Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Saturday, September 26, 2026

CHÙM THƠ BÀNH PHI LÂN: Ngày trở laị / Lắng nghe tiếng lòng / Thương nhớ quê nghèo

 


 

NGÀY TRỞ LẠI

 

Ngày trở lại bên dòng sông năm cũ

Bóng con đò đứng đợi khách sang sông

Giờ đã xa như tháng ngày biền biệt

Vẫn trong ta em dáng nhỏ lụa là

Gần hết đời người vẫn thương hoài xứ ấy

Ta trở về ôm lấy mối tình thơ

Con đường xưa vẫn thơm mùi cỏ dại

Sợi tóc dài còn vương mãi trong mơ

Núi vẫn xanh như tình yêu muôn thuở

Tiếng chuông chùa vọng lại đến ngàn sau

Đời biển dâu dù chỉ là quán trọ

Đôi mắt trong thánh thiện đến vô cùng!

Ngày trở lại chiếc cầu xưa còn đó

Đã bao lần ta ngắm dáng em qua

Bao sắc màu thi nhau nhấp nháy

Làm sao quên dầu mưa gió phôi pha!

Ngày trở lại về thăm vườn cũ

Gió trong vườn xào xạc hương bay

Bao kỷ niệm từng cây dâu, cây bưởi

Góc thềm xưa lá rụng rơi đầy!

Ta dừng lại chợt thấy mình khang khác

Có nghe chăng nhịp bước của thời gian

Góc thành cũ còn rêu phong, khói nhạt

Ta vẫn yêu thời hoa mộng trăng ngàn!


Một ngày mưa tháng 9/26. 

Bành Phi Lân

 

LẮNG NGHE TIẾNG LÒNG

 

Lắng nghe tiếng gió miền xa

Thổi từ châu thổ thổi qua núi đồi

Lắng nghe lời mẹ ru hời

Ru từ bụng mẹ, cả đời không quên

Lắng nghe mưa giọt bên thềm

Tiếng mưa rơi nhẹ êm đềm giấc khuya

Lắng nghe tiếng sóng vỗ đều

Vỗ bờ cát mịn, vỗ mềm bước ai

Lắng nghe từng giọt sương mai

Nghe từng hơi thở dặm dài cỏ xanh

Lắng nghe hạt nắng long lanh

Cùng đàn chim nhỏ trên cành líu lo

Lắng nghe tiếng trẻ bi bô

Nụ cười sảng khoái giữa bờ yêu thương

Lắng nghe tiếng khóc đoạn trường

Bao nhiêu nước mắt con đường khổ đau

Lắng nghe lời nói của nhau

Trái tim mềm lại, nỗi sầu dần vơi

Lắng nghe tiếng hát trong đời

Từ trong sâu thẳm nghe lời mình ra

Lắng nghe mặt đất chan hoà

Ấm lên tình nghĩa mặn mà nhà chung.


Sáng 22/9/21. 

Bành Phi Lân


THƯƠNG NHỚ QUÊ NGHÈO

 

Quê tôi nghèo nắng cháy

Gió nóng đốt buồng cau

Khô queo từng cọng lá

Vẫn có lắm anh hào!

Dân tôi luôn lam lũ

Quần quật trên đồng khô

Đổ mồ hôi muối mặn

Mong có bát cơm đầy

Trời thường làm cơn lũ

Bão hay ghé qua đây

Dân đã nghèo lại khổ

Một cổ biết mấy tròng

Chiến tranh tàn phá hết

Nhà cửa lắm tan hoang

Dân cư đành li tán

Chạy, chạy mãi đau lòng

Đã hai lần chia cắt

Hai dòng sông li biệt

Bên này nhớ bên tê

Máu và đầy nước mắt

Có “con đường không vui”

Có “chiếc cầu không ngắn”

Có mồ chôn lấp tạm

Đều máu thịt anh em

Quê hương ngưng tiếng súng

Đã gần năm mươi năm

Bao người đi không về

Bao oan hồn vất vưởng

Trên mọi nẻo đường quê

Người tìm đường mở nước

Xây cứ địa nơi đây

Mấy trăm năm mở cõi

Để tàn lạnh bao ngày!

Quê tôi nghèo rứa đó

Quê tôi khổ ri đây

Người dân biết “vịn” dậy

Vá lại bóng hao gầy!


25/9/21.

Bành Phi Lân

<lanbanhphi@gmail.com>

READ MORE - CHÙM THƠ BÀNH PHI LÂN: Ngày trở laị / Lắng nghe tiếng lòng / Thương nhớ quê nghèo

Youtube: KHÓI LAM CHIỀU BAY - Thơ: Nguyễn Hồng Linh - Nhạc: Nguyễn Cửu Dũng - Ca sĩ: Mai Trang

 




KHÓI LAM CHIỀU BAY


Chiều buông nhẹ xuống bến quê xưa cũ Mẹ ngồi đan áo lạnh giữa mùa đông Gió đưa thoảng nhẹ hương đồng lúa trổ Nắng tàn dần khuất phía cuối dòng sông. Mưa lất phất rơi trên con đường nhỏ Ướt mái tranh nghèo lặng lẽ ven thôn Hàng tre già khẽ nghiêng mình trong gió Nghe thời gian trôi chậm giữa hoàng hôn. Con đò cũ nép mình bên bến vắng Cánh cò bay hòa cùng bóng chiều rơi Không gian phủ một màu buồn trầm lắng Gợi trong tim bao nỗi nhớ xa vời. Khói lam chiều bay ngang qua mái rạ Tiếng gọi ai vọng lại giữa mênh mang Mẹ đón con nụ cười hiền êm ả Ru lòng người quên hết những đa đoan. Stuttgart, 16.04.2026 Nguyễn Hồng Linh
READ MORE - Youtube: KHÓI LAM CHIỀU BAY - Thơ: Nguyễn Hồng Linh - Nhạc: Nguyễn Cửu Dũng - Ca sĩ: Mai Trang

MẤY NGƯỜI BẠN CŨ - Tùy bút: Lê Văn Trạch





MẤY NGƯỜI BẠN CŨ

Tùy bút: Lê Văn Trạch

 

Hình như mọi bà mẹ quê Quảng Trị đều có chung một điều mong ước là làm sao con mình được vào học Trường Nguyễn Hoàng: vừa đỡ tốn một khoản học phí, vừa đánh giá sức học sau khi đạt số điểm qua một kỳ thi tuyển và cảm thấy có niềm hãnh diện vô hình nào đó. Điều này tôi đã làm Mẹ tôi thất vọng mặc dầu trước đó mấy hôm Bà chuẩn bị rất kỹ: mua một con gà đúng giò nhốt sẵn cho sạch chân để cúng "trửa trời", không cho tôi ăn trứng sợ bị điểm không ... sau hôm cúng ông bác tôi coi giò bảo rất tốt: "Sởn sơ không một vết bầm, nội phò, ngoại giang, huyết đáo thượng trần, mọi chuyện sẽ thông suốt tốt đẹp", nhưng không hiểu sao tôi bị rớt trong kỳ thi vào Đệ Thất năm đó. Mẹ tôi âm thầm thở dài với lời tự thán an ủi "học tài thi phận". Tôi phải vào trường Thánh Tâm một năm và năm sau trở lại quê vì lúc này ở quận bắt đầu mở trường Bán Công với hai lớp Đệ Thất và Đệ Lục.

 

Những năm ở Trung học, tôi cứ nghĩ là sau này mình sẽ đi ban Toán vì đây là môn tôi rất thích và thường có điểm số cao nhất: nhớ năm Đệ Lục, thầy Lê văn Quang cứ vào đầu giờ đều cho làm toán chạy với phần thưởng 3,2,1 kẹo Nougat cho 3 người nhanh nhất. Lúc nào tôi cũng được 3 cái. Rồi những năm sau, tháng nào tôi cũng được thầy Lê Văn Ni tặng cho những cuốn sách tự chọn vì tôi đã làm được hầu hết các bài toán Lý hóa trong sách của thầy Đặng Sĩ Hỹ .. Thế mà khi vào Đệ Tam Nguyễn Hoàng, tôi không được đi ban B như trong đơn thỉnh nguyện, mà phải vào ban C. Sau một thời gian ngắn, tôi mới biết là lúc này trường bắt đầu mở ban Văn chương Sinh ngữ nhưng số học sinh ghi danh quá ít, quý thầy phải giở học bạ ra rà xét, tìm những người tạm có khả năng đưa vào cho đủ sĩ số ... Trong học bạ của tôi, sau môn Toán, Sinh ngữ chỉ ở mực trung bình, nhưng môn Việt văn trội hơn một chút, lại quý thầy thương tình dễ dãi trong việc cho điểm: Có lần thầy Lê Hữu Thăng khi ra đề luận văn "Tâm sự Thúy Kiều ở lầu Ngưng Bích" đã cho tôi số điểm tối đa, có lẽ đây là cái "Duyên" thầy đã gieo để gần 40 năm sau liên lạc được với nhau trên đất Mỹ, tôi phải trả "nợ". Lần này thầy cũng ra một đề luận văn, khó hơn với nội dung chi tiết gạch đầu dòng. Tôi cố gắng viết trong nhiều cảm xúc khác nhau, không biết thầy "cho bao nhiêu điểm", nhưng đã chọn đăng trên Kỷ yếu Quảng Trị.           

 

Lớp C ban Pháp văn năm đó chỉ có 37 học sinh, gần một nửa đi vào với những bước chân bất đắc dĩ, sức học trung bình hoặc dưới, trong đó có tôi, bởi thế tôi phải học hai năm Đệ Nhị để được làm quen thêm nhiều bạn khác. Mặc dầu "văn dốt, vũ nát", tôi cũng có được cái vinh dự lịch sử là một trong những học sinh ban C đầu tiên của trường Nguyễn Hoàng.           

 

Nhập học niên khóa 1963 - 1964, tôi lạc lõng trong mặc cảm một học sinh trường quận với bản tính trầm lặng, nhút nhát, không có bạn thân, tuy thế hai tháng sau, xảy ra vụ đảo chánh 1 - 11 với những cuộc bãi khóa xuống đường liên tục do các anh Lê Đình Cai, Thái Tăng Phương ... dẫn đầu, tôi cảm thấy dạn dĩ và gần gũi với bạn học hơn. Một trong những người thân nhất và để lại trong tôi nhiều dấu ấn đẹp đến sau này là Nguyễn Ngọc Hùng. Anh có nhiều biệt danh: Hùng Bắc, Hùng La Vang, Hùng Lì… nổi tiếng về cái nghịch ngợm của mình, là biểu hiện đúng đắn nhất ở vị trí thứ 3 sau ma và quỷ! Trong các môn học, chỉ giỏi về văn, còn lại là mù tịt. Đam mê của Hùng là tán gái và làm thơ. Trong cặp sách lúc nào cũng có sẵn một hai bài thơ và thư tình. Gặp cô nào hợp nhãn, sau vài câu mở đề là điền tên vào và nộp bài ngay! Anh thường công khai hóa những mối tình học trò thầm lén cho cả lớp biết, có lần đọc đâu đó mấy câu thơ của anh Thiệu gửi cho chị Lan:

"Ngập ngừng tôi gọi Lan bằng chị

Ôi đẹp làm sao chuyện chúng mình"

 

Anh chẳng ngại ngùng phổ biến .. Cuộc tình nhen nhúm từ lớp học đã cột chặt hai người lại với nhau cho đến bây giờ . Hiện anh chị sống rất hạnh phúc với cả đàn con thành đạt ở Dallas ...  Những kỳ thi lục cá nguyệt, cứ mỗi câu hỏi về toán anh làm một bài thơ, thế mà cô Kim Sa vẫn cho anh điểm trung bình, mỗi thầy cô anh đều đặt thêm một biệt danh: thầy Sang dạy Sử Địa là "quả lắc Faucault", cô Kim Sa là "Cô 36", thầy Châm dạy Anh văn là "Nez Rouge", thầy Nguyễn Đăng Ngọc dạy văn là "Tâm Vô Cầu" .. Giờ đầu Công dân, thầy Quý giới thiệu: Tôi, Thái Tăng Quý, cử nhân Luật khoa. Thế là lần sau, trước khi thầy vào đã thấy Hùng lấy phấn viết lên bảng:

"Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt

Dưới sân ông cử ngẩng đầu rồng” 

 

Có lần anh ráp nối một bài thơ Đường rồi đem hỏi thầy Ngọc: bài thơ con đọc một lần rất thích và nhớ mãi trong một tuyển tập thơ của Đỗ Phủ, Lý Bạch và Bạch Cư Dị, nhưng không rõ cụ thể là của ai, thầy có nhớ chỉ dùm con với ... Một lần khác, anh không làm theo đề luận văn của thầy mà theo một đề khác do mình tự đặt, đương nhiên thầy không chấm. Trong phần lời phê của giáo sư, anh mạo chữ của thầy viết: Nhất Linh viết thua anh, Khái Hưng sống lại viết bằng anh là cùng… rồi chuyển lên khoe với cách chị Ngọc Bích, Lệ Hằng, Nguyễn Thị Thanh, Nguyễn Thị Liễu…          

 

Về Quảng Trị, lúc đầu tôi ăn cơm tháng ở Thạch Hãn, sau anh Ngô Xuân Lưu giới thiệu đến dạy kèm cho con bà dì ở Góc Bầu, phía sau lò rèn ông Lem, cạnh nhà anh Hàm, anh Thám, có cô em tên Khiểm rất dễ thương. Một lần đứng chơi trước lò rèn, chung quanh có mấy bà mẹ trẻ, anh thản nhiên sửa lời của một bài thơ tiền chiến rồi ngâm: 

Ngày mai trong đám bồng con ấy

Có kẻ theo tôi bỏ cả chồng (!)         

 

Sau này, gần lúc thi cử, tôi dọn xuống ở nhà chị Bé, người cùng quê phía sau chùa Tỉnh Hội. Những ngày nghỉ, Hùng thường rủ tôi đi chơi, lúc nào cũng có một nắm bạc cắc "cuỗm" của bà O bán tạp hóa (?!), nhờ chị Bé đổi ra tiền giấy rồi đi đá Jeton ở quán ông Mười trước rạp Đại Chúng hoặc ăn bún bò ở đường Lý Thái Tổ, thỉnh thoảng có dẫn theo Phán, học Thánh Tâm, nghịch như Hùng vậy. Địa bàn hoạt động của anh là Trường Nữ Theresa. Phán cũng có năng khiếu về thơ văn, sau này làm Ban Báo chí ở TTHL/Vũng Tàu. Những khi không có tiền, chúng tôi mượn "súng cóng dù bắn đạn ria" của anh Trang, chồng chị Bé, đi bắn chim sẻ hoặc dạt ở cánh đồng Hạnh Hoa. Những cuối tuần lên thăm nhà, Hùng thường theo tôi và chỉ mấy lần cũng đã quen được nhiều cô .. Hùng không bao giờ xem lại bài vở ở nhà, chúng tôi đều học hai năm Đệ Nhị, kỳ thi sau anh phải nhờ một người bạn đóng vai giám thị hành lang - cũng kiếng trắng, veston, giày cuire, cặp táp, mang bài luận Pháp văn vào đứng ngay trước mặt, đợi anh chép xong rồi đi ra, không hiểu sao quý Thầy coi phòng thi chẳng có ý kiến gì cả. Có bằng TT I (Tú tài bán phần),  anh nhập ngũ ngay khóa 22/TĐ ... Sau này gặp một số bạn của Hùng kể chuyện: Hùng là cứu tinh cho bạn bè thân tình ở Trung đội, nếu lỡ bị mất nút ống hơi của súng Garant M1, chỉ cần cho Hùng biết 30 giây là có ngay; thường chơi kết bạn bốn phương với nhiều người, cuối tuần hẹn lên vườn Tiếp tân của trường, chọn cô nào đẹp, chịu chơi, dẫn đi. Hùng nghịch, nhưng thông minh, vui tính, nên được quý thầy và bạn bè thương ...          

 

Để giữ lại một kỷ niệm cho lớp, cho trường và giải bày những tâm tư học trò trong thời điểm mình có mặt, các anh chị đầu đàn trong lớp như Lê Đình Lộng Chương, Lê Hữu Ty, Đỗ Tư Nghĩa, Đoàn Thị Tình, Hoàng Hữu Ly, Hoàng Mỹ, Hồ Sĩ Kỷ, Lê Mậu Thiên, Nguyễn Cư .. đã bàn bạc để ra tập san lấy tên là "DẤU CHÂN CHIM", một tên gọi thật hay và ý nghĩa: dấu chân của những chú chim nho nhỏ ríu rít quanh quẩn bên tổ đợi mẹ mớm mồi, sau này những cánh chim bay đi khắp bốn phương trời đậu lại ở những vị trí khác nhau nhưng có lúc ngoảnh đầu nhìn lại chắc không khỏi cảm xúc bồi hồi. Trụ sở Ban Biên Tập đặt tại Thạch Hãn. Cả lớp cùng nhau hì hục làm việc: quay Roneo ở Ty Thông Tin, xếp bài, đóng sách, hơn một nửa học sinh trong lớp đều có góp bài, chừ thì chỉ nhớ lờ mờ hình bìa, còn nội dung xin chịu, ngay cả bài của mình viết, chỉ nhớ được bút hiệu Ngữ Quyên của anh Nguyễn Cư, điều thú vị là năm 95, tình cờ gặp anh tại Saigon, chúng tôi đều nói là không có đứa nào lạ cả, anh vẫn vui tính tươi cười với chiếc răng khểnh rất dễ thương ... 

Trước khi rời VN mấy hôm, chúng tôi có gặp nhau tại quán số 3 Lê Lai, trong đó có mấy người bạn cùng lớp: Nguyễn Cư, Nguyễn Văn Tịnh, Lê Ngọc Giao, Thái Thạch. Rời trường, mỗi người trôi nổi theo những công việc khác nhau, ít khi hội ngộ. Chỉ năm 72, gặp anh Lê Văn Hoàn ở trại Tình Thương của TK/QT ở Mỹ Thị, Đà Nẵng, hỏi tôi có cần sổ xanh, anh ta giúp. Lần khác, lúc đơn vị  đang tái huấn luyện tại Phú Bài, tôi chuồn vào thăm nhà ở Đà Nẵng, khi trở lại, có lệnh cấm trại và quân cảnh hỏi rất gắt, biết là một người bạn cùng lớp đang chỉ huy tại đây, không đợi xét giấy tờ, tôi hỏi một QC để gặp Trung úy Thợ, anh bảo Trung úy đang ở Huế, rồi chào đi ... Năm 1974, khi bà con QT hồi cư tại Hải Lăng, nhân chuyến về thăm, tôi ghé bệnh viện và gặp Lê Mậu Thiên lúc này là bác sĩ, hứa là sẽ giúp để bà xã sớm thuyên chuyển vào Đà Nẵng .          

 

Tết Mậu Thân, Hùng về phép và bị kẹt lại, anh được quân trấn Quảng Trị chỉ định làm trưởng toán bảo vệ trong thị xã (gồm những quân nhân xa đơn vị). Anh dẫn tôi vào quán Lưu Khách, ăn uống xong không cho tôi chi, anh đến bàn bên cạnh bảo trả tiền dùm ...         

 

Tôi gặp lại Nguyễn Ngọc Hùng một lần nữa vào đầu năm 69 tại Saigon, lúc này tôi mới nhập ngũ còn anh đã là Trung úy Biệt Động Quân, bị thương đang ở đơn vị 3 Quản Tri, có dự định nạp đơn vào Quốc Gia Hành Chánh, tính tình vẫn thế, anh dẫn tôi đến giới thiệu với người bạn gái trong chợ Phú Nhuận - nói là sẽ cưới làm vợ - rằng tôi là người em con bà dì ruột ... Tôi mất liên lạc với Hùng từ đó!           

 

Cho đến giờ này, tôi không hiểu sao chúng tôi lại thân nhau khi tính nết hai đứa một trời một vực, chắc anh cũng nghĩ thế. Trước khi nhập ngũ, anh có tặng tôi một tập thơ, tên là Tao Mày, trình bày rất đẹp, có mấy câu thơ tôi còn nhớ:

“Tao nhớ ngày xưa tao mê gái

Mải miết rong chơi với bạn bè

Còn mày câm nín trong sách vở

Thế mà hai đứa mến nhau ghê” ...           

 

Mang tiếng là bạn học thân tình, nhưng quan hệ giữa chúng tôi chỉ có chơi là chủ yếu. Một người bạn khác - Lê Ngọc Giao - Ban C Anh văn, lại rất tâm đắc với nhau trong học tập, nhất là văn học nghệ thuật. Anh trọ trên căn gác nhỏ phía bên trái chùa trên đường Lê Văn Duyệt do anh Đỗ Bá Chi tài trợ. Anh thường chỉ giúp tôi thêm tiếng Anh, thảo luận về những đề luận trong lớp. Chúng tôi thường rủ nhau đi qua mấy hiệu sách Văn Hóa, Sáng Tạo, Tùng Sơn và cuối cùng dừng lại để mua ở quán Lương Giang; chỉ mua sách hoặc đọc báo cọp chứ không phải như anh chàng nọ sau này gặp ở Saigon, nhân kể chuyện cũ đã tự thú rằng mình đến quán Lương Giang cũng giả đò lật lật sách báo nhưng thực sự để lâu lâu được nhìn đôi bàn chân nõn nà và một khoảng trắng trên mắt cá của cô Tâm con gái ông chủ thường có cái tật dùng hai tay kéo xách ống quần lên!           

 

Có một cuốn sách lúc đó là thời thượng, hai đứa phải để dành cả tháng với sự phụ trợ của Hùng mới mua được: "Ý thức mới trong văn nghệ và triết học" của Phạm Công Thiện, với nhiều bài viết vượt quá sự hiểu biết của chúng tôi, nhưng những quan điểm và giới thiệu của ông về thơ rất thú vị. Đặc biệt, hai đứa cùng mê tạp chí Văn: đây là nơi tập trung hầu hết các nhà văn của miền Nam, đồng thời giới thiệu những trào lưu văn nghệ và những nhà văn nổi tiếng trên thế giới. Chúng tôi đọc rất kỹ và vui thích khi phát hiện một điều mới lạ nào đó. Sau này anh vẫn còn nhắc về chuyện tôi đã chỉ cho anh xem cách dùng chữ sáng tạo của Mai Thảo như "phiến trời" hoặc "mỡ đông" (để chỉ màu trắng của làn da phụ nữ). Có lần hai đứa ngẩn tò te vì sau khi đọc truyện "Người đàn bà ngoại tình" của Albert Camus mà chẳng thấy bà vợ ngoại tình ở chỗ nào, mãi sau này khi đọc thêm những bài phân tích của nhà văn Trần Thiện Đạo mới vỡ lẽ. Trong một bức thư viết năm 1999, anh nhắc: "Tôi còn nhớ như in hôm nào anh và tôi ngồi ở bàn cuối lớp, anh mở tờ Nghệ thuật chỉ vào bài Tống Biệt Hành và nói rất gọn "bài này hay" hoặc một lần anh cũng bình phẩm về một truyện ngắn mà hồi anh còn ở VN tôi đã nhắc lại. Tuổi trẻ chúng ta qua đi như thế, cho đến giờ đây, bài thơ vừa mang hương vị cổ phong vừa man mác mùi Đường thi của Thâm Tâm vẫn khiến ta quá đỗi ngậm ngùi: "Bóng chiều không thắm không vàng vọt. Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong." 


Tôi có tạp chí Văn ngay từ số 1 và để vào ngăn tủ ngăn nắp tại nhà ông bác tôi.            

 

Đầu năm 2001, trả lời phỏng vấn của Thụy Khuê trên đài RFI, nhà văn Trần Thiện Đạo có nhắc đến một chi tiết làm ông phấn chấn là trong đợt về Hà Nội mới đây theo lời mời của những người mến mộ văn học. Nhân buổi tiệc trà, một nhà phê bình tên tuổi đương đại đã ghé tai ông nói thầm: "Tôi biết anh gần 30 năm nay." Không đợi để nhà văn đương trố mắt ngạc nhiên định hỏi, ông tiếp: "Vào năm 1972, theo bộ đội đóng quân vùng Quảng Trị, vớ được một số sách báo xuất bản ở Sài Gòn, tôi đọc ngấu nghiến nhiều bài văn và mấy bản dịch của anh đăng trên tờ Văn". Đọc đoạn này, tôi cứ ngờ ngợ không chừng ông này đã đụng đến tủ sách của tôi, bởi thời điểm đó, quê tôi còn lành lặn, là hậu cứ của quân đội Bắc Việt tiếp ứng cho chiến trường Cổ Thành.          

 

Lê Ngọc Giao khác tôi một điểm là nói nhiều, theo một số người thì Giao "Lộng ngôn" hay "chế", có lần nói chuyện với Thái Tăng An ở Hà Lan, tôi nhắc đến anh, An hỏi có phải Giao phịa chuyện không? Từ ngày rời trường, chúng tôi không gặp nhau, chỉ biết là anh "đứng" bên lề cuộc chiến với một đời sống rất thoải mái.            


Trong một lúc bất ngờ nhất vào những ngày lam lũ ở quê nhà khoảng năm 1990, tôi nhận được thư anh: anh có một lối viết rất sảng khoái, tâm sự như không bao giờ dứt, sau đó anh thường cung cấp sách báo, băng nhạc, tổng lược những thông tin văn học nghệ thuật trong và ngoài nước, cố gắng bằng mọi cách để tìm tin tức Nguyễn Ngọc Hùng nhưng không được .. Anh làm trợ lý Giám đốc cho một công ty xây dựng nước ngoài, đứa con gái đầu học ở Pháp, hai đứa sau học Đại học Saigon ... Cuộc sống cứ nghĩ sẽ bình thản êm trôi, ai ngờ đến năm 95, khi tôi vào SG cũng là lúc anh nhuốm bệnh. Một căn bệnh hiểm nghèo: ung thư thanh quản. Đêm chia tay ở Lê Lai, chúng tôi chẳng nói với nhau nhiều, trong cái siết tay cuối cùng, nhìn vào mắt anh, một thoáng buồn, âu lo và ngấn lệ!           

 

Tôi vẫn thường xuyên liên lạc, động viên an ủi để anh có thêm chút nghị lực, nhưng bệnh tình càng trầm trọng, những trang thư bắt đầu nhuốm niềm bi lụy: "Tôi không được như Mai Thảo: 'Gối tay lên bệnh nằm thanh thản / Thành một đôi ta rất đá vàng' mà đau đớn triền miên đã hủy hoại hết thân thể và tâm trí tôi .."           

 

Linh cảm những điều không may sẽ xảy ra, tôi viết thư cho anh với yêu cầu, trong lúc khỏe, anh nên viết ra những gì về ngày tháng cũ. Anh đã trả lời: "Thư viết đi, chữ nghĩa chảy ra từ tấm lòng, những ẩn ức phiền muộn hoặc niềm lạc quan về một điều gì đây với tôi, trong tôi đã tắt ngấm bấy lâu rồi. Vâng, giờ đây với tôi, điều mong mỏi thì tôi đã bày tỏ và được anh đón nhận. Một mình lang thang trong phòng đã mấy năm nay, tôi cố sống an nhiên tự tại, mong ước về kỷ niệm xưa dẫu vui ít buồn nhiều, nhưng ít ra đó vẫn là cái phải có và phải làm trong lúc này. Tôi sẽ cố gắng theo gợi ý của anh mà viết lại những năm tháng tuổi thơ mà bối cảnh là Trường Nguyễn Hoàng, ở đấy tôi đã gặp nhiều con người có nhiều cá tính. Chắc chắn tôi sẽ nhắc đến anh ở những ngày đầm ấm đó, bản tính trầm tĩnh, ít nói, nhưng lại rất chân tình và chia sẻ của anh đã cho tôi sự cảm mến tuy âm thầm mà lại dai dẳng, nó kéo theo cho đến lúc này và mãi mãi về sau".           

 

Tháng 6/2000 về lại VN, nghỉ ngơi mấy tiếng, tôi đến thăm anh ngay, không ngờ anh thay đổi nhiều đến thế, tiếng nói không còn rõ nữa, hai đứa vừa ôm nhau vừa khóc. Chúng tôi giữ sự im lặng thật lâu ... Tôi mang về nhiều sách báo, trong đó có cuốn Nghìn Thương Đất Mẹ của Vũ Hối: một nhà thơ, một nhà thư họa mà trước đây anh rất cảm mến. Sau này, tình cờ được tiếp chuyện với nhà thơ Vũ Hối trên điện thoại (tại nhà anh Phan Khâm) để cảm ơn anh đã phóng bút bài thơ của anh Khâm trên một bức tranh làm quà đám cưới con gái tôi, tôi kể chuyện này, nhà thư họa ngạc nhiên bảo có lẽ đây là cuốn độc nhất lọt về VN. Anh vẫn ở chỗ cũ, một căn hộ tầng trệt của khu H, cư xá Thanh Đa. Tôi trở lại một lần nữa khi ở quê vào để chuẩn bị qua Mỹ. Lần này, bình tĩnh hơn, chúng tôi nhắc nhiều chuyện, có những chi tiết dễ thương từ thời xa xăm, anh nói là đã viết được một ít về ký ức Nguyễn Hoàng, chừng nào xong sẽ gửi qua. Tôi kể với anh về chuyến đi Atlanta, có ghé thăm Hồ Dân Thính lúc anh ấy bị đột quỵ.            

 

Trở lại Mỹ 2 tuần, tôi nhận được thư anh, tinh thần có phần sáng sủa hơn một chút: "Nếu có dịp trở lại Atlanta thăm Thính, anh cho tôi gởi lời thăm anh ấy, đồng bệnh tương thân mà! Tôi hiểu sâu sắc nỗi đau nhiều mặt của người bệnh. Phần tôi, sau bao năm, hầu như đã ngộ ra cái triết lý To Be or Not To Be đã rèn cho tôi cái ý chí và tôi cũng suy gẫm về một câu nói rất chí lý của một nhà văn Anh: Ta nhìn vào cuộc đời như ta nhìn vào tấm gương. Ta cười với nó thì nó cười với ta, ta nhăn với nó thì nó cũng nhăn với ta tức khắc và tâm nguyên là lẽ đời của mình". Không ngờ đó là bức thư cuối cùng. Một tháng sau, Thái Thạch viết thư báo tin anh đã ra đi vào ngày  2 tháng 9 năm 2000. Dù biết trước sau sự việc ấy cũng sẽ xảy đến, nhưng tôi cảm thấy hụt hẫng, choáng váng, tôi xem lại một đoạn phim ghi hình ảnh hai đứa vào ngày 12-7-2000.            

 

Định mệnh quái ác đã làm anh thất hứa với tôi, những trang ký ức viết dở chẳng bao giờ được nhận. Tôi viết thư chia buồn với gia đình và có nhắc đến điều này, nhưng không có hồi âm! Dù sao thì tôi cũng có một chút mãn nguyện là được gặp lại, chia sẻ với anh một đôi điều trong những ngày cuối đời. Đi bên anh đến nơi an nghỉ có Thái Thạch đại diện cho nhóm bạn thân tình ở xa và đông đảo anh em cựu học sinh Nguyễn Hoàng ở Sài Gòn… Lần này chắc chắn anh đã được như Mai Thảo: Thế giới có triệu điều không hiểu. Càng hiểu không ra lúc cuối đời. Chẳng sao, khi đã nằm trong đất. Đọc ở sao trời sẽ hiểu thôi.            

 

Một người không học cùng lớp, không quen lắm lúc ở Nguyễn Hoàng, nhưng sau này qua cái duyên văn nghệ đã có sự liên lạc rất chân tình. Dân Quảng Trị có rất nhiều người thành danh trong văn học nghệ thuật. Nhưng cựu nữ sinh Nguyễn Hoàng có thơ xuất bản, theo chỗ tôi biết, chỉ có một.         

 

Những ngày bức bách tăm tối sau khi ở tù ra, tôi có cái may là liên lạc được với Lê Ngọc Giao và chị để tâm trí mình mở ra thế giới bên ngoài. Chị sống nhiều với nội tâm, với hoài niệm về ngày tháng cũ. Tôi hiểu và chia sẻ với chị những điều ấy, đôi lúc làm chị ngạc nhiên.         

 

Tập thơ Giăng Sợi Tơ Tình của Nguyễn Thị Kim Cúc được nhà xuất bản Văn Hóa Dân Tộc phát hành năm 1998 tại VN do nhà văn Võ Hồng viết đề tựa, ông nhận xét: "Thơ không uốn mình theo thể, không theo niêm luật vần điệu, cứ ngắt câu ra từng đoạn, từng khổ nhỏ uốn theo tình huống gây sự ngạc nhiên, rồi êm em trôi theo dòng thơ êm ái quen thuộc của tình buồn. Phong thái độc lập, tự lập .. Tập thơ có 23 bài mang chung một chủ đề tình yêu và chỉ nói về tình yêu nơi người đàn bà: đó là những phụ nữ có thật, những nhân vật lịch sử, những nhân vật trong văn chương, những nhân vật huyền thoại." Nhà văn đọc rất kỹ, thấy hết những điều tác giả nói, nhưng không cảm nhận được cái tâm sự lắng đọng đâu đó trong tâm thức: Nay chỉ còn một cái cốc cuối này thôi / Hãy để mình em uống cho tình đẹp. Tuy thế nhà thơ vẫn hoài vọng vớt một mong manh hạnh phúc: Như lá trầu xanh / Hòa cau vôi đỏ thắm / Đã hóa thân còn quấn quít không rời / Đã hóa thân / Vẫn còn làm sứ giả / Giăng sợi tơ tình / Thắm thiết mãi không thôi.   

        

Tôi gởi tập thơ đến các Ban Biên Tập Đặc San Quảng Trị Washington, DC, Atlanta và đã được chọn đăng trong dịp Xuân Tân Tỵ. Nhận được tin này, chị rất đỗi vui mừng: "Chị rất cảm ơn về những hoạt động và nhận xét của T với sợi tơ giăng, phải nói chỉ có T mới làm được những việc ấy cho chị . Lời cảm ơn chắc không đủ nói hết lòng mình, ngoài cuộc sống lắm khi tìm được ở bạn bè những điều mà khó có người thân nào giúp được, bên này chị không chủ trương phổ biến rộng rãi ... Tơ cứ giăng, sương cứ rơi, ngày tháng vẫn qua, vui buồn ta cứ một mình ta ..."         

 

Ở trong Nam, lâu lâu chị lại ra thăm quê: "Chị về Quảng Trị gặp mấy ngày mưa không kịp vuốt mặt, thành ra chỉ kịp vòng một vòng qua trường Nguyễn Hoàng cũ, đường Duy Tân, Lê Văn Duyệt, ra bờ sông vào một chặp hửng nắng cuối ngày. Hôm sau lại tất tả vào lại. Quê nhà - nhớ lắm, thương lắm, muốn về nhưng chỉ kịp ngoái lại rồi đi, cuộc sống chắc luôn là như thế. Nơi này một thuở xưa kia /  Cùng người nắng sớt, mưa chia bao mùa ..           

 

Tôi rời trường cuối năm 66, thỉnh thoảng trong những dịp về phép, đi ngang ghé lại nhìn trường cũ, những đoàn học sinh vui chơi với bao điều xao xuyến.          

 

Sáng 1 tháng 5 năm 1972, trên chiếc M13 rời cổ thành Đinh Công Tráng rẽ phải vào Lê Văn Duyệt, Duy Tân, rẽ trái về Trí Bưu, Quy Thiện ... Trong lúc đổi thế ngồi, trường Nguyễn Hoàng hiện ra trước mặt rất rõ. Không ngờ đó là hình ảnh cuối cùng ...           

 

Cuộc đời như dòng sông tùy theo địa thế chung quanh mà nắn dòng để cuối cùng ra biển, rác rưởi sẽ được bỏ lại, có mang theo chăng chỉ là những hạt cát óng ánh bám sát tâm mình. Tôi đã đọc đâu đó một câu thật hay: "Bạn cũ là thứ đồ cổ quý giá nhất."  Các bạn có thể đang lưu lạc đâu đó hoặc biến mất khỏi cuộc đời này, nhưng trong tôi vẫn còn nguyên vẹn như mới hôm nào. Tuy trong "giờ ra chơi lịch sử này" không có các anh tham dự, tôi vẫn thấy thật gần - sự có mặt của các anh - và thấm thía với mấy dòng thơ của một Thiền sư: Ta vẫn còn đến đi thong dong / Có không còn mất chẳng băn khoăn / Bước chân "anh" hãy về thanh thản / Không tròn, không khuyết một vầng trăng.  


Lê Trạch

http://trachcamlo.blogspot.com/


READ MORE - MẤY NGƯỜI BẠN CŨ - Tùy bút: Lê Văn Trạch

Friday, September 25, 2026

A MELODIOUS SMILE / NỤ CƯỜI DU DƯƠNG - Đồng tác giả: Musharraf Hussain (Ấn Độ) và Thi Lan Anh Tran (Đức)

 


A MELODIOUS SMILE

Co-author:

Musharraf Hussain and Thi Lan Anh Tran

Date — 21 September 2026

---

 

Stanza 1

 

Behind your large spectacles, a river’s gentle waves seem to flow,

Within your smile, the sweetness of ripe jackfruit softly glows.

With blue headphones on your ears, you seem to forget the world,

Yet how many times have you listened to the news my heart has whispered?

 

Stanza 2

 

Your pink floral dress unfolds like a garden in full bloom,

Amid the city’s restless crowds, you create your own little room.

Within the gentle curls of your hair, my quiet feelings hide,

And whenever you smile, all the sorrows of the world subside.

 

Stanza 3

 

Amid the crowd of likes and comments, our love is never cheap,

Within your tender gaze, even time grows silent, still, and deep.

Whether beside the waters of Kolkata or along Guwahati’s shore,

You are the eternal refuge of my soul, the one I cherish evermore.

 

Stanza 4

 

Your smile is captured in a frame, yet your heart is revealed,

Will you, too, open a little of your heart to mine, gently and unsealed?

Love knows no conditions, nor does it recognise the walls of distance;

When you are beside me, every sorrow of life fades into silence.

 

Stanza 5

 

This is not merely a poem—it is a promise from my heart,

May the light of our love endure when time and ages depart.

Receive my sincere affection and make it your own with tender grace,

And may this portrait of our love never fade from your heart’s embrace.

---

© 2026 — Musharraf Hussain and Thi Lan Anh Tran. All Rights Reserved.

 

 

NỤ CƯỜI DU DƯƠNG

Đồng tác giả: 

Musharraf Hussain và Thi Lan Anh Tran
Ngày 21 tháng 9 năm 2026


Khổ 1

Sau đôi kính lớn, sóng sông như khẽ gợn,
Êm đềm trôi qua những khoảng trời xanh.
Trong nụ cười em, vị ngọt của mít chín
Thoảng như hương, dịu ngát một trời tình.

 

Đôi tai nghe xanh khiến em quên thế giới,
Bỏ lại sau lưng bao náo nhiệt cuộc đời.
Nhưng em có nghe chăng, giữa nghìn thanh âm ấy,
Tin yêu từ tim anh vẫn thầm gọi tên người?

 

Khổ 2

Chiếc váy hoa hồng như khu vườn đang nở,
Mang sắc xuân về giữa phố thị đông người.
Giữa dòng đời vội vã ngược xuôi,
Em lặng lẽ dựng cho mình một khoảng trời riêng.

 

Trong những lọn tóc mềm cong như gió,
Có tình anh âm thầm nép lại, chẳng thành câu.
Và mỗi lúc em mỉm cười thật khẽ,
Nỗi buồn nhân gian cũng chợt hóa nhiệm màu.

 

Khổ 3

Giữa biển lượt thích, giữa muôn lời bình luận,
Tình chúng mình đâu phải thứ dễ đem cân.
Trong ánh mắt em, dịu dàng và sâu lắng,
Thời gian cũng thôi bước, lặng im một lần.

 

Dẫu bên dòng nước Kolkata huyền thoại,
Hay ven bờ Guwahati những sớm những chiều,
Em vẫn là bến bình yên của tâm hồn anh mãi,
Là người anh thương, trân quý đến muôn điều.

 

Khổ 4

Nụ cười em nằm yên trong khung ảnh,
Mà trái tim dường như cũng hé mở đôi phần.
Liệu em có thể mở lòng thêm một chút,
Để tình anh tìm được một chốn dừng chân?

 

Tình yêu vốn chẳng cần điều kiện,
Cũng chẳng vì xa cách mà ngại ngần.
Bởi chỉ cần em hiện diện bên anh,
Mọi ưu phiền cuộc sống sẽ lặng dần, tan biến.

 

Khổ 5

Đây chẳng chỉ là bài thơ anh viết,
Mà là lời thề gửi tận đáy con tim.
Nguyện ánh sáng tình yêu ta luôn còn mãi,
Dẫu tháng năm đi qua, dẫu thế sự nổi chìm.

 

Xin nhận lấy tình anh chân thành tha thiết,
Và dịu dàng giữ lấy ở trong tim.
Để bức chân dung tình yêu ta từng vẽ
Mãi chẳng phai mờ giữa những tháng năm im.


© 2026 — Musharraf Hussain và Thi Lan Anh Tran. Bảo lưu mọi quyền.

______________________________________

From: E- Mail: <Wirtschaftskanzlei@Dipl-Kauffrau-Tran.de>

Dipl.- Kauffrau Thi Lan Anh Tran

 

READ MORE - A MELODIOUS SMILE / NỤ CƯỜI DU DƯƠNG - Đồng tác giả: Musharraf Hussain (Ấn Độ) và Thi Lan Anh Tran (Đức)

Chân dung văn học: VŨ TRỌNG PHỤNG - VIẾT SỰ THẬT BẰNG CẢ MÁU MÌNH - Hoàng Thị Bích Hà

  



Chân dung văn học:
VŨ TRỌNG PHỤNG - VIẾT SỰ THẬT 
BẰNG CẢ MÁU MÌNH

Hoàng Thị Bích Hà

 

Lịch sử văn học Việt Nam có không ít thiên tài đoản mệnh. Nhưng hiếm ai để lại một cảm giác xót xa như Vũ Trọng Phụng - người được mệnh danh là "ông vua phóng sự đất Bắc", một trong những cây bút hiện thực xuất sắc nhất của văn học Việt Nam hiện đại. Người ta có thể viết bằng trí tuệ, bằng trái tim, nhưng Vũ Trọng Phụng dường như đã viết bằng chính máu mình. Hai mươi bảy năm ngắn ngủi của đời người đã để lại một sự nghiệp khiến gần một thế kỷ sau, văn đàn Việt Nam vẫn chưa thôi nhắc đến tên ông với sự kính trọng và tiếc nuối. Vũ Trọng Phụng là một nhà văn, nhà báo nổi tiếng của Việt Nam vào đầu thế kỷ 20.

Ông sinh ngày 20 tháng 10 năm 1912, quê ở làng Hảo thuộc làng cổ Liêu Xuyên, trước sát nhập là thôn Ông Hảo, xã Nguyễn Văn Linh, tỉnh Hưng Yên. Nhưng ông lớn lên và qua đời tại Hà Nội. Con ông Vũ Văn Lân làm thợ điện ở Ga-ra Charles Boillot, cha mất khi Vũ Trọng Phụng được 7 tháng tuổi, mẹ là bà Phạm Thị Khách ở vậy nuôi con ăn học. Học hết tiểu học tại trường Hàng Vôi, Vũ Trọng Phụng phải thôi học để đi làm kiếm sống vào khoảng năm 16 tuổi. Sau hai năm làm ở các sở tư như nhà hàng Gôđa, nhà in IDEO (Viễn Đông), ông chuyển hẳn sang làm báo, viết văn chuyên nghiệp. Tác phẩm đầu tay là truyện ngắn Chống nạng lên đường đăng trên Ngọ báo năm 1930.

Các tác phẩm: hơn 30 truyện ngắn, 9 tập tiểu thuyết, 9 tập phóng sự, 7 vở kịch, một vở kịch dịch từ tiếng Pháp, một số bài phê bình, tranh luận văn học và hàng trăm bài báo viết về chính trị, xã hội, văn hóa.

Cả đời Vũ Trọng Phụng sống trong nghèo khổ. Dù lao động cật lực, ngòi bút của ông vẫn không đủ nuôi gia đình nhỏ cùng bà nội và mẹ già. Tuy viết về nhiều tệ nạn, thói ăn chơi nhưng Vũ Trọng Phụng là một người đạo đức và sống rất kham khổ.

Những ngày cuối đời, trên giường bệnh ông nói với Vũ Bằng: "Nếu mỗi ngày tôi có một miếng bít tết để ăn thì đâu có phải chết non như thế này". Vợ ông, bà Vũ Mỹ Lương, tên thường gọi là bà Gái, là con người vợ thứ tư của cụ Cửu Tích, một nhà tư sản có cửa hàng thuốc ở phố Hàng Bạc. Sau khi cưới (ngày 23/01/1938), vợ chồng ông thuê nhà phố này.

Ông mất (ngày 13/10/1939) do bệnh lao phổi, để lại gia đình còn bà nội, mẹ đẻ, vợ và người con gái chưa đầy một tuổi tên là Vũ Mỵ Hằng.

Ông được chôn cất ở nghĩa trang Hợp Thiện, rồi dời đến nghĩa trang Quán Dền. Năm 1988, con gái Vũ Mỵ Hằng mới đưa ông về quy thổ vĩnh tại mảnh vườn của nhà mẹ vợ ông tại làng Giáp Nhất.

Ông sống vỏn vẹn hai mươi bảy năm. Hai mươi bảy năm ấy đủ để viết nên những tác phẩm bất hủ, nhưng lại không đủ để giúp ông thoát khỏi đói nghèo, bệnh tật và cái chết. Có lẽ bi kịch lớn nhất của Vũ Trọng Phụng không phải là chết trẻ, mà là một thiên tài đã phải viết trong những cơn ho ra máu và ra đi khi không đủ tiền mua thuốc chữa bệnh.

Đêm cuối cùng của một thiên tài. Theo nhiều hồi ức của bạn văn, Hà Nội bước vào mùa đông se lạnh. Những ngày cuối đời ông nằm trên chiếc chiếu mỏng trong căn nhà thuê ở phố Hàng Bạc, sức đã kiệt vì bệnh lao. Bên cạnh là người vợ trẻ lặng lẽ nhìn chồng trong bất lực. Ở góc phòng, cô con gái nhỏ đã ngủ thiếp đi vì quá mệt. Trên chiếc bàn gỗ cũ kê sát tường vẫn còn chồng bản thảo viết tay dày đặc, nhiều trang chưa kịp hoàn thành. Đó chính là tác giả của Số đỏ - cuốn tiểu thuyết châm biếm được xem là đỉnh cao của văn học hiện thực Việt Nam.

Một nghịch lý đến nhói lòng. Người đã tạo nên nhân vật Xuân Tóc Đỏ - kẻ nhờ sự láu cá và may mắn mà leo lên đỉnh cao danh vọng lại không thể kiếm nổi tiền để mua cho mình một liều thuốc kéo dài sự sống. Ông ra đi khi tuổi đời còn quá trẻ Đám tang của Vũ Trọng Phụng diễn ra lặng lẽ. Không có những vòng hoa rực rỡ, không có những điếu văn long trọng. Chỉ vài người thân, vài bạn văn và những người yêu quý ông lặng lẽ đưa tiễn. Một thiên tài của văn học hiện thực Việt Nam khép lại cuộc đời trong sự âm thầm đến xót xa. Hôm ấy, Hà Nội vẫn đông đúc như mọi ngày. Ít ai biết rằng thành phố vừa mất đi một trong những cây bút lớn nhất của mình.

Tuổi thơ nghèo đã dạy ông nhìn thấy sự thật. Cha mất khi ông chưa đầy một tuổi. Mẹ ông tần tảo bán hàng xén ngoài chợ để nuôi con khôn lớn. Thuở nhỏ, ông học rất giỏi. Nhưng hết bậc tiểu học, việc học phải dừng lại vì gia đình không còn khả năng đóng học phí. Tuổi thơ thiếu thốn ấy đã khiến cậu bé Vũ Trọng Phụng sớm hiểu rằng: phía sau những phố phường hào nhoáng của Hà Nội thuộc địa là biết bao phận người cơ cực. Một Hà Nội tồn tại hai thế giới: Một bên là phố Tây với nhà đá, quán cà phê, rạp chiếu bóng, những cuộc vui của tầng lớp thượng lưu. Một bên là những con ngõ tối, trẻ bán báo, người kéo xe, người làm thuê chen chúc trong nghèo đói. Chính khoảng cách ấy đã nuôi lớn trong ông khát vọng phải viết ra sự thật. Những năm tháng bươn chải kiếm sống đã đưa ông bước gần hơn với nghề báo và cũng là lúc thiên chức nhà văn được đánh thức. Từ lúc mười sáu tuổi, ông làm nhân viên đánh máy tại hãng Thông tấn Viễn Đông. Mỗi ngày gõ lại những bản tin về giới quan lại, thương gia và tầng lớp giàu có, ông càng nhận ra khoảng cách rất lớn giữa những gì được tô vẽ trên mặt báo và đời sống thật của xã hội. Có lẽ từ đó, nhà văn trong ông đã được hình thành.

Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan từng đánh giá Vũ Trọng Phụng là một nhà văn có sức quan sát hiếm thấy. Ông cho rằng ngòi bút của Vũ Trọng Phụng "sắc như dao mổ", đi thẳng vào những ung nhọt của xã hội thuộc địa mà không né tránh, không tô son điểm phấn. Chính sự trung thực đến quyết liệt ấy khiến tác phẩm của ông vừa gây tranh cãi dữ dội lúc sinh thời, vừa có sức sống bền bỉ cho đến hôm nay.

Vũ Trọng Phụng bước vào văn chương và ông chọn con đường chông gai nhất.

Những năm ba mươi của thế kỷ XX, văn học Việt Nam rất sôi động. Nhiều nhà văn viết về tình yêu lãng mạn, cái tôi cá nhân hay những thân phận nghèo bằng giọng văn nhẹ nhàng, giàu thương cảm. Riêng Vũ Trọng Phụng lại chọn một con đường khác. Ông không vuốt ve hiện thực. Ông mổ xẻ nó, không nhân nhượng, không né tránh, không tô hồng sự thật. Ngòi bút của ông cứ thế giống như lưỡi dao phẫu thuật, bóc từng lớp giả dối của xã hội thuộc địa nửa Tây nửa ta.

Năm 1936, lúc hai mươi bốn tuổi, ông cho ra đời Số đỏ. Xuân Tóc Đỏ từ một đứa trẻ bụi đời, nhặt bóng quần vợt, bằng tài "diễn", bằng sự cơ hội và nhờ những nghịch lý xã hội, bỗng trở thành người hùng, chuyên gia thể thao, nhà cải cách...

Điều Vũ Trọng Phụng châm biếm không phải chỉ là một cá nhân. Ông phơi bày cả một xã hội, nơi năng lực nhiều khi không quan trọng bằng khả năng đóng vai, nơi đạo đức bị thay thế bằng danh tiếng và sự hào nhoáng. Xuân Tóc Đỏ chỉ là cái cớ. Đằng sau nhân vật ấy, Vũ Trọng Phụng đã dựng lên cả một sân khấu xã hội, nơi danh vọng được mua bằng sự lố bịch, nơi cái giả nhiều khi được tung hô hơn cái thật...các nhân vật như ông Văn Minh luôn rao giảng "Âu hóa" để kiếm tiền; bà Phó Đoan khoác lên mình chiếc áo "tân thời" đầy giả tạo; cụ Cố Hồng chỉ mong có người chết để được làm một đám tang thật lớn.

Gần một thế kỷ đã trôi qua, nhưng đọc Số đỏ hôm nay, người ta vẫn giật mình vì nhiều điều dường như chưa hề cũ. Nhiều nhân vật trong Số đỏ vẫn khiến người đọc bật cười rồi chợt lặng đi. Bởi đằng sau tiếng cười ấy là một sự thật đau xót: ở bất cứ thời đại nào cũng có những "Xuân Tóc Đỏ" biết lợi dụng sự phù phiếm của xã hội để bước lên đỉnh cao mà không cần tài năng hay nhân cách. Đó chính là giá trị tiên tri của một kiệt tác.

Vũ Trọng Phụng không chỉ viết tiểu thuyết Số đỏ mà còn là nhà báo viết phóng sự điều tra rất dũng cảm qua các tác phẩm: "Kỹ nghệ lấy Tây" và "Cạm bẫy người"

Nhà văn thiên tài ấy viết đến hơi thở cuối cùng trong cảnh nghèo túng và bệnh tật. Ít ai biết rằng khi Số đỏ ra đời, Vũ Trọng Phụng đã bắt đầu mắc bệnh lao phổi. Ông thường xuyên ho ra máu. Nhiều ngày phải nhịn ăn để dành tiền mua thuốc.

Thế nhưng, ông vẫn viết. Viết không ngừng nghỉ. Chỉ trong khoảng bảy năm cầm bút, ông đã để lại một khối lượng tác phẩm khiến nhiều người kinh ngạc. Các tiểu thuyết như Dông tố, Số đỏ, Vỡ đê, Làm đĩ, Lấy nhau vì tình, Trúng số độc đắc..., cùng hàng loạt thiên phóng sự nổi tiếng như Cạm bẫy người, Kỹ nghệ lấy Tây, Cơm thầy cơm cô,..

Đó là một sức lao động gần như phi thường. Nhưng cũng chính vì phải viết để kiếm sống, sức khỏe của ông ngày một suy kiệt. Cuộc đời ông rơi vào một vòng luẩn quẩn nghiệt ngã: Viết nhiều để có tiền. Có tiền để sống và để mua thuốc. Nhưng viết quá sức nên bệnh nặng hơn. Bệnh nặng càng cần tiền mua thuốc nên phải viết nhiều hơn. Có những mùa đông, ông mặc chiếc áo mỏng, ho ra máu vào khăn tay rồi lặng lẽ gấp lại, tiếp tục ngồi vào bàn viết cho kịp hạn giao bài. Ông đang viết để nuôi gia đình. Và cũng đang viết để níu giữ chính sự sống của mình.

Càng viết trung thực, ông càng bị công kích. Bởi sự thật chưa bao giờ dễ được chấp nhận. Tác phẩm của Vũ Trọng Phụng từng bị lên án là "dâm thư", "dâm uế", bị kiểm duyệt và bị nhiều người chỉ trích dữ dội. Nhưng ông chưa bao giờ lùi bước.

Năm 1937, đáp lại những lời công kích, ông viết một câu đã trở thành tuyên ngôn nghệ thuật bất hủ:

"Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết. Tôi và các nhà văn cùng chí hướng như tôi muốn tiểu thuyết là sự thật ở đời."

Đó không chỉ là lời đáp trả dành cho những người phê phán ông. Đó còn là lời tuyên ngôn của một nhà văn suốt đời trung thành với sự thật.

Hành trình tiếp nhận tác phẩm của Vũ Trọng Phụng cũng có nhiều thăng trầm. Sau năm 1945, từng có thời gian ông bị nhìn nhận phiến diện, rồi giá trị được phục hồi.

Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh từng nhận xét rằng Vũ Trọng Phụng là "một trong những đỉnh cao nhất của chủ nghĩa hiện thực phê phán Việt Nam". Theo ông, đọc Vũ Trọng Phụng không chỉ để cười mà còn để hiểu vì sao một xã hội có thể sản sinh ra những bi kịch và những nghịch lý đến như vậy. Chính vì thế, tác phẩm của ông càng lùi xa về thời gian càng chứng tỏ giá trị lâu bền.

Nguyễn Tuân từng nhiều lần bày tỏ sự khâm phục đối với tài năng của Vũ Trọng Phụng. Ông xem người bạn văn bạc mệnh ấy là một hiện tượng đặc biệt của văn học Việt Nam, một cây bút có sức quan sát xã hội sắc bén hiếm có. Với Nguyễn Tuân: Vũ Trọng Phụng không chỉ là một nhà văn lớn mà còn là người đã dám nhìn thẳng vào sự thật trong một thời đại mà sự thật nhiều khi không được chào đón.

Cái chết của một nhà văn và sự bất tử của một ngòi bút.

Khi Vũ Trọng Phụng qua đời, tin buồn ấy chỉ xuất hiện bằng vài dòng ngắn ngủi trên báo. Gia tài ông để lại thật ít ỏi, không nhà cửa, không tiền bạc. Chỉ có người vợ chưa đầy ba mươi tuổi, cô con gái thơ dại, những món nợ còn dang dở và hàng chồng bản thảo. Nhưng thời gian đã trả lại cho ông sự công bằng.

Nhiều thập niên sau, Số đỏ được thừa nhận là một kiệt tác của văn học Việt Nam, được dịch ra nhiều thứ tiếng, đưa vào chương trình học và nghiên cứu ở nhiều trường đại học. Tên Vũ Trọng Phụng (1912 -1939) được đặt cho đường phố, trường học; còn "Xuân Tóc Đỏ" đã trở thành một danh từ riêng để chỉ những kẻ cơ hội, bất tài nhưng gặp thời. Sự vinh danh ấy là xứng đáng. Nhưng cũng khiến người ta day dứt. Phải chăng xã hội thường rất hào phóng với những thiên tài sau khi họ đã mất, còn khi họ còn sống thì lại quá ít người đủ bao dung để giúp họ tồn tại?

Ai cũng biết nhà văn viết bằng tài năng và tâm huyết. Nhưng Vũ Trọng Phụng còn đặc biệt hơn là ông đã viết đến hơi thở cuối cùng cho sự thật, trong những cơn ho của bệnh tật nghèo đói và bằng chính sinh mệnh ngắn ngủi của mình.

Vũ Trọng Phụng đã ra đi ở tuổi hai mươi bảy. Nhưng ông chưa bao giờ chết. Bởi mỗi lần xã hội còn có sự giả dối, cơ hội, háo danh và những chiếc mặt nạ được khoác lên bằng quyền lực hay tiền bạc, thì tiếng cười châm biếm của ông vẫn còn vang lên từ những trang sách. Mỗi trang sách của ông đều thấm mồ hôi của lao động, thấm máu của bệnh tật và thấm nỗi đau của một nhà văn dám trả giá cho sự thật.

Gần một thế kỷ sau ngày ông khép lại cuộc đời, người đọc vẫn lặng lẽ cúi đầu trước một ngòi bút đã dám sống đến tận cùng với sự thật. Đó là lý do Vũ Trọng Phụng không chỉ thuộc về lịch sử văn học, mà còn thuộc về lương tri của mọi thời đại.

Sài Gòn ngày 05/8/2026

Hoàng Thị Bích Hà

*Tiểu sử tham khảo: nguồn Wikipedia, các thông tin khác liên quan đến cuộc đời, giai thoại tổng hợp từ nhiều nguồn.

 

READ MORE - Chân dung văn học: VŨ TRỌNG PHỤNG - VIẾT SỰ THẬT BẰNG CẢ MÁU MÌNH - Hoàng Thị Bích Hà

TƯỞNG NHỚ BẠN XƯA: NHỚ ANH TRẦN VĂN LỮ - Đỗ Tư Nhơn



TƯỞNG NHỚ BẠN XƯA:

 NHỚ ANH TRẦN VĂN LỮ 

ĐỖ TƯ NHƠN

 

Mỗi khi tưởng nhớ những người bạn trân quý một thời dưới mái trường trung học Nguyễn Hoàng Quảng Trị đã sớm lìa cõi tạm về chốn vĩnh hằng, lòng tôi không tránh khỏi bồi hồi xúc động. Điều đó khiến tôi tìm lại trong ký ức từng khuôn mặt,dáng hình, mượng tượng từng cử chỉ, nụ cười…nhằm phác thảo bức chân dung tinh thần của bằng hữu.Tôi đã thắp nén tâm hương mỗi độ xuân về để thương tiếc các anh Phan Phụng Thạch, Trần Thương Bá, Đặng Sĩ Tịnh, Trần Đình Bé trong từng giai phẩm Hương Quê Nhà (SG) đặc san Nguyễn Hoàng (Huế) . 

Giờ đây, cùng với những trang Di cảo của anh Trần Văn Lữ, do người em trai là Trần Thiện Tài công bố, tôi xin gợi lại đôi nét về anh.

Trần Văn Lữ (tức Thạch) sinh năm 1942, xuất thân trong một gia đình nhà giáo, quê nội ở làng Quảng Lượng, Triệu Phong, Quảng Trị.Thân mẫu của anh thuộc dòng tộc lớn của làng Thạch Hãn. Khu vườn nhà anh rộng rãi với cây trái sum suê nằm cạnh con đường thẳng tắp, hai bên là những bức tường gạch dài, chiếc cổng bằng gỗ thường khép kín của một đại điền chủ giàu có. Con đường này rất đẹp, ban đêm mùi hoa dạ lan hương từ các sân vườn tỏa ra thơm ngát, phảng phất trên mái tóc những cô gái, chàng trai từng bước chân chầm chậm thầm thì câu chuyện trăng sao. Những anh em họ Đoàn có truyền thống học giỏi, mấy chị em họ Trần hiền thục duyên dáng đáng yêu cùng từ con đường này đến trường Nguyễn Hoàng. Gần đây, con đường này được mang tên của ngôi làng xưa, có biển đề Thạch Hãn, một chứng tích lưu giữ hồn quê giữa phố thị. Hồi đó, tôi học sau anh Trần Văn Lữ hai lớp nên chưa quen anh, chỉ biết cô em gái Dạ Hương ngày ngày đi học cùng các bạn. Anh theo học ở Viện Hán học - Huế khóa 1960-1965, đồng thời với Lý Văn Nghiên, Hoàng Đằng, Trần Văn Dật. Lúc mới ra trường, anh dạy ở trung học Quảng Phước, Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên. Năm 1969, thuyên chuyển về Nguyễn Hoàng. 

Năm 1970, tôi về dạy cùng trường, kết bạn với anh và Phan Phụng Thạch.Tính anh rất hiền lành và khiêm tốn, trên môi thường nở nụ cười, bạn bè và học sinh rất thương mến. Hằng ngày anh đi qua con đường trước ngõ nhà tôi để đến trường. Chúng tôi trao đổi cho nhau những sáng tác, các tài liệu văn học, tham gia Đặc san Xuân 1971, Hội mùa xuân 1972. Ngoài ra, với bút danh Trần Lãng Tử, anh đã góp mặt trên tạp chí Chim Việt do anh Hồ Thế Vĩnh chủ biên. Còn nhớ những ngày chuẩn bị giai phẩm HỘI MÙA XUÂN (HMX), chúng tôi đã chia nhau đọc bài của học sinh gửi đến thật phong phú, đa dạng. Các thầy cô Phạm Sữu, Phan Phụng Thạch, Trần Văn Lữ, Văn Chương, Trần Kiêm Đoàn, Võ Thị Hồng, Nguyễn Thiện…đã viết bài và giúp trưởng ban biên tập rất nhiều để chọn lựa những tinh hoa đưa vào vườn thơ văn HMX, đó là những ngòi bút tài năng đầy triễn vọng như Nguyễn Tùng, Thái Đào, Võ Thị Quỳnh, Nguyễn Đặng Mừng,Võ Văn Hoa, Đỗ Huy Sanh, Hoàng Văn Chẫm…, mà đến nay, ít nhiều đã khẳng định được vóc dáng của mình qua tác phẩm. Bên cạnh các đồng nghiệp, anh Trần Văn Lữ gởi đăng bài “Mùa xuân, hoa đào và ông đồ già trong thơ Vũ Đình Liên". Hãy lần giở giai phẩm H M X của 52 năm trước để nghe thầy giáo văn chương bình thơ thật tâm huyết :

‘’Nho học dần dần được thay thế bằng Tây học…Người ta quên “ông đồ”, trời đất dường như ngậm ngùi cho nhân thế. Vũ Đình Liên lại bày tỏ niềm thương cảm đầy bâng khuâng,lưu luyến ,băn khoăn về “cái di tích tiều tụy đáng thương một thời tàn” (Hoài Thanh- Thi nhân VN ).

"Năm nay hoa đào nở

Không thấy ông đồ xưa

Những người muôn năm cũ

Hồn ở đâu bây giờ? ‘’

Từ "Ông đồ già” của Vũ Đình Liên, anh Trần Văn Lữ đã liên tưởng tới những người đồng nghiệp trong sự cảm thông sâu sắc và ngậm ngùi xót xa: “Ngày nay, trong những năm dài chinh chiến, nhiều vị giáo viên, giáo sư đã âm thầm nằm xuống sau những năm tháng đem hết sức, tâm huyết giảng huấn, truyền đạt, hy sinh. Có người chết ngay cả khi đang làm “sứ mệnh” giảng dạy. Họ chết đi, không hiểu linh hồn họ có được thảnh thơi siêu thoát hay còn dật dờ đây đó buồn thương, chán ngán cho thế sự nhân tâm, "Hồn ở đâu bây giờ".  Họ đã chết đi để cho những mầm non do họ chăm sóc, lo lắng,uốn nắn từng ngày,từng giờ sẽ sống vươn cao nơi xứ mình, xứ người."

Cuối cùng là điều băn khoăn day dứt từ tâm khảm của thầy Trần Văn Lữ vô cùng chân thành thiết tha,nói hộ cho đồng nghiệp muôn đời.

"Có còn ai nghĩ tưởng về những vị ân sư trẻ trung hay già nữa không đây?!"

Tấm lòng đối với thầy cô NH năm xưa đã được các cựu học sinh thể hiện trong cuộc sống,trên trang viết tri ân thắm đậm tình nghĩa thầy trò của báo Nguyễn Hoàng khắp nơi.Xin quý thầy cô, anh chị yên lòng về truyền thống nhân văn cao đẹp ấy của đại gia đình mang tên Chúa Tiên.

Năm 1972, sau hội mùa xuân rộn ràng diễn ra trên sân trường Nguyễn Hoàng, lửa đạn chiến tranh đã ập vào Quảng Trị, người dân bỏ quê vượt đèo Hải Vân tỵ nạn, thầy trò bỏ lại ngôi trường thân yêu. Lúc này, hai địa điểm tạm thời để học sinh tiếp tục trau dồi kiến thức là trại tạm cư Hòa Khánh và Non Nước, thuộc Đà Nẵng. Làm sao diễn tả hết nỗi lòng của con người Quảng Trị khi nhìn về quê nhà xa xôi đang bị bom đạn cày xới. Không thể vô tư, nhà thơ Trần Lãng Tử, ngày đêm bồn chồn tiếc nhớ từng con đường, hàng cây, giáo đường, ngôi chùa, quán ca fe, góc chợ, hiệu sách, dòng sông, bến nước, cây cầu … Trong Di cảo của anh Trần Văn Lữ có hai bài viết dạng tùy bút-hồi ký, bây giờ chúng ta đọc lại, vẫn không tránh được niềm xúc động dâng lên trong lòng! Trước tiên, hãy cùng thưởng thức bài tản văn có nhan đề "Thương về Quảng Trị" được viết vào tháng 7-1972, sau ba tháng lìa xa quê nhà. Này đây hãy lắng nghe dòng cảm xúc tuôn trào trong từng câu chữ, để cùng ôn lại những hình ảnh, nơi chốn, kỷ niệm một thời dấu yêu:

"Thế là tôi xa xứ Quảng thân yêu ba tháng trời. Quảng Trị giờ đây mờ mịt lửa đạn. Đêm đêm nhìn về hướng Bắc xa xôi , tôi nghe nhiều nhớ thương dâng tràn.‘’…

‘’ Con đường Quang Trung thẳng tắp trong tháng ngày qua, mưa về sũng nước nhưng sao láng lẫy thế! Còn đâu những ngày đi ngang qua giáo đường Thạch Hãn, nhìn hàng cây bàng khoác áo màu xanh đầy hy vọng vươn cao….Nào đâu những chiều ngồi trong quán Văn, quán Quyên, quán Gió… thả hồn trong khói thuốc. Bún tai mụ Dư trong đình chợ, bún cô Ba, bún Nông Tín ngon thật là ngon khi chiều chiều ghé lại… Tìm đâu những lúc đứng ở quán sách Tùng Sơn, Lương Giang…

"Con đường, quán chợ, dòng sông, bến nước, chiếc cầu, cái gì cũng quá quý, cầu cho nó được còn mãi. Quảng Trị nho nhỏ như một chiếc áo ấm, nhưng nó che chở ta tháng ngày qua trong giá lạnh.

"Con sông Thạch Hãn nước vơi đầy, rồi lần mùa mưa lũ đến, nước đục ngầu lềnh bềnh củi rều… Khi mùa hạ về, nó trải lòng cho người ta chiêm ngưỡng. Lòng dân người Quảng Trị cũng chân chất như dòng sông Thạch Hãn trong mùa nước cạn.

"Nhà thờ La Vang, chùa Sư Nữ, hết rồi những ngày đại hội, rằm mồng một. Chắc giờ đây chỉ là đống gạch vụn vì chinh chiến.‘’

Đó là một bài tùy bút có giọng văn ngọt ngào, thấm đẫm tình yêu quê nhà, dẫn chúng ta về với thị xã Quảng Trị xưa thân thuộc đang quằn quại đau xót giữa bom đạn mịt mù! Ước mong được trở về Quảng Trị luôn cháy bỏng trong tâm hồn mọi người con của Non Mai, Sông Hãn, trở thành điệp khúc nguyện cầu thiêng liêng tha thiết trong từng câu văn ngân vang trong không gian,trong tâm hồn mọi người:

"Mong sao được trở về Quảng Trị sớm để nhìn lại thành phố thân yêu, mảnh vườn xanh lá cây, nương chè, lũy tre, ruộng lúa, chiếc cầu ao loáng nước, mồ mả cha ông.

Bà con xóm giềng còn bị kẹt, con chó quấn quit bên nhà không hiểu ra sao?...

Quảng Trị ơi, ta chờ mong ngày trở về…Ta sẽ trở về cúi hôn mặt đất xứ Quảng của ta.Từng kỷ niệm sống động trong ta khắc khoải từng ngày từng giờ nếu còn xa Quảng Trị. Nguyễn Hoàng, Bồ Đề, Thánh Tâm, Phước Môn… hay chờ dân Quảng Trị về xây dựng lại.

Quảng Trị ơi, muôn người đang rưng rưng lệ nhớ thương về người.‘’

Bên cạnh con người nặng tình với quê hương, còn có một con người luôn gắn bó thân thiết với bạn bè. Cho nên, khi cùng vào ở trại tạm cư Đà Nẵng, anh Phan Phụng Thạch đã viết  "Bài Thơ Làm Khi Say Rượu"  đề tặng nhóm bạn chí thân, anh chọn hình ảnh anh Trần Văn Lữ để khắc họa đầu tiên vì đã hiểu rõ nhau, chia sẻ cùng nhau những buồn vui trong phận người:

"Buổi tối tiêu sầu-chai rượu đắng/Tri âm !Này hãy uống cho say

‘’Lỡ mai có chết- không ân hận,/ Vì đã ngồi chung một chiếu này!

"Thằng bạn chưa già nhưng tóc bạc/ Bụng đầy Kinh Lễ với Kinh Thư

"Chuyện đời hư ảo xin mày gác/ Không lẽ mày là Ngũ Tử Tư?"

Mấy câu thơ trên đã giới thiệu khá rõ nét về người bạn với lối so sánh có chút đùa tếu khi nhắc đến “bụng đầy Kinh Lễ với Kinh Thư”. “Không lẽ mày là Ngũ Tử Tư?” Bởi anh Trần Văn Lữ xuất thân từ Viện Hán học, kiến thức về Nho giáo, sách sử xưa phong phú.Thêm vào đó là giống nhân vật Ngũ Tử Tư: “Một đêm suy nghĩ tóc bạc trắng!’’

Đây là nhóm bạn tham gia Hội Hồng Thập Tự, làm công tác xã hội từ thiện giúp nhân dân các vùng bị thiên tai, bom đạn, cho nên như anh em ruột thịt một nhà. Trong những ngày sống trong trại tạm cư Đà Nẵng, căn bệnh ác tính của anh Phan Phụng Thạch đến hồi trầm trọng, bạn bè cùng gia đình thay nhau săn sóc cho đến khi anh từ trần.Trong đó, anh Trần Văn Lữ, Lê Lợi là bằng hữu luôn ở bên cạnh nhà thơ họ Phan, cho nên anh đã ghi lại những giây phút cuối cùng của Gs Phan Phụng Thạch và đọc tại Lễ tưởng niệm một năm nhà thơ Phan Phụng Thạch về cõi thiên thu, gồm gia đình, nhà trường, thân hữu, đại diện học sinh. (Tôi được phân công giới thiệu thơ PPT).Trên tờ giấy A.4 gấp hai, viết trọn bốn mặt, anh Phan Ngọc Bích (em trai PPT) trao cho tôi là bút tích của anh Trần Văn Lữ kể lại từng chi tiết cuối cùng ở Bệnh viện Việt Đức của người bạn họ Phan, có đoạn như sau :

"Rạng ngày thứ bảy 24-2-1973, độ 4-5 giờ sáng, chúng tôi tự nhiên thấy bồn chồn xao xuyến.Từ trại Hòa Long, chúng tôi đi bộ lên trại 5 để rủ Lợi qua anh. Cũng vừa khi đó, một thân nhân của anh sang tin cho hay là anh đang hấp hối. Chúng tôi qua đến nơi thì anh đã yếu lắm.Thở đã cách khoảng. Đôi mắt đã trăng trắng và kéo sụp mi nhiều. Đêm qua anh đã chuyện trò cùng thân mẫu anh, không nói ra được nên anh đã lấy sổ ra để bút đàm cùng bà. Nghẹn ngào đau đớn, anh trút hơi thở cuối cùng lúc 7 giờ 25. Tiếng khóc của thân mẫu anh làm chúng tôi se thắt. Bào đệ của anh, Lợi và tôi cũng không cầm được sự xúc cảm tột cùng. Sau đó trên chiếc xe HTT của bệnh viện Đức, thân mấu anh và tôi đưa thi hài anh về trại 5. Ngồi trên xe giữ chiếc băng ca, tự nhiên nước mắt tuôn trào…’’

Trong lễ truy điệu nhà thơ Phan Phụng Thạch, cùng với bạn bè viết điếu văn, khóc bạn, anh Trần Văn Lữ nghẹn ngào đọc bài thơ Tiếc Thương: 

“Đại dương, sóng vỗ xôn xao/ Thạch ơi mầy chết biết bao đau buồn

Mây trời vẫn cứ bay luôn/ Bóng mầy đâu nữa những hôm chuyện trò

Nhạc còn huệ vẫn thơm tho/ Trà đây rượu đó nào giờ cụng ly…

Lá bay bay mãi im lìm / Mầy đi, đi biệt như chim tách đàn.

Hết rồi giây phút liên hoan / Yêu đời nghe hát dư vang đêm nào."

Bài thơ thể 6/8 dung dị, ngôn ngữ xưng hô thân mật, không khách sáo, hình ảnh gần gũi đã thể hiện tình bạn chân thành, sự tiếc thương vô hạn, nỗi mất mát lớn lao!

Để hiểu thêm tấm lòng của anh đối với bạn, chúng ta đọc hồi ký của anh Hoàng Đằng đăng trong Đặc san 60 NĂM NGUYỄN HOÀNG (- 2012): “Trần Văn Lữ rất quan tâm đến bằng hữu. Năm 1974, biết tin tôi sẽ đi vào Sở Học chánh Bình Tuy,Trần Văn Lữ đã sốt sắng tìm tôi, trao lá thư giới thiệu với anh Nguyễn Như Lộc, nguyên Hiệu trưởng trường Quảng Phước mới vào nhận chức Chánh sự vụ sở này. Trần Văn Lữ hy vọng nơi đất khách quê người, tôi sẽ có người che chở. Sau đó ít lâu, Trần Văn Lữ qua đời. Đến bây giờ, mỗi lần nghe nhắc đến tên Trần Văn Lữ, tim tôi lại rung động, mắt tôi lại rươm rướm!“

Nhìn lại bức chân dung tinh thần của anh hiện lên qua lời kể, cùng trang văn, câu thơ còn lại, chúng ta đều hiểu được tâm hồn anh giàu tình nghĩa, đa cảm, thật đáng trân trọng, mến yêu!

. Nhưng chắc không ít bằng hữu và học sinh cũ cảm thấy thiếu sót nếu bài viết này không nói đến một góc nhỏ của tình yêu trong thơ Trần Lãng Tử. Qua mấy lần giới thiệu thơ Trần Thương Bá, Phan Phụng Thạch, Triệu Phong, Đặng Sĩ Tịnh, chúng tôi đã cùng xao xuyến với nhiều cung bậc, giai âm của ái tình. Nhưng lần nầy lại khác. Có chút ái ngại khi nói về niềm đau, nỗi buồn, xót xa trong tận cùng của tâm hồn người bạn khả kính, cam chịu trong éo le của tình duyên. Tuy khá thân tình nhưng tôi cũng tránh né, không hỏi han chuyện riêng tư tế nhị của bạn. Hôm nay, đọc những bài thơ của anh - Trần Lãng Tử trên Chân Dung Và Kỷ Niệm, chúng ta sẽ mở cánh cửa lâu nay khép chặt đó để cảm thông và chia sẻ những nỗi niềm sâu kín cùng anh. Đây là những bài thơ có lẽ được sáng tác sau khi Chúa Trời đã xua đuổi anh ra khỏi căn vườn mang tên Hạnh Phúc vào năm 1969. Những câu hát đâu đây còn vọng lại: "Em đang tâm xé nát tim tôi…’’ như lời trong Niệm Khúc Cuối của Ngô Thụy Miên. Anh sáng tác bài LỜI NÀY CHO EM‘ trong thời gian bi kịch tình yêu đang gây bão tố quay cuồng. Hai khổ thơ hiện ra sự đối lập giữa hạnh phúc êm ấm với tan vỡ chia xa, nhưng giọng điệu dường như vẫn du dương vì tác giả dùng nhiều từ có thanh bằng. Bốn câu đầu là kỷ niệm đẹp, tháng ngày tay trong tay, tình nồng lên khơi:

‘’Qua bao tháng ngày / Trong đôi vai gầy /Tình ơi lên khơi/Trong đôi tay này.

Lại diễn ra sự khác biệt, mâu thuẫn giữa thiên nhiên bên ngoài với nội tâm nhà thơ, nắng ấm không sưởi được cõi lòng giá lạnh cô đơn vì đột nhiên bị xa cách ngàn trùng:

‘’Nắng lên khắp trời/Nắng lên chơi vơi/Nhưng tôi vẫn gào:Tôi xa em rồi.Tiếp theo tiếng gào thảng thốt đó là trạng thái tâm lý điên dại vì đau khổ trước nghịch cảnh phũ phàng, tan nát bao thề nguyền.

Câu thơ cuồng nộ như không thể chịu đựng được nữa: ‘’Xé nát mặt trời/Xé cả mặt trăng/Xé luôn thân nàng/ Lòng không ăn năn"

Giờ đây, nhà thơ họ Trần đã về cõi vĩnh hằng nhưng còn gởi lại những câu thơ ám ảnh day dứt về nỗi cô đơn trống trải trên dương thế để tìm sự đồng cảm và sẻ chia:

‘’Chết rồi thịt nát xương tan /Hồn bơ vơ nữa ai hàn huyên đây ? ‘ ‘

Sống mãi trong lẻ loi, nhà thơ Lãng Tử đã tìm đến cõi mộng như một liệu pháp, một cách hóa giải nỗi đau buồn nhức nhối không nguôi của những người bị tình phụ. Trong bài MỘNG gồm có 6 đoản khúc, như từng trang nhật ký để mình đối thoại với mình, thầm thì an ủi chính bản thân…

"Nhớ nhung mộng mới trở về/ Tỉnh ra mộng biến não nề tấm thân!

"Nhớ em dẫn mộng vào đêm/ Cuộc đời qua mãi như rèm chiêm bao.’’

‘’Ngủ say mộng lén vào hồn/Niềm vui phủ mắt, Dậy buồn tâm tư’’

‘’Trở mình- đêm lạnh- mộng nhiều/ Ước mơ- xa cách-bao điều em ơi

‘’Người đây hồn lạc về đâu/ Gieo bao nhung nhớ u sầu mộng tan.’’

‘’Nghĩ đời kể cũng nực cười/ Đêm đêm là mộng, ngày rời mộng thôi!

Đến đây, chúng ta liên tưởng đến câu chuyện tình giữa Hàn Mặc Tử và người đẹp Mộng Cầm, với bao lần hẹn hò, say đắm,gắn bó thiết tha thế nhưng kết cục thật buồn. Khi biết nhà thơ họ Hàn bị bệnh nan y, nàng đành đoạn tình, bước lên xe hoa để cho họ Hàn đau khổ khôn nguôi, có lúc tự nhủ: ‘’Làm sao giết được người trong mộng, để trả thù duyên kiếp phụ phàng!" Nhưng khi lòng lắng xuống,hồn thơ trở nên dịu dàng chịu đựng ông viết bài Những Giọt Lệ :

‘’Họ đã xa rồi khôn níu lại /Tình thương chưa đã mến chưa bưa

Người đi một nửa hồn tôi mất /  Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ!

Và: 

Dẫu đau đớn vì điều phụ rẫy/ Nhưng mà ta không lấy làm điều

(Muôn năm sầu thảm)

Bản tính anh Trần Văn Lữ vốn hiền lành, thương người, cam chịu, cho nên tuy những cơn đau trong lòng có khi khiến anh muốn gào thét xé nát cả vũ trụ, nhưng cũng như Hàn thi sĩ, anh tìm được sự cân bằng nhờ thi ca và cuộc sống. Anh góp phần vào sự nghiệp khai nguồn trí tuệ cho thế hệ trẻ, vỗ về an ủi người dân bị thiên tai, bom đạn qua hoạt động từ thiện cùng bạn bè.Năm 1973 anh khóc thương tiễn nhà thơ Phan Phụng Thạch về nơi an nghỉ cuối cùng trên đồi cát trắng Non Nước, thì năm sau gia[1]đình, đồng nghiệp và học trò lại đưa anh đến chỗ nằm bên cạnh bạn thân bao ngày gắn bó. Một thời gian sau, hài cốt của hai anh về với làng quê của mình bên tổ tiên. Trong dịp cùng thầy Nguyễn Văn Thị về Bồ Bản thăm mộ thầy Lê Đình Ngân, chúng tôi đã ghé Quảng Lượng thắp hương cho anh trong khu nghĩa trang của gia đình. Hiện nay, anh Trần Thiện Tài cho biết gần đây đã cải táng toàn bộ các phần mộ nội thân về Nha Trang.Tôi thầm hứa sẽ vào viếng anh trong một ngày thuận tiện không xa. Mong anh tha thứ cho tôi vì đã chạm vào vết thương của những ngày tháng dương gian xa xưa ấy!

Viết tại làng Thạch Hãn cuối xuân Giáp Ngọ. 2014

Thắp nén tâm hương tưởng nhớ anh Trần Văn Lữ 50 năm xa đời.

ĐỖ TƯ NHƠN

.


READ MORE - TƯỞNG NHỚ BẠN XƯA: NHỚ ANH TRẦN VĂN LỮ - Đỗ Tư Nhơn