Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, May 4, 2026

CÔ KIM SA - Lê Văn Trạch



 CÔ KIM SA

 

Cô Trương Thị Kim Sa sinh quán tại Huế, năm 21 tuổi, đến Trường Nguyễn Hoàng và chỉ một niên khóa, Cô trở lại quê dạy Trường Kiểu Mẫu. Hình như Cô là vị nữ giáo sư tốt nghiệp đại học sư phạm toán đầu tiên của Trường Nguyễn Hoàng, do vậy khi đáo nhận nhiệm sở, Cô được phân công phụ trách dạy toán lớp đệ nhị của tất cả các ban. Tiểu sử của Cô chỉ có thế, thoắt đến, thoắt đi, không để lại dấu ấn cụ thể nào cho Trường cũ. Theo dõi sách báo Nguyễn Hoàng xuất bản 10 năm trở lại đây, không thấy nhắc đến tên Cô. Có thể nói Cô là một giáo sư ít được biết đến và nhớ!

Cô phụ trách lớp chúng tôi mỗi tuần chỉ có một giờ, thời điểm đó lại bãi khóa liên miên, nên cộng lại cả năm học chẳng có là bao, bởi thế vài bạn "quậy" trong lớp ví von rằng môn Toán đối với Ban C chúng ta cứ như là một loại "mỹ phẩm" trang điểm cho cuộc đời học trò ... 

Vào một ngày trong tuần lễ đầu tiên của năm học 1964 - 1965, sau khi chúng tôi đã vào chỗ, từ cửa chính, một cô giáo rất trẻ, trong chiếc áo dài lửng màu tím nhạt, mang kính trắng nhẹ nhàng bước vào. Sau khi bỏ chiếc cặp trên bàn, Cô nhìn xuống, có thể để chuẩn bị cất lời chào, cùng lúc ấy, từ cuối lớp, nhiều tiếng cười nổi lên rồi lan rộng ra. Cô bình thản hỏi: Các anh chị cười xong chưa? Người nào cười giỏi nhất lên đây cười thi với Cô. Cả lớp đột nhiên im phăng phắc và từ đó không bao giờ có tình trạng như thế xảy ra nữa . Tôi chăm chú nhìn Cô, hình như sau vóc dáng mảnh khảnh trẻ trung của một cô giáo mới ra trường, đang tiềm ẩn phong thái an nhiên tự tại đầy ắp bản lãnh và sự tự tin!?

Ngày tháng sau đó là những giờ học nghiêm túc, mặc dầu thời khóa khiêm tốn, nhưng Cô có cách để chúng tôi hiểu được bài học, thông cảm và rất thương học trò, chả thế mà có lần Nguyễn Ngọc Hùng trong kỳ thi Lục cá nguyệt, thay vì làm toán, anh lại làm thơ, Cô vẫn cho điểm trung bình.

 Rời trường, lăn lộn với cuộc đời, thường xuyên đối mặt với bao điều bất trắc, ít có lúc nghĩ đến những ngày tháng trên sân trường, bạn học mỗi người một ngả, chỉ thoáng gặp nơi nào đó, không có thì giờ và điều kiện để nhắc nhở tâm sự.

Sau cuộc chiến, chính những lúc ở trong trại giam, đầu óc mới rảnh rỗi, tự do để nhớ ra và tìm lại những chuyện đã qua, khi ý tưởng dừng lại ở trường xưa, ngoài khuôn mặt của một số bạn thân tình, lạ thay, bóng dáng Cô Kim Sa lại xuất hiện, vẫn vóc dáng và phong cách ấy. Ngoài kia, mọi người đang khốn khó, lo lắng đủ điều, Cô Giáo mình sống ra sao, tự nhiên tôi nghĩ dù ở trong môi trường nào, Cô cũng có cách sống riêng, biết cách xoay sở để hòa nhập ...bỗng dưng trong tôi hình thành một tâm nguyện: Như thế nào đó để một lần được gặp Cô.

Ý nguyện này càng lớn mạnh khi ra nước ngoài: Trong những lần hội ngộ hay qua sách báo, có dịp là hỏi: Cô đang ở đâu? Trong hay ngoài nước, nhưng không có câu trả lời. Mãi cho đến năm 2009, có người mách bảo đã thấy Cô ở Houston trong Lễ Hội Quan Âm tại chùa Việt Nam và hình như Cô đang làm Phật sự tại đây, nhưng khi liên lạc được với chùa thì Cô không còn ở đây nữa!

Cuộc tìm kiếm tiếp tục, lần này tôi nhờ Quý Thầy sinh hoạt trong Hội Quốc Học Đồng Khánh và Quý Cô Giáo Nguyễn Hoàng, cuối cùng Cô Phan Thị Lan, người dạy tôi những năm Đệ Lục, Đệ Ngũ đã cho số điện thoại ...

Một ngày giữa năm 2010, vừa bấm số, tay vừa run với nhiều cảm giác xen lẫn, bởi vì biết mình sắp có phút giây đặc biệt, điểm đến của ước nguyện . Lời đầu tiên, chưa kịp chào, tôi buột miệng: "Thưa Cô, em tìm Cô bao nhiêu năm nay."  Cô ngạc nhiên, im lặng, nghe trình bày ...

Mười mấy năm dạy học, với hàng ngàn học trò ... nhưng khi nghe nhắc đến những sự kiện, những khuôn mặt ngỗ nghịch trong một lớp chỉ có ba mươi mấy học sinh, với mấy mươi giờ phụ trách làm cô xúc động !

Lần tiếp xúc đầu tiên ấy đã khai mở cho quan hệ thân tình sau này, những lúc rảnh rỗi hay đang dừng chân ở một sân bay nào đó, Cô lại gọi . Cô bảo là ít khi nói chuyện với ai lâu, nhưng với Em, lắm lúc lại sa đà vào câu chuyện và chia sẻ nhiều điều mà không phải với ai Cô cũng bày tỏ . Dần dần những băn khoăn của tôi được sáng tỏ: hình như Cô đã vạch ra cho mình những tiêu chí về cuộc sống, cân nhắc hình thành một phương trình, cứ theo đó mà đi trên căn bản nhân sinh quan, lấy đạo lý nhân bản và chủ quyền làm trọng, bởi thế khi thấy cuộc đời manh nha chuyển qua giai đoạn " chênh vênh, khập khiễng " Cô đã quyết định làm Người Mẹ độc thân và mang hai đứa con còn rất nhỏ vượt biên, đó là động thái có tính cách đánh đổi để có được sự tự do trong cuộc sống và cũng là thái độ bảo vệ nét đặc thù của mình mặc dầu Cô phải trải qua thời gian dài gặp muôn vàn khó khăn để hội nhập . Cũng từ đó, Cô chú tâm nghiên cứu và tu tập Phật Pháp, lấy giáo lý Đạo Phật để chiêm nghiệm và đối chiếu với cuộc đời của mình và ngộ ra một điều: Những oan trái gặp phải là những điều phải đến trong một kiếp người bởi đó là một chuỗi diễn tiến của Nghiệp lực và Nhân quả, phải biết nhận diện khổ đau, xuyên qua nó để có những phút giây an lạc trong giờ phút hiện tại, luôn phải tỉnh thức để có chánh niệm . Cô chia sẻ năng lượng ấy cho những người chung quanh bằng những việc làm thiết thực, dành nhiều thời gian cho công tác từ thiện hoặc tâm tình với Quý Thầy Cô giáo cũ của Cô, tuổi già đang cần tâm sự, chia sẻ . Cô kể rằng có vị Thầy rất mê đá banh, nên phải tìm hiểu qua tài liệu và bạn bè để có thể tường trình World Cup cho Thầy nghe.

Cô đang có cuộc sống thật bình dị tại thành phố biển, miền Nam nước Mỹ để chăm sóc cháu và chăm sóc Thân Tâm mình, lý giải cho cuộc tiếp xúc này, Cô nửa đùa nửa thật : Có lẽ ở một kiếp nào đó Cô - Trò ta đã quen biết, những giờ phút ngắn ngủi ở Trường Nguyễn Hoàng là tín hiệu để sau này nhận diện khi đủ duyên, tâm nguyện của Em được hình thành bởi khi Em khởi điều ấy ra với cả tấm lòng thiết tha thì cũng như đã tạo một nhân lành để hôm nay gặt quả tốt ... Tôi kiểm chứng và đối chiếu với bản thân: Điều này cũng đã xảy ra với một Cô Giáo Đệ Nhất Cấp và một phụ nữ khác - vợ người bạn tù - ngày trước là Giáo Viên, đã xin đi kinh tế mới gần trại giam và tình nguyện chăn bò để thỉnh thoảng nhìn thấy chồng hoặc tiếp tế khoai sắn cho chúng tôi . Tôi đã tìm gặp, ở một tiểu bang xa xôi miền Đông nước Mỹ.

Chưa có dịp được gặp, những lúc có điều gì vui, Cô lại gọi. Đó là thời điểm thật an lạc. Cuộc đối thoại thật tự nhiên. Chúng tôi đề cập đến nhiều vấn đề. Cô nói đó là những bổ sung nhận thức.

Trên bục giảng, Quý Thầy Cô đã trao truyền cho chúng ta kiến thức cần thiết như là hành trang vào đời, nhưng có những điều không ghi trong bài học, tùy mỗi người cảm nhận, bắt gặp và giữ lấy từ phong thái và cách ứng xử của Thầy Cô nào đó, không hẳn vị ấy là Giáo sư Cố vấn hay dạy những môn chính. Tôi trình bày điều này với vị Thầy dạy Đệ Lục với ngôn ngữ thực tế rằng: Em đã "học lóm" ở Thầy nhiều điều bổ ích khi ứng phó với những rắc rối gặp phải . Chữ nghĩa thu thập được ở nhà trường đã tiêu hóa, hòa tan trong bể tích lũy kiến thức, không thể nhận biết, nhưng bản tính và phong cách của Quý Thầy Cô đôi khi hiện ra rất rõ và có ảnh hưởng, tác động nhất định.

Xin cảm ơn Cô Kim Sa về cuộc trùng phùng với những trao đổi bổ ích. Bước chân Cô đã trải trên những “dặm dài nhân thế” đầy cay đắng và bất trắc, nhưng bằng nghị lực và niềm tin Tôn giáo, Cô đã đi qua một cách bình thản mà không phải người phụ nữ nào cũng làm được . Đó là món quà thiết thực quý báu em nhận được sau bao năm băn khoăn, thắc mắc tìm kiếm. Giờ đây, lòng em thật thanh thản .

Một lời - có thể là thừa - nhưng em xin cầu nguyện cô có được tất cả sự bình an trong những ngày cuối đời .

 

Memphis TN, tháng 7 / 2011

Học trò Lê Văn Trạch

le.trach@yahoo.com

http://trachcamlo.blogspot.com

 

READ MORE - CÔ KIM SA - Lê Văn Trạch

Sunday, May 3, 2026

CÙNG THÁNG TƯ LỊCH SỬ / GÓP LỜI BẢN HÙNG CA / VIỆT NAM ƠI - Chùm thơ Lưu Lãng Khách

 



CÙNG THÁNG TƯ LỊCH SỬ


Tháng tư lại về trong tươi thắm cuối xuân

Trong cờ đỏ tung bay khắp gầm trời tổ quốc

Anh chợt thấy mình đi giữa đoàn quân

Tiến về Sài Gòn bốn chín năm về trước

Đại thắng mùa xuân bảy lăm, anh nào đã biết gì

Mà trong tim mãi âm vang bản hùng ca đất nước

Bản hùng ca ngân nga,sống dậy bóng cha ông thuở trước

Hiển hách chiến công vang dội đến muôn đời

Cho em thơ ngủ say trong lời ru của mẹ

Cho chuyện cổ của bà được kể khắp muôn nơi

Cho hạt gạo một nắng hai sương trắng thêm bàn chân trẻ

Cho lũy tre cánh đồng mãi vọng những lời ca

Cho xóm làng anh chưa được sinh ra

Sướng chị thôn trinh vui anh thợ máy

Cả giang sơn chuyển mình lớn dậy

Bao cá chim bơi lượn khắp nước trời

Chủng tử sanh ra anh nào đã có em ơi!

Mà Đinh – Lý – Trần – Lê, anh tự hào lắm lắm

Trước Bạch Đằng Giang thấy bóng thuyền giặc đắm

Thấy tàn quân kinh tâm tán đởm chạy có cờ

Trước hào khí Lam Sơn anh lại rạng ngời

Cười bạt vía quân Minh, trỗi tự hào dân tộc

Trước Quang Trung, cuộc hành quân thần tốc

Ngọc Hồi – Đống Đa, cùng ca khúc khải hoàn

Anh lại về Tây Sơn đứng hát hân hoan

Lại nghe âm vang bản hùng ca đất nước

Này em! Hãy đến bên anh, ta cùng chung bước

Cho tháng tư lịch sử thắm ngời, cho tổ quốc trường xuân.

                               05/04/2024

                             Lưu Lãng Khách



GÓP LỜI BẢN HÙNG CA

 

Phải chăng từ trước cha Lạc mẹ Âu

Ông cha ta đã làm nên đất nước

Bằng máu- mồ hôi- nước mắt, trên cả bốn ngàn năm

Qua bao phen lỡ bồi mất được

Mới có hôm nay đời rạng ánh trăng rằm

Mới có hôm nay đẹp hình hài gấm vóc

Linh hồn dân tộc mãi được thắp lên

Rực lửa bếp Việt Nam tự hồi khai quốc

Trời đất bao la đầy hoa thơm quả ngọt

Nam Bắc điệp trùng tổ quốc nở đầy thơ

Anh như con chim nhỏ cất cao tiếng hót

Trong bầu trời thi ca đang rực rỡ sắc màu

Cho rừng biển mênh mông non sông bát ngát

Giàu đẹp rạng ngời lung linh mãi ngàn sau

Đất từ đâu ? Nước từ đâu?

Có phải đất lớn ra từ dấu chân ông cha vác gươm đi mở cõi

Mang lại nước mỗi ngày ta uống nặng ơn sâu

Không dễ gì ta có được hôm nay

Nói chi xa, chỉ chiến trường Điện Biên Phủ

Đã bao mẹ mất con bao chị mất chồng

Nhưng độc lập tự do ấm no hạnh phúc

Quyết đổi bất cứ giá nào dù máu đổ thành sông

Ôi lịch sử mấy ngàn năm dựng giữ

Biết bao chàng trai cô gái đã hy sinh

Để giống nòi dân tộc được hồi sinh

Để lãnh thổ không còn bóng giặc

Để không còn cảnh lo cơm ăn áo mặc

Vá đụp vá chằng bữa đói bữa no

Cốt huyết Lạc Hồng tô hai chữ tự do

Đã viết nên bản hùng ca bất hủ

Mãi tri ân lớp lớp người bất tử

Sông máu núi xương vì khát vọng hòa bình

Cháu con ơi! Hãy đời đời gìn giữ

Mãi uống nước nhớ nguồn – dựng xây tổ quốc quan vinh.

                   06/04/2024

                Lưu Lãng Khách


VIỆT NAM ƠI


Kìa em có thấy gì chăng

Trên cánh đồng vàng trên chiếc cầu xinh

Phố quê Nam Bắc lung linh

Việt Nam đất nước chuyển mình thoát thai

Vươn lên sau tháng năm dài

Biển rừng hát khúc tương lai rộn ràng

Đa Dâng – sông Mã – Đà Giang

Giai điệu tổ quốc âm vang bãi đồng

Sông Hồng - sông Lô - Mê Kông

Sông Lam - sông Chảy biển đông một nhà

Bốn trăm sông nặng phù sa

Mọi miền vui hát bài ca thái bình

Sơn hà một dải đẹp xinh

Như tranh sơn thủy hữu tình đắm say

Hoàng Liên Sơn tuyết đọ mây

Mênh mang Yên Tử ngất ngây Ngự Bình

Tản Viên truyền thuyết thiêng linh

Hồng Sơn dựng nước núi Hoành dung thân

Hùng quan đệ nhất Hải Vân

Ôi giai điệu núi sông ngân vạn đời

Việt Nam ơi! Tổ quốc ơi!

Miếng trầu mãi thắm vành môi mẹ hiền

Nguyện làm nốt nhạc đính trên

Bài ca tổ quốc đi lên hỡi người.


         Lưu Lãng Khách

         luulangkhach@gmail.com

 

 

 

READ MORE - CÙNG THÁNG TƯ LỊCH SỬ / GÓP LỜI BẢN HÙNG CA / VIỆT NAM ƠI - Chùm thơ Lưu Lãng Khách

Hoàng Thị Bích Hà - “TRÂU ĂN MỘT ĐỒNG MÀ CON ĐÓI CON NO” - Truyện ngắn



“TRÂU ĂN MỘT ĐỒNG MÀ CON ĐÓI CON NO”

Truyện ngắn 

Hoàng Thị Bích Hà

 

Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị - cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của Trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả.

Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.

Sáng hôm sau, ông ngoại gọi điện sang bảo:

-Con có vô Sài Gòn thì tới nhà của cậu Hải mà trọ. Nói với cậu ấy, cho cháu ở nhờ để đi học.

Như Nguyệt đáp:

- Dạ thôi ba, để con đưa cháu vô rồi tính.

Cúp máy, chị vẫn ngồi yên một lúc lâu. Thẫn thờ nhìn xa xăm, lòng bỗng đau như chạm vào quá khứ.

Nghe chị kể, tôi ngạc nhiên:

-Có sẵn nhà đó, sao không cho cháu ở, đỡ được bao nhiêu tiền trọ?

Nguyệt không trả lời ngay.

Nụ cười trên môi chị chợt tắt. Một khoảng lặng rơi xuống. Chị nhìn ra ngoài sân, nơi có cây cau thấp, thân lấm tấm những vết sẹo cũ của thời gian và bão tố. Chị nói với tôi:

- Không dễ thế đâu, nàng ơi.

Tui mừng vì con đậu đại học tốp đầu, chất lượng. Mừng! Nhưng lòng cũng đầy lo lắng. Nỗi lo cũng lớn dần theo từng bước chân con sắp đi xa. Tiền trọ, tiền ăn, tiền học..., Nhưng tui sẽ cố gắng lo cho con.

Chỉ lo những ngày con đi xa, ấm lạnh không có mẹ bên cạnh. Nhưng có lẽ để con ra với đời mới mau trưởng thành.

Những năm tháng tuổi thơ nghèo khó chợt ùa về.
 

Rồi rồi chị kể, chậm rãi như lần giở lại từng lớp ký ức đã cũ mà chưa hề nguôi.

-Ba tui… ổng đã bỏ mẹ con tui từ khi tui mới hai tuổi, anh Hai lớn nhất cũng mới mười tuổi, chị ba 5 tuổi, em trai nhỏ nhất mới ba tháng tuổi. Ông theo người đàn bà khác, Lúc ấy mẹ tui mới ba mươi tuổi, Một mình mẹ dắt bốn đứa con về quê ngoại Phong An, (cách Huế chừng hai mươi cây số) sống lay lắt bằng nghề ruộng, rẫy.

Về làng quê cũng nghèo. Mẹ cực khổ nuôi con bằng rau cháo qua ngày. Anh em tui cố gắng học, nhưng học được chừng nào hay chừng ấy, chứ không thể tới bờ tới bến. Anh Hai học hết lớp chín đành nghỉ, ở nhà làm phụ mẹ nuôi em. Chị Ba gắng gỏi lắm cũng chỉ đến lớp mười một rồi xin đi làm công nhân. Còn tui, học hết phổ thông, đành gác lại giấc mơ đại học, đi học may để mưu sinh. Đứa em út chọn con đường ngắn hơn: học trung cấp thú y rồi ra làm ở trạm xã. Còn cha tui, như một con nước khác chảy về phía đời sống của riêng mình.

Ông là một sĩ quan. Sau biến cố năm 1975, ông đi “cải tạo” hơn ba năm. Trở về, việc đầu tiên ông làm là tìm lại người tình của ổng. Rồi ông tìm mẹ tôi để nói phải trái về việc kết thúc. Cuộc ly hôn chóng vánh chưa được bao lâu cũng vừa kịp cho một hành trình khác: sang Mỹ theo diện HO cùng người đàn bà đã khiến ông rời đi năm xưa. Rồi ba tui dắt vợ mới của ổng qua Mỹ.

Ngày rời Huế để vào Sài Gòn, ông mang theo cả va li tiền. Còn vợ cũ và bốn đứa con thì ở lại, trắng tay.

Từ đó, ổng cắt liên lạc với mấy mẹ con.

Mẹ tui một mình nuôi con trong cảnh khó nghèo. Ngày xưa, ba đi lính, gia đình theo chân ổng. Có con thì khai sinh để được hưởng lương con. Mẹ chỉ việc nội trợ, chăm sóc ông bà nội và các con. Vậy mà đùng một cái, ông bỏ ngang, chia tay vợ con khi đã tìm được tình yêu mới. Từ bữa nớ, tụi tui không còn nằm trong phần đời của ba tui nữa.

Mấy mẹ con dắt díu nhau về quê ngoại, sống tiếp trong thiếu thốn và nỗi buồn phụ bạc. Mẹ tui gầy như chiếc lá khô vì buồn, nhưng vẫn ráng làm lụng nuôi con. Mẹ bảo: các con là động lực sống của mẹ.

Mười năm sau, từ Mỹ ông trở về. Không phải để bù đắp, mà chỉ để thăm cha mẹ già. Bốn anh em Nguyệt được gọi lên. Cuộc gặp gỡ ngắn ngủi, vài câu hỏi xã giao, rồi ai lại về với cuộc đời nấy.

Ổng chẳng hỏi gì đến mẹ tui. Rồi mấy năm sau, ổng về lại Huế mua đất, làm nhà. Ổng bảo: “Đi Mỹ vậy đủ rồi, nay về Huế dưỡng già.” Gia đình mới của ổng nay ở khu đô thị cao cấp An Cựu. Thằng con trai út của ổng với vợ sau là Thế Hải vừa đậu đại học năm ngoái, ổng liền bay vào Sài Gòn mua cho nó một căn nhà ngay quận Ba. Vì thế mà ổng mới bảo Thành Phong vô Sài Gòn xin ở nhờ cậu Hải.

Tui nghe mà im. Có những chuyện, nghe thôi là đủ.

Tui là con gái của ổng mà chẳng được ổng thương, nói gì đến cháu. Nên thôi! Biết rằng lúc này, sự giúp đỡ dù từ ai, nếu thật lòng cũng đều đáng quý. Biết là ở trọ thì phải tiền đóng, gạo góp mà ăn, chẳng dễ gì nhờ vả. Nhưng tui không thấy an toàn cho con.

Còn về phần tui, Như Nguyệt chậm rãi kể tiếp: tui học được, nhưng vì hoàn cảnh nên phải đi đường vòng. Sau phổ thông, tui đi làm thợ may để sống. Khi kiếm được chút đỉnh, tui mới thi vào Cao đẳng Sư phạm, thực hiện ước mơ làm cô giáo còn dang dở. Thực ra tui thích Đại học Sư phạm, khoa Sử, nhưng không dám mơ. Nghĩ rằng học cao đẳng cho nhanh, ba năm ra trường đi dạy. Rồi tui ra trường, xin được một trường huyện. Dạy được hai năm thì gặp anh Phạm Tiến, lúc đó đang làm thợ nhôm, xây dựng trường. Hai đứa quen nhau, một năm sau thì cưới.

Nhà Tiến ở Vĩ Dạ. Ba Tiến là thầy giáo về hưu. Mẹ chồng đã mất. Trong nhà còn mấy cô chị và em chồng, người làm giáo viên, người làm y tế cộng đồng. Chỉ có Tiến hoc chưa xong 12, nghỉ ngang đi học thợ nhôm. Tiến hiền, nhưng vô tâm. Đi làm xa, nửa năm mới về, khi đưa tiền, khi không. Tuy nhiên, anh ta có một ưu điểm: không gái gú, chỉ nhậu thôi. Còn mấy mụ o chị em chồng thì do dảnh lắm. Khó tính, hay kiếm chuyện. Bố chồng cho vợ chồng tui một miếng đất độ năm mươi mét vuông sau vườn, xây cái nhà để ở, nhưng không cho chủ quyền. Muốn ở thì ở, chứ mua bán cầm cố là không được.

Mẹ chị vẫn ở quê, ngày một yếu đi. Như Nguyệt đều đặn chạy xe về thăm. Năm ngoái, mẹ chị trải qua mấy cơn thập tử nhất sinh. Người cha năm xưa có đến bệnh viện một lần, trước khi bà mất đúng một ngày.

Mẹ mất, chị như mất cả bầu trời. Chị thương mẹ lắm! Nếu không có mẹ chèo chống nuôi con, bốn anh chị em bây giờ ra sao? Khi cha đã bỏ mẹ, thì đồng nghĩa với việc ổng cũng bỏ luôn con:

-Có người làm cha vẫn có trách nhiệm nuôi con, nhưng ba tui thì không (chị kể). Trong khi ba đứa con của ổng với vợ sau sống êm ấm như trên nhung lụa.

Nguyệt cười, mà ánh mắt buồn, nhìn xa xăm như ngược về miền ký ức:

Chị nhìn tôi, giọng trầm xuống:

-Nàng thấy đó, con ổng mới đậu đại học Sài Gòn, ổng tức tốc bay vô mua nhà cho ở liền. Còn tui, cũng là con ổng nhưng không có cái phước ấy.

Nhớ một câu nói của dân gian có câu: “Trâu ăn một đồng mà con đói, con no.” Nghịch lý là vậy!

Sau mấy năm, gặp lại chị kể: "Con trai đầu của tui Thành Phong học xong Đại học Bách khoa, có việc làm ổn định tại Vũng Tàu. Con gái út, Bích Nguyệt cũng rất giỏi, tốt nghiệp Đại học Ngoại thương Sài Gòn, nay làm ở quận Ba. Tui vẫn đi dạy. Chồng tui vẫn đi làm thợ ở tỉnh".

Tôi mừng cho chị, xuất thân đáng lẽ không đến nỗi côi cút, vậy mà cũng lao đao. May mà còn có mẹ!

Như Nguyệt đảm đang, chịu khó như mẹ. Và bây giờ, trời không phụ lòng người: các con đã thành công.

Hiện nay, gia đình ba Như Nguyệt vẫn ở cùng thành phố với nàng ấy, nhưng cha con ít gặp. Nói đúng hơn, có gặp thì cũng vì lý do nào đó chứ chẳng mặn mà gì.

Năm ngoái, tôi về Huế, Như Nguyệt dẫn tôi lên nhà nội (ở phía chùa Linh Mụ trên cách chừng nửa cây số). Chúng tôi thăm lại mảnh vườn xưa. Ông bà nội đã qua đời. Bên cạnh nhà nội là căn nhà của mẹ con Như Nguyệt hồi nhỏ, lúc ba chị chưa bỏ đi và mẹ chị và ba anh em chưa dạt về nhà ngoại. Nay nhà cửa xuống cấp, chỉ còn mảnh vườn với vài cây cối. Thỉnh thoảng, Như Nguyệt lên cuốc cỏ, chặt lá dong về gói bánh, khi thì chặt chuối ba lùn về dú chín cho con ăn. Chị bảo:

-Tuần trước, tui có gặp ba tui cũng lên vườn chặt buồng chuối đem về cho vợ con ổng.

Hai cha con đứng cùng một vườn.

Chào nhau mấy câu.

Rồi người này quay lưng, người kia cúi xuống chặt tiếp buồng chuối.

Như chưa từng là ruột thịt của nhau.

Sài Gòn, ngày 10 tháng 4 năm 2026

Hoàng Thị Bích Hà

 

READ MORE - Hoàng Thị Bích Hà - “TRÂU ĂN MỘT ĐỒNG MÀ CON ĐÓI CON NO” - Truyện ngắn

TRANG THƠ NGUYỄN VĂN TRÌNH: Tình như sắc tím / Thuở uyên ương / Sao lòng tím buốt / Vẫn hồng niềm tin

 


Nguyễn Văn Trình

Tình như sắc tím

                

Chiều loang, tím cả đồi sim

gió hong kỷ niệm lặng im cuối ngày

mây buồn trôi dạt heo may

mang theo sắc tím, đan dày nhớ thương

 

Em qua lối nhỏ ven đường

tóc mây chạm gió, còn vương cuối chiều

mắt buồn chứa nỗi cô liêu

mà nghe tím buốt, những điều sao quên ?!

 

Anh về gom nắng mới lên

nghe trong nức nở gọi tên dịu dàng

tình như sắc tím mơ màng

không phô rực rỡ, luôn mang chân thành

 

Dẫu cho năm tháng lênh đênh

hoa sim còn tím, chông chênh đất trời

em người ít nói, kiệm lời

mà gieo thương nhớ, một đời khó phai...

 

                                               NVT

Thuở uyên ương

                

Bằng lăng nở tím, dọc ven đường

gió nhẹ đưa hương khắp bốn phương

ve mãi ngân sầu mùa chia biệt

gọi hè về giữa những yêu thương

 

Áo trắng hôm nào thương, dễ thương

lưu bút trao tay nét mực hường

chưa kịp nói lời, ôi đã nhớ

mà nghe lòng dạ hóa tơ vương

 

Một ánh mắt nhìn, vội nhớ thương

đã làm thao thức suốt đêm trường

tình đầu e ấp như cơn gió

thoáng đến rồi đi bao vấn vương

 

Bằng lăng tím buốt cả sân trường

chỉ biết người xưa đã khác phương

kỷ niệm sinh viên, như cánh mỏng

rơi hoài nỗi nhở, thuở uyên ương

 

                                      NVT

                      

Sao lòng tím buốt

                 

Hoa mua nhuộm tím, cả chân đồi

gợi nhớ tình ai gió mây trôi

lối nhỏ chiều mưa mờ bóng cũ

người đi, để lại nỗi đơn côi

 

Ta bước qua, niềm thương nỗi nhớ

buông dần chuyện cũ, chẳng còn mơ

từ đây khép lại thời thơ dại

một tiếng chuông chiều, vọng ngẩn ngơ

 

Hoa vẫn âm thầm, cánh cánh rơi

mà lòng lắng lại nhớ một thời

người xưa dáng cũ, mờ nhân ảnh

một thoáng mây bay khuất cuối trời

 

Chiều xuống nỗi buồn, lại đầy vơi

hoa tím ngoài kia vẫn gọi mời

ta nguyện an nhiên, như gió núi

sao lòng tím buốt, chẳng hề vơi... ?!

 

                                       NVT

 

Vẫn hồng niềm tin

                

Lộc vừng vừa mới buông hoa

đỏ như ký ức, la đà hương bay

người đi qua những tháng ngày

mới hay hạnh phúc đong dày giản đơn

 

Một đời xuôi ngược cô đơn

tìm đâu cho thấy nguồn cơn yên bình

hóa ra trong một gia đình

có bếp lửa nhỏ, có tình người thân

 

Hoa buông chẳng đợi ngày xuân

như đời chẳng đợi, bước chân quay về

ai đi muôn dặm sơn khê

cũng mang nỗi nhớ, tìm về đoàn viên

 

Lộc vừng còn nở khắp miền

dạy ta giữ lấy, căn nguyên của lòng

giữa bao biến động đục trong

ấm như sắc đỏ, vẫn hồng niềm tin

 

                                         NVT

 

Chỉ còn mùi hoa bưởi

                         

Chiều nghiêng xuống

khu vườn đầy hoa bưởi

mùi hương tỏa lan, giữa khoảng trời yên tĩnh

anh chợt nhận ra, trái tim mình ấm lại

 

Có lẽ tình yêu

cũng giống mùi hoa bưởi

không cần gọi tên

chỉ cần cảm nhận, thế là đủ

 

Em vẫn đứng đó

như mùa hoa bưởi nở

ánh mắt trong veo, như giọt nắng đầu ngày

khiến mọi âm thanh lắng xuống

chỉ còn mùi hoa bưởi

 

Nếu một ngày

gió mang hương bưởi đi xa

anh vẫn tin, mùa xuân còn ở lại

và vẫn tin

tình yêu thơm ngát ngọt lành

 

                                   NVT

 

Mùi hoa sữa

         

Đêm giữ mùi hoa sữa

như giữ điều xưa cũ

khó có thể rời xa

một nỗi nhớ bao la

quay về và khẽ chạm

 

Ta đứng giữa lặng im

nghe lòng mình thổn thức

gió gọi mùa xa xôi

mang nỗi niềm chưa nói

lạc vào giấc mơ trôi

 

Chỉ một mùi hoa sữa

mà cả bầu ký ức

ùa về như cơn mưa

tắm mát thêm niềm nhớ

ướt nhòa tháng năm xưa...

 

                            NVT


Tác giả NGUYỄN VĂN TRÌNH

Bút danh: KATHI              

Hội VHNT tỉnh Quảng Trị 

Email: nguyenvantrinh58@gmail.com

Đ/C: 65B Đường Chu Mạnh Trinh, Phường Nam Đông Hà, tỉnh Quảng Trị


 

READ MORE - TRANG THƠ NGUYỄN VĂN TRÌNH: Tình như sắc tím / Thuở uyên ương / Sao lòng tím buốt / Vẫn hồng niềm tin

HẸN VỚI HƯ KHÔNG - Thơ Huỳnh Liễu Ngạn

Hiình từ inkythuatso.com


HUỲNH LIỄU NGẠN

HẸN VỚI HƯ KHÔNG

 

có lần hẹn với trời mưa

em không đến dù đã trưa nửa ngày

có lần hẹn với hàng cây

lá bay như thấy vòng tay ai chờ

 

có lần hẹn với trăng mơ

em đi bỏ lại vu vơ đôi lòng

có lần hẹn với hư không

em đi bỏ lại dòng sông một mình

 

một mình anh cũng chênh vênh

nên dòng sông ấy lênh đênh xa bờ

cứ nghiêng mái tóc phỉnh phờ

để che chút phận ngu ngơ giữa đường

 

có lần hẹn với tơ vương

để tìm dấu vết thiên đường nơi đâu

mới hay trăng đã bạc đầu

đã theo con nước chìm sâu quên về

 

sương bay đầu ngõ hoa thề

như trong cõi mộng trầm mê của đời

có lần hẹn với ngàn khơi

thấy em tóc thả vai lơi mượt mà

 

thấy em cá lặn chim sa

tưởng như là bóng tiên nga trên trời

anh về đếm lá sao rơi

bao nhiêu lá bấy nhiêu lời anh thương.

 

6.3.2026

HUỲNH LIỄU NGẠN

hiephuynh479@gmail.com

READ MORE - HẸN VỚI HƯ KHÔNG - Thơ Huỳnh Liễu Ngạn

Thursday, April 30, 2026

TIỀM NĂNG DU LỊCH NƠI THƯỢNG NGUỒN SÔNG THÁC MA (YouTube / Thông tin xã Mỹ Thủy) - NGƯỢC DÒNG SÔNG THÁC MA (Đài TH Quảng Trị)

 




NGƯỢC DÒNG SÔNG THÁC MA

Đài TH Quảng Trị


Sông Thác Ma bắt nguồn từ vùng rừng núi nơi miền Tây Hải Lăng còn có tên gọi là Ô Lâu tả trạch. Không giống như những dòng sông khác, chúng ta thường gặp những con thuyền cắm sào đứng đợi; những ngư phủ tảo tần tung chài buông lưới, Thác Ma lại rộn ràng với những con thuyền hối hả ngược xuôi.

Nhìn dòng nước, chúng tôi chợt nhớ đến câu nói: “Nước trong quá thì không có cá, người kỹ tính quá thì không có bạn”.

Như dòng đời, dòng sông cũng thay đổi theo thời gian. Có những đổi thay thuận theo tự nhiên, nhưng có những thay đổi do tác động của con người. Đón chúng tôi ở bến đò thôn Lương Sơn, xã Hải Chánh, huyện Hải Lăng, ông Vũ Viết Kiền, năm nay gần 70 tuổi, chỉ tay xuống dòng sông và bảo: “Chỗ ni hồi tui 10 tuổi ngày mô cũng lội qua lội về, nhưng bây giờ do khai thác cát sạn, lòng sông sâu và rộng ra, muốn qua thì phải đi bằng đò."

Càng về phía thượng nguồn, dòng Thác Ma cạn và hẹp dần. Để vượt thác, chúng tôi chuyển qua hai con thuyền nhỏ, loại thuyền thân hẹp và dài, được làm bằng kim loại để chống chọi với ghềnh đá và nước xoáy.

Nếu như đoạn sông từ cầu Mỹ Chánh lên Khe Mương, người lái đò thong dong bao nhiêu, thì từ Khe Mương đi về phía thượng nguồn sẽ vất vả bấy nhiêu. “Sông có khúc, người có lúc.”

Càng gần với con thác đầu tiên, nước càng trong và xanh hơn. Chúng tôi có cảm giác như đang lướt đi giữa một bức tranh thủy mặc.

Theo lời người lái đò, hành trình của chúng tôi phải vượt qua 18 con thác với những tên gọi như: thác Rong, thác Qủa, thác Chuối, thác Hoa Lim, thác Trâu Đằm, thác Bãi Chợ….và thác Chơờng.

Người xưa khi đặt tên cho con thác có lẽ đã gắn với đặc điểm của nó. Ví như thác Hoa Lim vì đoạn sông có nhiều cây gỗ lim, thác Bãi Chợ là nơi phu rừng thường gặp gỡ mua bán trao đổi. Lại có con thác hình thù như chiếc bát úp ngược nên gọi là thác Úp Đọi. Hiểu thì thế thôi chứ không ai biết những tên gọi này có từ bao giờ.

 Thử thách thực sự đầu tiên của chúng tôi là vượt thác Úp Đọi. Ai cũng hồi hộp, lo lắng, chỉ vợ chồng người lái đò vẫn ung dung, có lẽ vì họ đã quá tường tận về dòng sông này.

Chồng cầm lái, vợ chống mủi, chẳng một lời mà vẫn hiểu nhau. Nhìn từng động tác dứt khoát, mạnh mẽ của những người lái đò, chúng tôi chợt hiểu vì sao người xưa đã đặt tên là thác Gân, thác Kỳ...

Nhưng tạo hóa cũng công bằng. Sau mỗi con thác, dòng nước lại trở nên bình lặng và bao dung, như muốn dành chút thời gian cho người lái đò được nghỉ ngơi để lấy sức mà đi tiếp.

Có những con thác, chúng tôi phải chung tay để cùng đưa con thuyền ngược nước. Những lúc như thế này mới hiểu hết ý nghĩa của sự sẻ chia, sự đồng sức, đồng lòng.

Cái cảm giác đau rát khi bàn chân chạm vào đá suối, chúng tôi chợt nhận ra rằng mình đã quen đi giày đi dép, và…cũng đã bỏ quê lên phố lâu rồi.

Đến thác Qủa, vợ chồng người lái đò lặng lẽ đưa thuyền vượt thác, còn chúng tôi tranh thủ ghé thăm một cốc nhỏ của một cư sĩ bên sông.

Gọi là cốc, vì chỉ là một ngôi nhà nhỏ bằng cây rừng giữa bốn bề sông nước, núi non. Vị cư sĩ có tên là Nguyên Thông, quê gốc ở làng An Thơ, xã Hải Hòa.

Như lời vị cư sĩ, sau bao năm tháng bôn ba với cuộc đời, nay ông quay về chọn nơi này để được hòa mình cùng cỏ cây, hoa lá và làm bạn tri âm tri kỷ với dòng sông.

Cư sĩ Nguyên Thông giới thiệu với chúng tôi về khu vườn mà ông đã khai phá từ 6 năm nay. Những cây dừa từ Bến Tre đưa về đã bắt đầu xanh tốt. Những cây xoài cũng bắt đầu bói quả.

Mặc dù sống ẩn dật, nhưng tư tưởng nhập thế của đức Phật vẫn là đuốc tuệ soi đường trong mỗi việc ông làm.

Cũng vì thế mà ông đã lặn lội hàng chục cây số đường rừng, tìm mua những chiếc máy bỏ đi, mày mò bắt chúng sống lại để trở nên  hữu ích.

Trước lúc chia tay, hỏi ra mới biết, cư sĩ Nguyên Thông từng là kỹ sư tốt nghiệp Đại học kỹ thuật Phú Thọ -  Sài Gòn.

Đối diện với cốc nhỏ của cư sĩ Nguyên Thông, bên kia sông là ngôi chùa của một vị tu sĩ ở Huế ra tạo lập. Trước cửa chùa có đôi câu đối:

“Gió mát trăng thanh, khoảng khoát bao la, tĩnh lặng thoát tâm hồn.

Non xanh nước biếc, vạn vật hòa ca , mây ngàn không vướng bận”

Vì không có người chăm sóc, khung cảnh thật hoang vắng, tiêu điều. Thế mới biết khi tâm còn động vọng thì dù tiên cảnh cũng không níu giữ được chân người.

Rời thác Quả, chúng tôi hướng đến thác Chơờng, con thác cuối của cuộc hành trình. Đường đi không còn quá xa, nhưng đầy thử thách. Những tảng đá ngầm có thể làm thủng thuyền bất cứ lúc nào. Nhiều lúc chúng tôi phải rời thuyền để đi bộ.

Thác Chơờng chính là con thác đẹp nhất trên dòng Thác Ma - Ô Lâu tả trạch. Giữa lòng thác là một tảng đá rất lớn liền một khối và tương đối bằng phẳng, vì thế mới có tên là thác Chơờng, một biến âm của từ giường.

Xung quanh lại có tảng đá hình thù chiếc ghế như đang đón đợi lữ khách dừng bước nghỉ ngơi, trong khi dòng nước vẫn miệt mài len lỏi chảy qua từng phiến đá như hằn sâu vết chân thời gian. Nước chảy đá mòn.

Chia tay thác Chơờng, lưu luyến trước cảnh đẹp mà tạo hóa đã dày công tạo dựng, có người mang về một cây Đỗ quyên rừng để làm kỷ niệm, còn chúng tôi lại bâng khuâng trước hàng hàng cây vối bên sông. Có lẽ những người lính miền Bắc khi vượt dòng Ô Lâu tả trạch để vào Nam đánh giặc bất chợt bắt gặp cánh hoa vối, lòng sẽ không khỏi bâng khuâng nỗi nhớ nhà, nhớ về bà và mẹ đã nấu những bình nước vối cho mình uống thủa còn tấm bé.

Gần 3 giờ chiều, chúng tôi bắt đầu xuôi dòng Thác Ma. Cứ tưởng vượt thác mới gian nan, vất vả, vậy mà xuôi thác cũng không kém phần vất vả, gian nan.

Vợ chồng người lái đò phải hợp lực để ghìm con thuyền đừng trôi quá nhanh và tránh bị va vào ghềnh đá. Họ như cố đẩy con thuyền ngược về phía dòng chảy.

Dừng chân ở Khe Mương, chúng tôi ghé thăm làng mạc hai bên bờ. Những người dân sống bằng nghề sông nước, giờ đây đã chuyển lên cạn, sống dựa vào rừng và đất đai.

Cùng với cây tre và rừng trồng, những vườn chè của vùng Trầm Sơn, Tân Điền của Hải Sơn; Tân Lương, Vực Kè của Hải Chánh là nguồn thu nhập quan trọng của người dân, tạo nên thương hiệu chè Mỹ Chánh nức tiếng khắp vùng.

Theo các nhà địa chất, vì chảy qua vùng đất nhiều ghềnh thác và truông cát, Thác Ma như được thanh lọc nên dòng nước trở nên ngọt ngào và trong xanh.

Còn với chúng tôi, sau bao phen lên thác xuống ghềnh, Thác Ma trở nên tĩnh lặng, khiêm nhường như một người từng trải.

Chiều về trên sông, thấp thoáng vài con thuyền chài nhỏ bé,  ánh tà dương buông phủ, những rặng tre đôi bờ rủ bóng và màu nước càng trở nên huyền ảo đến mơ màng.

Trong màu nước kia hình như còn in bóng những câu chuyện lập thân, lập nghiệp của các bậc tiền nhân, những người đi trước với nghĩa khí ngất trời.

Sông vẫn trôi khẽ khàng lặng lẽ, như một chứng nhân ôm vào mình những giấc mơ gởi gắm của bao người.







Nguồn: Đài TH Quảng Trị.

Đăng lại trên FB Tin Tức Quảng Trị 365.

READ MORE - TIỀM NĂNG DU LỊCH NƠI THƯỢNG NGUỒN SÔNG THÁC MA (YouTube / Thông tin xã Mỹ Thủy) - NGƯỢC DÒNG SÔNG THÁC MA (Đài TH Quảng Trị)