Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Thursday, October 8, 2026

Youtube: MÌNH HÃY TÌM ĐẾN NHAU - Thơ: Quach Như Nguyệt - Nhạc: Cao Minh Thu - Trình bày: Bảo Thơ

 




Mình Hãy Tìm Đến Nhau 

Thơ: Quách Như Nguyệt



Tôi giăng chiếc bẫy tình  

Nhả lời thơ ngọt ngào

Ước mong anh ngã vào 

Chờ đợi mãi anh ơi!

 

Tôi mơ mơ màng màng

Trái tim treo lơ lửng

Rao bán, đợi chờ anh

Anh thờ ơ, tim lạnh!

Thờ ơ quá thờ ơ!

 

Tự mình giăng chiếc bẫy

Chiếc bẫy tình chòng chành

Ôi nỗi đau hoành hành!

Đời người chóng qua nhanh!

 

Con mồi tôi mong đợi, 

Không chịu vướng lưới tình

Mồi tôi chẳng trông mong

Lại rơi vào rách lưới!!!

 

Hay anh đặt bẫy đi

Để em vờ ngã xuống

Bẫy tình có nhung êm?

Tay anh đỡ êm đềm?

 

Hai ta cùng đặt bẫy

Sao không mắc bẫy nhau?

Người khác rơi vào bẫy 

Sao tránh khỏi phiền sầu?

 

Mình hãy tìm đến nhau

Ngay bây giờ anh ạ

Ta khỏi cần giăng bẫy 

Chẳng cần tìm đâu xa....


Như Nguyệt

March 26, 2022

nhunguyet9963@gmail.com

READ MORE - Youtube: MÌNH HÃY TÌM ĐẾN NHAU - Thơ: Quach Như Nguyệt - Nhạc: Cao Minh Thu - Trình bày: Bảo Thơ

OCTOBER, WHEN YOU WALK THROUGH MY DREAM / THÁNG MƯỜI, KHI EM ĐI QUA GIẤC MƠ ANH - Thơ: Thi Lan Anh Tran & Musharraf Hussain

 


OCTOBER, WHEN YOU WALK THROUGH MY DREAM

Co-Authors:
Thi Lan Anh Tran — Aschaffenburg, Germany
Musharraf Hussain — Assam, India

 

You are not breaking apart,
only October quietly opens a door within you.
I look at the waterfall and call it autumn;
you look at the flowing water
and hear my voice calling your name from far away.

 

If one day your hair should brush against my sleep,
do not be afraid—
you do not come to make my heart ache;
you only wish to awaken within me
a season that has never had a name.

 

You say that inside the heart of the mountain
there are only stones and roots;
yet I believe that beneath those silent depths
there beats a heart for someone,
no matter how many horizons lie between us.

 

October passes through the window,
carrying golden leaves
like letters that were never sent.
I close my eyes and imagine your hand,
and suddenly the distance between us
seems to grow shorter.

 

Perhaps love, too, is a mountain—
the farther we stand from it,
the smaller we feel;
the closer we come,
the more clearly we hear
the echo of our own hearts.

 

And if one day we both begin to break open,

do not call it a falling apart;

call it love finding its way—

from two hearts once unknown to one another

toward an autumn

that has learned how to remember.

----------------------------------------------

 

THÁNG MƯỜI, KHI EM ĐI QUA GIẤC MƠ ANH

Đồng tác giả:
Thi Lan Anh Tran — Aschaffenburg, Đức
Musharraf Hussain — Assam, Ấn Độ

 

Em không nứt ra đâu,
chỉ là tháng Mười khẽ mở một cánh cửa trong em.
Anh nhìn dòng thác và gọi đó là mùa thu,
em nhìn dòng nước và nghe tiếng anh gọi mình từ rất xa.

 

Nếu một ngày mái tóc em chạm vào giấc ngủ của anh,
xin đừng sợ—
em không đến để làm trái tim anh đau,
em chỉ muốn đánh thức nơi anh
một mùa chưa từng có tên.

 

Anh nói trong lòng núi chỉ có đá và rễ cây,
em lại tin dưới tầng sâu im lặng ấy
có một trái tim đang đập vì một người,
dù cách nhau bao nhiêu chân trời.

 

Tháng Mười đi qua cửa sổ,
mang theo những chiếc lá vàng
như những lá thư chưa gửi.
Anh nhắm mắt, tưởng tượng bàn tay em,
và bỗng thấy khoảng cách giữa chúng ta
ngắn lại.

 

Có lẽ tình yêu cũng là một ngọn núi—
càng đứng xa càng thấy mình nhỏ bé,
càng bước gần càng nghe rõ
tiếng tim mình vọng lại.

 

Và nếu một ngày chúng ta cùng nứt ra,

xin đừng gọi đó là tan vỡ;

hãy gọi là tình yêu tìm được lối đi—

từ hai trái tim xa lạ

đến một mùa thu biết nhớ.

-------------------------------------------------

© 2026 Thi Lan Anh Tran & Musharraf Hussain. All rights reserved.
Bản quyền © 2026 Thi Lan Anh Tran & Musharraf Hussain. Bảo lưu mọi quyền.


From:

E- Mail: <Wirtschaftskanzlei@Dipl-Kauffrau-Tran.de>

Dipl.- Kauffrau Thi Lan Anh Tran

READ MORE - OCTOBER, WHEN YOU WALK THROUGH MY DREAM / THÁNG MƯỜI, KHI EM ĐI QUA GIẤC MƠ ANH - Thơ: Thi Lan Anh Tran & Musharraf Hussain

MƯA HUẾ- Thơ: Phạm Xuân Hùng

 


Mưa Huế

(Bài đã in trên t/c Sông Hương)


Khúc một


Có gì đâu mà anh không biết

Mưa như sương trắng trời Thương Bạc

Từ Vĩ Dạ mưa ngược Kim Long

Mưa Ngự Bình vuốt mặt Hương Giang


Anh chìm vào mưa Huế

Một chiều đông không em

Tự hỏi lòng mình da diết thế

Mưa giữa trời hay mưa trong tim

 

Hôm nao người đi có mang theo mưa Huế

Hàng phượng bay níu gió trái mùa

Những cây ngô đồng vặn chồi trút lá

Bóng kinh thành ẩn hiện trong mưa


Rồi khi trở về người có hay mưa lạnh

Có nghe gió lùa từng hạt mưa rơi

Ký ức mười thương neo lòng câu lý

Giấu mùa đông biền biệt trong đời


Giấu hẹn hò mắt môi xưa đã khép

Chỉ Huế còn mi ướt trong mưa

Mùa đông rải nỗi buồn qua khung cửa

Huế ở đâu thấp thoáng, ảo mờ…


Khúc hai


Có gì đâu mà anh không nhớ

Tuổi thơ anh bàng bạc Huế trong đời

Ngày chiến tranh đạn bom lùa tứ phía

Anh bỏ lại sau lưng mình miền cát trắng chơi vơi


Mẹ dắt anh giữa bầy con cua rạm

Đêm đầu tiên Huế đỡ lưng anh

Phu Văn Lâu giờ vẫn trong ký ức

Giấc trẻ thơ năm tháng cứ chòng chành


Tuổi trẻ của anh là những đêm đèn sách

Cư xá vùi trong mưa vàng vọt đèn đường

Tiếng rao đêm ai khuất dần trong ngõ

Để trong đời vọng mãi Huế thương

 

Cả khi anh ra đi về phương trời lạ

Gánh mưu sinh nặng nhọc với đời

Có những ngày gặp giọt mưa trên lá

Chợt hiện về ngày tháng xa xôi


Những tháng ngày rất xưa, rất cũ

Và mưa mưa. Như một hợp âm buồn

Trong cõi nhớ mưa như là tổng phổ

Huế rơi rơi từng giọt dương cầm


Đôi khi anh ngồi nghe và khóc

Nhớ về mưa Huế buổi xa em

Anh vuốt mặt Hương Giang, em Ngự Bình ướt tóc

Vết đau nào như vết môi hôn


Gởi lại thời sinh viên mơ mộng

Tan vào mưa Huế những riêng tư

Đôi khi giữa tháng ngày dài rộng

Mưa giăng trong anh ký ức sương mù…


Khúc ba


Có gì đâu mà anh không hứa

Huế trăm năm đổ bóng Kỳ Đài

Nón bài thơ nghiêng về một phía

Em đỗ xuống hồn anh mấy sợi tóc mai


Anh lỗi hẹn chỉ đôi lần thôi nhé

Mưa Huế như em níu mãi câu thề

Người có đi xa chân trời góc bể

Vẫn mang theo dáng nét kinh kỳ


Anh lỗi hẹn nhưng rồi anh trở lại

Huế trầm ngâm từng vệt chuông chùa

Mưa như thể từ ngày anh thơ dại

Tóc bạc rồi còn chưa hiểu hết mưa


Thì mưa Huế như là em, khoảnh khắc

Như cố đô vĩnh cửu giữa mây trời

Như là anh, như là nước mắt

Như Ngự Bình thông xanh, như Hương Giang nước trôi


Anh mắc nợ một đời mưa Huế

Mưa ở nơi này mà ướt mãi nơi mô

Muôn triệu giọt theo suối nguồn ra bể

Để Hương giang thơm ngát thạch xương bồ…

                                                                    

                                      08.3.2023

                                      Phạm Xuân Hùng

                                        https://www.facebook.com/duytan.pham.52

READ MORE - MƯA HUẾ- Thơ: Phạm Xuân Hùng

TRỞ VỀ ĐẤT MŨI PHƯƠNG NAM - Lê Thi

 


TRỞ VỀ ĐẤT MŨI PHƯƠNG NAM

Lê Thi 

 

 

Tôi không theo đạo. Có lẽ vì vậy, mỗi lần đến một nơi được xem là linh thiêng, tôi thường mang theo một tâm thế khác: không cầu xin, cũng không cố lý giải điều thiêng liêng bằng niềm tin của người khác. Tôi chỉ muốn nhìn, muốn nghe và hiểu vì sao một vùng đất có thể níu chân nhiều người đến vậy.

 

Những ngày cuối thu, tôi trở lại Tắc Sậy lần thứ ba, vùng đất gắn với tên tuổi Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp.

 

Tắc Sậy hôm nay không còn là một họ đạo nhỏ giữa vùng sông nước phương Nam. Quần thể nhà thờ, khu tưởng niệm và các công trình phục vụ khách hành hương tạo nên một không gian khá đặc biệt. Kiến trúc nhà thờ nổi bật với những mái cao, đường cong và các khối hình mang dáng dấp Công giáo nhưng được thể hiện theo cách khá gần gũi với thẩm mỹ Á Đông. Không gian rộng, nhiều cây xanh, các hạng mục được bố trí liền mạch, tạo cảm giác vừa trang nghiêm vừa thân thuộc.

 

Nhưng với tôi, phần đáng nhớ nhất của Tắc Sậy không nằm ở những khối kiến trúc ấy, mà ở câu chuyện phía sau chúng.

 

Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp sinh năm 1897 tại Cồn Phước, An Giang. Ngài thụ phong linh mục năm 1924 và đến năm 1930 được bổ nhiệm làm chánh xứ Tắc Sậy. Trong những năm phục vụ tại vùng đất còn nhiều khó khăn, cha được biết đến qua việc chăm lo đời sống giáo dân, người nghèo và cả những người ngoài Công giáo.

 

Cha Diệp qua đời vào năm 1946.

 

Những câu chuyện về việc vị linh mục chọn ở lại với giáo dân giữa thời khắc nguy hiểm đã được truyền lại qua nhiều thế hệ và trở thành một phần quan trọng trong ký ức về Tắc Sậy.

 

Từ đó, nơi đây dần trở thành điểm hành hương của đông đảo người Công giáo và cả những người ngoài đạo.

 

Tôi đứng giữa dòng người ấy và nhận ra mỗi người mang đến Tắc Sậy một câu chuyện riêng. Có người quỳ cầu nguyện rất lâu. Có người chỉ đứng lặng. Có người chụp một tấm ảnh rồi rời đi. Với người có đạo, đó có thể là niềm tin. Với người ngoài đạo như tôi, đó còn là câu chuyện về ký ức cộng đồng và nhu cầu tìm một điểm tựa tinh thần trong đời sống.

 

Điều khiến tôi thích thú hơn nữa lại nằm ngay bên ngoài cổng nhà thờ. Tắc Sậy khá gọn gàng, sạch sẽ. Những hàng quán ăn uống, cà phê, nhà nghỉ, gian hàng lưu niệm đón khách bằng một vẻ chân tình. Giá cả cũng khá dễ chịu so với một điểm du lịch: ly cà phê khoảng 20.000 đồng; một tô phở, bún, cơm tấm hay bún mắm khoảng 40.000 đồng; phòng nghỉ gia đình có hai giường đôi khoảng 300.000 đồng một ngày.

 

Không phải để ca ngợi, mà bởi giữa một điểm đến tâm linh, những điều rất đời thường ấy lại làm nên một nét văn hóa riêng: người dân sống bằng du lịch nhưng vẫn giữ được sự gần gũi, chu đáo và niềm tự hào về vùng đất của mình. Theo tôi đây là nét văn hóa mà các điểm du lịch nên học hỏi và nhân rộng 

 

Trước khi rời Tắc Sậy, tôi đứng trước một gian hàng đầy sản vật miền Tây: hành khô, tôm khô, mực một nắng, cá sặc… và những thau ba khía đỏ au.

 

Tôi chợt cay cay nơi khóe mắt.

 

Bởi bất chợt nhớ đến một người bạn từng thích nhất những món ăn giản dị ấy. Giá như …. Tôi sẽ mua một ít làm quà cho em !

 

Có lẽ, người ta đến một nơi như Tắc Sậy không chỉ để tìm một điều thiêng liêng. Đôi khi, người ta còn tìm thấy ở đó một món quà, một ký ức, một câu chuyện – hay một người nào đó đã ở rất xa nhưng bỗng trở về trong một mùi vị quen thuộc.

 

Chiều xuống. Gió từ những cánh đồng thổi qua nhẹ và mát. Dòng người vẫn nối nhau tìm đến.Tôi rời Tắc Sậy, không phải để tin hơn, mà để hiểu hơn.

 

Hiểu vì sao một con người có thể được nhớ lâu đến vậy. Hiểu vì sao một vùng đất có thể trở thành điểm hẹn của những người mang những niềm tin khác nhau.

 

Và hiểu rằng đôi khi, sức sống của một nơi không chỉ nằm ở sự linh thiêng, mà còn nằm trong ký ức, tình người và những điều rất đỗi bình dị của miền đất phương Nam.

 

Chia tay Tắc Sậy thẳng tiến về khu du lịch Công Tử Bạc Liêu và Mẹ Nam Hải. Khép lại chuyến đi về Cực Nam nhiều kỷ niệm đẹp ấm áp tình đất Mũi thân thương !

 

Cà Mau chiều mưa tháng 9!

 

Hình: Tác giả tại nhà thờ Tắc Sậy - Cà Mau

READ MORE - TRỞ VỀ ĐẤT MŨI PHƯƠNG NAM - Lê Thi

Tuesday, October 6, 2026

ĐẾN VỚI TẬP THƠ THỨ BA “MẬT KHẨU EM” CỦA HOÀNG UYỂN VĂN - Hoàng Thị Bích Hà

 

(Mật Khẩu Em, Nxb Thuận Hóa, tháng 7/2026)


ĐẾN VỚI TẬP THƠ THỨ BA 

“MẬT KHẨU EM” 

CỦA HOÀNG UYỂN VĂN

Hoàng Thị Bích Hà


Hoàng Uyển Văn tên thật là Nguyễn Văn Hòa. Ông sinh ra tại Thành Nội Huế, lớn lên ở Phú Yên và hiện đang làm việc tại Bình Chánh, Sài Gòn.

Nếu tập thơ đầu tay "Qua mùa khói chênh vênh" là những bước chân đầu tiên của một người làm thơ âm thầm đi qua nhiều năm tháng, tập thơ thứ hai "Phía nào ta ngắm vĩnh hằng trong em" là tiếng lòng của một thi nhân luôn thao thức giữa những miền thương nhớ, thì đến tập thơ thứ ba "Mật khẩu em" bạn đọc lại bắt gặp một Hoàng Uyển Văn vẫn da diết ấy, vẫn thủy chung với những ám ảnh của tình yêu, của thời gian, của ký ức, nhưng giọng thơ đã có thêm chiều sâu chiêm nghiệm của một người từng đi qua rất nhiều được mất ở đời.

Tôi vẫn nghĩ, với Hoàng Uyển Văn, thơ không phải là một cuộc rong chơi chữ nghĩa. Thơ là nơi ông gửi lại những điều không thể nói hết bằng lời thường. Bởi vậy, đọc thơ ông, người ta luôn thấy một nỗi buồn nhẹ như sương khói nhưng dai dẳng, một sự cô đơn hiền lành mà ám ảnh, một trái tim đã đi qua nhiều mùa giông gió nhưng vẫn giữ nguyên khả năng rung động.

Ngay từ nhan đề "Mật khẩu em", người đọc đã cảm nhận được một thế giới nội tâm đầy bí ẩn. “Em” ở đây không chỉ là một người phụ nữ cụ thể. Em còn là ký ức, là nỗi nhớ, là hạnh phúc đã xa, là miền mộng tưởng mà thi nhân dành cả đời để kiếm tìm và gìn giữ. Có những cánh cửa chỉ trái tim mới mở được, và có lẽ "em" chính là mật khẩu cuối cùng của tâm hồn người thơ.

Trong tập thơ này, tình yêu vẫn là mạch nguồn chủ đạo. Nhưng đó không còn là tình yêu của những ngày tuổi trẻ chỉ biết say mê và chờ đợi. Đó là tình yêu đã đi qua những ngả rẽ của số phận, đã hiểu sự mong manh của duyên phận và biết chấp nhận những điều không thể giữ:

“Người đi ngang đời nhau/ Anh chẳng là mái nhà/ Anh đâu là bóng cả/ Lấy chi em tựa đầu...”

(Người đi ngang đời nhau)

Chỉ bốn câu thơ ngắn nhưng gợi lên cả một cuộc tình dang dở. Thi nhân không trách cứ, không níu kéo. Ông nhìn nhận sự hiện diện của mình trong đời người khác bằng một sự khiêm nhường đến xót xa. Có những người đi qua đời nhau, thương nhau thật nhiều nhưng không đủ điều kiện để trở thành nơi nương tựa của nhau. Bởi vậy mà cuối cùng chỉ còn lại khoảng trống.

Trong thơ Hoàng Uyển Văn, nỗi buồn luôn đi cùng sự dịu dàng. Ngay cả khi nói về chia xa, ông vẫn giữ được sự bao dung hiếm thấy:

"Em chẳng là người có lỗi đâu/ Chỉ vì duyên phận mãi không nhau/ Nên người không đến... Người không đợi/ Như những vì sao ngoảnh mặt sầu..."

(Em xin lỗi)

Nếu nhiều người khi mất tình yêu thường đi tìm nguyên nhân để trách móc thì Hoàng Uyển Văn lại quy tất cả về hai chữ "duyên phận". Cách nhìn ấy khiến câu thơ mang màu sắc của sự cảm thông hơn là oán trách. Người không có lỗi. Ta cũng không có lỗi. Chỉ là số phận đã không cho hai người cùng đi hết một con đường.

Đọc "Mật khẩu em", tôi đặc biệt ấn tượng với hình tượng "gã du tử" xuất hiện nhiều lần trong thơ. Đó dường như cũng là chân dung tinh thần của chính tác giả- người đàn ông đã đi qua nhiều miền đất, nhiều năm tháng mưu sinh, mang theo hành trang là những ký ức không nguôi:

"Phố vẫn thế... Em nghìn đời vẫn thế/ Hun hút ngõ sầu trong những giấc chiêm bao

Gã du tử vẫn một mình trên phố/ Lang thang hoài một nửa kiếp không nhau..."

(Rồi sẽ một ngày)

Cái cô đơn trong thơ ông không ồn ào. Nó giống như cơn mưa thấm dần vào đất. Người đọc không thấy đau ngay, nhưng càng đọc càng thấy lòng mình chùng xuống.

Sài Gòn trong thơ Hoàng Uyển Văn cũng là một không gian rất riêng. Đó không phải là thành phố của những tòa nhà cao tầng hay những con đường đông đúc. Sài Gòn hiện lên qua những cơn mưa bất chợt, qua những khoảnh khắc tình yêu làm sáng bừng cả không gian:

"Giữa mưa Sài Gòn ta tan giữa môi em

Giữa nụ cười em

Mặc trời đang mưa

Ta tỏa nắng."

(Sài Gòn - Ta tan giữa môi em)

Đây là một trong những đoạn thơ đẹp của tập sách. Trong khoảnh khắc ấy, tình yêu trở thành nguồn sáng. Mưa vẫn rơi nhưng lòng người đầy nắng. Chất lãng mạn vốn là nét đặc trưng trong thơ Hoàng Uyển Văn lại được thể hiện tự nhiên và tinh tế.

Một trong những nét nổi bật của tập thơ là cảm thức về thời gian. Tuổi trẻ đã đi qua. Mái tóc đã bạc. Những cuộc tình năm cũ chỉ còn trong ký ức. Nhưng điều còn lại chính là những rung động không già đi theo năm tháng:

"Rồi chợt thấy bàng hoàng, hụt hẫng/ Một ngày kia tóc đã bạc phai màu/ Em vẫn cuối quãng đường hoang vắng quá/ Ta cuối cùng cũng chung thuộc về nhau"

(Hoang dột đời nhau)

Câu thơ mang màu sắc chiêm nghiệm của người đứng ở bên kia con dốc cuộc đời. Sau tất cả những xa cách, những lỡ làng, con người rồi cũng tìm thấy điểm gặp gỡ cuối cùng trong miền ký ức và tình thương.

Bên cạnh thơ tình, những bài thơ viết về Mạ cũng là những bài thơ để lại nhiều xúc động. Là người con của xứ Huế, tiếng gọi "Mạ" trong thơ ông vừa thân thương vừa thiêng liêng:

"Mạ vẫn nằm yên như ngủ say/ Chờ bàn tay nhỏ của con lay.../ Nhưng rồi... Chẳng thể khi nào nữa!/ Mạ ngủ muôn đời với gió mây..."

(Không đề cho Mạ)

Không cần những lời lẽ cầu kỳ, chỉ vài câu thơ ngắn cũng đủ khiến người đọc nghẹn lại. Nỗi đau mất mẹ được diễn tả bằng hình ảnh bình dị nhưng ám ảnh. Đó là tiếng lòng của một người con khi nhận ra từ nay sẽ không còn cơ hội được gọi tiếng "Mạ" như ngày nào nữa.

Về nghệ thuật, Hoàng Uyển Văn tiếp tục phát huy sở trường ở các thể thơ năm chữ, bảy chữ, lục bát và thơ tự do. Ngôn ngữ thơ giản dị, giàu nhạc tính. Ông không tìm kiếm những cách tân cực đoan mà trung thành với cảm xúc chân thật. Chính sự chân thật ấy đã tạo nên sức thuyết phục cho thơ ông.

Ảnh hưởng của thơ cổ điển, của thi ca lãng mạn tiền chiến và cả hơi thở ca dao vẫn thấp thoáng trong nhiều câu thơ. Tuy nhiên, Hoàng Uyển Văn không lặp lại người khác. Ông đã tạo được giọng điệu riêng của mình: trầm lắng, thiết tha, phong trần mà nhân hậu.

Đọc Mật khẩu em, tôi hình dung người thi sĩ ấy vẫn đang trên hành trình của mình. Từ Thành Nội Huế đến Phú Yên rồi Sài Gòn, từ tuổi trẻ đến tuổi xế chiều, từ những cuộc gặp gỡ đến những cuộc chia xa. Cuộc đời có thể đổi thay rất nhiều, nhưng trái tim thi sĩ vẫn giữ nguyên hồn thơ yêu thương, nhớ nhung và rung động trước vẻ đẹp của con người.

Có lẽ vì thế mà tập thơ thứ ba này không chỉ là câu chuyện của riêng Hoàng Uyển Văn. Trong những câu thơ về tình yêu, về mẹ, về thời gian và thân phận, người đọc dễ dàng bắt gặp chính mình. Bởi ai trong chúng ta rồi cũng từng có một "mật khẩu" được cất giữ trong sâu thẳm trái tim một người, một miền ký ức hay một nỗi nhớ không bao giờ mất.

"Mật khẩu em" vì thế không chỉ là tên một tập thơ. Đó còn là chiếc chìa khóa mở ra thế giới tâm hồn của Hoàng Uyển Văn- một tâm hồn giàu yêu thương, giàu hoài niệm và luôn tha thiết với cuộc đời.

Sài Gòn, ngày 17 tháng 6 năm 2026

Hoàng Thị Bích Hà

       habich1963@gmail.com

 

READ MORE - ĐẾN VỚI TẬP THƠ THỨ BA “MẬT KHẨU EM” CỦA HOÀNG UYỂN VĂN - Hoàng Thị Bích Hà

KÝ ỨC MÙA BẦN -Tản văn của Nguyễn Đại Duẫn



Ký ức mùa bần

Tản văn của Nguyễn Đại Duẫn


Tôi về quê trong một buổi sớm cuối thu, khi những ngọn gió heo may khẽ lướt qua. Bến sông quê vẫn đó, hiền hòa gợn sóng như đang chờ đợi tôi. Và ngay bên bến sông ấy, tôi gặp lại mấy người bạn cũ. Bên cây cừa cổ thụ, họ đang thả hồn vào ly cà phê sáng trong không khí thanh bình nơi góc quán quê nhà. Tay nâng ly cà phê bạn mời mà lòng cứ xốn xang nhìn về rặng bần cuối làng. Sau những giọt cà phê đăng đắng như ghi vào ký ức một dấu lặng, chúng tôi cùng nhau lên chiếc xuồng máy của bạn đi về phía bãi bần sau xóm Sáo. Càng đến gần bãi bần,  mùi thơm chua ngọt của bần chín, mùi thơm thanh khiết của hoa bần đang nở, tất cả quyện vào trong làn gió thoảng nhẹ, phảng phất đầu sóng mũi như hương quê nhà. Con sông Long Đại vẫn êm trôi; rặng bần vẫn rậm rì bên sông. Nhưng gương mặt mấy đứa bạn bây giờ đã in hằn những vết chai sạn sương gió của thời gian.

Dòng sông Long Đại quê tôi vào mùa này sau những cơn mưa không còn xanh ngắt như mùa hè. Nước sông đục một màu phù sa trên nguồn Côộc đổ về mang theo những đám lục bình rung rinh chùm hoa tím. Dọc theo bờ sông phía cuối đuồi làng là những rặng bần mọc ken dày, gốc cắm sâu xuống lớp bùn non, cành lá rậm rì tỏa bóng mát như cất dấu những ký ức tuổi thơ.

Bao nhiêu năm xa quê, đi qua biết bao miền đất, tôi vẫn không quên được mùi hương ngai ngái của mùa bần chín bên sông. Cái mùi vừa ngọt vừa chua, lẫn trong gió sông và mùi bùn đất quê nghèo, cứ âm thầm bám riết lấy ký ức như một phần máu thịt.

Ngày ấy, lũ trẻ chúng tôi coi rặng bần ven sông như cả một thế giới riêng. Mỗi mùa nước lên, những gốc bần già lại đâm bộ rễ khí tua tủa như chông. Mùa nước ròng, dưới gốc bần là vô số hang hốc cho cua, cá, tôm trú ngụ. Thường vào độ giữa thu là bần chín rộ. Những buổi trưa sau khi trốn ngủ, chúng tôi rủ nhau ra sông hái bần. Trái bần chín vàng lẫn trong màu lá xanh, chen lẫn bông hoa màu trắng ngà đang nở. Chỉ cần rung mạnh cành là quả rơi lộp bộp xuống nước.

Thân bần sần sùi, như chính cuộc đời người quê. Nhưng cái vị chua thanh pha chút ngọt dịu của trái bần lại khiến đứa nào cũng mê. Có hôm tôi hái nhiều quả đã già, mẹ đem nấu canh cá lóc, cá ngạnh…mùi thơm lan khắp bếp quyện với mùi khói rơm cay xè. Có những món ăn dân dã mà người dân quê tôi thường hay dùng là: bần xắt lát hoặc xẻ tư kho chung với cá, vị chua ngọt của bần thấm vào thịt cá giúp thịt săn chắc và bớt tanh; bần sống xắt lát chấm ruốc biển hay mắm cáy ăn kèm cơm nóng; thịt heo luộc bóp bần non và rau thơm. Những món ăn xưa ấy chừng như ngon hơn cả sơn hào hải vị bây giờ.

Dưới những gốc bần um tùm còn là thiên đường của lũ cua dèm nhỏ như quả trứng ngỗng bò lổm ngổm. Mỗi lần nước ròng, bọn trẻ chúng tôi lại lom khom mò ngao, bắt ốc… Có đứa lấm cát bùn tới tận đầu gối vẫn cười toe toét vì vừa thò tay vào hang đã túm được con cá bống to như cán dao. Tuổi thơ quê nghèo, chiến tranh thiếu thốn đủ điều, nhưng niềm vui cứ theo chúng tôi bằng những ngày bình yên như thế.

Ký ức về rặng bần không những là nơi lưu giữ tiếng cười trẻ nhỏ, mà còn là nơi cất giấu cả một thời bom đạn đau thương mà hào hùng. Những năm chiến tranh, dòng sông Long Đại là mạch máu giao thông quan trọng. Máy bay Mỹ thường quần thảo suốt ngày đêm. Mỗi khi nghe tiếng động cơ gầm rú từ phía xa, cả xóm lại hốt hoảng chạy vào hầm trú ẩn. Lũ trẻ chúng tôi khi ấy còn nhỏ, chưa hiểu hết chiến tranh là gì, chỉ nghe tiếng bom máy bay Mỹ dội xuống, tiếng đạn pháo cao xạ của bộ đội bủa vây quạ sắt; chỉ biết lao xuống những chiếc hầm chữ A để ẩn nấp. Rồi tiếp đó là tiếng hét nhà cháy, tiếng rên la của người bị thương, tiếng khóc thảm thiết của ai đó khi có người thân vừa mất… thật tàn khốc và ác liệt.

Những tán bần rậm rì che kín mặt sông, từ trên cao nhìn xuống chỉ thấy một màu xanh um tùm. Nhờ vậy mà máy bay địch không phát hiện thuyền bè vận tải, ca nô chở lương thực, đạn dược của bộ đội đang ẩn náu dưới bãi bần bên sông, âm thầm chờ đợi đêm về xuất bến...

Lũ trẻ chúng tôi nhiều khi đi hái bần, lượm củi bần xong lại tò mò, mon men lại gần xem những chiếc ca nô trên sông được phủ một lớp vải dù hoa. Gặp các chú bộ đội, ai cũng gầy nhưng ánh mắt sáng và nụ cười hiền lắm. Có chú còn chia cho bọn tôi vài chiếc kẹo Hải Châu ngon không tưởng.

Tôi vẫn nhớ như in một lần khi cả mấy đứa bạn đang trèo hái bần thì máy bay nhào xuống thả bom. Chúng tôi không tuột xuống kịp, chỉ biết ôm chặt thân bần, miệng lẩm bẩm: “Lạy trời”. Một đứa trong bọn khi tuột xuống khóc nức nở. Mấy đứa xúm lại tưởng nó bị thương. Nhưng không phải, là vì sợ quá mà nó tè dầm ướt cả chiếc quần đùi đang mặc. Mấy đứa nhìn bạn, ôm bụng cười ngặt nghẽo. Lúc ấy, mặt đứa nào đứa nấy lem luốc bùn và vỏ bần chín. Bây giờ nhắc lại không đứa nào còn cười mà nét mặt hằn lên bao ký ức năm tháng của một thời con nít.

Chiến tranh đi qua đã lâu. Dòng sông Long Đại hôm nay đã yên bình trong không khí vui tươi. Những chiếc ca nô quân sự năm nào không còn nữa. Tiếng bom đạn cũng chỉ còn trong ký ức. Nhưng rặng bần ven sông vẫn còn đó, âm thầm soi bóng xuống mặt nước như đang giữ nét đẹp cho hồn quê.

Tôi cùng đám bạn già đi dọc bờ sông. Đứa tóc đã bạc, đứa lưng đã còng, vậy mà vừa nhìn thấy trái bần chín là lại chỉ trỏ, xuýt xoa như đánh thức những kỷ niệm thời trẻ nhỏ. Chúng tôi không còn trèo bần như ngày xưa, vì không dám. Đã U70 cả rồi lỡ rời tay ngã xuống thì chỉ khổ thân, khổ con cháu. Chúng tôi chỉ nhặt mấy quả chín rụng, đưa lên mũi hít hà như đánh thức những hoài niệm.

Tôi đứng lặng dưới rặng bần già, nhìn bóng nắng trưa loang xuống mặt sông. Gió nhẹ thổi lên mang theo mùi quen thuộc của  hương bần và mùi bùn đất. Với tôi, mùa bần quê Long Đại chính là một phần ký ức như thế. Một mùa của tuổi thơ, của tình bạn, của quê hương và của những năm tháng không bao giờ có thể quên.

Hôm nay, những rặng bần bên dòng Long Đại không chỉ còn là ký ức của tuổi thơ hay dấu tích của chiến tranh năm xưa. Chúng đang ngày ngày âm thầm giữ đất, giữ làng cho quê hương. Sau bao mùa mưa lũ dữ dội của miền Trung, tôi càng hiểu giá trị của những gốc bần già ven sông. Bộ rễ của chúng cắm sâu và tỏa rộng dưới lòng bùn như những cánh tay bền bỉ níu giữ bờ đất cho quê nhà. Mỗi khi nước lũ dâng cao, sóng đánh ầm ào vào mép sông, chính những rặng bần ấy đã che chắn và làm dịu dòng nước dữ, ngăn cho bờ sông khỏi bị xói lở.

Trời đã trưa, mấy người bạn lại lên xuồng ngược dòng. Tôi quay đầu lặng nhìn hàng bần, bỗng thấy chúng giống như những người lính già lặng lẽ suốt bao năm tháng để che chở cho xóm làng. Có lẽ vì thế mà người quê tôi biết trồng thêm bần, và bảo vệ chúng.

Chiếc xuồng máy chạy chậm lại. Chúng tôi cùng ngồi  im lặng bên nhau, để mặc cho làn gió sông phả nhẹ vào mặt; đang âm thầm góp nhặt lại từng kỷ niệm tuổi thơ - nơi bến sông này đã từng chứng kiến biết bao ước mơ, bao kỷ niệm hồn nhiên của một thời tuổi trẻ. 

 

 

Nguyễn Đại Duẫn (Hội viên Hội VHNT Quảng Tri)

51, Nguyễn Hữu Cảnh

Thôn: Nam Quán Hàu, xã: Quảng Ninh, tỉnh: Quảng Trị

ĐT: 0977194533

 

READ MORE - KÝ ỨC MÙA BẦN -Tản văn của Nguyễn Đại Duẫn

Monday, October 5, 2026

CHIỀU SÂU VÀ SỰ TINH TẾ TRONG NHỮNG BÀI PHÂN TÍCH CA KHÚC TRỮ TÌNH CỦA BÁC SĨ PHẠM CẢNH THƯỢNG - Khê Giang

 

Tác giả Khê Giang và Bs Phạm Cảnh Thượng

CHIỀU SÂU VÀ SỰ TINH TẾ 

TRONG NHỮNG BÀI PHÂN TÍCH CA KHÚC TRỮ TÌNH

 CỦA  BÁC SĨ PHẠM CẢNH THƯỢNG

Khê Giang

 

Trong đời sống âm nhạc, có những người sáng tác bằng giai điệu, có người gửi tâm hồn mình vào ca từ, có người cất tiếng hát để đánh thức những miền ký ức trong lòng người nghe. Nhưng cũng có những người không trực tiếp sáng tác hay biểu diễn, mà chọn một con đường khác: lặng lẽ đi vào thế giới của âm nhạc bằng sự quan sát, suy tư và khả năng cảm nhận tinh tế. Bác sĩ Phạm Cảnh Thượng là một trong những người như thế.

Đọc những bài phân tích của bác sĩ Phạm Cảnh Thượng về các ca khúc trữ tình, điều dễ nhận ra trước tiên không phải là sự cầu kỳ của thuật ngữ, cũng không phải những nhận xét mang tính hàn lâm khô cứng, mà là một cách đọc rất gần với đời sống tâm hồn. Ông không chỉ nghe một ca khúc bằng đôi tai của người thưởng thức âm nhạc, mà dường như còn lắng nghe bằng cả ký ức, trải nghiệm sống và sự nhạy cảm của một người từng đi qua nhiều cung bậc của cuộc đời.

Chính vì vậy, những bài phân tích ấy thường tạo cho người đọc cảm giác rằng: bài hát vốn quen thuộc bỗng trở nên mới mẻ; một câu hát tưởng như giản dị bỗng mở ra một tầng nghĩa khác; một chữ rất nhỏ trong câu ca lại có thể chứa đựng cả một khoảng trời cảm xúc.

Không chỉ phân tích một bài hát, mà còn đi tìm “phần hồn” của bài hát.

Một bài hát trữ tình hay thường không nói hết. Nó để lại những khoảng trống để người nghe tự lấp đầy bằng ký ức của chính mình. Cũng bởi vậy, phân tích một ca khúc trữ tình không đơn thuần là giải thích ca từ, cấu trúc hay giai điệu. Điều khó hơn là phải nhận ra được cái gì nằm phía sau những lời ca ấy.

Điểm đáng quý trong cách phân tích của bác sĩ Phạm Cảnh Thượng chính là ông thường không dừng lại ở nghĩa trực tiếp của câu chữ. Ông tìm đến tầng cảm xúc nằm sau câu chữ.

Một chữ “nhớ” trong ca khúc có thể không chỉ là nhớ. Đó có thể là nhớ một người, nhớ một thời tuổi trẻ, nhớ một không gian đã mất, hoặc sâu xa hơn, là nhớ chính mình của những năm tháng đã đi qua.

Một chữ “mưa” cũng không chỉ là hiện tượng của thiên nhiên. Trong âm nhạc trữ tình, mưa có thể là chiếc cầu nối giữa hiện tại và quá khứ; là màn phông của một cuộc chia ly; là tiếng động bên ngoài nhưng đồng thời cũng là tiếng mưa trong tâm tưởng.

Một con đường, một dòng sông, một mái nhà, một hàng cây, một buổi chiều, một mùa thu... qua cách cảm nhận tinh tế có thể không còn là những hình ảnh đơn thuần nữa. Chúng trở thành những “biểu tượng cảm xúc”.

Đó chính là điểm làm nên chiều sâu trong những bài viết của ông: nhìn cái nhỏ để thấy cái lớn, đi từ một chữ để mở ra một thế giới, đi từ một hình ảnh để chạm tới một trạng thái tâm hồn.

Sự tinh tế bắt đầu từ cách đọc một chữ

Có lẽ một trong những điều đáng chú ý nhất trong phương pháp cảm nhận của bác sĩ Phạm Cảnh Thượng là sự quan tâm đặc biệt đến từng chữ trong ca từ.

Đối với người nghe bình thường, một câu hát có thể chỉ được tiếp nhận như một dòng cảm xúc trôi qua. Nhưng với một người phân tích tinh tế, mỗi chữ đều có vị trí, sắc thái và “trọng lượng” riêng.

Có những chữ nếu thay bằng một từ đồng nghĩa, câu hát vẫn đúng về ngữ pháp, vẫn đủ nghĩa, nhưng cái hồn của nó sẽ mất đi.

Chẳng hạn, một chữ chỉ không gian có thể đồng thời gợi ra chiều sâu tâm trạng. Một chữ chỉ thời gian có thể làm sống dậy cả một miền ký ức. Một tính từ tưởng như rất nhẹ lại có thể tạo nên sắc thái buồn vui của cả câu hát.

Cái tài của người phân tích không phải là nói thật nhiều về một chữ, mà là giúp người đọc nhận ra tại sao người nhạc sĩ đã chọn đúng chữ ấy.

Đây là một công việc rất tinh tế.

Bởi ngôn ngữ của ca khúc trữ tình vốn gần với thơ. Mà thơ thì đôi khi chỉ khác văn xuôi ở một chữ, một dấu ngắt, một khoảng lặng. Cùng là “mưa”, nhưng “mưa rơi”, “mưa bay”, “mưa qua”, “mưa chiều”, “mưa trong mắt” lại tạo ra những thế giới cảm xúc hoàn toàn khác nhau.

Khi người phân tích đủ nhạy cảm để nhận ra sự khác biệt ấy, người đọc cũng bắt đầu nghe lại bài hát bằng một đôi tai khác.

Đó là giá trị rất lớn của phê bình âm nhạc: không chỉ đưa ra một kết luận, mà còn làm cho người nghe nghe sâu hơn.

Từ ca từ đi vào ký ức của con người

Các ca khúc trữ tình thường thành công không phải vì chúng kể một câu chuyện quá đặc biệt, mà vì chúng nói hộ những điều rất bình thường trong đời sống con người.

Ai cũng từng có một người để nhớ.

Ai cũng từng có một buổi chiều không quên.

Ai cũng từng đi qua một con đường mà sau nhiều năm quay lại, cảnh vật có thể vẫn còn, nhưng người xưa đã không còn.

Ai cũng từng có một mùa trong đời mà chỉ cần nghe một câu hát, một giai điệu, một âm thanh quen thuộc là cả ký ức bỗng trở về.

Bác sĩ Phạm Cảnh Thượng dường như đặc biệt nhạy cảm với những “điểm chạm” ấy.

Ông không chỉ hỏi bài hát nói gì, mà còn gợi cho người đọc suy nghĩ: Tại sao câu hát ấy lại khiến chúng ta rung động?

Câu trả lời đôi khi không nằm trong bản thân câu hát, mà nằm trong ký ức của mỗi người.

Một ca khúc hay là nơi gặp nhau giữa ký ức của người sáng tác và ký ức của người nghe.

Người nhạc sĩ viết về một người phụ nữ, nhưng người nghe lại nhớ về một người phụ nữ khác.

Người nhạc sĩ viết về quê hương của mình, nhưng người nghe lại thấy quê hương của chính mình.

Người nhạc sĩ viết về một cuộc chia tay, nhưng mỗi người lại tìm thấy trong đó một cuộc chia tay riêng.

Bởi vậy, bài phân tích không đóng khung tác phẩm trong một cách hiểu duy nhất. Nó mở thêm những cánh cửa để người đọc bước vào.

Cái nhìn của một bác sĩ và tâm hồn của một người yêu nghệ thuật

Có một điều đặc biệt khi đọc những bài phân tích của một người mang nghề nghiệp là bác sĩ: phía sau sự quan sát nghệ thuật dường như luôn có một cái nhìn hướng về con người.

Y khoa giúp con người học cách quan sát những điều rất nhỏ. Một thay đổi trong ánh mắt, sắc mặt, giọng nói hay một biểu hiện tưởng như không đáng kể đôi khi lại nói lên rất nhiều điều.

Trong nghệ thuật cũng vậy.

Một dấu chấm, một chữ, một hình ảnh, một khoảng lặng trong ca từ đôi khi có thể tiết lộ cả một trạng thái tâm hồn.

Nếu người nhạc sĩ là người tạo ra những “mạch cảm xúc”, thì người phân tích phải biết lần theo những mạch cảm xúc ấy.

Có lẽ chính nền tảng nghề nghiệp và trải nghiệm sống đã giúp bác sĩ Phạm Cảnh Thượng có một cách nhìn khá đặc biệt: không chỉ nhìn vào cái đẹp bên ngoài mà còn quan tâm đến những rung động bên trong con người.

Và vì thế, những bài phân tích của ông thường không tạo cảm giác như một bài “chấm điểm” tác phẩm. Nó gần với một cuộc trò chuyện giữa những người yêu âm nhạc.

Ở đó, người viết không đứng quá cao để phán xét tác phẩm, mà đứng gần tác phẩm để lắng nghe nó.

Tinh tế nhưng không phô trương

Một đặc điểm đáng quý khác là sự tinh tế trong cách trình bày.

Phê bình âm nhạc rất dễ rơi vào hai thái cực.

Một là quá đơn giản, chỉ dừng ở những lời khen chung chung như “hay”, “sâu sắc”, “cảm động”.

Hai là, quá hàn lâm, sử dụng quá nhiều thuật ngữ khiến người đọc cảm thấy bài hát bị đưa lên bàn giải phẫu, mất đi vẻ tự nhiên vốn có.

Những bài phân tích giàu sức thuyết phục thường phải đứng ở khoảng giữa: đủ sâu nhưng vẫn dễ tiếp nhận; đủ lý giải nhưng không làm mất đi vẻ đẹp của cảm xúc.

Đây chính là điểm đáng ghi nhận trong cách viết của bác sĩ Phạm Cảnh Thượng.

Ông có xu hướng đi từ những điều gần gũi, cụ thể để dẫn người đọc đến những suy nghĩ rộng hơn.

Từ một câu hát, ông mở ra một tâm trạng.

Từ một tâm trạng, ông liên hệ đến thân phận.

Từ thân phận, ông trở về với đời sống.

Cách đi ấy khiến bài phân tích không bị khô cứng mà vẫn giữ được chất trữ tình.

Khi người phân tích giúp người nghe “nghe lại” một ca khúc

Một trong những thành công lớn nhất của phê bình nghệ thuật là làm cho người đọc muốn quay trở lại với tác phẩm.

Đọc xong một bài phân tích hay, người ta không muốn khép lại ngay. Người ta muốn nghe lại ca khúc.

Và khi nghe lại, những gì trước đây tưởng như bình thường bỗng trở nên có ý nghĩa.

Một câu hát được ngân dài hơn.

Một chữ được nhấn mạnh hơn.

Một khoảng lặng được cảm nhận rõ hơn.

Một hình ảnh tưởng như quen thuộc bỗng hiện ra với màu sắc khác.

Đó là lúc bài phân tích đã thực sự hoàn thành sứ mệnh của mình.

Bác sĩ Phạm Cảnh Thượng, qua những bài viết về các ca khúc trữ tình, đã làm được điều đáng quý ấy: không đứng giữa người nghe và tác phẩm, mà trở thành chiếc cầu nối để người nghe đến gần tác phẩm hơn.

Chiều sâu không nằm ở những lời lớn lao

Có một nghịch lý trong nghệ thuật: những tác phẩm nói về những điều lớn lao chưa chắc đã sâu sắc; đôi khi một câu hát rất giản dị lại có sức sống hàng chục năm.

Bởi chiều sâu không nằm ở số lượng ý tưởng, mà nằm ở khả năng chạm đến phần người.

Một câu hát về mẹ có thể khiến một người trưởng thành bật khóc.

Một câu hát về quê hương có thể khiến người xa quê lặng người.

Một câu hát về tình yêu đã cũ có thể làm sống lại một mối tình tưởng đã ngủ yên.

Một câu hát về thời gian có thể khiến con người nhìn lại chính cuộc đời mình.

Những bài phân tích của bác sĩ Phạm Cảnh Thượng đáng quý ở chỗ không cố làm cho tác phẩm trở nên “to tát”. Ngược lại, ông thường tìm cái lớn lao nằm trong những điều rất nhỏ.

Một ánh mắt.

Một mái tóc.

Một chiều mưa.

Một con đường.

Một dòng sông.

Một tiếng gọi.

Một chữ “em”.

Một chữ “anh”.

Và phía sau những chữ ấy là cả một đời người.

Phân tích âm nhạc cũng là một cách lưu giữ ký ức

Trong thời đại mà âm nhạc ngày càng được tiêu thụ nhanh, người nghe có thể nghe hàng chục bài hát trong một ngày rồi quên đi rất nhiều bài vào ngày hôm sau. Vì vậy, những bài viết phân tích sâu sắc lại càng có ý nghĩa.

Nó giúp chúng ta chậm lại.

Chậm lại để nghe.

Chậm lại để đọc.

Chậm lại để nhớ.

Và quan trọng nhất, chậm lại để nhận ra rằng một bài hát hay không chỉ tồn tại trong vài phút mà nó vang lên, mà còn có thể sống rất lâu trong ký ức của con người.

Một bài phân tích tốt cũng có thể trở thành một dạng lưu giữ ký ức.

Nó lưu giữ cách một thế hệ đã nghe một ca khúc.

Lưu giữ những rung động mà đôi khi thời gian sẽ làm phai nhạt.

Lưu giữ những tầng nghĩa mà nếu không có người chỉ ra, chúng ta có thể vô tình bỏ qua.

Một tiếng nói đáng trân trọng trong đời sống âm nhạc

Điều đáng quý nhất trong những bài phân tích của bác sĩ Phạm Cảnh Thượng có lẽ không nằm ở việc ông đưa ra những nhận xét “đúng” hay “sai”, mà ở khả năng làm cho người đọc cảm thấy nhiều hơn sau khi đọc.

Một bài hát hay vốn đã có cảm xúc.

Nhưng một bài phân tích hay có thể làm cảm xúc ấy được soi sáng.

Nó giống như ánh sáng chiếu vào một bức tranh: bức tranh không thay đổi, nhưng những đường nét trước đây chưa nhìn thấy bỗng hiện lên rõ hơn.

Với các ca khúc trữ tình, điều này càng quan trọng.

Bởi thể loại trữ tình sống bằng những rung động rất mong manh. Nếu phân tích quá lạnh lùng, cái đẹp sẽ tan biến. Nếu cảm nhận quá chủ quan, tác phẩm dễ bị áp đặt. Người viết cần vừa có trái tim của người thưởng thức, vừa có sự tỉnh táo của người quan sát.

Và ở điểm giao nhau ấy, những bài viết của bác sĩ Phạm Cảnh Thượng tạo được dấu ấn riêng.

Lời kết

Có thể nói, đọc những bài phân tích ca khúc trữ tình của bác sĩ Phạm Cảnh Thượng cũng giống như cùng ông bước vào một khu vườn âm nhạc vốn tưởng đã quen thuộc, nhưng mỗi lần bước vào lại phát hiện thêm một bông hoa mới.

Cái sâu sắc của ông nằm ở khả năng nhìn vượt qua lớp vỏ của ca từ để tìm đến tâm trạng và thân phận con người.

Cái tinh tế nằm ở khả năng nhận ra giá trị của từng chữ, từng hình ảnh, từng khoảng lặng.

Cái đáng quý nằm ở chỗ ông không làm cho âm nhạc trở nên xa lạ bằng những lý luận cao siêu, mà ngược lại, đưa âm nhạc trở về gần hơn với đời sống.

Và có lẽ, đó cũng chính là phẩm chất đẹp nhất của một người viết về âm nhạc:

Không phải nói thay cho bài hát, mà giúp người khác nghe được điều bài hát đang thầm nói.

Không phải giải thích hết mọi điều, mà mở ra những khoảng lặng để người đọc tự cảm nhận.

Không phải tìm cách chứng minh mình hiểu tác phẩm đến đâu, mà làm cho người đọc yêu tác phẩm hơn sau khi đọc.

Trong một đời sống âm nhạc ngày càng nhanh, những bài viết như thế càng đáng trân trọng. Bởi chúng nhắc chúng ta rằng nghệ thuật không chỉ để nghe, mà còn để suy ngẫm; không chỉ để thưởng thức, mà còn để nhớ; không chỉ để rung động trong vài phút, mà có thể theo con người đi suốt một chặng đường dài của cuộc đời.

Và khi một bài phân tích khiến ta muốn nghe lại một ca khúc, muốn đọc lại một câu hát, muốn tìm lại một ký ức đã xa, thì lúc ấy, người viết đã thực sự làm được điều mà phê bình nghệ thuật đẹp nhất có thể làm:

Đánh thức phần ký ức đang ngủ trong tâm hồn người đọc bằng chính vẻ đẹp của âm nhạc.

Ngãi Giao, Tp HCM. Những ngày đầu tháng 10 năm 2026.


 &

 

 VÀI NÉT VỀ BÁC SĨ PHẠM CÀNH THƯỢNG VÀ TÁC GIẢ KHÊ GIANG

 Bác sĩ Phạm Cảnh Thượng

Bác sĩ Phạm Cảnh Thượng vừa là chuyên gia y khoa có tay nghề cao  vừa là một cây bút  trên mạng xã hội được nhiều người theo dõi.

Ông sinh ra và lớn lên tại làng An Thơ (xã Hải Hòa cũ, nay là xã Hải Phong, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị).

Chuyên môn y khoa: Ông là bác sĩ chuyên khoa chẩn đoán hình ảnh (X-quang, siêu âm).

Cơ sở hành nghề: Ông điều hành Phòng khám Chẩn đoán hình ảnh - đặt tại thôn Hưng Long, thị trấn Kim Long, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

 Trên Facebook cá nhân, ông nổi tiếng với các bài bình luận, cảm thụ âm nhạc sâu sắc, tản văn về thơ ca, lịch sử và vùng miền (như các bài viết về tình khúc Ngô Thụy Miên, âm nhạc miền Nam, hay lịch sử địa danh).

Phong cách chia sẻ: Lối viết của ông giàu tính tự sự, am hiểu về văn hóa - nghệ thuật, thu hút sự tương tác và quan tâm từ cộng đồng mạng lẫn giới y bác sĩ và văn nghệ sĩ.

&

Tác giả Khê Giang

Khê Giang  là bút danh nghệ thuật và tên tài khoản Facebook/mạng xã hội của Bác sĩ Lê Văn Huấn.

Ông sinh ra tại làng Trường Sanh, xã Hải Trường (nay thuộc huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị). Ông theo gia đình vào Nam lập nghiệp và sinh sống, gắn bó tại thị trấn Ngãi Giao, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Chuyên môn: Ông công tác trong ngành y với vai trò là một bác sĩ điều trị.

Hoạt động nghệ thuật (bút danh Khê Giang):

Ngoài công việc y khoa, ông còn là một người yêu văn thơ, âm nhạc và sáng tác nghệ thuật.

Ông có nhiều bài nghiên cứu về lịch sử, văn hóa, vẽ đẹp…  của nhiều địa danh nơi sinh thành và nơi lập nghiệp.

Ông sáng tác nhiều bài thơ, ca khúc giàu tình cảm hướng về quê hương, đất nước và các vùng đất miền Trung (như các ca khúc, bài thơ về Quảng Trị, Huế). Nhiều tác phẩm của ông đã được phổ nhạc hoặc trình diễn trên các kênh âm nhạc, trang văn nghệ đồng hương.

Trên Facebook và YouTube, ông tương tác và chia sẻ các sáng tác văn thơ, âm nhạc, giao lưu cùng bạn bè đồng hương Quảng Trị và những người yêu thơ nhạc dưới tên gọi Khê Giang (hoặc kết hợp Bác sĩ Lê Văn Huấn - Khê Giang).

 

 

READ MORE - CHIỀU SÂU VÀ SỰ TINH TẾ TRONG NHỮNG BÀI PHÂN TÍCH CA KHÚC TRỮ TÌNH CỦA BÁC SĨ PHẠM CẢNH THƯỢNG - Khê Giang