NGƯỢC DÒNG SÔNG THÁC MA
Đài TH Quảng Trị
Sông Thác Ma bắt nguồn từ vùng rừng
núi nơi miền Tây Hải Lăng còn có tên gọi là Ô Lâu tả trạch. Không giống như những
dòng sông khác, chúng ta thường gặp những con thuyền cắm sào đứng đợi; những
ngư phủ tảo tần tung chài buông lưới, Thác Ma lại rộn ràng với những con thuyền
hối hả ngược xuôi.
Nhìn dòng nước, chúng tôi chợt nhớ
đến câu nói: “Nước trong quá thì không có cá, người kỹ tính quá thì không có bạn”.
Như dòng đời, dòng sông cũng thay đổi
theo thời gian. Có những đổi thay thuận theo tự nhiên, nhưng có những thay đổi
do tác động của con người. Đón chúng tôi ở bến đò thôn Lương Sơn, xã Hải Chánh, huyện Hải Lăng, ông Vũ Viết Kiền, năm nay gần 70 tuổi, chỉ tay xuống dòng sông và bảo: “Chỗ ni hồi tui 10 tuổi ngày mô cũng lội qua lội về, nhưng bây giờ do khai thác cát sạn, lòng sông sâu và rộng ra, muốn qua thì phải đi bằng đò."
Càng về phía thượng nguồn, dòng
Thác Ma cạn và hẹp dần. Để vượt thác, chúng tôi chuyển qua hai con thuyền nhỏ,
loại thuyền thân hẹp và dài, được làm bằng kim loại để chống chọi với ghềnh đá
và nước xoáy.
Nếu như đoạn sông từ cầu Mỹ Chánh
lên Khe Mương, người lái đò thong dong bao nhiêu, thì từ Khe Mương đi về phía
thượng nguồn sẽ vất vả bấy nhiêu. “Sông có khúc, người có lúc.”
Càng gần với con thác đầu tiên, nước càng trong và xanh hơn. Chúng tôi có cảm giác như đang lướt đi giữa một bức tranh thủy mặc.
Theo lời người lái đò, hành trình của
chúng tôi phải vượt qua 18 con thác với những tên gọi như: thác Rong, thác Qủa,
thác Chuối, thác Hoa Lim, thác Trâu Đằm, thác Bãi Chợ….và thác Chơờng.
Người xưa khi đặt tên cho con thác
có lẽ đã gắn với đặc điểm của nó. Ví như thác Hoa Lim vì đoạn sông có nhiều cây
gỗ lim, thác Bãi Chợ là nơi phu rừng thường gặp gỡ mua bán trao đổi. Lại có con
thác hình thù như chiếc bát úp ngược nên gọi là thác Úp Đọi. Hiểu thì thế thôi
chứ không ai biết những tên gọi này có từ bao giờ.
Thử thách thực sự đầu tiên của chúng tôi là vượt
thác Úp Đọi. Ai cũng hồi hộp, lo lắng, chỉ vợ chồng người lái đò vẫn ung dung,
có lẽ vì họ đã quá tường tận về dòng sông này.
Chồng cầm lái, vợ chống mủi, chẳng
một lời mà vẫn hiểu nhau. Nhìn từng động tác dứt khoát, mạnh mẽ của những người
lái đò, chúng tôi chợt hiểu vì sao người xưa đã đặt tên là thác Gân, thác Kỳ...
Nhưng tạo hóa cũng công bằng. Sau mỗi
con thác, dòng nước lại trở nên bình lặng và bao dung, như muốn dành chút thời
gian cho người lái đò được nghỉ ngơi để lấy sức mà đi tiếp.
Có những con thác, chúng tôi phải
chung tay để cùng đưa con thuyền ngược nước. Những lúc như thế này mới hiểu hết
ý nghĩa của sự sẻ chia, sự đồng sức, đồng lòng.
Cái cảm giác đau rát khi bàn chân
chạm vào đá suối, chúng tôi chợt nhận ra rằng mình đã quen đi giày đi dép,
và…cũng đã bỏ quê lên phố lâu rồi.
Đến thác Qủa, vợ chồng người lái đò
lặng lẽ đưa thuyền vượt thác, còn chúng tôi tranh thủ ghé thăm một cốc nhỏ của
một cư sĩ bên sông.
Gọi là cốc, vì chỉ là một ngôi nhà
nhỏ bằng cây rừng giữa bốn bề sông nước, núi non. Vị cư sĩ có tên là Nguyên
Thông, quê gốc ở làng An Thơ, xã Hải Hòa.
Như lời vị cư sĩ, sau bao năm tháng
bôn ba với cuộc đời, nay ông quay về chọn nơi này để được hòa mình cùng cỏ cây,
hoa lá và làm bạn tri âm tri kỷ với dòng sông.
Cư sĩ Nguyên Thông giới thiệu với
chúng tôi về khu vườn mà ông đã khai phá từ 6 năm nay. Những cây dừa từ Bến Tre
đưa về đã bắt đầu xanh tốt. Những cây xoài cũng bắt đầu bói quả.
Mặc dù sống ẩn dật, nhưng tư tưởng
nhập thế của đức Phật vẫn là đuốc tuệ soi đường trong mỗi việc ông làm.
Cũng vì thế mà ông đã lặn lội hàng
chục cây số đường rừng, tìm mua những chiếc máy bỏ đi, mày mò bắt chúng sống lại
để trở nên hữu ích.
Trước lúc chia tay, hỏi ra mới biết, cư sĩ Nguyên Thông từng là kỹ sư tốt nghiệp Đại học kỹ thuật Phú Thọ - Sài Gòn.
Đối diện với cốc nhỏ của cư sĩ
Nguyên Thông, bên kia sông là ngôi chùa của một vị tu sĩ ở Huế ra tạo lập. Trước
cửa chùa có đôi câu đối:
“Gió mát trăng thanh, khoảng khoát
bao la, tĩnh lặng thoát tâm hồn.
Non xanh nước biếc, vạn vật hòa ca
, mây ngàn không vướng bận”
Vì không có người chăm sóc, khung cảnh
thật hoang vắng, tiêu điều. Thế mới biết khi tâm còn động vọng thì dù tiên cảnh
cũng không níu giữ được chân người.
Rời thác Quả, chúng tôi hướng đến
thác Chơờng, con thác cuối của cuộc hành trình. Đường đi không còn quá xa,
nhưng đầy thử thách. Những tảng đá ngầm có thể làm thủng thuyền bất cứ lúc nào.
Nhiều lúc chúng tôi phải rời thuyền để đi bộ.
Thác Chơờng chính là con thác đẹp
nhất trên dòng Thác Ma - Ô Lâu tả trạch. Giữa lòng thác là một tảng đá rất lớn
liền một khối và tương đối bằng phẳng, vì thế mới có tên là thác Chơờng, một biến
âm của từ giường.
Xung quanh lại có tảng đá hình thù
chiếc ghế như đang đón đợi lữ khách dừng bước nghỉ ngơi, trong khi dòng nước vẫn
miệt mài len lỏi chảy qua từng phiến đá như hằn sâu vết chân thời gian. Nước chảy
đá mòn.
Chia tay thác Chơờng, lưu luyến trước
cảnh đẹp mà tạo hóa đã dày công tạo dựng, có người mang về một cây Đỗ quyên rừng
để làm kỷ niệm, còn chúng tôi lại bâng khuâng trước hàng hàng cây vối bên sông. Có lẽ những người lính miền Bắc khi vượt dòng Ô Lâu tả trạch để vào Nam đánh giặc bất chợt bắt gặp cánh hoa vối, lòng sẽ không khỏi bâng khuâng nỗi nhớ nhà, nhớ về bà và mẹ đã nấu những bình nước vối cho mình uống thủa còn tấm bé.
Gần 3 giờ chiều, chúng tôi bắt đầu
xuôi dòng Thác Ma. Cứ tưởng vượt thác mới gian nan, vất vả, vậy mà xuôi thác
cũng không kém phần vất vả, gian nan.
Vợ chồng người lái đò phải hợp lực
để ghìm con thuyền đừng trôi quá nhanh và tránh bị va vào ghềnh đá. Họ như cố đẩy
con thuyền ngược về phía dòng chảy.
Dừng chân ở Khe Mương, chúng tôi
ghé thăm làng mạc hai bên bờ. Những người dân sống bằng nghề sông nước, giờ đây
đã chuyển lên cạn, sống dựa vào rừng và đất đai.
Cùng với cây tre và rừng trồng, những
vườn chè của vùng Trầm Sơn, Tân Điền của Hải Sơn; Tân Lương, Vực Kè của Hải
Chánh là nguồn thu nhập quan trọng của người dân, tạo nên thương hiệu chè Mỹ
Chánh nức tiếng khắp vùng.
Theo các nhà địa chất, vì chảy qua
vùng đất nhiều ghềnh thác và truông cát, Thác Ma như được thanh lọc nên dòng nước
trở nên ngọt ngào và trong xanh.
Còn với chúng tôi, sau bao phen lên
thác xuống ghềnh, Thác Ma trở nên tĩnh lặng, khiêm nhường như một người từng
trải.
Chiều về trên sông, thấp thoáng vài
con thuyền chài nhỏ bé, ánh tà dương
buông phủ, những rặng tre đôi bờ rủ bóng và màu nước càng trở nên huyền ảo đến
mơ màng.
Trong màu nước kia hình như còn in
bóng những câu chuyện lập thân, lập nghiệp của các bậc tiền nhân, những người
đi trước với nghĩa khí ngất trời.
Sông vẫn trôi khẽ khàng lặng lẽ, như một chứng nhân ôm vào mình những giấc mơ gởi gắm của bao người.
Nguồn: Đài TH Quảng Trị.
Đăng lại trên FB Tin Tức Quảng Trị 365.





.png)


