Văn Nghệ Quảng Trị
TRANG THUẦN TÚY VĂN HỌC NGHỆ THUẬT CỦA NGƯỜI QUẢNG TRỊ VÀ NGƯỜI YÊU MẾN QUẢNG TRỊ.
Chúc Mừng Năm Mới
Friday, February 6, 2026
TẾT ĐÃ VỀ TRONG LÒNG BẠN HAY CHƯA? - Hoàng Thị Bích Hà
Tác giả Hoàng Thị Bích Hà
TẾT ĐÃ VỀ TRONG LÒNG BẠN HAY CHƯA?
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* cạnh nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Bưởi là con gái Kim Long xứ Mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết. Cứ thế, mùi gừng tươi theo gió sông phóng khoáng mà bay xa, phảng phất cả một khu phố. Cái mùi hương vừa ấm, vừa nồng, vừa thanh tao ấy khiến người ta chợt nhận ra "À, Tết sắp về rồi!"
Khi mứt gừng Huế được tỏa ra khắp chợ Tết ở mọi miền, tôi lại thấy cái mùi hương ấy thoảng qua. Nó gợi nhắc về một Tết đang đến rất gần, làm lòng tôi bỗng “nôn nao” một nỗi nhớ da diết về cái thời mà Tết là một hành trình chuẩn bị, đầy ắp những chờ mong và tỉ mẩn.
Với tôi Tết còn về từ trong ký ức xa xưa (khi tôi còn là cô bé 5 tuổi) ở căn bếp của bà nội tôi với dưa hành, dưa món và tiếng giã lá gai (lá gai tươi luộc chín, giã nhuyễn trộn cùng bột nếp dẻo thơm, đường cát ,…) làm nên bánh ít lá gai, nhân đậu xanh, vỏ bánh đen nhánh và ngọt mềm như lụa.
Tết cũng về từ những lời chào nhau của người người con xa xứ mới trở về, lòng người đã nao nao, rưng rưng như gặp lại người thân xa lâu ngày.
Hôm nay, khi các loại mứt gừng Huế đã có mặt trong các siêu thị, trung tâm thương mại ở Saigon, tôi vẫn nhận ra Tết từ mùi hương quen thuộc ấy... Dù cuộc sống có thay đổi, dù sông không còn trong như trước, nhưng cái hồn cốt của miếng mứt gừng cay nồng ấy vẫn là sợi dây vô hình kéo tôi về với không khí của một thời chưa xa.
Nếu mùi gừng là hương vị, thì hoa giấy làng Thanh Tiên chính là sắc màu đánh thức mùa xuân.
Tết còn về trên những nhánh sông. Trên mặt sông Hương mờ sương, những con đò nhỏ chở đầy chùm hoa giấy của làng Thanh Tiêncó màu sắc dịu dàng, thanh nhã: đỏ thắm vừa phải, vàng tươi nhưng không chói, xanh nhẹ như lá non đầu mùa. Đó là sự bền bỉ của một nghề truyền thống, lặng lẽ gìn giữ hồn Tết qua bao thế hệ, cho một nếp sống tâm linh rất đỗi bình dị của người Huế. Tháng Chạp, người ta mua hoa giấy để thay trên các am thờ bếp hay các am nhỏ ngoài sân thờ cậu cô ngoại cảnh,…(còn trên bàn Phật và bàn thờ chính của tổ tiên là hoa tươi)cho mới mẻ, tinh tươm, chuẩn bị đón Tết. Từng việc thay đổi nhỏ ấy cũng là sự chuẩn bị nghiêm cẩn cho một khởi đầu mới.
Tết, chẳng phải là lúc chúng ta dọn dẹp lại lòng mình, vứt bỏ những muộn phiền cũ kỹ để khoác lên tâm hồn một màu áo mới rực rỡ hơn sao?
Ngay từ rằm tháng Chạp, hoa tươi, cây cảnh đã bày bán hai bên đường phố. Những chợ hoa ngày Tết ở Phu Văn Lâu, ngã ba đàn Nam Giao hay góc ngã sáu của Huế bỗng trở nên rộn ràng. Và như thế Tết đã tràn ra đường phố một cách rực rỡ. Chao ôi là hoa đẹp khắp nơi! Mai vàng e ấp, cúc vàng rực rỡ, vạn thọ tròn đầy, lay ơn thẳng tắp, những chậu quất, những cây bonsai được uốn công phu và cả những cành đào về từ phía Bắc, khoe sắc giữa lòng cố đô, tạo nên một thứ “hương xuân” đặc biệt. Đường phố trở nên quyến rũ lạ thường, bởi sức sống của thiên nhiên được mang về từ các làng hoa ngoại ô. Người qua lại đông hơn, bước chân cũng như nhẹ hơn. Lòng người phơi phới, như trẻ lại cùng mùa xuân của đất trời. Người Huế đi chợ hoa đôi khi không chỉ để mua, mà để "thưởng" cái không khí xuân, để thấy mình vẫn đang nhịp bước cùng hơi thở của mùa xuân.
Ở chợ, không khí Tết càng rõ ràng hơn nữa. Ở chợ Đông Ba, chợ Bến Ngự, Tây Lộc, Kim Long,… bên cạnh những món mứt, bánh, dưa món đã thành phẩm còn có cả những sạp hàng bán nguyên liệu. Ai bận rộn thì mua sẵn mứt bánh, dưa món cho tiện. Ai có thời gian, lại muốn tự tay chăm chút cho mâm cỗ gia đình, và cũng để duy trì cái “khéo tay hay làm” của người phụ nữ, thì mua nguyên liệu về. Đó cũng là cách người ta truyền lại cho con cháu một thói quen, một giá trị, một cách sống. Tết của những ngày chưa xa, khi mọi thứ còn chậm rãi, khi người ta còn đủ kiên nhẫn để ngồi bên bếp lửa, chờ từng mẻ mứt ráo đường.
Những ngày giáp Tết, gian bếp cũng ấm hơn. Tiếng chảo kêu xèo xèo. Ngào mứt cà rốt, mứt dừa, mứt đậu trắng, … mùi đường tan chảy quyện với mùi gừng, mùi dừa, mùi bột bánh thuẫn mới đổ, thơm ngào ngạt cả một khoảng không gian. Tiếng khuấy mứt đều tay, tiếng khuôn bánh chạm nhau khe khẽ. Người mẹ vừa làm vừa dạy con gái, con dâu cách đảo chảo sao cho khéo để mứt không bị cháy, cách cảm nhận độ đường để mứt “ngậm” vừa phải. Dù bận rộn đến mấy, nhiều gia đình vẫn giữ nếp tự ngào mứt, đổ bánh. Mùi đường sên mứt cà rốt cam rực, mứt dừa trắng tinh khôi, mứt đậu trắng bùi béo… quyện cùng mùi gừng, mùi vani thơm ngào ngạt. Đặc biệt nhất là tiếng "lách tách" của lửa than khi đổ bánh thuẩn. Cái mùi thơm nồng của trứng, của bột, của chút nồng nàn từ bếp lửa hồng làm cả gian bếp trở nên ấm áp lạ thường. Việc duy trì những thói quen ấy không chỉ để có thành phẩm cúng tổ tiên, tiếp đãi khách khứa ngày xuân, mà là cách để người mẹ, người bà truyền dạy lại cho con cháu cái "đạo" của sự tỉ mỉ, lòng hiếu khách và nét đẹp văn hóa truyền thống. Tết ở Huế, vì thế, không chỉ nằm ở mâm cao cỗ đầy, mà nằm ở sự sum vầy bên bếp lửa, cùng nhau làm nên những dư vị của mùa xuân.
Tết thực sự về trong lòng mỗi người, từ lúc nào không hay.
Ngoài kia, gió mùa đông bắc vẫn thổi, nhưng trong bếp, mùa xuân đã về từ lâu.
Tết Huế không ồn ào. Nó thấm dần vào từng góc phố, từng dòng sông, từng mái nhà rêu phong. Thấm vào cách người Huế nói với nhau nhẹ nhàng hơn, nhìn nhau lâu hơn trong những ngày cuối năm. Tết cũng là lúc người ta chậm lại, để nhớ. Nhớ người đã xa, nhớ những cái Tết cũ, nhớ một thời rộn ràng của con trẻ chạy chân trần, đá banh trên bờ sông Kẻ Vạn, ngửi mùi gừng thơm trong gió để biết Tết sắp về!
Và rồi, giữa tất cả những chuyển động ấy, tôi tự hỏi: Tết đã về trong lòng bạn hay chưa? Có thể bạn đang ở một thành phố khác, giữa những tòa nhà cao tầng, những con đường rực ánh đèn. Có thể bạn bận rộn với công việc, với những lo toan chưa kịp khép lại trước thềm năm mới. Nhưng chỉ cần bạn dừng lại một chút, lắng nghe lòng mình, biết đâu bạn sẽ nhận ra Tết đã đến từ lúc nào. Từ một mùi hương thoảng qua, một bài nhạc cũ vô tình nghe lại, một tin nhắn hỏi thăm, hay một ký ức bất chợt ùa về.
Tết không đợi chúng ta xong việc mới đến. Tết đến khi lòng người sẵn sàng mở cửa. Khi ta cho phép mình nhớ, mình thương, mình mong, mình hy vọng. Với tôi, Tết Huế luôn là một lời nhắc nhở dịu dàng: rằng giữa bao nhiêu đổi thay của thời gian, vẫn có những điều bền bỉ ở lại. Như mùi mứt gừng phảng phất bên sông Kẻ Vạn năm nào. Như hoa giấy Thanh Tiên vẫn nở trên những con đò sang ngang. Như mùa xuân, năm nào cũng về, chỉ chờ lòng người kịp nhận ra.
Vậy nên, nếu hôm nay bạn chợt thấy lòng mình xao xuyến không vì một lý do rõ ràng, nếu bạn bỗng muốn về nhà sớm hơn, muốn dọn dẹp lại một góc nhỏ, muốn thắp một nén hương cho ấm không gian… thì có lẽ, Tết đã về!
Còn tôi đã có câu trả lời cho riêng mình. Tết đã về trong lòng tôi, không phải khi lịch báo hiệu, mà là khi ký ức về Tết cũ được đánh thức.
Tết với tôi đã về từ những điều giản dị như thế. Nó nhắc nhở rằng, dẫu cuộc sống có hiện đại, có hối hả đến đâu, thì trong sâu thẳm tâm hồn mỗi người, vẫn cần một bến đỗ bình yên của hoài niệm, của tình thân và của những giá trị truyền thống được gìn giữ qua từng hơi thở, từng hương vị, từng sắc màu của quê nhà.
Saigon, ngày 3/2/2026
Hoàng Thị Bích Hà
<habich1963@gmail.com>
* Sông Kẻ Vạn ở phía Tây Kinh thành Huế, được đào năm 1814-1815 dưới thời vua Gia Long, nối từ sông Hương qua Bạch Hổ đến sông An Hòa, từng tấp nập chiến thuyền và bến chợ xưa.
***
Mời quý bạn nghe đọc podcast bài: TẾT ĐÃ VỀ TRONG LÒNG BẠN HAY CHƯA? của Hoàng Thị Bích Hà.
GỬI MÙA ĐÔNG CHO EM - Thơ Lê Thanh Hảo
Tác giả: Lê Thanh Hảo
(Vũ Quang, Hà Tĩnh)
GỬI MÙA ĐÔNG CHO EM
Anh muốn gửi đến em mùa đông lạnh
Gửi cho em sương gió lạnh ngày xưa
Gió Đông về lá chuối gãy trong mưa
Anh nhớ lắm tình nồng nàn tha thiết
Nhớ không em Đông về giông giá buốt
Anh lạnh lùng không phải tại heo may
Mà yêu em trong lần hẹn đêm nay
Anh đắm say trong nụ cười băng giá
Gửi cho em mùa Đông về nghiêng ngả
Bóng hình em và ánh mắt năm xưa
Nhớ thương em nước mắt rụng như mưa
Tay run run nhớ bàn tay mềm năm cũ
Em yêu ơi giữa mùa Đông giông tố
Ôm anh đi đừng để lạnh tâm hồn
Xoè bàn tay che mái tóc em luôn
Thấm đẫm ấy làm cho anh bật khóc
Gửi mùa Đông gửi tình yêu bao năm anh đùm bọc
Gửi cho em chút hơi ấm giữa mùa Đông
Nhận đi em hơi ấm tựa nắng hồng
Như tình ta mãi ngàn đời còn đó
Nếu mai đây tình yêu ta cháy đỏ
Anh nguyện làm tâm hồn của gió
Thổi qua em chút thâm tình mãi nhớ
Và cùng em đi suốt đến tận cùng
Tình yêu ta có vùi dập hư không
Anh sẽ ôm em vỗ về trong đêm tối
Bởi yêu anh em không hề có tội
Anh bằng lòng với tình cảm em trao
Gửi mùa Đông trong hư ảo chanh chao
Anh mãi yêu như mùa Đông có nắng
Gửi cho em cả mùa Đông phẳng lặng
Giữ nhé em tình ấy của mùa Đông....!
Lê Thanh Hảo
From Thi Le
<thivanle1569@gmail.com>
NGẪU HỨNG CÙNG THÁNG CHẠP - Thơ Nguyễn An Bình
Thơ NGUYỄN AN BÌNH
NGẪU HỨNG CÙNG THÁNG CHẠP
Bỗng bừng cúc họa mi
Tinh khôi từng góc phố
Khe khẽ nắng xuân thì
Nhớ gì không hỡi nhỏ.
Thèm nụ hôn tháng chạp
Ngủ bên bờ ngực non
Đêm say nồng hơi thở
Yêu thương đã hao mòn.
Một năm chừng khép lại
Người bỏ lại bên cầu
Dòng sông trôi mê mải
Sỏi đá còn chiêm bao
Rót cho đầy tháng chạp
Bềnh bồng một thuyền trăng
Nụ hoa vàng vừa trổ
Lá nghiêng còn bâng khuâng.
Nhỏ ơi nào có biết
Hương xuân đã về bên
Thời gian chừng nuối tiếc
Còn đậu trên tóc huyền.
21/12/2022
N.A.B.
luongmanh2106@gmail.com
CHỢ QUÊ NGÀY GIÁP TẾT - Thơ Nguyễn Văn Trình
Chợ quê ngày giáp Tết
Nguyễn Văn Trình
Chợ quê những ngày giáp Tết
bỗng rộn ràng như trẩy hội
từ mờ sáng, người đã kín các lối đi
ai cũng mang theo
một niềm vui thoáng trên gương mặt
Góc chợ bừng lên đủ sắc màu
mai vàng rung rinh trong nắng mới
đào hồng phơn phớt hây hây
quất trĩu quả, lá xanh non ôm tròn lộc Tết
cúc nở vàng ấm cả không gian
lân giấy, đầu sư tử đứng trên kệ hàng rực rỡ
chờ tiếng trống gọi mùa xuân mới
Bên kia rỗ hồng chín đỏ
trái mộng căng đầy
như giữ vị ngọt đất trời cuối năm
bánh mứt, hạt dưa, lá dong, nếp mới...
xếp ngay ngắn, thơm mùi Tết quê
Người cười nói rộn ràng
tiếng chúc nhau năm mới, sớm hơn ngày lịch
giữa sắc xuân ngập chợ
vẫn hồn quê lắng sâu
chậm rãi, chân thành
để Tết không chỉ đến trong nhà
mà bắt đầu từ góc chợ, mang hồn quê thân thuộc
Ngày 19 tháng Chạp, Ất tỵ
NVT
Tác giả NGUYỄN VĂN TRÌNH
Bút danh: KATHI
Hội VHNT tỉnh Quảng Trị
Email: nguyenvantrinh58@gmail.com
Đ/C: 65B Đường Chu Mạnh Trinh, Phường Nam Đông Hà, Quảng Trị
CHI TIẾT XẤU ĐẸP 10 NGÀY ĐẦU NĂM BÍNH NGỌ - 2026 - Đặng Xuân Xuyến
CHI TIẾT XẤU ĐẸP 10 NGÀY ĐẦU NĂM
BÍNH NGỌ - 2026
Trước thềm năm mới 2026, Đặng Xuân Xuyến lược soạn bài CHI TIẾT XẤU ĐẸP 10 NGÀY ĐẦU NĂM BÍNH NGỌ - 2026 quý tặng bạn đọc. Kính chúc quý vị cùng gia quyến bước vào năm BÍNH NGỌ gặp nhiều may mắn, thành công và hạnh phúc!
01. NGÀY MỒNG MỘT
- tức Thứ 3 ngày 17/02/2026:
Ngày Nhâm Tuất Giờ Canh Tý
Hành: Thủy Sao: Thất Trực: Thành
Là ngày Tư Mệnh - Hoàng Đạo, chủ sự tốt lành, trợ giúp đắc lực cho bản mệnh con người nên tốt cho nhiều việc, nhất là những việc như: cưới hỏi, động thổ, xuất hành, ký kết hợp đồng, khai trương, khởi tạo, chữa bệnh, cầu tài, cúng tế,.. Lại là ngày của sao Thất, thuộc trực Thành đều rất tốt cho nhiều việc lớn nhỏ nên đây là ngày rất đẹp, phù hợp cho việc triển khai nhiều việc quan trọng.
Không tốt với các tuổi:
Bính Dần Canh Thân Bính Thìn Giáp Thân
Giờ Hoàng Đạo:
Dần (03g - 05g)
Thìn (07g - 09g)
Tỵ (09g - 11g)
Thân (15g - 17g)
Dậu (17g - 19g)
Hợi (21g - 23g)
Hướng xuất hành:
Hỷ Thần (hướng tốt): Chính Nam
Tài Thần (hướng tốt): Tây Bắc
Hạc Thần (hướng xấu): Đông Nam
02. NGÀY MỒNG HAI
- tức Thứ 4, ngày 18/02/2026:
Ngày Quý Hợi. Giờ Nhâm Tý
Hành: Thủy. Sao: Bích. Trực: Thu
Là ngày Câu Trần - Hắc Đạo, xấu cho nhiều việc, đặc biệt xấu với mấy việc: cưới hỏi, đổ mái, động thổ, tu tạo, xuất hành, khai trương, tế tự, khai trì, chôn cất,... Tuy được sao Bích làm lợi cho các việc như xây nhà, cưới hỏi, khai trương, xuất hành,... nhưng lại là ngày thuộc trực Thu gây bất lợi cho các việc như động thổ, nhậm chức, thừa kế, chữa bệnh, đơn từ, mưu sự,... nên cần thận trọng khi cân nhắc tiến hành các việc quan trọng.
Không tốt với các tuổi:
Ất Tỵ, Đinh Tỵ, Đinh Mão, Đinh Dậu
Giờ Hoàng Đạo:
Sửu (01g - 03g)
Thìn (07g - 09g)
Ngọ (11g - 13g)
Mùi (13g - 15g)
Tuất (19g - 21g)
Hợi (21g - 23g)
Hướng xuất hành:
Hỷ Thần (hướng tốt): Đông Nam
Tài Thần (hướng tốt): Chính Tây
Hạc Thần (hướng xấu): Đông Nam
03. NGÀY MỒNG BA
- tức thứ 5 ngày 19/02/2026:
Ngày Giáp Tý Giờ Giáp Tý
Hành: Kim Sao: Khuê Trực: Khai
Là ngày Thanh Long - Hoàng Đạo, chủ về hỷ sự và may mắn nên tốt cho nhiều việc trọng đại: xây dựng, cưới hỏi, khai trương, thi cử, xuất hành, nhập học, an táng, khởi công, cầu thầy chữa bệnh... Tuy là ngày thuộc trực Khai, tốt cho nhiều việc lớn nhỏ (ngoại trừ các việc động cham tới âm phần) nhưng lại là ngày của sao Khuê (1 trong 7 sát tinh) thường bất lợi cho các việc như: chôn cất, khai trương, sinh nở, thưa kiên,... nên ngày Mồng Ba dù là ngày Hoàng Đạo cũng nên thật cẩn thận khi chọn dùng vào các việc quan trọng.
Không tốt với các tuổi:
Mậu Ngọ Nhâm Ngọ Canh Dần Canh Thân
Giờ Hoàng Đạo:
Tý (23g - 01g)
Sửu (01g - 03g)
Mão (05g - 07g)
Ngọ (11g - 13g)
Thân (15g - 17g)
Dậu (17g - 19g)
Hướng xuất hành:
Hỉ Thần (hướng tốt): Đông Bắc
Tài Thần (hướng tốt): Đông Nam
Hạc Thần (hướng xấu): Đông Nam
04. NGÀY MỒNG BỐN
- tức thứ 6 ngày 20/02/2026:
Ngày Ất Sửu Giờ Bính Tý
Hành: Kim Sao: Lâu Trực: Bế
Là ngày Minh Đường - Hoàng Đạo, chủ về sự minh mẫn, lạc quan, phấn chấn nên tốt cho nhiều việc quan trọng như: cưới hỏi, nhập học, khai trương, thi cử, giao tế, thương thảo, xuất hành, sinh con, kiện tụng, xây dựng,... Lại là ngày của sao Lâu, trực Bế đều có lợi cho khá nhiều việc như: cưới hỏi, khởi công sửa nhà, cất lầu, an táng, trị bệnh,.. nên đây cũng là ngày tốt cho khởi tạo nhiều công việc lớn nhỏ của đời người. Vì là ngày của trực Bế, sao Lâu nên cần tránh tiến hành một số việc như: nhậm chức, thừa kế, đóng nội thất, giao thông đường thủy,...
Không tốt với các tuổi:
Quý Mùi Quý Mùi Tân Dậu Tân Mão
Giờ Hoàng Đạo:
Dần (03g - 05g)
Mão (05g - 07g)
Tỵ (09g - 11g)
Thân (15g - 17g)
Tuất (19g - 21g)
Hợi (21g - 23g)
Hướng xuất hành:
Hỉ Thần (hướng tốt): Tây Bắc
Tài Thần (hướng tốt): Đông Nam
Hạc Thần (hướng xấu): Tây Nam
05. NGÀY MỒNG NĂM
- tức thứ 7 ngày 21/02/2026:
Ngày Bính Dần Giờ Mậu Tý
Hành: Hỏa Sao: Vị Trực: Kiến
Là ngày Thiên Hình - Hắc Đạo, là ngày rất xấu với các việc trọng đại hoặc các việc liên quan tới giao tế như: cưới hỏi, xây dựng, nhậm chức, nhập học, khai trương, tậu xe, mua nhà... Tuy là ngày của sao Vị lợi cho mấy việc như: cưới hỏi, chôn cất, xây dựng, gieo trồng,.. nhưng lại là ngày thuộc trực Kiến chỉ tốt cho việc sinh nở, xuất hành nên tuyệt đối kiêng kỵ triển khai các việc quan trọng, chỉ nên tiến hành các việc như: thăm hỏi, xuất hành, cúng tế, từ thiện,...
Không tốt với các tuổi:
Nhâm Thân Giáp Thân Nhâm Tuấy Nhâm Thìn
Giờ Hoàng Đạo:
Tý (23g - 01g)
Sửu (01g - 03g)
Thìn (07g - 09g)
Tỵ (09g - 11g)
Mùi (13g - 15g)
Tuất (19g - 21g)
Hướng xuất hành:
Hỉ Thần (hướng tốt): Tây Nam
Tài Thần (hướng tốt): Chính Đông
Hạc Thần (hướng xấu): Chính Nam
06. NGÀY MỒNG SÁU
- tức Chủ Nhật ngày 22/02/2026:
Ngày Đinh Mão Giờ Canh Tý
Hành: Hỏa Sao: Mão Trực: Trừ
Là ngày Chu Tước - Hắc Đạo, không tốt để làm các việc quan trọng, đặc biệt rất xấu cho việc phát triển tài lộc như khai trương, xuất hành, mở xưởng, nhập trạch, ký kết hợp đổng... Lại là ngày của sao Mão, thuộc trực Trừ chỉ lợi cho mấy việc như: xây dựng, san đắp nền, chữa bệnh nên cần tránh tiến hành các việc quan trọng, chỉ nên triển khai mấy việc như: thăm hỏi, tế lễ, từ thiện hoặc san đắp nền, xây dựng, chữa bệnh.
Không tốt với các tuổi:
Ất Dậu Quý Dậu Quý Tỵ Quý Hợi
Giờ Hoàng Đạo:
Tý (23g - 01g)
Dần (03g - 05g)
Mão (05g - 07g)
Ngọ (11g - 13g)
Mùi (13g - 15g)
Dậu (17g - 19g)
Hướng xuất hành:
Hỉ Thần (hướng tốt): Chính Nam
Tài Thần (hướng tốt): Chính Đông
Hạc Thần (hướng xấu): Chính Nam
07. NGÀY MỒNG BẢY
- tức thứ 2 ngày 23/02/2026:
Ngày Mậu Thìn Giờ Nhâm Tý
Hành: Mộc Sao: Tất Trực: Mãn
Là ngày Kim Quỹ - Hoàng Đạo, tốt cho trăm việc lớn nhỏ nhất là các việc liên quan tới hỉ sự như dạm ngõ, cưới hỏi hoặc các việc khởi tạo như xây nhà, nhậm chức, cầu thân, khai trương, xuất hành, nhập học,... Lại là ngày của sao Tất, trực Mãn đều lợi cho nhiều việc lớn nhỏ, chỉ không tốt cho mấy việc như: nhậm chức, đơn từ, kiện tụng,.. Nên đây cũng là ngày đẹp cho các việc trọng đại như: cưới hỏi, khai trương, động thổ, cầu tài,... chỉ cẩn thận kiêng kỵ mấy việc dính dáng tới đơn từ, kiện tụng hoặc thừa kế, nhậm chức.
Không tốt với các tuổi:
Canh Tuất Bính Tuất Bính Thân Bính Thìn
Giờ Hoàng Đạo:
Dần (03g - 05g)
Thìn (07g - 09g)
Tỵ (09g - 11g)
Thân (15g - 17g)
Dậu (17g - 19g)
Hợi (21g - 23g)
Hướng xuất hành:
Hỉ Thần (hướng tốt): Đông Nam
Tài Thần (hướng tốt): Chính Bắc
Hạc Thần (hướng xấu): Chính Nam
08. NGÀY MỒNG TÁM
- tức thứ 3 ngày 24/02/2026:
Ngày Kỷ Tỵ Giờ Canh Tý
Hành: Mộc Sao: Chủy Trực: Bình
Là ngày Kim Đường - Hoàng Đạo, ngày có nhiều phúc thần, tốt cho trăm việc lớn nhỏ, nhất là với các việc: cưới hỏi, khai trương, khởi công, động thổ, nhậm chức, nhập học, san nền, đắp nền, an táng... Nhưng là ngày của Trực Bình chỉ lợi cho mấy việc như: nhập kho, an táng, sửa cửa,.. Lại là ngày của sao Chủy không có lợi với nhiều việc, đặc biệt là tối kỵ các việc liên quan tới âm phần,... nên ngày Mồng Tám này cần cân nhắc cẩn thận khi tiến hành những việc quan trọng của đời người.
Không tốt với các tuổi:
Đinh Hợi Tân Hợi
Giờ Hoàng Đạo:
Sửu (01g - 03g)
Thìn (07g - 09g)
Ngọ (11g - 13g)
Mùi (13g - 15g)
Tuất (19g - 21g)
Hợi (21g - 23g)
Hướng xuất hành:
Hỉ Thần (hướng tốt): Đông Bắc
Tài Thần (hướng tốt): Chính Nam
Hạc Thần (hướng xấu): Chính Nam
09. NGÀY MỒNG CHÍN
- tức thứ 4 ngày 25/02/2026:
Ngày Canh Ngọ Giờ Bính Tý
Hành: Thổ Sao: Sâm Trực: Định
Là ngày Bạch Hổ - Hắc Đạo, chủ sự sát phạt, hung họa, tiêu hao phúc lộc nên tối kỵ việc an táng, sẽ đem lại nhiều bất lợi cho con cháu ở dương thế. Tuy là ngày của sao Sâm, thuộc Trực Định, là chủ sự bền vững nhưng chỉ tốt cho mấy việc như: động thổ, xây dựng, nhập học, khởi tạo công việc mà bất lợi với các việc như: cưới hỏi, an táng... vì thế chỉ nên tiến hành mấy việc như: tế lễ, thăm hỏi, cầu an, làm phước, còn các việc như: động thổ, xây dựng, nhập học, khởi tạo công việc có thể triển khai nhưng cần cân nhắc thật kỹ về tuổi người chủ sự.
Không tốt với các tuổi:
Nhâm Tý Bính Tý Giáp Đàn Giáp Thân
Giờ Hoàng Đạo:
Tý (23g - 01g)
Sửu (01g - 03g)
Mão (05g - 07g)
Ngọ (11g - 13g)
Thân (15g - 17g)
Dậu (17g - 19g)
Hướng xuất hành:
Hỉ Thần (hướng tốt): Tây Bắc
Tài Thần (hướng tốt): Tây Nam
Hạc Thần (hướng xấu): Chính Nam
10. NGÀY MỒNG MƯỜI
- tức thứ 5 ngày 26/02/2026:
Ngày Tân Mùi Giờ Mậu Tý
Hành: Thổ Sao: Tỉnh Trực: Chấp
Là ngày Ngọc Đường - Hoàng Đạo, tốt cho nhiều việc trọng đại trong đời, đặc biệt tốt với các việc liên quan tới trí tuệ, phát triển tài năng. Hợp với các việc: thi cử, cưới hỏi, khai trương, động thổ, xây dựng, ký kết giao ước, thừa kế, chữa bệnh... Lại là ngày của sao Tỉnh, trực Chấp, đem lại may mắn cho nhiều việc ngoại trừ các việc về âm phần nên ngày Mồng Mười là ngày đẹp, thích hợp tiến hành với nhiều công việc, chỉ kiêng kỵ với mấy việc liên quan tới âm phần như: an táng, sửa sang mộ phần, làm nhà thờ tự, điện phủ,...
Không tốt với các tuổi:
Quý Sửu Đinh Sửu Ất Dậu Ất Mão
Giờ Hoàng Đạo:
Dần (03g - 05g)
Mão (05g - 07g)
Tỵ (09g - 11g)
Thân (15g - 17g)
Tuất (19g - 21g)
Hợi (21g - 23g)
Hướng xuất hành:
Hỉ Thần (hướng tốt): Tây Nam
Tài Thần (hướng tốt): Tây Nam
Hạc Thần (hướng xấu): Tây Nam
Lần nữa, Đặng Xuân Xuyến kính chúc Quý vị cùng gia quyến một năm mới an khang thịnh vượng!
(Mời nhấp chuột đọc thêm:
Chọn tuổi xông nhà đầu năm: Vài lưu ý cần biếtl)
*.
Hà Nội, 05 tháng 02 năm 2026
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
NHỊ THẬP LỤC QUÁN 二十六貫 (97.5 kg) - Nhờ Chat GPT dịch
Đây cụm từ người Nhật dùng chữ Hán để thể hiện, theo dạng chữ Kanji (漢字, Hán tự). Bởi vậy, tôi đọc theo âm Hán Việt 二十六 貫 là “nhị thập lục quán”, nhưng chữ QUÁN có nghĩa là “xâu, chuỗi”, nó không phải là đơn vị đo khối lượng.
Âm Hán Việt: oan, quán
Tổng nét: 11Bộ: bốiLục thư: hội ýHình thái:Nét bút:Nghĩa:1. xâu tiền2. xuyên qua, chọc thủng3. thông suốt
4. quê quán.
Tôi không thấy có chỗ nào cho biết 貫 chỉ về đơn vị đo khối lượng cả.
市 /shì/ THỊ : cái chợ
巿 [fú] PHẤT : dây đeo lưng.
Nghĩa: bán
(Giản thể tương ứng: 卖)
貫 (quán) → đơn vị đo/đơn vị tiền cổ
1/ Nghĩa gốc của 貫 (quán) : xâu, chuỗi (xâu tiền, xâu vật)
一貫錢 (nhất quán tiền) = 1 xâu tiền đồng (thường ~1000 đồng tiền cổ)
2/ Khi 貫 được dùng làm đơn vị cân nặng
3/ Một số quy đổi phổ biến theo từng bối cảnh
26 貫 bằng 97,5 kg
- Buôn bán nông sản
- Hàng hóa buộc bó (thóc, gạo, cá, hàng khô)
🔹 Nhật Bản (Kan = 貫)
🔹 Việt Nam (thời phong kiến) 貫 Quán hay (quan)
Khi dùng cho hàng hóa:
thường hiểu theo quy ước địa phương, hay gặp khoảng 3–4 kg
*
Tôi thử dùng thêm trí tuệ nhân tạo thông minh như AI và gửi chữ 貫(không gửi hình chụp) thì có giải đáp:
二十 (nhị thập) = 20
*
Thông tin tổng quan do AI tạo
Kan (貫 - Quán) trong tiếng Nhật là một đơn vị đo lường cổ truyền thống, tương đương \(1.000\) monme hay \(3,75\) kg, được sử dụng phổ biến để đo trọng lượng ngọc trai nuôi cấy. Trong ngữ cảnh ẩm thực, "kan" (thường viết là 貫) còn là đơn vị đếm chuyên dụng cho sushi (2 miếng/suất) thể hiện sự sang trọng và truyền thống.
Đơn vị đếm Sushi: Được dùng để đếm sushi, đặc biệt tại các nhà hàng cao cấp, tượng trưng cho một suất (thường là 2 miếng nhỏ hoặc một cặp).
KAN (貫) và CÂN (觔) có tương quan với nhau không”
觔 CÂN / jīn/Âm Hán Việt: cânTổng nét: 9Bộ: giácHình thái:Nét bút:Dị thể: 4斤 筋 𧢼 𧣊Âm đọc khácÂm Quan thoại: jīnÂm Nôm: cânÂm Nhật (onyomi):Âm Nhật (kunyomi):Âm Hàn:Âm Quảng Đông: gan1
Tôi hỏi Google thì được biết:
斤 CÂN Hệ đo lường cổ, 1 cân cổ bằng 16 lạng, tương đương khoảng 0,604 kg. Đây cũng là nguồn gốc của câu thành ngữ "kẻ tám lạng, người nửa cân" (8 lạng = 0,5 cân)
1 cân Tàu (1 jin) = 0,5968 kg (khoảng 596,8 gam).
Tuy nhiên, trong thực tế giao dịch và tùy theo ngữ cảnh, con số này có thể thay đổi nhẹ:
Giao dịch thương mại/Order hàng:
Các đơn vị vận chuyển thường làm tròn 1 cân Tàu = 0,5 kg hoặc 0,6 kg để thuận tiện cho việc tính phí cước.
Ở Trung Quốc 1 “công cân” 公斤 (1 kg) bằng “thiên công khắc” 千公克 (1000 g).
*
Tra chữ 貫 (Quán) thấy có cụm từ “ác quán mãn doanh” 惡貫滿盈 lại nhớ đến nhân vật Đoàn Diên Khánh đứng đầu “tứ đại ác nhân” trong truyện kiếm hiệp Thiên Long Bát Bộ của Kim Dung, thú vị thật !
Nhớ lời thơ của Nguyễn Bính:
“Một quan là sáu trăm đồng,Chắt chiu tháng tháng cho chồng đi thi.Chồng tôi cưỡi ngựa vinh quy,Hai bên có lính hầu đi dẹp đàng.Tôi ra đón tận gốc bàng,Chồng tôi xuống ngựa cả làng ra xem.”
Cảm ơn các hệ thống trí tuệ nhân tạo thông minh như Chat GPT và AI nhiều. Tôi post lên cùng chia sẻ cùng quý bạn!
Trang face có clip với dòng chữ 二十六貫 (97.5 kg) :
Cô này có lần còn thi đấu môn sumo nữ, cô cũng có đai đen Judo và cựu lực sĩ, nên có khác.”












