta sẽ nhìn thấy một điều thú vị hơn nhiều:

Cô là một người con Quảng Trị mang trong tiếng nói của mình một lớp phù sa ngôn ngữ rất gần với Huế.

Và chính sự giao thoa ấy làm nên một màu sắc riêng.




7. Quảng Trị không chỉ có một giọng nói

Có lẽ đã đến lúc chúng ta không nên nhìn tiếng Quảng Trị theo một khuôn mẫu duy nhất.

Quảng Trị là vùng đất của những dòng sông, những cánh đồng, những làng quê và những cộng đồng cư dân có lịch sử lâu đời. Mỗi vùng đất lại có một cách phát âm, một nhịp nói, một âm sắc riêng.

Từ Bắc vào Nam, từ miền đồng bằng đến vùng ven biển, từ những làng gần ranh giới Quảng Bình đến những vùng phía Nam Hải Lăng, sắc thái tiếng nói có thể thay đổi đáng kể.

Phú Kinh chính là một ví dụ đáng để nghiên cứu sâu hơn.

Một làng quê thuộc Quảng Trị nhưng có thổ âm rất gần Huế cho thấy phương ngữ không phải là một đường kẻ cứng trên bản đồ.

Nó là một dòng chảy.

Và những vùng nằm ở rìa của các không gian văn hóa thường chính là nơi tạo ra những sắc thái ngôn ngữ độc đáo nhất.

8. Lê Thu Uyên – sự gặp gỡ giữa hai không gian văn hóa

Có thể nói một cách hình tượng rằng trong giọng hát Lê Thu Uyên có sự gặp gỡ của hai miền văn hóa:

Cái tình, cái sâu và sự mộc mạc của Quảng Trị, cùng với sự mềm mại, trong trẻo và duyên dáng của âm sắc Huế.

Đó không phải là sự pha trộn nhân tạo.

Đó là kết quả của địa lý và lịch sử.

Và nếu đúng như những người am hiểu thổ âm Phú Kinh vẫn nhận xét, rằng chất giọng ấy đã có từ trong đời sống thường nhật trước khi Lê Thu Uyên trở thành ca sĩ, thì những lời đồn đoán rằng cô “giả giọng Huế” thực chất đã bỏ qua một yếu tố rất quan trọng: thổ âm quê hương.

Lê Thu Uyên không cần phải giả giọng Huế.

Bởi giọng Huế trong tiếng hát của cô chính là một phần của quê hương Phú Kinh – một miền quê Quảng Trị rất đặc biệt.

Và có lẽ đó cũng chính là điều làm nên nét duyên riêng của người nữ ca sĩ đã đăng quang Hãy nghe tôi hát 2022: đứng trên sân khấu lớn, cô mang đến cho người nghe không chỉ một giọng hát được rèn luyện bằng nghệ thuật, mà còn mang theo một âm sắc được nuôi dưỡng từ đất, từ làng và từ tiếng nói quê nhà.

Đó là thứ mà kỹ thuật thanh nhạc có thể nâng lên, nhưng không dễ gì tạo ra từ con số không.

Lê Thu Uyên là người con Quảng Trị. Và chất Huế trong tiếng hát của cô không làm mất đi căn cước Quảng Trị – ngược lại, chính sự giao thoa đặc biệt ấy làm cho căn cước ấy trở nên phong phú và đáng trân trọng hơn. 

Khê Giang

READ MORE - LÊ THU UYÊN – CHẤT GIỌNG HUẾ TỪ MỘT MIỀN QUÊ QUẢNG TRỊ - Khê Giang

Friday, October 9, 2026

CHO MA MEN ĐI LÀM... TU SĨ - Đặng Xuân Xuyến




CHO MA MEN ĐI LÀM... TU SĨ

Đặng Xuân Xuyến

 

Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì, nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân, bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm, nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc, chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi, nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.

 

Từ đầu năm 2011 đến năm 2015, bấn bíu việc đưa đón con trai đi học, rồi việc ăn, học, ngủ... của con chiếm mất khá nhiều thời gian nên việc tụ tập quán xá với bạn bè mình thôi hẳn. Trước đấy, tuần nào cũng tụ tập với chiến hữu vài trận ở quán xá, say mèm mới “lướt” xe về nhà; thì nay, lâu rồi không giao lưu bạn bè, tự nhiên thấy mình ngày càng đơn độc, ứng đúng với câu “Không tu mà tu đến lạ” trong bài kệ tự chiêm nghiệm đời mình. Thời gian trôi đi, khi con trai vào Sài Gòn học Đại học (2020), ngỡ mình sẽ thảnh thơi hơn để tìm lại cảm giác hưng phấn trong những trận say ngày cũ nhưng căn bệnh thoái hóa cột sống lưng và thoái hóa cột sống cổ ngày nặng thêm khiến mình ngại đi lại, ngại bước chân ra khỏi nhà. Lâu dần tự dưng mình đâm ra sợ cái không khí ồn ào, bỗ bã, nâng lên đặt xuống nơi quán nhậu. Ban đầu, mọi người còn điện hẹn đến quán nọ quán kia nhưng thấy mình toàn lý do này nọ nên mọi người chán. Có lẽ nhiều người đã xóa tên mình khỏi danh bạ điện thoại rồi cũng nên. Được mấy chiến hữu hiểu hoàn cảnh, thi thoảng xuống nhà nhâm nhi ly rượu cho mình đỡ buồn, nhưng rồi cũng thưa dần, thưa dần vì lý do: “Nói thật, nhà chú, anh, em... xa quá nên cháu, em, anh, ngại...”

 

Trưa qua có việc, mình điện cho một ông bạn thân. Chưa kịp nói câu nào, đầu dây bên kia đã dồn dập: “Trưa nay rảnh à? Ok. Lâu lắm rồi anh em mình không ngồi với nhau. Tôi thu dọn công việc, rồi đến chở ông luôn.” Mình vội ngắt lời: “Tôi nhờ ông một chuyện thôi. Giờ đi nhậu ở quán xá tôi ngại.” Thế là bạn buông ngay câu chửi: “Bạn bè đéo gì mà 6, 7 năm đéo ngồi với nhau một trận! Hỏi gì thì nói nhanh đi. Mẹ! Cứ như là tu sĩ ở ẩn ý!”

 

Xong chuyện ông bạn, mình điện tiếp tới một ông anh. Vì tính chất công việc của anh nên mình rào đón: “Anh có rảnh không? Em nhờ anh chút việc.” Anh cười rồi chửi: “Thằng chó này! Bận mấy anh cũng gặp chú được. Chú đang ở đâu?” Mình trả lời: “Em ở nhà. Nhờ anh qua điện thoại thôi.” Giọng anh chùng xuống: “Ừ. Chú nói đi!” Nghe xong chuyện mình nhờ, anh bảo: “Ok. Việc của chú coi như xong nhưng anh nhắc chú, cũng lâu lắm rồi anh em mình chưa ngồi với nhau trận nào đấy! Nhiều lần điện cho chú, toàn nghe chú lý do nên anh không điện nữa. Giờ anh cũng không biết mặt mũi chú ra làm sao nữa!”. Nghe xong mà thật sự ngại!

 

Cũng đã bao lần tặc lưỡi định ra quán xá một chuyến để giao lưu với anh em bạn bè cho đỡ nhớ, đỡ tâm trạng cuồng chân, tù túng thế nhưng cái cảm giác sợ không khí quán xá ồn ào sau chuỗi ngày dài xa lánh cứ níu chân mình lại. Rồi lại nghĩ đến cảnh lỡ say mèm, rồi một thân một mình về nhà thấy trăm bề bất tiện, vừa lo ngã xe, vừa lo cái lưng đau dở chứng, rồi những hệ lụy của trận nhậu hết mình nên lại thôi. Đã vậy, những năm này nhà nước lại làm gắt gao cái chỉ thị cấm rượu bia khi tham gia giao thông, đâm ra ai cũng ngại ôm vô lăng, ngại vít ga sau chầu nhậu. Giờ ngồi một mình nhìn bốn bức tường mà thấy cô đơn trống trải lạ kỳ. Tự dưng, lòng lại trào lên một nỗi thèm thuồng da diết cái không khí bỗ bã, ồn ào của những ngày xưa cũ - cái ngày mà anh em hò nhau cạn chén, say quên trời quên đất, quên hết thảy những lo toan, cạm bẫy của cuộc đời.

 

Nãy, Nguyễn Toàn Thắng (thằng em chí thân từ thời mới khởi nghiệp “buôn sách và viết sách”) điện đến “gạ gẫm” trưa nay rủ thêm mấy thằng bạn qua nhà mình “lai zai” vài chén. Cảm giác thèm được liêng phiêng, được dốc ngược bầu tâm sự khi có men rượu ùa về, định gật đầu nhưng chợt nghĩ đến cái lưng, cái cổ bị thoái hóa khá nặng, dạo này chúng biểu tình dữ quá nên ngận ngự. Rồi nghĩ đến con trai đã lập gia đình, mình sắp lên chức ông nội, chả lẽ cứ để con cháu thấy cảnh lão già Đặng Xuân Xuyến say mèm trong những trận nhậu? Thế thì lão khọm già này còn có tư cách mà nhắc nhở, răn đe con cháu về cái tác hại của bia rượu nữa không, nên mình thật lòng: “Các chú đến lai zai với nhau nhưng anh sẽ không đụng đến rượu nữa đâu. Giờ anh nhiều tuổi rồi, sức khỏe là trên hết, chú à.”

 

Nói ra câu ấy với Thắng, lòng mình nhẹ đi một nửa nhưng nửa còn lại cứ thấy nghẹn nghẹn, hụt hẫng. Chén rượu đưa lên, đặt xuống, mấy chục năm qua đâu chỉ là thứ nước cay nồng mà nó là cả một thời tuổi trẻ, là tình chiến hữu, là những buồn vui dốc ngược cùng anh em. Buông bỏ chén rượu, có khác gì tự tay khép lại một chương đời đầy “oanh liệt và bão giông” của gã khờ Đặng Xuân Xuyến?!

 

Thôi thì, cái gì cũng có thời của nó. Ngày xưa đi lính về đổ đốn, uống đến say mèm chẳng biết trời đất là gì thì bây giờ ở cái tuổi sắp lên chức ông nội, cũng phải có bản lĩnh mà buông bỏ. Gã khờ Đặng Xuân Xuyến này từ nay xin giã từ ma men, chính thức khép lại những trận nhậu “cà tang cà tửng”, nhậu đến say mèm, đến bải hoải thân xác. Không phải vì mình sợ công an thổi nồng độ cồn, cũng chẳng phải mình xa lánh anh em bè bạn, mà là vì cái hạn định của sức khỏe, vì trách nhiệm làm gương cho con, cho cháu. Anh em chiến hữu có trách, có mắng mình là “ông cụ non”, là “tu sĩ ở ẩn” thì mình cũng xin chịu. Cái tình, cái nghĩa mấy chục năm qua nằm ở tấm lòng chứ đâu phải đong đếm bằng những chén rượu. Gặp nhau, trân quý nhau, uống chén trà, ly nước, hàn huyên lại chuyện cũ, thế là đủ. Tuổi già rồi, giữ cái thân cho lành lặn, giữ cái đầu cho tỉnh táo để còn nhìn con cháu trưởng thành, thế mới là cái say sưa hạnh phúc nhất của đời người!

 

Từ hôm nay mình quyết tâm cho gã ma men Đặng Xuân Xuyến đi làm tu sĩ!

 

*.

 

Hà Nội, sáng 08 tháng 10-2026 

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

baothang_xuanxuyen@yahoo.com.vn

READ MORE - CHO MA MEN ĐI LÀM... TU SĨ - Đặng Xuân Xuyến

Thursday, October 8, 2026

Youtube: Ca khúc MÌNH HÃY TÌM ĐẾN NHAU - Thơ: Quach Như Nguyệt - Nhạc: Cao Minh Thu - Trình bày: Bảo Thơ

 




Mình Hãy Tìm Đến Nhau 

Thơ: Quách Như Nguyệt



Tôi giăng chiếc bẫy tình  

Nhả lời thơ ngọt ngào

Ước mong anh ngã vào 

Chờ đợi mãi anh ơi!

 

Tôi mơ mơ màng màng

Trái tim treo lơ lửng

Rao bán, đợi chờ anh

Anh thờ ơ, tim lạnh!

Thờ ơ quá thờ ơ!

 

Tự mình giăng chiếc bẫy

Chiếc bẫy tình chòng chành

Ôi nỗi đau hoành hành!

Đời người chóng qua nhanh!

 

Con mồi tôi mong đợi, 

Không chịu vướng lưới tình

Mồi tôi chẳng trông mong

Lại rơi vào rách lưới!!!

 

Hay anh đặt bẫy đi

Để em vờ ngã xuống

Bẫy tình có nhung êm?

Tay anh đỡ êm đềm?

 

Hai ta cùng đặt bẫy

Sao không mắc bẫy nhau?

Người khác rơi vào bẫy 

Sao tránh khỏi phiền sầu?

 

Mình hãy tìm đến nhau

Ngay bây giờ anh ạ

Ta khỏi cần giăng bẫy 

Chẳng cần tìm đâu xa....


Như Nguyệt

March 26, 2022

nhunguyet9963@gmail.com

READ MORE - Youtube: Ca khúc MÌNH HÃY TÌM ĐẾN NHAU - Thơ: Quach Như Nguyệt - Nhạc: Cao Minh Thu - Trình bày: Bảo Thơ

OCTOBER, WHEN YOU WALK THROUGH MY DREAM / THÁNG MƯỜI, KHI EM ĐI QUA GIẤC MƠ ANH - Thơ: Thi Lan Anh Tran & Musharraf Hussain

 


OCTOBER, WHEN YOU WALK THROUGH MY DREAM

Co-Authors:
Thi Lan Anh Tran — Aschaffenburg, Germany
Musharraf Hussain — Assam, India

 

You are not breaking apart,
only October quietly opens a door within you.
I look at the waterfall and call it autumn;
you look at the flowing water
and hear my voice calling your name from far away.

 

If one day your hair should brush against my sleep,
do not be afraid—
you do not come to make my heart ache;
you only wish to awaken within me
a season that has never had a name.

 

You say that inside the heart of the mountain
there are only stones and roots;
yet I believe that beneath those silent depths
there beats a heart for someone,
no matter how many horizons lie between us.

 

October passes through the window,
carrying golden leaves
like letters that were never sent.
I close my eyes and imagine your hand,
and suddenly the distance between us
seems to grow shorter.

 

Perhaps love, too, is a mountain—
the farther we stand from it,
the smaller we feel;
the closer we come,
the more clearly we hear
the echo of our own hearts.

 

And if one day we both begin to break open,

do not call it a falling apart;

call it love finding its way—

from two hearts once unknown to one another

toward an autumn

that has learned how to remember.

----------------------------------------------

 

THÁNG MƯỜI, KHI EM ĐI QUA GIẤC MƠ ANH

Đồng tác giả:
Thi Lan Anh Tran — Aschaffenburg, Đức
Musharraf Hussain — Assam, Ấn Độ

 

Em không nứt ra đâu,
chỉ là tháng Mười khẽ mở một cánh cửa trong em.
Anh nhìn dòng thác và gọi đó là mùa thu,
em nhìn dòng nước và nghe tiếng anh gọi mình từ rất xa.

 

Nếu một ngày mái tóc em chạm vào giấc ngủ của anh,
xin đừng sợ—
em không đến để làm trái tim anh đau,
em chỉ muốn đánh thức nơi anh
một mùa chưa từng có tên.

 

Anh nói trong lòng núi chỉ có đá và rễ cây,
em lại tin dưới tầng sâu im lặng ấy
có một trái tim đang đập vì một người,
dù cách nhau bao nhiêu chân trời.

 

Tháng Mười đi qua cửa sổ,
mang theo những chiếc lá vàng
như những lá thư chưa gửi.
Anh nhắm mắt, tưởng tượng bàn tay em,
và bỗng thấy khoảng cách giữa chúng ta
ngắn lại.

 

Có lẽ tình yêu cũng là một ngọn núi—
càng đứng xa càng thấy mình nhỏ bé,
càng bước gần càng nghe rõ
tiếng tim mình vọng lại.

 

Và nếu một ngày chúng ta cùng nứt ra,

xin đừng gọi đó là tan vỡ;

hãy gọi là tình yêu tìm được lối đi—

từ hai trái tim xa lạ

đến một mùa thu biết nhớ.

-------------------------------------------------

© 2026 Thi Lan Anh Tran & Musharraf Hussain. All rights reserved.
Bản quyền © 2026 Thi Lan Anh Tran & Musharraf Hussain. Bảo lưu mọi quyền.


From:

E- Mail: <Wirtschaftskanzlei@Dipl-Kauffrau-Tran.de>

Dipl.- Kauffrau Thi Lan Anh Tran

READ MORE - OCTOBER, WHEN YOU WALK THROUGH MY DREAM / THÁNG MƯỜI, KHI EM ĐI QUA GIẤC MƠ ANH - Thơ: Thi Lan Anh Tran & Musharraf Hussain

MƯA HUẾ- Thơ: Phạm Xuân Hùng

 


Mưa Huế

(Bài đã in trên t/c Sông Hương)


Khúc một


Có gì đâu mà anh không biết

Mưa như sương trắng trời Thương Bạc

Từ Vĩ Dạ mưa ngược Kim Long

Mưa Ngự Bình vuốt mặt Hương Giang


Anh chìm vào mưa Huế

Một chiều đông không em

Tự hỏi lòng mình da diết thế

Mưa giữa trời hay mưa trong tim

 

Hôm nao người đi có mang theo mưa Huế

Hàng phượng bay níu gió trái mùa

Những cây ngô đồng vặn chồi trút lá

Bóng kinh thành ẩn hiện trong mưa


Rồi khi trở về người có hay mưa lạnh

Có nghe gió lùa từng hạt mưa rơi

Ký ức mười thương neo lòng câu lý

Giấu mùa đông biền biệt trong đời


Giấu hẹn hò mắt môi xưa đã khép

Chỉ Huế còn mi ướt trong mưa

Mùa đông rải nỗi buồn qua khung cửa

Huế ở đâu thấp thoáng, ảo mờ…


Khúc hai


Có gì đâu mà anh không nhớ

Tuổi thơ anh bàng bạc Huế trong đời

Ngày chiến tranh đạn bom lùa tứ phía

Anh bỏ lại sau lưng mình miền cát trắng chơi vơi


Mẹ dắt anh giữa bầy con cua rạm

Đêm đầu tiên Huế đỡ lưng anh

Phu Văn Lâu giờ vẫn trong ký ức

Giấc trẻ thơ năm tháng cứ chòng chành


Tuổi trẻ của anh là những đêm đèn sách

Cư xá vùi trong mưa vàng vọt đèn đường

Tiếng rao đêm ai khuất dần trong ngõ

Để trong đời vọng mãi Huế thương

 

Cả khi anh ra đi về phương trời lạ

Gánh mưu sinh nặng nhọc với đời

Có những ngày gặp giọt mưa trên lá

Chợt hiện về ngày tháng xa xôi


Những tháng ngày rất xưa, rất cũ

Và mưa mưa. Như một hợp âm buồn

Trong cõi nhớ mưa như là tổng phổ

Huế rơi rơi từng giọt dương cầm


Đôi khi anh ngồi nghe và khóc

Nhớ về mưa Huế buổi xa em

Anh vuốt mặt Hương Giang, em Ngự Bình ướt tóc

Vết đau nào như vết môi hôn


Gởi lại thời sinh viên mơ mộng

Tan vào mưa Huế những riêng tư

Đôi khi giữa tháng ngày dài rộng

Mưa giăng trong anh ký ức sương mù…


Khúc ba


Có gì đâu mà anh không hứa

Huế trăm năm đổ bóng Kỳ Đài

Nón bài thơ nghiêng về một phía

Em đỗ xuống hồn anh mấy sợi tóc mai


Anh lỗi hẹn chỉ đôi lần thôi nhé

Mưa Huế như em níu mãi câu thề

Người có đi xa chân trời góc bể

Vẫn mang theo dáng nét kinh kỳ


Anh lỗi hẹn nhưng rồi anh trở lại

Huế trầm ngâm từng vệt chuông chùa

Mưa như thể từ ngày anh thơ dại

Tóc bạc rồi còn chưa hiểu hết mưa


Thì mưa Huế như là em, khoảnh khắc

Như cố đô vĩnh cửu giữa mây trời

Như là anh, như là nước mắt

Như Ngự Bình thông xanh, như Hương Giang nước trôi


Anh mắc nợ một đời mưa Huế

Mưa ở nơi này mà ướt mãi nơi mô

Muôn triệu giọt theo suối nguồn ra bể

Để Hương giang thơm ngát thạch xương bồ…

                                                                    

                                      08.3.2023

                                      Phạm Xuân Hùng

                                        https://www.facebook.com/duytan.pham.52

READ MORE - MƯA HUẾ- Thơ: Phạm Xuân Hùng

TRỞ VỀ ĐẤT MŨI PHƯƠNG NAM - Lê Thi

 


TRỞ VỀ ĐẤT MŨI PHƯƠNG NAM

Lê Thi 

 

 

Tôi không theo đạo. Có lẽ vì vậy, mỗi lần đến một nơi được xem là linh thiêng, tôi thường mang theo một tâm thế khác: không cầu xin, cũng không cố lý giải điều thiêng liêng bằng niềm tin của người khác. Tôi chỉ muốn nhìn, muốn nghe và hiểu vì sao một vùng đất có thể níu chân nhiều người đến vậy.

 

Những ngày cuối thu, tôi trở lại Tắc Sậy lần thứ ba, vùng đất gắn với tên tuổi Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp.

 

Tắc Sậy hôm nay không còn là một họ đạo nhỏ giữa vùng sông nước phương Nam. Quần thể nhà thờ, khu tưởng niệm và các công trình phục vụ khách hành hương tạo nên một không gian khá đặc biệt. Kiến trúc nhà thờ nổi bật với những mái cao, đường cong và các khối hình mang dáng dấp Công giáo nhưng được thể hiện theo cách khá gần gũi với thẩm mỹ Á Đông. Không gian rộng, nhiều cây xanh, các hạng mục được bố trí liền mạch, tạo cảm giác vừa trang nghiêm vừa thân thuộc.

 

Nhưng với tôi, phần đáng nhớ nhất của Tắc Sậy không nằm ở những khối kiến trúc ấy, mà ở câu chuyện phía sau chúng.

 

Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp sinh năm 1897 tại Cồn Phước, An Giang. Ngài thụ phong linh mục năm 1924 và đến năm 1930 được bổ nhiệm làm chánh xứ Tắc Sậy. Trong những năm phục vụ tại vùng đất còn nhiều khó khăn, cha được biết đến qua việc chăm lo đời sống giáo dân, người nghèo và cả những người ngoài Công giáo.

 

Cha Diệp qua đời vào năm 1946.

 

Những câu chuyện về việc vị linh mục chọn ở lại với giáo dân giữa thời khắc nguy hiểm đã được truyền lại qua nhiều thế hệ và trở thành một phần quan trọng trong ký ức về Tắc Sậy.

 

Từ đó, nơi đây dần trở thành điểm hành hương của đông đảo người Công giáo và cả những người ngoài đạo.

 

Tôi đứng giữa dòng người ấy và nhận ra mỗi người mang đến Tắc Sậy một câu chuyện riêng. Có người quỳ cầu nguyện rất lâu. Có người chỉ đứng lặng. Có người chụp một tấm ảnh rồi rời đi. Với người có đạo, đó có thể là niềm tin. Với người ngoài đạo như tôi, đó còn là câu chuyện về ký ức cộng đồng và nhu cầu tìm một điểm tựa tinh thần trong đời sống.

 

Điều khiến tôi thích thú hơn nữa lại nằm ngay bên ngoài cổng nhà thờ. Tắc Sậy khá gọn gàng, sạch sẽ. Những hàng quán ăn uống, cà phê, nhà nghỉ, gian hàng lưu niệm đón khách bằng một vẻ chân tình. Giá cả cũng khá dễ chịu so với một điểm du lịch: ly cà phê khoảng 20.000 đồng; một tô phở, bún, cơm tấm hay bún mắm khoảng 40.000 đồng; phòng nghỉ gia đình có hai giường đôi khoảng 300.000 đồng một ngày.

 

Không phải để ca ngợi, mà bởi giữa một điểm đến tâm linh, những điều rất đời thường ấy lại làm nên một nét văn hóa riêng: người dân sống bằng du lịch nhưng vẫn giữ được sự gần gũi, chu đáo và niềm tự hào về vùng đất của mình. Theo tôi đây là nét văn hóa mà các điểm du lịch nên học hỏi và nhân rộng 

 

Trước khi rời Tắc Sậy, tôi đứng trước một gian hàng đầy sản vật miền Tây: hành khô, tôm khô, mực một nắng, cá sặc… và những thau ba khía đỏ au.

 

Tôi chợt cay cay nơi khóe mắt.

 

Bởi bất chợt nhớ đến một người bạn từng thích nhất những món ăn giản dị ấy. Giá như …. Tôi sẽ mua một ít làm quà cho em !

 

Có lẽ, người ta đến một nơi như Tắc Sậy không chỉ để tìm một điều thiêng liêng. Đôi khi, người ta còn tìm thấy ở đó một món quà, một ký ức, một câu chuyện – hay một người nào đó đã ở rất xa nhưng bỗng trở về trong một mùi vị quen thuộc.

 

Chiều xuống. Gió từ những cánh đồng thổi qua nhẹ và mát. Dòng người vẫn nối nhau tìm đến.Tôi rời Tắc Sậy, không phải để tin hơn, mà để hiểu hơn.

 

Hiểu vì sao một con người có thể được nhớ lâu đến vậy. Hiểu vì sao một vùng đất có thể trở thành điểm hẹn của những người mang những niềm tin khác nhau.

 

Và hiểu rằng đôi khi, sức sống của một nơi không chỉ nằm ở sự linh thiêng, mà còn nằm trong ký ức, tình người và những điều rất đỗi bình dị của miền đất phương Nam.

 

Chia tay Tắc Sậy thẳng tiến về khu du lịch Công Tử Bạc Liêu và Mẹ Nam Hải. Khép lại chuyến đi về Cực Nam nhiều kỷ niệm đẹp ấm áp tình đất Mũi thân thương !

 

Cà Mau chiều mưa tháng 9!

 

Hình: Tác giả tại nhà thờ Tắc Sậy - Cà Mau

READ MORE - TRỞ VỀ ĐẤT MŨI PHƯƠNG NAM - Lê Thi

Tuesday, October 6, 2026

ĐẾN VỚI TẬP THƠ THỨ BA “MẬT KHẨU EM” CỦA HOÀNG UYỂN VĂN - Hoàng Thị Bích Hà

 

(Mật Khẩu Em, Nxb Thuận Hóa, tháng 7/2026)


ĐẾN VỚI TẬP THƠ THỨ BA 

“MẬT KHẨU EM” 

CỦA HOÀNG UYỂN VĂN

Hoàng Thị Bích Hà


Hoàng Uyển Văn tên thật là Nguyễn Văn Hòa. Ông sinh ra tại Thành Nội Huế, lớn lên ở Phú Yên và hiện đang làm việc tại Bình Chánh, Sài Gòn.

Nếu tập thơ đầu tay "Qua mùa khói chênh vênh" là những bước chân đầu tiên của một người làm thơ âm thầm đi qua nhiều năm tháng, tập thơ thứ hai "Phía nào ta ngắm vĩnh hằng trong em" là tiếng lòng của một thi nhân luôn thao thức giữa những miền thương nhớ, thì đến tập thơ thứ ba "Mật khẩu em" bạn đọc lại bắt gặp một Hoàng Uyển Văn vẫn da diết ấy, vẫn thủy chung với những ám ảnh của tình yêu, của thời gian, của ký ức, nhưng giọng thơ đã có thêm chiều sâu chiêm nghiệm của một người từng đi qua rất nhiều được mất ở đời.

Tôi vẫn nghĩ, với Hoàng Uyển Văn, thơ không phải là một cuộc rong chơi chữ nghĩa. Thơ là nơi ông gửi lại những điều không thể nói hết bằng lời thường. Bởi vậy, đọc thơ ông, người ta luôn thấy một nỗi buồn nhẹ như sương khói nhưng dai dẳng, một sự cô đơn hiền lành mà ám ảnh, một trái tim đã đi qua nhiều mùa giông gió nhưng vẫn giữ nguyên khả năng rung động.

Ngay từ nhan đề "Mật khẩu em", người đọc đã cảm nhận được một thế giới nội tâm đầy bí ẩn. “Em” ở đây không chỉ là một người phụ nữ cụ thể. Em còn là ký ức, là nỗi nhớ, là hạnh phúc đã xa, là miền mộng tưởng mà thi nhân dành cả đời để kiếm tìm và gìn giữ. Có những cánh cửa chỉ trái tim mới mở được, và có lẽ "em" chính là mật khẩu cuối cùng của tâm hồn người thơ.

Trong tập thơ này, tình yêu vẫn là mạch nguồn chủ đạo. Nhưng đó không còn là tình yêu của những ngày tuổi trẻ chỉ biết say mê và chờ đợi. Đó là tình yêu đã đi qua những ngả rẽ của số phận, đã hiểu sự mong manh của duyên phận và biết chấp nhận những điều không thể giữ:

“Người đi ngang đời nhau/ Anh chẳng là mái nhà/ Anh đâu là bóng cả/ Lấy chi em tựa đầu...”

(Người đi ngang đời nhau)

Chỉ bốn câu thơ ngắn nhưng gợi lên cả một cuộc tình dang dở. Thi nhân không trách cứ, không níu kéo. Ông nhìn nhận sự hiện diện của mình trong đời người khác bằng một sự khiêm nhường đến xót xa. Có những người đi qua đời nhau, thương nhau thật nhiều nhưng không đủ điều kiện để trở thành nơi nương tựa của nhau. Bởi vậy mà cuối cùng chỉ còn lại khoảng trống.

Trong thơ Hoàng Uyển Văn, nỗi buồn luôn đi cùng sự dịu dàng. Ngay cả khi nói về chia xa, ông vẫn giữ được sự bao dung hiếm thấy:

"Em chẳng là người có lỗi đâu/ Chỉ vì duyên phận mãi không nhau/ Nên người không đến... Người không đợi/ Như những vì sao ngoảnh mặt sầu..."

(Em xin lỗi)

Nếu nhiều người khi mất tình yêu thường đi tìm nguyên nhân để trách móc thì Hoàng Uyển Văn lại quy tất cả về hai chữ "duyên phận". Cách nhìn ấy khiến câu thơ mang màu sắc của sự cảm thông hơn là oán trách. Người không có lỗi. Ta cũng không có lỗi. Chỉ là số phận đã không cho hai người cùng đi hết một con đường.

Đọc "Mật khẩu em", tôi đặc biệt ấn tượng với hình tượng "gã du tử" xuất hiện nhiều lần trong thơ. Đó dường như cũng là chân dung tinh thần của chính tác giả- người đàn ông đã đi qua nhiều miền đất, nhiều năm tháng mưu sinh, mang theo hành trang là những ký ức không nguôi:

"Phố vẫn thế... Em nghìn đời vẫn thế/ Hun hút ngõ sầu trong những giấc chiêm bao

Gã du tử vẫn một mình trên phố/ Lang thang hoài một nửa kiếp không nhau..."

(Rồi sẽ một ngày)

Cái cô đơn trong thơ ông không ồn ào. Nó giống như cơn mưa thấm dần vào đất. Người đọc không thấy đau ngay, nhưng càng đọc càng thấy lòng mình chùng xuống.

Sài Gòn trong thơ Hoàng Uyển Văn cũng là một không gian rất riêng. Đó không phải là thành phố của những tòa nhà cao tầng hay những con đường đông đúc. Sài Gòn hiện lên qua những cơn mưa bất chợt, qua những khoảnh khắc tình yêu làm sáng bừng cả không gian:

"Giữa mưa Sài Gòn ta tan giữa môi em

Giữa nụ cười em

Mặc trời đang mưa

Ta tỏa nắng."

(Sài Gòn - Ta tan giữa môi em)

Đây là một trong những đoạn thơ đẹp của tập sách. Trong khoảnh khắc ấy, tình yêu trở thành nguồn sáng. Mưa vẫn rơi nhưng lòng người đầy nắng. Chất lãng mạn vốn là nét đặc trưng trong thơ Hoàng Uyển Văn lại được thể hiện tự nhiên và tinh tế.

Một trong những nét nổi bật của tập thơ là cảm thức về thời gian. Tuổi trẻ đã đi qua. Mái tóc đã bạc. Những cuộc tình năm cũ chỉ còn trong ký ức. Nhưng điều còn lại chính là những rung động không già đi theo năm tháng:

"Rồi chợt thấy bàng hoàng, hụt hẫng/ Một ngày kia tóc đã bạc phai màu/ Em vẫn cuối quãng đường hoang vắng quá/ Ta cuối cùng cũng chung thuộc về nhau"

(Hoang dột đời nhau)

Câu thơ mang màu sắc chiêm nghiệm của người đứng ở bên kia con dốc cuộc đời. Sau tất cả những xa cách, những lỡ làng, con người rồi cũng tìm thấy điểm gặp gỡ cuối cùng trong miền ký ức và tình thương.

Bên cạnh thơ tình, những bài thơ viết về Mạ cũng là những bài thơ để lại nhiều xúc động. Là người con của xứ Huế, tiếng gọi "Mạ" trong thơ ông vừa thân thương vừa thiêng liêng:

"Mạ vẫn nằm yên như ngủ say/ Chờ bàn tay nhỏ của con lay.../ Nhưng rồi... Chẳng thể khi nào nữa!/ Mạ ngủ muôn đời với gió mây..."

(Không đề cho Mạ)

Không cần những lời lẽ cầu kỳ, chỉ vài câu thơ ngắn cũng đủ khiến người đọc nghẹn lại. Nỗi đau mất mẹ được diễn tả bằng hình ảnh bình dị nhưng ám ảnh. Đó là tiếng lòng của một người con khi nhận ra từ nay sẽ không còn cơ hội được gọi tiếng "Mạ" như ngày nào nữa.

Về nghệ thuật, Hoàng Uyển Văn tiếp tục phát huy sở trường ở các thể thơ năm chữ, bảy chữ, lục bát và thơ tự do. Ngôn ngữ thơ giản dị, giàu nhạc tính. Ông không tìm kiếm những cách tân cực đoan mà trung thành với cảm xúc chân thật. Chính sự chân thật ấy đã tạo nên sức thuyết phục cho thơ ông.

Ảnh hưởng của thơ cổ điển, của thi ca lãng mạn tiền chiến và cả hơi thở ca dao vẫn thấp thoáng trong nhiều câu thơ. Tuy nhiên, Hoàng Uyển Văn không lặp lại người khác. Ông đã tạo được giọng điệu riêng của mình: trầm lắng, thiết tha, phong trần mà nhân hậu.

Đọc Mật khẩu em, tôi hình dung người thi sĩ ấy vẫn đang trên hành trình của mình. Từ Thành Nội Huế đến Phú Yên rồi Sài Gòn, từ tuổi trẻ đến tuổi xế chiều, từ những cuộc gặp gỡ đến những cuộc chia xa. Cuộc đời có thể đổi thay rất nhiều, nhưng trái tim thi sĩ vẫn giữ nguyên hồn thơ yêu thương, nhớ nhung và rung động trước vẻ đẹp của con người.

Có lẽ vì thế mà tập thơ thứ ba này không chỉ là câu chuyện của riêng Hoàng Uyển Văn. Trong những câu thơ về tình yêu, về mẹ, về thời gian và thân phận, người đọc dễ dàng bắt gặp chính mình. Bởi ai trong chúng ta rồi cũng từng có một "mật khẩu" được cất giữ trong sâu thẳm trái tim một người, một miền ký ức hay một nỗi nhớ không bao giờ mất.

"Mật khẩu em" vì thế không chỉ là tên một tập thơ. Đó còn là chiếc chìa khóa mở ra thế giới tâm hồn của Hoàng Uyển Văn- một tâm hồn giàu yêu thương, giàu hoài niệm và luôn tha thiết với cuộc đời.

Sài Gòn, ngày 17 tháng 6 năm 2026

Hoàng Thị Bích Hà

       habich1963@gmail.com

 

READ MORE - ĐẾN VỚI TẬP THƠ THỨ BA “MẬT KHẨU EM” CỦA HOÀNG UYỂN VĂN - Hoàng Thị Bích Hà