Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Sunday, September 6, 2026

LÁ THƯ 30 MỚI GỞI - Nguyễn Bá Trình

 

Tác giả Nguyễn Bá Trình

Lá thư 30 năm mới gởi  

NGUYỄN BÁ TRÌNH                       

 

Gần hết đời người

Tôi mới gởi lá thư

Cho một người

Có phải là thư không

Tôi chẳng biết

Tôi cẩn thận gấp vuông tờ giấy

Một tờ giấy trắng tinh

Không có nếp nhăn và không một vết bẩn

Và tôi không viết một chữ nào lên tờ giấy

Tôi xếp lại bỏ vào phong bì ngay ngắn

Trước khi dán

Tôi viết lên phong bì tên người gởi:

Họ và tên của tôi

Địa chỉ:Vẫn địa chỉ cũ tôi từng sống cách đây mấy mươi năm

Tên người nhận

Họ và tên người ấy

Địa chỉ nầy tôi nhớ mãi đến hôm nay .

 Trước khi gởi lá thư tôi ngồi tưởng tượng

Có thể người ấy sẽ xé vụn lá thư rồi bỏ vào sọt rác

Khi thấy người gởi là tôi

        chẳng cần mở ra xem trong thư tôi nói gì.

Đó là điều tôi mong muốn.

 

Cũng có thể người ấy mở ra xem và thấy tờ giấy trắng

Thư cũng bị xé vụn và ném vào sọt rác

Kèm theo lời ta thán:

Vẫn không thay đổi chút nào

Đó cũng là điều tôi mong muốn

 

Cũng có thể người ấy

Mở lá thư định đọc

Rồi ngẩn người nhìn tờ giấy trắng

Như muốn tìm hiểu xem lá thư muốn nói lên điều gì

                              trong trạng thái vô ngôn

Ngồi như thế thật lâu

Rồi lẵng lặng đứng lên

Tìm bao diêm bật đốt

Và tôi tưởng tương người ấy sẽ nói

Đây chỉ là điều tôi tưởng tượng

 người vẫn chưa quên  mình

Đó là điều tôi hằng mong muốn

 

Thư gởi rồi tôi không đợi hồi âm

Thế nhưng chưa đầy một tuần

Lá thư đã trở lại

như một cánh chim bị thương

quay về nơi chốn cũ

với dòng chữ đỏ chói

như những vết cắt rướm máu

Thư được trả lại vì không có người nhận

Một ngọn gió từ đâu thổi đến

Lá thư bứt khỏi tay như bị ai giật

xoay trong gió xa dần rồi mất hút

Chắc chắn lá thư sẽ không bao giờ có cơ hội trở lại!

Đó là điều tôi không mong muốn

xẩy ra bao giờ

 

Sài Gòn, viết vào sinh nhật thứ 80-3/9/2026

 

 &&&


 Lời bình của AI

 

Đánh giá về lá thư không viết chữ nào nói lên câu chuyện ngang trái

 

Ý tưởng "Lá thư trắng – Vô ngôn" là một sáng tạo nghệ thuật xuất sắc của Nguyễn Bá Trình. Một tờ giấy trắng tinh, không nếp nhăn, không một chữ nhưng lại chở nặng khối tình suốt 30 năm. 

 

Nói lên sự bất lực của ngôn từ: Sau 30 năm xa cách, mọi lời thanh minh, xin lỗi hay bày tỏ đều trở nên thừa thãi và nông cạn. Tờ giấy trắng là đại diện cho sự vẹn nguyên, tinh khôi của tình cảm thuở ban đầu, không bị vấy bẩn bởi thời gian.

 

Bi kịch ngang trái: Thư không có chữ để người nhận tự điền vào đó tâm tư của chính họ. Thế nhưng, bi kịch ngang trái ở chỗ: Tác giả chấp nhận "vô ngôn" để đổi lấy một sự thấu hiểu ngầm, nhưng cuộc đời lại trả lời ông bằng một sự "vô ngôn" đáng sợ hơn – sự im lặng của nấm mồ hoặc sự mất tích của nhân ảnh. Sự trống rỗng của tờ giấy gặp phải sự trống rỗng của một địa chỉ không người nhận, đẩy bi kịch lên đỉnh điểm.

 

Vì sao sau 30 năm chôn vùi, đến tuổi 80 tác giả lại muốn khơi lại? Ý nghĩa là gì?

 

Tâm thế của tuổi 80 – Buông bỏ và Tổng kết: Bài thơ được viết đúng ngày sinh nhật thứ 80, cái tuổi "gần hết đời người". Khi đứng ở dốc bên kia cuộc đời, con người ta không còn thiết tha tranh giành hay oán hận, họ chỉ muốn đối diện với những gì thật nhất trong lòng mình. Việc gửi thư là một hành động nhằm khép lại quá khứ (closure). 

 

Nhu cầu được "giải thoát" tâm linh: Suốt 30 năm qua, tác giả sống với ký ức chôn vùi. Gửi lá thư này đi giống như một lời tổng kết cuối cùng, một nỗ lực cuối cùng để chạm vào thanh xuân trước khi nhắm mắt xuôi tay. 

 

Ý nghĩa triết lý: Hành động khơi lại không phải để nối lại tình xưa, mà để xác tín xem tình yêu đó đã thực sự chết đi chưa. Nhưng cái kết của bài thơ – lá thư bị gió cuốn đi mất hút – mang ý nghĩa triết lý sâu sắc: Có những điều một khi đã bỏ lỡ trong đời, thì dẫu có đợi đến 30 năm hay 80 tuổi, con người cũng không bao giờ có cơ hội sửa sai hay tìm lại được nữa. Quá khứ đã khép cửa, và con người buộc phải chấp nhận sự mất mát tuyệt đối.

 

&&&

 

Nghệ thuật tương phản

 

Trong bài thơ "Lá thư 30 năm mới gởi" của Nguyễn Bá Trình, nghệ thuật tương phản (đối lập) chính là chiếc bản lề nghệ thuật nâng đỡ toàn bộ mạch cảm xúc và tư tưởng của tác phẩm. Bi kịch của một tình yêu ngang trái, sự nghiệt ngã của thời gian và số phận được đẩy lên cao trào nhờ vào các cặp tương phản sắc nét từ hình thức đến nội dung.

 

Dưới đây là phân tích chi tiết về nghệ thuật tương phản trong bài thơ:

 

1.Tương phản giữa Hình thức (Tờ giấy trắng) và Nội dung (Khối tình 30 năm)

 

Biểu hiện: Tác giả gửi đi một tờ giấy "trắng tinh / Không có nếp nhăn và không một vết bẩn" và "không viết một chữ nào". Thế nhưng, lá thư ấy lại chuyên chở một câu chuyện dài suốt "mấy mươi năm" (30 năm nén nhịn, chờ đợi).

 

Ý nghĩa: Sự đối lập giữa cái "Không" (vô ngôn) trên mặt giấy và cái "Có" (vô vàn) trong tâm tưởng. Tờ giấy trắng đại diện cho sự tinh khôi, vẹn nguyên của mối tình đầu không bị vấy bẩn bởi thời gian. Sự trống rỗng về mặt chữ viết lại tỉ lệ thuận với độ nén, độ nặng của tâm tư. Tác giả chọn cái "vô ngôn" vì hiểu rằng mọi ngôn từ lúc này đều trở nên bất lực và chật hẹp để diễn tả một đời người.

 

2. Tương phản giữa Không gian (Địa chỉ cũ) và Thời gian (30 năm dịch chuyển)

 

Biểu hiện: Tác giả ghi địa chỉ người gửi là "Vẫn địa chỉ cũ tôi từng sống cách đây mấy mươi năm", trong khi thời gian bối cảnh đã là "Gần hết đời người", viết vào "sinh nhật thứ 80".

 

Ý nghĩa: Trục thời gian đã dịch chuyển đi gần nửa thế kỷ, vạn vật đổi thay, con người đã già nua, nhưng trục không gian trong tâm tưởng của tác giả vẫn đóng băng ở quá khứ. Sự tương phản này làm nổi bật sự chung thủy tuyệt đối đến đáng thương. Thân xác tác giả ở hiện tại (tuổi 80), nhưng tâm hồn ông vẫn trú ngụ ở ngôi nhà cũ, địa chỉ cũ của bấy nhiêu năm về trước, nơi tình yêu của họ còn sống bừng sáng.

 

3. Tương phản giữa Nghịch lý cảm xúc: "Mong đợi bị từ chối" và "Không mong được trả về"

 

Đây là đỉnh cao nghệ thuật của bài thơ, tạo nên cấu trúc đảo ngược tâm lý hoàn toàn bóp nghẹt trái tim người đọc:

 

Ba kịch bản đầu (Mong bị xé, bị đốt): Thư bị xé nát, bị vứt sọt rác, bị mắng chửi ("vẫn không thay đổi") hay bị đốt cháy... đều là những hành động phũ phàng, tổn thương. Nhưng tác giả lại thốt lên: "Đó là điều tôi mong muốn", "Đó là điều tôi hằng mong muốn". Vì sao? Vì đó là sự phũ phàng có tương tác. Người nhận còn sống, còn giận, còn nhớ, còn thấu hiểu. Sự hủy diệt lá thư bằng tay người thương chính là một sự xác nhận cho sự tồn tại của tình yêu.

 

Kịch bản cuối (Thư còn nguyên vẹn quay về): Thư không bị xé, còn nguyên vẹn trong phong bì sạch sẽ, nhưng tác giả lại đau đớn: "Đó là điều tôi không mong muốn / xẩy ra bao giờ". Lá thư nguyên vẹn đồng nghĩa với việc nó chưa từng được chạm vào bởi người bưu tá cũ hay người thương. Nó quay về mang theo cái chết bóc trần của thực tại: "Không có người nhận".

 

Ý nghĩa: Sự tương phản này cho thấy tác giả thà nhận về sự oán hận, ghét bỏ từ người yêu (để biết họ còn sống và còn nhớ) còn hơn phải nhận về sự bình yên vô cảm của nấm mồ hay sự mất tích của nhân ảnh từ định mệnh.

 

4. Tương phản về sắc màu thẩm mỹ: "Trắng tinh khôi" và "Đỏ rướm máu"

 

Biểu hiện: Màu sắc của lá thư đi là màu trắng ("tờ giấy trắng tinh") – biểu tượng của sự thanh khiết, lặng lẽ, một tình yêu không đòi hỏi, không oán ca. Màu sắc của lá thư về là màu đỏ ("một dòng mực đỏ như những vết cắt rướm máu") của con dấu bưu điện thông báo lạnh lùng.

 

Ý nghĩa: Sự đối lập màu sắc này mang tính biểu tượng rất cao. Màu trắng yên bình, vô ngôn của tác giả khi va đập vào thực tế phũ phàng của cuộc đời đã biến thành dòng mực đỏ rướm máu. Màu đỏ ấy bóc trần vết thương lòng bấy lâu nay bỗng chốc bị khơi bới và bị cứa sâu thêm bởi nhát dao của bưu điện – nhát dao của sự thật rằng người xưa đã không còn ở đó nữa.

 

5. Tương phản giữa Hành vi bám níu và Kết cục mất hút

 

Biểu hiện: Đoạn đầu, tác giả vô cùng tỉ mỉ, trân trọng, nâng niu lá thư ("cẩn thận gấp vuông", "ngay ngắn", "nhớ mãi đến hôm nay"). Đoạn cuối, lá thư bị bứt khỏi tay bởi một ngọn gió vô tri: "bứt khỏi tay như bị ai giật / xoay trong gió xa dần rồi mất hút".

 

Ý nghĩa: Sự tương phản giữa sự cố gắng níu giữ, chuẩn bị trân trọng suốt 30 năm của con người và sự tước đoạt dễ dàng, nhanh chóng trong một tích tắc của thiên nhiên (ngọn gió). Nó gợi lên sự bất lực của nhân loại trước định mệnh và thời gian. Con người có thể giữ một khối tình 30 năm trong lòng, nhưng không thể giữ nổi một mảnh giấy trước cơn gió của số phận.

 

Tóm lại: Nghệ thuật tương phản trong bài thơ không đơn thuần là kỹ thuật bẻ đôi câu chữ, mà là cách Nguyễn Bá Trình phơi bày quy luật nghiệt ngã của cuộc đời. Chính sự tương phản này đã giúp bài thơ dù không dùng từ ngữ đao to búa lớn, vẫn tạo ra một dư chấn cảm xúc mãnh liệt, khiến người đọc phải xót xa cho một kiếp người, một kiếp tình ở tuổi 80.

 

 

&&&

 

Tiểu sử NGUYỄN BÁ TRÌNH


Trích từ:

https://nguyenbatrinh.com/

 

Sinh ngày 3 tháng 9 năm 1946

Tại Lương Điền, Hải Sơn, Hải Lăng, Quảng Trị

Tốt nghiệp Đại học SP, ban Toán, Trường Đại học Sư phạm

Huế

Giáo viên trung học phổ thông, đã nghỉ hưu.

Hiện ở tại Tp .HCM

 

CÁC TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN

 

Tác phẩm xuất bản năm 2008

 

MỘT NGÀY CHO TRĂM NĂM

Tiểu thuyết.

Tái bản năm 2009.

Xếp loại: Sách được bạn đọc yêu thích bình chọn

 

Tác phẩm xuất bản năm 2018

 

SÓNG KHÔNG NGỪNG VỖ 

Tập truyện ngắn

 

CHỢ HOA TỐI BA MƯƠI TẾT

Tập truyện ngắn

 

NGƯỜI ĐÀN ÔNG ĐƯỢC CÔ GÁI CHỌN ĐÊM ĐẦU

Tập truyện ngắn và một truyện vừa

 

VƯỜN HOA KHÔNG BƯỚM LƯỢN

Tập truyện ngắn

 

RÉT HÀ NỘI 

Tập truyện ngắn 

 

CHIM SƠN CA VÀ CHÚ SÂU NHỎ  

Tập truyện ngụ ngôn 

 

MỘT CHUYẾN CHÂU ÂU      

Du ký 

 

Tác phẩm sắp xuất bản:

 

 NGƯỜI MẸ VÀ ĐỨA CON GÁI CỦA BA NGƯỜI ĐÀN ÔNG

 Tiểu thuyết 

 

MƯA BÓNG MÂY 

Thơ

READ MORE - LÁ THƯ 30 MỚI GỞI - Nguyễn Bá Trình

Saturday, September 5, 2026

CHÀO MỪNG KỈ NIỆM 100 NĂM CAFÉ KHE SANH - Chùm thơ: Kim Cương

Ảnh từ: https://sovaba.travel/blog


Kim Cương

TRĂM NĂM ĐƯỢM VỊ CÀ PHÊ


Trăm năm hạt ngủ trong lòng đất
Thức giấc cùng mây trắng Trường Sơn
Đất đỏ quặn mình qua mưa lửa
Chắt thơm từng giọt nắng cao nguyên.

Hương cà phê nghiêng qua khe núi
Quyện tiếng Đakrông gọi đại ngàn
Tà Puồng thả mái tóc dòng nước
Mây Chênh Vênh đậu cánh chim ngang.

Có vị thời gian trong đất lửa
Thấm vào bazan đỏ nghìn đời
Chiến hào cũ hóa màu xanh biếc
Cho đất hồi sinh những mùa tươi.

Người Vân Kiều mang họ Hồ ấy
Bền như vách đá giữa phong sương
Bàn tay nhóm lửa nuôi cây trái
Giữ nghĩa tình sâu như suối nguồn.

Họ gùi bình minh qua lưng dốc
Gùi cả trăng ngàn xuống bản xa
Tiếng khèn đêm chao trong men khói
Ủ ấm sườn non lạnh sương nhòa.

Trăm năm cà phê xanh Khe Sanh
Rễ bám vào ký ức Trường Sơn
Mỗi hạt nâu mang hồn đất đỏ
Đắng mà thơm như nghĩa quê hương.                                                          

 

ĐƯA CON VỀ KHE SANH

 

Cha đưa con lại Khe Sanh đỏ

Mây Tà Cơn vẫn đậu lưng trời.

Ngày ấy con cất tiếng chào đời

Huyền thoại Khe Sanh vang khắp trời.

 

Xe tăng nằm giữa miền cỏ biếc

Nòng súng thôi nhả lửa cuồng điên.

Rêu thời gian phủ màu trầm mặc

Đất vẫn âm thầm giữ khí thiêng.

 

Cha lặng đứng giữa ngàn gió núi

Ngỡ người còn khuất phía đồi sim.

Bao gương mặt chưa từng quen biết

Hóa mây ngàn, hóa đất lặng im.

 

Con nhìn xe vượt miền Lao Bảo

Chở bốn phương về với đại ngàn.

Cà phê phủ xanh triền đất đỏ

Hương đời lấn dần vết chiến chinh.

 

Cha chẳng kể thêm điều năm cũ

Chỉ cầm tay bước giữa thanh bình.

Để con hiểu từng đồi, ngọn cỏ

Được giữ bằng máu của chiến binh.

 

Mai này dẫu khắp nẻo đường xa

Xin nhớ màu đất đỏ Khe Sanh.

Huyền thoại đâu nằm trong quá khứ

Đã thành nhựa sống thắm trên cành

 

KHE SANH TOẢ SÁNG

Khe Sanh thức giữa ngàn sương bạc,
Đường Chín âm vang dấu quân hành.
Hàng rào điện tử từng ngạo nghễ
Cũng hóa tro tàn giữa bão binh.

Tà Cơn gió lộng qua hầm thép,
Cỏ úa ru tàn xác phi cơ.
Làng Vây, Lao Bảo còn in bóng
Một thuở cha anh giữ cõi bờ.

Đất đỏ bazan thơm mùa trái,
Cà phê trăm tuổi bén rễ sâu.
Hạt ngọc Arabica cháy nắng
Mang hồn đại ngàn đi địa cầu.

Tà Puồng buông mái tóc xanh biếc,
Chênh Vênh mây ngủ giữa lưng đồi.
Đakrông ngân dài câu huyền thoại,
Ru người Pa Kô giữa đại ngàn.

Giờ đây gió dựng ngàn cánh bạc,
Điện gió vươn cao chạm mây ngàn.
Khe Sanh từ chiến trường lửa đạn
Đã hóa miền quê của vinh quang.

                                                                  

Nguyễn Kim Cương

Tổ dân phố Tây Lộc Đại – Phường Đồng Thuận – Quảng Trị 

kimcuongqb@gmail.com

 

READ MORE - CHÀO MỪNG KỈ NIỆM 100 NĂM CAFÉ KHE SANH - Chùm thơ: Kim Cương

LỤC BÁT HUỲNH LIỄU NGẠN



 

TAN LOÃNG

 

bảo rằng đợi ngọn gió đông

sao anh bỏ lại hư không bên nhà

mới hôm kia nắng chan hòa

rơi trên áo chút mặn mà của đêm

 

bảo rằng đợi ngọn trầu têm

làm em phải trải nỗi niềm lên tay

vòng tay ngó vậy cũng gầy

sao ôm được tiếng gió lay thì thầm

 

giống như anh hẹn trăng rằm

rồi quên hết chỉ ăn nằm với thơ

quên luôn em thuở dại khờ

quên luôn đôi mắt em mờ mịt trông

 

để hôm kia nước lụt đồng

trôi theo bảy sắc cầu vồng xuống mương

bảo rằng anh sợ tơ vương

mùi hương thơ dại trên đường em đi

 

mùi hương của tuổi xuân thì

sao anh không giữ lại khi xa rồi

bảo rằng đời cũng thế thôi

sao anh cứ để pha phôi chia phần

 

sao anh cứ để phù vân

làm hạt bụi tan loãng dần môi em.

 

22.8.2026

 

NỬA

 

em về rừng gọi tên em

nửa sông gọi bến nửa đêm gọi bờ

em về nắng mịt mưa mờ

nửa kia đợi nửa kia chờ nửa kia

 

em về núi lỡ non chia

nửa trắng sắp khuyết nửa lìa sắp tan

em về lũng thấp đèo ngang

nửa anh lạc bước nửa ngàn lẻ đôi

 

em về nhắn gởi xa xôi

nửa vòng tay nửa đơn côi bụi hồng

em về đứng đợi nửa đông

nửa tây anh ngóng mộng lung lên trời

 

quê anh đổi phố lâu rồi

đổi luôn em đổi dấu đời ngày xưa

em về không có đò đưa

nửa câu hò nửa sớm trưa đâu còn.

 

15.8.2026

 

TRĂM NĂM MỘT KHẮC BỤI HỒNG

 

đời anh chỉ một con tim

nên xa xôi mấy cũng chìm dưới sông

em như ngọn gió ngoài đồng

thổi qua sa mạc mênh mông đời người

 

thương em lên thác xuống đồi

gánh rau nuôi mẹ lỗ lời nuôi em

tiếng gà thôi thúc từng đêm

thức khuya dậy sớm chân mềm gót chai

 

anh đi mấy chục năm dài

đầu non cuối bãi ngàn mai dặm trường

trên vai anh nặng vô thường

qua sông lỡ bến qua đường lỡ xe

 

biết giờ em có lắng nghe

câu hò mái đẩy xàng xê thuở nào

thuở anh còn mộng trăng sao

mà em sương khói nghiêng chao cả lòng

 

rồi thời gian cứ mệnh mộng

qua xuân tới hạ hư không một đời

ngày đi mẹ dặn quên rồi

áo cơm đắp đỗi quê người cũng xong

 

trăm năm một khắc bụi hồng

mây bay gió thổi phiêu bồng lại vui

tìm đâu ngày tháng ngọt bùi

nồi cơm gạo tẻ tới lui phận nghèo

 

cuộc đời anh vẫn đơn neo

sáng trưa chiều tối quanh queo khúc đèo

lên cao thì phải gắng trèo

mới nghe được tiếng lửa reo bếp nồng.

 

9.8.2026

 

ĐỜI ANH CHỈ MỘT BÀI THƠ

 

anh về bắt nắng chiều đông

nghe con chim hót bâng khuâng trên cành

vì đâu chim lại bỏ anh

để bay theo những âm thanh cuộc đời

 

anh về bếp lửa chiều khơi

tro tàn nhen chút ấm phơi lại mình

đợi cho trăng lặn mái đình

anh ôm mộng ảo đăng trinh vào mây

 

tháng giêng hoa nở chưa đầy

cũng chờ gió sớm rung cây thay mùa

biết mai rồi sẽ tiễn đưa

một mùi hương đã chín vừa dấu môi

 

dòng đời cứ thế lặng trôi

em như sương khói pha phôi lên trời.

âm thầm anh sống đơn côi

nghe con chim hót bỗng chơi vơi lòng

 

ở đây không có dòng sông

nên không có cả nhánh rong giạt bờ

đời anh chỉ một bài thơ

nên cam chịu cảnh bơ vơ xứ người.

 

30.7.2026

 

TUNG LÊN TRỜI XANH

 

anh ôm kỷ niệm vào lòng

gió nồm thổi lại phập phồng anh lo

chiều ni anh hỏi con đò

còn đưa qua cửa câu hò mẹ ru

 

nhớ gì từ thuở âm u

anh đi bỏ lại trăng lu bên vườn

con chim đứng hót dặm trường

lâu lâu lại hỏi vô thường sắc không

 

màu trời còn đọng bên hông

nhà ai khói bếp ùn xông chái nghèo

tiếng gà gáy tận cheo leo

lá rơi theo bóng mây heo hút đèo

 

anh xa quê mẹ bọt bèo

nồi cơm gạo hẻo còn reo trên nồi

từ khi vật đổi sao dời

anh già nua ở xứ người thật lâu

 

đời như một cuộc bể dâu

đã vùi sâu giấc mộng đầu của anh

bao nhiêu ước vọng chưa thành

anh tung lên hết trời xanh rồi cười.

 

24.5.2026

 

HUỲNH LIỄU NGẠN

 hiephuynh479@gmail.com

Ảnh: Tác giả

READ MORE - LỤC BÁT HUỲNH LIỄU NGẠN

Friday, September 4, 2026

CHÙM THƠ LƯU LÃNG KHÁCH: Ai bảo mất nhau / Bến trăng hiu / Còn gì cho em

 


AI BẢO MẤT NHAU


Ai bỏ trầu cau ước hẹn rồi

Em nào trói được với duyên tôi

Thơ ngây em xuống thuyền duyên kiếp

Có lẽ nay đành giã biệt thôi

Mười tám em về vui bên ấy

Bỏ lại dòng sông chuyện lứa đôi

Em ơi chớ có chui vào mộng

Kẻo khổ tình anh lớn mãi rồi

Một ngày không gặp muôn ngày nhớ

Trọn kiếp chia ly mấy nẻo sầu

Anh về vá lại con tim vỡ

Đáy hồn ai bảo mất nhau đâu.

                        6/3/1985

               Duy Toàn Chợ Chùa


 

BẾN TRĂNG HIU


Bến xưa từ dạo em đi

Đò ngang chẳng biết chở gì sang sông

Đêm xuân lòng xót xa lòng

Đang vui cách trở, đang nồng biệt ly

Ưu phiền sớm đậu viền mi

Trắng phau niềm nhớ xanh rì nỗi thương

Để trăng hiu quạnh đêm trường

Hai đầu khuyết vạch một đường bơ vơ.

     Xuân 1985

Lưu Lãng Khách


 

 

CÒN GÌ CHO EM


Rằng anh từ độ xa nhau

Héo hon xuân sắc hư hao xác hồn

Tỉnh say mộng thực tréo tròng

Còn ra sao một tấm lòng cho em

Tài hoa nét bút ngọt mềm

Tặng em ngày ấy bên thềm tơ duyên

Bây giờ chữ ngả  chữ nghiêng

Chữ say chữ tỉnh lòng điên đảo lòng

Giờ tĩnh tại, phút thong dong

Trao mây gửi gió còn mong nỗi gì

Còn chăng một khối tình si

Một hồn cổ kính xanh rì cỏ hoang

Còn chăng ngày ấy lụi tàn

Băn khoăn lối gió bẽ bàng nẻo trăng

Ai sám hối? Ai ăn năn!

Cho ta tiếng mõ tự răn lấy mình

Chắc em giờ vẫn xinh xinh

Thanh tao tựa chốn cung đình quý nương

Chắc còn chút mộng văn chương

Chút hồn nữ sĩ, chút vương vấn lòng

Xuân về ngào ngạt gió mong

Thắm nồng nắng nhớ, ửng hồng mây yêu

Chiều nay dường khác mọi chiều

Nghe lòng dâng ngập sóng triều…biển xưa!


Mùa xuân 1985

Lưu Lãng Khách

 

 

 

 

 

 

 

 

READ MORE - CHÙM THƠ LƯU LÃNG KHÁCH: Ai bảo mất nhau / Bến trăng hiu / Còn gì cho em

THƠ NGUYỄN VĂN TRÌNH TRONG DÒNG CHẢY VĂN HỌC ĐƯƠNG ĐẠI QUẢNG TRỊ - Lê Đàn

  



Thơ Nguyễn Văn Trình trong dòng chảy 

văn học đương đại Quảng Trị


Nhà thơ Lê Đàn

Hội VHNT Tỉnh Quảng Trị

 

        Văn học đương đại Việt Nam là một không gian sáng tạo giàu bản sắc, xuất hiện mạnh mẽ từ những biến động lịch sử sau năm 1975, tiếp nối giai đoạn đổi mới từ thập niên 1980 và phát triển đa dạng cho đến ngày nay. Đặc trưng của thơ ca đương đại là sự hòa nhập giữa cá nhân và tập thể, giữa ký ức và hiện thực, giữa truyền thống và văn hóa bản địa, và cả những hơi thở chung của thời đại mới. Trong dòng chảy ấy, nhiều giọng thơ của các vùng miền đã khẳng định được vị trí riêng, đóng góp cho bức tranh chung của thơ ca Việt Nam đương đại thêm phong phú, trong đó có Nhà thơ Nguyễn Văn Trình, sinh ra và trưởng thành nơi miền quê Quảng Trị khói lửa mà giàu truyền thống cách mạng và thơ ca. Tính đến nay, Nhà thơ Nguyễn Văn Trình đã xuất bản được bốn tập thơ in riêng:“Mây trắng bên trời” – NXB Thuận Hóa, Năm 2011; “Nắng chiêm bao” NXB Hội Nhà Văn, Năm 2019; “Bóng chiều rơi” NXB Hội Nhà Văn, Năm 2022; và “Thôi đành rong rêu”, NXB Thuận Hóa, Năm 2024. Bên cạnh đó, anh còn có rất nhiều bài thơ in chung trong các tuyển tập văn học địa phương, của Trường Đại học Sư phạm Huế, có gần hàng trăm bài thơ đăng trên các trang web, các báo, tạp chí của địa phương và trung ương.

Nhà thơ Nguyễn Văn Trình và nhà thơ Lê Đàn.

       Thơ Nguyễn Văn Trình là một trong những giọng thơ tiêu biểu của thơ ca miền trung – Quảng Trị với cảm thức sâu sắc về quê hương đất nước, về đời sống con người Quảng Trị vùng đất gắn liền với lịch sử chiến tranh, khát vọng hòa bình và cả những nỗi đợi chờ của người miền trung, nơi sở hữu một truyền thống thơ ca sôi động và có sức lan tỏa rộng rãi. Nhiều nhà thơ sinh ra và lớn lên ở nơi đây đã dệt nên bức tranh thơ ca mang đậm bản sắc quê hương, trong đó có nhà thơ Nguyễn Văn Trình đã để lại những dấu ấn đáng ghi nhận của thơ ca đương đại Quảng Trị nói riêng và cả nước nói chung, từ mảnh đất này - mảnh đất của thi ca và lịch sử.

     Cội nguồn cảm hứng trong thơ Nguyễn Văn Trình là quê hương, là ký ức và thiên nhiên miền Trung Quảng Trị. Sinh sống và sáng tác chủ yếu ở quê hương, nên tâm hồn nhà thơ Nguyễn Văn Trình luôn thấm đượm tình quê hương sâu nặng, gắn bó với từng cảnh vật mộc mạc như: dòng sông, bờ tre, giếng nước và tuổi thơ nơi làng quê chân chất. Đó cũng là một mảng đề tài lớn trong thơ Nguyễn Văn Trình. Quê hương không chỉ là yếu tố địa lý mà còn là ký ức, là “nơi trú ngụ” cho cảm xúc và tư tưởng thơ ca, tiêu biểu cho mảng thơ này có một số bài thơ như: “Thẫn thờ chốn quê, Chiều trên sông quê, Hồn quê, Thương hoài giếng quê, Mãi bờ tre xanh...” đã chuyển tải chân thực và tha thiết tình yêu quê hương qua những gam màu ngôn từ giản dị, mộc mạc, mà giàu cảm xúc, giàu nhạc điệu. Trong bài: “Chiều trên sông quê”, nhà thơ viết: “Vãn chiều ghé bến sông quê / Ngắm con đò nhỏ xuôi về cuối sông / Mênh mông năm tháng ngái trông / Nô đùa lũ trẻ dưới sông trưa hè...” Những hình ảnh bình dị như: “Con đò, dòng sông, lũ trẻ nô đùa”...đã gợi lên bức tranh miền quê thanh bình, giàu âm thanh màu sắc thiên nhiên và ẩn chứa trong đó là nỗi niềm man mác, hoài cổ. Đây là điểm khác biệt của thơ Nguyễn Văn Trình so với một số xu hướng thơ đô thị đương thời. Nguyễn Văn Trình hướng về những giá trị bình dị nhất của đời sống nông thôn, để từ đó đi đến sự chiêm nghiệm sâu sắc về ký ức và sự tồn tại của con người.

     Ngôn ngữ trong thơ của Nguyễn Văn Trình hiện đại mà vẫn giữ được sự gần gũi, phong cách thơ của ông cũng vậy, không rập khuôn máy móc theo chuẩn mực cổ điển, hay thậm chí không lặp lại các thủ pháp nghệ thuật phức tạp, rối rắm, khó cảm nhận của một số xu hướng thơ đương thời. Thơ Nguyễn Văn Trình sử dụng ngôn ngữ giàu tính sáng tạo linh hoạt, bình dị mộc mạc dễ cảm, nhưng giàu hình ảnh gợi liên tưởng sâu sắc, nhịp điệu thơ đầy biến hóa nhẹ nhàng nên khiến lời thơ vang vọng như giai điệu thân thuộc của đời sống làng quê thường nhật của con người: “Vẳng nghe sông hát lời quê / Về đây tìm lại đam mê một thời...” (Chiều trên sông quê) cách nhà thơ kể chuyện bằng thơ không dừng lại ở việc mô tả, mà còn khai mở chiều sâu cảm xúc, dẫn dắt người đọc bước vào thế giới nội tâm đầy hoài niệm, suy tư về thời gian, thân phận con người. Nhờ vậy, thơ Nguyễn Văn Trình vừa biểu đạt được cảm thức cá nhân, vừa phản ánh được những biểu hiện chung của cộng đồng miền Trung sau chiến tranh, cả trong thời bình xây dựng và hội nhập.

     Thơ Nguyễn Văn Trình trong dòng chảy văn học đương đại là tiếng nói của Quảng Trị, góp phần “bản địa hóa” thơ ca đương đại. Trong bản đồ văn học đương đại Việt Nam, vẫn tồn tại sự phân biệt khá rõ giữa văn học vùng miền với những thế mạnh riêng. Chẳng hạn như thơ đô thị thường tập trung vào những trải nghiệm hiện tại, bản ngã cá nhân, thơ miền núi và các vùng nông thôn đồng bằng bắc bộ tập trung vào những biến động, sự thay đổi nội tại của các vùng quê, còn thơ miền Trung – Quảng Trị thường gắn với lịch sử chiến tranh khốc liệt, nỗi nhớ quê nhà và nỗi trăn trở về cuộc sống... Trong bối cảnh chung ấy, thơ Nguyễn Văn Trình là một tiếng nói đại diện cho văn học đương đại Quảng Trị. Đồng thời góp phần làm phong phú thêm “bản sắc vùng miền” trong tổng thể văn học đương đại Việt Nam. Không chỉ đơn thuần là thơ trữ tình, thi phẩm của Nguyễn Văn Trình còn như một bản nhật ký bằng thơ ghi chép lại nhịp sống và giá trị tinh thần thiêng liêng của cả cộng đồng. Điều này đặt Nguyễn Văn Trình trong dòng chảy tiếp nối những nhà thơ vừa chân chất, mộc mạc vừa hiện đại, mới mẻ, sử dụng thơ ca như tiếng nói gắn liền với đời sống thôn quê, song vẫn mang hơi thở đương đại hội nhập, sâu sắc. Bài thơ: “Phiên chợ ngày cuối năm” là một minh chứng: “Phiên chợ ngày cuối năm vội vã / Xôn xao người bán người mua / Náo nức người đi chợ tết / Mẹ già lụm đụm tay xách nách mang / Thương con thương cháu / Sắm sửa đủ đầy, đợi tết đoàn viên / Ông già đeo đôi mục kỉnh / Nheo nheo nhìn ngắm cành đào / Ước ao có cành cắm tết / ... / Mấy đứa trẻ lon ton theo mẹ / Mong sao có được mang về, món quà đồ chơi bằng nhựa / Tay kiếm cung, múa cùng những đứa bạn xóm giềng / Bày trò trận giả...”

     Thơ Nguyễn Văn Trình còn là tiếng nói giao thoa giữa truyền thống và hiện đại, địa phương và toàn quốc. Thơ đương đại Việt Nam không chỉ có thơ viết về đô thị, mà còn cần có những giọng điệu thơ, như thơ của Nguyễn Văn Trình để cân bằng bức tranh thơ ca. Âm hưởng miền quê, tần số cảm xúc đời thường, sự giản dị mà sâu sắc trong phong cách thơ của Nguyễn Văn Trình vừa tiếp nối truyền thống văn học dân gian Việt Nam - vốn gần gũi với nhạc điệu ca dao, vừa đáp ứng được nhu cầu thẩm mỹ đa dạng của độc giả hiện đại, vừa thể hiện sự tìm tòi về cội nguồn, về ký ức và về tình yêu quê hương đất nước trong thời đại mới. Bài thơ: “Hồn quê” của Nguyễn Văn Trình là một trong những bài thơ tiêu biểu nói về tình yêu quê hương, làng nước sâu sắc: “Chiều quê gió thổi vi vu / Cánh diều bay bổng đưa ru ngọn nồm / Chòm mây tím nhẹ chiều hôm / Đường làng cốm mới hoàng hôn chớm hè / Bước chân dạo dưới hàng tre / Mà nghe sâu lắng tiếng ve tự tình / Quê hương cảnh đẹp lung linh / Rộn ràng cảm xúc nặng tình trước sau...”

        Trong tổng thể văn học đương đại Việt Nam, thơ Nguyễn Văn Trình không chỉ phản ánh quê hương, mà còn là sự đại diện cho cách tiếp cận thơ ca từ tâm hồn con người Quảng Trị vừa riêng biệt vừa có giá trị phổ quát. Điều này giúp thơ Nguyễn Văn Trình có được sự ghi nhận không chỉ ở những người yêu thơ và giới nghiên cứu phê bình văn học ở Quảng Trị, mà còn ở giới nghiên cứu phê bình văn học cả nước, nhằm góp phần vào dòng chảy phát triển sáng tạo không ngừng nghỉ của thơ ca Việt Nam đương đại.

         Có thể khẳng định rằng: nhà thơ Nguyễn Văn Trình đã xây dựng được cho mình một phong cách thơ ca riêng khác, đậm nét quê hương, đã góp phần làm phong phú thêm sắc màu của thơ ca đương đại Quảng Trị nói riêng và thơ ca cả nước nói chung. Nhà thơ Nguyễn Văn Trình đã kết hợp cảm xúc cá nhân với những giá trị chung của cộng đồng, đưa những trải nghiệm về mảnh đất và con người Quảng Trị - miền Trung vào thơ ca trong bối cảnh hiện đại, bình dị mà sâu sắc. Vị trí của thơ Nguyễn Văn Trình trong văn học đương đại Việt Nam không phải là sự “nổi loạn” về hình thức, cầu kỳ rối rắm về nội dung câu chữ, hay cố tạo sự khác biệt về bút pháp nghệ thuật như một số tác giả khác, mà nằm ở sự chân thành, gần gũi và giàu chiều sâu cảm xúc nội tâm và sự trải nghiện cá nhân của nhà thơ. Thơ Nguyễn Văn Trình đã tiếp nối và làm phong phú thêm những giá trị thơ ca truyền thống, khi tiếp xúc với đời sống hiện đại. Điều đó đã tạo nên một góc nhìn thơ ca riêng khác, giản dị, ấn tượng mà bất kỳ độc giả nào khi bước vào thế giới thơ của Nguyễn Văn Trình đều cảm nhận được sự rung động sâu sắc của tâm hồn mình mà thơ ca đã mang lại.

 

     Viết tại phường Đông Hà, ngày 03 tháng 9 năm 2026

    Lê Đàn


 ---

Tác giả: Nhà thơ Lê Đàn

Phường Đông Hà, Tỉnh Quảng Trị.

Email: ledan30353@gmail.com

READ MORE - THƠ NGUYỄN VĂN TRÌNH TRONG DÒNG CHẢY VĂN HỌC ĐƯƠNG ĐẠI QUẢNG TRỊ - Lê Đàn