sông Cánh Hòm
Phạm Xuân Dũng
Trong “gia đình” các dòng sông ở Quảng
Trị, sông Cánh Hòm có vẻ khiêm nhường bên cạnh những chị em tên tuổi như Hiền
Lương, Thạch Hãn. Chính vì vậy, chúng
tôi đã dành năm ngày đi theo dòng sông làm ký sự truyền hình để sẻ chia với
khán giả. Làng Mai Xá, xã Gio Mai, là nơi hợp lưu của 3 con sông Quảng Trị: Thạch Hãn, Hiếu Giang và Cánh Hòm.
Sông Cánh Hòm đặc biệt, khác với những
con sông còn lại ở tỉnh Quảng Trị. Sông tự nhiên thì Hiền Lương, Hiếu Giang, Thạch
Hãn, Ô Lâu… riêng sông đào thì có Vĩnh Định được trang trọng khắc trên vạc đồng
ở kinh thành Huế. Chỉ có Cánh Hòm một nửa trời sinh, một nửa người đào mà thành, nhưng nhân tạo lớn hơn thiên phú. Sông Cánh Hòm nằm gọn trong địa phận huyện
Gio Linh, dài 11 km, nếu tính cả chi lưu độ dài phải gấp đôi, chảy qua các xã đồng
bằng phía đông của huyện, tưới mát cho biết bao đồng lúa.
Sông Cánh Hòm chảy qua làng Rừng Sác, làng Nhĩ Thượng. Ảnh Phạm Xuân Dũng
Xưa chuyện khai sơn phá thạch, dời
non lấp bể là đại sự trong thiên hạ, ít ra cũng là việc trọng của một vương triều.
Dưới thời Chúa Nguyễn Phúc Tần (1651), sông này đã được khai thông ít nhiều,
nhưng phải đợi đến triều vua Minh Mạng thì việc lớn mới thành. Khi ấy triều
đình mở một con đường thủy từ kinh sư theo Vĩnh Định ra đến Cửa Việt theo dòng
Cánh Hòm gặp sông Bến Hải, thậm chí còn ra đến tận Quảng Bình cũng theo vẫn
theo con nước, để bậc đế vương tuần du, thăm thú rồi nghỉ lại Cửa Tùng - nơi
người Pháp nịnh đầm có lý khi xướng danh "nữ hoàng của các bãi tắm".
Đầu thế kỷ hai mươi, vua Duy Tân có lần ra Cửa Tùng, tiếng là đi chơi để che mắt
Pháp nhưng kỳ thực là tìm gặp những nhân sĩ yêu nước như cụ Khóa Bảo Nguyễn Hữu
Đồng ở Cam Lộ để mật bàn quốc sự khởi nghĩa chống quân xâm lược. Việc lớn bất
thành, cả vua lẫn tôi đều bị giặc Pháp giam vào ngục thất. Dấu tích vua chúa
ngày xưa nay đã nhạt nhòa, nhưng thú vị là vẫn còn một địa danh đọc lên nghe rất
Huế vì gắn liền với quân vương, ấy là cầu Bến Ngự thuộc xã Gio Mỹ, bắc qua sông
Cánh Hòm chảy suốt thời gian, chở đầy ký ức.
Sông Cánh Hòm chảy qua làng Bách Lộc. Ảnh: Phạm Xuân Dũng
Hôm tôi về Mai Xá Thị, nhằm ngày rằm
tháng Giêng, tức Tết Nguyên Tiêu, tận mắt chứng kiến nhiều sự lạ. Dân làng chỉ
cho tôi cây ngô đồng cổ thụ như trong thơ Bích Khê, có mặt từ thời vua Tự Đức.
Thời chiến loạn, mảnh bom đạn giắt đầy thân cây, tưởng đâu không qua khỏi, nhưng
thật không ngờ vẫn sống xanh tươi cho đến hôm nay. Vào trong đình lại thấy thờ
cả danh thần Trần Đình Ân, vốn là cụ Thượng làng Hà Trung của xã Gio Châu. Hỏi
ra mới biết, xưa làng Mai Xá Thị dính vào một vụ đáo tụng đình đất đai oái ăm,
may nhờ đại thần Trần Đình Ân thương dân nên tạo phúc giúp cho làng này thắng
kiện, tìm được lẽ phải. Sau khi cụ Trần Đình Ân qua đời, bài vị của vị đại quan
từ đó được nơi đây phụng thờ hương khói.
Sông Cánh Hòm, đoạn chảy qua làng Xuân Long, xã Trung Hải, huyện Gio Linh. Ảnh: Phạm Xuân Dũng
Lần theo con nước qua làng Lâm Xuân
xưa, là làng chiếu nổi danh, để gặp một lão nông tri điền yêu đất đai như là máu
thịt đời mình. Ông Trần Xuân Thắng, tuổi ngoại bát tuần nhưng dáng vẻ vẫn vững
chãi, gương mặt tinh anh. Nhà ông như một bảo tàng nhỏ nông cụ, những vật dụng
thiết thân với nhà nông như miếng cơm, manh áo hằng ngày. Tôi vốn không lạ gì với
những vật dụng này, nhưng nghe ông Thắng say sưa giảng giải từ cày đến bừa, từ
cuốc chỉa đến cuốc bàn, từ trang đến nát… lòng không khỏi khâm phục một hiện
thân nhân văn và sinh động của văn minh lúa nước sống dọc theo sông Cánh Hòm.
Về Nhĩ Thượng thuộc xã Gio Mỹ khi mùa lúa đang đến. Những cánh đồng trải
dài trong nắng hạ, hứa hẹn một năm bội thu của nhà nông khi ruộng tắm mát nước
sông Cánh Hòm, khám phá thêm nhiều bí ẩn kỳ thú của thiên nhiên. Ông Nguyễn
Thành, vốn là trưởng thôn, vui vẻ dẫn chúng tôi ra thăm giếng cổ của làng. Chiều
sâu của giếng chỉ khoảng hai gang tay, mà lạ chưa, nước hàng trăm năm nay không bao
giờ vơi cạn, kể cả những năm hạn hán kỷ lục. Ông Thành vừa chỉ tay giới thiệu vừa
nói không giấu nổi vẻ tự hào: “Giếng sâu chỉ chừng đó thôi nhưng nắng mấy cũng
không bao giờ cạn, nước ngọt mát vô cùng. Dân làng lấy nước này nấu rượu vào những
dịp cúng tế trang trọng”.
Chúng tôi lại chèo ghe vào rừng
Sác, một cánh rừng ngập mặn dọc theo sông Cánh Hòm - đoạn này dài đến 3 km, chạy
dài lên đến cầu Bến Ngự mới dừng lại. Cần nói thêm rằng sau này, do làm thủy lợi vào thập niên 80 của thế kỷ trước, dòng nước đã thành dòng nước ngọt. Đây cũng là một nét độc đáo trong thay đổi địa chất thủy văn cần các nhà chuyên môn tìm hiểu. Vì cho đến nay vẫn chưa có một giải đáp khoa học về sự ra đời và phát
triển của khu rừng kỳ lạ này. Chỉ biết rằng dù nước thay đổi nhưng cây cối vẫn
thích nghi và xanh tốt như thường, như chẳng có chuyện gì xảy ra, thậm chí mới
đây còn thu hút nhiều chim quý hiếm. Đây chính là lá phổi xanh điều hòa sinh
thái cho ngôi làng Nhĩ Thượng, một báu vật trời cho từ ngàn đời nay cần được gìn giữ
như chính ngôi nhà của mỗi gia đình. Anh Nguyễn Văn Mãi, người dân địa phương, vừa
chèo ghe vừa nói: “Có được Sác này là quý giá nên bà con ở đây rất có ý thức giữ
gìn.”
Dân chài làng Bách Lộc đánh bắt thủy sản trên sông Cánh Hòm. Ảnh: Phạm Xuân Dũng
Có thể khẳng định địa danh rừng Sác
là độc nhất vô nhị ở Quảng Trị, vì ngay cả cù lao Bắc Phước với rừng cây ngập mặn
như cây bần cũng không mang tên gọi như vậy. Cách gọi này làm ta nhớ đến ngay địa
danh Rừng Sác ở hạ lưu sông Sài Gòn - Đồng Nai mà tên gọi chính thức là Khu dự
trữ sinh quyển thế giới Cần Giờ. Và nhân tiện, cũng cải chính sự nhầm lẫn có thể
xảy ra với một vài người. Đó là thay vì gọi rừng Sác. Họ lại gọi nhầm thành rừng
Sát. Hơn nữa, gọi rừng Sác nhưng lại không có loại cây nào gọi là cây Sác cả.
Chuyện này cũng tạo nên những lý giải tốn nhiều giấy mực. Theo một học giả uy
tín An Chi , thì sác được giảng là ”rừng
nước mặn (ở gần biển)”. Tất cả đều có một nét nghĩa chung là ”rừng ngập ngụa”.
Đây chính là nghĩa gốc của từ sác trong phương ngữ Nam Bộ.
Bên cạnh rừng ngập mặn nguyên sinh,
Nhĩ Thượng còn có một rừng tràm tự nhiên với diện tích lên đến 10 ha nằm trên đồi
cát cũng không xa cao điểm 31 thuộc hệ thống di tích của hàng rào điện tử
Mcnamara. Rừng tràm trải rộng theo những cồn cát, địa hình cũng nhấp nhô, uốn
lượn. Đi bộ vào rừng hay nhìn từ trên cao đều khiến người xem không khỏi ngạc
nhiên. Đây cũng là một ân tứ của thiên nhiên. Vì ở những cồn cát, trảng cát được
mệnh danh là tiểu sa mạc hay tiểu bán sa mạc trong thời tiết nắng lửa gió Lào, nếu
không có những cỗ máy thiên nhiên xanh như rừng tràm thì ắt hẳn quá trình sa mạc
hóa chỉ còn là chuyện thời gian. Được biết, cơ quan kiểm lâm địa phương đã bàn
giao rừng tràm cho thôn quản lý. Kinh nghiệm thực tế cho thấy không ai giữ rừng
nói riêng và tài nguyên khoáng sản nói chung bằng người dân bản địa.
Ông Nguyễn Thành đã thay mặt bà con
mong mỏi như vậy. Ông còn nói thêm những lời chân tình gan ruột: “Nếu làm được
du lịch để du khách về tham quan giếng cổ,
rừng Sác, rừng tràm, rồi lên cao điểm 31 và cả sông Cánh Hòm nữa thì tôi chắc
chắn quê nhà sẽ đổi khác”.
Ngã ba sông, đoạn cuối sông Cánh Hòm đổ ra sông Hiền Lương. Ảnh: Phạm Xuân Dũng
Rong ruổi suốt mấy ngày trời, rồi
cũng gặp chuyện hay sông Cánh Hòm ở làng chài Bách Lộc thuộc xã Trung Hải. Làng
được hình thành vào thế kỷ 18. Theo lời kể ông Lê Viết Trinh, quá vãng đã xa lại
về trong phút chốc. Thời ấy, ông tiền khai khẩn Trần Hiếu năm Thiệu Trị thứ bảy (1847) đã tập hợp
dân chài từ phá Tam Giang xứ Huế đến Bến Quan (Vĩnh Linh) quyết tạo dựng cuộc sống
lâu dài. Họ nương náu theo sông Cánh Hòm, cũng rày đây mai đó, thường neo đậu
đoạn eo làng Xuân Mỵ văn chương nức tiếng. Thấy vạn chài không một tấc đất cắm
dùi, lênh đênh gian khó, bà con Xuân Mỵ thương tình đã nhượng lại hai mẫu đất
giữa làng cho bà con ngư dân phơi lưới, lâu dần thành đất sinh cư tử táng. Tình
nghĩa đồng bào đã làm nên một hiện tượng đặc biệt: làng Bách Lộc phái sinh từ
làng Xuân Mỵ, hay như có người đã nói: làng mọc giữa làng. Khi tôi theo anh Trần
Văn Sắt trên chiếc thuyền bủa lưới trên sông, mới biết thêm rằng bà con Bách Lộc
xa xứ vào tận huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận, dù lo toan cơm áo, vẫn không nguôi
nhớ về quê cũ. Họ đặt tên làng nơi đất mới là Bách Lộc. Vậy là có một núm ruột
sông Cánh Hòm (Quảng Trị) an cư lạc nghiệp vùng cực nam Trung Bộ.
Dân làng Mai Xá Thị trước đình làng. Ảnh: Phạm Xuân Dũng
Hôm về làng Thủy Khê, xã Gio Mỹ, không còn dệt chiếu, mới hiểu thêm dâu bể của dòng sông. Ông Lê A, một bậc cao
niên vừa bẻ những cọng cói còn sót lại bên sông xưa, thuyết minh về nghề trồng
cói nay chỉ còn trong nỗi nhớ của những người lớn tuổi. Mắt ông sáng lên khi nhắc đến những ngày chưa xa lắm khi làng còn trồng cói. Nắng chiều
chiếu rọi gương mặt, thời gian từng đường nét như điêu khắc dung mạo của một nhân chứng
Cánh Hòm. Tự dưng lại nhớ mấy câu trong bài thơ "Sông Lấp" của cụ Tú
Xương mà hoang mang da diết: “Sông kia rày đã nên đồng/ Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng
ngô khoai/ Vẳng nghe tiếng ếch bên tai/ Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi
đò..."
Khi đứng phía bắc cầu Bến Hải, ngắm
nhìn ngã ba sông Cánh Hòm nhập vào con nước Hiền Lương, tôi chợt nhận ra rằng
không chỉ nhân sinh mới cần bầu bạn mà thiên nhiên cũng luôn hướng đến sự giao
lưu hòa hợp để khai thông huyệt đạo của mình. Những dòng nước dù mải miết quanh
co, phiêu lưu tưởng chừng vô định rồi bằng một cách nào đó, cũng tìm đến với
nhau, giang rộng vòng tay như người gặp được người…
Phạm Xuân Dũng
https://vietnamnet.vn/nam-ngay-xuoi-theo-song-canh-hom-2281691.html






.jpg)
.jpg)
