Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Wednesday, October 28, 2026

TẶNG EM NHÉ ... MỘT BÓ HOA MÀU TRẮNG - Thơ: Quách Như Nguyệt

 


Tặng em nhé… một bó hoa mầu trắng

Quách Như Nguyệt


Người thương ơi, sáng nay nghĩ đến anh

Nghĩ đến vô thường, nghĩ đến ngày nằm xuống

Nước mắt rơi nhưng tim em không lạnh

Thấy ấm nồng, đời đẹp lắm mầu xanh

 

Cảm ơn anh và bó hoa gửi tặng

Hoa hồng nhung tuần lễ cuối tháng Mười

Anh dễ thương vì luôn nghĩ đến em

Bảo sao em không thỉnh thoảng mỉm cười

 

Luôn ước mình sẽ là người đi trước…

Vẫn mong anh đừng quá đỗi muộn phiền

Đời sống này ngắn ngủi, lắm phước duyên

Ta hãy sống từng phút giây hạnh phúc,

để đến lúc ra đi mình chúc phúc

Mừng cho nhau thoát khỏi kiếp hiện tiền

 

Khi em đi… đừng đau buồn anh nhé

Đừng tìm đọc thơ em rồi nhỏ lệ 

Nên cảm ơn đời sống không gì tệ

Một đời người! chẳng qua…một cơn mê

 

Tặng em nhé, một bó hoa mầu trắng

Mầu em yêu, hôn nhé…một đóa hoa

Khi ngắm trăng, đừng nước mắt chan hòa

Mà nhớ lại những ngày ta hạnh phúc

 

Mây trắng, ánh trăng, mùa Xuân hoa cúc

Hạ đỏ, nắng vàng, thảm cỏ êm chân

Tháng Mười mùa Thu, tay nắm ân cần

Đông tuyết trắng, đông lạnh lùng thi vị

Bó hoa trắng, -ngày em đi giản dị

Xin anh đừng buồn khổ mà chi

Ta chỉ có một cuộc đời để sống

Sống hết mình, khỏi tiếc nuối khi đi


Quách Như Nguyệt

Oct 30th, 2018

From: nhunguyet9963@gmail.com

READ MORE - TẶNG EM NHÉ ... MỘT BÓ HOA MÀU TRẮNG - Thơ: Quách Như Nguyệt

THE KINGDOM OF ASHES AND THE COLD THRONE / Tác phẩm Duet: VƯƠNG QUỐC TRO TÀN VÀ NGAI VÀNG LẠNH - Các tác giả: Thi Lan Anh Tran-Aschaffenburg, Aschaffenburg & Musharraf Hussain-Assam, India

 




THE KINGDOM OF ASHES AND THE COLD THRONE

Authors:

Thi Lan Anh Tran — Aschaffenburg, Germany

Musharraf Hussain — Assam, India

 

I. LAN ANH — THE OPPRESSED

 

I once believed you were the god of all the earth,

And knelt to beg for scraps of love, for crumbs of worth.

You ruled with whips and laws, with cold commands,

And frostbound glances cast by merciless hands.

 

II. MUSHARRAF — THE TYRANT

I loved you with a wild, untamed desire,

A raging ego crowned with madness, pride, and fire.

I wanted you to be forever mine,

So I tightened every cord that should have set you free in time.

 

III. LAN ANH — THE OPPRESSED

You loved to watch me bow my head in fear,

And hailed each wound you dealt as triumph, loud and clear.

Your love became a prison without bars,

And locked my soul in nothingness, beneath your distant stars.

 

IV. MUSHARRAF — THE TYRANT

I hurled cruel words at the one I loved the most,

To feed my selfish pride, to prove my power and boast.

I watched your tears fall freely to the ground;

My heart ached too, yet pride kept reason bound.

 

V. LAN ANH — THE OPPRESSED

But, tyrant, see the throne you raised so high,

Was built with blood my broken heart gave up to die.

Today I wake at last from dreams of bitter pain,

And place your crown of sorrow in your hands again!

 

VI. MUSHARRAF — THE TYRANT

I thought my power could command it all,

And make my love depend on me, however small.

I never knew such cruelty and ice

Would be the gamble that would cost me paradise.

 

VII. LAN ANH — THE OPPRESSED

I am no slave to love, no captive to desire,

I will not bow forever to your feet of fire.

To love with all my soul does not mean I must submit;

The storm has risen now—your name shall fall with it!

 

VIII. MUSHARRAF — THE TYRANT

Now you are gone; my kingdom stands alone,

I sit in solitude upon my shattered throne.

The tyrant's bitter smile has faded into pain,

And I imprison myself in a world's condemning chain.

 

IX. THE DUET — LAN ANH & MUSHARRAF

 

LAN ANH:

I walk beyond this kingdom of the night...

 

MUSHARRAF:

The frozen throne stands empty, stripped of might...

 

BOTH:

When love transforms the heart into a tyrant,

The sweetest honey turns to poison, dark and silent.

 

The kingdom falls; the crown breaks clean in two,

We give back what was yours, what once we knew.

And turn away, each lost upon a lonely road,

Two separate souls, released from love's unbearable load.

 

© 2026 Thi Lan Anh Tran & Musharraf Hussain. All rights reserved.

______________

 

Tác phẩm Duet: 

Vương Quốc Tro Tàn Và Ngai Vàng Lạnh

Các tác giả: 

Thi Lan Anh Tran-Aschaffenburg, Aschaffenburg

Musharraf Hussain-Assam, India

 

Lan Anh (Người bị áp bức):

Em từng tưởng anh là thần thế giới,

Nên quỳ xin từng vụn bánh yêu thương.

Anh ban phát bằng roi da, luật lệ,

Bằng cái nhìn sắc lạnh tựa ngậm sương.

 

Musharraf (Kẻ bạo chúa):

Ta yêu nàng bằng bản năng hoang dại,

Bằng cái tôi ngạo mạn đến điên cuồng.

Ta muốn nàng là của ta mãi mãi,

Nên vô tình siết chặt sợi dây buông.

 

Lan Anh (Người bị áp bức):

Anh thích thấy em cúi đầu, sợ hãi,

Xem nỗi đau của em như chiến công.

Tình yêu anh là ngục tù giam lỏng,

Khóa chặt em trong một cõi hư không.

 

Musharraf (Kẻ bạo chúa):

Ta buông lời làm nhục người ta yêu nhất,

Để thỏa lòng ích kỷ, chứng minh uy.

Nhìn nước mắt nàng rơi đầy trên đất,

Lòng ta đau, nhưng lý trí cố lì.

 

Lan Anh (Người bị áp bức):

Nhưng bạo chúa ơi, ngai vàng anh dựng,

Bằng máu con tim em vắt cạn từng ngày.

Hôm nay em thức giấc sau cơn mộng,

Trả lại anh vương miện đắng cay này!

 

Musharraf (Kẻ bạo chúa):

Ta cứ ngỡ uy quyền làm tất cả,

Khiến người yêu phải quỵ lụy phụ thuộc.

Có ngờ đâu sự nhẫn tâm, lạnh giá,

Là canh bạc mà ta đã thua cuộc.

 

Lan Anh (Người bị áp bức):

Em không là nô lệ của tình ái,

Không cúi đầu để anh mãi đạp lên.

Yêu cuồng si không nghĩa là hèn hạ,

Bão nổi rồi, sụp đổ một cái tên!

 

Musharraf (Kẻ bạo chúa):

Giờ nàng đi, vương quốc này trống hoác,

Ta cô đơn trên đỉnh mớ hoang tàn.

Kẻ bạo chúa tắt nụ cười chua chát,

Tự giam mình trong bản án thế gian.

 

ĐỒNG CA (Lan Anh & Musharraf):

Lan Anh:

Bước ra khỏi vương quốc đầy tăm tối...

 

Musharraf:

Ngai vàng lạnh giờ đây ta trơ trọi...

 

Lan Anh & Musharraf:

Khi tình yêu biến người thành bạo chúa,

Mật ngọt ngày nào hóa độc trên môi.

Vương quốc tan rồi, vương miện vỡ đôi,

Trả lại nhau… hai ngả rẽ đơn côi.

 

© 2026 Thi Lan Anh Tran & Musharraf Hussain. Mọi quyền được bảo lưu.

***

From: 

E- Mail: Wirtschaftskanzlei@Dipl-Kauffrau-Tran.de

Dipl.- Kauffrau Thi Lan Anh Tran

 

READ MORE - THE KINGDOM OF ASHES AND THE COLD THRONE / Tác phẩm Duet: VƯƠNG QUỐC TRO TÀN VÀ NGAI VÀNG LẠNH - Các tác giả: Thi Lan Anh Tran-Aschaffenburg, Aschaffenburg & Musharraf Hussain-Assam, India

BÓNG PHƯỢNG SÂN TRƯỜNG - Thơ: Nguyễn Văn Trình



Bóng phượng sân trường

                            Nguyễn Văn Trình

 

Phượng già đứng lặng trường xưa

nghe trong kẽ lá tiếng mưa vơi đầy

bao mùa, áo trắng thơ ngây

bao mùa, lưu luyến đong đầy nhớ thương

 

Phượng già tỏa bóng sân trường

ghế đá còn giữ, vấn vương chuyện trò

nhớ xưa ai đứng đó chờ

mà nay kỷ niệm thẫn thờ trong tim

 

Giáo già lặng lẽ kiếm tìm

dáng hình trò cũ, thắm tình năm nao

bảng đen còn nét thanh tao

trang giáo án cũ, gửi vào thời gian

 

Phượng hồng nhuộm ánh nắng tràn

tiếng ve khẽ gọi, chứa chan một thời

trò đi khắp nẻo, muôn nơi

thầy già ngóng đợi, mãi lời yêu thương

 

Mai này dẫu cách ngàn phương

xin người nhớ mãi, mái trường dấu yêu

bóng phượng rơi xuống bao chiều

như dòng ký ức chứa nhiều buồn, vui

 

Thời gian ngẫm lại bùi ngùi

tình thầy, nghĩa bạn mãi vui trong lòng

phượng ơi, có thấu nỗi mong

cho ta tìm lại tuổi hồng ngày xưa...

 

                                       NVT


Tác giả NGUYỄN VĂN TRÌNH

Bút danh: KATHI

Hội VHNT tỉnh Quảng Trị - ĐT 0914 415 931

Email: nguyenvantrinh58@gmail.com

Đ/C: 65B Đường Chu Mạnh Trinh, Phường Nam Đông Hà, tỉnh Quảng Trị

 

READ MORE - BÓNG PHƯỢNG SÂN TRƯỜNG - Thơ: Nguyễn Văn Trình

Monday, October 26, 2026

DÒNG ĐỜI – Thơ Lê Kim Thượng

 



Dòng Đời
1.
Đưa tay vuốt mái tóc em
Sợi thương, sợi nhớ nhẹ mềm trong anh
Tiếng em giọng nói thanh thanh
Dịu dàng hai tiếng “Em…Anh…” ngọt ngào
Giữ tình chẳng để hư hao
Sắt son thề hẹn trước sau một lòng
Tặng en chín chín đóa hồng
Tình yêu tha thiết tấm lòng tinh khôi
Gió đưa tà áo buông lơi
Trắng màu trinh nữ, mây trời bay bay
Thề bồi “Muối mặn… gừng cay…”
Đậm đà tha thiết đắm say tình nồng
Tình yêu, yêu thật một lòng
Vượt qua gian khổ chờ mong tháng ngày
Người yêu nửa tỉnh, nửa say
Nụ hôn đằm thắm, vòng tay ấm nồng…
 
2.
Còn gì nhớ nhớ mong mong
Cuộc tình rơi xuống giữa dòng đời trôi
Con tim thao thức bồi hồi
Sao nghe tê tái đơn côi một mình
Lỡ vay em một mối tình
Trăm năm chưa trả, riêng mình, riêng đau
Bao giờ cho hết mưa Ngâu
Ngưu Lang – Chức Nữ qua cầu thành đôi
Xưa rồi lâu lắm xa xôi
Một thời hạnh phúc, một thời yêu xa
Ngày em làm vợ người ta
Thơ tình gói lại làm quà trao tay…
Mừng vui gặp lại hôm nay
Vẹn nguyên kỷ niệm những ngày thương đau
Mười năm mới gặp nhau
Tóc xưa nay đã bạc màu thời gian…
 
                              Nha Trang, tháng  07. 2026
                                    LÊ KIM THƯỢNG

READ MORE - DÒNG ĐỜI – Thơ Lê Kim Thượng

NGUYỄN NGUYÊN AN - MỘT ĐỜI CẦM BÚT GIỮA NHÂN SINH VÀ MIỀN TÂM LINH - Nguyễn Khắc Phước



Nguyễn Nguyên An – Một đời cầm bút 

giữa nhân sinh và miền tâm linh


Có những người viết đi qua đời sống văn học bằng những tuyên ngôn mạnh mẽ, những cuộc cách tân gây chú ý hoặc những tác phẩm ngay lập tức tạo nên tiếng vang. Lại có những người cầm bút chọn một hành trình lặng lẽ hơn: quan sát con người, đi vào những mất mát âm thầm, gom nhặt những trải nghiệm từ cuộc đời rồi gửi chúng vào truyện, thơ, bút ký và những trang suy tưởng. Nguyễn Nguyên An thuộc về kiểu người viết thứ hai.

 

Nguyễn Nguyên An là bút danh của Nguyễn Văn Vinh, một cây bút gắn với đời sống văn học Thừa Thiên Huế, sáng tác ở nhiều thể loại như văn xuôi, thơ, tạp văn, bút ký và những bài viết giới thiệu văn chương. Ông sinh ngày 1-1-1952, mất ngày 13-2-2024. Trong những tháng cuối đời, ông vẫn sống tại phường Thủy Xuân, thành phố Huế và vẫn tiếp tục viết.

 

Điều đáng chú ý ở Nguyễn Nguyên An là cách ông nhìn nghề văn. Ông từng xem thơ là “tay trái”, còn văn xuôi mới là lĩnh vực sáng tác chính. Chi tiết tưởng như nhỏ ấy lại nói khá nhiều về một người viết ý thức rõ về sở trường và con đường của mình. Văn xuôi cho ông không gian rộng hơn để đi vào số phận, hoàn cảnh và những chuyển động khó thấy bên trong con người. Tuy vậy, thơ không vì thế mà trở thành một cuộc dạo chơi. Những bài thơ còn lại cho thấy ở đó có một tiếng nói riêng, nhiều suy tư về tình yêu, lòng chân thật, nhân sinh, sự sống và cái chết.

 

Nếu nhìn vào những tác phẩm đã được xác nhận, có thể thấy nghề văn của Nguyễn Nguyên An được gây dựng từ sự bền bỉ hơn là từ một khoảnh khắc nổi tiếng. Ngọn đèn vẫn tỏ, tập truyện ngắn do Nhà xuất bản Công an nhân dân ấn hành năm 2006, gồm 25 truyện, là một dấu mốc đáng chú ý. Sau đó là Trường đại học của tôi, truyện dài xuất bản năm 2007; Bầu trời cổ tích, một tác phẩm xuất bản năm 2010; và tập thơ Cơn mê của gió do Nhà xuất bản Thuận Hóa ấn hành năm 2011. Tư liệu năm 2010 còn cho biết ông đã có gần mười tác phẩm văn xuôi, cho thấy phần di sản được nhận diện hôm nay có thể vẫn chưa phải là toàn bộ những gì ông từng viết và xuất bản.

 

Điều thống nhất trong những trang văn được giới thiệu là sự quan tâm của Nguyễn Nguyên An đối với con người ở những thời điểm dễ tổn thương nhất. Đó có thể là những con người đi qua chiến tranh, những phận đời chịu mất mát, những người mắc sai lầm rồi phải đối diện với hậu quả, những người sống trong một môi trường khắc nghiệt hoặc đơn giản là những con người phải mang theo một vết thương không thể nhìn thấy từ bên ngoài.

 

Trong Kỷ vật, chiến tranh không chỉ được nhìn qua những biến cố lớn mà còn thông qua nỗi đau của những con người cụ thể: một người phụ nữ nằm lại ở Trường Sơn, một người trở về với tuổi trẻ và sức khỏe đã bị bào mòn. Trong Bầu trời cổ tích, giữa chiến tranh và bất trắc, vẫn có chỗ cho tình người và một thứ ánh sáng của sự gắn bó. Còn Đất sau mưa gợi lên những day dứt về thời gian và mất mát. Từ những câu chuyện ấy, có thể thấy Nguyễn Nguyên An không dừng ở việc kể một biến cố. Ông muốn đi sâu hơn, vào phần con người còn lại sau biến cố: họ chịu đựng ra sao, giữ lấy điều gì, đánh mất điều gì và có thể tiếp tục sống bằng cách nào.

 

Một bài phê bình về ông từng dùng cụm từ “nỗi buồn rực rỡ”. Đó có lẽ là một gợi ý thú vị để đọc Nguyễn Nguyên An. Nỗi buồn trong văn ông không hoàn toàn dẫn con người đến tuyệt vọng. Có những khi, chính trong mất mát, lòng nhân hậu, sự hy sinh và phẩm giá lại hiện lên rõ hơn. Cái “rực rỡ” không nằm ở bản thân đau khổ mà ở phần người vẫn không bị đau khổ hủy diệt.

 

Tinh thần ấy còn xuất hiện trong Trường đại học của tôi, tác phẩm khai thác một thế giới hoàn toàn khác: đời sống của một người phạm tội, bị truy nã rồi trải qua những năm tháng trong trại tạm giam, trại cải tạo. Ở một môi trường có nhiều giới hạn, xung đột, sợ hãi và tính toán, Nguyễn Nguyên An vẫn tìm cách quan sát con người từ những biểu hiện rất đời thường. Những trò ma mãnh, sự ích kỷ, những lựa chọn sai lầm, nhưng cả khả năng thay đổi, lòng bao dung và những bài học phải trả giá bằng đau đớn đều trở thành chất liệu văn chương.

 

Nhan đề Trường đại học của tôi vì thế gợi ra một ý nghĩa rộng hơn: cuộc đời cũng có thể là một trường học, nhưng không phải bài học nào cũng đến từ điều tốt đẹp. Có những bài học chỉ xuất hiện khi con người đối diện với giới hạn, sai lầm, tổn thất và hậu quả do chính mình tạo ra.

 

Ở phương diện đó, nghề văn đối với Nguyễn Nguyên An dường như không tách rời việc suy ngẫm về đạo đức và nhân sinh. Ông không viết chỉ để kể chuyện. Phía sau nhiều câu chuyện là một câu hỏi: con người sẽ sống như thế nào sau khi bị thử thách?

 

Chính câu hỏi ấy tạo một chiếc cầu nối tự nhiên từ văn xuôi sang thơ và từ văn chương sang đời sống tâm linh.

 

Tập thơ Cơn mê của gió cho thấy một Nguyễn Nguyên An khác nhưng không xa lạ. Nếu văn xuôi cần nhân vật, hoàn cảnh và sự kiện để đặt ra vấn đề về số phận, thơ cho phép ông đi thẳng vào những khoảnh khắc nhận thức. Người đọc gặp ở đó những suy nghĩ về không gian, thời gian, tình yêu, sự sống, cái chết, sự chân thật và giới hạn của những ham muốn của con người.

 

Ở bài Không, nhà thơ hướng tới những nguyên tắc sống như không làm khổ mình, không làm khổ người khác, không tự lừa dối bản thân và không quay lưng trước nỗi đau của người đời. Với Nhân, ông sử dụng hình ảnh gieo hạt để nói về lòng nhân ái: điều thiện được gieo xuống, nảy mầm rồi thành cây, thành quả. Còn Phía không tìm lại gợi một nghịch lý rất gần với tư tưởng thiền: con người càng mải miết chạy theo điều mình muốn, đôi khi càng xa nó; chỉ đến khi biết dừng lại, ta mới có cơ hội nhìn thấy điều quan trọng.

 

Ở đây cần một sự thận trọng. Những yếu tố thiền, tâm linh và suy niệm về cách sống xuất hiện khá rõ trong tác phẩm Nguyễn Nguyên An, nhưng tư liệu hiện có chưa cho phép khẳng định ông là tín đồ của một tôn giáo cụ thể. Điều có thể nói chắc chắn hơn là ông có một sự quan tâm sâu đến đời sống tinh thần và những câu hỏi mà tôn giáo, triết học và văn chương từ lâu cùng chia sẻ: con người từ đâu tìm được sự bình an, điều gì khiến đời sống có ý nghĩa, lòng nhân ái có vai trò gì, và con người có thể giải thoát mình khỏi sự chi phối của những ham muốn đến mức nào.

 

Cảm thức ấy hiện rõ hơn trong những bài bút ký cuối đời. Trong Nơi lập thiền tốt nhất, từ một chuyến đi Lăng Cô, qua đèo Hải Vân rồi dừng ở Bãi Chuối, Nguyễn Nguyên An không chỉ ngắm núi, biển, mây và sương. Trước thiên nhiên, ông hướng suy nghĩ về sự thanh tịnh, về việc ngồi thiền trước biển và cả khả năng hình thành một không gian để tăng ni, cư sĩ có thể tu tập, học tập, nghỉ dưỡng. Bài viết vì vậy vượt khỏi giới hạn của một bút ký du lịch thông thường, trở thành nơi gặp gỡ của thiên nhiên, tâm linh và khát vọng tìm kiếm sự tĩnh lặng.

 

Trong Bí ẩn của biển, biển lại trở thành một hình ảnh để suy ngẫm về sự đầy và vơi trong đời sống. Con người thường cố lấp đầy mình bằng mong muốn và sở hữu, nhưng càng tích lũy đôi khi càng thấy thiếu. Biển, trong cách nhìn của nhà thơ, gợi đến khả năng cho đi. Từ đó xuất hiện một quan niệm giản dị nhưng có chiều sâu: đời sống tinh thần không giàu lên chỉ bằng việc giữ mọi thứ cho mình; biết trao tặng cũng là một cách làm cho tâm hồn phong phú hơn.

 

Có lẽ chính sự giao thoa giữa nghề văn và đời sống tâm linh làm nên nét riêng đáng chú ý ở Nguyễn Nguyên An. Ông không biến văn chương thành một bài thuyết giáo. Những suy niệm thường đi ra từ trải nghiệm: một chuyến đi, một cảnh biển, một dòng sông, một người mẹ, một người nghệ sĩ, một phận người đi qua chiến tranh.

 

Trong Về thượng nguồn sông, cảnh Dương Hòa, sông Hương, hồ Tả Trạch và những khu vườn không chỉ được miêu tả như phong cảnh. Tác giả chú ý đến sự cần cù, chân tình, lòng hiếu khách của cư dân, đến những việc nhỏ như cách người ta chăm sóc khách hay giữ gìn môi trường. Thiên nhiên ở đây là cánh cửa để ông nhìn vào văn hóa và đạo đức của cộng đồng.

 

Trong Mẹ – mặt đất bao dung, đời sống tinh thần ấy trở về nơi gần gũi nhất: gia đình. Nguyễn Nguyên An nhớ lại những năm tháng mẹ chăm sóc mình khi ốm đau, tai nạn, những lần người mẹ phải vất vả chạy chữa cho con. Không cần một hệ thống tư tưởng cầu kỳ, hình ảnh người mẹ được ví như mặt đất âm thầm nâng đỡ, nuôi dưỡng và chở che đã đủ cho thấy cách ông nhìn về lòng bao dung.

 

Ngay cả khi viết về những người cầm bút khác, Nguyễn Nguyên An cũng thường tìm đến phần đời phía sau câu chữ. Với Chu Vương Miện, ông chú ý đến sức sáng tạo bền bỉ, vốn lịch sử, Hán Nôm và những suy tư về thân phận. Khi viết về Ngô Thái Dương, ông không chỉ khen thơ mà cố gắng nhận ra cách dùng ngôn từ, tổ chức ý và những chuyển mạch riêng. Điều đó cho thấy nghề văn, trong quan niệm và thực hành của Nguyễn Nguyên An, còn bao gồm việc đọc, lắng nghe và nhận ra cá tính của những người cùng viết.

 

Một trong những chi tiết xúc động nhất về cuộc đời cầm bút ấy nằm ở những ngày cuối. Bút ký Len lỏi mưa Hồng Hạ cuối năm được đăng ngày 27-1-2024, ghi lại chuyến đi vào cuối năm 2023. Chỉ ít lâu sau, ngày 13-2-2024, ông qua đời. Nhưng trên hành trình gần cuối đời ấy, Nguyễn Nguyên An vẫn quan sát cảnh vật, vẫn quan tâm đến đồng bào địa phương, cách họ đón khách, cách họ giới thiệu văn hóa của cộng đồng mình. Người cầm bút vẫn đang nhìn, ghi nhận và viết.

 

Có lẽ không cần một tuyên ngôn nào rõ hơn về nghề văn.

 

Viết, với Nguyễn Nguyên An, dường như là một cách sống lâu dài. Đi qua chiến tranh, số phận, tù tội, tình yêu, người mẹ, thiên nhiên, thiền và những cuộc gặp gỡ, ông luôn trở lại với con người. Đằng sau những đổi thay của hoàn cảnh, điều ông tìm kiếm vẫn là lòng nhân hậu, sự chân thật, khả năng yêu thương và một khoảng tĩnh lặng để con người nhìn lại chính mình.

 

Nguyễn Nguyên An mất năm 2024, nhưng hồ sơ về đời văn của ông vẫn còn những khoảng trống. Danh mục tác phẩm chưa được xác lập hoàn toàn, nhiều sáng tác vẫn cần được sưu tầm và đọc trực tiếp. Bởi vậy, có lẽ chưa nên vội đưa ra những kết luận lớn về vị trí của ông trong lịch sử văn học Huế.

 

Nhưng từ những gì còn lại, có thể nhận ra khá rõ chân dung một người viết: lấy văn xuôi làm con đường chính, bước sang thơ bằng một tâm thế suy nghiệm, tìm đến thiền và miền tâm linh như một cách đối thoại với đời sống, đồng thời luôn giữ sự chú ý đến những con người bình thường.

 

Một đời văn có thể khép lại khi người viết dừng bút. Nhưng những câu hỏi họ gửi vào tác phẩm thì không nhất thiết kết thúc cùng họ. Với Nguyễn Nguyên An, đó là câu hỏi về cách con người gìn giữ lòng nhân hậu sau mất mát, giữ sự chân thật giữa những va đập của đời sống và tìm được sự bình an khi đã đi qua đủ những được – mất của một kiếp người.

 

Có lẽ cũng từ điểm ấy, nghề văn và miền tâm linh trong Nguyễn Nguyên An gặp nhau: đều bắt đầu từ việc nhìn sâu vào con người, và cuối cùng đều hướng tới một mong muốn giản dị – hiểu người hơn, hiểu mình hơn và sống nhân hậu hơn.

READ MORE - NGUYỄN NGUYÊN AN - MỘT ĐỜI CẦM BÚT GIỮA NHÂN SINH VÀ MIỀN TÂM LINH - Nguyễn Khắc Phước

HUẾ - XỨ CỦA MẮM TÔM CHUA VÀ HẾN - Trần Hòa

 


HUẾ - XỨ CỦA MẮM TÔM CHUA VÀ HẾN

Trần Hòa

 

Tối qua rảnh rỗi, tôi thức khuya coi hết tập 2 của chương trình ‘Quán Nhà Ha Ha’ phát sóng mỗi tối thứ Bảy hằng tuần trên YouTube. Vì Hàn Quốc trước Việt Nam 2 tiếng nên tôi phải thức khuya để coi cho hết.

Tổng kết những ấn tượng của tôi về chặng đường ở Huế này là ly chè ở chợ quê có giá 5000 đồng (chưa tới 20 cent Mỹ); O chủ nhà tự làm mắm tôm chua rất độc đáo, và những phương ngữ rất Huế mà dàn nghệ sĩ miền Nam và miền Bắc nghe qua không hiểu được.

Kỉ niệm xưa ùa về.

Thập niên 80, thời Bao Cấp, và đầu thập niên 90, mỗi lần có bà Mụ ở Huế vào Quảng Nam chơi là chúng tôi có bưởi Thanh Trà, bánh xu xuê (phu thê) và lâu lâu có thêm mắm tôm chua.

Bà Mụ là em ruột của Mệ tôi, tức bà Ngoại tôi. Mệ tôi quê ở làng Hiền Lương, còn gọi là Làng Rèn. Làng Hiền Lương nổi tiếng trong thơ ca không phải bởi vì nó gần Vĩ Tuyến 17, mà là vì nó có một vị quan Thượng Thư rất nổi tiếng là Trương Như Cương. Ngài Trương Như Cương vốn là nhạc phụ của vua Khải Định, nhưng Khải Định không hề đụng tới vị hoàng hậu, con của ngài Thượng Thư cũng như các vị phi tần  khác. Khải Định thích ăn mặc thời trang, thời đó gọi là diêm dúa, nửa Tây nửa Ta, có nghi án đồng tính. Sau này có nàng cung nữ mang bầu, sanh ra vua Bảo Đại, từ đó chấm dứt nỗi sợ tuyệt tự của hoàng gia Huế.

Vị Hoàng hậu họ Trương nghe nói sau này về tu ở chùa.

Đó là huyền thoại về ngài Trương Như Cương và làng Hiền Lương. Chồng của Mụ tôi là con cháu của cụ Trương Như Cương nên rất quý phái, trong nhà có một cái tủ kiếng đựng những thứ đắt tiền của cung đình, cũng như đồ cổ.

Đó là ấn tượng của tôi về gia đình của Mụ ở Huế. Mỗi lần theo ba mẹ tôi về làng ở huyện Phong Điền là tôi có dịp ngủ lại nhà của Mụ. Ấn tượng còn mãi tới bây giờ là bữa cơm tối nhà Mụ, dù trong thời Bao Cấp luôn ê hề thịt gà, thịt vịt, nem chả và phần tráng miệng. Đó là những bữa cơm thực sự là sơn hào hải vị lúc đó. Ôn của tôi sống một cuộc đời rất sang chảnh nhờ bà Mụ buôn bán giỏi, ở ngay bến xe Lê Độ gần cầu Phú Xuân.

Và đó là Huế trong kí ức của tôi. Tết vừa rồi tôi về thăm làng của ba tôi. Kí ức của đám tang mệ tôi lại trở về. Mệ tôi làm dâu ở làng Kế Môn, tức là làng vàng hay làng kim hoàn. Mẹ tôi lúc cuối đời luôn nhắc tới ông nội của mẹ là Lãnh Binh Đề Đốc Hoàng Công Hà với niềm tự hào vô biên. Mệ tôi làm dâu nhà quan được 1 thời gian thì ông gia ra Bắc làm quan rồi lấy thêm bà nhỏ người Bắc. Là dâu cả nên Mệ tôi lo cho cả gia đình chồng cùng mấy đứa em đưa ở làng Hiền Lương qua. Những người em trai của Mệ tôi người tầm vóc, ai cũng cao hơn 1 mét 75. Họ tiếp tục nghề rèn truyền thống ở làng Hiền Lương nơi làng Kế Môn.

Mệ tôi và 2 người em gái đều cao gần 1 mét 70. Mẹ tôi cũng vậy. Đó là chiều cao khó thấy ở phụ nữ Việt đầu thế kỷ 20.

Coi video của chương trình Gia Đình Ha Ha, bao nhiêu câu chữ xứ Huế đều tìm về. Anh em tôi chẳng ai nói tiếng Huế, riêng tôi thì nếu không tự giới thiệu là người Huế 100% thì chắc không có tới 1% đoán ra.

Tết vừa rồi tôi có về làng của ba tôi để thắp hương bên nội. Vì đi về trong ngày nên tôi không có thời gian qua làng Kế Môn bên ngoại thắp nhang. Ấn tượng của tôi về khu nghĩa trang là thời gian như ngừng trôi. Đường ra mộ vẫn khó đi. Đó là cái độông cát lớn không có lối đi. Tôi đi với 2 ông anh họ tuổi ngoài 70 mà 2 ổng cũng đi lạc hết nửa tiếng đồng hồ.

Làng quê ở Huế vẫn nghèo. Khí hậu ở đây khắc nghiệt quá. Mùa Đông thì mưa dầm thúi đất, mùa hè thì nắng cháy da người. Ở xứ này mà không giỏi thơ ca và câu chữ mới lạ.

Xưa nay nhà thơ hay nhạc sĩ vốn nghèo. Vì nghèo nên trí tưởng tượng mới bay bổng. Vì nghèo nên mới bị phụ tình, mới bị thất tình này nọ, mới viết lên câu ca tiếng nhạc tuyệt vời được. Chớ sung sướng ăn no ngủ kỹ quá thì khó làm văn nghệ sĩ xuất sắc được.

Ông bà chủ nhà trong chương trình có căn nhà 3 gian xinh xắn, chỉnh chu, có ngôi vườn kiểu ‘Vườn ai mướt quá xanh như ngọc’ của Hàn Mạc Tử.

Dàn nghệ sĩ của chương trình được chọn lọc tinh tế và có chủ ý. Một Jun Phạm khéo léo trong giao tiếp với người lớn, khéo tay làm bếp; Một Duy Khánh hậu đậu vô tri tấu hài nhẹ; Một Bùi Công Nam người Tây Nguyên gốc Quảng Nam hồn nhiên và hiểu cuộc sống nghèo khó của miền Trung; Một Ngọc Thanh Tâm vóc dáng tiểu thư Sài Gòn nhưng mộc mạc dễ gần; Một Rhymastic Vũ Đức Thiện có nét gia trưởng miền Bắc có kiến thức và khéo tay.

Đây là show truyền hình thực tế có chủ đích phát triển du lịch và ẩm thực địa phương. Nó bắt đầu từ Huế, cố đô của nhà Nguyễn. Rất đáng xem.

Từ lâu, Huế được gắn với danh hiệu xứ Thần Kinh. Tôi ngại nói chữ ‘Thần Kinh’ này vì sợ hiểu lầm, và tôi cũng tránh dùng chữ dân tộc Kinh, mà chỉ nói dân tộc Việt.

Với tôi, Huế là xứ của mắm tôm chua và hến xúc bánh tráng, món ăn mà các anh chị tôi vẫn làm cho tới hôm nay.

 

25/10/2026

Trần Hòa



READ MORE - HUẾ - XỨ CỦA MẮM TÔM CHUA VÀ HẾN - Trần Hòa

Sunday, October 25, 2026

CHÙM THƠ LƯU LÃNG KHÁCH: Đôi ngã nước trời / Ngôi nhà nhỏ

 


ĐÔI NGÃ NƯỚC TRỜI

 

Anh lạc lõng trong tình em mịt lối

Anh bơ vơ giơ ngọn đuốc soi đường

Mất dấu em qua từng chiều xuống vội

Tiếng chuông chùa! Đâu tiếng nói yêu thương

Bãi cát vàng chiều phơi hong nuối tiếc

Ngọn sóng triều đà tuột khỏi tầm tay

Cuộc tình đau nào nói lời vĩnh biệt

Mà tịch liêu trùm đêm đã sang ngày

Nếu hạnh phúc em đang cài mật mã

Anh gã khờ làm sao biết được đây

Nếu anh là chim còn em là cá

Đôi ngã nước trời cá lội chim bay.

            29/05/1986

            Duy Toàn Chợ Chùa



NGÔI NHÀ NHỎ

        (Thương tặng Như Nguyện)

 

Này em! Hãy ngồi đi!

Anh rót nước mời em uống nhé!

Gia tài anh chỉ có thế

Về với anh em có buồn không!

Này em!Có nghe con chim đang hót trong lồng

Ngôi nhà nhỏ đang cười rạng rỡ

Chúng biết rồi đây anh có vợ

Bé xinh xinh kia sẽ chăm chúng mỗi ngày

Này em!Anh còn có đôi tay

Sẽ vun mầm hạnh phúc trong ngôi nhà đó

Trăng rằm sẽ sáng lắm đây!

Sẽ dệt gấm thêu hoa cho tình ta son đỏ

Lát nữa đây!

Anh sẽ tiễn em về trên lối đầy hoa cỏ

Có trăng rằm soi đáy mắt em xinh

Để mai kia!

Anh lại rước em vào ngôi nhà nhỏ

Có chiếc chõng tre thầm ước chuyện chúng mình

Bằng lòng không, hỡi bé xinh!

Đưa tay anh nắm cho tình thăng hoa

Ngôi nhà hát khúc hoan ca

Mừng em nay đã gọi là… của anh.

 

                         Rằm tháng 7/1986

                                   Lưu Lãng Khách


From: Nguyễn Duy Toàn

luulangkhach@gmail.com

READ MORE - CHÙM THƠ LƯU LÃNG KHÁCH: Đôi ngã nước trời / Ngôi nhà nhỏ