Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Tuesday, October 6, 2026

ĐẾN VỚI TẬP THƠ THỨ BA “MẬT KHẨU EM” CỦA HOÀNG UYỂN VĂN - Hoàng Thị Bích Hà

 

(Mật Khẩu Em, Nxb Thuận Hóa, tháng 7/2026)


ĐẾN VỚI TẬP THƠ THỨ BA 

“MẬT KHẨU EM” 

CỦA HOÀNG UYỂN VĂN

Hoàng Thị Bích Hà


Hoàng Uyển Văn tên thật là Nguyễn Văn Hòa. Ông sinh ra tại Thành Nội Huế, lớn lên ở Phú Yên và hiện đang làm việc tại Bình Chánh, Sài Gòn.

Nếu tập thơ đầu tay "Qua mùa khói chênh vênh" là những bước chân đầu tiên của một người làm thơ âm thầm đi qua nhiều năm tháng, tập thơ thứ hai "Phía nào ta ngắm vĩnh hằng trong em" là tiếng lòng của một thi nhân luôn thao thức giữa những miền thương nhớ, thì đến tập thơ thứ ba "Mật khẩu em" bạn đọc lại bắt gặp một Hoàng Uyển Văn vẫn da diết ấy, vẫn thủy chung với những ám ảnh của tình yêu, của thời gian, của ký ức, nhưng giọng thơ đã có thêm chiều sâu chiêm nghiệm của một người từng đi qua rất nhiều được mất ở đời.

Tôi vẫn nghĩ, với Hoàng Uyển Văn, thơ không phải là một cuộc rong chơi chữ nghĩa. Thơ là nơi ông gửi lại những điều không thể nói hết bằng lời thường. Bởi vậy, đọc thơ ông, người ta luôn thấy một nỗi buồn nhẹ như sương khói nhưng dai dẳng, một sự cô đơn hiền lành mà ám ảnh, một trái tim đã đi qua nhiều mùa giông gió nhưng vẫn giữ nguyên khả năng rung động.

Ngay từ nhan đề "Mật khẩu em", người đọc đã cảm nhận được một thế giới nội tâm đầy bí ẩn. “Em” ở đây không chỉ là một người phụ nữ cụ thể. Em còn là ký ức, là nỗi nhớ, là hạnh phúc đã xa, là miền mộng tưởng mà thi nhân dành cả đời để kiếm tìm và gìn giữ. Có những cánh cửa chỉ trái tim mới mở được, và có lẽ "em" chính là mật khẩu cuối cùng của tâm hồn người thơ.

Trong tập thơ này, tình yêu vẫn là mạch nguồn chủ đạo. Nhưng đó không còn là tình yêu của những ngày tuổi trẻ chỉ biết say mê và chờ đợi. Đó là tình yêu đã đi qua những ngả rẽ của số phận, đã hiểu sự mong manh của duyên phận và biết chấp nhận những điều không thể giữ:

“Người đi ngang đời nhau/ Anh chẳng là mái nhà/ Anh đâu là bóng cả/ Lấy chi em tựa đầu...”

(Người đi ngang đời nhau)

Chỉ bốn câu thơ ngắn nhưng gợi lên cả một cuộc tình dang dở. Thi nhân không trách cứ, không níu kéo. Ông nhìn nhận sự hiện diện của mình trong đời người khác bằng một sự khiêm nhường đến xót xa. Có những người đi qua đời nhau, thương nhau thật nhiều nhưng không đủ điều kiện để trở thành nơi nương tựa của nhau. Bởi vậy mà cuối cùng chỉ còn lại khoảng trống.

Trong thơ Hoàng Uyển Văn, nỗi buồn luôn đi cùng sự dịu dàng. Ngay cả khi nói về chia xa, ông vẫn giữ được sự bao dung hiếm thấy:

"Em chẳng là người có lỗi đâu/ Chỉ vì duyên phận mãi không nhau/ Nên người không đến... Người không đợi/ Như những vì sao ngoảnh mặt sầu..."

(Em xin lỗi)

Nếu nhiều người khi mất tình yêu thường đi tìm nguyên nhân để trách móc thì Hoàng Uyển Văn lại quy tất cả về hai chữ "duyên phận". Cách nhìn ấy khiến câu thơ mang màu sắc của sự cảm thông hơn là oán trách. Người không có lỗi. Ta cũng không có lỗi. Chỉ là số phận đã không cho hai người cùng đi hết một con đường.

Đọc "Mật khẩu em", tôi đặc biệt ấn tượng với hình tượng "gã du tử" xuất hiện nhiều lần trong thơ. Đó dường như cũng là chân dung tinh thần của chính tác giả- người đàn ông đã đi qua nhiều miền đất, nhiều năm tháng mưu sinh, mang theo hành trang là những ký ức không nguôi:

"Phố vẫn thế... Em nghìn đời vẫn thế/ Hun hút ngõ sầu trong những giấc chiêm bao

Gã du tử vẫn một mình trên phố/ Lang thang hoài một nửa kiếp không nhau..."

(Rồi sẽ một ngày)

Cái cô đơn trong thơ ông không ồn ào. Nó giống như cơn mưa thấm dần vào đất. Người đọc không thấy đau ngay, nhưng càng đọc càng thấy lòng mình chùng xuống.

Sài Gòn trong thơ Hoàng Uyển Văn cũng là một không gian rất riêng. Đó không phải là thành phố của những tòa nhà cao tầng hay những con đường đông đúc. Sài Gòn hiện lên qua những cơn mưa bất chợt, qua những khoảnh khắc tình yêu làm sáng bừng cả không gian:

"Giữa mưa Sài Gòn ta tan giữa môi em

Giữa nụ cười em

Mặc trời đang mưa

Ta tỏa nắng."

(Sài Gòn - Ta tan giữa môi em)

Đây là một trong những đoạn thơ đẹp của tập sách. Trong khoảnh khắc ấy, tình yêu trở thành nguồn sáng. Mưa vẫn rơi nhưng lòng người đầy nắng. Chất lãng mạn vốn là nét đặc trưng trong thơ Hoàng Uyển Văn lại được thể hiện tự nhiên và tinh tế.

Một trong những nét nổi bật của tập thơ là cảm thức về thời gian. Tuổi trẻ đã đi qua. Mái tóc đã bạc. Những cuộc tình năm cũ chỉ còn trong ký ức. Nhưng điều còn lại chính là những rung động không già đi theo năm tháng:

"Rồi chợt thấy bàng hoàng, hụt hẫng/ Một ngày kia tóc đã bạc phai màu/ Em vẫn cuối quãng đường hoang vắng quá/ Ta cuối cùng cũng chung thuộc về nhau"

(Hoang dột đời nhau)

Câu thơ mang màu sắc chiêm nghiệm của người đứng ở bên kia con dốc cuộc đời. Sau tất cả những xa cách, những lỡ làng, con người rồi cũng tìm thấy điểm gặp gỡ cuối cùng trong miền ký ức và tình thương.

Bên cạnh thơ tình, những bài thơ viết về Mạ cũng là những bài thơ để lại nhiều xúc động. Là người con của xứ Huế, tiếng gọi "Mạ" trong thơ ông vừa thân thương vừa thiêng liêng:

"Mạ vẫn nằm yên như ngủ say/ Chờ bàn tay nhỏ của con lay.../ Nhưng rồi... Chẳng thể khi nào nữa!/ Mạ ngủ muôn đời với gió mây..."

(Không đề cho Mạ)

Không cần những lời lẽ cầu kỳ, chỉ vài câu thơ ngắn cũng đủ khiến người đọc nghẹn lại. Nỗi đau mất mẹ được diễn tả bằng hình ảnh bình dị nhưng ám ảnh. Đó là tiếng lòng của một người con khi nhận ra từ nay sẽ không còn cơ hội được gọi tiếng "Mạ" như ngày nào nữa.

Về nghệ thuật, Hoàng Uyển Văn tiếp tục phát huy sở trường ở các thể thơ năm chữ, bảy chữ, lục bát và thơ tự do. Ngôn ngữ thơ giản dị, giàu nhạc tính. Ông không tìm kiếm những cách tân cực đoan mà trung thành với cảm xúc chân thật. Chính sự chân thật ấy đã tạo nên sức thuyết phục cho thơ ông.

Ảnh hưởng của thơ cổ điển, của thi ca lãng mạn tiền chiến và cả hơi thở ca dao vẫn thấp thoáng trong nhiều câu thơ. Tuy nhiên, Hoàng Uyển Văn không lặp lại người khác. Ông đã tạo được giọng điệu riêng của mình: trầm lắng, thiết tha, phong trần mà nhân hậu.

Đọc Mật khẩu em, tôi hình dung người thi sĩ ấy vẫn đang trên hành trình của mình. Từ Thành Nội Huế đến Phú Yên rồi Sài Gòn, từ tuổi trẻ đến tuổi xế chiều, từ những cuộc gặp gỡ đến những cuộc chia xa. Cuộc đời có thể đổi thay rất nhiều, nhưng trái tim thi sĩ vẫn giữ nguyên hồn thơ yêu thương, nhớ nhung và rung động trước vẻ đẹp của con người.

Có lẽ vì thế mà tập thơ thứ ba này không chỉ là câu chuyện của riêng Hoàng Uyển Văn. Trong những câu thơ về tình yêu, về mẹ, về thời gian và thân phận, người đọc dễ dàng bắt gặp chính mình. Bởi ai trong chúng ta rồi cũng từng có một "mật khẩu" được cất giữ trong sâu thẳm trái tim một người, một miền ký ức hay một nỗi nhớ không bao giờ mất.

"Mật khẩu em" vì thế không chỉ là tên một tập thơ. Đó còn là chiếc chìa khóa mở ra thế giới tâm hồn của Hoàng Uyển Văn- một tâm hồn giàu yêu thương, giàu hoài niệm và luôn tha thiết với cuộc đời.

Sài Gòn, ngày 17 tháng 6 năm 2026

Hoàng Thị Bích Hà

       habich1963@gmail.com

 

READ MORE - ĐẾN VỚI TẬP THƠ THỨ BA “MẬT KHẨU EM” CỦA HOÀNG UYỂN VĂN - Hoàng Thị Bích Hà

KÝ ỨC MÙA BẦN -Tản văn của Nguyễn Đại Duẫn



Ký ức mùa bần

Tản văn của Nguyễn Đại Duẫn


Tôi về quê trong một buổi sớm cuối thu, khi những ngọn gió heo may khẽ lướt qua. Bến sông quê vẫn đó, hiền hòa gợn sóng như đang chờ đợi tôi. Và ngay bên bến sông ấy, tôi gặp lại mấy người bạn cũ. Bên cây cừa cổ thụ, họ đang thả hồn vào ly cà phê sáng trong không khí thanh bình nơi góc quán quê nhà. Tay nâng ly cà phê bạn mời mà lòng cứ xốn xang nhìn về rặng bần cuối làng. Sau những giọt cà phê đăng đắng như ghi vào ký ức một dấu lặng, chúng tôi cùng nhau lên chiếc xuồng máy của bạn đi về phía bãi bần sau xóm Sáo. Càng đến gần bãi bần,  mùi thơm chua ngọt của bần chín, mùi thơm thanh khiết của hoa bần đang nở, tất cả quyện vào trong làn gió thoảng nhẹ, phảng phất đầu sóng mũi như hương quê nhà. Con sông Long Đại vẫn êm trôi; rặng bần vẫn rậm rì bên sông. Nhưng gương mặt mấy đứa bạn bây giờ đã in hằn những vết chai sạn sương gió của thời gian.

Dòng sông Long Đại quê tôi vào mùa này sau những cơn mưa không còn xanh ngắt như mùa hè. Nước sông đục một màu phù sa trên nguồn Côộc đổ về mang theo những đám lục bình rung rinh chùm hoa tím. Dọc theo bờ sông phía cuối đuồi làng là những rặng bần mọc ken dày, gốc cắm sâu xuống lớp bùn non, cành lá rậm rì tỏa bóng mát như cất dấu những ký ức tuổi thơ.

Bao nhiêu năm xa quê, đi qua biết bao miền đất, tôi vẫn không quên được mùi hương ngai ngái của mùa bần chín bên sông. Cái mùi vừa ngọt vừa chua, lẫn trong gió sông và mùi bùn đất quê nghèo, cứ âm thầm bám riết lấy ký ức như một phần máu thịt.

Ngày ấy, lũ trẻ chúng tôi coi rặng bần ven sông như cả một thế giới riêng. Mỗi mùa nước lên, những gốc bần già lại đâm bộ rễ khí tua tủa như chông. Mùa nước ròng, dưới gốc bần là vô số hang hốc cho cua, cá, tôm trú ngụ. Thường vào độ giữa thu là bần chín rộ. Những buổi trưa sau khi trốn ngủ, chúng tôi rủ nhau ra sông hái bần. Trái bần chín vàng lẫn trong màu lá xanh, chen lẫn bông hoa màu trắng ngà đang nở. Chỉ cần rung mạnh cành là quả rơi lộp bộp xuống nước.

Thân bần sần sùi, như chính cuộc đời người quê. Nhưng cái vị chua thanh pha chút ngọt dịu của trái bần lại khiến đứa nào cũng mê. Có hôm tôi hái nhiều quả đã già, mẹ đem nấu canh cá lóc, cá ngạnh…mùi thơm lan khắp bếp quyện với mùi khói rơm cay xè. Có những món ăn dân dã mà người dân quê tôi thường hay dùng là: bần xắt lát hoặc xẻ tư kho chung với cá, vị chua ngọt của bần thấm vào thịt cá giúp thịt săn chắc và bớt tanh; bần sống xắt lát chấm ruốc biển hay mắm cáy ăn kèm cơm nóng; thịt heo luộc bóp bần non và rau thơm. Những món ăn xưa ấy chừng như ngon hơn cả sơn hào hải vị bây giờ.

Dưới những gốc bần um tùm còn là thiên đường của lũ cua dèm nhỏ như quả trứng ngỗng bò lổm ngổm. Mỗi lần nước ròng, bọn trẻ chúng tôi lại lom khom mò ngao, bắt ốc… Có đứa lấm cát bùn tới tận đầu gối vẫn cười toe toét vì vừa thò tay vào hang đã túm được con cá bống to như cán dao. Tuổi thơ quê nghèo, chiến tranh thiếu thốn đủ điều, nhưng niềm vui cứ theo chúng tôi bằng những ngày bình yên như thế.

Ký ức về rặng bần không những là nơi lưu giữ tiếng cười trẻ nhỏ, mà còn là nơi cất giấu cả một thời bom đạn đau thương mà hào hùng. Những năm chiến tranh, dòng sông Long Đại là mạch máu giao thông quan trọng. Máy bay Mỹ thường quần thảo suốt ngày đêm. Mỗi khi nghe tiếng động cơ gầm rú từ phía xa, cả xóm lại hốt hoảng chạy vào hầm trú ẩn. Lũ trẻ chúng tôi khi ấy còn nhỏ, chưa hiểu hết chiến tranh là gì, chỉ nghe tiếng bom máy bay Mỹ dội xuống, tiếng đạn pháo cao xạ của bộ đội bủa vây quạ sắt; chỉ biết lao xuống những chiếc hầm chữ A để ẩn nấp. Rồi tiếp đó là tiếng hét nhà cháy, tiếng rên la của người bị thương, tiếng khóc thảm thiết của ai đó khi có người thân vừa mất… thật tàn khốc và ác liệt.

Những tán bần rậm rì che kín mặt sông, từ trên cao nhìn xuống chỉ thấy một màu xanh um tùm. Nhờ vậy mà máy bay địch không phát hiện thuyền bè vận tải, ca nô chở lương thực, đạn dược của bộ đội đang ẩn náu dưới bãi bần bên sông, âm thầm chờ đợi đêm về xuất bến...

Lũ trẻ chúng tôi nhiều khi đi hái bần, lượm củi bần xong lại tò mò, mon men lại gần xem những chiếc ca nô trên sông được phủ một lớp vải dù hoa. Gặp các chú bộ đội, ai cũng gầy nhưng ánh mắt sáng và nụ cười hiền lắm. Có chú còn chia cho bọn tôi vài chiếc kẹo Hải Châu ngon không tưởng.

Tôi vẫn nhớ như in một lần khi cả mấy đứa bạn đang trèo hái bần thì máy bay nhào xuống thả bom. Chúng tôi không tuột xuống kịp, chỉ biết ôm chặt thân bần, miệng lẩm bẩm: “Lạy trời”. Một đứa trong bọn khi tuột xuống khóc nức nở. Mấy đứa xúm lại tưởng nó bị thương. Nhưng không phải, là vì sợ quá mà nó tè dầm ướt cả chiếc quần đùi đang mặc. Mấy đứa nhìn bạn, ôm bụng cười ngặt nghẽo. Lúc ấy, mặt đứa nào đứa nấy lem luốc bùn và vỏ bần chín. Bây giờ nhắc lại không đứa nào còn cười mà nét mặt hằn lên bao ký ức năm tháng của một thời con nít.

Chiến tranh đi qua đã lâu. Dòng sông Long Đại hôm nay đã yên bình trong không khí vui tươi. Những chiếc ca nô quân sự năm nào không còn nữa. Tiếng bom đạn cũng chỉ còn trong ký ức. Nhưng rặng bần ven sông vẫn còn đó, âm thầm soi bóng xuống mặt nước như đang giữ nét đẹp cho hồn quê.

Tôi cùng đám bạn già đi dọc bờ sông. Đứa tóc đã bạc, đứa lưng đã còng, vậy mà vừa nhìn thấy trái bần chín là lại chỉ trỏ, xuýt xoa như đánh thức những kỷ niệm thời trẻ nhỏ. Chúng tôi không còn trèo bần như ngày xưa, vì không dám. Đã U70 cả rồi lỡ rời tay ngã xuống thì chỉ khổ thân, khổ con cháu. Chúng tôi chỉ nhặt mấy quả chín rụng, đưa lên mũi hít hà như đánh thức những hoài niệm.

Tôi đứng lặng dưới rặng bần già, nhìn bóng nắng trưa loang xuống mặt sông. Gió nhẹ thổi lên mang theo mùi quen thuộc của  hương bần và mùi bùn đất. Với tôi, mùa bần quê Long Đại chính là một phần ký ức như thế. Một mùa của tuổi thơ, của tình bạn, của quê hương và của những năm tháng không bao giờ có thể quên.

Hôm nay, những rặng bần bên dòng Long Đại không chỉ còn là ký ức của tuổi thơ hay dấu tích của chiến tranh năm xưa. Chúng đang ngày ngày âm thầm giữ đất, giữ làng cho quê hương. Sau bao mùa mưa lũ dữ dội của miền Trung, tôi càng hiểu giá trị của những gốc bần già ven sông. Bộ rễ của chúng cắm sâu và tỏa rộng dưới lòng bùn như những cánh tay bền bỉ níu giữ bờ đất cho quê nhà. Mỗi khi nước lũ dâng cao, sóng đánh ầm ào vào mép sông, chính những rặng bần ấy đã che chắn và làm dịu dòng nước dữ, ngăn cho bờ sông khỏi bị xói lở.

Trời đã trưa, mấy người bạn lại lên xuồng ngược dòng. Tôi quay đầu lặng nhìn hàng bần, bỗng thấy chúng giống như những người lính già lặng lẽ suốt bao năm tháng để che chở cho xóm làng. Có lẽ vì thế mà người quê tôi biết trồng thêm bần, và bảo vệ chúng.

Chiếc xuồng máy chạy chậm lại. Chúng tôi cùng ngồi  im lặng bên nhau, để mặc cho làn gió sông phả nhẹ vào mặt; đang âm thầm góp nhặt lại từng kỷ niệm tuổi thơ - nơi bến sông này đã từng chứng kiến biết bao ước mơ, bao kỷ niệm hồn nhiên của một thời tuổi trẻ. 

 

 

Nguyễn Đại Duẫn (Hội viên Hội VHNT Quảng Tri)

51, Nguyễn Hữu Cảnh

Thôn: Nam Quán Hàu, xã: Quảng Ninh, tỉnh: Quảng Trị

ĐT: 0977194533

 

READ MORE - KÝ ỨC MÙA BẦN -Tản văn của Nguyễn Đại Duẫn

Monday, October 5, 2026

CHIỀU SÂU VÀ SỰ TINH TẾ TRONG NHỮNG BÀI PHÂN TÍCH CA KHÚC TRỮ TÌNH CỦA BÁC SĨ PHẠM CẢNH THƯỢNG - Khê Giang

 

Tác giả Khê Giang và Bs Phạm Cảnh Thượng

CHIỀU SÂU VÀ SỰ TINH TẾ 

TRONG NHỮNG BÀI PHÂN TÍCH CA KHÚC TRỮ TÌNH

 CỦA  BÁC SĨ PHẠM CẢNH THƯỢNG

Khê Giang

 

Trong đời sống âm nhạc, có những người sáng tác bằng giai điệu, có người gửi tâm hồn mình vào ca từ, có người cất tiếng hát để đánh thức những miền ký ức trong lòng người nghe. Nhưng cũng có những người không trực tiếp sáng tác hay biểu diễn, mà chọn một con đường khác: lặng lẽ đi vào thế giới của âm nhạc bằng sự quan sát, suy tư và khả năng cảm nhận tinh tế. Bác sĩ Phạm Cảnh Thượng là một trong những người như thế.

Đọc những bài phân tích của bác sĩ Phạm Cảnh Thượng về các ca khúc trữ tình, điều dễ nhận ra trước tiên không phải là sự cầu kỳ của thuật ngữ, cũng không phải những nhận xét mang tính hàn lâm khô cứng, mà là một cách đọc rất gần với đời sống tâm hồn. Ông không chỉ nghe một ca khúc bằng đôi tai của người thưởng thức âm nhạc, mà dường như còn lắng nghe bằng cả ký ức, trải nghiệm sống và sự nhạy cảm của một người từng đi qua nhiều cung bậc của cuộc đời.

Chính vì vậy, những bài phân tích ấy thường tạo cho người đọc cảm giác rằng: bài hát vốn quen thuộc bỗng trở nên mới mẻ; một câu hát tưởng như giản dị bỗng mở ra một tầng nghĩa khác; một chữ rất nhỏ trong câu ca lại có thể chứa đựng cả một khoảng trời cảm xúc.

Không chỉ phân tích một bài hát, mà còn đi tìm “phần hồn” của bài hát.

Một bài hát trữ tình hay thường không nói hết. Nó để lại những khoảng trống để người nghe tự lấp đầy bằng ký ức của chính mình. Cũng bởi vậy, phân tích một ca khúc trữ tình không đơn thuần là giải thích ca từ, cấu trúc hay giai điệu. Điều khó hơn là phải nhận ra được cái gì nằm phía sau những lời ca ấy.

Điểm đáng quý trong cách phân tích của bác sĩ Phạm Cảnh Thượng chính là ông thường không dừng lại ở nghĩa trực tiếp của câu chữ. Ông tìm đến tầng cảm xúc nằm sau câu chữ.

Một chữ “nhớ” trong ca khúc có thể không chỉ là nhớ. Đó có thể là nhớ một người, nhớ một thời tuổi trẻ, nhớ một không gian đã mất, hoặc sâu xa hơn, là nhớ chính mình của những năm tháng đã đi qua.

Một chữ “mưa” cũng không chỉ là hiện tượng của thiên nhiên. Trong âm nhạc trữ tình, mưa có thể là chiếc cầu nối giữa hiện tại và quá khứ; là màn phông của một cuộc chia ly; là tiếng động bên ngoài nhưng đồng thời cũng là tiếng mưa trong tâm tưởng.

Một con đường, một dòng sông, một mái nhà, một hàng cây, một buổi chiều, một mùa thu... qua cách cảm nhận tinh tế có thể không còn là những hình ảnh đơn thuần nữa. Chúng trở thành những “biểu tượng cảm xúc”.

Đó chính là điểm làm nên chiều sâu trong những bài viết của ông: nhìn cái nhỏ để thấy cái lớn, đi từ một chữ để mở ra một thế giới, đi từ một hình ảnh để chạm tới một trạng thái tâm hồn.

Sự tinh tế bắt đầu từ cách đọc một chữ

Có lẽ một trong những điều đáng chú ý nhất trong phương pháp cảm nhận của bác sĩ Phạm Cảnh Thượng là sự quan tâm đặc biệt đến từng chữ trong ca từ.

Đối với người nghe bình thường, một câu hát có thể chỉ được tiếp nhận như một dòng cảm xúc trôi qua. Nhưng với một người phân tích tinh tế, mỗi chữ đều có vị trí, sắc thái và “trọng lượng” riêng.

Có những chữ nếu thay bằng một từ đồng nghĩa, câu hát vẫn đúng về ngữ pháp, vẫn đủ nghĩa, nhưng cái hồn của nó sẽ mất đi.

Chẳng hạn, một chữ chỉ không gian có thể đồng thời gợi ra chiều sâu tâm trạng. Một chữ chỉ thời gian có thể làm sống dậy cả một miền ký ức. Một tính từ tưởng như rất nhẹ lại có thể tạo nên sắc thái buồn vui của cả câu hát.

Cái tài của người phân tích không phải là nói thật nhiều về một chữ, mà là giúp người đọc nhận ra tại sao người nhạc sĩ đã chọn đúng chữ ấy.

Đây là một công việc rất tinh tế.

Bởi ngôn ngữ của ca khúc trữ tình vốn gần với thơ. Mà thơ thì đôi khi chỉ khác văn xuôi ở một chữ, một dấu ngắt, một khoảng lặng. Cùng là “mưa”, nhưng “mưa rơi”, “mưa bay”, “mưa qua”, “mưa chiều”, “mưa trong mắt” lại tạo ra những thế giới cảm xúc hoàn toàn khác nhau.

Khi người phân tích đủ nhạy cảm để nhận ra sự khác biệt ấy, người đọc cũng bắt đầu nghe lại bài hát bằng một đôi tai khác.

Đó là giá trị rất lớn của phê bình âm nhạc: không chỉ đưa ra một kết luận, mà còn làm cho người nghe nghe sâu hơn.

Từ ca từ đi vào ký ức của con người

Các ca khúc trữ tình thường thành công không phải vì chúng kể một câu chuyện quá đặc biệt, mà vì chúng nói hộ những điều rất bình thường trong đời sống con người.

Ai cũng từng có một người để nhớ.

Ai cũng từng có một buổi chiều không quên.

Ai cũng từng đi qua một con đường mà sau nhiều năm quay lại, cảnh vật có thể vẫn còn, nhưng người xưa đã không còn.

Ai cũng từng có một mùa trong đời mà chỉ cần nghe một câu hát, một giai điệu, một âm thanh quen thuộc là cả ký ức bỗng trở về.

Bác sĩ Phạm Cảnh Thượng dường như đặc biệt nhạy cảm với những “điểm chạm” ấy.

Ông không chỉ hỏi bài hát nói gì, mà còn gợi cho người đọc suy nghĩ: Tại sao câu hát ấy lại khiến chúng ta rung động?

Câu trả lời đôi khi không nằm trong bản thân câu hát, mà nằm trong ký ức của mỗi người.

Một ca khúc hay là nơi gặp nhau giữa ký ức của người sáng tác và ký ức của người nghe.

Người nhạc sĩ viết về một người phụ nữ, nhưng người nghe lại nhớ về một người phụ nữ khác.

Người nhạc sĩ viết về quê hương của mình, nhưng người nghe lại thấy quê hương của chính mình.

Người nhạc sĩ viết về một cuộc chia tay, nhưng mỗi người lại tìm thấy trong đó một cuộc chia tay riêng.

Bởi vậy, bài phân tích không đóng khung tác phẩm trong một cách hiểu duy nhất. Nó mở thêm những cánh cửa để người đọc bước vào.

Cái nhìn của một bác sĩ và tâm hồn của một người yêu nghệ thuật

Có một điều đặc biệt khi đọc những bài phân tích của một người mang nghề nghiệp là bác sĩ: phía sau sự quan sát nghệ thuật dường như luôn có một cái nhìn hướng về con người.

Y khoa giúp con người học cách quan sát những điều rất nhỏ. Một thay đổi trong ánh mắt, sắc mặt, giọng nói hay một biểu hiện tưởng như không đáng kể đôi khi lại nói lên rất nhiều điều.

Trong nghệ thuật cũng vậy.

Một dấu chấm, một chữ, một hình ảnh, một khoảng lặng trong ca từ đôi khi có thể tiết lộ cả một trạng thái tâm hồn.

Nếu người nhạc sĩ là người tạo ra những “mạch cảm xúc”, thì người phân tích phải biết lần theo những mạch cảm xúc ấy.

Có lẽ chính nền tảng nghề nghiệp và trải nghiệm sống đã giúp bác sĩ Phạm Cảnh Thượng có một cách nhìn khá đặc biệt: không chỉ nhìn vào cái đẹp bên ngoài mà còn quan tâm đến những rung động bên trong con người.

Và vì thế, những bài phân tích của ông thường không tạo cảm giác như một bài “chấm điểm” tác phẩm. Nó gần với một cuộc trò chuyện giữa những người yêu âm nhạc.

Ở đó, người viết không đứng quá cao để phán xét tác phẩm, mà đứng gần tác phẩm để lắng nghe nó.

Tinh tế nhưng không phô trương

Một đặc điểm đáng quý khác là sự tinh tế trong cách trình bày.

Phê bình âm nhạc rất dễ rơi vào hai thái cực.

Một là quá đơn giản, chỉ dừng ở những lời khen chung chung như “hay”, “sâu sắc”, “cảm động”.

Hai là, quá hàn lâm, sử dụng quá nhiều thuật ngữ khiến người đọc cảm thấy bài hát bị đưa lên bàn giải phẫu, mất đi vẻ tự nhiên vốn có.

Những bài phân tích giàu sức thuyết phục thường phải đứng ở khoảng giữa: đủ sâu nhưng vẫn dễ tiếp nhận; đủ lý giải nhưng không làm mất đi vẻ đẹp của cảm xúc.

Đây chính là điểm đáng ghi nhận trong cách viết của bác sĩ Phạm Cảnh Thượng.

Ông có xu hướng đi từ những điều gần gũi, cụ thể để dẫn người đọc đến những suy nghĩ rộng hơn.

Từ một câu hát, ông mở ra một tâm trạng.

Từ một tâm trạng, ông liên hệ đến thân phận.

Từ thân phận, ông trở về với đời sống.

Cách đi ấy khiến bài phân tích không bị khô cứng mà vẫn giữ được chất trữ tình.

Khi người phân tích giúp người nghe “nghe lại” một ca khúc

Một trong những thành công lớn nhất của phê bình nghệ thuật là làm cho người đọc muốn quay trở lại với tác phẩm.

Đọc xong một bài phân tích hay, người ta không muốn khép lại ngay. Người ta muốn nghe lại ca khúc.

Và khi nghe lại, những gì trước đây tưởng như bình thường bỗng trở nên có ý nghĩa.

Một câu hát được ngân dài hơn.

Một chữ được nhấn mạnh hơn.

Một khoảng lặng được cảm nhận rõ hơn.

Một hình ảnh tưởng như quen thuộc bỗng hiện ra với màu sắc khác.

Đó là lúc bài phân tích đã thực sự hoàn thành sứ mệnh của mình.

Bác sĩ Phạm Cảnh Thượng, qua những bài viết về các ca khúc trữ tình, đã làm được điều đáng quý ấy: không đứng giữa người nghe và tác phẩm, mà trở thành chiếc cầu nối để người nghe đến gần tác phẩm hơn.

Chiều sâu không nằm ở những lời lớn lao

Có một nghịch lý trong nghệ thuật: những tác phẩm nói về những điều lớn lao chưa chắc đã sâu sắc; đôi khi một câu hát rất giản dị lại có sức sống hàng chục năm.

Bởi chiều sâu không nằm ở số lượng ý tưởng, mà nằm ở khả năng chạm đến phần người.

Một câu hát về mẹ có thể khiến một người trưởng thành bật khóc.

Một câu hát về quê hương có thể khiến người xa quê lặng người.

Một câu hát về tình yêu đã cũ có thể làm sống lại một mối tình tưởng đã ngủ yên.

Một câu hát về thời gian có thể khiến con người nhìn lại chính cuộc đời mình.

Những bài phân tích của bác sĩ Phạm Cảnh Thượng đáng quý ở chỗ không cố làm cho tác phẩm trở nên “to tát”. Ngược lại, ông thường tìm cái lớn lao nằm trong những điều rất nhỏ.

Một ánh mắt.

Một mái tóc.

Một chiều mưa.

Một con đường.

Một dòng sông.

Một tiếng gọi.

Một chữ “em”.

Một chữ “anh”.

Và phía sau những chữ ấy là cả một đời người.

Phân tích âm nhạc cũng là một cách lưu giữ ký ức

Trong thời đại mà âm nhạc ngày càng được tiêu thụ nhanh, người nghe có thể nghe hàng chục bài hát trong một ngày rồi quên đi rất nhiều bài vào ngày hôm sau. Vì vậy, những bài viết phân tích sâu sắc lại càng có ý nghĩa.

Nó giúp chúng ta chậm lại.

Chậm lại để nghe.

Chậm lại để đọc.

Chậm lại để nhớ.

Và quan trọng nhất, chậm lại để nhận ra rằng một bài hát hay không chỉ tồn tại trong vài phút mà nó vang lên, mà còn có thể sống rất lâu trong ký ức của con người.

Một bài phân tích tốt cũng có thể trở thành một dạng lưu giữ ký ức.

Nó lưu giữ cách một thế hệ đã nghe một ca khúc.

Lưu giữ những rung động mà đôi khi thời gian sẽ làm phai nhạt.

Lưu giữ những tầng nghĩa mà nếu không có người chỉ ra, chúng ta có thể vô tình bỏ qua.

Một tiếng nói đáng trân trọng trong đời sống âm nhạc

Điều đáng quý nhất trong những bài phân tích của bác sĩ Phạm Cảnh Thượng có lẽ không nằm ở việc ông đưa ra những nhận xét “đúng” hay “sai”, mà ở khả năng làm cho người đọc cảm thấy nhiều hơn sau khi đọc.

Một bài hát hay vốn đã có cảm xúc.

Nhưng một bài phân tích hay có thể làm cảm xúc ấy được soi sáng.

Nó giống như ánh sáng chiếu vào một bức tranh: bức tranh không thay đổi, nhưng những đường nét trước đây chưa nhìn thấy bỗng hiện lên rõ hơn.

Với các ca khúc trữ tình, điều này càng quan trọng.

Bởi thể loại trữ tình sống bằng những rung động rất mong manh. Nếu phân tích quá lạnh lùng, cái đẹp sẽ tan biến. Nếu cảm nhận quá chủ quan, tác phẩm dễ bị áp đặt. Người viết cần vừa có trái tim của người thưởng thức, vừa có sự tỉnh táo của người quan sát.

Và ở điểm giao nhau ấy, những bài viết của bác sĩ Phạm Cảnh Thượng tạo được dấu ấn riêng.

Lời kết

Có thể nói, đọc những bài phân tích ca khúc trữ tình của bác sĩ Phạm Cảnh Thượng cũng giống như cùng ông bước vào một khu vườn âm nhạc vốn tưởng đã quen thuộc, nhưng mỗi lần bước vào lại phát hiện thêm một bông hoa mới.

Cái sâu sắc của ông nằm ở khả năng nhìn vượt qua lớp vỏ của ca từ để tìm đến tâm trạng và thân phận con người.

Cái tinh tế nằm ở khả năng nhận ra giá trị của từng chữ, từng hình ảnh, từng khoảng lặng.

Cái đáng quý nằm ở chỗ ông không làm cho âm nhạc trở nên xa lạ bằng những lý luận cao siêu, mà ngược lại, đưa âm nhạc trở về gần hơn với đời sống.

Và có lẽ, đó cũng chính là phẩm chất đẹp nhất của một người viết về âm nhạc:

Không phải nói thay cho bài hát, mà giúp người khác nghe được điều bài hát đang thầm nói.

Không phải giải thích hết mọi điều, mà mở ra những khoảng lặng để người đọc tự cảm nhận.

Không phải tìm cách chứng minh mình hiểu tác phẩm đến đâu, mà làm cho người đọc yêu tác phẩm hơn sau khi đọc.

Trong một đời sống âm nhạc ngày càng nhanh, những bài viết như thế càng đáng trân trọng. Bởi chúng nhắc chúng ta rằng nghệ thuật không chỉ để nghe, mà còn để suy ngẫm; không chỉ để thưởng thức, mà còn để nhớ; không chỉ để rung động trong vài phút, mà có thể theo con người đi suốt một chặng đường dài của cuộc đời.

Và khi một bài phân tích khiến ta muốn nghe lại một ca khúc, muốn đọc lại một câu hát, muốn tìm lại một ký ức đã xa, thì lúc ấy, người viết đã thực sự làm được điều mà phê bình nghệ thuật đẹp nhất có thể làm:

Đánh thức phần ký ức đang ngủ trong tâm hồn người đọc bằng chính vẻ đẹp của âm nhạc.

Ngãi Giao, Tp HCM. Những ngày đầu tháng 10 năm 2026.


 &

 

 VÀI NÉT VỀ BÁC SĨ PHẠM CÀNH THƯỢNG VÀ TÁC GIẢ KHÊ GIANG

 Bác sĩ Phạm Cảnh Thượng

Bác sĩ Phạm Cảnh Thượng vừa là chuyên gia y khoa có tay nghề cao  vừa là một cây bút  trên mạng xã hội được nhiều người theo dõi.

Ông sinh ra và lớn lên tại làng An Thơ (xã Hải Hòa cũ, nay là xã Hải Phong, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị).

Chuyên môn y khoa: Ông là bác sĩ chuyên khoa chẩn đoán hình ảnh (X-quang, siêu âm).

Cơ sở hành nghề: Ông điều hành Phòng khám Chẩn đoán hình ảnh - đặt tại thôn Hưng Long, thị trấn Kim Long, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

 Trên Facebook cá nhân, ông nổi tiếng với các bài bình luận, cảm thụ âm nhạc sâu sắc, tản văn về thơ ca, lịch sử và vùng miền (như các bài viết về tình khúc Ngô Thụy Miên, âm nhạc miền Nam, hay lịch sử địa danh).

Phong cách chia sẻ: Lối viết của ông giàu tính tự sự, am hiểu về văn hóa - nghệ thuật, thu hút sự tương tác và quan tâm từ cộng đồng mạng lẫn giới y bác sĩ và văn nghệ sĩ.

&

Tác giả Khê Giang

Khê Giang  là bút danh nghệ thuật và tên tài khoản Facebook/mạng xã hội của Bác sĩ Lê Văn Huấn.

Ông sinh ra tại làng Trường Sanh, xã Hải Trường (nay thuộc huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị). Ông theo gia đình vào Nam lập nghiệp và sinh sống, gắn bó tại thị trấn Ngãi Giao, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Chuyên môn: Ông công tác trong ngành y với vai trò là một bác sĩ điều trị.

Hoạt động nghệ thuật (bút danh Khê Giang):

Ngoài công việc y khoa, ông còn là một người yêu văn thơ, âm nhạc và sáng tác nghệ thuật.

Ông có nhiều bài nghiên cứu về lịch sử, văn hóa, vẽ đẹp…  của nhiều địa danh nơi sinh thành và nơi lập nghiệp.

Ông sáng tác nhiều bài thơ, ca khúc giàu tình cảm hướng về quê hương, đất nước và các vùng đất miền Trung (như các ca khúc, bài thơ về Quảng Trị, Huế). Nhiều tác phẩm của ông đã được phổ nhạc hoặc trình diễn trên các kênh âm nhạc, trang văn nghệ đồng hương.

Trên Facebook và YouTube, ông tương tác và chia sẻ các sáng tác văn thơ, âm nhạc, giao lưu cùng bạn bè đồng hương Quảng Trị và những người yêu thơ nhạc dưới tên gọi Khê Giang (hoặc kết hợp Bác sĩ Lê Văn Huấn - Khê Giang).

 

 

READ MORE - CHIỀU SÂU VÀ SỰ TINH TẾ TRONG NHỮNG BÀI PHÂN TÍCH CA KHÚC TRỮ TÌNH CỦA BÁC SĨ PHẠM CẢNH THƯỢNG - Khê Giang

Friday, October 2, 2026

TÌNH THƠ NGUYỄN TẤT NHIÊN VÀ NỖI NGHIỆT NGÃ CỦA TÂM HỒN MỘNG DU - Trương Công Hải


TÌNH THƠ NGUYỄN TẤT NHIÊN

VÀ NỖI NGHIỆT NGà

CỦA TÂM HỒN MỘNG DU

Trương Công Hải


   Tình yêu là đề tài muôn thuở, bởi nó là bản năng gốc của con người, vì thế chẳng có lớp học nào dạy cách yêu nhau cả.

   Đọc thơ tình của Nguyễn Tất Nhiên gợi ta nhớ trước ông một thập niên có thơ Nguyên Sa.Nay nghiệm ra rằng thơ Nguyên Sa là lời giáo ngôn tình ái, là triết luận, tâm lý của những tình yêu thời mới lớn:

"Áo nàng vàng anh về yêu hoa cúc

Áo nàng xanh anh mến lá sân trường

Sợ thư tình chưa đủ nghĩa yêu đương

Anh thay mực cho vừa màu áo tím."

Tình yêu đó đi từ sự trải nghiệm xuyên qua lăng kính tư duy của Trần Bích Lan, giáo sư triết học, người làm thơ cho những tín đồ đang yêu. Trong đời thực, ngoài vợ mình ra, Nguyên Sa không hề yêu ai cả.

  Còn Nguyễn Tất Nhiên thì khác, thơ ông là nỗi lòng, là lời tự thú của một gã tình si trước bình minh số phận: "Thời mới lớn em dễ dàng xao động/ Buồn thay ta không bắt nổi hồn nàng/ Nên mật tình đắng giọng ngàn năm/ Thôi, phận bạc hãy nhuộm giùm tóc bạc."

   Nhà thơ tên thật là Nguyễn Hoàng Hải, sinh năm 1952 tại Biên Hòa, lớn lên học tại Trường Trung học Ngô Quyền nơi sở tại. Năm 14 tuổi, ông đã làm thơ và biết yêu  từ rất sớm:  "Nắng bờ sông như màu trang vở cũ / Thuở học trò em làm khổ ai chưa?" (Nên sầu khổ dịu dàng)

Cùng bạn học là Đỗ Thiên Phương lập thi văn đoàn, xuất bản hai tập: Nàng Thơ Trong Mắt và Dấu Mưa Qua Đất dưới bút danh Hoài Thi Yên Thi. Đến năm lớp 12, xuất bản tập Thiên Tai. Một tập thơ tình tuổi học trò mà lấy tên "Thiên Tai "đủ để thấy rằng tình yêu đối với ông là một trận bão lòng mà hậu quả là những cuộc tình thua: "Em bây giờ có lẽ, toan tính chuyện lọc lừa / Ta bây giờ có lẽ/ Xin làm người tình thua."

  Năm 1970,  khi đến gặp Du Tử Lê để nhờ giới thiệu thơ đến các toà soạn, ông có hỏi: "Thưa anh, bút hiệu Hoài Thi Yên Thi bạn bè em cho là hơi "sến" phải không anh? Du Tử Lê buột miệng nói "tất nhiên" rồi tiếp: "Họ Nguyễn phải không, cứ lấy hiệu là Nguyễn Tất Nhiên đi, may ra thơ còn đổi vận." Bút hiệu Nguyễn Tất Nhiên ra đời, thơ đăng báo.

15 bài thơ được phổ nhạc, trong đó có nhiều bài của vài nhạc sĩ tên tuổi như Phạm Duy, Nguyễn Đức Quang, Anh Bằng..Thơ bước ra ánh sáng, được nhạc chấp cánh, Nguyễn Tất Nhiên đã tạo nên một hiện tượng văn học đình đám ở miền Nam đầu thập niên 1970.

   Bước vào thơ Nguyễn Tất Nhiên là ba bóng hồng Bắc 54. Cả ba cô không hề là giai nhân. Ông mê họ theo cách của mình, bởi vì "Vẻ đẹp của người con gái không ở đôi má hồng mà nằm nơi ánh mắt của kẻ tình si," (Emmanuel Kant). Nhà thơ vương vào đời họ như một nỗi ám thị có từ muôn kiếp:

"Người từ trăm năm về qua sông rộng

Người từ trăm năm về khơi tình động."  

Hình như trong tiền kiếp họ đã vướng vào ông cái duyên của một cọng buồn cỏ khô (chữ TCS ) nên về qua sông rộng rồi về khơi tình động ở kiếp này làm cho ông phải chịu một nghiệp tình sầu: "Ta ngoắc mòn tay, ta chạy vòng vòng, ta chạy mòn chân"  để rồi cuối đường chỉ thấy một trùng trùng gió lộng.

    Ba nàng thơ cô nào cũng ỡm ờ, mắt nhắm mắt mở kiểu câu like. Xem ra nhà thơ đã tự đuổi bắt lấy cái bóng của chính mình trên xa lộ tình yêu: "Tình cứ đuổi theo người như chiếc bóng /  Người thì không bắt bóng được bao giờ / Anh muốn khóc trong buổi đầu niên học / Bởi yêu em nên sầu khổ dịu dàng." Đây là nỗi lòng viết cho Duyên, là tình mối đầu nên lời hồn nhiên, sầu khổ nhưng dịu dàng.

  Năm năm một chuyến tình vô vọng, ông làm bài thơ cuối nói với nàng để tự trách và khép lại trái tim:

"Năm năm trời ta làm tên quái đản

  Cầu danh trên nước mắt người tình

  Năm năm trời có nhục có vinh

  Có chua chát ngọt bùi cay đắng

  Có hai mái đầu chia nhau thù oán

   ......

  Tình ta đẹp nhưng tình con nít nhỏ

  Nên lỗi lầm đã đục màu sông

  Nếu em còn thương mến tuổi mười lăm 

  Xin nuốt hận mỉm môi cười xí xoá

  Hồn ta đẹp nhưng đời ta thảm quá." 

Ý thơ hồn nhiên, có yêu thương, có dỗi hờn, có cam chịu, đó chính là đặc trưng của tình yêu tuổi học trò trong thơ Nguyễn Tất Nhiên.

  Sau Duyên là Minh Thủy, cô bạn học cùng trường, sau hai lớp. Thơ viết cho Thủy thì tình tứ hơn: "Chiều em đi học về thơm tóc thả / Áo eo suông trinh bạch cả giáo đường / Ta ngọt ngào gọi khẽ, người đi luôn." (Kẻ tự đóng đinh tim). 

Tín hiệu tình yêu gởi đến nơi không địa chỉ, vì tình một chiều khiến nhà thơ cũng chịu nhiều đau khổ: "Ba năm vuốt ngọn tình dài / Ừ tôi còn vụng ngón tay dậy thì / Thuở nào sầu đã lâm ly / Giờ thêm già héo nhiều khi hận thù." (Nên thời gian ấy ngùi trông).

Đến đây thì sự hồn nhiên đã đi vắng, thủ pháp tạo hình ảnh "Vụng ngón tay dậy thì" trong "ba năm vuốt ngọn tình dài" rất gợi tả, biểu cảm lời tự trách, tự xót xa.     

   Lúc này, sầu khổ không còn dịu dàng nữa vì thân già héo nhiều khi hận thù. Nỗi đau đã được tôi luyện nên chai cứng hơn rồi. Hai chữ "hận thù" chỉ là cách nói cường điệu mang tính thù vặt của một ẩn ức tình yêu mà ông phải nói ra thơ cho bỏ ghét,  thực ra ông vẫn yêu nàng say đắm. Bài "Hai năm tình lận đận" sau đây là một minh chứng: "Em không còn thắt bím / Nuôi dưỡng thời ngây thơ  / Anh không còn luýnh quýnh / Trước sân trường trao thư / Em vẫn còn mắt liếc/   Anh vẫn còn nôn nao /  Ngoài đường em bước chậm/ Quán chiều ngóng cổ cao / Hai năm tình lận đận/ Hai đứa cùng xanh xao / Hai năm trời mùa lạnh / Hai đứa cùng hư hao".

   Nhà thơ đã thành công trong nghệ thuật đối ý từng cặp câu thơ nhằm biểu đạt tâm hồn đôi lứa, giúp ta cảm nhận được cung bậc cảm xúc của một tình yêu lận đận dần trôi theo năm tháng. Bài này được Phạm Duy chọn để phổ nhạc cùng tên.

   Một nàng thơ nữa là Kim Oanh, bạn học cùng trường kém ông hai lớp, nhà có quán cà phê Ca Dao nổi tiếng ở Biên Hòa: "Đôi mắt tròn, đen, như búp bê / Cô đã nhìn anh rất Bắc Kỳ / / Anh vái trời cho cô dễ dạy / Để anh đừng uổng mớ tình si." (Cô Bắc Kỳ nho nhỏ).  Cô gái có mái tóc thời thượng này thoáng qua hồn ông với những vần thơ nhí nhảnh: "Cô Bắc Kỳ nho nhỏ/ Tóc demi garcon / Chiều vui thương đón gió / Có thương thầm anh không? Cô Bắc Kỳ nho nhỏ / Tóc demi garcon / Cười ngây thơ hết nụ / Tình cờ thấy anh trông / Cô Bắc Kỳ nho nhỏ / Mắt như trời bao dung / Hãy nhìn anh cho rõ / Trước khi nhìn đám đông / Hãy nhìn anh chút nữa  / Trước khi vào đám đông."        (Đám đông)

       Nguyễn Tất Nhiên đi theo em nhưng không lãng mạn bằng Phạm Thiên Thư khi theo Ngọ về, tóc dài tà áo vờn bay mà hình như dạn dĩ, tinh quái và lì hơn: "Hãy nhìn anh cho rõ / trước khi nhìn đám đông / hãy nhìn anh chút nữa  / trước khi vào đám đông." Đúng là một bên bu, một bên né.  Bài nầy đã được Phạm Duy phổ nhạc dưới tên Cô Bắc Kỳ nho nhỏ.

  Tình yêu vốn khởi tự tâm sinh, mỗi người đều có những cách yêu khác nhau tuỳ theo tâm lý, hoàn cảnh và dung lượng tâm hồn, Tất Nhiên gây nhiều ấn tượng cho người đọc bởi vì thơ ông có nhiều tính cách trong một:  hồn nhiên trong chua cay, hạnh phúc trong đau thương và lãng mạn trong sầu thảm: "Người tóc thả vai ngang / Bước qua chiều mưa nhỏ / Cùng tận chốn tang thương /  Ta nghe ngàn phiến gió / Đè nặng bóng thê lương / Xuống từng hơi thở khó.....Đôi mắt người ngây thơ /Không hề vương vấn tội / Có chở tình ta theo / Tới cõi nào diệu vợi?" Những điều đó phát xuất từ tâm trạng, hoàn cảnh và tâm lý bản thân. Việc yêu và làm thơ là vận nghiệp của nhà thơ, chưa kể Nguyễn Tất Nhiên còn mắc bệnh tâm thần phân liệt.

    Ở Trường Sĩ quan Thủ Đức, ông bị từ chối vì tâm thần bất ổn. Và theo Phạm Duy,  nhạc sỹ đã ba lần vào dưỡng trí viện Biên Hoà để thăm Bùi Giáng, Nguyễn Ngu Ý và Nguyễn Tất Nhiên.

  Theo kinh Pháp Cú thì Tâm là chủ tạo tác, khi tâm động thì Ý phát sinh.Thi sĩ là người nhạy cảm và đang yêu thì tâm luôn vọng động, vì thế, ý tưởng trong thơ Nguyễn Tất Nhiên phong phú, ngôn từ mãnh liệt, hình ảnh táo bạo có khi chạm đến ngưỡng siêu thực: "Chiều em đi học về chim trắng bước / Ngang giáo đường nhoè nhoẹt màu vôi phai / Có động lòng xin hãy rút khăn tay / Lau giùm mắt kẻ xương bày trên thán giá / Là ta đó, em ơi đang tầm tã / Mưa đầy hồn đau đớn thương thân / Lỡ yêu tín đồ phải chấp nhận gian truân / Phải muối mặt giao du cùng quỷ sứ / Tính nhân hậu đã hồi nào hoá dữ / Bởi vì em gõ nhẹ cửa Thiên Đàng".

  Khi cao hứng thì thính giác và thị giác được ông cảm nhận qua lăng kính phân liệt tâm thần, tạo nên một hiệu ứng nghệ thuật về hình ảnh đầy ấn tượng:  "Chuông nhà thờ đổ mệt / Tượng Chúa gầy hơn xưa / Chúa bây giờ có lẻ / Xuống trần gian trong mưa." (Hai năm tình lận đận)

   Nhiều khi lên cơn hoang tưởng, ông tự hóa thân làm linh mục:   "Vì tôi là linh mục / Phổ lời tình nhân gian / Thành câu thơ buồn bã  / Nên hạnh phúc đâu còn /  Nên người tình duy nhất  / Vừa thiêu hủy lầu chuông." (Vì tôi là linh mục). 

     Và khi mà ẩn ức về một khát vọng tình chưa thỏa đáng thì phản ứng đột nhiên táo bạo: "Nếu vì em mà ta phải điên tình / Cơn giận dữ đã tận cùng mê muội / Thì đừng sợ, Duyên ơi thiên tài yếu đuối / Tay tre khô mối mọt ăn luồn / Dễ gãy đòn, miếng vụn tả tơi xương / Khi tàn bạo xiết cổ người yêu dấu! (Tình em cô gái Bắc).

    Xét kỹ, ta thấy Nguyễn Tất Nhiên không phải là kẻ thất tình, vì ông không có mối tình nào cả mà chỉ là yêu đơn phương với những chuyến tình thua thiệt. Ông là kẻ lụy tình.

  Có điều là, 8 năm sau, ông gặp lại Minh Thủy. Do những đổi thay của thời cuộc, năm 1978, Thủy không còn sự lựa chọn nào khác nữa. Nàng đã đáp lại tình ông.  Họ cưới nhau, đến năm 1980 thì sang Pháp, năm sau lại sang Mỹ.

    Hôn nhân là quà tặng của tình yêu, đồng thời cũng là định mệnh, bởi sự khác biệt nhau về tính cách, khó chịu đựng được đời nhau:  "Em mang hồn vô tội / Đeo thánh giá huy hoàng / Còn tôi nhiều sám hối / Mà sao vẫn hoang đàng." (Em hiền như Ma soeur). 

Hãy nghe ông dự cảm trước hôn nhân:

"Phu thê nếu đã nợ rồi  / Thì tôi đâu ngại ngỏ lời yêu em / Như con chim mới tập chuyền / Bâng khuâng gánh lụa thánh hiền em ra /  Mặt trời rực rỡ phương xa / Ở đây hạnh phúc  chỉ là đau thương / Phu thê nếu đã buộc ràng / Thì xin nhẫn nhục cưu mang vợ chồng  / Tôi quanh năm sống hoang đàng  /  Cũng xin nhỏ lệ hoàn lương khóc tình." 

      Khi đã chung thuyền, rồi thì hạnh phúc với ông là một sự hoài nghi: "Có những chiều muốn hôn em rồi khóc / Mùa bình an nào chờ đợi uyên ương? (Uyên ương) 

Đúng như Hồ Zếnh đã nói: "Tình mất vui khi đã vẹn câu thề / Đời chỉ đẹp những khi còn dang dở."

Thay vì là vương miện tình yêu, ông đã đội phải chiếc vòng Kim Cô. Ở khúc quanh số phận này, nhà thơ bắt đầu đối mặt với bi kịch của cuộc đời mình:

   "Tình cũng khó theo thời cơm áo khó 

    Ta dìu nhau đi dưới bóng nợ nần"

    (Hai hàng me đường GIa Long)

   Cùng vợ và hai con sống ở Mỹ, nhà thơ không thể nào hội nhập được với một xã hội thực dụng, hiện đại. Bằng những bước chân lơ đãng của kẻ mang tâm hồn mộng du trên đất Mỹ,  ông như đi giữa đôi bờ hư thực của cuộc đời .

    Vợ dẫn con đi biệt, ông trở về nguyên bản của chính mình: "Tôi đứng một mình trong im lặng / Như những cánh buồm kiệt sức lang thang." (Thiên Thu).  Sống lang thang bờ bụi khi không thể ở nhờ lâu ngày nơi nhà bè bạn.

   Theo Nguyễn Khánh Trương thì bài Tình ơi hỡi tình là bài thơ cuối cùng nhà thơ làm trên đất Mỹ, xin trích hai khổ đầu và cuối: "Lâu rồi, không nhớ bao lâu / Tìm nhau trong cõi bạc đầu nhân gian / Em về dưới gót trăng tan / Có nghe thiên cổ tiếng ngàn thông đau?...Lâu rồi không biết bao nhiêu / Nắng mưa trên những tàn xiêu đổ đời / Hôm em êm ả điệu ngồi / Sau lưng là những tình ơi hỡi tình!".  Ý thơ là nỗi chán chường, ngán ngẩm, là lời cuối cùng cho những chuyến tình sầu đã đi qua đời ông.

    Là một người sống nội tâm, đầy suy tư, không biết nhà thơ có mặc khải được chốn bất khả tư nghì trong tư tưởng hay không, mà thơ ông từ rất sớm đã lảng vảng hình bóng của sự chết: "Ta mời ta viếng mộ / Rời thảm cảnh dương gian...Lửa đời ta đã lụn / Đang hấp hối tro tàn,". (Thơ Mưa).

Và ông xem cái chết như một nghiệp định: Ta phải khổ cho đời ta chết trẻ / Phải ê chề cho tóc bạc với thời gian / Phải đau theo từng hớp rượu tàn / Phải khép mắt sớm hơn giờ thiên định."  (Giữa Trần gian tuyệt vọng).         

          

   Việc gì đến sẽ đến, ngày 8 tháng 3 năm 1992, người ta tìm thấy nhà thơ gục đầu trong một chiếc xe cà tàng đậu dưới tán cây, trong sân một góc chùa ở California, chung quanh ông có nhiều vỏ ống thuốc ngủ rơi vãi.

  Bút danh Nguyễn Tất Nhiên đã lận vào đời để vinh danh ông là một thi sĩ tài hoa, cuối cùng rồi cũng theo lẽ "Tất Nhiên". Ông lặng lẽ trả lại tên cho người bằng một phận đời bế tắc:

  "Đường không gian đã cách ly

   Đường thời gian đã một đi không về 

   Con đường mờ mịt sương che

   Tôi vô định lái chuyến xe mù đời "          

                          (Minh Khúc 90)

   Trái tim tình thua đã tự ngừng đập ở tuổi 40.  Đối với ông, ra đi là một cách giải thoát và ở một phương xa nào đó nơi cõi Vĩnh Hằng. Có lẽ nhà thơ sẽ thanh thản mỉm cười, vì ông đã trải qua được kiếp trần gian ô trọc đầy hỷ nộ ái ố nầy bằng những bước chân hồn nhiên, vô tư của một lãng tử mộng du đời, mà không hề vương mang một chút mùi tục lụy.

 "Hỡi Thượng Đế xin cúi đầu trả lại             

  Linh hồn tôi là một kiếp đi hoang

  Sầu đã chín, xin người thôi hãy hái

  Nhận tôi đi dầu địa ngục, thiên đàng"

                                       (Trình bày, thơ Huy Cận)

                          Trương Công Hải,

                           9/2026.

READ MORE - TÌNH THƠ NGUYỄN TẤT NHIÊN VÀ NỖI NGHIỆT NGÃ CỦA TÂM HỒN MỘNG DU - Trương Công Hải