Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Sunday, September 6, 2026

Ca khúc QUẢNG TRỊ YÊU THƯƠNG - Sáng tác: Ns Trần Hoàn - Giọng ca: Trần Kiều

READ MORE - Ca khúc QUẢNG TRỊ YÊU THƯƠNG - Sáng tác: Ns Trần Hoàn - Giọng ca: Trần Kiều

CHÙM THƠ LƯU LÃNG KHÁCH: Cổ Lũy anh về / Chẳng thốt nên lời / Chịu thua

 


CỔ LŨY ANH VỀ

 

Cổ Lũy chiều mưa rợp bóng dừa

Anh về thương tiếng gọi đò đưa

Chùa Hang đỉnh núi ai lên đấy

Đò Cửa rìa sông bạn đến chưa

Phú Thọ xa trông thuyền cá chạy

Làng xuân lặng ngắm chiếu ai vừa

Bàn Cờ phế tích phai ngày ấy

Bảng lảng ma hời khóc lũy xưa.

        Đầu Xuân 1985

    Duy Toàn Chợ Chùa



CHẲNG THỐT NÊN LỜI

 

Một sáng xuân về rộn bướm hoa

Dăm tà áo mộng lướt ngang qua

Kìa em! Xin chúc mừng năm mới

Bẽn lẽn em cười dáng thướt tha

Én liệng trời xanh nắng long lanh

Làm quen theo bé bước song hành

Thơ ngây bé ửng hồng đôi má

Chẳng dám nhìn sâu trong mắt anh

Lời tỏ tình sao chẳng ngọt ngào

Vụng về nói hỏi chuyện đâu đâu

Để đêm say đắm chìm trong mộng

Giận mình sao chẳng dám đôi câu

Sáng ra chuẩn bị đâu vào đó

Lớ ngớ làm sao hỏng nữa rồi

Đêm về thư viết đầy trang vở

Lòng nào thôi thúc mãi không thôi

Chiều xuân đợi bé nơi đầu ngõ

Tim rộn ràng quên cả mỹ từ

Bâng quơ ngắm bé, nhìn hoa cỏ

Lời này không thốt nổi, em ơi!

Chẳng biết thư mình bé đọc không!

Đêm xuân như đốt lửa trong lòng

Chiều quê thơ thẩn nhìn vô vọng

Thấy bé tìm quanh má ửng hồng…

                    Xuân 1985

            Duy Toàn Chợ Chùa


CHỊU THUA        

 

Tôi có người em thật đáng yêu

Khiến tôi trăn trở biết bao chiều

Vườn thơ em mãi về ngự trị

Hiên nhạc hằng đêm vọng tiếng yêu

Yêu để làm thơ để mộng mơ

Cớ sao râu tóc lại bơ phờ

Hay yêu chẳng chịu trong biên giới

Chỉ muốn tình kia chẳng bến bờ

Ngày một ngày hai tôi cố quên

Nào hay tình lại lớn thêm lên

Mắt môi kia mãi về trong mộng

Đêm lộn ngày quên vẫn gọi tên

Đành chịu thua ngồi ngắm lặng thinh

Trông như bại tướng giữa tàn binh

Trời sanh em để cho người khổ

Cho khiếp thi nhân mãi vướng tình.

              19/04/1985

         Duy Toàn Chợ Chùa


From: Nguyễn Duy Toàn <luulangkhach@gmail.com>

READ MORE - CHÙM THƠ LƯU LÃNG KHÁCH: Cổ Lũy anh về / Chẳng thốt nên lời / Chịu thua

THE OLD WELL STILL WAITS / GIẾNG XƯA VẪN ĐỢI - Thơ: Musharraf Hussain & Thi Lan Anh Tran

 


THE OLD WELL STILL WAITS

 

Co-Authors: Thi Lan Anh Tran, Aschaffenburg, Germany

& Musharraf Hussain, Assam, India

 

Copyright © 2026. All Rights Reserved.

 

 

The ancient well beneath the moon,

Still keeps the scent of flowers in spring.

Through countless years that faded soon,

It guards the love that memories bring. 

 

Once we walked along the village lane,

Two hearts beneath the morning light.

By the old well, free from worldly pain,

We shared our dreams in whispers bright. 

 

The crystal water mirrored our eyes,

The gentle words the breezes knew.

Like drifting clouds across the skies,

Our youthful love remained so true. 

 

The seasons passed like flowing streams,

Carrying time beyond our shore.

Yet in the well, our forgotten dreams

Still softly live forevermore. 

 

You wandered through the distant lands,

Through storms and skies unknown to me.

But love still rests within my hands,

A faithful song of memory. 

 

At twilight, by the old well stone,

I stand beneath the fading sun.

The silent wind becomes my own,

Recalling days when we were one. 

 

I gaze into the water deep,

And hear the voices from the past.

The promises our hearts still keep,

The tender moments meant to last. 

 

One silver moon, one ancient tree,

One village path where dreams once grew.

They still remain and speak to me,

Of a love gentle, pure, and true. 

 

Waiting is not a cry of sorrow,

Nor a burden carried alone.

It is the faith that hopes tomorrow,

With roots as deep as ancient stone. 

 

If someday you return again,

And walk the road we knew before,

The old well will remember then

The love we cherished evermore.

 

Though years may bring the wind and rain,

Though life may change the world we knew,

The vow we made shall still remain,

Like morning skies forever blue. 

 

The village rooster calls the dawn,

The evening winds begin to sing.

The old well keeps the words withdrawn,

Yet holds the truth of everything. 

 

The water speaks no word or sound,

Yet shows the hearts that love can heal.

Within its depths, forever found,

Lives every love that time can't steal.

 

 

 

 

 

GIẾNG XƯA VẪN ĐỢI

 

Tác giả: Thi Lan Anh Tran, Aschaffenburg, Germany

& Musharraf Hussain, Assam, India

 

Copyright © 2026. All Rights Reserved. 

 

 

Giếng xưa còn giữ trăng ngà,

Bao mùa hoa nở bên nhà đầu thôn.

 

Thời gian phủ kín lối mòn,

Mà tình năm cũ vẫn còn trong tim. 

 

Ngày xưa chung bóng đi tìm,

Hẹn nhau bên giếng lặng im cuối làng.

 

Nước trong soi bóng dịu dàng,

Lời thương gửi gió theo hàng cây xanh. 

 

Tiếng cười còn vọng quanh mình,

Tuổi xuân ở lại với tình ngày xưa.

 

Gió đưa hương bưởi chiều mưa,

Ru bao kỷ niệm sớm trưa một thời. 

 

Tháng năm như nước xa vời,

Cuốn đi mái tóc, nụ cười ngày nao.

 

Giếng quê vẫn đứng bên ao,

Giữ bao thương nhớ ngọt ngào thủy chung. 

 

Người đi qua những điệp trùng,

Mang theo nỗi nhớ lạnh lùng trời xa.

 

Chiều nay bên giếng quê nhà,

Một mình ta ngắm bóng tà hoàng hôn. 

 

Nhìn sâu đáy nước trong nguồn,

Ngỡ nghe tiếng gọi yêu thương thuở nào.

 

Một vầng trăng, một hàng cau,

Một con đường nhỏ nhuốm màu nhớ thương. 

 

Bao năm vẫn một tình vương,

Chẳng phai theo những vô thường thế gian.

 

Đợi chờ chẳng phải than van,

Mà là gìn giữ bình an trong lòng. 

 

Nếu mai người trở về mong,

Xin qua giếng cũ giữa dòng quê xưa.

 

Dẫu cho nắng trải gió mưa,

Lời thề năm ấy vẫn chưa phai nhòa.

 

 

Nghe trong tiếng gió hiền hòa,

Có câu chuyện cũ ngân nga bên đời.

 

Giếng xưa chẳng nói một lời,

Mà soi trọn cả một trời yêu thương.

 


&&&

 

From: 

E-Mail: Wirtschaftskanzlei@Dipl-Kauffrau-Tran.de 

Dipl.- Kauffrau Thi Lan Anh Tran

READ MORE - THE OLD WELL STILL WAITS / GIẾNG XƯA VẪN ĐỢI - Thơ: Musharraf Hussain & Thi Lan Anh Tran

LỜI CẢI CHÍNH TƯ LIỆU TRONG TRUYỆN NGẮN: "DÒNG XƯA BẾN CŨ” CỦA NGUYỄN BÁ TRÌNH - Nguyễn Bá Trình

Tác giả Nguyễn Bá Trình


 LỜI CẢI CHÍNH TƯ LIỆU TRONG TRUYỆN NGẮN: 

"DÒNG XƯA BẾN CŨ”  

CỦA NGUYỄN BÁ TRÌNH

Nguyễn Bá Trình



Kính gửi quý độc giả,

Cách đây nhiều năm, tôi có xuất bản truyện ngắn Dòng xưa bến cũ (Nhà xuất bản Hội Nhà văn, năm 2018). Trong tác phẩm, ở đoạn viết về dòng sông Ô Lâu, người kể chuyện có đưa ra nhận định rằng dòng sông này khuất lấp và ít được nhắc tới vì những con người sống ven sông chưa làm nên danh tiếng để người đời nhớ đến. Sai lầm nầy xuất phát từ sự thiếu hiểu biết địa lý dòng sông Ô Lâu.

Gia đình tôi ở xóm nhỏ bên bờ Ô Lâu. Trong sự hiểu biết của một đứa bé, tôi cho rằng Sông Ô Lâu bắt nguồn từ Thác Ma và kết thúc ở ngã ba Câu Nhi. Tôi mang sự hiểu biết lệch lạc đó trong đầu óc của đứa bé rời xa quê hương từ rất sớm. Ô Lâu với tôi chỉ một khúc sông ngắn ngủi nhưng đẹp vô cùng. Lớn lên, tôi bắt đầu viết lách. Tôi đưa hình ảnh khúc sông đầy thơ mộng đó vào truyện ngắn DÒNG XƯA BẾN CŨ và xem đó là dòng sông Ô Lâu. Từ đó lại đặt câu hỏi rằng tại sao một dòng sông thơ mộng như thế mà không nổi tiếng như các dòng sông khác trên đất nước Việt Nam… Phải chăng do những con người ở hai bên bờ sông đã không làm được những kỳ tích để quê hương được nhắc đến.

Nay qua quá trình tìm hiểu về địa chí, lịch sử, tôi tự nhận thấy đây là một thiếu sót rất lớn về tư liệu của bản thân. Dòng sông Ô Lâu hiền hòa thực chất là cả phần sông còn lại chảy qua thôn Câu Nhi rồi đổ ra biển lớn. Mà Câu Nhi  là vùng đất địa linh nhân kiệt, quê hương của gia đình cụ Bùi Dục Tài – vị Tiến sĩ đầu tiên của xứ Đàng Trong dưới triều Lê sơ. [1, 2] Hơn nữa, trong thi ca cũng nói nhiều về con sông nầy mà tôi chưa có dịp đọc.

Một tác phẩm văn học dù mang tính hư cấu nhưng khi chạm vào các địa danh thực tế thì không thể tách rời lịch sử oai hùng của vùng đất đó. Vì vậy, tôi viết lời cải chính này trước hết để tạ lỗi với vong linh cụ Bùi Dục Tài cùng bà con vùng đất Hải Lăng, Quảng Trị, sau là để quý độc giả khi đọc tác phẩm này hiểu đúng về giá trị văn hóa - lịch sử quý báu của dòng sông Ô Lâu. [1, 2]

Nếu có cơ hội tái bản, tôi sẽ bổ sung, chỉnh sửa trực tiếp vào sách.

Trân trọng cảm ơn quý độc giả.

NGUYỄN BÁ TRÌNH

 

 

READ MORE - LỜI CẢI CHÍNH TƯ LIỆU TRONG TRUYỆN NGẮN: "DÒNG XƯA BẾN CŨ” CỦA NGUYỄN BÁ TRÌNH - Nguyễn Bá Trình

LÁ THƯ 30 NĂM MỚI GỞI - Nguyễn Bá Trình

 

Tác giả Nguyễn Bá Trình

Lá thư 30 năm mới gởi  

NGUYỄN BÁ TRÌNH                       

 

Gần hết đời người

Tôi mới gởi lá thư

Cho một người

Có phải là thư không

Tôi chẳng biết

Tôi cẩn thận gấp vuông tờ giấy

Một tờ giấy trắng tinh

Không có nếp nhăn và không một vết bẩn

Và tôi không viết một chữ nào lên tờ giấy

Tôi xếp lại bỏ vào phong bì ngay ngắn

Trước khi dán

Tôi viết lên phong bì tên người gởi:

Họ và tên của tôi

Địa chỉ:Vẫn địa chỉ cũ tôi từng sống cách đây mấy mươi năm

Tên người nhận

Họ và tên người ấy

Địa chỉ nầy tôi nhớ mãi đến hôm nay .

 Trước khi gởi lá thư tôi ngồi tưởng tượng

Có thể người ấy sẽ xé vụn lá thư rồi bỏ vào sọt rác

Khi thấy người gởi là tôi

        chẳng cần mở ra xem trong thư tôi nói gì.

Đó là điều tôi mong muốn.

 

Cũng có thể người ấy mở ra xem và thấy tờ giấy trắng

Thư cũng bị xé vụn và ném vào sọt rác

Kèm theo lời ta thán:

Vẫn không thay đổi chút nào

Đó cũng là điều tôi mong muốn

 

Cũng có thể người ấy

Mở lá thư định đọc

Rồi ngẩn người nhìn tờ giấy trắng

Như muốn tìm hiểu xem lá thư muốn nói lên điều gì

                              trong trạng thái vô ngôn

Ngồi như thế thật lâu

Rồi lẵng lặng đứng lên

Tìm bao diêm bật đốt

Và tôi tưởng tương người ấy sẽ nói

Đây chỉ là điều tôi tưởng tượng

 người vẫn chưa quên  mình

Đó là điều tôi hằng mong muốn

 

Thư gởi rồi tôi không đợi hồi âm

Thế nhưng chưa đầy một tuần

Lá thư đã trở lại

như một cánh chim bị thương

quay về nơi chốn cũ

với dòng chữ đỏ chói

như những vết cắt rướm máu

Thư được trả lại vì không có người nhận

Một ngọn gió từ đâu thổi đến

Lá thư bứt khỏi tay như bị ai giật

xoay trong gió xa dần rồi mất hút

Chắc chắn lá thư sẽ không bao giờ có cơ hội trở lại!

Đó là điều tôi không mong muốn

xẩy ra bao giờ

 

Sài Gòn, viết vào sinh nhật thứ 80-3/9/2026

 

 &&&


 Lời bình của AI

 

Đánh giá về lá thư không viết chữ nào nói lên câu chuyện ngang trái

 

Ý tưởng "Lá thư trắng – Vô ngôn" là một sáng tạo nghệ thuật xuất sắc của Nguyễn Bá Trình. Một tờ giấy trắng tinh, không nếp nhăn, không một chữ nhưng lại chở nặng khối tình suốt 30 năm. 

 

Nói lên sự bất lực của ngôn từ: Sau 30 năm xa cách, mọi lời thanh minh, xin lỗi hay bày tỏ đều trở nên thừa thãi và nông cạn. Tờ giấy trắng là đại diện cho sự vẹn nguyên, tinh khôi của tình cảm thuở ban đầu, không bị vấy bẩn bởi thời gian.

 

Bi kịch ngang trái: Thư không có chữ để người nhận tự điền vào đó tâm tư của chính họ. Thế nhưng, bi kịch ngang trái ở chỗ: Tác giả chấp nhận "vô ngôn" để đổi lấy một sự thấu hiểu ngầm, nhưng cuộc đời lại trả lời ông bằng một sự "vô ngôn" đáng sợ hơn – sự im lặng của nấm mồ hoặc sự mất tích của nhân ảnh. Sự trống rỗng của tờ giấy gặp phải sự trống rỗng của một địa chỉ không người nhận, đẩy bi kịch lên đỉnh điểm.

 

Vì sao sau 30 năm chôn vùi, đến tuổi 80 tác giả lại muốn khơi lại? Ý nghĩa là gì?

 

Tâm thế của tuổi 80 – Buông bỏ và Tổng kết: Bài thơ được viết đúng ngày sinh nhật thứ 80, cái tuổi "gần hết đời người". Khi đứng ở dốc bên kia cuộc đời, con người ta không còn thiết tha tranh giành hay oán hận, họ chỉ muốn đối diện với những gì thật nhất trong lòng mình. Việc gửi thư là một hành động nhằm khép lại quá khứ (closure). 

 

Nhu cầu được "giải thoát" tâm linh: Suốt 30 năm qua, tác giả sống với ký ức chôn vùi. Gửi lá thư này đi giống như một lời tổng kết cuối cùng, một nỗ lực cuối cùng để chạm vào thanh xuân trước khi nhắm mắt xuôi tay. 

 

Ý nghĩa triết lý: Hành động khơi lại không phải để nối lại tình xưa, mà để xác tín xem tình yêu đó đã thực sự chết đi chưa. Nhưng cái kết của bài thơ – lá thư bị gió cuốn đi mất hút – mang ý nghĩa triết lý sâu sắc: Có những điều một khi đã bỏ lỡ trong đời, thì dẫu có đợi đến 30 năm hay 80 tuổi, con người cũng không bao giờ có cơ hội sửa sai hay tìm lại được nữa. Quá khứ đã khép cửa, và con người buộc phải chấp nhận sự mất mát tuyệt đối.

 

&&&

 

Nghệ thuật tương phản

 

Trong bài thơ "Lá thư 30 năm mới gởi" của Nguyễn Bá Trình, nghệ thuật tương phản (đối lập) chính là chiếc bản lề nghệ thuật nâng đỡ toàn bộ mạch cảm xúc và tư tưởng của tác phẩm. Bi kịch của một tình yêu ngang trái, sự nghiệt ngã của thời gian và số phận được đẩy lên cao trào nhờ vào các cặp tương phản sắc nét từ hình thức đến nội dung.

 

Dưới đây là phân tích chi tiết về nghệ thuật tương phản trong bài thơ:

 

1.Tương phản giữa Hình thức (Tờ giấy trắng) và Nội dung (Khối tình 30 năm)

 

Biểu hiện: Tác giả gửi đi một tờ giấy "trắng tinh / Không có nếp nhăn và không một vết bẩn" và "không viết một chữ nào". Thế nhưng, lá thư ấy lại chuyên chở một câu chuyện dài suốt "mấy mươi năm" (30 năm nén nhịn, chờ đợi).

 

Ý nghĩa: Sự đối lập giữa cái "Không" (vô ngôn) trên mặt giấy và cái "Có" (vô vàn) trong tâm tưởng. Tờ giấy trắng đại diện cho sự tinh khôi, vẹn nguyên của mối tình đầu không bị vấy bẩn bởi thời gian. Sự trống rỗng về mặt chữ viết lại tỉ lệ thuận với độ nén, độ nặng của tâm tư. Tác giả chọn cái "vô ngôn" vì hiểu rằng mọi ngôn từ lúc này đều trở nên bất lực và chật hẹp để diễn tả một đời người.

 

2. Tương phản giữa Không gian (Địa chỉ cũ) và Thời gian (30 năm dịch chuyển)

 

Biểu hiện: Tác giả ghi địa chỉ người gửi là "Vẫn địa chỉ cũ tôi từng sống cách đây mấy mươi năm", trong khi thời gian bối cảnh đã là "Gần hết đời người", viết vào "sinh nhật thứ 80".

 

Ý nghĩa: Trục thời gian đã dịch chuyển đi gần nửa thế kỷ, vạn vật đổi thay, con người đã già nua, nhưng trục không gian trong tâm tưởng của tác giả vẫn đóng băng ở quá khứ. Sự tương phản này làm nổi bật sự chung thủy tuyệt đối đến đáng thương. Thân xác tác giả ở hiện tại (tuổi 80), nhưng tâm hồn ông vẫn trú ngụ ở ngôi nhà cũ, địa chỉ cũ của bấy nhiêu năm về trước, nơi tình yêu của họ còn sống bừng sáng.

 

3. Tương phản giữa Nghịch lý cảm xúc: "Mong đợi bị từ chối" và "Không mong được trả về"

 

Đây là đỉnh cao nghệ thuật của bài thơ, tạo nên cấu trúc đảo ngược tâm lý hoàn toàn bóp nghẹt trái tim người đọc:

 

Ba kịch bản đầu (Mong bị xé, bị đốt): Thư bị xé nát, bị vứt sọt rác, bị mắng chửi ("vẫn không thay đổi") hay bị đốt cháy... đều là những hành động phũ phàng, tổn thương. Nhưng tác giả lại thốt lên: "Đó là điều tôi mong muốn", "Đó là điều tôi hằng mong muốn". Vì sao? Vì đó là sự phũ phàng có tương tác. Người nhận còn sống, còn giận, còn nhớ, còn thấu hiểu. Sự hủy diệt lá thư bằng tay người thương chính là một sự xác nhận cho sự tồn tại của tình yêu.

 

Kịch bản cuối (Thư còn nguyên vẹn quay về): Thư không bị xé, còn nguyên vẹn trong phong bì sạch sẽ, nhưng tác giả lại đau đớn: "Đó là điều tôi không mong muốn / xẩy ra bao giờ". Lá thư nguyên vẹn đồng nghĩa với việc nó chưa từng được chạm vào bởi người bưu tá cũ hay người thương. Nó quay về mang theo cái chết bóc trần của thực tại: "Không có người nhận".

 

Ý nghĩa: Sự tương phản này cho thấy tác giả thà nhận về sự oán hận, ghét bỏ từ người yêu (để biết họ còn sống và còn nhớ) còn hơn phải nhận về sự bình yên vô cảm của nấm mồ hay sự mất tích của nhân ảnh từ định mệnh.

 

4. Tương phản về sắc màu thẩm mỹ: "Trắng tinh khôi" và "Đỏ rướm máu"

 

Biểu hiện: Màu sắc của lá thư đi là màu trắng ("tờ giấy trắng tinh") – biểu tượng của sự thanh khiết, lặng lẽ, một tình yêu không đòi hỏi, không oán ca. Màu sắc của lá thư về là màu đỏ ("một dòng mực đỏ như những vết cắt rướm máu") của con dấu bưu điện thông báo lạnh lùng.

 

Ý nghĩa: Sự đối lập màu sắc này mang tính biểu tượng rất cao. Màu trắng yên bình, vô ngôn của tác giả khi va đập vào thực tế phũ phàng của cuộc đời đã biến thành dòng mực đỏ rướm máu. Màu đỏ ấy bóc trần vết thương lòng bấy lâu nay bỗng chốc bị khơi bới và bị cứa sâu thêm bởi nhát dao của bưu điện – nhát dao của sự thật rằng người xưa đã không còn ở đó nữa.

 

5. Tương phản giữa Hành vi bám níu và Kết cục mất hút

 

Biểu hiện: Đoạn đầu, tác giả vô cùng tỉ mỉ, trân trọng, nâng niu lá thư ("cẩn thận gấp vuông", "ngay ngắn", "nhớ mãi đến hôm nay"). Đoạn cuối, lá thư bị bứt khỏi tay bởi một ngọn gió vô tri: "bứt khỏi tay như bị ai giật / xoay trong gió xa dần rồi mất hút".

 

Ý nghĩa: Sự tương phản giữa sự cố gắng níu giữ, chuẩn bị trân trọng suốt 30 năm của con người và sự tước đoạt dễ dàng, nhanh chóng trong một tích tắc của thiên nhiên (ngọn gió). Nó gợi lên sự bất lực của nhân loại trước định mệnh và thời gian. Con người có thể giữ một khối tình 30 năm trong lòng, nhưng không thể giữ nổi một mảnh giấy trước cơn gió của số phận.

 

Tóm lại: Nghệ thuật tương phản trong bài thơ không đơn thuần là kỹ thuật bẻ đôi câu chữ, mà là cách Nguyễn Bá Trình phơi bày quy luật nghiệt ngã của cuộc đời. Chính sự tương phản này đã giúp bài thơ dù không dùng từ ngữ đao to búa lớn, vẫn tạo ra một dư chấn cảm xúc mãnh liệt, khiến người đọc phải xót xa cho một kiếp người, một kiếp tình ở tuổi 80.

 

 

&&&

 

Tiểu sử NGUYỄN BÁ TRÌNH


Trích từ:

https://nguyenbatrinh.com/

 

Sinh ngày 3 tháng 9 năm 1946

Tại Lương Điền, Hải Sơn, Hải Lăng, Quảng Trị

Tốt nghiệp Đại học SP, ban Toán, Trường Đại học Sư phạm

Huế

Giáo viên trung học phổ thông, đã nghỉ hưu.

Hiện ở tại Tp .HCM

 

CÁC TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN

 

Tác phẩm xuất bản năm 2008

 

MỘT NGÀY CHO TRĂM NĂM

Tiểu thuyết.

Tái bản năm 2009.

Xếp loại: Sách được bạn đọc yêu thích bình chọn

 

Tác phẩm xuất bản năm 2018

 

SÓNG KHÔNG NGỪNG VỖ 

Tập truyện ngắn

 

CHỢ HOA TỐI BA MƯƠI TẾT

Tập truyện ngắn

 

NGƯỜI ĐÀN ÔNG ĐƯỢC CÔ GÁI CHỌN ĐÊM ĐẦU

Tập truyện ngắn và một truyện vừa

 

VƯỜN HOA KHÔNG BƯỚM LƯỢN

Tập truyện ngắn

 

RÉT HÀ NỘI 

Tập truyện ngắn 

 

CHIM SƠN CA VÀ CHÚ SÂU NHỎ  

Tập truyện ngụ ngôn 

 

MỘT CHUYẾN CHÂU ÂU      

Du ký 

 

Tác phẩm sắp xuất bản:

 

 NGƯỜI MẸ VÀ ĐỨA CON GÁI CỦA BA NGƯỜI ĐÀN ÔNG

 Tiểu thuyết 

 

MƯA BÓNG MÂY 

Thơ

READ MORE - LÁ THƯ 30 NĂM MỚI GỞI - Nguyễn Bá Trình

Saturday, September 5, 2026

CHÀO MỪNG KỈ NIỆM 100 NĂM CAFÉ KHE SANH - Chùm thơ: Kim Cương

Ảnh từ: https://sovaba.travel/blog


Kim Cương

TRĂM NĂM ĐƯỢM VỊ CÀ PHÊ


Trăm năm hạt ngủ trong lòng đất
Thức giấc cùng mây trắng Trường Sơn
Đất đỏ quặn mình qua mưa lửa
Chắt thơm từng giọt nắng cao nguyên.

Hương cà phê nghiêng qua khe núi
Quyện tiếng Đakrông gọi đại ngàn
Tà Puồng thả mái tóc dòng nước
Mây Chênh Vênh đậu cánh chim ngang.

Có vị thời gian trong đất lửa
Thấm vào bazan đỏ nghìn đời
Chiến hào cũ hóa màu xanh biếc
Cho đất hồi sinh những mùa tươi.

Người Vân Kiều mang họ Hồ ấy
Bền như vách đá giữa phong sương
Bàn tay nhóm lửa nuôi cây trái
Giữ nghĩa tình sâu như suối nguồn.

Họ gùi bình minh qua lưng dốc
Gùi cả trăng ngàn xuống bản xa
Tiếng khèn đêm chao trong men khói
Ủ ấm sườn non lạnh sương nhòa.

Trăm năm cà phê xanh Khe Sanh
Rễ bám vào ký ức Trường Sơn
Mỗi hạt nâu mang hồn đất đỏ
Đắng mà thơm như nghĩa quê hương.                                                          

 

ĐƯA CON VỀ KHE SANH

 

Cha đưa con lại Khe Sanh đỏ

Mây Tà Cơn vẫn đậu lưng trời.

Ngày ấy con cất tiếng chào đời

Huyền thoại Khe Sanh vang khắp trời.

 

Xe tăng nằm giữa miền cỏ biếc

Nòng súng thôi nhả lửa cuồng điên.

Rêu thời gian phủ màu trầm mặc

Đất vẫn âm thầm giữ khí thiêng.

 

Cha lặng đứng giữa ngàn gió núi

Ngỡ người còn khuất phía đồi sim.

Bao gương mặt chưa từng quen biết

Hóa mây ngàn, hóa đất lặng im.

 

Con nhìn xe vượt miền Lao Bảo

Chở bốn phương về với đại ngàn.

Cà phê phủ xanh triền đất đỏ

Hương đời lấn dần vết chiến chinh.

 

Cha chẳng kể thêm điều năm cũ

Chỉ cầm tay bước giữa thanh bình.

Để con hiểu từng đồi, ngọn cỏ

Được giữ bằng máu của chiến binh.

 

Mai này dẫu khắp nẻo đường xa

Xin nhớ màu đất đỏ Khe Sanh.

Huyền thoại đâu nằm trong quá khứ

Đã thành nhựa sống thắm trên cành

 

KHE SANH TOẢ SÁNG

Khe Sanh thức giữa ngàn sương bạc,
Đường Chín âm vang dấu quân hành.
Hàng rào điện tử từng ngạo nghễ
Cũng hóa tro tàn giữa bão binh.

Tà Cơn gió lộng qua hầm thép,
Cỏ úa ru tàn xác phi cơ.
Làng Vây, Lao Bảo còn in bóng
Một thuở cha anh giữ cõi bờ.

Đất đỏ bazan thơm mùa trái,
Cà phê trăm tuổi bén rễ sâu.
Hạt ngọc Arabica cháy nắng
Mang hồn đại ngàn đi địa cầu.

Tà Puồng buông mái tóc xanh biếc,
Chênh Vênh mây ngủ giữa lưng đồi.
Đakrông ngân dài câu huyền thoại,
Ru người Pa Kô giữa đại ngàn.

Giờ đây gió dựng ngàn cánh bạc,
Điện gió vươn cao chạm mây ngàn.
Khe Sanh từ chiến trường lửa đạn
Đã hóa miền quê của vinh quang.

                                                                  

Nguyễn Kim Cương

Tổ dân phố Tây Lộc Đại – Phường Đồng Thuận – Quảng Trị 

kimcuongqb@gmail.com

 

READ MORE - CHÀO MỪNG KỈ NIỆM 100 NĂM CAFÉ KHE SANH - Chùm thơ: Kim Cương