Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Saturday, July 11, 2026

YouTube: HAI BỐN NĂM SAU - Nhạc: Giang Thiên Tường - Thơ: Phan Khôi - Hòa âm: Quang Đạt - Tiếng hát: Linh Thảo

 

READ MORE - YouTube: HAI BỐN NĂM SAU - Nhạc: Giang Thiên Tường - Thơ: Phan Khôi - Hòa âm: Quang Đạt - Tiếng hát: Linh Thảo

ĐÈO SA MÙ BÊN TRƯỜNG SƠN TÂY - Đình Nhu



ĐÈO SA MÙ BÊN TRƯỜNG SƠN TÂY

Đình Nhu

 

Trên nhánh Tây của đường Hồ Chí Minh đoạn Khe Gát-Khe Sanh có một con đèo được coi là cao nhất, hiểm trở nhất và cũng ngoạn mục nhất, nằm cách Khe Sanh gần 30 cây số về phía bắc và cách Khe Gát khoảng 200 cây số về phía nam.

 Đó là Sa Mù, cao hơn 1400 m!

Tầm đầu những năm 2000, khi tuyến này đang thi công mình đã lên đây. Nhớ mãi cuộc trò chuyện trong mây với anh em công nhân, cách chục mét chỉ thấy bóng, không rõ mặt: “Bọn em ở đây 3 tháng chưa thấy mặt trời, 3 tháng quần áo giặt không khô.”




Bây giờ quay lại, khi Huế, Đông Hà nóng 36-37 độ thì lên đây giảm còn 23 độ, mát như đang ở Sa Pa hay Đà Lạt vậy…

Xin nói thêm rằng, cũng như đoạn qua hầm A Roàng từ A Lưới (Huế) đi Thạnh Mỹ (Đà Nẵng), thời chiến tranh, ô tô không thể vượt Sa Mù bởi núi quá cao và hiểm trở, chỉ là lối mòn cho người gùi cõng, còn xe cơ giới thì phải vòng sang đất Lào mấy chục cây số.

Chiếu theo Hiệp định Giơ-ne-vơ (1954), sông Sê-băng-hiêng làm giới tuyến phía tây Trường Sơn nên huyện Hướng Hoá phần lớn nằm ở bờ nam, chỉ có xã Hướng Lập cắt ra miền Bắc. Cũng như giới tuyến sông Bến Hải bên đông Trường Sơn, huyện Vĩnh Linh phần lớn nằm ở bờ bắc, chỉ xã Vĩnh Liêm cắt vào miền Nam. Có lẽ vậy mà dù cũng nằm trên Trường Sơn nhưng người Quảng Trị không nói “lên” mà là “ra” Hướng Lập - Cù Bai. Mãi đến những năm 1990, vùng đất bên kia đèo Sa Mù vẫn là nơi xa xôi cách trở nhất của tỉnh Quảng Trị.

Mình nhớ hồi đó, mỗi khi có ca cấp cứu. dù là dân bản hay lính đồn, thì bộ đội biên phòng đều gọi xe Gat-66 của Sở chỉ huy chạy từ Đông Hà lên, trên này thì cử anh em khiêng người lội qua sông Sê-băng-hiêng, vượt đèo Sa Mù mà chạy bộ về. Nhiều bữa xe từ Đông Hà (cách gần trăm cây số) đã tới chờ dưới chân đèo rồi mà cáng vượt Sa Mù vẫn chưa đến. Cũng có những khi cáng chưa qua hết Sa Mù thì bệnh nhân đã tắt thở. Còn trúng khi mưa lũ thì đành bó tay…

Ngày ấy, các đoàn công tác quan trọng ra Hướng Lập - Cù Bai đều phải “mượn” đường bạn Lào mà đi, vô cùng bất tiện.

Chỉ đến cuối những năm 1990, khi Bộ trưởng Quốc phòng Đoàn Khuê, Đại biểu Quốc hội tại Quảng Trị, mấy lần thực địa Cù Bai thì mới cho đầu tư đoạn đường tuần tra cơ giới vượt Sa Mù. Con đường này về sau trở thành một đoạn trong nhánh Tây của đường Hồ Chí Minh ngày nay.




Giờ đèo Sa Mù bên Tây Trường Sơn là một cung phượt hấp dẫn không chỉ với giới trẻ mà cả với lớp già như mình. Ở đó không chỉ có thiên nhiên hoang sơ, hùng vĩ mà còn biết bao địa danh huyền thoại của một thời cha ông xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước.


Đình Nhu

https://www.facebook.com/dinh.nhu.3720


READ MORE - ĐÈO SA MÙ BÊN TRƯỜNG SƠN TÂY - Đình Nhu

MỘT NĂM - Thơ: Huỳnh Liễu Ngạn




HUỲNH LIỄU NGẠN

 

MỘT NĂM

 

tháng giêng hoa xoan chưa nở

thì em đã vội lấy chồng

mùi hương còn đang dang dở

rụng đầy xuống cả dòng sông

 

tháng hai ánh trăng vừa cũ

chênh chao ngõ vắng im lìm

em không còn gì để nói

chỉ màu nắng nhạt qua tim

 

tháng ba lòng như sao vỡ

trên tà áo đã pha phôi

biết em bên phương trời ấy

vẫn còn đỏ thắm bờ môi

 

tháng tư mây sa xuống thấp

che dùm anh nỗi đắm say

sao em không nhìn mây nữa

cho anh thấy mái tóc dày

 

tháng năm bên giàn bông giấy

dáng em hiu hắt thân gầy

giọt sương đọng trên mái tóc

đã vòng theo những thơ ngây

 

tháng sáu thềm hoang cỏ dại

không còn ai đợi chờ ai

nhủ thầm đừng yêu ngọn gió

sẽ làm sướt nhẹ đôi vai

 

tháng bảy trên cành lá nhớ

điệu buồn chợt níu hàng cây

hình dung em gầy guột nhỏ

cho anh hơi ấm mỗi ngày

 

tháng tám ngoài vườn chim hót

ước gì được nắm bàn tay

để nghe nhịp đời ngưng chảy

dù chỉ là một phút giây

 

tháng chín trời như trở lạnh

vào hồn em chút hoang liêu

anh đi thương mùa thu cũ

khi tình xưa đã xanh rêu

 

tháng mười mưa rơi sợi nhỏ

ướt môi em ngọt mấy trời

anh qua đứng bên bờ suối

thả trôi bao lời chia phôi

 

tháng mười một chợt mù tăm

bơ vơ theo tiếng thì thầm

em bảo thôi đừng đợi nữa

kiếp sau mới có trăng rằm

 

tháng chạp anh về chốn cũ

tìm thương lại thuở ban đầu

một năm trôi qua nhanh quá

bao nhiêu nước chảy qua cầu.

 

27.8.2024 - 9.7.2026

 

HUỲNH LIỄU NGẠN

hiephuynh479@gmail.com


Ảnh: Pinterest

READ MORE - MỘT NĂM - Thơ: Huỳnh Liễu Ngạn

HẠNH PHÚC KHI ĐƯỢC YÊU / THE HAPPINESS OF BEING LOVED by Thi Lan Anh Tran and Musharraf Hussain


 

THE HAPPINESS OF BEING LOVED 

HẠNH PHÚC KHI ĐƯỢC YÊU

by Thi Lan Anh Tran and Musharraf Hussain

 

Happiness in life

is found in being loved.

 

How wonderful it is

to be cherished by you,

whether only once

or a thousand times,

each moment remains as sweet

as the very first day.

 

Happiness flows into my soul

like a river breaking through its banks,

washing away every sorrow,

filling every empty space

within my heart.

 

Oh, life is filled

with endless passions,

yet no passion is more beautiful

than the love

between two souls.

 

My only wish

is simple and true:

to be beside you,

to love you,

and to be loved by you forever.

 

That alone

is enough to create

a lifetime of happiness…

 

Copyright © Thi Lan Anh Tran & Musharraf Hussain

 

HẠNH PHÚC KHI ĐƯỢC YÊU

Tác giả:

Thi Lan Anh Tran, Aschaffenburg, Germany

Musharraf Hussain, Assam, India

 

Hạnh phúc cuộc đời

là khi ta được yêu.

 

Tuyệt vời biết bao

khi được em dịu dàng yêu chiều,

dẫu chỉ một lần

hay ngàn lần cũng thế,

vẫn ngọt ngào

như buổi đầu tiên.

 

Hạnh phúc tràn về

như thác lũ vượt qua bờ đê,

xô tan mọi nỗi buồn,

lấp đầy những khoảng trống

trong trái tim anh.

 

Ôi cuộc đời

đầy ắp những đam mê,

nhưng chẳng có đam mê nào

đẹp hơn

tình yêu đôi lứa.

 

Khát khao của anh

chỉ giản đơn thế thôi:

được ở bên em,

được yêu em,

và được em yêu mãi.

 

Chỉ vậy thôi

cũng đủ làm nên

một đời hạnh phúc…

 

Bản quyền © Thi Lan Anh Tran & Musharraf Hussain

E- Mail: Wirtschaftskanzlei@Dipl-Kauffrau-Tran.de

Dipl.- Kauffrau Thi Lan Anh Tran


---------

Đã đăng trên:

https://www.polismagazino.gr/the-happiness-of-being-loved-by-thi-lan-anh-tran-and-musharraf-hussain

READ MORE - HẠNH PHÚC KHI ĐƯỢC YÊU / THE HAPPINESS OF BEING LOVED by Thi Lan Anh Tran and Musharraf Hussain

ĐƯA ANH VỀ ĐẤT MẸ - Thơ: Nguyễn văn Trình




Đưa anh về đất mẹ

 

Bao năm lá phủ rừng già

Anh nằm lặng giữa, sương sa lạnh lùng

Hôm nay đồng đội trùng phùng

Ôm anh nước mắt, rưng rưng vui mừng

 

Đưa anh qua suối, qua rừng

Con đường gian khó, không ngừng bước chân

Đồng đội nghẹn khóc, bần thần

Đón anh về với, đất lành quê ta

 

Mẹ già tóc bạc vỡ òa

Ôm hồn con giữa, nhạt nhòa khói hương

Bao năm, mẹ ngóng cuối đường

Giờ con đã được quê hương đón về

 

Tháng bảy, nắng thắm bờ đê

Tri ân liệt sỹ, lời thề sắt son

Anh về yên giấc vẹn tròn

Hồn anh còn mãi, nước non nghĩa tình ...

 

                                           NVT


Tác giả NGUYỄN VĂN TRÌNH

Bút danh: KATHI

Hội VHNT tỉnh Quảng Trị - ĐT 0914 415 931

Email: nguyenvantrinh58@gmail.com

Đ/C: 65B Đường Chu Mạnh Trinh, Phường Nam Đông Hà, Quảng Trị

 



READ MORE - ĐƯA ANH VỀ ĐẤT MẸ - Thơ: Nguyễn văn Trình

Tuesday, July 7, 2026

CHỨNG NHẬN ĐẶC BIỆT CỦA KHÔNG GIAN VĂN HỌC LETRAS DEL CORAZOL trao cho TRẦN THỊ LAN ANH

 



KỶ NIỆM LẦN THỨ 4 – NĂM 2026

Tôn vinh Ý chí và Nghị lực

Quốc gia đăng cai: Hoa Kỳ

 

Nhằm bày tỏ lòng tri ân đối với những nghệ sĩ văn học xuất sắc nhất đến từ năm châu lục, những người đã có nhiều cống hiến thông qua hành trình sáng tác và hoạt động nghệ thuật chuyên nghiệp của mình.

Đồng thời, chúng tôi cũng trao tặng Chứng nhận Đặc biệt này đến những tác giả đã tham gia các cuộc thi do Không gian Văn học Letras del Corazón tổ chức.


Chứng nhận được phát hành nhân dịp tưởng niệm và tôn vinh Octavio Paz, nhà văn và nhà thơ Mexico, người đoạt Giải Nobel Văn học năm 1990, nhằm tri ân những đóng góp to lớn của ông đối với nền văn học thế giới.

 

 


E-Mail: Wirtschaftskanzlei@Dipl-Kauffrau-Tran.de

Dipl.- Kauffrau Thi Lan Anh Tran

 

READ MORE - CHỨNG NHẬN ĐẶC BIỆT CỦA KHÔNG GIAN VĂN HỌC LETRAS DEL CORAZOL trao cho TRẦN THỊ LAN ANH

KHI ANH ĐI KHÔNG NGƯỜI ĐƯA ĐÓN KHI ANH VỀ TÁM CHÍN NGƯỜI KHIÊNG - Truyện ngắn : Hoàng Thị Bích Hà

 

Ảnh minh họa của Gemini.

KHI ANH ĐI KHÔNG NGƯỜI ĐƯA ĐÓN

KHI ANH VỀ TÁM CHÍN NGƯỜI KHIÊNG

Hoàng Thị Bích Hà

 

Ra trường, sau vài năm trải nghiệm nghĩa vụ miền núi, tôi được bổ về dạy học tại một trường trung tâm nội đô. Hôm ấy tôi trống tiết 2 và 3, nên tranh thủ ra trước cổng trường, ăn sáng. Quán này chuyên cung cấp hải sản, cơm văn phòng và một vài món ăn sáng. Chợt tôi thấy một người đàn bà ngoài ngũ tuần, da hồng hào, đôi môi đỏ thắm. Trên cổ là sợi dây chuyền vàng nặng trĩu. Hai tay đeo kín vòng xuyến hay ximen 7 chiếc. Mười ngón tay gần như chẳng ngón nào không mang nhẫn với đủ loại mặt ngọc.

Tôi nhìn chị gật đầu chào, chị cười hiền chỉ vào trong quán:

-Cô giáo dùng gì, vào mấy em làm cho!

Đó là chị Lâm, chủ quán.

Chị từ vùng biển Thuận An lên Thành Nội mua căn nhà mặt tiền cách đây vài năm. Hồi mới mua, nhà chỉ môt trệt, một lững cũ kỹ. Sau một thời gian, chị xây lại thành hai tầng khang trang rồi mở quán ăn. Chị thuê người làm hết. Chị chỉ đi ra đi vào quán xuyến chung, dáng bộ rất thảnh thơi.Tuy nhiên, lúc nào cũng giản dị, bình dân. Khách ăn trong quán còn ngồi bàn ghế đàng hoàng, còn chị lại hay ngồi bên bậc thềm trò chuyện với hàng xóm một cách vui vẻ, ăn sáng, ăn vặt gì chị cũng chỉ ngồi đó, không cần bàn ghế gì sất. Khi có cái đòn, có khi chị ngồi ngay bậc thềm chuyện vãn với láng giềng. Trong xóm và khách của quán, ai cũng quý chị. Tôi quen chị từ đó.

Sau mấy tháng nghỉ hè, tôi mới quay lại trường.

Chị chủ nhà vẫn ngồi đó, nhưng bộ điệu đã khác, nụ cười buồn hơn. Vàng trên hay tay không còn nhiều như mọi khi. Gương mặt sầu thảm, mất hết cả sinh khí!

Tôi nghĩ thầm, có lẽ chị ốm, hỏi:

-Dạo này khỏe không, chị Lâm?

Chị không trả lời ngay mà theo tôi đi vào trong quán. Tôi mua ít cá, tôm về cho gia đình. Đợi em nhân viên soạn hàng cho tôi.

Chị bảo:

-Cô giáo dùng chén trà ấm đi!

Khói trà bay lên rồi tan mất giữa khoảng sân đầy nắng.

Chị nhìn tôi, ánh mắt chị buồn như ngày tận thế, chị chậm rãi nói:

- Tui mất nhà rồi, cô giáo!

Tôi giật mình. Căn nhà hai tầng trước mặt còn đó. Bức tường mới sơn còn thơm mùi vôi mới. Mất nhà là mất làm sao?

Chị hiểu thắc mắc của tôi, cúi đầu nhìn xuống chén trà rồi nói:

- Chồng tui bán rồi.

Giọng buồn, trầm mang vẻ cay đắng. Có những nỗi đau chỉ muốn khóc, mà đau quá có khi khóc không nổi.

-Tuần sau tui phải vô trong hẻm thuê nhà để 4 mẹ con sống với nhau. Chắc cũng tiếp tục bán quán ăn nhưng nấu ít lại, cho nhân viên nghỉ bớt, chỉ để lại một người đứng bếp.

Chị chậm rãi kể tiếp:

- Chẳng giấu gì cô. Vợ chồng tôi làm ăn, tích cóp mà có. Ngày trẻ, vợ chồng theo ghe đánh cá. Những chuyến biển kéo dài hàng tháng trời. Có khi đi tận vùng đảo xa. Những lần gặp bão, chỉ biết ôm nhau, cầu trời cho ghe đừng lật. Mưa gió, sóng lớn, hiểm nguy đủ thứ. Cực khổ vậy nhưng cũng dành dụm được chút vốn.

Khi có chút vốn, tôi mới tính lên phố mua nhà, làm ăn, đặng kiếm chỗ con cái học hành cho thuận tiện.

Thế rồi, tui mở quán ăn cũng có đồng vô, đồng ra đủ chi phí sinh hoạt và lo cho con cái học hành. Tưởng cuộc đời từ đó sẽ yên ổn. Ai ngờ lúc túi có tiền, người lại sinh chuyện.

- Đàn ông nhiều khi lạ lắm, cô giáo à. Hồi nghèo thì chăm chỉ làm ăn. Đến lúc có vài đồng trong túi, rảnh rỗi sinh tật.

Ông ấy đi nhậu.

Chị nói mà giọng bình thản đến lạ, như đang kể chuyện của ai khác.

- Ban đầu chỉ là nhậu nhẹt. Sau đó là bia ôm. Rồi dính luôn một con nhỏ thua ổng ba chục tuổi, chỉ bằng tuổi đứa con đầu của ổng.

Tôi lặng lẽ nghe chị kể, nhìn xuống những ngón tay chị. Những ngón tay từng kéo lưới, từng vá chài, từng gói ghém cả tuổi trẻ trong mưa gió và mùi muối biển, đang run rẩy.

-Ổng bán nhà.

Chị ngừng lại, nhấp ngụm trà.

-Ban đầu ổng giấu. Sau thì chẳng buồn giấu nữa.

Ổng về bán căn nhà này, lấy tiền đi theo gái rồi. Nghe nói vô Nam sống. Còn nhà này đã có chủ mới, người ta hẹn tuần sau giao nhà. Tui ngao ngán chỉ biết kêu trời!

Nói tới đây, mắt chị đỏ hoe.

-Tui vẫn nghĩ rồi sẽ có ngày ổng tỉnh ra mà quay về.

Nhưng quay về đâu chẳng thấy lại còn ngày một sa chân.

Tôi chỉ biết động viên chị ráng giữ gìn sức khỏe, buôn bán và lo cho con. Rồi mọi việc sẽ qua!

Thời gian trôi đi mới đó đã ba năm, tui thỉnh thoảng vẫn ghé ủng hộ chị. Nghe chị kể, tiền buôn bán không đủ chi phí trả mặt bằng. Chị tính gọi điện qua Mỹ, nói với chú Út là cho dựng tạm căn nhà tôn ở trên đất chú, chèo chống cho con lớn lên một khúc nữa, để các cháu học xong phổ thông mà kiếm việc làm. Khi nào chú về Việt Nam nghỉ hưu thì trả lại đất cho chú.

(Chú Út là em trai ba nó, qua bên Mỹ đánh cá cũng khá, gửi tiền về nhờ mua giùm một miếng đất để sau này về dưỡng già).

Nhưng đâu còn nữa, ăn hết tiền, ổng về bán luôn miếng đất của chú em và mang tiền đi rồi!
       (Có lẽ lúc đi mua nhà, chị bận buôn bán, lại tin tưởng chồng nên ủy quyền cho anh ta đi giao dịch, nên sổ đỏ nhà chị và miếng đất của chú em đều đứng tên anh ta)

 

-Tui nghe mà rụng rời tay chân. Theo gái trẻ mà như bị người ta lấy mất hồn vậy đó, cô giáo.

-Đứa con trai đầu bảo tôi (chị kể tiếp): “Mẹ cho con đi nhảy tàu vài năm cho cứng cáp để con tìm ba, con chém, chơ con tức quá rồi!

Tôi hết hồn hết vía bảo con:

- Mạ lạy con! Ổng sai thì có trời biết. Mình đừng gây thêm tội. Ông ấy chết rồi,  nhà cửa mình cũng đâu lấy lại được, còn chưa kể con ngồi tù, mẹ làm sao mà bới xách vừa lo làm lụng để nuôi mấy em. May mà thằng nhỏ cũng nguôi.

Thế rồi thôi, mấy mẹ con cứ cặm cụi làm ăn qua ngày đoạn tháng. Bây giờ hai đứa đã tốt nghiệp phổ thông và đi làm ở Bình Dương.

Tôi ghé thấy quán nhỏ hơn, bàn ghế ít hơn. Nhân viên cũng ít hơn. Nhưng chị vẫn ở đó, cặm cụi làm ăn, chống chọi với những món nợ mà mình không gây ra.

Bẵng đi một thời gian, tôi bận rộn quá, không ghé.

Cho đến một buổi trưa. Bước vào quán, tôi thấy trong góc nhà có một người đàn ông đang nằm. Ông gầy đến mức chỉ còn da bọc xương. Cái bụng trướng lên như chiếc trống cũ. Mắt đục. Hơi thở đứt quãng.

Tôi nhận ra đó là chồng chị. Người đàn ông đã bán nhà. Đã bỏ vợ, bỏ con, đi theo tình trẻ.

Tôi ghé tai hỏi nhỏ: “Ổng quay về rồi, hả chị?” Vậy là ổng “quay đầu là bờ”.

Chị bảo:

-Đâu có, ổng không quay đầu mà là lâm trọng bệnh, con nhỏ đó nó lấy hết tiền rồi nó đá ổng luôn. Bệnh viện trong đó mới gọi vào nhận. Mấy mẹ con tui nghĩ thôi thì đưa ổng về. Dù sao cũng là cha tụi nhỏ.

Tôi nhìn chị, Không biết trong lòng người đàn bà ấy còn lại gì? Hận, Buồn? Hay đã mệt đến mức không còn sức để oán trách?

- Rồi tui nhờ người em gái của ổng vô đem ổng về, nằm bên Bệnh viện Huế một thời gian, nay cũng hơi đỡ chút, nhưng không còn đi được nữa. Hôm xe chở về, phải mấy người khiêng ổng vô mới được vì ổng bị xơ gan cổ trướng, hẻm nhỏ xe không vô được nên phải mỗi người mỗi tay mà đưa cáng ổng vô. Mấy đứa trong xóm nhìn thấy cảnh ấy mới nói rằng: “Khi anh đi không người đưa đón. Khi anh về tám chín người khiêng” là vì vậy!

Thôi thì còn chút nghĩa tào khang, chị chăm sóc ổng những ngày tháng cuối đời như một cách làm phước. Cũng là một cách chị thương con. Vì chị không chăm, con cái ổng cũng sẽ phải lo cho cha nó. Thôi không tính toán gì với ổng nữa. Chắc ổng cũng bị lương tâm dày vò, ân hận lắm rồi!

Lúc ra về, tôi ngoái nhìn. Người đàn ông nằm im trong góc nhà.

Ngoài sân, chị Lâm đang lau bàn cho khách. Nắng chiều rơi xuống mái tóc đã lấm tấm bạc. Còn người phụ nữ ấy, sau tất cả những gì bị lấy đi, vẫn giữ được một điều. Đó là lòng nhân hậu. Và có lẽ, đó mới là tài sản lớn nhất của một đời người.

Saigon, ngày 10/6/2026

Hoàng Thị Bích Hà

           habich1963@gmail.com

 

 

READ MORE - KHI ANH ĐI KHÔNG NGƯỜI ĐƯA ĐÓN KHI ANH VỀ TÁM CHÍN NGƯỜI KHIÊNG - Truyện ngắn : Hoàng Thị Bích Hà

CHÙM THƠ LÊ THANH HÙNG: Mỗi ngày em đi học / Ngày xa trường / Tiếng chim lẻ bạn, khan tình gọi mãi / Ríu rít, những tiếng cười con trẻ

Tác giả Lê Thanh Hùng



Mỗi ngày em đi học

 

Ríu rít bầy sẻ nâu hóng hớt

Bên sân nhà ngập nắng ban mai

Em đứng ngắm, nhoẻn cười bất chợt

Xòe tay nghiêng, vạt nắng đổ dài

 

Bầy chim nhỏ, giật mình dáo dác

Ngẩn ngơ nhìn lo sợ, bay lên

Quầng mây trắng, dường như trôi lạc

Che đôi môi, cong cớn ngọt mềm

 

Bầy chim bay, vội vàng tụ lại

Lấm lét nhìn, hòa giọng lau nhau

Em bước qua, hương ngày con gái

Gã láng giềng, bước vội theo mau

 

Đường đến lớp, em hồn nhiên nắng

Ngập ngừng, cho ai cũng ngập ngừng

Yên ả quá, không gian phẳng lặng

Lưng chừng, vạt tóc xõa ngang lưng

 

Xóm nhỏ, ngày mỗi ngày như thế

Gió đường xa, thay đổi theo mùa

Khép vạt áo, bao điều có thể

Lối đi về, tím ngát hoa mua…

 

 

Ngày xa trường

 

Lời em hát, trong ngày trường tổng kết

Năm học qua rồi, đọng lại buồn vui

Xếp sách vở, những ngày thi mỏi mệt

Tiếng cười trong, xen lẫn nỗi ngậm ngùi

 

Ngày thong thả, sao còn như hối tiếc

Tiếng ve mồ côi, bất chợt ngẩn ngơ

Cứ thấp thỏm, kìa ai kia có biết

Vạt nắng chao nghiêng, khao khát đợi chờ…

 

Anh khách lạ, chỉ vô tình lén ngắm

Bồi hồi run, nhìn mái tóc dài suôn

Ký ức ngày xưa, hồn nhiên thấm đẫm

Ngọn gió vu vơ, lay động nỗi buồn…

 

Lời em hát, cao trào dâng nỗi nhớ

Để chìm trôi trong những nốt hạ âm

Tròn tiếng lắm, lời hẹn ngày gặp gỡ

Thuở xa trường, mới đó mà xa xăm

 

Anh sống lại một ngày hè sôi động

Có mái tóc dài, trói buột đời trai

Nghe bổi hổi trong lời ca bay bổng

Cứ mãi theo anh, suốt cả dặm dài…

 

Tiếng chim lẻ bạn, khan tình gọi mãi

 

Rớt nhịp ba dưới mái hiên thưa

Cô chủ nhỏ, giật mình nhìn ái ngại

 

Đổ xuống thềm, niềm cảm xúc xót xa

Bâng khuâng ngắm, tiếng chim rơi thảng thốt

Nghe nhịp đời, đồng vọng thiết tha…

 

 

Ríu rít, những tiếng cười con trẻ

 

Lao xao trong giọt nắng đầu ngày

Giọng cô giáo của em hơi nghiêm, nhưng thật nhẹ

 

Như tiếng mẹ dỗ dành, đưa bé đến trường

Có chiếc lá vội vàng rơi, thật khẽ

Bầy sẻ nâu hóng hớt những giọt sương…

         

       Lê Thanh Hùng

       Bắc Bình, Lâm Đồng

READ MORE - CHÙM THƠ LÊ THANH HÙNG: Mỗi ngày em đi học / Ngày xa trường / Tiếng chim lẻ bạn, khan tình gọi mãi / Ríu rít, những tiếng cười con trẻ

Saturday, July 4, 2026

ĐI ĐỂ TRỞ VỀ TRONG “Ớ Ờ Ơ GỌI MIỀN THƯƠNG NHỚ” - Hoàng Thị Bích Hà




ĐI ĐỂ TRỞ VỀ TRONG 

“Ớ Ờ Ơ GỌI MIỀN THƯƠNG NHỚ”

 

Từ lâu, du ký đã trở thành một dòng chảy đặc sắc của văn học thế giới và Việt Nam. Từ The Great Railway Bazaar của Paul Theroux, On the Road của Jack Kerouac,… đến những tác phẩm quen thuộc với độc giả Việt như Chân đi không mỏi của Đinh Hằng, Xách ba lô lên và đi của Huyền Chip hay Ta ba lô trên đất Á của Rosie Nguyễn, mỗi cuộc lên đường không chỉ mở ra những miền đất mới mà còn là hành trình khám phá chính mình. Đằng sau những bước chân rong ruổi luôn là những suy tư về con người, quê hương và ý nghĩa của sự trở về.

 

Trong mạch nguồn ấy, “Ớ ờ ơ Gọi miền thương nhớ” (Nxb Thuận Hóa, 2026) của nhà báo - nhà văn Trần Vọng Đức xuất hiện như một cuộc hành trình mang đậm hồn Việt. Với gần 300 trang sách, tác giả dẫn người đọc đi qua những vùng đất trải dài trên dải đất hình chữ S, khơi dậy những giá trị văn hóa, những phong tục, tập quán và những vẻ đẹp bình dị đã làm nên căn cước của dân tộc. Ở đó, mỗi chuyến đi không đơn thuần là khám phá, mà còn là một cách trở về với cội nguồn, với miền thương nhớ luôn ngân vang trong tâm thức người Việt. Đây là một tác phẩm cho thấy sự kết hợp hài hòa giữa lối viết báo chí giàu tính tư liệu và giọng văn giàu cảm xúc, để lại trong lòng người đọc những dư ba khó phai về tình đất, tình người trên khắp mọi miền Tổ quốc.

Cuốn sách được tổ chức thành năm phần rõ rệt: “Gập ghềnh vùng cao đất Bắc”, “Muôn thuở sông Hồng”, “Cuồn cuộn miền Trung”, “Nam Bộ mênh mang” và “Rảo bước xứ người”. Điều đáng chú ý thông qua những địa danh tác giả đặt chân đến - từ Lũng Cú, Hà Giang đến Mũi Cà Mau; từ sông Hồng thơ ấu đến những dòng sông xứ Huế; từ các nước châu Á đến châu Âu, châu Mỹ - cho thấy cách ông kết nối mỗi bước chân với những cung bậc cảm xúc khác biệt. Điểm đặc sắc nhất của Trần Vọng Đức là ông không ghi chép phong cảnh một cách khô khan mà luôn hướng ngòi bút về con người. Dù là những bữa cơm đạm bạc cùng người dân tộc vùng cao, cảnh thầy mo A Suông vẫn tin vào cúng bái dù 5 người con qua đời vì bệnh tật (tr.40), hay nụ cười sơn cước "xóa đi cả cuộc đời lam lũ" (tr.28), tác giả đều khắc họa sinh động số phận và nhân cách con người. Ông có một cái nhìn đa chiều, vừa trắc ẩn trước những hủ tục, vừa ngậm ngùi trước cái nghèo, nhưng cũng đầy tự hào trước sự kiên cường, cần mẫn và tấm lòng hồn hậu của người Việt ở mọi vùng đất.

Giá trị văn học của tác phẩm nằm ở chất ký sự pha lẫn hồi ức. Chính lớp hồi ức đan xen trong từng chuyến đi đã giúp tác phẩm vượt khỏi giới hạn của một cuốn sách ghi chép phong cảnh. Mỗi địa danh không chỉ là một điểm đến địa lý mà còn trở thành một điểm chạm ký ức, nơi quá khứ cá nhân và hiện thực đời sống gặp gỡ nhau, tạo nên chiều sâu nhân văn cho tác phẩm. Đó là lúc giọng văn trở nên đầy trữ tình và ám ảnh, như trong những đoạn viết về cầu Long Biên, về người cha - nhà văn Trần Thanh Địch. Hình ảnh "bóng dáng cha thấp thoáng bên cạnh" như một chỗ dựa tinh thần vững chắc trong mọi bước đường của tác giả đã thực sự tạo nên chiều sâu xúc cảm cho toàn bộ tập sách. Những giai thoại văn học thú vị như vế đối độc đáo của các bậc tiền bối: “Nguyễn Đình ra Đình thi với Nguyễn Đình Thi”/ “Trần Thanh vào Thanh, Địch cùng Trần Thanh Địch” hay những giai thoại về Hàn Mặc Tử và người thiếu nữ Thương Thương được lưu giữ trong ký ức gia đình tác giả càng tô đậm thêm mạch nguồn văn hóa và văn chương chảy trong huyết thống gia đình ông.

 “Ớ ờ ơ gọi miền thương nhớ” là một cuốn sách vừa mang giá trị tư liệu, vừa có giá trị văn học nghệ thuật. Những trang viết về các vùng đất giàu thông tin và cảm xúc sẽ mở mang tầm mắt cho độc giả, đặc biệt là những người chưa có cơ hội đặt chân đến hết các miền của Tổ quốc. Chất giọng mộc mạc, chân thành mà sâu lắng của nhà văn Trần Vọng Đức đã chạm đến trái tim người đọc, khiến ta thêm yêu những vẻ đẹp bình dị và đời sống tâm hồn phong phú của con người nơi đây. Điều làm nên nét riêng của “Ớ ờ ơ gọi miền thương nhớ” không nằm ở số lượng địa danh hay độ dài những chuyến đi, bởi du ký về vùng miền vốn không phải là điều mới trong văn học Việt Nam. Cái mới của Trần Vọng Đức là ông không xem chuyến đi như một cuộc dịch chuyển đơn thuần trong không gian, mà biến mỗi hành trình thành một cuộc đối thoại giữa hiện tại với ký ức, giữa cảnh sắc bên ngoài với thế giới nội tâm của con người. Câu kết "tìm một bến đỗ yên lành chính là khao khát muôn thuở của kiếp nhân sinh" (tr.281) đã nâng tác phẩm từ một cuốn du ký thông thường thành một suy ngẫm triết luận về bản thể và lẽ đời. 

Có thể nói, thành công lớn nhất của Trần Vọng Đức là đã khéo léo biến những chuyến đi địa lý thành hành trình nội tâm. Ông "đi để trở về" với tuổi thơ, với nguồn cội, với những người thân yêu đã khuất và với những giá trị tinh thần bền vững mà thời gian không thể xóa nhòa. Chính chiều sâu cảm xúc ấy đã giúp Ớ ờ ơ gọi miền thương nhớ vượt ra khỏi khuôn khổ của một tập du ký để trở thành một cuốn sách về ký ức, về tình người và về căn tính văn hóa Việt. Đó cũng là lý do cuốn sách mang lại dư vị lắng đọng lâu hơn những ghi chép du lịch hay ký sự thông thường.

Tuy vậy, do được hình thành từ nhiều bài viết độc lập, đôi chỗ tác phẩm vẫn mang dấu ấn của lối ghi chép báo chí với lượng thông tin khá dày, khiến nhịp kể chưa thật đồng đều. Tuy nhiên, chính sự chân thành trong cảm xúc và chiều sâu ký ức đã giúp tập sách giữ được sức hấp dẫn xuyên suốt.

Sau tất cả những cuộc lên đường, tác giả đem đến cho người đọc không chỉ là một cuốn du ký mà còn là một hành trình ký ức. Những bước chân rong ruổi qua nhiều miền đất,... và đi thật xa để hiểu thế giới, nhưng cuối cùng vẫn là để tìm về những giá trị tinh thần thiêng liêng nhất trong trái tim mình.

Sài Gòn, ngày 22/ 6/ 2026

Hoàng Thị Bích Hà

 

READ MORE - ĐI ĐỂ TRỞ VỀ TRONG “Ớ Ờ Ơ GỌI MIỀN THƯƠNG NHỚ” - Hoàng Thị Bích Hà