Văn Nghệ Quảng Trị
TRANG THUẦN TÚY VĂN HỌC NGHỆ THUẬT CỦA NGƯỜI QUẢNG TRỊ VÀ NGƯỜI YÊU MẾN QUẢNG TRỊ.
Chúc Mừng Năm Mới
Friday, October 23, 2026
KÝ ỨC HƯƠNG CỐM THÁNG MƯỜI - Nguyễn Đại Duẫn
Ký ức hương cốm tháng Mười
Cứ mỗi độ thu
sang, về thăm quê, tôi không khỏi bồi hồi nhớ mẹ, nhớ hương cốm quê nhà. Có những
mùi hương đi qua cuộc đời tôi nhưng có khi không để lại trong tôi chút hoài niệm
nào. Nhưng có những mùi hương một khi đã chạm vào ký ức thì chẳng bao giờ quên
được. Với tôi, đó là hương cốm xưa của mẹ.
Quê tôi là một
vùng đất nghèo, nơi thiên nhiên dường như cũng khắt khe với con người. Quanh
năm phải chống chọi với thiên tai và chiến tranh. Mưa thì lụt, đồng ruộng trắng
nước. Hạn về, đất khô cháy, nứt nẻ, thường xuyên mất mùa. Đã vậy, trong những
năm chiến tranh, ruộng đồng bị bom đạn cày xới; rồi kỹ thuật canh tác lạc hậu,
cây lúa lớn lên thường xuyên bị sâu bệnh phá hoại. Lúa làm ra chẳng thu hoạch
được bao nhiêu. Có mùa không đủ gạo ăn, mẹ tôi phải lên rừng, xuống biển, tần tảo
củ khoai, củ sắn để góp vào cho đủ bữa.
Tôi lớn lên giữa
những mùa như thế. Tuổi thơ không chỉ có tiếng chim, tiếng bom đạn, và những buổi
chiều chăn trâu, mà còn có những ngày nước lũ dâng ngập sân nhà, mẹ phải tất tả
kê lại từng chiếc chum, chiếc thúng đựng đồ... Rồi khi mùa hạ đến, đất nứt nẻ
chân chim, lúa héo vàng, mẹ lại đứng lặng nhìn cánh đồng khô hạn. Tôi phải tập
kéo gàu giai một bên với mẹ.
Ngày ấy, quê tôi
có những thửa đất khô cằn mà người ta vẫn phải làm lúa. Người quê tôi gọi đó là
vãi lúa. Cày bừa xong, người ta đem lúa giống rải xuống mặt ruộng, rồi phó mặc
cho trời. Có mưa thì lúa mọc, có đủ nước thì lúa lên. Còn nếu trời hạn, trời khắc
nghiệt, người nông dân chỉ biết đứng nhìn ruộng đồng khô héo. Cái nghèo cứ thế
đeo bám những mái nhà làng quê tôi. Nhưng mẹ tôi không chịu đầu hàng cái nghèo.
Trên một thửa đất
khô, thay vì gieo lúa tẻ như mọi người, mẹ lại gieo lúa nếp. Có lẽ mẹ đã nghĩ
khác. Lúa nếp khi ấy không chỉ để ăn. Những hạt lúa non còn có thể làm thành cốm,
đem ra chợ bán, đổi lấy tiền mua gạo, mua sách vở cho các con.
Tôi còn nhớ những
ngày lúa nếp lên xanh trên mảnh đất khô cằn ấy, mẹ nâng niu từng bông lúa, chắt
chiu từng hạt. Khi những cơn gió heo may bắt đầu se se chạm ngõ trong chiều
thu, cánh đồng sau nhà cũng chuyển sang một màu vàng óng. Lúa gặt về, mẹ thường
chọn những bông lúa nếp non để làm cốm.
Đầu tiên là tuốt
hạt lúa khỏi bông, sau đó mẹ đem rang trên chảo lửa nhỏ. Đây là khâu quyết định
chất lượng cốm. Sau đó mẹ đem lúa vào giã nhẹ để tách vỏ, không làm nát hạt.
Sau khi đem sàng sảy để lấy hạt gạo, mẹ lại đem rang trên bếp lửa nhỏ làm cho cốm
khô, dậy mùi thơm và đạt độ dẻo, xanh đẹp.
Tiếng cốm nổ lách
tách hòa trong tiếng lửa reo. Khói bếp rơm rạ quẩn quanh mái nhà, quyện với mùi
hương cốm lúa mới làm cho cái mũi thính của tôi không chịu được, cứ đi ra, đi
vào bên bếp. Mẹ lấy cốm thành phẩm gói vào trong lá chuối với một lượng mà mẹ
đã định sẵn. Mẹ bảo nếu có lá sen mà gói thì cốm sẽ ngon hơn. Nhưng ngày đó quê
tôi làm gì có sen. Tôi phụ mẹ ngồi gói cốm. Xong việc, mẹ để dành cho tôi một
ít. Tôi đưa nắm cốm lên mũi hít hà và vốc vài hạt nhai chậm rãi để thưởng thức
cái hương vị mà đất trời đã ban tặng, và qua bàn tay khéo léo của mẹ đã tạo nên
mùi vị hương cốm đồng quê.
Những hạt cốm
xanh nhỏ bé ấy được mẹ đem đi chợ bán. Đồng tiền kiếm được chẳng nhiều, nhưng với
mẹ, mỗi đồng đều quý giá. Tiền bán cốm trở thành gạo trong bữa cơm, thành quyển
vở, cây bút, thành những ngày đến trường của chúng tôi.
Bây giờ quê tôi
đã khác xưa nhiều lắm.
Kinh tế phát triển,
ruộng đồng không còn cảnh phó mặc cho trời, đất. Những cánh đồng ngày trước khô
cằn, khi mưa thì ngập, nay đã có kênh mương thủy lợi tưới tiêu hợp lý, đưa nước
về tận ruộng. Người nông dân làm lúa có phân bón, có thuốc trừ sâu, trừ chuột,
có máy móc hỗ trợ.
Cây lúa được chăm
bón từ lúc gieo mạ đến khi trổ bông, nên năng suất cũng cao hơn ngày trước rất
nhiều. Không còn cảnh cày bừa xong rồi vãi lúa xuống ruộng, ngửa mặt trông trời
chờ mưa. Cũng không còn những thửa ruộng nếp mà mẹ tôi từng gieo năm nào.
Cái nghề làm cốm
của mẹ cũng theo mẹ đi xa, và hương cốm cũng xa dần khỏi làng quê nghèo khó
ngày xưa. Bây giờ muốn ăn cốm chẳng khó. Ngoài chợ có đủ loại cốm, từ ngoài Bắc
chuyển vào, từ trong Nam đưa ra. Muốn ăn cốm Làng Vòng, chỉ cần một cú điện thoại,
vài ngày sau, người giao hàng đã mang đến tận nhà.
Thế nhưng, lạ
thay, cốm bây giờ có thể thơm, có thể đẹp, có thể được đóng gói cẩn thận, nhưng
tôi vẫn thấy thiếu một điều gì đó.
Ngày ấy, cốm mẹ
làm đâu có đẹp như cốm bây giờ. Hạt cốm có khi không đều, màu xanh cũng chẳng
thật óng. Mẹ làm bằng đôi bàn tay thô ráp, bằng cái nong, cái nia và bếp lửa
rơm rạ quê nhà. Vậy mà tôi ăn một lần thì nhớ cả đời. Giờ nghĩ lại thấy đó
không chỉ là cốm mà đó là những hạt nếp được chắt chiu từ đồng đất cằn cỗi, từ
cái nắng khô hạn, từ một cuộc đời lam lũ của mẹ. Và có lẽ, trong ký ức của tôi,
không có thứ hương nào thơm hơn hương cốm xưa của mẹ.
Mẹ đã đi xa.
Mảnh ruộng ngày
xưa cũng đã đổi thay. Những mùa lúa mới vẫn nối nhau xanh tốt. Những hạt cốm mới
vẫn được mang về từ muôn nơi. Chỉ có người mẹ năm nào là không thể trở về nữa.
Nhưng kỳ lạ thay, mỗi khi thu về, nghe đâu đó thoảng mùi lúa nếp mới, ký ức
trong tôi lại thức dậy. Mẹ để lại cho tôi một chút hương cốm trong ký ức, một
chút hương quê trong tâm hồn, để mỗi khi nhớ mẹ, tôi lại tìm về với những mùa
lúa của ngày tháng long đong. Mẹ đã đi qua những mùa Thu của đời mình. Còn tôi,
mỗi khi nghe gió heo may về, lại thấy như có một mùi hương quen thuộc len vào
ký ức. Trong đó có mồ hôi của mẹ. Có nắng hạn cháy đồng. Có những mùa nước lũ
tràn về. Có cả sự chắt chiu của một người mẹ luôn muốn dành cho con mình những
gì tốt đẹp nhất.
Nhớ về mẹ, và một
điều tôi không thể quên - Nhớ hương cốm xưa của mẹ.
Nguyễn Đại Duẫn
51, Nguyễn Hữu Cảnh
Thôn: Nam Quán
Hàu, xã: Quảng Ninh, tỉnh: Quảng Trị
ĐT: 0977194533
CHÙM THƠ LƯU LÃNG KHÁCH: Anh không là / Anh là thế
ANH KHÔNG LÀ
(Thương tặng Như Nguyện)
Cuối đông em gái nhỏ
Như một đóa tường vi
Dịu dàng bên lá cỏ
Thẹn thò nhường lối đi
Anh không là thiên tử
Đang ngự trị ngai vàng
Lòng đắm say xuân nữ
Dụ thần dân đón nàng
Anh không là viễn khách
Giữa đường chiều ngất ngây
Động lòng xuân háo hức
Vội dừng chân tỏ bày
Anh không là chiến tướng
Mù vó ngựa biên cương
Xả thân ngoài biên ải
Gặp nhành hoa bên đường
Anh không là thi sĩ
Bạc thếch áo phong trần
Tặng ai vàng thu cũ
Khi xuân kề gót chân
Anh! Hào hoa lãng tử
Anh! Là người yêu em
Quyết tặng ai áo mới
Đón một mùa xuân miên.
Giáp
Tết 1986
Duy
Toàn Chợ Chùa
(Lưu Lãng Khách)
ANH LÀ THẾ
Anh là thế! Gót phong trần lãng tử
Ngại giẫm đau hoa cỏ chốn trần gian
Anh là thế! Đã yêu là rất dữ
Ấm lúc trăng lên thắm buổi đêm tàn
Như sóng đại dương hùng hồn ào ạt
Cuồn cuộn sục sôi dũng mãnh dâng tràn
Như sa mạc chẳng bao giờ đã khát
Yêu tục phàm cháy rực mảnh hồn hoang
Nay gặp em thương lắm nàng thôn nữ
Má em hồng môi mắt chở xuân sang
Nay gặp em xin dừng chân cô lữ
Đốt cháy giai nhân dưới bóng đèn vàng
Anh là thế! Đã yêu là thể hiện
Thích là làm không ai cản được anh
Anh là thế! Khi tình yêu lên tiếng
Sẽ rước em không làm của để dành
Lấy anh nhé! Và chúng mình sẽ có
Một đàn con trai gái đủ đầy
Trai chớ giống cha gái cầu giống mẹ
Hạnh phúc ngập tràn mới ước đã say
Anh là thế! Suốt đời anh vẫn thế
Sóng biển xanh không mãi lặng bao giờ
Anh là thế! Xin làm chồng em nhé!
Tặng em cả lâu đài
hạnh phúc ở
trong thơ.
Đầu xuân
1986
Duy Toàn Chợ
Chùa
From:
Nguyễn Duy Toàn
luulangkhach@gmail.com
ĐỒNG TIỀN - Nguyên tác: Tiến sỹ MA Zaman Ahasanuzzaman, Bangladesh - Người dịch: Thi Lan Anh Tran, Germany
Tiến sĩ MA Zaman Ahasanuzzaman
ĐỒNG TIỀN
Thơ Sufi – Khúc ca Saki
Nguyên tác: Tiến sĩ MA Zaman Ahasanuzzaman
Bút
danh: Sufi Saki Jahangir
Sufi Saki Golarasharif Complex – Bangladesh
Người
dịch: Nhà thơ Thi Lan Anh Tran, Aschaffenburg, Germany
Tiền sinh ra bạc, bạc lại sinh tiền,
Thiếu tiền, nhân thế lắm nỗi truân chuyên.
Kiếp người tất tả bon chen xuôi ngược,
Tay trắng, đường đời lạnh lẽo triền miên.
Mê tiền khiến dạ người thêm mê muội,
Quên nghĩa, quên tình, quên cả thanh danh.
Đức tin phai nhạt, tâm hồn tăm tối,
Cuộc sống chông chênh giữa cõi mong manh.
Trong muôn thứ nghiện, tiền là mối
họa,
Gieo bao tội lỗi, khổ ải, lầm than.
Tiền mua gian trá, bạc bài, tửu sắc,
Đẩy kiếp con người vào chốn lầm than.
Tiền xây thánh điện, dựng nơi kinh
kệ,
Mở lớp truyền trao ánh sáng niềm tin.
Tiền nuôi cô nhi, chở che phận yếu,
Sưởi ấm lòng người giữa cõi lặng thinh.
Zakat, Fitra, bố thí, việc lành,
Bao điều nhân nghĩa cũng cần tiền bạc.
Người thân khốn khó, nếu ta ngoảnh mặt,
Tình nghĩa nhạt dần, lạnh tựa sương đông.
Muốn về hành lễ nơi miền đất thánh,
Cũng cần tiền lo vạn dặm đường xa.
Đường tu đôi lúc chẳng ngoài cơm áo,
Thiếu tiền, muôn nẻo hóa thành phong ba.
Tiền bên phải, tiền tràn sang bên
trái,
Như cỗ xe đời cuốn kiếp người đi.
Xe này vừa dứt, xe kia lại đón,
Mải miết trần gian, biết đến bao giờ?
Khắp chốn nhân gian, đâu vắng bóng
tiền,
Muôn tên muôn dạng, vẫn chung một quyền.
Đường đời in dấu bao mùa bạc đổi,
Tiền nối theo tiền, chẳng phút bình yên.
Con người đuổi bạc suốt đời vô vọng,
Tưởng nắm trong tay, lại hóa hư không.
Nào hay tiền bạc còn theo chân Saki,
Giữa vòng nhân thế, huyền nhiệm mênh mông.
Giữa tội cùng phúc, xin người suy
xét,
Cần đồng tiền, nhưng chớ để tâm tà.
Làm ăn chân chính, lòng vui vừa đủ,
Ấy điều Raji Jagat Sai hằng mong.
***
Bản phỏng dịch tiếng Việt từ nguyên tác Bengali (tiếng Bangladesh).
***
From:
Dipl.-Kauffrau Thi-Lan Anh Tran
LÀNG VĂN QUỸ TRONG TÔI - Người Hải Lăng
Làng Văn Quỹ trong tôi
Tôi xa quê đã hơn bốn mươi năm.
Bốn mươi năm, nghe thì dài như một đời người. Vậy mà lạ lắm, chỉ cần ai nhắc hai tiếng Văn Quỹ, lòng tôi bỗng mềm xuống như gặp lại bóng mạ đứng chờ con trước ngõ. Quê hương nhiều khi không cần hiện ra bằng hình hài rõ rệt. Chỉ một giọng nói Quảng Trị, một tiếng “răng”, tiếng “mô”, tiếng “chừ”, tiếng “rứa”, là cả một trời ký ức lại lặng lẽ trở về, ngồi xuống bên tôi như người bạn cũ.
Tôi sinh ra ở làng Văn Quỹ, xã Hải Tân cũ, nay là xã Nam Hải Lăng, huyện Hải Lăng cũ, tỉnh Quảng Trị. Một làng quê nhỏ thôi, không phồn hoa chi, cũng chẳng nổi danh bằng những điều lớn lao, nhưng với tôi, đó là chốn thiêng liêng nhất của đời mình. Nơi ấy có những con đường làng quen dấu chân người, có mái nhà thấp nép bên vườn, có tiếng gà gáy trong sương sớm, có bóng tre, bờ ruộng, có những mùa gió Lào thổi qua nghe khô cả lòng mà vẫn thương chi lạ.
Văn Quỹ quê tôi là làng của nón. Những chiếc nón trắng từng đi qua tay bao người phụ nữ quê nhà, nhẹ như một vầng trăng non, mà chứa trong đó biết bao nhiêu công sức và sự nhẫn nại của người làm ra nó. Tôi nhớ những buổi ngồi chằm nón, tay đưa kim qua từng lớp lá, mắt nhìn theo đường chỉ nhỏ mà lòng cứ mơ màng đâu đó ngoài đồng xa. Cây kim, sợi chỉ, vành tre, lá nón; toàn những thứ bình thường rứa thôi, nhưng khi vào tay người Văn Quỹ lại hóa thành vẻ đẹp dịu dàng. Chiếc nón không chỉ che nắng che mưa, mà còn che chở cả một phần hồn quê tôi.
Tôi nhớ Hải Tân những buổi sớm. Trời còn chưa sáng hẳn, làng đã thức dậy bằng những âm thanh rất đỗi thân quen. Tiếng ai gọi nhau ngoài ngõ. Tiếng bước chân đi chợ, đi đồng. Tiếng gió lùa qua mái tranh cũ. Tiếng đời sống quê nghèo bắt đầu một ngày mới bằng sự cần mẫn lặng thầm. Người quê tôi không hay nói lời hoa mỹ, nhưng cái tình thì sâu. Gặp nhau chỉ hỏi một câu: “Mi ăn cơm chưa? “Bữa ni mần chi? “Ở mô về rứa?” nghe mộc mạc mà ấm hơn bao nhiêu lời sang trọng.
Tuổi thơ tôi ở Văn Quỹ không đủ đầy, nhưng đẹp theo cách riêng của nó. Đẹp như một bông hoa dại mọc bên bờ ruộng, không ai chăm mà vẫn nở. Có những ngày làm ruộng, bàn chân lấm bùn, áo quần bạc màu nắng gió. Có những mùa trồng sắn, đi ngược từ Mỹ Chánh lên phía Tây Hải Chánh, đường xa ba bốn cây số, bụi đỏ bám đầy chân mà người vẫn cứ đi. Chừ nghĩ lại, tôi thấy những củ sắn, thửa ruộng, con đường rẫy ngày xưa không còn là nhọc nhằn nữa; chúng đã hóa thành hạt ngọc trong ký ức, càng xa càng sáng.
Tôi cũng nhớ những ngày đi làm thủy lợi ở đập Trấm, bên dòng Thạch Hãn. Con sông ấy trong trí nhớ tôi như một dải lụa dài vắt qua năm tháng. Nước cứ trôi, mây cứ bay, còn tuổi trẻ chúng tôi cũng trôi theo những ngày lao động giản dị. Không cần nói nhiều về cực khổ, vì đời quê hồi nớ ai mà chẳng từng nếm qua. Điều tôi nhớ hơn cả là tình người. Là lúc cùng nhau làm, cùng nhau nghỉ, cùng chia nhau hớp nước, củ khoai, củ sắn, câu chuyện. Cái nghèo có thể làm bữa cơm vơi đi, nhưng không làm lòng người quê tôi vơi nghĩa.
Văn Quỹ trong tôi còn là tiếng quê. Thứ tiếng nghe lên là biết người mình. Xa quê lâu rồi, giữa Hà Nội đông đúc, có khi nghe ai nói giọng Quảng Trị, tôi quay lại liền. Không biết người đó là ai, ở làng mô, xã mô, nhưng chỉ nghe tiếng “mạ”, tiếng “ba”, tiếng “o”, tiếng “eng”, tự nhiên thấy gần. Tiếng quê giống như sợi dây mềm buộc người xa xứ với nơi chôn nhau cắt rốn. Đi mô thì đi, ở mô thì ở, sợi dây ấy vẫn không đứt.
Có người hỏi tôi: xa quê hơn bốn mươi năm, nhớ nhất điều chi? Tôi cũng không biết trả lời răng cho hết. Nhớ làng. Nhớ nhà. Nhớ con đường đất. Nhớ mùi rơm. Nhớ vành nón. Nhớ gió Hải Lăng thổi hun hút qua đồng. Nhớ những buổi chiều đứng nhìn về phía xa, trời đỏ lên sau lũy tre, lòng con gái quê khi ấy còn trẻ mà đã biết thương đời, thương nhà, thương đất.
Quê hương lạ lắm. Khi còn ở đó, ta thấy mọi điều bình thường. Một bờ tre, một giếng nước, một lối ngõ, một phiên chợ, một tiếng gọi nhau cũng chỉ là chuyện hằng ngày. Nhưng khi đi xa, tất cả bỗng hóa thành báu vật. Cái bờ tre ngày xưa thành bóng mát trong lòng. Con đường đất cũ thành lối về trong mộng. Tiếng mạ gọi con thành âm thanh không chi thay thế được. Và làng Văn Quỹ nhỏ bé của tôi, càng xa lại càng lớn lên trong nỗi nhớ.
Tôi thương Văn Quỹ không phải vì quê tôi giàu sang. Tôi thương vì quê tôi đã ôm tôi vào lòng từ thuở lọt lòng. Thương vì đất ấy đã cho tôi tiếng nói, nết người, sự chịu thương chịu khó, sự thủy chung với nguồn cội. Thương vì nơi ấy có những người đàn bà chằm nón lặng lẽ như chằm cả ánh trăng vào đời. Có những người đàn ông chân chất, ít nói mà nặng nghĩa. Có những đứa trẻ lớn lên trong nắng gió, rồi đi xa, rồi suốt đời vẫn ngoái đầu về quê cũ.
Hải Lăng quê tôi là vậy đó. Nắng thì nắng đến cháy vai, mưa thì mưa đến thắt ruột, nhưng đất và người đều đằm sâu tình nghĩa. Cái tình ấy không phô trương, không nói lớn, mà thấm như nước mưa ngấm vào đất. Một lần chạm vào rồi thì cả đời khó quên. Cho nên, dù tôi đã sống ở Hà Nội hơn bốn mươi năm, đã quen với phố phường, với những mùa đông xứ Bắc, trong lòng tôi vẫn có một miền Hải Lăng rất rõ. Miền ấy có Văn Quỹ, có Hải Tân, có nón lá, có ruộng đồng, có rẫy sắn, có đập Trấm, có dòng Thạch Hãn, có bao nhiêu gương mặt thân quen của một thời không trở lại.
Chừ tuổi đã xế chiều, tôi không mong chi nhiều. Chỉ mong có dịp trở về, đi chậm trên con đường làng cũ, nhìn lại nơi mình từng lớn lên, nghe lại giọng quê mình giữa xóm. Muốn được đứng giữa Văn Quỹ mà hít một hơi thật sâu, để mùi đất, mùi gió, mùi rơm rạ, mùi lá nón ngày xưa lại ùa vào lòng. Muốn được nghe ai đó hỏi: “O Thơm về đó à?” chỉ một câu rứa thôi chắc cũng đủ làm mắt tôi cay.
Người ta có thể rời quê, nhưng quê không rời khỏi người. Quê nằm trong tiếng nói, trong dáng đi, trong nếp nghĩ, trong cả những giấc mơ bất chợt lúc đêm về. Với tôi, Văn Quỹ không chỉ là một làng quê trên đất Hải Tân, Hải Lăng. Văn Quỹ là chiếc nôi đầu đời, là vầng trăng cũ treo mãi trong tim, là nơi mỗi lần nhớ tới, lòng tôi lại nghe dịu xuống như được trở về ngồi bên hiên nhà xưa.
Văn Quỹ ơi, quê hương ơi, tôi đi xa đã lâu, nhưng chưa bao giờ thôi nhớ. Dẫu đời có đưa tôi qua bao nhiêu con đường, thì trong sâu thẳm, vẫn có một con đường nhỏ dẫn tôi về làng cũ. Ở cuối con đường ấy, có tiếng gió Quảng Trị thổi qua vành nón, có bóng mạ, bóng ba, có tuổi thơ tôi đứng đợi.
Và có một miền quê, nghèo mà đẹp, xa mà gần, lặng lẽ mà thương đến tận cùng.
Người Hải Lăng viết tặng cô @Ngô Thơm https://www.facebook.com/ngo.thom.5494 theo lời kể của cô thành lời văn.
Ảnh: Thanh Lê Đăng
CHÙM THƠ ĐÀM NGỌC NĂM: Xin anh đừng hỏi tóc em / Tuổi quê / Giao mùa
XIN ANH ĐỪNG HỎI TÓC EM
Ngày xưa em tóc ngang hông
Từ lúc lấy chồng, tóc ngắn dần đi
Hỏi em, em bảo có thì
Như thời con gái mấy khi được dài.
Chuyện mình, anh biết đấy thôi
Ta say nhau để rồi cưới ngay
Về làm dâu chỉ tình ngày
Cuộc đời con gái chia tay em rồi.
Vui được làm mẹ anh ơi
Vậy thì tóc ngắn, tóc dài việc
chi
Đời con gái phải có thì
Còn mái tóc phải có gì hả anh?
TUỔI QUÊ
Trăm năm trọn nghĩa anh em
Ngàn năm vẫn mãi tổ tiên, ông
bà
Xa quê, tình cảm nỏ xa
Muôn đời vẫn thế cây đa, mái đình.
Quê hương là chốn sinh thành
Là dòng máu, là nghĩa tình chẳng
phai
Bờ tre, giếng nước một thời
Đi vào tiềm thức những lời mẹ ru.
Quê hương là mãi tuổi thơ
Chia phe đánh trận, giấc mơ ngọt
ngào
Bao lần nằm ngắm trời cao
Thi nhau đếm vội ông sao đêm hè.
Quê hương là chốn ta về
Là nơi gặp lại tình quê một thời
Vẫn còn đó tiếng ầu ơi
Lời ru của Mẹ, cuộc đời của con
Quê hương là cả nước non
Mỗi dòng sông, mỗi con đường thuở
xưa.
GIAO MÙA
Mùa Đông đã về trước ngõ
Sao còn lưu luyến mùa Thu
Phải chăng mùi thơm hoa sữa
Níu em khoảng trời mộng mơ.
Trước nhà đông về gió lạnh
Vội vàng anh bước vào sân
Nghĩ người thương ra mở cửa
Trong ánh mắt xưa, rất gần.
Những ngày mình về chung sống
Em luôn sưởi ấm căn nhà
Mặc mùa Đông về giá buốt
Nên anh chẳng nghĩ rời xa.
Giao mùa, tiết trời se lạnh
Nhìn vào mái ấm thuở xưa
Nghĩ về lời em hay nói
Muốn ở bên anh bốn mùa.
Cả bốn mùa, từ Xuân - Hạ…
Ngày xưa em nói anh tin
Như tin chính lòng mình vậy
Nên Đông, muốn về cùng em.
Đàm Ngọc Năm
namdnvietsing@gmail.com
Friday, October 16, 2026
CHÙM THƠ LÊ THANH HÙNG: Điều gì ta nuối tiếc / Như một ngày đã cũ / Bến đời / Dấu lạ
Điều gì ta nuối tiếc
Ta đã từng có giấc mơ hoang
Dang tay với những điều không thể
Sao trúc trắc, quanh co như thế
Rũ nhàu trong lối sống cũ mòn
Giữ bên đời, trăm thứ trời ơi
Chật kín không gian, giăng bừa phứa
Sắp xếp lại, hẹn lần hẹn lữa
Cứ mông lung, toan tính vá trời
Còn lại gì, năm tháng quẩn quanh
Niềm phấn khích xem chừng quá vãng
Khi đã biết những điều giới hạn
Âm thầm treo dấu chỉ trưởng thành
Ngẫm nghĩ mình không được như em
Xếp gọn lại những điều không thể
Có nuối tiếc, giằng co chiếu lệ
Nhưng rạch ròi vệt sáng, vệt lem…
Chuyện chồng con, cuốn quýt vần xoay
Đâu có rảnh mà ngồi tư lự
Xa xôi lắm, một thời thiếu nữ
Chợt bâng quơ, nỗi nhớ lạc loài…
Như một ngày đã cũ
Gió chiều, miết mỏng miên man
Đồng sâu tàn ngày hắt sáng
Rựng chiều chút gì kiêu mạn
Tình xưa nay đã lỡ làng
Nhủ lòng nỗi nhớ hao vơi
Tất bật đường quê hoen nắng
Mờ cong chân ngày tĩnh lặng
Im nghe trĩu nặng bến đời
Đâu rồi ngọn gió ngày xưa
Vô tư đùa trên tóc rối
Dung dăng một thời son rỗi
Hồn nhiên, chín nắng mười mưa
Ơi ngày hoa mộng đã qua
Còn nguyên những lời hoa nụ
Của chiều, một ngày đã cũ
Hằn lên từng dấu kỷ hà…
Bến đời
Vụng về trôi
Qua bến thời gian
Dỗ dành rơi
Sợi nắng
Hanh vàng
Em góp nhặt
Những lời yêu cũ
Giũ phong sương
Khõa lấp
Đa mang
Dấu lạ
Em ngày xưa
Mắt biếc
Môi cong
Chiều đắm đuối
Hẹn hò như đã
Sao trúc trắc
Hoen mờ
Dấu lạ
Lẫn khuất trôi
Cái nhìn đếm đong
Lê
Thanh Hùng
Bắc Bình, Lâm Đồng
<lethanhhung4625@gmail.com>
ĐÔNG HÀ - MIỀN QUÊ THƯƠNG NHỚ - Thơ: Nguyễn Văn Trình

Công viên Cọ Dầu, Đông Hà
(bachhoaxanh.com)
Đông
Hà – miền quê thương nhớ
Nguyễn Văn
Trình
Đông Hà ơi, nhớ lắm những con đường
phố lên đèn, ấm áp những yêu thương
bốn phía vệ tinh về đây hội tụ
Đông Hà nhộn nhịp, lòng người vấn
vương
Phía Bắc Hồ Xá nghiêng mình đón nắng
phía Nam Triệu Phong, Quảng Trị thân
thương
Hải Lăng nối nhịp bao miền đất hứa
một dải quê nhà, nặng nghĩa quê hương
Phía Tây Can Lộ, Khe Sanh đón gió
Lao Bảo rộn ràng mãi đượm tình quê
Phía Đông Cửa Việt rì rào sóng hát
biển gọi Đông Hà tha thiết đường về
Chuông chùa Đại An, ngân vang sớm tối
tiếng mõ trầm tư, lối mộng hồn quê
chuông Nhà thờ rung bình minh thức
giấc
lời kinh dìu dịu níu bước người về
Tiếng còi tàu xuyên Việt vọng đê mê
nỗi nhớ niềm thương, nối những miền
quê
mỗi chuyến tàu qua mang bao nỗi nhớ
để Đông Hà chan chứa những vần thơ
Thạch Hãn, Hiếu Giang đôi dòng duyên
nợ
hai dòng sông ôm ấp phố Đông Hà
soi bóng nước xanh, soi hình phố xá
bồi đắp tình người, cả ước mơ xa
Đông Hà ơi, bao la niềm tha thiết
hội tụ nơi này, rạng rỡ tương lai
dẫu bước chân đi muôn dặm đường dài
nỗi nhớ đất này, nhớ mãi chẳng
phai...
NVT
Tác giả NGUYỄN VĂN TRÌNH
Bút danh: KATHI
Hội VHNT tỉnh Quảng Trị - ĐT 0914 415 931
Email: nguyenvantrinh58@gmail.com
Đ/C: 65B Đường Chu Mạnh Trinh, Phường Nam Đông Hà, tỉnh Quảng Trị
TÌM HIỂU VỀ HẬU CUNG NHÀ THANH: CHIẾC LỒNG VÀNG VÀ SỰ THẬT PHŨ PHÀNG ĐẰNG SAU MÀN ẢNH - Hoàng Thị Bích Hà

Vua Phổ Nghi - vị vua thứ 12 và là vị vua cuối cùng của triều đại Mãn Thanh.
Ảnh từ Wikipedia
TÌM HIỂU VỀ HẬU CUNG NHÀ THANH: CHIẾC LỒNG VÀNG VÀ SỰ THẬT PHŨ PHÀNG ĐẰNG SAU MÀN ẢNH
Lời mở đầu
Khi bước chân vào thế giới điện ảnh qua những
bộ phim cung đình nổi tiếng như Chân Hoàn Truyện, Diên Hi Công Lược hay Như Ý
Truyện, khán giả thường dễ bị mê hoặc bởi những khung cảnh lộng lẫy, những bộ
xiêm y rực rỡ và đặc biệt là những mối tình khắc cốt ghi tâm cùng các màn “cung
đấu” gay cấn, nghẹt thở. Phim ảnh dựa trên tư liệu lịch sử, nhưng từ chất liệu
đó có thể phóng tác hoặc lấy cảm hứng để dựng thành tác phẩm nghệ thuật. Dù yếu
tố lịch sử vẫn được đan xen, nhưng khi đối chiếu với các ghi chép lịch sử, văn
bản lưu trữ và tư liệu nghiên cứu chuyên sâu, góc nhìn của hậu thế sẽ nhận ra
một đời thực trần trụi và có phần phũ phàng hơn rất nhiều.
Những gì xuất hiện trên màn ảnh nhỏ thực chất
chỉ phản ánh một phần rất nhỏ, thậm chí đã được “làm đẹp hóa” và kịch tính hóa
để phục vụ nhu cầu giải trí. Mức độ tương đồng giữa phim ảnh và lịch sử thực tế
đôi khi chỉ chiếm một phần rất nhỏ. Hậu cung nhà Thanh không phải là chốn bồng
lai tiên cảnh cho những mối tình mộng mơ, mà là một bộ máy vận hành chính trị
nghiêm ngặt, nơi tình yêu là một thứ xa xỉ phẩm hiếm hoi và các phi tần thực
chất chỉ là những quân cờ trên bàn cờ quyền lực của hoàng tộc.
1. Quá trình hình thành và hệ thống thứ bậc
trong hậu cung
Hậu cung của các hoàng đế Trung Quốc qua các
triều đại đều quy tụ nhiều mỹ nhân tuyệt sắc, và nhà Thanh cũng không ngoại lệ.
Tuy nhiên, vào cuối thế kỷ 16, khi Nỗ Nhĩ Cáp Xích mới bắt đầu các cuộc chiến
tranh thống nhất các bộ lạc Nữ Chân, chế độ hậu cung bài bản vẫn chưa tồn tại.
Vợ của các Hãn vương lúc bấy giờ không có tước hiệu cố định, cũng không phân
định cấp bậc rõ ràng, tất cả đều được gọi chung là Phúc tấn (Fu Jin). Phải đến
khi Hoàng Thái Cực đổi quốc hiệu thành "Thanh", ông mới tiến hành một
loạt cải cách quan trọng, từng bước thiết lập chế độ phong kiến và đặt nền móng
cho hệ thống hậu cung trong cung cấm.
Trải qua thời gian, đặc biệt là sau thời vua
Khang Hi, chế độ điển lễ trong hậu cung đã trở nên vô cùng hoàn bị và nghiêm
ngặt (Quốc triều cung sử - Quyển 8; Thanh sử cảo - Quyển 214). Đứng đầu lục
cung là Hoàng hậu, người cư trú ở cung trung tâm để quản lý nội trị. Dưới Hoàng
hậu là một hệ thống định biên rõ ràng:
• Hoàng Quý phi: 1 người.
• Quý phi: 2 người.
• Phi: 4 người.
• Tần: 6 người.
Các vị trí từ Tần trở lên được phân bố sinh
sống tại Đông Tây thập nhị cung (Đông lục cung gồm: Cảnh Nhân, Thừa Càn, Chung
Túy, Diên Hy, Vĩnh Hòa, Cảnh Dương; Tây lục cung gồm: Vĩnh Thọ, Dực Khôn, Trữ
Tú, Khải Tường, Trường Xuân, Hàm Phúc) nhằm phụ tá Hoàng hậu quản lý nội cung.
Từ cấp Quý phi trở xuống, tước hiệu đều do Nội các soạn thảo, tiến dâng lên và
chờ vua chuẩn định sách phong.
Bên dưới cấp Tần là các bậc thấp hơn bao gồm
Quý nhân, Thường tại, Đáp ứng. Những tầng lớp này không có số lượng nhất định,
không có vị trí định sẵn, sống rải rác trong thập nhị cung và làm tròn các phận
sự nội cung theo sự phân công của chủ quản từng cung. Đi kèm với hệ thống thứ
bậc này là định biên cung nữ vô cùng chặt chẽ: Hoàng thái hậu có 12 cung nữ hầu
hạ, Hoàng hậu có 10 người, Hoàng Quý phi và Quý phi có 8 người, Phi và Tần có 6
người, Quý nhân có 4 người, Thường tại có 3 người và thấp nhất là Đáp ứng chỉ
có 2 cung nữ bên cạnh.
2. Chế độ Tuyển tú: Cửa ải chính trị và nỗi sợ
hãi của những thiếu nữ
Trong phim ảnh, việc tuyển chọn tú nữ thường
mang màu sắc của một cuộc thi nhan sắc nơi các cô gái khoe sắc để thu hút sự
chú ý của Thiên tử. Tuy nhiên, sự thật lịch sử hoàn toàn trái ngược. Mục đích
cốt lõi của tuyển tú không phải là tìm kiếm cái đẹp, mà là để bổ sung lực lượng
cho hậu cung hoặc gả cho con cháu hoàng tộc, chỉ hôn cho các Thân vương, Quận
vương và con cháu của họ nhằm củng cố liên minh chính trị.
Chế độ Tuyển tú được đặt nền móng dưới thời
vua Thuận Trị, sau khi ông trải qua cuộc hôn nhân không hạnh phúc vì Hoàng hậu
lúc đó do Nhiếp chính vương Đa Nhĩ Cổn chọn lựa từ nhỏ mà không qua tuyển lựa
công khai. Từ đó, ông quy định việc tuyển lập Hoàng hậu và thê thiếp cho hoàng
tộc phải được lựa chọn kính cẩn trong số con gái quan viên Mãn Châu và các quan
viên từ Bối lặc trở lên ở ngoài Mông Cổ.
Quá trình tuyển chọn giới hạn nghiêm ngặt
trong con gái của người Kỳ (Mãn Châu, Mông Cổ, Hán quân Bát kỳ). Thời Thuận Trị
quy định con gái Bát kỳ trong độ tuổi từ 14 đến 16 bắt buộc phải tham gia kỳ
tuyển tú diễn ra định kỳ 3 năm một lần. Đến thời Càn Long, quy định càng siết
chặt hơn: nếu vì lý do bất khả kháng mà lỡ hẹn, các cô gái bắt buộc phải tham
dự vào đợt tuyển kế tiếp. Việc tự ý gả chồng trước khi qua kỳ tuyển (dù đã
ngoài 20 tuổi) sẽ bị xem là phạm luật và xử phạt nặng nề. Tới cuối thời Quang
Tự, độ tuổi tham gia dao động từ 11 đến 20 tuổi.
Theo quan niệm truyền thống, "hiếu
sắc" bị xem là điều ô nhục, do đó các tiêu chuẩn công khai được đề cao là
phẩm hạnh và môn đệ (gia thế). Hoàng hậu Long Dụ dù dung mạo không nổi bật
nhưng vì là cháu gái của Từ Hi Thái hậu nên vẫn được lập làm Hoàng hậu; ngược
lại, Trân phi lọt vào mắt xanh của Quang Tự cũng nhờ vào gia thế hiển hách phía
sau.
Việc trốn tuyển tú mang lại hậu quả pháp lý
rất nặng nề. Dưới thời Càn Long, Tổng đốc Mân Chiết là Đức Bái từng bị vua
khiển trách và khép vào tội nghiêm trọng vì tự ý cho con trai kết hôn với con
gái của Tổng đốc Lưỡng Quảng Mã Nhĩ Thái mà chưa qua kỳ tuyển tú. Càn Long
khẳng định kỳ tuyển tú 3 năm một lần là để lo việc chung cho hoàng tộc và chư
vương, không phải đặc quyền riêng của cá nhân nào, đồng thời nhấn mạnh luật
pháp phải được tuân thủ nghiêm ngặt.
Dù triều đình có những chính sách hỗ trợ mang
tính "nhân đạo" như việc Càn Long ban hành quy định mỗi tú nữ khi đến
dự tuyển (dù quan to hay binh đinh) đều được thưởng một lạng bạc tiền xe, thì
thực tế đối với các thiếu nữ, khu vực tuyển tú lại mang đến sự sợ hãi và nước
mắt. Xa rời gia đình, bước chân vào cung cấm đồng nghĩa với việc đối mặt với
cảnh sống giam hãm suốt đời, ly tán tử biệt với cha mẹ. Thống kê qua 9 đời vua
từ Thuận Trị đến Quang Tự với hơn 80 lần tuyển tú ghi nhận có 214 vị hậu phi
được an táng. Tuyệt đại đa số họ phải trải qua cuộc đời không hạnh phúc, và khi
vua băng hà, những phi tần trẻ tuổi lại tiếp tục bị đưa vào các khu vực
"góa phụ" trong Tử Cấm Thành như Từ Ninh cung, Thọ Khang cung hay Thọ
An cung, vùi chôn tuổi thanh xuân bên những ngôi chùa trống vắng.
3. Đời sống khép kín và những lầm tưởng về
"sủng ái"
Khác xa với hình ảnh các phi tần tự do dạo chơi ngự uyển, tham gia các buổi tiệc trà hay lén lút hẹn hò với hoàng đế trong phim ảnh, hậu cung thực chất là một "nhà tù không song sắt". Các phi tần sống cách biệt hoàn toàn với thế giới bên ngoài, ngày qua ngày quẩn quanh trong khuôn viên chật hẹp với các nghi lễ chào hỏi, thêu thùa, đọc kinh Phật hoặc chờ đợi tuổi già trong vô vọng.
Chế độ ăn uống và sinh hoạt khắc nghiệt:
Để tuân thủ di huấn của tổ tông (Khang Hi, Càn Long) nhằm giữ gìn sức khỏe và
tránh lãng phí, hậu cung chỉ duy trì hai bữa ăn chính mỗi ngày (bữa sáng và bữa
chiều). Số lượng món ăn, lượng thịt, rau củ và định mức than sưởi mùa đông đều
được quy định chặt chẽ theo từng bậc tước vị. Phi tần cấp thấp đôi khi có điều
kiện sinh hoạt còn chật vật hơn cả một tiểu thư khuê nữ nhà giàu ở bên ngoài.
Sự thật về chuyện thị tẩm: Việc "được sủng ái" trên phim thường gắn liền với tình yêu lãng mạn, nhưng trong lịch sử, đó là một nghi thức mang tính chính trị và duy trì nòi giống tuân theo lịch trình, quy tắc cực kỳ ngặt nghèo. Mọi hành động của vua và phi tần đều được Kính Sự Phòng và thái giám ghi chép tỉ mỉ vào sổ sách (thời gian, địa điểm, ai canh giờ...). Đặc biệt, chỉ duy nhất Hoàng hậu mới được phép ngủ lại qua đêm cùng Hoàng đế. Các phi tần cấp dưới sau khi hoàn thành việc thị tẩm đều phải rời đi ngay lập tức theo lệnh của tổng quản thái giám nhằm ngăn chặn việc phi tần mê hoặc quân vương hoặc gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của Hoàng đế.
Hôn nhân và tình cảm của Hoàng đế: Mô-típ
"hoàng tử si tình sẵn sàng bỏ giang sơn vì mỹ nhân" hầu như không tồn
tại. Các hoàng đế nhà Thanh từ nhỏ đã được giáo dục trong môi trường khắc
nghiệt, khối lượng công việc phê duyệt tấu chương khổng lồ khiến họ không có
thời gian để "yêu điên cuồng". Hôn nhân của hoàng đế hoàn toàn do
Thái hậu hoặc các đại thần sắp đặt nhằm cân bằng các thế lực chính trị.
4. Bi kịch chia cắt mẫu tử và chiến trường
chính trị tàn khốc
Một trong những sự thật đau lòng và gây sốc
nhất trong hậu cung nhà Thanh chính là chính sách chia cắt tình mẫu tử. Các phi
tần sinh ra hoàng tử hoặc công chúa hầu như không có quyền trực tiếp nuôi nấng
con ruột của mình. Ngay từ khi còn rất nhỏ, các hoàng tử sẽ bị tách khỏi mẹ đẻ,
giao cho nhũ mẫu và thái giám chăm sóc tại khu vực riêng. Người mẹ chỉ được gặp
con vài lần trong năm dưới sự giám sát nghiêm ngặt.
Quy định này xuất phát từ hai mục đích lớn của
hoàng tộc:
1. Rèn luyện các hoàng tử theo những tiêu
chuẩn khắt khe nhất của hoàng gia từ thủa lọt lòng.
2. Phòng ngừa họa ngoại thích (gia tộc bên
ngoại thao túng triều đình). Triều đình lo sợ rằng nếu tình cảm mẹ con quá sâu
nặng, khi hoàng tử lên ngôi, gia tộc bên ngoại sẽ dựa vào thế lực đó để lũng
đoạn chính sự.
Do đó, việc sinh con trai đôi khi là con đường
duy nhất để phi tần cải thiện địa vị, nhưng đồng thời cũng đẩy họ vào bi kịch
cô độc khi phải chịu cảnh vắng bóng con trẻ bên cạnh suốt quãng đời còn lại.
Bên cạnh đó, hậu cung thực chất là một chiến
trường chính trị thu nhỏ. Những màn đấu đá, hãm hại lẫn nhau không đơn thuần
xuất phát từ sự ghen tuông vụn vặt, mà cốt lõi là cuộc tranh giành quyền lực,
ảnh hưởng giữa các phe phái Mãn - Hán hoặc giữa hoàng hậu và các thế lực phi
tần nhằm bảo vệ lợi ích gia tộc. Khi hoàng đế băng hà, những phi tần không nơi
nương tựa hoặc không có con hoàng tử thường phải đối mặt với cảnh sống cô độc
trong lãnh cung hoặc vào chùa quy y, khép lại quãng đời "nghỉ hưu"
không lối thoát trong lạnh lẽo.
5. Vai trò của Thái giám trong cấu trúc quyền
lực hậu cung
Hậu cung là nơi cấm tuyệt đối đàn ông bước
vào, ngoại trừ một nhóm người duy nhất là thái giám.
Điểm đặc biệt trong cấu trúc quản lý thời nhà
Thanh so với nhà Minh là người cai trị đã sáng tạo khi kết hợp chế độ quản lý
thái giám với chế độ quản lý Nội vụ phủ, bắt thái giám phải gia nhập Kỳ tịch
(chế độ nhập kỳ của thái giám cung Thanh). Hệ thống này được hình thành từ thời
vua Khang Hi và kéo dài suốt đến cuối thời Thanh dưới sự nghiên cứu và ghi nhận
của các học giả hiện đại (như tác giả Đằng Đức Vĩnh). Nhờ cơ chế quản lý chặt
chẽ này, nhà Thanh đã siết chặt kỷ luật đối với thái giám, trở thành lý do quan
trọng giúp triều đại này tránh được tình trạng thái giám lộng quyền, gây họa dữ
dội như đã từng xảy ra dưới triều đại nhà Minh. Dù phải trải qua quá trình tịnh
thân đầy đau đớn từ nhỏ để đánh đổi lấy một thân phận không có gia đình trọn
vẹn, các thái giám vẫn bị cuốn vào guồng quay quyền lực phức tạp của Tử Cấm
Thành.
Kết luận
Hậu cung nhà Thanh qua lăng kính lịch sử không
hề lung linh, lãng mạn như những thước phim truyền hình. Đó thực chất là một
"chiếc lồng vàng" được dệt nên bởi những quy tắc phong kiến nghiêm
ngặt, một công cụ chính trị tinh vi phục vụ cho sự hưng thịnh của hoàng tộc Mãn
Châu. Tại nơi đây, tình yêu chân thật là một điều xa xỉ không thể với tới, các
phi tần chỉ đóng vai trò là những quân cờ chính trị, và ngay cả những vị hoàng
đế tối cao cũng phải cúi đầu trước kỷ cương phép nước.
Việc các bộ phim ảnh "tô hồng" và
kịch tính hóa cuộc sống nơi cung cấm tuy mang lại giá trị giải trí cao, nhưng
lại vô tình che mờ đi hiện thực đầy cô đơn, hy sinh và tàn nhẫn của những người
phụ nữ từng sống trong Tử Cấm Thành. Nhìn nhận lại lịch sử qua những trang tư
liệu chân thực, hậu thế mới có thể thấu hiểu hết nỗi đoạn trường của những con
người chưa từng một lần được sống trọn vẹn cho riêng mình.
Saigon, ngày 23/4/2026
Hoàng Thị Bích Hà




