Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, October 23, 2026

Youtube: Ca khúc TÂM SỰ CÙNG TRĂNG - Thơ: Sông Thu - Nhạc: Nguyễn Tuấn

READ MORE - Youtube: Ca khúc TÂM SỰ CÙNG TRĂNG - Thơ: Sông Thu - Nhạc: Nguyễn Tuấn

KÝ ỨC HƯƠNG CỐM THÁNG MƯỜI - Nguyễn Đại Duẫn



 Ký ức hương cốm tháng Mười

 Nguyễn Đại Duẫn


Cứ mỗi độ thu sang, về thăm quê, tôi không khỏi bồi hồi nhớ mẹ, nhớ hương cốm quê nhà. Có những mùi hương đi qua cuộc đời tôi nhưng có khi không để lại trong tôi chút hoài niệm nào. Nhưng có những mùi hương một khi đã chạm vào ký ức thì chẳng bao giờ quên được. Với tôi, đó là hương cốm xưa của mẹ.

Quê tôi là một vùng đất nghèo, nơi thiên nhiên dường như cũng khắt khe với con người. Quanh năm phải chống chọi với thiên tai và chiến tranh. Mưa thì lụt, đồng ruộng trắng nước. Hạn về, đất khô cháy, nứt nẻ, thường xuyên mất mùa. Đã vậy, trong những năm chiến tranh, ruộng đồng bị bom đạn cày xới; rồi kỹ thuật canh tác lạc hậu, cây lúa lớn lên thường xuyên bị sâu bệnh phá hoại. Lúa làm ra chẳng thu hoạch được bao nhiêu. Có mùa không đủ gạo ăn, mẹ tôi phải lên rừng, xuống biển, tần tảo củ khoai, củ sắn để góp vào cho đủ bữa.

Tôi lớn lên giữa những mùa như thế. Tuổi thơ không chỉ có tiếng chim, tiếng bom đạn, và những buổi chiều chăn trâu, mà còn có những ngày nước lũ dâng ngập sân nhà, mẹ phải tất tả kê lại từng chiếc chum, chiếc thúng đựng đồ... Rồi khi mùa hạ đến, đất nứt nẻ chân chim, lúa héo vàng, mẹ lại đứng lặng nhìn cánh đồng khô hạn. Tôi phải tập kéo gàu giai một bên với mẹ.

Ngày ấy, quê tôi có những thửa đất khô cằn mà người ta vẫn phải làm lúa. Người quê tôi gọi đó là vãi lúa. Cày bừa xong, người ta đem lúa giống rải xuống mặt ruộng, rồi phó mặc cho trời. Có mưa thì lúa mọc, có đủ nước thì lúa lên. Còn nếu trời hạn, trời khắc nghiệt, người nông dân chỉ biết đứng nhìn ruộng đồng khô héo. Cái nghèo cứ thế đeo bám những mái nhà làng quê tôi. Nhưng mẹ tôi không chịu đầu hàng cái nghèo.

Trên một thửa đất khô, thay vì gieo lúa tẻ như mọi người, mẹ lại gieo lúa nếp. Có lẽ mẹ đã nghĩ khác. Lúa nếp khi ấy không chỉ để ăn. Những hạt lúa non còn có thể làm thành cốm, đem ra chợ bán, đổi lấy tiền mua gạo, mua sách vở cho các con.

Tôi còn nhớ những ngày lúa nếp lên xanh trên mảnh đất khô cằn ấy, mẹ nâng niu từng bông lúa, chắt chiu từng hạt. Khi những cơn gió heo may bắt đầu se se chạm ngõ trong chiều thu, cánh đồng sau nhà cũng chuyển sang một màu vàng óng. Lúa gặt về, mẹ thường chọn những bông lúa nếp non để làm cốm.

Đầu tiên là tuốt hạt lúa khỏi bông, sau đó mẹ đem rang trên chảo lửa nhỏ. Đây là khâu quyết định chất lượng cốm. Sau đó mẹ đem lúa vào giã nhẹ để tách vỏ, không làm nát hạt. Sau khi đem sàng sảy để lấy hạt gạo, mẹ lại đem rang trên bếp lửa nhỏ làm cho cốm khô, dậy mùi thơm và đạt độ dẻo, xanh đẹp.

Tiếng cốm nổ lách tách hòa trong tiếng lửa reo. Khói bếp rơm rạ quẩn quanh mái nhà, quyện với mùi hương cốm lúa mới làm cho cái mũi thính của tôi không chịu được, cứ đi ra, đi vào bên bếp. Mẹ lấy cốm thành phẩm gói vào trong lá chuối với một lượng mà mẹ đã định sẵn. Mẹ bảo nếu có lá sen mà gói thì cốm sẽ ngon hơn. Nhưng ngày đó quê tôi làm gì có sen. Tôi phụ mẹ ngồi gói cốm. Xong việc, mẹ để dành cho tôi một ít. Tôi đưa nắm cốm lên mũi hít hà và vốc vài hạt nhai chậm rãi để thưởng thức cái hương vị mà đất trời đã ban tặng, và qua bàn tay khéo léo của mẹ đã tạo nên mùi vị hương cốm đồng quê.

Những hạt cốm xanh nhỏ bé ấy được mẹ đem đi chợ bán. Đồng tiền kiếm được chẳng nhiều, nhưng với mẹ, mỗi đồng đều quý giá. Tiền bán cốm trở thành gạo trong bữa cơm, thành quyển vở, cây bút, thành những ngày đến trường của chúng tôi.

Bây giờ quê tôi đã khác xưa nhiều lắm.

Kinh tế phát triển, ruộng đồng không còn cảnh phó mặc cho trời, đất. Những cánh đồng ngày trước khô cằn, khi mưa thì ngập, nay đã có kênh mương thủy lợi tưới tiêu hợp lý, đưa nước về tận ruộng. Người nông dân làm lúa có phân bón, có thuốc trừ sâu, trừ chuột, có máy móc hỗ trợ.

Cây lúa được chăm bón từ lúc gieo mạ đến khi trổ bông, nên năng suất cũng cao hơn ngày trước rất nhiều. Không còn cảnh cày bừa xong rồi vãi lúa xuống ruộng, ngửa mặt trông trời chờ mưa. Cũng không còn những thửa ruộng nếp mà mẹ tôi từng gieo năm nào.

Cái nghề làm cốm của mẹ cũng theo mẹ đi xa, và hương cốm cũng xa dần khỏi làng quê nghèo khó ngày xưa. Bây giờ muốn ăn cốm chẳng khó. Ngoài chợ có đủ loại cốm, từ ngoài Bắc chuyển vào, từ trong Nam đưa ra. Muốn ăn cốm Làng Vòng, chỉ cần một cú điện thoại, vài ngày sau, người giao hàng đã mang đến tận nhà.

Thế nhưng, lạ thay, cốm bây giờ có thể thơm, có thể đẹp, có thể được đóng gói cẩn thận, nhưng tôi vẫn thấy thiếu một điều gì đó.

Ngày ấy, cốm mẹ làm đâu có đẹp như cốm bây giờ. Hạt cốm có khi không đều, màu xanh cũng chẳng thật óng. Mẹ làm bằng đôi bàn tay thô ráp, bằng cái nong, cái nia và bếp lửa rơm rạ quê nhà. Vậy mà tôi ăn một lần thì nhớ cả đời. Giờ nghĩ lại thấy đó không chỉ là cốm mà đó là những hạt nếp được chắt chiu từ đồng đất cằn cỗi, từ cái nắng khô hạn, từ một cuộc đời lam lũ của mẹ. Và có lẽ, trong ký ức của tôi, không có thứ hương nào thơm hơn hương cốm xưa của mẹ.

Mẹ đã đi xa.

Mảnh ruộng ngày xưa cũng đã đổi thay. Những mùa lúa mới vẫn nối nhau xanh tốt. Những hạt cốm mới vẫn được mang về từ muôn nơi. Chỉ có người mẹ năm nào là không thể trở về nữa. Nhưng kỳ lạ thay, mỗi khi thu về, nghe đâu đó thoảng mùi lúa nếp mới, ký ức trong tôi lại thức dậy. Mẹ để lại cho tôi một chút hương cốm trong ký ức, một chút hương quê trong tâm hồn, để mỗi khi nhớ mẹ, tôi lại tìm về với những mùa lúa của ngày tháng long đong. Mẹ đã đi qua những mùa Thu của đời mình. Còn tôi, mỗi khi nghe gió heo may về, lại thấy như có một mùi hương quen thuộc len vào ký ức. Trong đó có mồ hôi của mẹ. Có nắng hạn cháy đồng. Có những mùa nước lũ tràn về. Có cả sự chắt chiu của một người mẹ luôn muốn dành cho con mình những gì tốt đẹp nhất.

Nhớ về mẹ, và một điều tôi không thể quên - Nhớ hương cốm xưa của mẹ.

 

Nguyễn Đại Duẫn

51, Nguyễn Hữu Cảnh

Thôn: Nam Quán Hàu, xã: Quảng Ninh, tỉnh: Quảng Trị

ĐT: 0977194533

READ MORE - KÝ ỨC HƯƠNG CỐM THÁNG MƯỜI - Nguyễn Đại Duẫn

CHÙM THƠ LƯU LÃNG KHÁCH: Anh không là / Anh là thế

 

Lưu Lãng Khách

ANH KHÔNG LÀ

 (Thương tặng Như Nguyện)

 

Cuối đông em gái nhỏ

Như một đóa tường vi

Dịu dàng bên lá cỏ

Thẹn thò nhường lối đi

Anh không là thiên tử

Đang ngự trị ngai vàng

Lòng đắm say xuân nữ

Dụ thần dân đón nàng

Anh không là viễn khách

Giữa đường chiều ngất ngây

Động lòng xuân háo hức

Vội dừng chân tỏ bày

Anh không là chiến tướng

Mù vó ngựa biên cương

Xả thân ngoài biên ải

Gặp nhành hoa bên đường

Anh không là thi sĩ

Bạc thếch áo phong trần

Tặng ai vàng thu cũ

Khi xuân kề gót chân

Anh! Hào hoa lãng tử

Anh! Là người yêu em

Quyết tặng ai áo mới

Đón một mùa xuân miên.

    Giáp Tết 1986

     Duy Toàn Chợ Chùa

     (Lưu Lãng Khách)



 ANH LÀ THẾ


Anh là thế! Gót phong trần lãng tử

Ngại giẫm đau hoa cỏ chốn trần gian

Anh là thế! Đã yêu là rất dữ

Ấm lúc trăng lên thắm buổi đêm tàn

Như sóng đại dương hùng hồn ào ạt

Cuồn cuộn sục sôi dũng mãnh dâng tràn

Như sa mạc chẳng bao giờ đã khát

Yêu tục phàm cháy rực mảnh hồn hoang

Nay gặp em thương lắm nàng thôn nữ

Má em hồng môi mắt chở xuân sang

Nay gặp em xin dừng chân cô lữ

Đốt cháy giai nhân dưới bóng đèn vàng

Anh là thế! Đã yêu là thể hiện

Thích là làm không ai cản được anh

Anh là thế! Khi tình yêu lên tiếng

Sẽ rước em không làm của để dành

Lấy anh nhé! Và chúng mình sẽ có

Một đàn con trai gái đủ đầy

Trai chớ giống cha gái cầu giống mẹ

Hạnh phúc ngập tràn mới ước đã say

Anh là thế! Suốt đời anh vẫn thế

Sóng biển xanh không mãi lặng bao giờ

Anh là thế! Xin làm chồng em nhé!

Tặng em cả lâu đài

                               hạnh phúc ở trong thơ.


            Đầu xuân 1986

                Duy Toàn Chợ Chùa


From:

Nguyễn Duy Toàn

luulangkhach@gmail.com


 

READ MORE - CHÙM THƠ LƯU LÃNG KHÁCH: Anh không là / Anh là thế

ĐỒNG TIỀN - Nguyên tác: Tiến sỹ MA Zaman Ahasanuzzaman, Bangladesh - Người dịch: Thi Lan Anh Tran, Germany

 

Tiến sĩ MA Zaman Ahasanuzzaman

ĐỒNG TIỀN

Thơ Sufi – Khúc ca Saki

Nguyên tác: Tiến sĩ MA Zaman Ahasanuzzaman
Bút danh: Sufi Saki Jahangir
Sufi Saki Golarasharif Complex – Bangladesh

Người dịch: Nhà thơ Thi Lan Anh Tran, Aschaffenburg, Germany


Tiền sinh ra bạc, bạc lại sinh tiền,
Thiếu tiền, nhân thế lắm nỗi truân chuyên.
Kiếp người tất tả bon chen xuôi ngược,
Tay trắng, đường đời lạnh lẽo triền miên.

Mê tiền khiến dạ người thêm mê muội,
Quên nghĩa, quên tình, quên cả thanh danh.
Đức tin phai nhạt, tâm hồn tăm tối,
Cuộc sống chông chênh giữa cõi mong manh.

Trong muôn thứ nghiện, tiền là mối họa,
Gieo bao tội lỗi, khổ ải, lầm than.
Tiền mua gian trá, bạc bài, tửu sắc,
Đẩy kiếp con người vào chốn lầm than.

Tiền xây thánh điện, dựng nơi kinh kệ,
Mở lớp truyền trao ánh sáng niềm tin.
Tiền nuôi cô nhi, chở che phận yếu,
Sưởi ấm lòng người giữa cõi lặng thinh.

Zakat, Fitra, bố thí, việc lành,
Bao điều nhân nghĩa cũng cần tiền bạc.
Người thân khốn khó, nếu ta ngoảnh mặt,
Tình nghĩa nhạt dần, lạnh tựa sương đông.

Muốn về hành lễ nơi miền đất thánh,
Cũng cần tiền lo vạn dặm đường xa.
Đường tu đôi lúc chẳng ngoài cơm áo,
Thiếu tiền, muôn nẻo hóa thành phong ba.

Tiền bên phải, tiền tràn sang bên trái,
Như cỗ xe đời cuốn kiếp người đi.
Xe này vừa dứt, xe kia lại đón,
Mải miết trần gian, biết đến bao giờ?

Khắp chốn nhân gian, đâu vắng bóng tiền,
Muôn tên muôn dạng, vẫn chung một quyền.
Đường đời in dấu bao mùa bạc đổi,
Tiền nối theo tiền, chẳng phút bình yên.

Con người đuổi bạc suốt đời vô vọng,
Tưởng nắm trong tay, lại hóa hư không.
Nào hay tiền bạc còn theo chân Saki,
Giữa vòng nhân thế, huyền nhiệm mênh mông.

Giữa tội cùng phúc, xin người suy xét,
Cần đồng tiền, nhưng chớ để tâm tà.
Làm ăn chân chính, lòng vui vừa đủ,
Ấy điều Raji Jagat Sai hằng mong.


***

Bản phỏng dịch tiếng Việt từ nguyên tác Bengali (tiếng Bangladesh).

***

From: 

Dipl.-Kauffrau Thi-Lan Anh Tran 

Wirtschaftskanzlei@dipl-kauffrau-tran.de

READ MORE - ĐỒNG TIỀN - Nguyên tác: Tiến sỹ MA Zaman Ahasanuzzaman, Bangladesh - Người dịch: Thi Lan Anh Tran, Germany

LÀNG VĂN QUỸ TRONG TÔI - Người Hải Lăng



 Làng Văn Quỹ trong tôi


Tôi xa quê đã hơn bốn mươi năm.


  Bốn mươi năm, nghe thì dài như một đời người. Vậy mà lạ lắm, chỉ cần ai nhắc hai tiếng Văn Quỹ, lòng tôi bỗng mềm xuống như gặp lại bóng mạ đứng chờ con trước ngõ. Quê hương nhiều khi không cần hiện ra bằng hình hài rõ rệt. Chỉ một giọng nói Quảng Trị, một tiếng “răng”, tiếng “mô”, tiếng “chừ”, tiếng “rứa”, là cả một trời ký ức lại lặng lẽ trở về, ngồi xuống bên tôi như người bạn cũ.


  Tôi sinh ra ở làng Văn Quỹ, xã Hải Tân cũ, nay là xã Nam Hải Lăng, huyện Hải Lăng cũ, tỉnh Quảng Trị. Một làng quê nhỏ thôi, không phồn hoa chi, cũng chẳng nổi danh bằng những điều lớn lao, nhưng với tôi, đó là chốn thiêng liêng nhất của đời mình. Nơi ấy có những con đường làng quen dấu chân người, có mái nhà thấp nép bên vườn, có tiếng gà gáy trong sương sớm, có bóng tre, bờ ruộng, có những mùa gió Lào thổi qua nghe khô cả lòng mà vẫn thương chi lạ.


  Văn Quỹ quê tôi là làng của nón. Những chiếc nón trắng từng đi qua tay bao người phụ nữ quê nhà, nhẹ như một vầng trăng non, mà chứa trong đó biết bao nhiêu công sức và sự nhẫn nại của người làm ra nó. Tôi nhớ những buổi ngồi chằm nón, tay đưa kim qua từng lớp lá, mắt nhìn theo đường chỉ nhỏ mà lòng cứ mơ màng đâu đó ngoài đồng xa. Cây kim, sợi chỉ, vành tre, lá nón; toàn những thứ bình thường rứa thôi, nhưng khi vào tay người Văn Quỹ lại hóa thành vẻ đẹp dịu dàng. Chiếc nón không chỉ che nắng che mưa, mà còn che chở cả một phần hồn quê tôi.


  Tôi nhớ Hải Tân những buổi sớm. Trời còn chưa sáng hẳn, làng đã thức dậy bằng những âm thanh rất đỗi thân quen. Tiếng ai gọi nhau ngoài ngõ. Tiếng bước chân đi chợ, đi đồng. Tiếng gió lùa qua mái tranh cũ. Tiếng đời sống quê nghèo bắt đầu một ngày mới bằng sự cần mẫn lặng thầm. Người quê tôi không hay nói lời hoa mỹ, nhưng cái tình thì sâu. Gặp nhau chỉ hỏi một câu: “Mi ăn cơm chưa? “Bữa ni mần chi? “Ở mô về rứa?” nghe mộc mạc mà ấm hơn bao nhiêu lời sang trọng.


  Tuổi thơ tôi ở Văn Quỹ không đủ đầy, nhưng đẹp theo cách riêng của nó. Đẹp như một bông hoa dại mọc bên bờ ruộng, không ai chăm mà vẫn nở. Có những ngày làm ruộng, bàn chân lấm bùn, áo quần bạc màu nắng gió. Có những mùa trồng sắn, đi ngược từ Mỹ Chánh lên phía Tây Hải Chánh, đường xa ba bốn cây số, bụi đỏ bám đầy chân mà người vẫn cứ đi. Chừ nghĩ lại, tôi thấy những củ sắn, thửa ruộng, con đường rẫy ngày xưa không còn là nhọc nhằn nữa; chúng đã hóa thành hạt ngọc trong ký ức, càng xa càng sáng.


  Tôi cũng nhớ những ngày đi làm thủy lợi ở đập Trấm, bên dòng Thạch Hãn. Con sông ấy trong trí nhớ tôi như một dải lụa dài vắt qua năm tháng. Nước cứ trôi, mây cứ bay, còn tuổi trẻ chúng tôi cũng trôi theo những ngày lao động giản dị. Không cần nói nhiều về cực khổ, vì đời quê hồi nớ ai mà chẳng từng nếm qua. Điều tôi nhớ hơn cả là tình người. Là lúc cùng nhau làm, cùng nhau nghỉ, cùng chia nhau hớp nước, củ khoai, củ sắn, câu chuyện. Cái nghèo có thể làm bữa cơm vơi đi, nhưng không làm lòng người quê tôi vơi nghĩa.


  Văn Quỹ trong tôi còn là tiếng quê. Thứ tiếng nghe lên là biết người mình. Xa quê lâu rồi, giữa Hà Nội đông đúc, có khi nghe ai nói giọng Quảng Trị, tôi quay lại liền. Không biết người đó là ai, ở làng mô, xã mô, nhưng chỉ nghe tiếng “mạ”, tiếng “ba”, tiếng “o”, tiếng “eng”, tự nhiên thấy gần. Tiếng quê giống như sợi dây mềm buộc người xa xứ với nơi chôn nhau cắt rốn. Đi mô thì đi, ở mô thì ở, sợi dây ấy vẫn không đứt.


  Có người hỏi tôi: xa quê hơn bốn mươi năm, nhớ nhất điều chi? Tôi cũng không biết trả lời răng cho hết. Nhớ làng. Nhớ nhà. Nhớ con đường đất. Nhớ mùi rơm. Nhớ vành nón. Nhớ gió Hải Lăng thổi hun hút qua đồng. Nhớ những buổi chiều đứng nhìn về phía xa, trời đỏ lên sau lũy tre, lòng con gái quê khi ấy còn trẻ mà đã biết thương đời, thương nhà, thương đất.


  Quê hương lạ lắm. Khi còn ở đó, ta thấy mọi điều bình thường. Một bờ tre, một giếng nước, một lối ngõ, một phiên chợ, một tiếng gọi nhau cũng chỉ là chuyện hằng ngày. Nhưng khi đi xa, tất cả bỗng hóa thành báu vật. Cái bờ tre ngày xưa thành bóng mát trong lòng. Con đường đất cũ thành lối về trong mộng. Tiếng mạ gọi con thành âm thanh không chi thay thế được. Và làng Văn Quỹ nhỏ bé của tôi, càng xa lại càng lớn lên trong nỗi nhớ.


  Tôi thương Văn Quỹ không phải vì quê tôi giàu sang. Tôi thương vì quê tôi đã ôm tôi vào lòng từ thuở lọt lòng. Thương vì đất ấy đã cho tôi tiếng nói, nết người, sự chịu thương chịu khó, sự thủy chung với nguồn cội. Thương vì nơi ấy có những người đàn bà chằm nón lặng lẽ như chằm cả ánh trăng vào đời. Có những người đàn ông chân chất, ít nói mà nặng nghĩa. Có những đứa trẻ lớn lên trong nắng gió, rồi đi xa, rồi suốt đời vẫn ngoái đầu về quê cũ.


  Hải Lăng quê tôi là vậy đó. Nắng thì nắng đến cháy vai, mưa thì mưa đến thắt ruột, nhưng đất và người đều đằm sâu tình nghĩa. Cái tình ấy không phô trương, không nói lớn, mà thấm như nước mưa ngấm vào đất. Một lần chạm vào rồi thì cả đời khó quên. Cho nên, dù tôi đã sống ở Hà Nội hơn bốn mươi năm, đã quen với phố phường, với những mùa đông xứ Bắc, trong lòng tôi vẫn có một miền Hải Lăng rất rõ. Miền ấy có Văn Quỹ, có Hải Tân, có nón lá, có ruộng đồng, có rẫy sắn, có đập Trấm, có dòng Thạch Hãn, có bao nhiêu gương mặt thân quen của một thời không trở lại.


  Chừ tuổi đã xế chiều, tôi không mong chi nhiều. Chỉ mong có dịp trở về, đi chậm trên con đường làng cũ, nhìn lại nơi mình từng lớn lên, nghe lại giọng quê mình giữa xóm. Muốn được đứng giữa Văn Quỹ mà hít một hơi thật sâu, để mùi đất, mùi gió, mùi rơm rạ, mùi lá nón ngày xưa lại ùa vào lòng. Muốn được nghe ai đó hỏi: “O Thơm về đó à?” chỉ một câu rứa thôi chắc cũng đủ làm mắt tôi cay.


  Người ta có thể rời quê, nhưng quê không rời khỏi người. Quê nằm trong tiếng nói, trong dáng đi, trong nếp nghĩ, trong cả những giấc mơ bất chợt lúc đêm về. Với tôi, Văn Quỹ không chỉ là một làng quê trên đất Hải Tân, Hải Lăng. Văn Quỹ là chiếc nôi đầu đời, là vầng trăng cũ treo mãi trong tim, là nơi mỗi lần nhớ tới, lòng tôi lại nghe dịu xuống như được trở về ngồi bên hiên nhà xưa.


  Văn Quỹ ơi, quê hương ơi, tôi đi xa đã lâu, nhưng chưa bao giờ thôi nhớ. Dẫu đời có đưa tôi qua bao nhiêu con đường, thì trong sâu thẳm, vẫn có một con đường nhỏ dẫn tôi về làng cũ. Ở cuối con đường ấy, có tiếng gió Quảng Trị thổi qua vành nón, có bóng mạ, bóng ba, có tuổi thơ tôi đứng đợi.


Và có một miền quê, nghèo mà đẹp, xa mà gần, lặng lẽ mà thương đến tận cùng.


Người Hải Lăng viết tặng cô @Ngô Thơm https://www.facebook.com/ngo.thom.5494 theo lời kể của cô thành lời văn.


Ảnh: Thanh Lê Đăng

READ MORE - LÀNG VĂN QUỸ TRONG TÔI - Người Hải Lăng

CHÙM THƠ ĐÀM NGỌC NĂM: Xin anh đừng hỏi tóc em / Tuổi quê / Giao mùa

Tác giả Đàm Ngọc Năm


 XIN ANH ĐỪNG HỎI TÓC EM 

 

Ngày xưa em tóc ngang hông

Từ lúc lấy chồng, tóc ngắn dần đi

Hỏi em, em bảo có thì

Như thời con gái mấy khi được dài.

Chuyện mình, anh biết đấy thôi

Ta say nhau để rồi cưới ngay 

Về làm dâu chỉ tình ngày

Cuộc đời con gái chia tay em rồi.

Vui được làm mẹ anh ơi 

Vậy thì tóc ngắn, tóc dài việc chi 

Đời con gái phải có thì

Còn mái tóc phải có gì hả anh?

 

 

 

TUỔI QUÊ

 

Trăm năm trọn nghĩa anh em 

Ngàn năm vẫn mãi tổ tiên, ông bà 

Xa quê, tình cảm nỏ xa

Muôn đời vẫn thế cây đa, mái đình.

Quê hương là chốn sinh thành

Là dòng máu, là nghĩa tình chẳng phai 

Bờ tre, giếng nước một thời 

Đi vào tiềm thức những lời mẹ ru.

Quê hương là mãi tuổi thơ 

Chia phe đánh trận, giấc mơ ngọt ngào 

Bao lần nằm ngắm trời cao

Thi nhau đếm vội ông sao đêm hè.

Quê hương là chốn ta về 

Là nơi gặp lại tình quê một thời 

Vẫn còn đó tiếng ầu ơi

Lời ru của Mẹ, cuộc đời của con

Quê hương là cả nước non

Mỗi dòng sông, mỗi con đường thuở xưa.

 

 

 

GIAO MÙA 

 

Mùa Đông đã về trước ngõ

Sao còn lưu luyến mùa Thu

Phải chăng mùi thơm hoa sữa

Níu em khoảng trời mộng mơ.

 

Trước nhà đông về gió lạnh 

Vội vàng anh bước vào sân

Nghĩ người thương ra mở cửa

Trong ánh mắt xưa, rất gần.

 

Những ngày mình về chung sống 

Em luôn sưởi ấm căn nhà 

Mặc mùa Đông về giá buốt 

Nên anh chẳng nghĩ rời xa.

 

Giao mùa, tiết trời se lạnh

Nhìn vào mái ấm thuở xưa

Nghĩ về lời em hay nói 

Muốn ở bên anh bốn mùa.

 

Cả bốn mùa, từ Xuân - Hạ…

Ngày xưa em nói anh tin

Như tin chính lòng mình vậy

Nên Đông, muốn về cùng em.


Đàm Ngọc Năm

namdnvietsing@gmail.com

READ MORE - CHÙM THƠ ĐÀM NGỌC NĂM: Xin anh đừng hỏi tóc em / Tuổi quê / Giao mùa

Friday, October 16, 2026

CHÙM THƠ LÊ THANH HÙNG: Điều gì ta nuối tiếc / Như một ngày đã cũ / Bến đời / Dấu lạ

 

Tác giả Lê Thanh Hùng

Điều gì ta nuối tiếc

Ta đã từng có giấc mơ hoang

Dang tay với những điều không thể

Sao trúc trắc, quanh co như thế

Rũ nhàu trong lối sống cũ mòn

 

Giữ bên đời, trăm thứ trời ơi

Chật kín không gian, giăng bừa phứa

Sắp xếp lại, hẹn lần hẹn lữa

Cứ mông lung, toan tính vá trời

 

Còn lại gì, năm tháng quẩn quanh

Niềm phấn khích xem chừng quá vãng

Khi đã biết những điều giới hạn

Âm thầm treo dấu chỉ trưởng thành

 

Ngẫm nghĩ mình không được như em

Xếp gọn lại những điều không thể

Có nuối tiếc, giằng co chiếu lệ

Nhưng rạch ròi vệt sáng, vệt lem…

 

Chuyện chồng con, cuốn quýt vần xoay

Đâu có rảnh mà ngồi tư lự

Xa xôi lắm, một thời thiếu nữ

Chợt bâng quơ, nỗi nhớ lạc loài…


 

Như một ngày đã cũ


Gió chiều, miết mỏng miên man

Đồng sâu tàn ngày hắt sáng

Rựng chiều chút gì kiêu mạn

Tình xưa nay đã lỡ làng

 

Nhủ lòng nỗi nhớ hao vơi

Tất bật đường quê hoen nắng

Mờ cong chân ngày tĩnh lặng

Im nghe trĩu nặng bến đời

 

Đâu rồi ngọn gió ngày xưa

Vô tư đùa trên tóc rối

Dung dăng một thời son rỗi

Hồn nhiên, chín nắng mười mưa

 

Ơi ngày hoa mộng đã qua

Còn nguyên những lời hoa nụ

Của chiều, một ngày đã cũ

Hằn lên từng dấu kỷ hà… 


 

Bến đời


Vụng về trôi

Qua bến thời gian

Dỗ dành rơi

Sợi nắng

Hanh vàng

Em góp nhặt

Những lời yêu cũ

Giũ phong sương

Khõa lấp

Đa mang


 

Dấu lạ


Em ngày xưa

Mắt biếc

Môi cong

Chiều đắm đuối

Hẹn hò như đã

Sao trúc trắc

Hoen mờ

Dấu lạ

Lẫn khuất trôi

Cái nhìn đếm đong


          Lê Thanh Hùng

          Bắc Bình, Lâm Đồng

          <lethanhhung4625@gmail.com>

            

READ MORE - CHÙM THƠ LÊ THANH HÙNG: Điều gì ta nuối tiếc / Như một ngày đã cũ / Bến đời / Dấu lạ

ĐÔNG HÀ - MIỀN QUÊ THƯƠNG NHỚ - Thơ: Nguyễn Văn Trình

  

Công viên Cọ Dầu, Đông Hà
(bachhoaxanh.com)

 

Đông Hà – miền quê thương nhớ

                            Nguyễn Văn Trình

 

Đông Hà ơi, nhớ lắm những con đường

phố lên đèn, ấm áp những yêu thương

bốn phía vệ tinh về đây hội tụ

Đông Hà nhộn nhịp, lòng người vấn vương

 

Phía Bắc Hồ Xá nghiêng mình đón nắng

phía Nam Triệu Phong, Quảng Trị thân thương

Hải Lăng nối nhịp bao miền đất hứa

một dải quê nhà, nặng nghĩa quê hương

 

Phía Tây Can Lộ, Khe Sanh đón gió

Lao Bảo rộn ràng mãi đượm tình quê

Phía Đông Cửa Việt rì rào sóng hát

biển gọi Đông Hà tha thiết đường về

 

Chuông chùa Đại An, ngân vang sớm tối

tiếng mõ trầm tư, lối mộng hồn quê

chuông Nhà thờ rung bình minh thức giấc

lời kinh dìu dịu níu bước người về

 

Tiếng còi tàu xuyên Việt vọng đê mê

nỗi nhớ niềm thương, nối những miền quê

mỗi chuyến tàu qua mang bao nỗi nhớ

để Đông Hà chan chứa những vần thơ

 

Thạch Hãn, Hiếu Giang đôi dòng duyên nợ

hai dòng sông ôm ấp phố Đông Hà

soi bóng nước xanh, soi hình phố xá

bồi đắp tình người, cả ước mơ xa

 

Đông Hà ơi, bao la niềm tha thiết

hội tụ nơi này, rạng rỡ tương lai

dẫu bước chân đi muôn dặm đường dài

nỗi nhớ đất này, nhớ mãi chẳng phai...

 

                                           NVT


Tác giả NGUYỄN VĂN TRÌNH

Bút danh: KATHI

Hội VHNT tỉnh Quảng Trị - ĐT 0914 415 931

Email: nguyenvantrinh58@gmail.com

Đ/C: 65B Đường Chu Mạnh Trinh, Phường Nam Đông Hà, tỉnh Quảng Trị

 

 

 

 

READ MORE - ĐÔNG HÀ - MIỀN QUÊ THƯƠNG NHỚ - Thơ: Nguyễn Văn Trình

TÌM HIỂU VỀ HẬU CUNG NHÀ THANH: CHIẾC LỒNG VÀNG VÀ SỰ THẬT PHŨ PHÀNG ĐẰNG SAU MÀN ẢNH - Hoàng Thị Bích Hà

 

Vua Phổ Nghi - vị vua thứ 12 và là vị vua cuối cùng của triều đại Mãn Thanh.
Ảnh từ Wikipedia

TÌM HIỂU VỀ HẬU CUNG NHÀ THANH: CHIẾC LỒNG VÀNG VÀ SỰ THẬT PHŨ PHÀNG ĐẰNG SAU MÀN ẢNH

 

Lời mở đầu

Khi bước chân vào thế giới điện ảnh qua những bộ phim cung đình nổi tiếng như Chân Hoàn Truyện, Diên Hi Công Lược hay Như Ý Truyện, khán giả thường dễ bị mê hoặc bởi những khung cảnh lộng lẫy, những bộ xiêm y rực rỡ và đặc biệt là những mối tình khắc cốt ghi tâm cùng các màn “cung đấu” gay cấn, nghẹt thở. Phim ảnh dựa trên tư liệu lịch sử, nhưng từ chất liệu đó có thể phóng tác hoặc lấy cảm hứng để dựng thành tác phẩm nghệ thuật. Dù yếu tố lịch sử vẫn được đan xen, nhưng khi đối chiếu với các ghi chép lịch sử, văn bản lưu trữ và tư liệu nghiên cứu chuyên sâu, góc nhìn của hậu thế sẽ nhận ra một đời thực trần trụi và có phần phũ phàng hơn rất nhiều.

Những gì xuất hiện trên màn ảnh nhỏ thực chất chỉ phản ánh một phần rất nhỏ, thậm chí đã được “làm đẹp hóa” và kịch tính hóa để phục vụ nhu cầu giải trí. Mức độ tương đồng giữa phim ảnh và lịch sử thực tế đôi khi chỉ chiếm một phần rất nhỏ. Hậu cung nhà Thanh không phải là chốn bồng lai tiên cảnh cho những mối tình mộng mơ, mà là một bộ máy vận hành chính trị nghiêm ngặt, nơi tình yêu là một thứ xa xỉ phẩm hiếm hoi và các phi tần thực chất chỉ là những quân cờ trên bàn cờ quyền lực của hoàng tộc.

1. Quá trình hình thành và hệ thống thứ bậc trong hậu cung

Hậu cung của các hoàng đế Trung Quốc qua các triều đại đều quy tụ nhiều mỹ nhân tuyệt sắc, và nhà Thanh cũng không ngoại lệ. Tuy nhiên, vào cuối thế kỷ 16, khi Nỗ Nhĩ Cáp Xích mới bắt đầu các cuộc chiến tranh thống nhất các bộ lạc Nữ Chân, chế độ hậu cung bài bản vẫn chưa tồn tại. Vợ của các Hãn vương lúc bấy giờ không có tước hiệu cố định, cũng không phân định cấp bậc rõ ràng, tất cả đều được gọi chung là Phúc tấn (Fu Jin). Phải đến khi Hoàng Thái Cực đổi quốc hiệu thành "Thanh", ông mới tiến hành một loạt cải cách quan trọng, từng bước thiết lập chế độ phong kiến và đặt nền móng cho hệ thống hậu cung trong cung cấm.

Trải qua thời gian, đặc biệt là sau thời vua Khang Hi, chế độ điển lễ trong hậu cung đã trở nên vô cùng hoàn bị và nghiêm ngặt (Quốc triều cung sử - Quyển 8; Thanh sử cảo - Quyển 214). Đứng đầu lục cung là Hoàng hậu, người cư trú ở cung trung tâm để quản lý nội trị. Dưới Hoàng hậu là một hệ thống định biên rõ ràng:

• Hoàng Quý phi: 1 người.

• Quý phi: 2 người.

• Phi: 4 người.

• Tần: 6 người.

Các vị trí từ Tần trở lên được phân bố sinh sống tại Đông Tây thập nhị cung (Đông lục cung gồm: Cảnh Nhân, Thừa Càn, Chung Túy, Diên Hy, Vĩnh Hòa, Cảnh Dương; Tây lục cung gồm: Vĩnh Thọ, Dực Khôn, Trữ Tú, Khải Tường, Trường Xuân, Hàm Phúc) nhằm phụ tá Hoàng hậu quản lý nội cung. Từ cấp Quý phi trở xuống, tước hiệu đều do Nội các soạn thảo, tiến dâng lên và chờ vua chuẩn định sách phong.

Bên dưới cấp Tần là các bậc thấp hơn bao gồm Quý nhân, Thường tại, Đáp ứng. Những tầng lớp này không có số lượng nhất định, không có vị trí định sẵn, sống rải rác trong thập nhị cung và làm tròn các phận sự nội cung theo sự phân công của chủ quản từng cung. Đi kèm với hệ thống thứ bậc này là định biên cung nữ vô cùng chặt chẽ: Hoàng thái hậu có 12 cung nữ hầu hạ, Hoàng hậu có 10 người, Hoàng Quý phi và Quý phi có 8 người, Phi và Tần có 6 người, Quý nhân có 4 người, Thường tại có 3 người và thấp nhất là Đáp ứng chỉ có 2 cung nữ bên cạnh.

2. Chế độ Tuyển tú: Cửa ải chính trị và nỗi sợ hãi của những thiếu nữ

Trong phim ảnh, việc tuyển chọn tú nữ thường mang màu sắc của một cuộc thi nhan sắc nơi các cô gái khoe sắc để thu hút sự chú ý của Thiên tử. Tuy nhiên, sự thật lịch sử hoàn toàn trái ngược. Mục đích cốt lõi của tuyển tú không phải là tìm kiếm cái đẹp, mà là để bổ sung lực lượng cho hậu cung hoặc gả cho con cháu hoàng tộc, chỉ hôn cho các Thân vương, Quận vương và con cháu của họ nhằm củng cố liên minh chính trị.

Chế độ Tuyển tú được đặt nền móng dưới thời vua Thuận Trị, sau khi ông trải qua cuộc hôn nhân không hạnh phúc vì Hoàng hậu lúc đó do Nhiếp chính vương Đa Nhĩ Cổn chọn lựa từ nhỏ mà không qua tuyển lựa công khai. Từ đó, ông quy định việc tuyển lập Hoàng hậu và thê thiếp cho hoàng tộc phải được lựa chọn kính cẩn trong số con gái quan viên Mãn Châu và các quan viên từ Bối lặc trở lên ở ngoài Mông Cổ.

Quá trình tuyển chọn giới hạn nghiêm ngặt trong con gái của người Kỳ (Mãn Châu, Mông Cổ, Hán quân Bát kỳ). Thời Thuận Trị quy định con gái Bát kỳ trong độ tuổi từ 14 đến 16 bắt buộc phải tham gia kỳ tuyển tú diễn ra định kỳ 3 năm một lần. Đến thời Càn Long, quy định càng siết chặt hơn: nếu vì lý do bất khả kháng mà lỡ hẹn, các cô gái bắt buộc phải tham dự vào đợt tuyển kế tiếp. Việc tự ý gả chồng trước khi qua kỳ tuyển (dù đã ngoài 20 tuổi) sẽ bị xem là phạm luật và xử phạt nặng nề. Tới cuối thời Quang Tự, độ tuổi tham gia dao động từ 11 đến 20 tuổi.

Theo quan niệm truyền thống, "hiếu sắc" bị xem là điều ô nhục, do đó các tiêu chuẩn công khai được đề cao là phẩm hạnh và môn đệ (gia thế). Hoàng hậu Long Dụ dù dung mạo không nổi bật nhưng vì là cháu gái của Từ Hi Thái hậu nên vẫn được lập làm Hoàng hậu; ngược lại, Trân phi lọt vào mắt xanh của Quang Tự cũng nhờ vào gia thế hiển hách phía sau.

Việc trốn tuyển tú mang lại hậu quả pháp lý rất nặng nề. Dưới thời Càn Long, Tổng đốc Mân Chiết là Đức Bái từng bị vua khiển trách và khép vào tội nghiêm trọng vì tự ý cho con trai kết hôn với con gái của Tổng đốc Lưỡng Quảng Mã Nhĩ Thái mà chưa qua kỳ tuyển tú. Càn Long khẳng định kỳ tuyển tú 3 năm một lần là để lo việc chung cho hoàng tộc và chư vương, không phải đặc quyền riêng của cá nhân nào, đồng thời nhấn mạnh luật pháp phải được tuân thủ nghiêm ngặt.

Dù triều đình có những chính sách hỗ trợ mang tính "nhân đạo" như việc Càn Long ban hành quy định mỗi tú nữ khi đến dự tuyển (dù quan to hay binh đinh) đều được thưởng một lạng bạc tiền xe, thì thực tế đối với các thiếu nữ, khu vực tuyển tú lại mang đến sự sợ hãi và nước mắt. Xa rời gia đình, bước chân vào cung cấm đồng nghĩa với việc đối mặt với cảnh sống giam hãm suốt đời, ly tán tử biệt với cha mẹ. Thống kê qua 9 đời vua từ Thuận Trị đến Quang Tự với hơn 80 lần tuyển tú ghi nhận có 214 vị hậu phi được an táng. Tuyệt đại đa số họ phải trải qua cuộc đời không hạnh phúc, và khi vua băng hà, những phi tần trẻ tuổi lại tiếp tục bị đưa vào các khu vực "góa phụ" trong Tử Cấm Thành như Từ Ninh cung, Thọ Khang cung hay Thọ An cung, vùi chôn tuổi thanh xuân bên những ngôi chùa trống vắng.

3. Đời sống khép kín và những lầm tưởng về "sủng ái"

Khác xa với hình ảnh các phi tần tự do dạo chơi ngự uyển, tham gia các buổi tiệc trà hay lén lút hẹn hò với hoàng đế trong phim ảnh, hậu cung thực chất là một "nhà tù không song sắt". Các phi tần sống cách biệt hoàn toàn với thế giới bên ngoài, ngày qua ngày quẩn quanh trong khuôn viên chật hẹp với các nghi lễ chào hỏi, thêu thùa, đọc kinh Phật hoặc chờ đợi tuổi già trong vô vọng.

Chế độ ăn uống và sinh hoạt khắc nghiệt: Để tuân thủ di huấn của tổ tông (Khang Hi, Càn Long) nhằm giữ gìn sức khỏe và tránh lãng phí, hậu cung chỉ duy trì hai bữa ăn chính mỗi ngày (bữa sáng và bữa chiều). Số lượng món ăn, lượng thịt, rau củ và định mức than sưởi mùa đông đều được quy định chặt chẽ theo từng bậc tước vị. Phi tần cấp thấp đôi khi có điều kiện sinh hoạt còn chật vật hơn cả một tiểu thư khuê nữ nhà giàu ở bên ngoài.

Sự thật về chuyện thị tẩm: Việc "được sủng ái" trên phim thường gắn liền với tình yêu lãng mạn, nhưng trong lịch sử, đó là một nghi thức mang tính chính trị và duy trì nòi giống tuân theo lịch trình, quy tắc cực kỳ ngặt nghèo. Mọi hành động của vua và phi tần đều được Kính Sự Phòng và thái giám ghi chép tỉ mỉ vào sổ sách (thời gian, địa điểm, ai canh giờ...). Đặc biệt, chỉ duy nhất Hoàng hậu mới được phép ngủ lại qua đêm cùng Hoàng đế. Các phi tần cấp dưới sau khi hoàn thành việc thị tẩm đều phải rời đi ngay lập tức theo lệnh của tổng quản thái giám nhằm ngăn chặn việc phi tần mê hoặc quân vương hoặc gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của Hoàng đế.

Hôn nhân và tình cảm của Hoàng đế: Mô-típ "hoàng tử si tình sẵn sàng bỏ giang sơn vì mỹ nhân" hầu như không tồn tại. Các hoàng đế nhà Thanh từ nhỏ đã được giáo dục trong môi trường khắc nghiệt, khối lượng công việc phê duyệt tấu chương khổng lồ khiến họ không có thời gian để "yêu điên cuồng". Hôn nhân của hoàng đế hoàn toàn do Thái hậu hoặc các đại thần sắp đặt nhằm cân bằng các thế lực chính trị.

4. Bi kịch chia cắt mẫu tử và chiến trường chính trị tàn khốc

Một trong những sự thật đau lòng và gây sốc nhất trong hậu cung nhà Thanh chính là chính sách chia cắt tình mẫu tử. Các phi tần sinh ra hoàng tử hoặc công chúa hầu như không có quyền trực tiếp nuôi nấng con ruột của mình. Ngay từ khi còn rất nhỏ, các hoàng tử sẽ bị tách khỏi mẹ đẻ, giao cho nhũ mẫu và thái giám chăm sóc tại khu vực riêng. Người mẹ chỉ được gặp con vài lần trong năm dưới sự giám sát nghiêm ngặt.

Quy định này xuất phát từ hai mục đích lớn của hoàng tộc:

1. Rèn luyện các hoàng tử theo những tiêu chuẩn khắt khe nhất của hoàng gia từ thủa lọt lòng.

2. Phòng ngừa họa ngoại thích (gia tộc bên ngoại thao túng triều đình). Triều đình lo sợ rằng nếu tình cảm mẹ con quá sâu nặng, khi hoàng tử lên ngôi, gia tộc bên ngoại sẽ dựa vào thế lực đó để lũng đoạn chính sự.

Do đó, việc sinh con trai đôi khi là con đường duy nhất để phi tần cải thiện địa vị, nhưng đồng thời cũng đẩy họ vào bi kịch cô độc khi phải chịu cảnh vắng bóng con trẻ bên cạnh suốt quãng đời còn lại.

Bên cạnh đó, hậu cung thực chất là một chiến trường chính trị thu nhỏ. Những màn đấu đá, hãm hại lẫn nhau không đơn thuần xuất phát từ sự ghen tuông vụn vặt, mà cốt lõi là cuộc tranh giành quyền lực, ảnh hưởng giữa các phe phái Mãn - Hán hoặc giữa hoàng hậu và các thế lực phi tần nhằm bảo vệ lợi ích gia tộc. Khi hoàng đế băng hà, những phi tần không nơi nương tựa hoặc không có con hoàng tử thường phải đối mặt với cảnh sống cô độc trong lãnh cung hoặc vào chùa quy y, khép lại quãng đời "nghỉ hưu" không lối thoát trong lạnh lẽo.

5. Vai trò của Thái giám trong cấu trúc quyền lực hậu cung

Hậu cung là nơi cấm tuyệt đối đàn ông bước vào, ngoại trừ một nhóm người duy nhất là thái giám.

Điểm đặc biệt trong cấu trúc quản lý thời nhà Thanh so với nhà Minh là người cai trị đã sáng tạo khi kết hợp chế độ quản lý thái giám với chế độ quản lý Nội vụ phủ, bắt thái giám phải gia nhập Kỳ tịch (chế độ nhập kỳ của thái giám cung Thanh). Hệ thống này được hình thành từ thời vua Khang Hi và kéo dài suốt đến cuối thời Thanh dưới sự nghiên cứu và ghi nhận của các học giả hiện đại (như tác giả Đằng Đức Vĩnh). Nhờ cơ chế quản lý chặt chẽ này, nhà Thanh đã siết chặt kỷ luật đối với thái giám, trở thành lý do quan trọng giúp triều đại này tránh được tình trạng thái giám lộng quyền, gây họa dữ dội như đã từng xảy ra dưới triều đại nhà Minh. Dù phải trải qua quá trình tịnh thân đầy đau đớn từ nhỏ để đánh đổi lấy một thân phận không có gia đình trọn vẹn, các thái giám vẫn bị cuốn vào guồng quay quyền lực phức tạp của Tử Cấm Thành.

Kết luận

Hậu cung nhà Thanh qua lăng kính lịch sử không hề lung linh, lãng mạn như những thước phim truyền hình. Đó thực chất là một "chiếc lồng vàng" được dệt nên bởi những quy tắc phong kiến nghiêm ngặt, một công cụ chính trị tinh vi phục vụ cho sự hưng thịnh của hoàng tộc Mãn Châu. Tại nơi đây, tình yêu chân thật là một điều xa xỉ không thể với tới, các phi tần chỉ đóng vai trò là những quân cờ chính trị, và ngay cả những vị hoàng đế tối cao cũng phải cúi đầu trước kỷ cương phép nước.

Việc các bộ phim ảnh "tô hồng" và kịch tính hóa cuộc sống nơi cung cấm tuy mang lại giá trị giải trí cao, nhưng lại vô tình che mờ đi hiện thực đầy cô đơn, hy sinh và tàn nhẫn của những người phụ nữ từng sống trong Tử Cấm Thành. Nhìn nhận lại lịch sử qua những trang tư liệu chân thực, hậu thế mới có thể thấu hiểu hết nỗi đoạn trường của những con người chưa từng một lần được sống trọn vẹn cho riêng mình.

Saigon, ngày 23/4/2026

Hoàng Thị Bích Hà

 

READ MORE - TÌM HIỂU VỀ HẬU CUNG NHÀ THANH: CHIẾC LỒNG VÀNG VÀ SỰ THẬT PHŨ PHÀNG ĐẰNG SAU MÀN ẢNH - Hoàng Thị Bích Hà