Văn Nghệ Quảng Trị
TRANG THUẦN TÚY VĂN HỌC NGHỆ THUẬT CỦA NGƯỜI QUẢNG TRỊ VÀ NGƯỜI YÊU MẾN QUẢNG TRỊ.
Chúc Mừng Năm Mới
Friday, November 6, 2026
Thursday, November 5, 2026
PHẠM NGỌC CẢNH VỚI BÀI THƠ "MỘT TÊN LÀNG QUẢNG TRỊ" - Phạm Xuân Dũng
Phạm Ngọc Cảnh với bài thơ
'Một tên làng Quảng Trị'
Phạm Xuân Dũng
QTO - Nhà thơ Phạm
Ngọc Cảnh (1934-2014)
Sinh ngày
20/7/1934 tại tỉnh Hà Tĩnh, sống và công tác ở Hà Nội nhiều năm.
Ông là hội viên Hội
Nhà văn Việt Nam (1974). Phạm Ngọc Cảnh còn có bút danh là Vũ Ngàn Chi.
Năm 2007, ông nhận
được Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật cho các tập thơ: “Đêm Quảng Trị”,
“Lối vào phía Bắc”, “Trăng sau rằm”, “Nhặt lá”.
Báo Quảng Trị
08/04/2026
Sinh trưởng trong một gia đình hiếu học, Phạm Ngọc Cảnh được gia đình cho ăn học tử tế. Cách mạng tháng Tám thành công, Phạm Ngọc Cảnh mới 12 tuổi đã tình nguyện gia nhập hàng ngũ Vệ quốc quân, làm liên lạc viên, rồi tham gia vào đội tuyên truyền văn nghệ của Trung đoàn 103 Hà Tĩnh, tiếp đó lại trở thành diễn viên kịch nói.
Trong kháng chiến chống Mỹ, ông ở đoàn Văn công quân khu Trị Thiên, từng biểu diễn giữa thành phố Huế trong chiến dịch Mậu Thân. Về sau, ông là diễn viên trụ cột của đoàn kịch nói Tổng cục Chính trị.
Nhưng rồi từ một
diễn viên chuyên nghiệp, ông trở thành nhà thơ như một điều không thể khác vì
những đam mê thi ca đã nung nấu nhiều năm. Ông trở thành một trong những nhà
thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ.
Nhiều sáng tác của ông được công chúng thi ca nồng nhiệt đón nhận như bài thơ "Lý ngựa ô ở hai vùng đất", "Cô Tấm ở trong nhà"... là minh chứng.
Bài thơ "Một
tên làng Quảng Trị" viết năm 1984 là một sáng tác sau ngày nước nhà thống
nhất gần 10 năm, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ đã dần lùi vào ký ức.
Đây là một bài
thơ mộc mạc mà đáng nhớ về miền đất ông từng đi qua trong chiến tranh và gắn bó
lúc hòa bình.
Bài thơ như nhiều
tác phẩm khác của những nhà thơ áo lính, bắt đầu là những hoài niệm đằm sâu:
“Qua rất nhiều tháng
năm
hết sáng bình yên
lại chiều binh lửa
lòng ta chốt giữ
hai đầu
cái tên làng ở giữa"
Hình như không có
điều gì to tát cả. Một tên đất, một tên làng, thậm chí có thể là một ngôi làng
nhỏ như bao nhiêu ngôi làng khác mà người lính-người thơ đã đi qua. Nhưng,
không hiểu sao nó vẫn hiện về ám ảnh, vẫn thao thức, thúc giục người ta nhớ về
nó như là một hướng đi của cảm xúc không thể khác, từ những điều tưởng như quen
thuộc và rất đỗi bình thường:
"Ùa vào sâu
niềm tưởng nhớ
cái ta chưa để ý
một lần
cái không có tên
trên bản đồ chiến sự
ai hơi đâu mà
chép thêm vào lịch sử
lối rẽ vào làng
in dấu chân
mà chiều qua
trong một thoáng phân vân
đã chợt về nâng đỡ".
Có vẻ như không thể cắt nghĩa theo kiểu số học về những cảm xúc khó quên và khó tả, nhưng nó hiện hữu cụ thể, rất cụ thể. Và nói như tác giả, những điều có vẻ nhỏ nhặt, như không đáng kể, như không có ai để ý, lại có một bí ẩn sâu xa đeo đẳng tâm tư nhà thơ, nâng đỡ nhà thơ vào những khi tâm hồn chống chếnh:
“Mẹ chẳng cố
tình bắt ta lưu giữ
em không hề
khuyên
không bát về dâng
hương ngày giỗ kỵ
một tên làng Quảng
Trị
suốt đời đâu dám
quên".
Đúng vậy, tình cảm
là một trạng thái tinh thần tự nhiên, không thể gò ép, miễn cưỡng. Cả tên làng
và nỗi nhớ về
Quảng Trị cũng thế,
nó hình thành tự nhiên và ăn sâu vào tiềm thức, thành nỗi nhớ thương da diết,
sâu nặng, có khi theo suốt một đời người. Chính vì thế mà khi bắt đầu đoạn cuối
bài thơ trong xúc cảm dạt dào:
“ở với ta lúc vui
lúc buồn
lúc suôn sẻ lúc
cay đắng
không đòi trả ơn
mà nghĩa nặng
không ràng buộc
mà thân gần
không giao đãi ngọt
ngào mà lặng thấu
làm vốn nuôi con
làm quà tặng cháu".
Lời thơ tả thực,
chân chất như lúa, như khoai, như cát trắng bời bời Quảng Trị trong những tháng
ngày kháng chiến chống Mỹ. Tưởng chẳng có gì đáng nói nhiều, bởi không phải
thân hơi cật ruột, bởi cũng không phải là nơi chôn nhau cắt rốn... tưởng như chẳng
có gì ràng buộc, vậy mà sao cứ khiến lòng người nhớ thương da diết đến độ không
thể nào quên.
Hơn thế, còn trở
thành hành trang tinh thần quý giá, thành bảo vật tình nghĩa gia bảo truyền lại
cho đời sau. Tưởng là người dưng mà gắn bó lạ lùng. Có vẻ như nghịch lý vậy mà
vẫn dễ hiểu, dễ cảm, dễ sẻ chia bởi "Tình yêu làm đất lạ hóa quê
hương":
"Cái tên
làng Quảng Trị ấy thôi
cái tên làng Quảng
Trị đứng loi thoi
đọc bấy nhiêu trận
mạc
trắng phau doi
cát bồi".
Ở một nơi khí hậu
khắc nghiệt, thậm chí còn có thê đồng khô cỏ cháy, cát trắng đến nhức mắt người,
tướng như nắng gió, khô hạn sẽ khiến cho tình nghĩa dễ phôi pha. Thế nhưng trái
lại, đó là mảnh đất nghĩa tình, nảy lộc đâm chồi tình nghĩa quân dân trong thời
trận mạc, khi sống chết đổi thay trong nháy mắt. Những tình cảm, ơn nghĩa đã đền
bồi, đã giang rộng vòng tay kéo con người đến gần lại với nhau và trở nên thân
thiết như ruột thịt. Không ồn ào, không hoa mỹ, bộc trực và kiệm lời, thậm chí
có khi chẳng cần phải nói ra nhưng đã hiểu, đã kết giao thì yêu quý nhau đến tận
cùng. Quảng Trị, một mảnh đất quá đỗi lạ lùng, cứ vang lên không dứt trong tâm cảm
nhà thơ.
Hay có lẽ ông thấy
mảnh đất này có nhiều điểm tương đồng với quê mẹ của ông ở Hà Tĩnh.
"Một tên
làng Quảng Trị" với thi tứ và ngôn ngữ bình dị, cụ thể, chân thực và da diết
ân tình đã khắc họa tình cảm của một nhà thơ tên tuổi với mảnh đất này.
Phạm Xuân Dũng
——-
Bài thơ
MỘT TÊN LÀNG QUẢNG TRỊ
Qua rất nhiều
tháng năm
hết sáng bình yên
lại chiều binh lửa
lòng ta chốt giữ
hai đầu
cái tên làng ở giữa
Ùa vào sâu niềm
tưởng nhớ
cái ta chưa để ý
một lần
cái không có tên
trên bản đồ chiến sự
ai hơi đâu mà
chép thêm vào lịch sử
lối rẽ vào làng
in dấu chân
mà chiều qua
trong một thoáng phân vân
đã chợt về nâng đỡ
Mẹ chẳng cố tình
bắt ta lưu giữ
em không hề
khuyên
không bát về dâng
hương ngày giỗ kỵ
một tên làng Quảng
Trị
suốt đời đâu dám
quên
Ở với ta lúc vui
lúc buồn
lúc suôn sẻ lúc
cay đắng
không đòi trả ơn
mà nghĩa nặng
không ràng buộc
mà thân gần
không giao đãi ngọt
ngào mà lặng thấu
làm vốn nuôi con
làm quà tặng cháu
cái tên làng Quảng
Trị ấy thôi
cái tên làng Quảng
Trị đứng loi thoi
dọc bấy nhiêu trận
mạc
trắng phau doi
cát bồi.
1984
Phạm Ngọc Cảnh
Youtube: Ca khúc ANH MANG MƯA ĐẾN - Thơ: Quách Như Nguyệt - Ngô Bảo Quốc cùng AI thực hiện:
Anh Mang Mưa Đến
Thơ: Quách Như Nguyệt
Anh Mang Mưa Đến Tháng Mười Hai
Tối hôm nay mưa lại đến, mơ màng
Mưa đánh thức, trùng trùng quá vãng
Ngồi nghe mưa rơi, ký ức về lai vãng
Tháng Mười Hai, mưa ướt ngập tâm hồn
Tháng Mười Hai, đóa hồng tình lơi lả
Tháng Mười Hai, mưa liên tiếp, mưa rơi!
Anh mang theo mưa từ nơi chốn xa xôi
Tặng cho em, mưa lướt thướt rơi hoài
Anh đến thăm em, mang theo cơn mưa dài...
Từ xa xăm không mang theo nắng ấm?
Hoặc tuyết trắng, một nụ hồng đỏ thắm
Chút rượu vang đủ cay ngọt môi nồng
Để má em hồng cạnh ánh lửa buông lơi
Ngồi bên nhau, ta cùng nhìn lửa cháy
Ngọn lửa lòng bỗng bốc cháy đam mê
Anh đến thăm, thấy vui mừng quá thể
Tối hôm nay, mình nhìn nhau si mê!
Tối hôm nay, cùng nghe mưa rơi rớt
Tối hôm nay mưa ngoài trời không ngớt
Tháng Mười Hai, mưa đẫm ướt, lội lầy
Mình bên nhau, em cảm thấy ngất ngây
Cảm ơn anh, thật ấm cúng tình này
Như Nguyệt
nhunguyet9963@gmail.com
TA CHO NHAU MÙA XUÂN / VUI LÊN NHỎ - Thơ: Lưu Lãng Khách
TA CHO NHAU MÙA XUÂN
Em cho anh nàng ngoan
Anh cho em chàng hiền
Ta cho nhau đàn con
Không cho nhau buồn
phiền. Đời thiên tiên!
Xuân đang về kìa em!
Xuân trong ngày trong
đêm
Trong môi em hừng hừng
Trong tay anh bừng bừng.
Tình xuân dâng!
Từ tình tràn câu yêu
thương
Từ đời mình xuân ly
hương
Ta tay trong tay từng
ngày
Ta chân bên chân từng
chiều. Ơi mùa yêu!
Dù mùa hè hay mùa
đông
Ngày lo toan đêm chờ
mong
Dù đêm xuân hay ngày
thu
Luôn cho nhau lời ru.
Nồng thiên thu!
Nghinh xuân!
Không xe hơi nhà tầng
Ta vui muôn đường trần
Xuân không già – Xuân
tươi!
Xuân cùng ta rong
chơi. Người thương ơi!
Yêu nhau muôn ngàn lần
Ta cho nhau tình trần
Luôn mê say nồng nàn
Cho nhau muôn mùa
xuân. Nàng Chiêu Quân!
Đừng hờn ghen chi
nha! Là la la!
Xuân 2023
Lưu Lãng Khách
VUI LÊN NHỎ
Qua hoa ngàn anh mới
chọn được em
Đủ hiểu với anh - em
thế nào rồi đó!
Vui lên nhỏ! Phải
chăng là duyên nợ
Anh chọn em - Nguyệt
lão vén môi cười
Anh thế nào cho em
mãi luôn tươi
Phải làm sao! Lắm điều
ta không muốn
Cứ xảy ra trong một
kiếp con người
Anh yêu nhỏ - như dân
cày yêu ruộng
Im lặng mãi chắc có hờn
có oán
Hỏi thật lòng anh có
đáng yêu không?
Khi anh chưa dấn bước
đời du lãng
Nếu đáng yêu! Xin hãy
nhận làm chồng
Vui lên nhỏ! Buồn kém
xinh lắm đó!
Kìa! Hoàng hôn còn
lưu luyến đôi mình
Ngày đã hết! Nào hãy
vui lên nhỏ!
Đêm đã về! Sao cứ mãi
lặng thinh.
Hạ 1986
Duy Toàn Chợ Chùa
luulangkhach@gmail.com
Wednesday, November 4, 2026
TỪ LÀNG RÈN HIỀN LƯƠNG ĐẾN LÀNG LƯƠNG CHÁNH - Trương Tam Phong
TỪ LÀNG RÈN HIỀN LƯƠNG
ĐẾN LÀNG LƯƠNG CHÁNH
Trương Tam Phong
Vừa rồi, trên trang nhà, có bạn cho
biết: gia đình mình ở làng Lương Chánh và được biết làng này “được tách ra từ
Hiền Lương”.
Lần tìm trong tư liệu Quá trình thành
lập làng xã ở huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị dưới triều Nguyễn (1802–1885),
chúng tôi gặp một thông tin khá thú vị:
Làng Lương Chánh ra đời từ việc mua đất
của làng Thượng An (Hải Vĩnh), với diện tích 12 mẫu 8 sào. Làng được thành lập
vào năm Tự Đức thứ 20 (1867). Những người sáng lập làng phần lớn có nguồn gốc từ
làng rèn Hiền Lương (Huế). Trong đó, ngài Nguyễn Văn Hương được sắc phong là Hậu
Khai canh.
Chi tiết này mở ra một góc nhìn đáng
chú ý về sự lan tỏa của cư dân Hiền Lương trong quá trình khai phá và lập làng
dưới triều Nguyễn.
Theo các tác giả, trong thời Nguyễn,
một số làng mới được hình thành từ nhu cầu nghề nghiệp hoặc từ những biến động
về kinh tế – xã hội. Có những cộng đồng rời quê cũ để tìm đất sản xuất, như trường
hợp làng rèn Hiền Lương; cũng có những nhóm cư dân phải di chuyển do nhu cầu mở
rộng kinh thành Huế, như cư dân Phú Xuân, Kim Long.
Đáng chú ý, việc mua đất để lập làng
cũng xuất hiện ở một số nơi, trong đó có Thuận Nhơn, Thuận Đức và Lương Chánh.
Tên gọi làng mới đôi khi vẫn giữ lại
dấu vết quê cũ, như một cách ghi nhớ nguồn gốc của cộng đồng. Tác giả nghiên cứu
cho rằng Lương Chánh cũng là một trường hợp như vậy, gắn với nguồn gốc cư dân từ
Hiền Lương.
Nếu đặt thông tin này trong lịch sử
làng rèn Hiền Lương, ta có thể thấy một điều khá rõ: người Hiền Lương không chỉ
làm nghề tại quê nhà. Nghề rèn đã đưa họ đi nhiều nơi, và trong quá trình ấy, một
bộ phận cư dân đã định cư, lập nghiệp và hình thành nên những cộng đồng mới.
Lương Chánh có lẽ là một trường hợp
tiêu biểu.
Năm Tự Đức thứ 20 (1867), làng Lương
Chánh được thành lập trên phần đất mua của làng Thượng An. Những người khai lập
phần lớn có nguồn gốc từ làng rèn Hiền Lương, và ngài Nguyễn Văn Hương được sắc
phong là Hậu Khai canh.
Từ câu chuyện này, nhìn lại lịch sử
Hiền Lương, ta càng có thêm cơ sở để nghĩ về sức lan tỏa của một làng nghề.
Sau khi hình thành cộng đồng làng, Hiền
Lương từng có các xóm, các phường nghề; người dân vừa làm nông vừa làm nghề
rèn. Nghề nghiệp ấy không chỉ tạo sinh kế tại quê nhà mà còn mở ra những cuộc
di chuyển, những mối quan hệ và những vùng cư trú mới.
Trong lịch sử khai canh, ngoài những
vị thủy tổ gắn với việc lập nên các làng Cao Ban, Kế Môn của những dòng họ có
nguồn gốc từ Hiền Lương, trường hợp ngài Nguyễn Văn Hương – Hậu Khai canh làng
Lương Chánh là một dấu nối đáng chú ý giữa làng rèn Hiền Lương và quá trình
hình thành làng xã ở Hải Lăng.
Có lẽ, đằng sau một cái tên làng tưởng
như rất bình thường, vẫn còn lưu lại câu chuyện về một cuộc ra đi, một nghề
nghiệp và một vùng quê cũ.
Và biết đâu, từ những sắc phong, gia
phả và ký ức của các dòng họ Lương Chánh, chúng ta còn có thể lần tìm rõ hơn
con đường mà những người Hiền Lương năm xưa đã đi qua.
Sài Gòn, tháng Tám năm 2026
Trương Tam Phong
---------------------------
Nguồn: Nguyễn Thị Minh Thiện, Thái
Quang Trung, Quá trình thành lập làng xã ở huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị dưới
triều Nguyễn (1802–1885), Tạp chí Khoa học và Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm
Huế, ISSN 1859-1612, số 04(40)/2016, tr. 81–90.
PHƯƠNG LANG - NÉT DUYÊN CHỢ LÀNG - Bảo Bình
Chợ làng Phương Lang là trung tâm giao thương của người dân các vùng lân cận.
Ảnh: Thanh Trúc |
Phương Lang - Nét duyên chợ làng
Bảo Bình
09/05/2020
Quê tôi ở tận miền biển Triệu Lăng. Ngày nhỏ, mỗi khi được cha mẹ cho về quê ở lại, niềm mong mỏi háo hức nhất của đứa trẻ lên 10 là tôi lúc bấy giờ là rạng sớm dậy đi theo mấy o, mấy dì gánh khoai lang lên chợ Phương Lang bán, được o mua cho đồng quà tấm bánh. Chợ làng Phương Lang (xã Hải Ba, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị) trong ký ức xưa bây giờ đã qua bao đận đổi thay. Thế nhưng, mỗi khi nhắc về chợ làng Phương Lang vẫn thấy xốn xang…
Theo tài liệu nghiên cứu về quá trình thành lập làng xã ở huyện
Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị dưới Triều Nguyễn (1802-1885) của nhóm tác giả Nguyễn
Thị Minh Thiện - Thái Quang Trung, quá trình hình thành các làng xã huyện Hải
Lăng diễn ra lâu đời. Kể từ khi châu Ô, châu Lý sáp nhập vào Đại Việt (1306)
cũng là quá trình người Việt di cư vào đây khai khẩn, dựng làng. Trước đó, cư
dân Chăm đã sinh sống, tạo lập một nền kinh tế, văn hóa, xã hội phát triển.
Nhưng đối với người Việt đây vẫn là một vùng đất xa xôi, khó khăn, nguy hiểm.
Trải qua quá trình chung lưng đấu cật, chế ngự thiên nhiên, cải tạo ruộng đồng,
khai thác đất đai, các làng xóm dần dần ra đời. Tuy nhiên, phải đến thời Lê, đặc
biệt dưới thời Lê Thánh Tông (1460 - 1497) công cuộc khai khẩn vùng đất phía
Nam được đẩy mạnh, trong đó có Hải Lăng. Phần lớn các xã thôn ở Hải Lăng hiện
nay, trong đó có thôn Phương Lang, xã Hải Ba được định hình về cơ bản trong thời
gian này. Tìm trong sử sách hầu như không có nhiều thông tin về lịch sử ra đời
của chợ Phương Lang, ngôi chợ hiện nằm ở khu vực trung tâm của thôn Phương
Lang, xã Hải Ba. Bậc cao niên của làng cũng chỉ biết chợ đã có từ lâu đời, có
những thời điểm phải xê dịch về địa điểm họp chợ do chiến tranh, rồi lại quay về
địa điểm cũ.
Mệ Mai Thị Tam là người bán hàng cao tuổi nhất ở ngôi chợ
ngày, ngày ngày vẫn bày từng mớ đậu, mè, dăm ba lon ớt khô và bó chè xanh bán ở
góc chợ. Bán buôn giờ không hẳn vì mưu sinh mà bởi thói quen và niềm vui. Ngày
trước, mệ bày gian hàng nhỏ ở chợ để kiếm đồng ra đồng vào nuôi con, còn bây giờ,
một ngày còn khỏe mà không dọn hàng ra chợ thì lòng thấy thiếu vắng lạ lùng. Với
mệ, trừ những khi ốm đau hay thời buổi chiến tranh loạn lạc chợ không họp được,
mỗi ngày đến chợ để nhìn, để nghe những âm thanh cuộc sống chảy quanh mình, để
trao đi đổi lại sản vật quê nhà và chia sẻ những câu chuyện hằng ngày, là thấy
mình đang sống khỏe khoắn.
Hỏi mệ Tam về lai lịch chợ Phương Lang có từ bao giờ, mệ nói
chỉ biết khi về đây làm dâu lúc mới 19 tuổi đã nghe kể chợ có từ lâu đời. “Tui
nhớ hồi trẻ đã bưng thúng bán buôn ở chợ, cũng là đem mấy thứ trồng được như đậu,
mè, khoai, ớt ra bán. Ngày xưa, đã ra đường, ra chợ, dù là người mua hay người
bán thì phụ nữ đều mặc áo dài, rất kín đáo. Chợ ngày xưa hàng hóa cũng đơn giản,
nhà có thứ gì thì mang thứ đó ra chợ bán, cũng ít nói thách, người ta trả được
mấy hào thấy hợp lý thì bán, lấy tiền đong gạo cho con”.
Không chỉ người làng họp chợ, chợ Phương Lang làm tròn vai
trò là nơi giao thương của người dân không chỉ xã Hải Ba mà các vùng lân cận
như Triệu Trung, Hải Vĩnh, Triệu Sơn, Hải An, Triệu Lăng… So với các chợ lớn
trong huyện, chợ Phương Lang có quy mô không kém cạnh với 218 gian hàng các loại.
Trong đình là gian hàng áo quần, giày dép, vải vóc, bánh kẹo tạp hóa, quanh chợ
từ hàng thịt, hàng rau củ quả, gian hàng ăn, các vật dụng như cuốc, thuổng rổ,
thúng, chổi… đều có đủ. Cần thứ gì, người dân chỉ cần ra chợ. Không còn gói gọn
ở danh xưng “chợ làng”, chợ Phương Lang được coi là đầu mối quan trọng để cung ứng
hàng hóa đi khắp nơi. Chợ họp từ mờ sáng, lúc này các thương lái và người bán
thực hiện giao dịch sỉ đối với các mặt hàng như thịt, rau, củ, quả, các loại
nông sản địa phương… để thu gom hàng tỏa đi bán ở các chợ lẻ ở các địa phương
lân cận. Hửng sáng tỏ mặt người, dân quanh vùng đi chợ sớm mua nhu yếu phẩm cần
thiết chuẩn bị cho những bữa ăn trong ngày, không khí mua bán thong dong hơn.
Cũng trả giá, kỳ kèo, nhưng vốn người đến chợ và người bán khá tỏ tường nhau rồi
nên sự mặc cả cũng gần như chiếu lệ, dễ dàng thuận mua vừa bán.
Ngoài chuyện bán - mua, chợ làng đông bởi người dân đi đến chợ
để được giao lưu, mở mang hiểu biết, để gặp gỡ những người dân trong khắp vùng,
bàn đủ mọi thứ chuyện trên đời, từ chuyện làng xã, họ mạc, gia đình đến chuyện
thời tiết và phổ biến cho nhau những kinh nghiệm cấy trồng, gieo gặt… O Nguyễn
Thị Huê, người làng Ngô Xá Đông, xã Triệu Trung đã duy trì gian hàng nhỏ bán
chè, món ăn vặt dân dã không thể thiếu ở chợ này đã hơn 35 năm. Gánh hàng chè
giúp o một mình nuôi lớn mấy đứa con, kể từ ngày từ Đông Hà về làm dâu làng Ngô
Xá Đông. O Huê tỉ tê: “Bây giờ trẻ con không còn háo hức hàng chè như ngày xưa
mỗi khi mẹ đi chợ về nữa. Cuộc sống hiện đại, điều kiện kinh tế khấm khá hơn,
trẻ con được chăm sóc đầy đủ nên thờ ơ với những thứ quà quê dân dã như thế
này. Giờ mỗi ngày bán được 1-2 trăm ngàn, lãi đâu khoảng dăm ba chục. Biết chẳng
nhiều nhặn gì, nhưng nghề từ mấy chục năm rồi, không bỏ được, ra chợ mỗi ngày để
gặp người này, người kia mà chuyện trò. Mà biết đâu thiếu gian hàng chè, chợ
thiếu một nét quê”.
Chợ Phương Lang ồn ào, tấp nập từ rất sớm rồi vãn dần khi trời
ngã bóng. Những người sống quanh khu vực chợ cũng bắt đầu ngày mới từ những thanh
âm rộn ràng từ chợ. Giống như một phần của cuộc sống, mỗi buổi chợ là từng nhịp
sống mới mỗi ngày một tràn trề, phong phú. Chợ Phương Lang, niềm thương nhớ của
những người con từ làng ra đi, là nếp quen của người ở làng, ở những làng lân cận.
Dù trải bao thăng trầm, chợ Phương Lang vẫn lưu giữ được nét truyền thống đặc
trưng của chợ làng, đó là tình làng, nghĩa xóm, là bản sắc văn hoá nông thôn.
(Nguồn: Báo Quảng Trị)
NHỮNG PHẬN NGƯỜI TRÊN SÔNG NƯỚC QUÊ TÔI - Khê Giang
NHỮNG PHẬN NGƯỜI
TRÊN SÔNG NƯỚC QUÊ TÔI
Khê Giang
Thời gian vẫn là
dòng trôi thăm thẳm nhưng mỗi khi đặt chân qua cầu Bến Đá hay đi dọc theo dòng
sông Ô Khê nhìn xuống dòng nước lững lờ, tôi vẫn thấy thấp thoáng trong cõi nhớ
đâu đó những chiếc ghe xập xệ, chênh vênh neo vào bờ trên dòng chảy của người dân xứ Vạn.
Do tập tục làng
quê còn sót lại từ thời phong kiến, người xứ Vạn luôn chịu sự thua thiệt trước
người dân của làng, họ không có nhà trên đất liền, nhà của họ là chiếc ghe cũ kỹ,
lợp lá hoặc phên tre, có khi chỉ che tạm bằng mảnh bạt cũ. Cuộc đời họ trôi
theo con nước, không nhà cửa, không ruộng vườn, chẳng có một tấc đất để chôn
mình khi đến ngày nằm xuống, vì vậy khi hữu sự họ sẽ được chôn cất trên những
bãi bồi hoặc phải đưa về bản quán để nương náu cùng đất trời.
Người làng gọi họ
là “dân vạn đò” hoặc dân ngụ cư . Trong ngôn ngữ biểu đạt hoặc giao tiếp có câu
từ ấy khi là thương cảm, mà cũng có khi là sự thiếu thiện ý.
Trong cộng đồng
của xóm Vạn, những gia đình khá hơn thì ngôi nhà của họ cũng lớn hơn, họ sở hữu
những chiếc trồng hay còn gọi là noốc. Những chiếc noốc này lớn và bề thế hơn,
vì vừa dài vừa rộng, đặc biệt ở đầu mũi thuyền có gắn một cái rớ bà (vó lớn) để
đánh bắt cá.
Thuở ấy, quê tôi
còn nghèo, chiến tranh liên miên, ruộng
đồng nhiều nơi hoang hóa, cát trắng bò vào vườn tược. Trên sông, những người ngụ
cư cũng rơi vào cảnh vất vả khốn cùng, lúc này họ mưu sinh nhọc nhằn bằng nhiều
công việc khác nhau như chài lưới, mò hến, cào ngao hoặc đưa đò.
Hồi đó chạy dọc
bờ sông từ Bến Đá (Ô Khê) đến rào Cái (Ô Giang) mỗi sáng sớm, khi sương còn
giăng trắng mặt nước, đã nghe xao xác tiếng khua mái chèo, tiếng rổ xọc xọc, rồi
tiếng cười đùa con trẻ hòa trong làn hơi lạnh.
Nhưng đằng sau
những tiếng cười ấy là những bữa cơm đạm bạc đến nao lòng, những năm đói, nồi
cơm thường chỉ có vài nắm gạo trộn với khoai lang, sắn lát. Cá tôm đánh bắt được
họ phải đem đi bán để đong gạo, họ ăn mắm, ăn muối hột với ớt giã, chan nước
sông, luộc rau tập tàng hái dọc bờ để độn thêm cho dạ dày đỡ trống.
Không ai hiểu được
cái rét của Bến Đá nếu chưa từng trải qua một đêm đông trên sông nước. Gió từ
Rào Cái thổi ngược lên, hun hút, lạnh buốt như dao cắt. Nước sông lạnh ngắt,
hơi nước bốc lên mù mịt. Những mái ghe lều chõng rung lên bần bật theo từng cơn
gió.
Người vạn chài
phải lấy bao tải rách che quanh mạn ghe, gom củi khô nhóm bếp than giữa lòng
ghe cho ấm. Nhiều đêm, nước dâng cao, bếp tắt, trẻ con co ro trong chăn ướt,
run rẩy cả đêm. Có những mùa lũ, dòng sông dâng tràn, cuốn trôi cả mái nhà duy
nhất của họ.
Nhà tôi có một cửa
hàng tạp hóa ở làng, đây là một nghề nghiệp hiếm hoi giữa ngôi làng thuần nông,
nhưng đây cũng là điều kiện để gia đình tôi tiếp cận trao đổi mua bán với bà
con trên miền sông nước.
Qua tiếp xúc, tôi
thấy họ hiền lành chân chất, chỉ có điều sống trong không gian chật chội, ẩm ướt
và nghèo túng, nên trang phục của họ rất dễ nhận diện giữa đám đông của dân
làng.
Mẹ tôi rất quý họ,
và họ cũng rất mến gia đình tôi.
Trên sông Bến Đá
và Rào Cái ngày đó, có những đứa trẻ sinh ra và lớn lên trong lòng ghe. Có đứa
chưa từng được đến trường, cứ đứa lớn
chăm đứa nhỏ, trần truồng tắm sông từ sáng đến chiều. Mùa nắng thì da đen sạm,
mùa mưa thì tím tái. Chúng lặn ngụp bắt cá, mót củi dọc bờ, chèo đò cho khách
qua sông.
Ở Quảng Trị, dân
ngụ cư bị xem là “không gốc gác”. Họ đến từ nhiều nơi: Thừa Thiên, Quảng Bình,
Nghệ An… trôi dạt về vùng sông nước này tìm kế sinh nhai. Có người từng là dân
chạy loạn, có người lưu lạc tìm kế sinh nhai, chỉ có điều dù là ai, khi đã sống
dưới ghe, họ đều bị gọi bằng một tiếng “dân vạn chài”.
Trẻ con trong
làng ít khi chơi với con dân vạn. Người lớn cũng ít giao tiếp, họ còn không được
kết tình thông gia với người làng.
Thế nhưng, chính
những người “ngụ cư” ấy lại là những người biết sẻ chia nhất. Hễ có ai gặp nạn
giữa sông, họ liền quăng dây, quăng sào cứu giúp. Mùa lũ, họ là người chèo ghe
cứu hàng xóm, vớt đồ, chở người qua vùng ngập. Có người mất cả ghe trong cơn
sóng dữ vì cứu người khác.
Năm 1971, một trận
lụt lịch sử tràn qua làng, do nước lũ
lên quá nhanh, cả nhà tôi không kịp tản cư, lúc này ba tôi lại vắng nhà. Tôi nhớ
như in khi nước dâng cao, cả nhà bắc thang trèo lên tra (khung gỗ để đựng lúa),
khi nước xâm xấp nền tra, cả nhà chui ra "khu đị" để leo lên nóc nhà. Nước vẫn tiếp
tục dâng cao, mẹ tôi kêu gào thảm thiết trong đêm vắng. Trong khi tính mạng cả
nhà tôi như ngàn cân treo trên sợi tóc thì có một chiếc đò từ xa hướng tới giải
cứu, đó là chiếc troòng (thuyền gỗ nhỏ) của bà con người xứ Vạn, họ đã liều mình băng đi trong
đêm để cứu giúp dân làng.
Qua lần chết hụt
đó, mẹ tôi càng trân quý những người ở dưới vạn hơn, bà vẫn nhắc đi nhắc lại
câu chuyện đó với chúng tôi như một lời tri ân để nhớ đến những người đã cứu sống
mình trong lúc nguy nan.
Nói về những người
phụ nữ ở vùng sông nước, cuộc sống của họ còn khổ sở vất vả hơn đàn ông. Họ làm
lụng quần quật từ tinh mơ tới tối mịt. Sáng chèo ghe theo chồng thả lưới, trưa
nấu cơm, chiều ra chợ bán cá. Đêm đến, gió lạnh thổi xuyên manh chiếu, họ vẫn
phải giặt giũ, vá áo, chăm con. Có người sinh con ngay trên ghe, không bà đỡ, không thuốc men, cắt rốn bằng con dao
cũ rửa qua nước sông.
Chỉ vài hôm sau,
bão tan nước rút, người mẹ mới sinh ấy vẫn chống ghe ra chợ như chưa có chuyện
gì xảy ra trước đó. Cái mạnh mẽ, kiên cường của người đàn bà dân vạn khiến ai
cũng nể phục, nhưng cũng xót xa: họ sinh ra như con nước sông kia — không bao
giờ được ngơi nghỉ.
Sau gần nửa thế
kỷ, những đứa trẻ dân ngụ cư ngày xưa giờ đã trở thành ông bà và con cái của
họ cũng đã trở thành thầy cô, kỹ sư, công nhân… nhưng cũng như tôi, mỗi lần về
thăm Bến Đá, khi nghe tiếng sóng ì oạp vỗ bờ, họ vẫn bồi hồi nhớ lại những ngày
thơ ấu chông chênh trên ghe đò sông nước.
Bây giờ, nếu đi
dọc Bến Đá, Rào Cái hiếm khi còn thấy dân ngụ cư. Chỉ còn vài chiếc thuyền chài
chỉ đi khai thác đánh cá theo buổi, phần
còn lại của thời gian họ vẫn trở về ngôi nhà êm ấm của mình, những ngôi
nhà bên bờ sông, trên những doi đất bây giờ đã là sở hữu của họ.
Giờ đây, đứng
trên cầu nhìn xuống, tôi vẫn tưởng như thấy bóng dáng những chiếc ghe troòng năm
xưa, tiếng mái chèo khua, tiếng cười con trẻ, tiếng người đàn bà gọi chồng giữa
sương sớm… trong đó có hình ảnh những người dân lam lũ chất phác ngày nào
đã cứu gia đình tôi thoát lưỡi hái tử thần trong một đêm mưa bão. Tất cả như
đang ẩn hiện trong làn nước bạc thấp thoáng hiện về.
Dòng sông vẫn
đó, chảy hoài, nhưng những phận người ngụ cư thì đã trôi xa, mất hút trong dòng
đời vô tận.
Và câu ca dao
xưa:
“Đò dọc phải
tránh đò ngang
Dân ngụ cư phải
tránh dân làng cho xa”
cũng đã nhạt
nhòa mờ theo năm tháng!
Khê Giang
VỀ THĂM CHỊ VÕ THỊ SÁU – MỘT CHIỀU NẮNG VÀNG TRÊN QUÊ HƯƠNG ĐẤT ĐỎ - Lê Thi
VỀ THĂM CHỊ VÕ THỊ SÁU
– MỘT CHIỀU NẮNG VÀNG TRÊN QUÊ HƯƠNG ĐẤT ĐỎ
Lê Thi
Tôi trở lại thăm chị vào một buổi chiều nắng
vàng dịu nhẹ. Nắng như rót mật lên từng tán lá, con đường quê và những hàng cây
xanh mát trong khuôn viên khu di tích. Những chùm lê-ki-ma đung đưa theo làn
gió nhẹ, gợi nhớ hình ảnh loài hoa, loài cây đã trở thành biểu tượng thân
thương gắn với người con gái Đất Đỏ anh hùng.
Trong không gian
yên bình ấy, tôi cảm nhận được hương của đất trời, hơi thở của mùa thu, chút
gió biển phảng phất và mùi nhang trầm thoang thoảng. Tất cả hòa quyện tạo nên một
không gian vừa gần gũi, vừa linh thiêng, khiến lòng người tự nhiên lắng lại.
Đứng giữa quê
hương Đất Đỏ, nơi ghi dấu tuổi thơ và những năm tháng đầu đời của chị Võ Thị
Sáu, tôi không khỏi xúc động. Chị đã đi xa, nhưng tên tuổi, khí phách và sự hy
sinh cao đẹp của chị vẫn còn sống mãi trong lòng các thế hệ người Việt Nam.
Khu di tích lịch
sử Nhà lưu niệm Anh hùng liệt sĩ Võ Thị Sáu nằm tại thị trấn Đất Đỏ, huyện Đất
Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu trước đây, nay thuộc địa bàn TP. Hồ Chí Minh sau sắp
xếp đơn vị hành chính.
Đây là địa chỉ đỏ
có ý nghĩa đặc biệt trong công tác giáo dục truyền thống cách mạng, là nơi người
dân và du khách tìm về để tưởng nhớ người nữ anh hùng đã hiến dâng tuổi thanh
xuân cho độc lập, tự do của Tổ quốc.
Võ Thị Sáu sinh
năm 1933 tại vùng đất Đất Đỏ. Ngay từ khi còn rất trẻ, chị đã tham gia hoạt động
cách mạng, góp sức vào phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp. Bị địch bắt
khi tuổi đời còn rất trẻ, chị vẫn giữ vững khí tiết, không khuất phục trước mọi
sự tra tấn, dụ dỗ. Ngày 23/1/1952, chị anh dũng hy sinh tại Côn Đảo khi mới 19
tuổi.
Cuộc đời ngắn ngủi
nhưng vô cùng cao đẹp của chị đã trở thành biểu tượng bất tử về lòng yêu nước,
tinh thần kiên trung và ý chí bất khuất của phụ nữ Việt Nam.
Không gian tưởng
niệm trang nghiêm và ấm áp nghĩa tình
Hôm tôi đến
thăm, khu di tích đón nhiều đoàn khách từ các cơ quan, bộ, ngành, địa phương và
các tổ chức trong cả nước. Những lẵng hoa tươi thắm, những giỏ trái cây đặc sản
mang theo hương vị từ nhiều vùng miền được trân trọng đặt tại nơi tưởng niệm chị.
Mỗi đoàn khách đến
đây đều mang theo một tấm lòng thành kính. Có những vòng hoa rực rỡ sắc màu, có
những nén nhang thơm, có những phút mặc niệm lặng im. Tất cả đều thể hiện lòng
biết ơn sâu sắc đối với người con gái đã hiến dâng cuộc đời mình cho quê hương,
đất nước.
Bước vào bên
trong ngôi nhà tưởng niệm, với diện tích khoảng 60 mét vuông theo cảm nhận của
tôi, không gian hiện lên thật trang nghiêm và ấm cúng.
Bên trái là bàn
thờ song thân của chị, thể hiện lòng tri ân đối với đấng sinh thành đã nuôi dưỡng
người con gái anh hùng. Chính giữa là bàn thờ chị Võ Thị Sáu, nơi đặt tượng bán
thân của chị. Khuôn mặt chị hiện lên với những đường nét hiền hậu, thanh tú,
đôi mắt sáng và thần thái bình thản. Bức tượng được tạo tác tài hoa, gợi lên vẻ
đẹp thánh thiện, dịu dàng của một người con gái quê hương, nhưng ẩn sâu trong
đó là ý chí sắt son và khí phách kiên cường.
Xung quanh là
nhiều lẵng hoa tươi đẹp, đủ màu sắc, được sắp xếp ngay ngắn trên những giá đỡ
và bình gốm trang nhã. Không gian tuy không lớn nhưng chứa đựng biết bao tình cảm,
sự kính trọng và lòng biết ơn của những người còn sống dành cho người đã khuất.
Những trang sử
được lưu giữ qua hình ảnh và kỷ vật
Điều khiến tôi dừng
lại lâu hơn là những bức ảnh tư liệu ghi lại một thời đấu tranh hào hùng của
quân và dân Đất Đỏ nói riêng, Bà Rịa – Vũng Tàu nói chung.
Mỗi bức ảnh như
một lát cắt lịch sử, tái hiện những năm tháng gian lao mà anh dũng, những con
người bình dị đã làm nên chiến công phi thường. Những hình ảnh ấy không chỉ
dành cho người từng trải qua chiến tranh, mà còn là bài học quý giá để thế hệ
trẻ hôm nay hiểu hơn về giá trị của hòa bình, độc lập và tự do.
Một số tủ kính trưng bày các vật dụng sinh hoạt gia đình, tiền Đông Dương, những hiện vật và mô hình gắn với đời sống, lịch sử của một thời kỳ. Dù là những vật dụng bình dị, mỗi hiện vật đều có giá trị riêng, giúp người xem hình dung rõ hơn về bối cảnh xã hội, cuộc sống và những năm tháng mà chị Võ Thị Sáu đã sống, chiến đấu.
Bên cạnh đó là
nhiều đầu sách, tập thơ, bài viết, tác phẩm âm nhạc và những ca khúc phổ thơ về
chị. Hình ảnh người nữ anh hùng đã đi vào văn học, nghệ thuật, trở thành nguồn
cảm hứng bất tận cho biết bao thế hệ văn nghệ sĩ và người yêu nước.
Chiều buông trên
quê hương Đất Đỏ
Bước ra khuôn
viên bên ngoài, tôi cảm nhận rõ sự thoáng mát và yên bình. Những hàng cây xanh
tỏa bóng, những dãy ghế đá do các nhà hảo tâm đóng góp được đặt ngay ngắn dưới
tán cây, lặng lẽ phục vụ khách đến thăm. Tất cả góp phần tạo nên một không gian
tưởng niệm thân thiện, trang trọng và gần gũi.
Tôi đã xin số điện
thoại của người quản lý khu di tích, bởi trong lòng nảy sinh một mong muốn rất
chân thành: được đóng góp một chút tấm lòng, dù nhỏ bé, cho nơi linh thiêng
này.
Tôi cũng xin mạnh
dạn gửi gắm một vài mong muốn giản dị. Giá như dưới những bức ảnh tư liệu,
tranh lịch sử có thêm những dòng chú thích bằng tiếng Anh và tiếng Pháp để du
khách quốc tế hiểu hơn về cuộc đời, sự hy sinh của chị và truyền thống đấu
tranh anh dũng của quê hương Đất Đỏ. Giá như có thêm một góc trưng bày những
hình ảnh về khu mộ chị tại Côn Đảo, để những người chưa có điều kiện ra thăm
nơi chị yên nghỉ cũng có thể được nhìn ngắm, được gửi gắm nỗi nhớ thương và
lòng thành kính.
Đó chỉ là những ý kiến nhỏ bé xuất phát từ tình cảm của một người khách đến viếng thăm. Tôi tin rằng những điều giản dị ấy sẽ góp phần làm cho nơi đây thêm phong phú, để mỗi người khi đến thăm không chỉ được tưởng niệm mà còn hiểu hơn về một trang sử hào hùng của dân tộc.
Thời gian dần
trôi, nắng chiều bắt đầu nghiêng xuống những hàng cây. Tôi đứng lại thêm một
lúc, nhìn về phía tượng chị. Trong ánh chiều vàng dịu, gương mặt người con gái
năm xưa như vẫn bình thản, hiền hậu mà kiên nghị.
Tôi chợt hình
dung chị đang nhìn về quê hương mình, nơi từng chứng kiến tuổi thơ, những bước
chân hoạt động cách mạng và bao ký ức không thể nào quên.
Nếu có thể gửi đến
chị một lời, tôi muốn nói rằng: quê hương hôm nay đã đổi thay rất nhiều. Đất Đỏ
đang từng ngày phát triển, cuộc sống người dân ngày càng khấm khá, những con đường
mới mở ra, những công trình mới được xây dựng. Đất nước tiếp tục chuyển mình,
quê hương sau những thay đổi về địa giới hành chính vẫn đang hướng đến một
tương lai phát triển và hội nhập.
Chúng tôi vẫn nhớ chị. Nhân dân vẫn yêu thương và biết ơn chị. Những thế hệ hôm nay vẫn tìm về nơi này để thắp một nén nhang, đặt một nhành hoa và kể cho con cháu nghe câu chuyện về người con gái đã chọn hy sinh tuổi xuân để đất nước có ngày độc lập.
Tôi rời khu di
tích khi chiều đã ngả bóng. Hương trầm dường như vẫn còn vương vấn, những chùm
lê-ki-ma vẫn đung đưa trong gió nhẹ. Lòng tôi vừa thanh thản, vừa bâng khuâng.
Xin nghiêng mình
trước anh linh chị Võ Thị Sáu – người con gái Đất Đỏ bất khuất, người nữ anh
hùng sống mãi trong lòng dân tộc.
Mong rằng khu di
tích sẽ ngày càng được gìn giữ, chăm chút và phát huy giá trị, để mỗi người khi
tìm về nơi đây đều cảm nhận được một điều thiêng liêng: Có những con người đã
đi qua cuộc đời rất ngắn, nhưng tên tuổi và sự hy sinh của họ sẽ còn sống mãi với
quê hương, đất nước và các thế hệ mai sau.
Chiều buông, khoé mắt cay cay …
Lê Thi 11-2026
Tuesday, November 3, 2026
BÓNG QUÊ – Thơ Lê Kim Thượng

Bóng Quê
1.
Bao năm người mới quay về
Tìm làng xóm cũ, tình quê ngập lòng…
Đò ngang rời bến rạng đông
Nắng vàng soi bóng xuống dòng sông sâu
Trời xanh, xanh thẳm một màu
Bãi ngô tươi lá, ruộng dâu xanh trời
Bồng bềnh lãng đãng mây trôi
Dậy mùi hương đất, gió xuôi ngọt lành
Con đường nhỏ, lũy tre xanh
Ngã nghiêng bóng nắng, chòng chành tỉnh say
Đồng vàng thẳng cánh cò bay
Em tôi gánh lúa, gánh đầy ước mơ
Cánh diều bay bổng vào thơ
Cánh cò cõng nắng đơn sơ một mình
Nắng qua kẽ lá lung linh
Rơi trên áo tím chung tình tươi xinh…
2.
Bâng khuâng đồng vắng một mình
Hình như lòng đã say tình chơi vơi
Người về giờ đã cuối đời
Bên sông rụng tím một trời hoa Mua…
Quê hương mưa nắng hai mùa
Mẹ già gánh cả nắng mưa vơi đầy
Áo tơi, nón lá, vai gầy
Lo toan cơm áo những ngày… xa xưa
Mẹ đi cùng nắng, cùng mưa
Tảo tần, vất vả sớm trưa lưng còng
Một đời ngô lúa nghề nông
Mồ hôi đổ xuống cánh đồng vàng tươi…
Nhớ hoài nỗi nhớ khôn nguôi
Nhớ hình bóng mẹ trong tôi nhớ hoài
Nợ Người chữ Hiếu không phai
Một bông hồng trắng… con cài Vu Lan…
Nha Trang, tháng 10. 2026
Lê Kim Thượng

.jpg)


.jpg)



