Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Wednesday, November 4, 2026

TỪ LÀNG RÈN HIỀN LƯƠNG ĐẾN LÀNG LƯƠNG CHÁNH - Trương Tam Phong


 

TỪ LÀNG RÈN HIỀN LƯƠNG 

ĐẾN LÀNG LƯƠNG CHÁNH

Trương Tam Phong


Vừa rồi, trên trang nhà, có bạn cho biết: gia đình mình ở làng Lương Chánh và được biết làng này “được tách ra từ Hiền Lương”.

Lần tìm trong tư liệu Quá trình thành lập làng xã ở huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị dưới triều Nguyễn (1802–1885), chúng tôi gặp một thông tin khá thú vị:

Làng Lương Chánh ra đời từ việc mua đất của làng Thượng An (Hải Vĩnh), với diện tích 12 mẫu 8 sào. Làng được thành lập vào năm Tự Đức thứ 20 (1867). Những người sáng lập làng phần lớn có nguồn gốc từ làng rèn Hiền Lương (Huế). Trong đó, ngài Nguyễn Văn Hương được sắc phong là Hậu Khai canh.

Chi tiết này mở ra một góc nhìn đáng chú ý về sự lan tỏa của cư dân Hiền Lương trong quá trình khai phá và lập làng dưới triều Nguyễn.

Theo các tác giả, trong thời Nguyễn, một số làng mới được hình thành từ nhu cầu nghề nghiệp hoặc từ những biến động về kinh tế – xã hội. Có những cộng đồng rời quê cũ để tìm đất sản xuất, như trường hợp làng rèn Hiền Lương; cũng có những nhóm cư dân phải di chuyển do nhu cầu mở rộng kinh thành Huế, như cư dân Phú Xuân, Kim Long.

Đáng chú ý, việc mua đất để lập làng cũng xuất hiện ở một số nơi, trong đó có Thuận Nhơn, Thuận Đức và Lương Chánh.

Tên gọi làng mới đôi khi vẫn giữ lại dấu vết quê cũ, như một cách ghi nhớ nguồn gốc của cộng đồng. Tác giả nghiên cứu cho rằng Lương Chánh cũng là một trường hợp như vậy, gắn với nguồn gốc cư dân từ Hiền Lương.

Nếu đặt thông tin này trong lịch sử làng rèn Hiền Lương, ta có thể thấy một điều khá rõ: người Hiền Lương không chỉ làm nghề tại quê nhà. Nghề rèn đã đưa họ đi nhiều nơi, và trong quá trình ấy, một bộ phận cư dân đã định cư, lập nghiệp và hình thành nên những cộng đồng mới.

Lương Chánh có lẽ là một trường hợp tiêu biểu.

Năm Tự Đức thứ 20 (1867), làng Lương Chánh được thành lập trên phần đất mua của làng Thượng An. Những người khai lập phần lớn có nguồn gốc từ làng rèn Hiền Lương, và ngài Nguyễn Văn Hương được sắc phong là Hậu Khai canh.

Từ câu chuyện này, nhìn lại lịch sử Hiền Lương, ta càng có thêm cơ sở để nghĩ về sức lan tỏa của một làng nghề.

Sau khi hình thành cộng đồng làng, Hiền Lương từng có các xóm, các phường nghề; người dân vừa làm nông vừa làm nghề rèn. Nghề nghiệp ấy không chỉ tạo sinh kế tại quê nhà mà còn mở ra những cuộc di chuyển, những mối quan hệ và những vùng cư trú mới.

Trong lịch sử khai canh, ngoài những vị thủy tổ gắn với việc lập nên các làng Cao Ban, Kế Môn của những dòng họ có nguồn gốc từ Hiền Lương, trường hợp ngài Nguyễn Văn Hương – Hậu Khai canh làng Lương Chánh là một dấu nối đáng chú ý giữa làng rèn Hiền Lương và quá trình hình thành làng xã ở Hải Lăng.

Có lẽ, đằng sau một cái tên làng tưởng như rất bình thường, vẫn còn lưu lại câu chuyện về một cuộc ra đi, một nghề nghiệp và một vùng quê cũ.

Và biết đâu, từ những sắc phong, gia phả và ký ức của các dòng họ Lương Chánh, chúng ta còn có thể lần tìm rõ hơn con đường mà những người Hiền Lương năm xưa đã đi qua.

Sài Gòn, tháng Tám năm 2026

Trương Tam Phong

---------------------------

Nguồn: Nguyễn Thị Minh Thiện, Thái Quang Trung, Quá trình thành lập làng xã ở huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị dưới triều Nguyễn (1802–1885), Tạp chí Khoa học và Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Huế, ISSN 1859-1612, số 04(40)/2016, tr. 81–90.

 


READ MORE - TỪ LÀNG RÈN HIỀN LƯƠNG ĐẾN LÀNG LƯƠNG CHÁNH - Trương Tam Phong

PHƯƠNG LANG - NÉT DUYÊN CHỢ LÀNG - Bảo Bình

Chợ làng Phương Lang là trung tâm giao thương của người dân các vùng lân cận.  

Ảnh: Thanh Trúc


Phương Lang - Nét duyên chợ làng

Bảo Bình

09/05/2020

 

Quê tôi ở tận miền biển Triệu Lăng. Ngày nhỏ, mỗi khi được cha mẹ cho về quê ở lại, niềm mong mỏi háo hức nhất của đứa trẻ lên 10 là tôi lúc bấy giờ là rạng sớm dậy đi theo mấy o, mấy dì gánh khoai lang lên chợ Phương Lang bán, được o mua cho đồng quà tấm bánh. Chợ làng Phương Lang (xã Hải Ba, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị) trong ký ức xưa bây giờ đã qua bao đận đổi thay. Thế nhưng, mỗi khi nhắc về chợ làng Phương Lang vẫn thấy xốn xang…

 

Theo tài liệu nghiên cứu về quá trình thành lập làng xã ở huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị dưới Triều Nguyễn (1802-1885) của nhóm tác giả Nguyễn Thị Minh Thiện - Thái Quang Trung, quá trình hình thành các làng xã huyện Hải Lăng diễn ra lâu đời. Kể từ khi châu Ô, châu Lý sáp nhập vào Đại Việt (1306) cũng là quá trình người Việt di cư vào đây khai khẩn, dựng làng. Trước đó, cư dân Chăm đã sinh sống, tạo lập một nền kinh tế, văn hóa, xã hội phát triển. Nhưng đối với người Việt đây vẫn là một vùng đất xa xôi, khó khăn, nguy hiểm. Trải qua quá trình chung lưng đấu cật, chế ngự thiên nhiên, cải tạo ruộng đồng, khai thác đất đai, các làng xóm dần dần ra đời. Tuy nhiên, phải đến thời Lê, đặc biệt dưới thời Lê Thánh Tông (1460 - 1497) công cuộc khai khẩn vùng đất phía Nam được đẩy mạnh, trong đó có Hải Lăng. Phần lớn các xã thôn ở Hải Lăng hiện nay, trong đó có thôn Phương Lang, xã Hải Ba được định hình về cơ bản trong thời gian này. Tìm trong sử sách hầu như không có nhiều thông tin về lịch sử ra đời của chợ Phương Lang, ngôi chợ hiện nằm ở khu vực trung tâm của thôn Phương Lang, xã Hải Ba. Bậc cao niên của làng cũng chỉ biết chợ đã có từ lâu đời, có những thời điểm phải xê dịch về địa điểm họp chợ do chiến tranh, rồi lại quay về địa điểm cũ.

 

Mệ Mai Thị Tam là người bán hàng cao tuổi nhất ở ngôi chợ ngày, ngày ngày vẫn bày từng mớ đậu, mè, dăm ba lon ớt khô và bó chè xanh bán ở góc chợ. Bán buôn giờ không hẳn vì mưu sinh mà bởi thói quen và niềm vui. Ngày trước, mệ bày gian hàng nhỏ ở chợ để kiếm đồng ra đồng vào nuôi con, còn bây giờ, một ngày còn khỏe mà không dọn hàng ra chợ thì lòng thấy thiếu vắng lạ lùng. Với mệ, trừ những khi ốm đau hay thời buổi chiến tranh loạn lạc chợ không họp được, mỗi ngày đến chợ để nhìn, để nghe những âm thanh cuộc sống chảy quanh mình, để trao đi đổi lại sản vật quê nhà và chia sẻ những câu chuyện hằng ngày, là thấy mình đang sống khỏe khoắn.

 

Hỏi mệ Tam về lai lịch chợ Phương Lang có từ bao giờ, mệ nói chỉ biết khi về đây làm dâu lúc mới 19 tuổi đã nghe kể chợ có từ lâu đời. “Tui nhớ hồi trẻ đã bưng thúng bán buôn ở chợ, cũng là đem mấy thứ trồng được như đậu, mè, khoai, ớt ra bán. Ngày xưa, đã ra đường, ra chợ, dù là người mua hay người bán thì phụ nữ đều mặc áo dài, rất kín đáo. Chợ ngày xưa hàng hóa cũng đơn giản, nhà có thứ gì thì mang thứ đó ra chợ bán, cũng ít nói thách, người ta trả được mấy hào thấy hợp lý thì bán, lấy tiền đong gạo cho con”.

 

Không chỉ người làng họp chợ, chợ Phương Lang làm tròn vai trò là nơi giao thương của người dân không chỉ xã Hải Ba mà các vùng lân cận như Triệu Trung, Hải Vĩnh, Triệu Sơn, Hải An, Triệu Lăng… So với các chợ lớn trong huyện, chợ Phương Lang có quy mô không kém cạnh với 218 gian hàng các loại. Trong đình là gian hàng áo quần, giày dép, vải vóc, bánh kẹo tạp hóa, quanh chợ từ hàng thịt, hàng rau củ quả, gian hàng ăn, các vật dụng như cuốc, thuổng rổ, thúng, chổi… đều có đủ. Cần thứ gì, người dân chỉ cần ra chợ. Không còn gói gọn ở danh xưng “chợ làng”, chợ Phương Lang được coi là đầu mối quan trọng để cung ứng hàng hóa đi khắp nơi. Chợ họp từ mờ sáng, lúc này các thương lái và người bán thực hiện giao dịch sỉ đối với các mặt hàng như thịt, rau, củ, quả, các loại nông sản địa phương… để thu gom hàng tỏa đi bán ở các chợ lẻ ở các địa phương lân cận. Hửng sáng tỏ mặt người, dân quanh vùng đi chợ sớm mua nhu yếu phẩm cần thiết chuẩn bị cho những bữa ăn trong ngày, không khí mua bán thong dong hơn. Cũng trả giá, kỳ kèo, nhưng vốn người đến chợ và người bán khá tỏ tường nhau rồi nên sự mặc cả cũng gần như chiếu lệ, dễ dàng thuận mua vừa bán.

 

Ngoài chuyện bán - mua, chợ làng đông bởi người dân đi đến chợ để được giao lưu, mở mang hiểu biết, để gặp gỡ những người dân trong khắp vùng, bàn đủ mọi thứ chuyện trên đời, từ chuyện làng xã, họ mạc, gia đình đến chuyện thời tiết và phổ biến cho nhau những kinh nghiệm cấy trồng, gieo gặt… O Nguyễn Thị Huê, người làng Ngô Xá Đông, xã Triệu Trung đã duy trì gian hàng nhỏ bán chè, món ăn vặt dân dã không thể thiếu ở chợ này đã hơn 35 năm. Gánh hàng chè giúp o một mình nuôi lớn mấy đứa con, kể từ ngày từ Đông Hà về làm dâu làng Ngô Xá Đông. O Huê tỉ tê: “Bây giờ trẻ con không còn háo hức hàng chè như ngày xưa mỗi khi mẹ đi chợ về nữa. Cuộc sống hiện đại, điều kiện kinh tế khấm khá hơn, trẻ con được chăm sóc đầy đủ nên thờ ơ với những thứ quà quê dân dã như thế này. Giờ mỗi ngày bán được 1-2 trăm ngàn, lãi đâu khoảng dăm ba chục. Biết chẳng nhiều nhặn gì, nhưng nghề từ mấy chục năm rồi, không bỏ được, ra chợ mỗi ngày để gặp người này, người kia mà chuyện trò. Mà biết đâu thiếu gian hàng chè, chợ thiếu một nét quê”.

 

Chợ Phương Lang ồn ào, tấp nập từ rất sớm rồi vãn dần khi trời ngã bóng. Những người sống quanh khu vực chợ cũng bắt đầu ngày mới từ những thanh âm rộn ràng từ chợ. Giống như một phần của cuộc sống, mỗi buổi chợ là từng nhịp sống mới mỗi ngày một tràn trề, phong phú. Chợ Phương Lang, niềm thương nhớ của những người con từ làng ra đi, là nếp quen của người ở làng, ở những làng lân cận. Dù trải bao thăng trầm, chợ Phương Lang vẫn lưu giữ được nét truyền thống đặc trưng của chợ làng, đó là tình làng, nghĩa xóm, là bản sắc văn hoá nông thôn.

(Nguồn: Báo Quảng Trị)

READ MORE - PHƯƠNG LANG - NÉT DUYÊN CHỢ LÀNG - Bảo Bình

Youtube: Ca khúc PHIẾN ĐÁ - Thơ: Phạm Ngọc - Nhạc: Phạm Anh Dũng


READ MORE - Youtube: Ca khúc PHIẾN ĐÁ - Thơ: Phạm Ngọc - Nhạc: Phạm Anh Dũng

Youtube: Ca khúc TÂM SỰ CÙNG TRĂNG - Thơ: Sông Thu - Nhạc: Nguyễn Tuấn

 

READ MORE - Youtube: Ca khúc TÂM SỰ CÙNG TRĂNG - Thơ: Sông Thu - Nhạc: Nguyễn Tuấn

NHỮNG PHẬN NGƯỜI TRÊN SÔNG NƯỚC QUÊ TÔI - Khê Giang

 


NHỮNG PHẬN NGƯỜI 

TRÊN SÔNG NƯỚC QUÊ TÔI

Khê Giang


Thời gian vẫn là dòng trôi thăm thẳm nhưng mỗi khi đặt chân qua cầu Bến Đá hay đi dọc theo dòng sông Ô Khê nhìn xuống dòng nước lững lờ, tôi vẫn thấy thấp thoáng trong cõi nhớ đâu đó những chiếc ghe xập xệ, chênh vênh neo vào bờ  trên dòng chảy của người dân xứ Vạn.

Do tập tục làng quê còn sót lại từ thời phong kiến, người xứ Vạn luôn chịu sự thua thiệt trước người dân của làng, họ không có nhà trên đất liền, nhà của họ là chiếc ghe cũ kỹ, lợp lá hoặc phên tre, có khi chỉ che tạm bằng mảnh bạt cũ. Cuộc đời họ trôi theo con nước, không nhà cửa, không ruộng vườn, chẳng có một tấc đất để chôn mình khi đến ngày nằm xuống, vì vậy khi hữu sự họ sẽ được chôn cất trên những bãi bồi hoặc phải đưa về bản quán để nương náu cùng đất trời.

Người làng gọi họ là “dân vạn đò” hoặc dân ngụ cư . Trong ngôn ngữ biểu đạt hoặc giao tiếp có câu từ ấy khi là thương cảm, mà cũng có khi là sự thiếu thiện ý.

Trong cộng đồng của xóm Vạn, những gia đình khá hơn thì ngôi nhà của họ cũng lớn hơn, họ sở hữu những chiếc trồng hay còn gọi là noốc. Những chiếc noốc này lớn và bề thế hơn, vì vừa dài vừa rộng, đặc biệt ở đầu mũi thuyền có gắn một cái rớ bà (vó lớn) để đánh bắt cá.

Thuở ấy, quê tôi còn nghèo,  chiến tranh liên miên, ruộng đồng nhiều nơi hoang hóa, cát trắng bò vào vườn tược. Trên sông, những người ngụ cư cũng rơi vào cảnh vất vả khốn cùng, lúc này họ mưu sinh nhọc nhằn bằng nhiều công việc khác nhau như chài lưới, mò hến, cào ngao hoặc đưa đò.

Hồi đó chạy dọc bờ sông từ Bến Đá (Ô Khê) đến rào Cái (Ô Giang) mỗi sáng sớm, khi sương còn giăng trắng mặt nước, đã nghe xao xác tiếng khua mái chèo, tiếng rổ xọc xọc, rồi tiếng cười đùa con trẻ hòa trong làn hơi lạnh.

Nhưng đằng sau những tiếng cười ấy là những bữa cơm đạm bạc đến nao lòng, những năm đói, nồi cơm thường chỉ có vài nắm gạo trộn với khoai lang, sắn lát. Cá tôm đánh bắt được họ phải đem đi bán để đong gạo, họ ăn mắm, ăn muối hột với ớt giã, chan nước sông, luộc rau tập tàng hái dọc bờ để độn thêm cho dạ dày đỡ trống.

Không ai hiểu được cái rét của Bến Đá nếu chưa từng trải qua một đêm đông trên sông nước. Gió từ Rào Cái thổi ngược lên, hun hút, lạnh buốt như dao cắt. Nước sông lạnh ngắt, hơi nước bốc lên mù mịt. Những mái ghe lều chõng rung lên bần bật theo từng cơn gió.

Người vạn chài phải lấy bao tải rách che quanh mạn ghe, gom củi khô nhóm bếp than giữa lòng ghe cho ấm. Nhiều đêm, nước dâng cao, bếp tắt, trẻ con co ro trong chăn ướt, run rẩy cả đêm. Có những mùa lũ, dòng sông dâng tràn, cuốn trôi cả mái nhà duy nhất của họ.

Nhà tôi có một cửa hàng tạp hóa ở làng, đây là một nghề nghiệp hiếm hoi giữa ngôi làng thuần nông, nhưng đây cũng là điều kiện để gia đình tôi tiếp cận trao đổi mua bán với bà con trên miền sông nước.

Qua tiếp xúc, tôi thấy họ hiền lành chân chất, chỉ có điều sống trong không gian chật chội, ẩm ướt và nghèo túng, nên trang phục của họ rất dễ nhận diện giữa đám đông của dân làng.

Mẹ tôi rất quý họ, và họ cũng rất mến gia đình tôi.

Trên sông Bến Đá và Rào Cái ngày đó, có những đứa trẻ sinh ra và lớn lên trong lòng ghe. Có đứa chưa từng được đến trường, cứ đứa lớn chăm đứa nhỏ, trần truồng tắm sông từ sáng đến chiều. Mùa nắng thì da đen sạm, mùa mưa thì tím tái. Chúng lặn ngụp bắt cá, mót củi dọc bờ, chèo đò cho khách qua sông.

Ở Quảng Trị, dân ngụ cư bị xem là “không gốc gác”. Họ đến từ nhiều nơi: Thừa Thiên, Quảng Bình, Nghệ An… trôi dạt về vùng sông nước này tìm kế sinh nhai. Có người từng là dân chạy loạn, có người lưu lạc tìm kế sinh nhai, chỉ có điều dù là ai, khi đã sống dưới ghe, họ đều bị gọi bằng một tiếng “dân vạn chài”.

Trẻ con trong làng ít khi chơi với con dân vạn. Người lớn cũng ít giao tiếp, họ còn không được kết tình thông gia với người làng.

Thế nhưng, chính những người “ngụ cư” ấy lại là những người biết sẻ chia nhất. Hễ có ai gặp nạn giữa sông, họ liền quăng dây, quăng sào cứu giúp. Mùa lũ, họ là người chèo ghe cứu hàng xóm, vớt đồ, chở người qua vùng ngập. Có người mất cả ghe trong cơn sóng dữ vì cứu người khác.

Năm 1971, một trận lụt  lịch sử tràn qua làng, do nước lũ lên quá nhanh, cả nhà tôi không kịp tản cư, lúc này ba tôi lại vắng nhà. Tôi nhớ như in khi nước dâng cao, cả nhà bắc thang trèo lên tra (khung gỗ để đựng lúa), khi nước xâm xấp nền tra, cả nhà chui ra "khu đị" để leo lên nóc nhà. Nước vẫn tiếp tục dâng cao, mẹ tôi kêu gào thảm thiết trong đêm vắng. Trong khi tính mạng cả nhà tôi như ngàn cân treo trên sợi tóc thì có một chiếc đò từ xa hướng tới giải cứu, đó là chiếc troòng (thuyền gỗ nhỏ) của bà con người xứ Vạn, họ đã liều mình băng đi trong đêm để cứu giúp dân làng.

Qua lần chết hụt đó, mẹ tôi càng trân quý những người ở dưới vạn hơn, bà vẫn nhắc đi nhắc lại câu chuyện đó với chúng tôi như một lời tri ân để nhớ đến những người đã cứu sống mình trong lúc nguy nan.

Nói về những người phụ nữ ở vùng sông nước, cuộc sống của họ còn khổ sở vất vả hơn đàn ông. Họ làm lụng quần quật từ tinh mơ tới tối mịt. Sáng chèo ghe theo chồng thả lưới, trưa nấu cơm, chiều ra chợ bán cá. Đêm đến, gió lạnh thổi xuyên manh chiếu, họ vẫn phải giặt giũ, vá áo, chăm con. Có người sinh con ngay trên ghe, không bà đỡ, không thuốc men, cắt rốn bằng con dao cũ rửa qua nước sông.

Chỉ vài hôm sau, bão tan nước rút, người mẹ mới sinh ấy vẫn chống ghe ra chợ như chưa có chuyện gì xảy ra trước đó. Cái mạnh mẽ, kiên cường của người đàn bà dân vạn khiến ai cũng nể phục, nhưng cũng xót xa: họ sinh ra như con nước sông kia — không bao giờ được ngơi nghỉ.

Sau gần nửa thế kỷ, những đứa trẻ dân ngụ cư ngày xưa giờ đã trở thành ông bà và con cái của họ cũng đã trở thành thầy cô, kỹ sư, công nhân… nhưng cũng như tôi, mỗi lần về thăm Bến Đá, khi nghe tiếng sóng ì oạp vỗ bờ, họ vẫn bồi hồi nhớ lại những ngày thơ ấu chông chênh trên ghe đò sông nước.

Bây giờ, nếu đi dọc Bến Đá, Rào Cái hiếm khi còn thấy dân ngụ cư. Chỉ còn vài chiếc thuyền chài chỉ đi khai thác đánh cá theo buổi,  phần còn lại của thời gian họ vẫn trở về ngôi nhà êm ấm của mình, những ngôi nhà bên bờ sông, trên những doi đất bây giờ đã là sở hữu của họ.

Giờ đây, đứng trên cầu nhìn xuống, tôi vẫn tưởng như thấy bóng dáng những chiếc ghe troòng năm xưa, tiếng mái chèo khua, tiếng cười con trẻ, tiếng người đàn bà gọi chồng giữa sương sớm… trong đó có hình ảnh những người dân lam lũ chất phác ngày nào đã cứu gia đình tôi thoát lưỡi hái tử thần trong một đêm mưa bão. Tất cả như đang ẩn hiện trong làn nước bạc thấp thoáng hiện về.

Dòng sông vẫn đó, chảy hoài, nhưng những phận người ngụ cư thì đã trôi xa, mất hút trong dòng đời vô tận.

Và câu ca dao xưa:

“Đò dọc phải tránh đò ngang

Dân ngụ cư phải tránh dân làng cho xa”

cũng đã nhạt nhòa mờ theo năm tháng!

                                           Khê Giang

READ MORE - NHỮNG PHẬN NGƯỜI TRÊN SÔNG NƯỚC QUÊ TÔI - Khê Giang

VỀ THĂM CHỊ VÕ THỊ SÁU – MỘT CHIỀU NẮNG VÀNG TRÊN QUÊ HƯƠNG ĐẤT ĐỎ - Lê Thi




VỀ THĂM CHỊ VÕ THỊ SÁU 

– MỘT CHIỀU NẮNG VÀNG TRÊN QUÊ HƯƠNG ĐẤT ĐỎ

 

Lê Thi 

 

  Tôi trở lại thăm chị vào một buổi chiều nắng vàng dịu nhẹ. Nắng như rót mật lên từng tán lá, con đường quê và những hàng cây xanh mát trong khuôn viên khu di tích. Những chùm lê-ki-ma đung đưa theo làn gió nhẹ, gợi nhớ hình ảnh loài hoa, loài cây đã trở thành biểu tượng thân thương gắn với người con gái Đất Đỏ anh hùng.


 

Trong không gian yên bình ấy, tôi cảm nhận được hương của đất trời, hơi thở của mùa thu, chút gió biển phảng phất và mùi nhang trầm thoang thoảng. Tất cả hòa quyện tạo nên một không gian vừa gần gũi, vừa linh thiêng, khiến lòng người tự nhiên lắng lại.

 

Đứng giữa quê hương Đất Đỏ, nơi ghi dấu tuổi thơ và những năm tháng đầu đời của chị Võ Thị Sáu, tôi không khỏi xúc động. Chị đã đi xa, nhưng tên tuổi, khí phách và sự hy sinh cao đẹp của chị vẫn còn sống mãi trong lòng các thế hệ người Việt Nam.

 

Khu di tích lịch sử Nhà lưu niệm Anh hùng liệt sĩ Võ Thị Sáu nằm tại thị trấn Đất Đỏ, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu trước đây, nay thuộc địa bàn TP. Hồ Chí Minh sau sắp xếp đơn vị hành chính.

 

Đây là địa chỉ đỏ có ý nghĩa đặc biệt trong công tác giáo dục truyền thống cách mạng, là nơi người dân và du khách tìm về để tưởng nhớ người nữ anh hùng đã hiến dâng tuổi thanh xuân cho độc lập, tự do của Tổ quốc.

 

Võ Thị Sáu sinh năm 1933 tại vùng đất Đất Đỏ. Ngay từ khi còn rất trẻ, chị đã tham gia hoạt động cách mạng, góp sức vào phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp. Bị địch bắt khi tuổi đời còn rất trẻ, chị vẫn giữ vững khí tiết, không khuất phục trước mọi sự tra tấn, dụ dỗ. Ngày 23/1/1952, chị anh dũng hy sinh tại Côn Đảo khi mới 19 tuổi.

 

Cuộc đời ngắn ngủi nhưng vô cùng cao đẹp của chị đã trở thành biểu tượng bất tử về lòng yêu nước, tinh thần kiên trung và ý chí bất khuất của phụ nữ Việt Nam.

 

Không gian tưởng niệm trang nghiêm và ấm áp nghĩa tình

 

Hôm tôi đến thăm, khu di tích đón nhiều đoàn khách từ các cơ quan, bộ, ngành, địa phương và các tổ chức trong cả nước. Những lẵng hoa tươi thắm, những giỏ trái cây đặc sản mang theo hương vị từ nhiều vùng miền được trân trọng đặt tại nơi tưởng niệm chị.

 

Mỗi đoàn khách đến đây đều mang theo một tấm lòng thành kính. Có những vòng hoa rực rỡ sắc màu, có những nén nhang thơm, có những phút mặc niệm lặng im. Tất cả đều thể hiện lòng biết ơn sâu sắc đối với người con gái đã hiến dâng cuộc đời mình cho quê hương, đất nước.

 

Bước vào bên trong ngôi nhà tưởng niệm, với diện tích khoảng 60 mét vuông theo cảm nhận của tôi, không gian hiện lên thật trang nghiêm và ấm cúng.

 

Bên trái là bàn thờ song thân của chị, thể hiện lòng tri ân đối với đấng sinh thành đã nuôi dưỡng người con gái anh hùng. Chính giữa là bàn thờ chị Võ Thị Sáu, nơi đặt tượng bán thân của chị. Khuôn mặt chị hiện lên với những đường nét hiền hậu, thanh tú, đôi mắt sáng và thần thái bình thản. Bức tượng được tạo tác tài hoa, gợi lên vẻ đẹp thánh thiện, dịu dàng của một người con gái quê hương, nhưng ẩn sâu trong đó là ý chí sắt son và khí phách kiên cường.

 

Xung quanh là nhiều lẵng hoa tươi đẹp, đủ màu sắc, được sắp xếp ngay ngắn trên những giá đỡ và bình gốm trang nhã. Không gian tuy không lớn nhưng chứa đựng biết bao tình cảm, sự kính trọng và lòng biết ơn của những người còn sống dành cho người đã khuất.

 

Những trang sử được lưu giữ qua hình ảnh và kỷ vật

 

Điều khiến tôi dừng lại lâu hơn là những bức ảnh tư liệu ghi lại một thời đấu tranh hào hùng của quân và dân Đất Đỏ nói riêng, Bà Rịa – Vũng Tàu nói chung.

 

Mỗi bức ảnh như một lát cắt lịch sử, tái hiện những năm tháng gian lao mà anh dũng, những con người bình dị đã làm nên chiến công phi thường. Những hình ảnh ấy không chỉ dành cho người từng trải qua chiến tranh, mà còn là bài học quý giá để thế hệ trẻ hôm nay hiểu hơn về giá trị của hòa bình, độc lập và tự do.

 

Một số tủ kính trưng bày các vật dụng sinh hoạt gia đình, tiền Đông Dương, những hiện vật và mô hình gắn với đời sống, lịch sử của một thời kỳ. Dù là những vật dụng bình dị, mỗi hiện vật đều có giá trị riêng, giúp người xem hình dung rõ hơn về bối cảnh xã hội, cuộc sống và những năm tháng mà chị Võ Thị Sáu đã sống, chiến đấu. 

 

Bên cạnh đó là nhiều đầu sách, tập thơ, bài viết, tác phẩm âm nhạc và những ca khúc phổ thơ về chị. Hình ảnh người nữ anh hùng đã đi vào văn học, nghệ thuật, trở thành nguồn cảm hứng bất tận cho biết bao thế hệ văn nghệ sĩ và người yêu nước.

 

Chiều buông trên quê hương Đất Đỏ

 

Bước ra khuôn viên bên ngoài, tôi cảm nhận rõ sự thoáng mát và yên bình. Những hàng cây xanh tỏa bóng, những dãy ghế đá do các nhà hảo tâm đóng góp được đặt ngay ngắn dưới tán cây, lặng lẽ phục vụ khách đến thăm. Tất cả góp phần tạo nên một không gian tưởng niệm thân thiện, trang trọng và gần gũi.

 

Tôi đã xin số điện thoại của người quản lý khu di tích, bởi trong lòng nảy sinh một mong muốn rất chân thành: được đóng góp một chút tấm lòng, dù nhỏ bé, cho nơi linh thiêng này.

 

Tôi cũng xin mạnh dạn gửi gắm một vài mong muốn giản dị. Giá như dưới những bức ảnh tư liệu, tranh lịch sử có thêm những dòng chú thích bằng tiếng Anh và tiếng Pháp để du khách quốc tế hiểu hơn về cuộc đời, sự hy sinh của chị và truyền thống đấu tranh anh dũng của quê hương Đất Đỏ. Giá như có thêm một góc trưng bày những hình ảnh về khu mộ chị tại Côn Đảo, để những người chưa có điều kiện ra thăm nơi chị yên nghỉ cũng có thể được nhìn ngắm, được gửi gắm nỗi nhớ thương và lòng thành kính.

 

Đó chỉ là những ý kiến nhỏ bé xuất phát từ tình cảm của một người khách đến viếng thăm. Tôi tin rằng những điều giản dị ấy sẽ góp phần làm cho nơi đây thêm phong phú, để mỗi người khi đến thăm không chỉ được tưởng niệm mà còn hiểu hơn về một trang sử hào hùng của dân tộc. 

 

Thời gian dần trôi, nắng chiều bắt đầu nghiêng xuống những hàng cây. Tôi đứng lại thêm một lúc, nhìn về phía tượng chị. Trong ánh chiều vàng dịu, gương mặt người con gái năm xưa như vẫn bình thản, hiền hậu mà kiên nghị.

 

Tôi chợt hình dung chị đang nhìn về quê hương mình, nơi từng chứng kiến tuổi thơ, những bước chân hoạt động cách mạng và bao ký ức không thể nào quên.

 

Nếu có thể gửi đến chị một lời, tôi muốn nói rằng: quê hương hôm nay đã đổi thay rất nhiều. Đất Đỏ đang từng ngày phát triển, cuộc sống người dân ngày càng khấm khá, những con đường mới mở ra, những công trình mới được xây dựng. Đất nước tiếp tục chuyển mình, quê hương sau những thay đổi về địa giới hành chính vẫn đang hướng đến một tương lai phát triển và hội nhập.

 

Chúng tôi vẫn nhớ chị. Nhân dân vẫn yêu thương và biết ơn chị. Những thế hệ hôm nay vẫn tìm về nơi này để thắp một nén nhang, đặt một nhành hoa và kể cho con cháu nghe câu chuyện về người con gái đã chọn hy sinh tuổi xuân để đất nước có ngày độc lập. 

 

Tôi rời khu di tích khi chiều đã ngả bóng. Hương trầm dường như vẫn còn vương vấn, những chùm lê-ki-ma vẫn đung đưa trong gió nhẹ. Lòng tôi vừa thanh thản, vừa bâng khuâng.

 

Xin nghiêng mình trước anh linh chị Võ Thị Sáu – người con gái Đất Đỏ bất khuất, người nữ anh hùng sống mãi trong lòng dân tộc.

 

Mong rằng khu di tích sẽ ngày càng được gìn giữ, chăm chút và phát huy giá trị, để mỗi người khi tìm về nơi đây đều cảm nhận được một điều thiêng liêng: Có những con người đã đi qua cuộc đời rất ngắn, nhưng tên tuổi và sự hy sinh của họ sẽ còn sống mãi với quê hương, đất nước và các thế hệ mai sau. 

 

Chiều buông, khoé mắt cay cay … 

Lê Thi 11-2026

 

READ MORE - VỀ THĂM CHỊ VÕ THỊ SÁU – MỘT CHIỀU NẮNG VÀNG TRÊN QUÊ HƯƠNG ĐẤT ĐỎ - Lê Thi

Tuesday, November 3, 2026

BÓNG QUÊ – Thơ Lê Kim Thượng


 

Bóng  Quê
 
1.
Bao năm người mới quay về
Tìm làng xóm cũ, tình quê ngập lòng…
Đò ngang rời bến rạng đông
Nắng vàng soi bóng xuống dòng sông sâu
Trời xanh, xanh thẳm một màu
Bãi ngô tươi lá, ruộng dâu xanh trời
Bồng bềnh lãng đãng mây trôi
Dậy mùi hương đất, gió xuôi ngọt lành
Con đường nhỏ, lũy tre xanh
Ngã nghiêng bóng nắng, chòng chành tỉnh say
Đồng vàng thẳng cánh cò bay
Em tôi gánh lúa, gánh đầy ước mơ
Cánh diều bay bổng vào thơ
Cánh cò cõng nắng đơn sơ một mình
Nắng qua kẽ lá lung linh
Rơi trên áo tím chung tình tươi xinh…
 
2.
Bâng khuâng đồng vắng một mình
Hình như lòng đã say tình chơi vơi
Người về giờ đã cuối đời
Bên sông rụng tím một trời hoa Mua…
Quê hương mưa nắng hai mùa
Mẹ già gánh cả nắng mưa vơi đầy
Áo tơi, nón lá, vai gầy
Lo toan cơm áo những ngày… xa xưa
Mẹ đi cùng nắng, cùng mưa
Tảo tần, vất vả sớm trưa lưng còng
Một đời ngô lúa nghề nông
Mồ hôi đổ xuống cánh đồng vàng tươi…
Nhớ hoài nỗi nhớ khôn nguôi
Nhớ hình bóng mẹ trong tôi nhớ hoài
Nợ Người chữ Hiếu không phai
Một bông hồng trắng… con cài Vu Lan…
  
                    Nha Trang, tháng  10. 2026 
                             Lê Kim Thượng
READ MORE - BÓNG QUÊ – Thơ Lê Kim Thượng

Sunday, November 1, 2026

GIẾNG XƯA - Thơ: Đặng Xuân Xuyến

 


GIẾNG XƯA

(Viết tặng chị Trịnh Thị Nhâm)

.

Giếng xưa trơ đáy cả rồi

Chị còn thơ thẩn đứng ngồi với xưa 

Chị nào hờn trách nắng mưa

Chỉ là trăng khuyết như vừa vặn đây.

.

Một đời sương gió hao gầy

Chị ngồi gọi nhớ cho đầy giếng xưa

Vọng từ xa tiếng đò đưa

Chị đan giọt nắng vào trưa tháng Mười.

.

Ai về cho gửi tiếng cười 

Gửi theo giọt nắng rạng ngời ngõ xưa

Mà nghe tiếng vọng nhặt thưa

Chị mời gáo nước giữa trưa tháng Mười.

*.

Hà Nội, sáng 30 tháng 10/2026

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

READ MORE - GIẾNG XƯA - Thơ: Đặng Xuân Xuyến

Friday, October 30, 2026

CHÙM THƠ LÊ THANH HÙNG: Điều gì ta nuối tiếc / Dấu xưa / Có còn không?



Điều gì ta nuối tiếc

 

Ta đã từng có giấc mơ hoang

Dang tay với những điều không thể

Sao trúc trắc, quanh co như thế

Rũ nhàu trong lối sống cũ mòn

 

Giữ bên đời, trăm thứ trời ơi

Chật kín không gian, giăng bừa phứa

Sắp xếp lại, hẹn lần hẹn lữa

Cứ mông lung, toan tính vá trời

 

Còn lại gì, năm tháng quẩn quanh

Niềm phấn khích xem chừng quá vãng

Khi đã biết những điều giới hạn

Âm thầm treo dấu chỉ trưởng thành

 

Ngẫm nghĩ mình không được như em

Xếp gọn lại những điều không thể

Có nuối tiếc, giằng co chiếu lệ

Nhưng rạch ròi vệt sáng, vệt lem…

 

Chuyện chồng con, cuốn quýt vần xoay

Đâu có rãnh mà ngồi tư lự

Xa xôi lắm, một thời thiếu nữ

Chợt bâng quơ, nỗi nhớ lạc loài…



Dấu xưa


Biết không đến, mà sao em

cứ đợi. Khát vọng cũ mèm đã xa

lâu rồi. Những khúc hoan ca

những lời nhắn gởi. Mượt mà đắm say

trong cuộc đôi hồi. Quắt quay

nỗi nhớ không sao tỏ bày. Với ai

trễ gương lược, biếng trâm cài

Mới hay tuột mối sút dây duyên đầu

Lời ước hẹn, ngỡ bền sâu

nông nổi. Đời, biết đến đâu mưa chan

nắng gội. Lá xanh ươm vàng,

nước chảy qua cầu. Mênh mang sóng ngầm,

liu riu nắng đổ. Âm âm

gió mẩy, vọng tiếng ru trầm. Hanh hao

chiều xanh xa, có lẽ nào

Mười năm tình đợi, bong màu hư không

Ngẫn ngơ nắng, trĩu nặng lòng

tóc rối. Tràn khóe mi cong

liu riu nắng gội. Bờ sông xưa kìa,

giấc mơ xa đợi. Sẻ chia

tiếng đêm đổ vọng chân khuya. Mỏi mòn

chìm trong hơi nắng hanh giòn

Còn nguyên nỗi nhớ xanh non thuở nào…

 

Có còn không?


Ngày năm đó

Tuổi em mười chín

Gió liu riu

Dỗ mộng

Hồn trăng

Đêm huyễn hoặc

Mờ cong bịn rịn

Bốn mươi năm

Nguyên vẹn

Vết hằn


          Lê Thanh Hùng

          Bắc Bình, Lâm Đồng

              lethanhhung4625@gmail.com

READ MORE - CHÙM THƠ LÊ THANH HÙNG: Điều gì ta nuối tiếc / Dấu xưa / Có còn không?

Thursday, October 29, 2026

PLEASE, LET US NOT BE TOO LATE IN THE NEXT LIFE / KIẾP SAU XIN CHỚ MUỘN MÀNG - Đồng tác giả: Thi Lan Anh Tran — Aschaffenburg, Germany Musharraf Hussain — Assam, India

 



PLEASE, LET US NOT BE TOO LATE IN THE NEXT LIFE

Co-Authors: Thi Lan Anh Tran — Aschaffenburg, Germany

Musharraf Hussain — Assam, India


© Copyright 2026 Thi Lan Anh Tran & Musharraf Hussain. All rights reserved.

 

If love arrives too late, my dear,

Do not let sorrow claim your heart;

For love may wait through many a year,

Until the time comes for its start.

 

I wish we’d met when we were young,

When spring still bloomed in all its grace;

 And shared the songs our hearts had sung,

Growing old in one embrace.

 

Though fate has kept us long apart,

At last, two souls have found their way;

Your name now rests within my heart,

Like dawn that follows night’s long stay.

 

If we meet in another life,

May youth be ours when first we meet;

May I be yours, and you my life,

Till time and eternity greet.


 

KIẾP SAU XIN CHỚ MUỘN MÀNG

Đồng tác giả: Thi Lan Anh Tran — Aschaffenburg, Germany

Musharraf Hussain — Assam, India


© Copyright 2026 Thi Lan Anh Tran & Musharraf Hussain. All rights reserved.

 

 

Nếu duyên đến muộn, đừng buồn,

Tình yêu vẫn đợi, vẫn luôn tìm về.

Dẫu qua vạn nẻo sơn khê,

Trái tim vẫn hướng lối về bên nhau.

 

Ước gì gặp buổi ban đầu,

Khi xuân còn thắm, mái đầu còn xanh.

Cùng anh dệt mộng trời thanh,

Cùng vun khóm cúc, cùng canh hoa hồng.

 

Dẫu đời cách trở mênh mông,

Em xin giữ trọn tấm lòng yêu anh.

Mai này dẫu lá lìa cành,

Tình em vẫn mãi nguyên lành như xưa.

 

Kiếp sau xin chớ lỡ mùa,

Cho ta gặp sớm dưới mưa đầu đời.

Bên nhau đi hết cuộc đời,

Răng long tóc bạc, chẳng rời tay nhau.


***


From: 

E- Mail: Wirtschaftskanzlei@Dipl-Kauffrau-Tran.de

Dipl.- Kauffrau Thi Lan Anh Tran

 

READ MORE - PLEASE, LET US NOT BE TOO LATE IN THE NEXT LIFE / KIẾP SAU XIN CHỚ MUỘN MÀNG - Đồng tác giả: Thi Lan Anh Tran — Aschaffenburg, Germany Musharraf Hussain — Assam, India