Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Sunday, October 25, 2026

AN THƠ – MIỀN QUÊ LƯU GIỮ HỒN XƯA VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ LỊCH SỬ - Ái Tình Văn



AN THƠ – MIỀN QUÊ LƯU GIỮ HỒN XƯA 

VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ LỊCH SỬ

Ái Tình Văn

 

Có những miền quê, thoạt nhìn tưởng chừng bình dị như bao làng quê khác, nhưng khi ngược dòng thời gian để tìm hiểu, ta mới nhận ra nơi ấy chứa đựng biết bao câu chuyện đáng tự hào.

An Thơ, thuộc xã Hải Hòa cũ, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, là một miền quê như thế. Mảnh đất này mang trong mình những dấu ấn lịch sử, những giá trị văn hóa được bồi đắp qua nhiều thế hệ, cùng truyền thống tốt đẹp của những con người sinh ra và lớn lên trên quê hương giàu nghĩa tình.

Nhắc đến An Thơ, không thể không nhắc đến truyền thống hiếu học của dòng họ Nguyễn Đức. Qua những tư liệu lịch sử, dòng họ có những người đỗ đạt, thành danh dưới triều Nguyễn, góp phần làm nên niềm tự hào về tinh thần học tập và con đường khoa bảng của người xưa. Những tư liệu gia phả, dấu tích cổ còn được lưu giữ cũng là minh chứng cho ý thức gìn giữ cội nguồn, gia phong và nền nếp của các thế hệ đi trước.

Không chỉ có chiều sâu lịch sử, An Thơ còn mang nét mộc mạc của vùng quê Hải Lăng.

Đi qua mỗi làng quê, mình càng cảm nhận rõ rằng quê hương không chỉ là nơi ta sinh ra và lớn lên, mà còn là nơi lưu giữ ký ức của bao thế hệ. Có những câu chuyện nếu hôm nay chúng ta không tìm hiểu, không kể lại, có lẽ mai này sẽ dần chìm vào quên lãng.

 An Thơ hôm nay vẫn tiếp nối dòng chảy của thời gian. Mong rằng những giá trị lịch sử, truyền thống hiếu học và nét đẹp văn hóa của làng sẽ luôn được gìn giữ, để mai này, dù đi đâu về đâu, mỗi người vẫn có thể tự hào khi nhắc đến quê hương mình.

Còn bạn, bạn đã từng ghé thăm làng An Thơ chưa? Nếu biết thêm những câu chuyện xưa về làng, hãy cùng chia sẻ để chúng ta hiểu hơn và lưu giữ những ký ức đẹp của quê hương nhé!

                                                    Ái Tình Văn

 

 

READ MORE - AN THƠ – MIỀN QUÊ LƯU GIỮ HỒN XƯA VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ LỊCH SỬ - Ái Tình Văn

KHUẤT CHÌM – Thơ Lê Kim Thượng


 

 
Khuất Chìm
 
1.
Chuyện tình đâu dễ phôi pha
Cố quên càng nhớ, ngày xa đêm dài
Hai bờ hai đứa chia hai
Dòng sông ly biệt chạy dài mù xa…
Nhớ người xa cách giang hà
Nỗi buồn giấu kín nhạt nhòa dịu êm
Một mình tôi với bóng đêm
Nhớ nhung khe khẽ gọi tên một người
Tình như một áng mây trôi
Không duyên, dù có yêu rồi vẫn xa
Trái tim rạn nứt thiết tha
Trải bao ngang trái vẫn là trái ngang
Nợ duyên, duyên nợ lỡ làng
Cuộc tình lận đận dở dang đau lòng
Vọng Phu đã núi trông chồng
Em về phương ấy có trông phương này…
 
2.
Lòng buồn thở ngắn than dài
Tôi – Em giờ đã chia hai lối về
Em đi biền biệt xa quê
Tôi về cùng với lời thề ngây thơ
Thương nhau chín đợi, mười chờ
Nỗi buồn xa cách bơ vơ một người
Hương tình bay mất đi rồi
Vườn yêu xơ xác bồi hồi con tim
Tình xưa giờ đã khuất chìm
Bới lên dĩ vãng đi tìm chân dung
Yêu nhau, yêu tới vô cùng
Thì nay cũng đã ngàn trùng cách xa
Em đi khuất bóng quan hà
Tôi ôm kỷ niệm đôi ta một thời
Bây giờ đôi đứa đôi nơi
Em giờ đã trở thành người… “Ngày xưa”…
 
                   Nha Trang, tháng  10. 2026
                         LÊ KIM THƯỢNG

 
READ MORE - KHUẤT CHÌM – Thơ Lê Kim Thượng

MÀU QUÊ HƯƠNG, SEN VỀ, KHI SỚM MAI – Thơ Tịnh Bình


 


MÀU QUÊ HƯƠNG
 
Chân phương hạt thóc đồng làng
Bốn mùa cày cấy mùa màng tốt tươi
Giần sàng trải nắng hong phơi
Mùa no ấm rạng môi cười lão nông
 
Hương quê chất phác ruộng đồng
Bờ dâu bãi mía xanh trong khoảng trời
Cánh diều cõng gió đi chơi
Hồn nhiên trẻ nhỏ nói cười rộn vang
 
Dòng sông uốn khúc đa mang
Vầng trăng thổn thức người sang ngang rồi
Xốn xang điệu lý mồ côi
Cuối trời chim trắng bồi hồi lòng ai
 
Chiều không tỏa khói mà cay
Rưng rưng quê mẹ thương hoài ngõ sau
Lục bình tím biếc lao xao
Dòng sông bóng núi nhuộm màu quê hương...
 

SEN VỀ...
 
Người về từ cõi lao xao
Giọt sương thở nhẹ chiêm bao cúi đầu
Qua rồi mấy nỗi bể dâu
Về nghe chuỗi hạt lần câu Mi Đà
 
Bồ Đề rơi chiếc lá đa
Phật xưa là cũng người ta chốn này
Lụy bùn sen vẫn thanh bai
Vượt qua sáu nẻo trần ai luân hồi
 
Người về vớt mảnh trăng côi
Phù du gửi lại bồi hồi bến mê
Phồn hoa lạc lõng đời quê
Giã từ ảo mộng sen về ẩn tu...

 
KHI SỚM MAI...
 
Khi sớm mai tỉnh giấc
Bung nở một cành sương
Bình minh không vội vã
Chuông gió lay hoa vườn
 
Khi sớm mai ngồi lại
Nũng nịu những lược gương
Soi mình và chải tóc
Mỗi ngày qua... vô thường
 
Những sớm mai lặp lại
Như nhau và khác nhau
Buồn hay vui không rõ
Thanh xuân vội phai màu
 
Thôi ban mai đừng hát
Bầy sẻ nâu già rồi
Thôi bông hoa đừng nở
Nhạt phiến lòng đơn côi
 
Khi sớm mai tỉnh giấc
Đất trời mãi tinh khôi
Thoảng làn hương vô nhiễm
Thì thầm cùng ta thôi...
 
              TỊNH BÌNH
 
READ MORE - MÀU QUÊ HƯƠNG, SEN VỀ, KHI SỚM MAI – Thơ Tịnh Bình

Friday, October 23, 2026

Youtube: Ca khúc TÂM SỰ CÙNG TRĂNG - Thơ: Sông Thu - Nhạc: Nguyễn Tuấn

READ MORE - Youtube: Ca khúc TÂM SỰ CÙNG TRĂNG - Thơ: Sông Thu - Nhạc: Nguyễn Tuấn

KÝ ỨC HƯƠNG CỐM THÁNG MƯỜI - Nguyễn Đại Duẫn



 Ký ức hương cốm tháng Mười

 Nguyễn Đại Duẫn


Cứ mỗi độ thu sang, về thăm quê, tôi không khỏi bồi hồi nhớ mẹ, nhớ hương cốm quê nhà. Có những mùi hương đi qua cuộc đời tôi nhưng có khi không để lại trong tôi chút hoài niệm nào. Nhưng có những mùi hương một khi đã chạm vào ký ức thì chẳng bao giờ quên được. Với tôi, đó là hương cốm xưa của mẹ.

Quê tôi là một vùng đất nghèo, nơi thiên nhiên dường như cũng khắt khe với con người. Quanh năm phải chống chọi với thiên tai và chiến tranh. Mưa thì lụt, đồng ruộng trắng nước. Hạn về, đất khô cháy, nứt nẻ, thường xuyên mất mùa. Đã vậy, trong những năm chiến tranh, ruộng đồng bị bom đạn cày xới; rồi kỹ thuật canh tác lạc hậu, cây lúa lớn lên thường xuyên bị sâu bệnh phá hoại. Lúa làm ra chẳng thu hoạch được bao nhiêu. Có mùa không đủ gạo ăn, mẹ tôi phải lên rừng, xuống biển, tần tảo củ khoai, củ sắn để góp vào cho đủ bữa.

Tôi lớn lên giữa những mùa như thế. Tuổi thơ không chỉ có tiếng chim, tiếng bom đạn, và những buổi chiều chăn trâu, mà còn có những ngày nước lũ dâng ngập sân nhà, mẹ phải tất tả kê lại từng chiếc chum, chiếc thúng đựng đồ... Rồi khi mùa hạ đến, đất nứt nẻ chân chim, lúa héo vàng, mẹ lại đứng lặng nhìn cánh đồng khô hạn. Tôi phải tập kéo gàu giai một bên với mẹ.

Ngày ấy, quê tôi có những thửa đất khô cằn mà người ta vẫn phải làm lúa. Người quê tôi gọi đó là vãi lúa. Cày bừa xong, người ta đem lúa giống rải xuống mặt ruộng, rồi phó mặc cho trời. Có mưa thì lúa mọc, có đủ nước thì lúa lên. Còn nếu trời hạn, trời khắc nghiệt, người nông dân chỉ biết đứng nhìn ruộng đồng khô héo. Cái nghèo cứ thế đeo bám những mái nhà làng quê tôi. Nhưng mẹ tôi không chịu đầu hàng cái nghèo.

Trên một thửa đất khô, thay vì gieo lúa tẻ như mọi người, mẹ lại gieo lúa nếp. Có lẽ mẹ đã nghĩ khác. Lúa nếp khi ấy không chỉ để ăn. Những hạt lúa non còn có thể làm thành cốm, đem ra chợ bán, đổi lấy tiền mua gạo, mua sách vở cho các con.

Tôi còn nhớ những ngày lúa nếp lên xanh trên mảnh đất khô cằn ấy, mẹ nâng niu từng bông lúa, chắt chiu từng hạt. Khi những cơn gió heo may bắt đầu se se chạm ngõ trong chiều thu, cánh đồng sau nhà cũng chuyển sang một màu vàng óng. Lúa gặt về, mẹ thường chọn những bông lúa nếp non để làm cốm.

Đầu tiên là tuốt hạt lúa khỏi bông, sau đó mẹ đem rang trên chảo lửa nhỏ. Đây là khâu quyết định chất lượng cốm. Sau đó mẹ đem lúa vào giã nhẹ để tách vỏ, không làm nát hạt. Sau khi đem sàng sảy để lấy hạt gạo, mẹ lại đem rang trên bếp lửa nhỏ làm cho cốm khô, dậy mùi thơm và đạt độ dẻo, xanh đẹp.

Tiếng cốm nổ lách tách hòa trong tiếng lửa reo. Khói bếp rơm rạ quẩn quanh mái nhà, quyện với mùi hương cốm lúa mới làm cho cái mũi thính của tôi không chịu được, cứ đi ra, đi vào bên bếp. Mẹ lấy cốm thành phẩm gói vào trong lá chuối với một lượng mà mẹ đã định sẵn. Mẹ bảo nếu có lá sen mà gói thì cốm sẽ ngon hơn. Nhưng ngày đó quê tôi làm gì có sen. Tôi phụ mẹ ngồi gói cốm. Xong việc, mẹ để dành cho tôi một ít. Tôi đưa nắm cốm lên mũi hít hà và vốc vài hạt nhai chậm rãi để thưởng thức cái hương vị mà đất trời đã ban tặng, và qua bàn tay khéo léo của mẹ đã tạo nên mùi vị hương cốm đồng quê.

Những hạt cốm xanh nhỏ bé ấy được mẹ đem đi chợ bán. Đồng tiền kiếm được chẳng nhiều, nhưng với mẹ, mỗi đồng đều quý giá. Tiền bán cốm trở thành gạo trong bữa cơm, thành quyển vở, cây bút, thành những ngày đến trường của chúng tôi.

Bây giờ quê tôi đã khác xưa nhiều lắm.

Kinh tế phát triển, ruộng đồng không còn cảnh phó mặc cho trời, đất. Những cánh đồng ngày trước khô cằn, khi mưa thì ngập, nay đã có kênh mương thủy lợi tưới tiêu hợp lý, đưa nước về tận ruộng. Người nông dân làm lúa có phân bón, có thuốc trừ sâu, trừ chuột, có máy móc hỗ trợ.

Cây lúa được chăm bón từ lúc gieo mạ đến khi trổ bông, nên năng suất cũng cao hơn ngày trước rất nhiều. Không còn cảnh cày bừa xong rồi vãi lúa xuống ruộng, ngửa mặt trông trời chờ mưa. Cũng không còn những thửa ruộng nếp mà mẹ tôi từng gieo năm nào.

Cái nghề làm cốm của mẹ cũng theo mẹ đi xa, và hương cốm cũng xa dần khỏi làng quê nghèo khó ngày xưa. Bây giờ muốn ăn cốm chẳng khó. Ngoài chợ có đủ loại cốm, từ ngoài Bắc chuyển vào, từ trong Nam đưa ra. Muốn ăn cốm Làng Vòng, chỉ cần một cú điện thoại, vài ngày sau, người giao hàng đã mang đến tận nhà.

Thế nhưng, lạ thay, cốm bây giờ có thể thơm, có thể đẹp, có thể được đóng gói cẩn thận, nhưng tôi vẫn thấy thiếu một điều gì đó.

Ngày ấy, cốm mẹ làm đâu có đẹp như cốm bây giờ. Hạt cốm có khi không đều, màu xanh cũng chẳng thật óng. Mẹ làm bằng đôi bàn tay thô ráp, bằng cái nong, cái nia và bếp lửa rơm rạ quê nhà. Vậy mà tôi ăn một lần thì nhớ cả đời. Giờ nghĩ lại thấy đó không chỉ là cốm mà đó là những hạt nếp được chắt chiu từ đồng đất cằn cỗi, từ cái nắng khô hạn, từ một cuộc đời lam lũ của mẹ. Và có lẽ, trong ký ức của tôi, không có thứ hương nào thơm hơn hương cốm xưa của mẹ.

Mẹ đã đi xa.

Mảnh ruộng ngày xưa cũng đã đổi thay. Những mùa lúa mới vẫn nối nhau xanh tốt. Những hạt cốm mới vẫn được mang về từ muôn nơi. Chỉ có người mẹ năm nào là không thể trở về nữa. Nhưng kỳ lạ thay, mỗi khi thu về, nghe đâu đó thoảng mùi lúa nếp mới, ký ức trong tôi lại thức dậy. Mẹ để lại cho tôi một chút hương cốm trong ký ức, một chút hương quê trong tâm hồn, để mỗi khi nhớ mẹ, tôi lại tìm về với những mùa lúa của ngày tháng long đong. Mẹ đã đi qua những mùa Thu của đời mình. Còn tôi, mỗi khi nghe gió heo may về, lại thấy như có một mùi hương quen thuộc len vào ký ức. Trong đó có mồ hôi của mẹ. Có nắng hạn cháy đồng. Có những mùa nước lũ tràn về. Có cả sự chắt chiu của một người mẹ luôn muốn dành cho con mình những gì tốt đẹp nhất.

Nhớ về mẹ, và một điều tôi không thể quên - Nhớ hương cốm xưa của mẹ.

 

Nguyễn Đại Duẫn

51, Nguyễn Hữu Cảnh

Thôn: Nam Quán Hàu, xã: Quảng Ninh, tỉnh: Quảng Trị

ĐT: 0977194533

READ MORE - KÝ ỨC HƯƠNG CỐM THÁNG MƯỜI - Nguyễn Đại Duẫn

CHÙM THƠ LƯU LÃNG KHÁCH: Anh không là / Anh là thế

 

Lưu Lãng Khách

ANH KHÔNG LÀ

 (Thương tặng Như Nguyện)

 

Cuối đông em gái nhỏ

Như một đóa tường vi

Dịu dàng bên lá cỏ

Thẹn thò nhường lối đi

Anh không là thiên tử

Đang ngự trị ngai vàng

Lòng đắm say xuân nữ

Dụ thần dân đón nàng

Anh không là viễn khách

Giữa đường chiều ngất ngây

Động lòng xuân háo hức

Vội dừng chân tỏ bày

Anh không là chiến tướng

Mù vó ngựa biên cương

Xả thân ngoài biên ải

Gặp nhành hoa bên đường

Anh không là thi sĩ

Bạc thếch áo phong trần

Tặng ai vàng thu cũ

Khi xuân kề gót chân

Anh! Hào hoa lãng tử

Anh! Là người yêu em

Quyết tặng ai áo mới

Đón một mùa xuân miên.

    Giáp Tết 1986

     Duy Toàn Chợ Chùa

     (Lưu Lãng Khách)



 ANH LÀ THẾ


Anh là thế! Gót phong trần lãng tử

Ngại giẫm đau hoa cỏ chốn trần gian

Anh là thế! Đã yêu là rất dữ

Ấm lúc trăng lên thắm buổi đêm tàn

Như sóng đại dương hùng hồn ào ạt

Cuồn cuộn sục sôi dũng mãnh dâng tràn

Như sa mạc chẳng bao giờ đã khát

Yêu tục phàm cháy rực mảnh hồn hoang

Nay gặp em thương lắm nàng thôn nữ

Má em hồng môi mắt chở xuân sang

Nay gặp em xin dừng chân cô lữ

Đốt cháy giai nhân dưới bóng đèn vàng

Anh là thế! Đã yêu là thể hiện

Thích là làm không ai cản được anh

Anh là thế! Khi tình yêu lên tiếng

Sẽ rước em không làm của để dành

Lấy anh nhé! Và chúng mình sẽ có

Một đàn con trai gái đủ đầy

Trai chớ giống cha gái cầu giống mẹ

Hạnh phúc ngập tràn mới ước đã say

Anh là thế! Suốt đời anh vẫn thế

Sóng biển xanh không mãi lặng bao giờ

Anh là thế! Xin làm chồng em nhé!

Tặng em cả lâu đài

                               hạnh phúc ở trong thơ.


            Đầu xuân 1986

                Duy Toàn Chợ Chùa


From:

Nguyễn Duy Toàn

luulangkhach@gmail.com


 

READ MORE - CHÙM THƠ LƯU LÃNG KHÁCH: Anh không là / Anh là thế

ĐỒNG TIỀN - Nguyên tác: Tiến sỹ MA Zaman Ahasanuzzaman, Bangladesh - Người dịch: Thi Lan Anh Tran, Germany

 

Tiến sĩ MA Zaman Ahasanuzzaman

ĐỒNG TIỀN

Thơ Sufi – Khúc ca Saki

Nguyên tác: Tiến sĩ MA Zaman Ahasanuzzaman
Bút danh: Sufi Saki Jahangir
Sufi Saki Golarasharif Complex – Bangladesh

Người dịch: Nhà thơ Thi Lan Anh Tran, Aschaffenburg, Germany


Tiền sinh ra bạc, bạc lại sinh tiền,
Thiếu tiền, nhân thế lắm nỗi truân chuyên.
Kiếp người tất tả bon chen xuôi ngược,
Tay trắng, đường đời lạnh lẽo triền miên.

Mê tiền khiến dạ người thêm mê muội,
Quên nghĩa, quên tình, quên cả thanh danh.
Đức tin phai nhạt, tâm hồn tăm tối,
Cuộc sống chông chênh giữa cõi mong manh.

Trong muôn thứ nghiện, tiền là mối họa,
Gieo bao tội lỗi, khổ ải, lầm than.
Tiền mua gian trá, bạc bài, tửu sắc,
Đẩy kiếp con người vào chốn lầm than.

Tiền xây thánh điện, dựng nơi kinh kệ,
Mở lớp truyền trao ánh sáng niềm tin.
Tiền nuôi cô nhi, chở che phận yếu,
Sưởi ấm lòng người giữa cõi lặng thinh.

Zakat, Fitra, bố thí, việc lành,
Bao điều nhân nghĩa cũng cần tiền bạc.
Người thân khốn khó, nếu ta ngoảnh mặt,
Tình nghĩa nhạt dần, lạnh tựa sương đông.

Muốn về hành lễ nơi miền đất thánh,
Cũng cần tiền lo vạn dặm đường xa.
Đường tu đôi lúc chẳng ngoài cơm áo,
Thiếu tiền, muôn nẻo hóa thành phong ba.

Tiền bên phải, tiền tràn sang bên trái,
Như cỗ xe đời cuốn kiếp người đi.
Xe này vừa dứt, xe kia lại đón,
Mải miết trần gian, biết đến bao giờ?

Khắp chốn nhân gian, đâu vắng bóng tiền,
Muôn tên muôn dạng, vẫn chung một quyền.
Đường đời in dấu bao mùa bạc đổi,
Tiền nối theo tiền, chẳng phút bình yên.

Con người đuổi bạc suốt đời vô vọng,
Tưởng nắm trong tay, lại hóa hư không.
Nào hay tiền bạc còn theo chân Saki,
Giữa vòng nhân thế, huyền nhiệm mênh mông.

Giữa tội cùng phúc, xin người suy xét,
Cần đồng tiền, nhưng chớ để tâm tà.
Làm ăn chân chính, lòng vui vừa đủ,
Ấy điều Raji Jagat Sai hằng mong.


***

Bản phỏng dịch tiếng Việt từ nguyên tác Bengali (tiếng Bangladesh).

***

From: 

Dipl.-Kauffrau Thi-Lan Anh Tran 

Wirtschaftskanzlei@dipl-kauffrau-tran.de

READ MORE - ĐỒNG TIỀN - Nguyên tác: Tiến sỹ MA Zaman Ahasanuzzaman, Bangladesh - Người dịch: Thi Lan Anh Tran, Germany

LÀNG VĂN QUỸ TRONG TÔI - Người Hải Lăng



 Làng Văn Quỹ trong tôi


Tôi xa quê đã hơn bốn mươi năm.


  Bốn mươi năm, nghe thì dài như một đời người. Vậy mà lạ lắm, chỉ cần ai nhắc hai tiếng Văn Quỹ, lòng tôi bỗng mềm xuống như gặp lại bóng mạ đứng chờ con trước ngõ. Quê hương nhiều khi không cần hiện ra bằng hình hài rõ rệt. Chỉ một giọng nói Quảng Trị, một tiếng “răng”, tiếng “mô”, tiếng “chừ”, tiếng “rứa”, là cả một trời ký ức lại lặng lẽ trở về, ngồi xuống bên tôi như người bạn cũ.


  Tôi sinh ra ở làng Văn Quỹ, xã Hải Tân cũ, nay là xã Nam Hải Lăng, huyện Hải Lăng cũ, tỉnh Quảng Trị. Một làng quê nhỏ thôi, không phồn hoa chi, cũng chẳng nổi danh bằng những điều lớn lao, nhưng với tôi, đó là chốn thiêng liêng nhất của đời mình. Nơi ấy có những con đường làng quen dấu chân người, có mái nhà thấp nép bên vườn, có tiếng gà gáy trong sương sớm, có bóng tre, bờ ruộng, có những mùa gió Lào thổi qua nghe khô cả lòng mà vẫn thương chi lạ.


  Văn Quỹ quê tôi là làng của nón. Những chiếc nón trắng từng đi qua tay bao người phụ nữ quê nhà, nhẹ như một vầng trăng non, mà chứa trong đó biết bao nhiêu công sức và sự nhẫn nại của người làm ra nó. Tôi nhớ những buổi ngồi chằm nón, tay đưa kim qua từng lớp lá, mắt nhìn theo đường chỉ nhỏ mà lòng cứ mơ màng đâu đó ngoài đồng xa. Cây kim, sợi chỉ, vành tre, lá nón; toàn những thứ bình thường rứa thôi, nhưng khi vào tay người Văn Quỹ lại hóa thành vẻ đẹp dịu dàng. Chiếc nón không chỉ che nắng che mưa, mà còn che chở cả một phần hồn quê tôi.


  Tôi nhớ Hải Tân những buổi sớm. Trời còn chưa sáng hẳn, làng đã thức dậy bằng những âm thanh rất đỗi thân quen. Tiếng ai gọi nhau ngoài ngõ. Tiếng bước chân đi chợ, đi đồng. Tiếng gió lùa qua mái tranh cũ. Tiếng đời sống quê nghèo bắt đầu một ngày mới bằng sự cần mẫn lặng thầm. Người quê tôi không hay nói lời hoa mỹ, nhưng cái tình thì sâu. Gặp nhau chỉ hỏi một câu: “Mi ăn cơm chưa? “Bữa ni mần chi? “Ở mô về rứa?” nghe mộc mạc mà ấm hơn bao nhiêu lời sang trọng.


  Tuổi thơ tôi ở Văn Quỹ không đủ đầy, nhưng đẹp theo cách riêng của nó. Đẹp như một bông hoa dại mọc bên bờ ruộng, không ai chăm mà vẫn nở. Có những ngày làm ruộng, bàn chân lấm bùn, áo quần bạc màu nắng gió. Có những mùa trồng sắn, đi ngược từ Mỹ Chánh lên phía Tây Hải Chánh, đường xa ba bốn cây số, bụi đỏ bám đầy chân mà người vẫn cứ đi. Chừ nghĩ lại, tôi thấy những củ sắn, thửa ruộng, con đường rẫy ngày xưa không còn là nhọc nhằn nữa; chúng đã hóa thành hạt ngọc trong ký ức, càng xa càng sáng.


  Tôi cũng nhớ những ngày đi làm thủy lợi ở đập Trấm, bên dòng Thạch Hãn. Con sông ấy trong trí nhớ tôi như một dải lụa dài vắt qua năm tháng. Nước cứ trôi, mây cứ bay, còn tuổi trẻ chúng tôi cũng trôi theo những ngày lao động giản dị. Không cần nói nhiều về cực khổ, vì đời quê hồi nớ ai mà chẳng từng nếm qua. Điều tôi nhớ hơn cả là tình người. Là lúc cùng nhau làm, cùng nhau nghỉ, cùng chia nhau hớp nước, củ khoai, củ sắn, câu chuyện. Cái nghèo có thể làm bữa cơm vơi đi, nhưng không làm lòng người quê tôi vơi nghĩa.


  Văn Quỹ trong tôi còn là tiếng quê. Thứ tiếng nghe lên là biết người mình. Xa quê lâu rồi, giữa Hà Nội đông đúc, có khi nghe ai nói giọng Quảng Trị, tôi quay lại liền. Không biết người đó là ai, ở làng mô, xã mô, nhưng chỉ nghe tiếng “mạ”, tiếng “ba”, tiếng “o”, tiếng “eng”, tự nhiên thấy gần. Tiếng quê giống như sợi dây mềm buộc người xa xứ với nơi chôn nhau cắt rốn. Đi mô thì đi, ở mô thì ở, sợi dây ấy vẫn không đứt.


  Có người hỏi tôi: xa quê hơn bốn mươi năm, nhớ nhất điều chi? Tôi cũng không biết trả lời răng cho hết. Nhớ làng. Nhớ nhà. Nhớ con đường đất. Nhớ mùi rơm. Nhớ vành nón. Nhớ gió Hải Lăng thổi hun hút qua đồng. Nhớ những buổi chiều đứng nhìn về phía xa, trời đỏ lên sau lũy tre, lòng con gái quê khi ấy còn trẻ mà đã biết thương đời, thương nhà, thương đất.


  Quê hương lạ lắm. Khi còn ở đó, ta thấy mọi điều bình thường. Một bờ tre, một giếng nước, một lối ngõ, một phiên chợ, một tiếng gọi nhau cũng chỉ là chuyện hằng ngày. Nhưng khi đi xa, tất cả bỗng hóa thành báu vật. Cái bờ tre ngày xưa thành bóng mát trong lòng. Con đường đất cũ thành lối về trong mộng. Tiếng mạ gọi con thành âm thanh không chi thay thế được. Và làng Văn Quỹ nhỏ bé của tôi, càng xa lại càng lớn lên trong nỗi nhớ.


  Tôi thương Văn Quỹ không phải vì quê tôi giàu sang. Tôi thương vì quê tôi đã ôm tôi vào lòng từ thuở lọt lòng. Thương vì đất ấy đã cho tôi tiếng nói, nết người, sự chịu thương chịu khó, sự thủy chung với nguồn cội. Thương vì nơi ấy có những người đàn bà chằm nón lặng lẽ như chằm cả ánh trăng vào đời. Có những người đàn ông chân chất, ít nói mà nặng nghĩa. Có những đứa trẻ lớn lên trong nắng gió, rồi đi xa, rồi suốt đời vẫn ngoái đầu về quê cũ.


  Hải Lăng quê tôi là vậy đó. Nắng thì nắng đến cháy vai, mưa thì mưa đến thắt ruột, nhưng đất và người đều đằm sâu tình nghĩa. Cái tình ấy không phô trương, không nói lớn, mà thấm như nước mưa ngấm vào đất. Một lần chạm vào rồi thì cả đời khó quên. Cho nên, dù tôi đã sống ở Hà Nội hơn bốn mươi năm, đã quen với phố phường, với những mùa đông xứ Bắc, trong lòng tôi vẫn có một miền Hải Lăng rất rõ. Miền ấy có Văn Quỹ, có Hải Tân, có nón lá, có ruộng đồng, có rẫy sắn, có đập Trấm, có dòng Thạch Hãn, có bao nhiêu gương mặt thân quen của một thời không trở lại.


  Chừ tuổi đã xế chiều, tôi không mong chi nhiều. Chỉ mong có dịp trở về, đi chậm trên con đường làng cũ, nhìn lại nơi mình từng lớn lên, nghe lại giọng quê mình giữa xóm. Muốn được đứng giữa Văn Quỹ mà hít một hơi thật sâu, để mùi đất, mùi gió, mùi rơm rạ, mùi lá nón ngày xưa lại ùa vào lòng. Muốn được nghe ai đó hỏi: “O Thơm về đó à?” chỉ một câu rứa thôi chắc cũng đủ làm mắt tôi cay.


  Người ta có thể rời quê, nhưng quê không rời khỏi người. Quê nằm trong tiếng nói, trong dáng đi, trong nếp nghĩ, trong cả những giấc mơ bất chợt lúc đêm về. Với tôi, Văn Quỹ không chỉ là một làng quê trên đất Hải Tân, Hải Lăng. Văn Quỹ là chiếc nôi đầu đời, là vầng trăng cũ treo mãi trong tim, là nơi mỗi lần nhớ tới, lòng tôi lại nghe dịu xuống như được trở về ngồi bên hiên nhà xưa.


  Văn Quỹ ơi, quê hương ơi, tôi đi xa đã lâu, nhưng chưa bao giờ thôi nhớ. Dẫu đời có đưa tôi qua bao nhiêu con đường, thì trong sâu thẳm, vẫn có một con đường nhỏ dẫn tôi về làng cũ. Ở cuối con đường ấy, có tiếng gió Quảng Trị thổi qua vành nón, có bóng mạ, bóng ba, có tuổi thơ tôi đứng đợi.


Và có một miền quê, nghèo mà đẹp, xa mà gần, lặng lẽ mà thương đến tận cùng.


Người Hải Lăng viết tặng cô @Ngô Thơm https://www.facebook.com/ngo.thom.5494 theo lời kể của cô thành lời văn.


Ảnh: Thanh Lê Đăng

READ MORE - LÀNG VĂN QUỸ TRONG TÔI - Người Hải Lăng

CHÙM THƠ ĐÀM NGỌC NĂM: Xin anh đừng hỏi tóc em / Tuổi quê / Giao mùa

Tác giả Đàm Ngọc Năm


 XIN ANH ĐỪNG HỎI TÓC EM 

 

Ngày xưa em tóc ngang hông

Từ lúc lấy chồng, tóc ngắn dần đi

Hỏi em, em bảo có thì

Như thời con gái mấy khi được dài.

Chuyện mình, anh biết đấy thôi

Ta say nhau để rồi cưới ngay 

Về làm dâu chỉ tình ngày

Cuộc đời con gái chia tay em rồi.

Vui được làm mẹ anh ơi 

Vậy thì tóc ngắn, tóc dài việc chi 

Đời con gái phải có thì

Còn mái tóc phải có gì hả anh?

 

 

 

TUỔI QUÊ

 

Trăm năm trọn nghĩa anh em 

Ngàn năm vẫn mãi tổ tiên, ông bà 

Xa quê, tình cảm nỏ xa

Muôn đời vẫn thế cây đa, mái đình.

Quê hương là chốn sinh thành

Là dòng máu, là nghĩa tình chẳng phai 

Bờ tre, giếng nước một thời 

Đi vào tiềm thức những lời mẹ ru.

Quê hương là mãi tuổi thơ 

Chia phe đánh trận, giấc mơ ngọt ngào 

Bao lần nằm ngắm trời cao

Thi nhau đếm vội ông sao đêm hè.

Quê hương là chốn ta về 

Là nơi gặp lại tình quê một thời 

Vẫn còn đó tiếng ầu ơi

Lời ru của Mẹ, cuộc đời của con

Quê hương là cả nước non

Mỗi dòng sông, mỗi con đường thuở xưa.

 

 

 

GIAO MÙA 

 

Mùa Đông đã về trước ngõ

Sao còn lưu luyến mùa Thu

Phải chăng mùi thơm hoa sữa

Níu em khoảng trời mộng mơ.

 

Trước nhà đông về gió lạnh 

Vội vàng anh bước vào sân

Nghĩ người thương ra mở cửa

Trong ánh mắt xưa, rất gần.

 

Những ngày mình về chung sống 

Em luôn sưởi ấm căn nhà 

Mặc mùa Đông về giá buốt 

Nên anh chẳng nghĩ rời xa.

 

Giao mùa, tiết trời se lạnh

Nhìn vào mái ấm thuở xưa

Nghĩ về lời em hay nói 

Muốn ở bên anh bốn mùa.

 

Cả bốn mùa, từ Xuân - Hạ…

Ngày xưa em nói anh tin

Như tin chính lòng mình vậy

Nên Đông, muốn về cùng em.


Đàm Ngọc Năm

namdnvietsing@gmail.com

READ MORE - CHÙM THƠ ĐÀM NGỌC NĂM: Xin anh đừng hỏi tóc em / Tuổi quê / Giao mùa

Friday, October 16, 2026

CHÙM THƠ LÊ THANH HÙNG: Điều gì ta nuối tiếc / Như một ngày đã cũ / Bến đời / Dấu lạ

 

Tác giả Lê Thanh Hùng

Điều gì ta nuối tiếc

Ta đã từng có giấc mơ hoang

Dang tay với những điều không thể

Sao trúc trắc, quanh co như thế

Rũ nhàu trong lối sống cũ mòn

 

Giữ bên đời, trăm thứ trời ơi

Chật kín không gian, giăng bừa phứa

Sắp xếp lại, hẹn lần hẹn lữa

Cứ mông lung, toan tính vá trời

 

Còn lại gì, năm tháng quẩn quanh

Niềm phấn khích xem chừng quá vãng

Khi đã biết những điều giới hạn

Âm thầm treo dấu chỉ trưởng thành

 

Ngẫm nghĩ mình không được như em

Xếp gọn lại những điều không thể

Có nuối tiếc, giằng co chiếu lệ

Nhưng rạch ròi vệt sáng, vệt lem…

 

Chuyện chồng con, cuốn quýt vần xoay

Đâu có rảnh mà ngồi tư lự

Xa xôi lắm, một thời thiếu nữ

Chợt bâng quơ, nỗi nhớ lạc loài…


 

Như một ngày đã cũ


Gió chiều, miết mỏng miên man

Đồng sâu tàn ngày hắt sáng

Rựng chiều chút gì kiêu mạn

Tình xưa nay đã lỡ làng

 

Nhủ lòng nỗi nhớ hao vơi

Tất bật đường quê hoen nắng

Mờ cong chân ngày tĩnh lặng

Im nghe trĩu nặng bến đời

 

Đâu rồi ngọn gió ngày xưa

Vô tư đùa trên tóc rối

Dung dăng một thời son rỗi

Hồn nhiên, chín nắng mười mưa

 

Ơi ngày hoa mộng đã qua

Còn nguyên những lời hoa nụ

Của chiều, một ngày đã cũ

Hằn lên từng dấu kỷ hà… 


 

Bến đời


Vụng về trôi

Qua bến thời gian

Dỗ dành rơi

Sợi nắng

Hanh vàng

Em góp nhặt

Những lời yêu cũ

Giũ phong sương

Khõa lấp

Đa mang


 

Dấu lạ


Em ngày xưa

Mắt biếc

Môi cong

Chiều đắm đuối

Hẹn hò như đã

Sao trúc trắc

Hoen mờ

Dấu lạ

Lẫn khuất trôi

Cái nhìn đếm đong


          Lê Thanh Hùng

          Bắc Bình, Lâm Đồng

          <lethanhhung4625@gmail.com>

            

READ MORE - CHÙM THƠ LÊ THANH HÙNG: Điều gì ta nuối tiếc / Như một ngày đã cũ / Bến đời / Dấu lạ

ĐÔNG HÀ - MIỀN QUÊ THƯƠNG NHỚ - Thơ: Nguyễn Văn Trình

  

Công viên Cọ Dầu, Đông Hà
(bachhoaxanh.com)

 

Đông Hà – miền quê thương nhớ

                            Nguyễn Văn Trình

 

Đông Hà ơi, nhớ lắm những con đường

phố lên đèn, ấm áp những yêu thương

bốn phía vệ tinh về đây hội tụ

Đông Hà nhộn nhịp, lòng người vấn vương

 

Phía Bắc Hồ Xá nghiêng mình đón nắng

phía Nam Triệu Phong, Quảng Trị thân thương

Hải Lăng nối nhịp bao miền đất hứa

một dải quê nhà, nặng nghĩa quê hương

 

Phía Tây Can Lộ, Khe Sanh đón gió

Lao Bảo rộn ràng mãi đượm tình quê

Phía Đông Cửa Việt rì rào sóng hát

biển gọi Đông Hà tha thiết đường về

 

Chuông chùa Đại An, ngân vang sớm tối

tiếng mõ trầm tư, lối mộng hồn quê

chuông Nhà thờ rung bình minh thức giấc

lời kinh dìu dịu níu bước người về

 

Tiếng còi tàu xuyên Việt vọng đê mê

nỗi nhớ niềm thương, nối những miền quê

mỗi chuyến tàu qua mang bao nỗi nhớ

để Đông Hà chan chứa những vần thơ

 

Thạch Hãn, Hiếu Giang đôi dòng duyên nợ

hai dòng sông ôm ấp phố Đông Hà

soi bóng nước xanh, soi hình phố xá

bồi đắp tình người, cả ước mơ xa

 

Đông Hà ơi, bao la niềm tha thiết

hội tụ nơi này, rạng rỡ tương lai

dẫu bước chân đi muôn dặm đường dài

nỗi nhớ đất này, nhớ mãi chẳng phai...

 

                                           NVT


Tác giả NGUYỄN VĂN TRÌNH

Bút danh: KATHI

Hội VHNT tỉnh Quảng Trị - ĐT 0914 415 931

Email: nguyenvantrinh58@gmail.com

Đ/C: 65B Đường Chu Mạnh Trinh, Phường Nam Đông Hà, tỉnh Quảng Trị

 

 

 

 

READ MORE - ĐÔNG HÀ - MIỀN QUÊ THƯƠNG NHỚ - Thơ: Nguyễn Văn Trình