Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, May 29, 2026

KÝ ỨC VỀ LÀNG QUÊ HẢI LĂNG XƯA - Người Hải Lăng



Ký ức về làng quê Hải Lăng xưa

Người Hải Lăng

 

Có những miền quê không chỉ nằm trên bản đồ, mà còn nằm sâu trong ký ức của mỗi con người. Với những ai sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Hải Lăng, Quảng Trị, quê hương không chỉ là nơi chôn nhau cắt rốn, mà còn là một phần máu thịt, là tiếng gọi âm thầm theo ta suốt cả cuộc đời.

 

Hải Lăng xưa trong ký ức của bao người là những con đường làng nhỏ quanh co, hai bên là hàng tre, bụi chuối, bờ rào dâm bụt. Mùa nắng, con đường phủ một lớp bụi trắng, mỗi bước chân đi qua lại để lại dấu vết của tuổi thơ. Mùa mưa, đường làng lầy lội, bùn đất bám đầy gót chân, vậy mà đám trẻ con ngày ấy vẫn cười vang, vẫn chạy nhảy, vẫn thấy quê mình đẹp đến lạ.

 

Nhớ nhất là những cánh đồng Hải Lăng trải dài dưới nắng. Đất quê mình không được ưu ái nhiều, nắng thì gắt, gió thì rát, cát trắng mênh mông, mùa màng có khi nhọc nhằn hơn nơi khác. Nhưng chính trên mảnh đất ấy, bao thế hệ cha ông đã cần cù cày cấy, chắt chiu từng hạt lúa, củ khoai để nuôi con khôn lớn. Hình ảnh mẹ lom khom cấy lúa giữa đồng, cha gánh phân, gánh lúa dưới trời nắng chang chang, đến bây giờ nghĩ lại vẫn thấy sống mũi cay cay.

 

Tuổi thơ ở Hải Lăng xưa nghèo mà vui. Trẻ con đâu có nhiều đồ chơi như bây giờ. Một cánh diều giấy, một trái bóng nhựa, vài viên bi, cái mo cau, con trâu ngoài đồng… cũng đủ làm nên cả một bầu trời hạnh phúc. Chiều chiều, sau buổi học, lũ trẻ lại rủ nhau ra đồng bắt cào cào, hái rau, mò cua, bắt cá. Có đứa quần áo lấm lem bùn đất, có đứa chân tay trầy xước, nhưng gương mặt lúc nào cũng rạng rỡ tiếng cười.

 

Những buổi trưa hè ở quê cũng là một miền ký ức khó quên. Tiếng ve ran trên tán cây, tiếng võng kẽo kẹt dưới hiên nhà, tiếng mẹ gọi con về ăn cơm vang qua ngõ nhỏ. Bữa cơm quê ngày ấy giản dị lắm: khi thì cá kho, khi thì rau luộc, bát canh tập tàng, chén mắm ớt cay nồng. Vậy mà ngon đến lạ. Có lẽ cái ngon không chỉ nằm ở món ăn, mà nằm ở tình thương của mẹ, ở sự sum vầy của gia đình, ở cảm giác bình yên mà sau này đi xa mới thấy quý vô cùng.

 

Hải Lăng xưa còn là những phiên chợ quê mộc mạc. Người bán, người mua đều quen biết nhau. Ra chợ không chỉ để mua bó rau, con cá, đấu gạo, mà còn để hỏi thăm nhau vài câu chuyện mùa màng, con cái, xóm làng. Tiếng nói cười, tiếng mặc cả, tiếng gọi nhau bằng giọng quê thân thuộc tạo nên một thứ âm thanh rất riêng, càng đi xa càng nhớ.

 

Rồi những ngày Tết, ngày giỗ, ngày làng có việc, quê mình lại rộn ràng hơn bao giờ hết. Con cháu đi xa trở về, nhà cửa được quét dọn sạch sẽ, bàn thờ tổ tiên nghi ngút khói hương, mâm cơm đoàn tụ tuy không cao sang nhưng ấm áp nghĩa tình. Người Hải Lăng xưa nghèo vật chất nhưng giàu tình làng nghĩa xóm. Nhà ai có việc, cả xóm cùng đến giúp. Nhà ai khó khăn, bà con sẻ chia từng lon gạo, bó rau, con cá. Chính cái tình ấy đã nuôi dưỡng tâm hồn bao người con quê hương.

 

Thời gian đi qua, làng quê Hải Lăng hôm nay đã đổi thay nhiều. Đường làng được bê tông hóa, nhà cửa khang trang hơn, cuộc sống đủ đầy hơn. Nhưng trong sâu thẳm trái tim của những người con xa quê, Hải Lăng xưa vẫn còn nguyên vẹn: vẫn là bờ tre, ruộng lúa, mái nhà tranh, tiếng gà gáy sáng, tiếng mẹ gọi con, dáng cha lặng lẽ ngoài đồng.

 

Có lẽ, càng lớn tuổi, người ta càng hay ngoái nhìn về quá khứ. Không phải để tiếc nuối, mà để biết mình đã được nuôi lớn từ đâu, đã đi qua những năm tháng nào, đã nhận từ quê hương bao nhiêu yêu thương và nhọc nhằn. Hải Lăng xưa tuy nghèo khó, nắng gió, lam lũ, nhưng chính nơi ấy đã dạy cho con người biết chịu thương chịu khó, biết sống nghĩa tình, biết thương cha mẹ, nhớ ông bà, quý trọng quê hương nguồn cội.

 

Dẫu sau này có đi đâu, sống ở nơi nào, trong lòng mỗi người con Hải Lăng vẫn luôn có một góc nhỏ dành cho quê nhà. Bởi quê hương không chỉ là nơi ta sinh ra, mà còn là nơi mỗi khi mỏi mệt, ta muốn được trở về. Trở về để nghe lại giọng quê thân thương, để đi trên con đường làng cũ, để nhìn cánh đồng xưa, để thắp nén hương cho tổ tiên, và để thấy lòng mình bình yên như thuở còn thơ bé.

 

Người Hải Lăng - 28/05/2026

READ MORE - KÝ ỨC VỀ LÀNG QUÊ HẢI LĂNG XƯA - Người Hải Lăng

SMOKE, FIRE AND RECURRING CYCLES - Thơ: Trần Thị Lan Anh

 

Trần Thị Lan Anh

Smoke, Fire, and Recurring Cycles

 

Author: Thi Lan Anh Tran (Trần Thị Lan Anh)

© Copyright belongs to Trần Thị Lan Anh. All rights reserved.

 

Statements echo from a cold high podium

Middle Eastern winds carry heavy warnings

People speak of armies

Of footsteps soon to land on foreign ground

 

In the night over Tehran

Explosions tear the silent sky apart

No one has time to ask

What the target is

Only remains

Flames and nameless fear

 

Ships carrying thousands of lives

Silently advance into heated waters

Like a chessboard already set

Waiting only for a wrong move

 

A call for unity rises

In what is called the most critical of days

A “great war”

No one truly wishes to name

Yet everyone knows

It has already begun

 

I think of an older war

Where the fields of Vietnam

Once trembled under bombs and fire

Where young soldiers

Never had the chance to understand why they were there

 

History feels like a circle

Different names

Different maps

But the pain remains familiar

 

One side issues warnings

The other delivers responses

Between them stand human lives

Who did not choose this war

But must live with it

 

Smoke still drifts

Across Tehran

Across memories

Across pages of history that never truly close

 

And somewhere

In the faintest whisper of the wind

Lingers the same old question repeated

Whether humanity has learned anything at all

After all the wars that have passed …


----------------------------------------------------

From: Dipl.-Kauffrau Thi-Lan Anh Tran 

Email: Wirtschaftskanzlei@dipl-kauffrau-tran.de

https://www.facebook.com/groups/0tobe/posts/1464339912106782/

https://www.europeanpoetry.com/2026/04/smoke-fire-and-recurring-cycles-tran.html

READ MORE - SMOKE, FIRE AND RECURRING CYCLES - Thơ: Trần Thị Lan Anh

Tuesday, May 26, 2026

HẰNG VÀ TÔI - Truyện ngắn: Nguyễn Đại Duẫn

 


 

HẰNG VÀ TÔI

Truyện ngắn: Nguyễn Đại Duẫn

                             

Tôi về thăm Đồn Biên phòng cửa khẩu Hồng Vân sau mấy năm nghỉ hưu trên chuyến xe từ Phú Bài đi A Lưới. Ngồi cạnh tôi là một người đàn ông râu ria lởm chởm có vẻ như đã lâu rồi không cạo. Người đàn ông nhìn tôi như hiểu ý. Anh cho biết mấy hôm nay mất ngủ, lo lắng làm giỗ của vợ. Nhìn bề ngoài nom anh hơi dữ. Nhưng qua giọng nói, cách bắt chuyện tôi hiểu anh là người thật thà, dễ gần. Anh nhìn tôi mắt không chớp, ánh mắt như xoi mói khắp cơ thể tôi. Sợ có điều gì bất ổn, tôi giả bộ nhìn ra cửa xe nhưng vẫn để ý động tĩnh từ nơi con người ấy. Bất chợt anh vỗ mạnh vào vai làm tôi bật nẩy người, đầu va vào thành xe đau điếng.

 Một giọng nói trầm ấm phát ra:

- Anh là Tâm! Tâm phải không?

 Vừa đau, vừa bực nên tôi trả lời hơi cộc lốc:

- Tâm. Tôi đây! Có việc gì không?.

- Thật rồi! Anh Tâm thật rồi! Đúng là người tính không bằng trời tính. Rồi anh hạ giọng, tâm sự: “Tôi là Bằng chồng của Hằng. Ngày Hằng sắp mất có trao cho tôi một bức thư và một tấm hình. Hằng nói, hãy trao thư cho người trong tấm hình là anh Tâm, đồng đội. Khi nào về quê thì tìm đến làng Hội Kỳ, bên kia sông Ô Lâu đưa bức thư đến tận tay Tâm. Hằng còn dặn, nếu tôi không giữ lời hứa thì Hằng không yên tâm ra đi. Tôi về quê, tìm anh theo địa chỉ nhưng không gặp. Nghe tin anh đang công tác tại Hà Nội. Lá thư và tấm hình tôi còn giữ ở nhà. Tiện đường anh Tâm ghé về thắp hương cho Hằng rồi nhận kỷ vật”. 

                                     *

Tôi bỏ chiếc cặp trước hiên, đi ra bến rửa tay. Dòng suối uốn lượn quanh nhà rì rào chảy, đang đưa tôi về với những địa danh như Bản Huội San, Bản Đông, Bản Cha Ki… của nước bạn Lào nơi đơn vị tôi ngày xưa đóng quân. Giữa khu rừng xanh ngắt là dòng suối trong mát, có thể nhìn được những hòn cuội dưới đáy phủ lớp rêu xanh. Đàn cá choạc to hơn ngón tay đang ngược dòng, thỉnh thoảng dừng lại tranh nhau đớp mồi. Dọc bờ, từng hàng cây to như cột nhà xòa tán xuống dòng suối lung linh. Những cây leo to như bắp tay gân guốc nối cây này với cây kia như mắc võng. Xa xa những cây mận cổ thụ đang trải một màu hoa trắng tinh khôi nổi bật giữa những tán cây rậm rịt. Vừa cúi xuống vốc một vốc nước phả vào mặt xong, tôi nhìn Bằng cất tiếng:

- Phong cảnh ở đây thật lãng mạn quá. Có nhiều nét giống như rừng núi đất Lào xưa tôi đóng quân vậy.

 Bằng nhìn tôi gật đầu thay cho câu trả lời.

Căn nhà sàn kiểu mới bằng bê tông lợp tôn của Bằng nằm lọt thõm giữa thung lũng hẹp. Lác đác vài ngôi nhà nằm yên bình dưới rừng cà phê ngợp trắng hoa. Căn nhà khoảng chừng 50 mét vuông. Góc bếp thiếu bàn tay của người phụ nữ đang hoang lạnh. Mấy que củi xiên xẹo nằm trên bếp. Nồi niêu, bát đĩa trên chạn để lộn xộn.

Tôi đến bên bàn thờ thắp nén hương cho Hằng, mùi hương quyện trong mùi hoa cà phê ngát thơm tạo nên trong tôi một cảm giác mơ hồ. Như thấy Hằng đó, tay cầm nhành hoa cà phê trao cho tôi, miệng cười tươi. Tôi đưa tay đón nhận nhành hoa thì Hằng lùi dần, lùi dần rồi tan biến vào sương chiều. Rừng cà phê đang mùa trổ bông, trên cành hoa mọc thành chùm dọc cánh. Cánh hoa mỏng, nở tròn xoe, với nhị trắng đan xen như bàn tay Hằng đang vẫy vẫy. Bước ra hành lang, tay tôi run run bóc lá thư, mắt dán vào những dòng chữ nhạt nhòa nước mắt, đã ố màu mực, đôi mắt tôi ngấn lệ từ khi nào, thấm ướt lên trang giấy. Những hình ảnh một thời quân ngũ ùa về.

                          *

          Tôi quen Hằng trong một lần đơn vị báo động hành quân. Do vội vàng, ba lô tôi buộc không kỹ, tư trang tuột ra, Hằng thấy vậy nhanh tay thu gọn vào ba lô cho tôi kịp vào hàng quân. Đơn vị tôi huấn luyện tại Cộn, thị xã Đồng Hới, nơi có cái nắng của miền gió Lào sàn sạt. Đồi tràm vào mùa này cũng trụi lá xơ xác, những đám bụi cuốn mù mịt khi có một ngọn gió tạt qua.

          Hôm chủ nhật, đơn vị nghỉ huấn luyện, người thì đi gửi thư, người thì cắt tóc, có người thư giản nơi quán cà phê cho đỡ nhớ nhà. Tôi đang lững thững đi về lán nhà ở của nữ quân nhân thì gặp Hằng. Hằng nhanh nhảu mời tôi về phòng em chơi. Căn phòng ngăn nắp sạch sẽ. Trên giường chăn, màn gấp vuông vắn. Ba lô, đồ dùng cá nhân để gọn gàng. Chỉ có Hằng ở nhà một mình. Mấy cô bạn cùng phòng với Hằng người đi chợ, người đi thăm bạn bè. Tôi không biết mở đầu câu chuyện như thế nào, chỉ biết lặp đi, lặp lại lời cảm ơn Hằng về việc giúp tôi hôm báo động hành quân. Hằng mạnh dạn hơn tôi tưởng:

- Anh Tâm quê ở đâu?.

- Anh ở làng Hội Kỳ, Hải Lăng đó em.

- Ôi! Rứa là anh đồng hương với em rồi. Làng em là Phước Tích, Phong Điền bên ni sông Ô Lâu đối diện làng anh đó.

 Tôi nhìn Hằng nói như để tạo sự thân thiện:

- Ừ chúng mình cùng là lính Bình Trị Thiên mà.

 Con sông Ô Lâu là ranh giới giữa hai huyện Hải Lăng và Phong Điền. Bên dòng Ô Lâu xanh mát, những làng mạc trù phú mọc lên hai bên sông để tận hưởng sự ưu ái của thiên nhiên ban tặng. Bên ni Phước Tích bên tê Hội Trì thực ra đều nằm chung một hướng trên một dòng sông, nhưng do sự uốn lượn của dòng sông khiến hai làng nằm hai bên bờ sông, tạo nên sự cổ kính cho dòng Ô Lâu để cho những người xa quê hương như chúng tôi luôn hướng về cội nguồn. Tôi có đọc trong một quyển sách nào đó đã nói về lịch sử và những truyền kỳ gắn liền với dòng sông này. Tôi liền giở bài tán dóc với em:

- Vậy ở bên sông Ô Lâu mà em có biết về câu ca dao “Trăm năm còn lỗi hẹn hò/ Cây đa bến cũ con đò khác xưa/ Con đò đã thác năm xưa/ Cây đa bến cũ còn lưa bóng người”.

- Em không biết! Anh giải thích cho em nghe nào.

- Đó là câu chuyện tình của anh thí sinh lên đường dự thi và cô lái đò...! Mà thôi! Chuyện cũng xưa rồi, dài lắm khi nào có điều kiện anh kể cho em nghe.

Hằng yên lặng nhìn tôi không nói gì, nụ cười mỉm trên môi em đang xuyên vào tim đen của tôi, như ngầm ý: “Đã không biết mà cứ đòi làm phách”. Tôi nhìn ra sân như cố lảng tránh và lái sang chuyện khác. Rồi tôi kể cho em nghe chuyện ngày còn đi chăn trâu, cùng lũ bạn thường bơi sang sông hái trộm đào. Cây đào cổ thụ bên bến, thân to gần bằng thùng gánh nước, cành lá sum suê, quả chín mọng, rất ngọt. Khi chúng tôi trèo hái trộm đào bị chủ nhà phát hiện, họ xua chó đuổi chạy thục mạng, mấy đứa chúng tôi bị một trận nhớ đời. Kết thúc chuyện trộm đào tôi nhìn Hằng nói bâng quơ nhưng cũng đủ để em nghe:

- Ước chi sau này anh được ‘sở hữu’ cây đào ấy nhỉ.

Hằng nghe tôi kể chuyện, tay bụm miệng để khỏi bật cười.

 

          Giữa năm 1985, huấn luyện xong tôi và Hằng được phân công về đơn vị xây dựng con đường hữu nghị trên đất bạn Lào, thuộc Sư đoàn 384. Công việc suốt ngày luôn bộn bề với bê tông, sắt thép nặng nhọc. Áo quần lúc nào cũng sặc mùi xi măng. Có những hôm đổ bê tông, mồ hôi trộn lẫn bụi xi măng đóng vón lại. Ra suối giặt cả tiếng đồng hồ mới xong bộ quần áo. Hai lỗ mũi phập phồng những xi măng. Có anh nói đùa: “Hắt hơi cũng đúc được viên gạch táp lô đấy!”.

 Cuộc sống người lính chúng tôi thiếu thốn trăm bề. Cảnh núi rừng thanh vắng. Tiếng tắc kè thảng thốt trong đêm làm cho chúng tôi thêm nhớ nhà. Rảnh rỗi, tôi thường sang chơi với Hằng, hai đứa kể chuyện nhà, động viên nhau. Chúng tôi thường trao nhau những nụ cười, lặng thầm đưa ánh mắt sau mỗi ngày làm bạn với cuốc xẻng. Trong những lúc nghỉ giải lao nơi công trường, tôi thường trèo lên cây săng lẻ mọc bên bờ suối hái những chùm phong lan tặng Hằng, em cứ nắm chặt bông hoa, giấu những nụ hôn thẹn thuồng lên cánh hoa tím điểm màu trắng duyên dáng. Ngồi bên em, lòng tôi thấy rạo rực, nhưng không dám thổ lộ những điều mà trái tim mách bảo. Em nhìn tôi âu yếm rồi lấy vạt áo lau mồ hôi trên trán cho tôi. Đồng đội nhìn thấy trêu, má em ửng hồng như mặt trời mới mọc.

Con đường hữu nghị Việt - Lào bắt đầu từ thị trấn Khe Sanh, Hướng Hóa nối vào đường 13 của nước bạn Lào tại tỉnh Sa-vẳn-na-khệt được hoàn thành vào năm 1988 và bàn giao cho nước bạn. Ba năm quân ngũ cũng trôi qua. Tôi được cấp trên cho đi học Trường Sĩ quan quân đội. Hằng cũng được ra quân vì đã hết nghĩa vụ quân sự. 

Chỉ còn đêm nay nữa là tôi và Hằng được gần nhau. Ngày mai chúng tôi theo xe đơn vị về Đông Hà. Tôi sẽ ra Hà Nội học sĩ quan, Hằng trở lại quê hương sau bao ngày quân ngũ. Lòng tôi thấy rối bời không biết nên làm gì lúc này? Tôi đến phòng Hằng, gặp em tôi mạnh dạn:

- Chúng mình ra bờ suối đi.

- Em ngại lắm, lỡ ra đó có người bắt gặp ....

- Không sao đâu em.

Nói rồi tôi nắm tay Hằng, hai đứa cùng ra bên bờ suối. Bên gốc sung già, chúng tôi ngồi sát vào nhau. Mái tóc Hằng xỏa xuống ngang eo thoảng thơm mùi hoa chạc chìu, dịu nhẹ. Lồng ngực tôi phập phồng, tim đập rộn ràng. Bàn tay vụng về nhặt những hòn cuội ném xuống dòng suối. Một thoáng yên lặng, chỉ nghe tiếng của con suối cạn róc rách. Trời không một gợn mây, cũng đủ sáng để cho tôi nhìn thấy khuôn mặt xinh tươi, đầy đặn như khuôn trăng rằm của em. Hằng nhìn tôi âu yếm. Bất chợt, tôi khẽ ôm và hôn lên đôi môi nóng bỏng của Hằng. Giọng Hằng yếu ớt trong hơi thở:

- Đừng anh! Em sợ. Nhỡ ra...

Tôi ôm Hằng thật chặt, thầm thì:

- Hằng! Anh yêu em đã lâu nhưng anh ... anh không nói được nên lời. Chỉ còn đêm nay được bên em, ngày mại chúng mình phải xa nhau rồi. Anh muốn dành trọn tình yêu này cho em.

Đôi môi nồng thắm của Hằng run rẩy. Tôi nghe tiếng em thở gấp. Hằng cứ giữ chặt bàn tay tôi không rời. Một cảm giác đê mê lan tỏa trên thân thể. Hơi thở dồn dập. Tiếng thầm thì ngắt quảng. Những nụ hôn vội vàng. Đêm thanh vắng, tiếng cây rừng xào xạc, những quả sung chín thỉnh thoảng rơi tõm trên dòng suối như chứng kiến mối tình trong trắng, thầm kín của chúng tôi.

          Khi chim Từ Quy đi ăn đêm về cất tiếng, hai đứa dắt tay nhau về doanh trại với niềm hạnh phúc lâng lâng trong mùi hương rừng thoảng thơm.                 

 

                                      *

          Tôi ra trường và được về nghỉ phép để chuẩn bị nhận công tác. Tôi tìm về nhà Hằng chơi, cũng nhân dịp này để ra mắt bố mẹ Hằng. Nhưng sự đời có khi không như ý muốn. Được biết em đã lấy chồng và theo chồng đi vùng kinh tế mới ở A Lưới. Tôi lặng đi. Và cũng lý giải được vì sao thời gian qua Hằng không biên thư cho tôi. Tôi cứ hình dung những dòng nước mắt chảy dài trên má khi em cất bước theo chồng.

 Những hình ảnh của một thời đã qua cứ ray rứt khi tôi đọc xong thư của Hằng. Gấp bức thư với những dòng chữ thấm lệ, tôi thấy ân hận mình đã không làm được bờ vai che chở cho Hằng. Mãi chạy theo sự nghiệp nên đã đánh mất tình yêu quí giá. Những dòng thư cứ ám ảnh tôi. Biết làm gì bây giờ!

          Anh Tâm yêu thương của lòng em!

          Em biết mình không còn sống trên đời này được bao lâu nữa, nên gửi đến anh những dòng tâm sự để anh hiểu lòng em. Bé Thư là kết quả tình yêu của chúng mình. Em phải chịu bao ấm ức, sự dị nghị của người đời, bao thiệt thòi để nuôi nấng và chăm sóc con. Khi nào con trưởng thành anh có thể nói với con biết điều này để con nhận được tình cảm máu mủ, ruột thịt. Bằng, chồng em là một người tốt, đã thay em nuôi dạy con của chúng ta nên người. Cho em xin lỗi tất cả.

                                                              Vĩnh biệt!

        

         Như thấu hiểu nỗi lòng của tôi, bên mâm cơm Bằng đã dốc hết bầu tâm sự:

         - Anh Tâm! Tôi có lỗi với anh và Hằng nhiều lắm. Ngày đó tôi cũng yêu Hằng. Chúng tôi sinh hoạt cùng chi đoàn thanh niên, cùng nhau tham gia văn nghệ và các hoạt động xã hội. Hằng vô tư, vui nhộn. Mẹ Hằng thấy chúng tôi thân thiết nên vun vào cho hai đứa. Hằng vào quân ngũ, tôi ở nhà thỉnh thoảng sang giúp mẹ Hằng đỡ đần công việc. Cái ngày mẹ Hằng ốm nặng, nằm bệnh viện tôi đã thay Hằng chăm sóc chu đáo. Tuy chưa được sự đồng ý của Hằng nhưng gia đình tôi cũng đã mang trầu cau sang dạm ngõ vắng mặt. Ngày Hằng ra quân, mẹ Hằng ép phải lấy tôi. Bà cụ như thấy đó là cách để trả món nợ ân tình. Bà bảo, nếu Hằng không lấy tôi bà sẽ chết cho coi. Hằng buồn lắm. Hằng nhẹ nhàng nói với mẹ: “Mẹ ơi! Con đã có người yêu rồi! Anh ấy đang đi học sĩ quan. Mai mốt anh ấy về sẽ ra mắt gia đình ta”. Mẹ Hằng không ăn, không ngủ rồi sinh bệnh. Hằng động viên mẹ bao nhiêu thì bà càng lặng im, quay mặt. Hằng đau khổ, buồn rầu. Thương mẹ, sợ mẹ làm liều nên Hằng bằng lòng lấy tôi. Đứa con gái của chúng tôi chào đời khi chưa đầy tám tháng sau ngày cưới. Nghe mọi người dị nghị, đồn thổi, thêu dệt những câu chuyện tình ái của Hằng, tôi buồn bực sinh ra rượu chè, cờ bạc.

          Kể đến đây, ánh mắt Bằng nhìn ra khoảng sân trống vắng, những dấu ấn của sự đau khổ, mất mát như đang hiện về: “Cô nói đi, đứa con này là của ai? Cô đã ăn nằm với ai có bầu rồi đổ vạ cho tôi hả?”. Hằng im lặng. Một sự im lặng lạnh lùng càng làm cho tôi trào dâng cơn tức giận: “Hả! Cô nói đi. Thằng nào đã cắm sừng lên đầu tôi? Nhục ơi là nhục. Tôi tưởng cô là người tử tế. Tôi luôn tin tưởng đến cô, vậy mà tôi phải trả cái giá như thế này đây! Đồ phản bội...”. Tôi nói chưa dứt lời thì Hằng đã chen ngang: “Anh im đi, anh không được nói tôi như vậy. Đứa con này là của tôi. Không của ai hết”. Tôi dang tay tát vào mặt Hằng. Hằng đau đớn chạy vào bế con, muốn đi đâu đó...

          Bằng ngừng kể xem tôi có phản ứng gì không. Thấy tôi thở dài, Bằng cúi thấp đầu như người có lỗi. Sợ tôi phải chờ đợi lâu, Bằng kể tiếp câu chuyện:

          - Rồi chúng tôi vào vùng kinh tế mới A Lưới lập nghiệp, như để quên đi những lời dị nghị của người đời. Thư càng lớn càng xinh đẹp giống mẹ. Còn Hằng thì ngày càng tiều tụy vì cuộc sống bất hạnh bên người chồng rượu chè. Và rồi Hằng qua đời khi một cơn bệnh nan y không phương cứu chữa.

           Kể đến đây giọng Bằng như nghẹn lại. Còn tôi quay mặt lau những giọt nước mắt đang chực trào xuống. Rồi Bằng cho tôi hay, Thư đã lấy chồng và đang sinh sống ở thành phố Huế.

          Chia tay Bằng với cái bắt tay ấm áp trong ngọn gió xuân mát dịu. Tôi ân hận thấy mình là người có lỗi trong chuyện này. Mấy năm công tác ở Đồn Biên phòng cửa khẩu Hồng Vân, tôi vô tình không tìm kiếm tin tức về gia đình Hằng. Vậy mà giờ đây khi biết được thì Hằng đã mãi mãi đi xa. Câu chuyện truyền kỳ bên dòng Ô Lâu đang còn đó.

                            

                                      *

          Tôi về Huế theo địa chỉ của Bằng đã cho, để tìm đứa con gái sau mấy mươi năm xa cách. Cơn đau dạ dày kinh niên đã hành hạ, làm tôi phải vào Bệnh viện Trung ương Huế. Gần chục ngày điều trị, được các bác sĩ, điều dưỡng chăm sóc tận tình, chu đáo nay xuất viện. Tôi xách cặp cất bước đi ra thì có một cô gái hớt hãi chạy khắp các phòng bệnh, giọng hốt hoảng:

          - Mọi người ơi! Xin mọi người ai có nhóm máu O phù hợp để truyền cho đứa con tôi bị tai nạn...!

          Cô gái nhìn tôi như cầu khẩn. Tôi hiểu. Tôi rút ví lấy một ít tiền đưa cho cô gái:

          - Cháu à! Bác có ít tiền, cháu cầm lấy để lo thuốc thang cho bé. Bác vừa ra viện nên sức khỏe đang còn yếu, chắc là...

          Nói chưa dứt lời, cô gái cảm ơn tôi rồi lắc đầu chạy đi.

          Ra đến cổng bệnh viện, cầm địa chỉ trên tay tôi kêu chiếc xe ôm. Nhưng ánh mắt cầu cứu của cô gái nọ cứ hiện lên trong đầu tôi. Hình ảnh đứa bé bị tai nạn quằn quại trong cơn đau, rồi ngất lịm khi bị thiếu máu cứ ám ảnh tôi. Tôi quay lại bệnh viện đi tìm cô gái, may ra còn kịp nếu như tôi có nhóm máu phù hợp với cháu bé.

          Khi tôi tỉnh dậy thì thấy mình đang nằm trên giường trong bộ đồ bệnh nhân. Ngạc nhiên như đang trong giấc mơ, tôi co nhẹ chân định ngồi dậy thì một bàn tay nhẹ nhàng ấn tôi nằm xuống:

         - Anh cứ nằm cho khỏe đã.

          Sau vài giây, tôi nhận ra Bằng:

          - Sao anh lại ở đây?

           Bằng không nói gì, chỉ tay sang cô gái đứng cạnh:

          - Anh biết ai đây không?

          Tôi nhìn trân trân cô gái, rồi cũng dần nhớ lại mọi chuyện. Đó là cô gái hôm qua tôi đã cho con cô ấy máu để truyền, khi ấy tôi mệt quá thiếp đi lúc nào không biết. Như thấy tôi đã bình tĩnh trở lại, Bằng chỉ vào cô gái và nhẹ nhàng cất giọng:

         - Thư đó! Con gái anh đó!

          Tôi nhìn Thư không chớp. Khuôn mặt ấy, nước da ấy tôi thấy như Hằng đang hiện về. Cô gái nhẹ nhàng ngồi xuống ôm lấy tôi rồi nức nở, nghẹn ngào:

          - Ba ơ…i! Thư đây, con gái của ba đây!

          Tôi lấy hết sức bình tĩnh, cố ghìm cơn xúc động:

          - Con! Thư của ba đây rồi!

          Những giọt nước mắt vui sướng của tôi lăn dài trên gò má, rơi xuống bàn tay Thư nóng ấm. 

          Tôi sang phòng bệnh cạnh bên, ngắm nhìn đứa cháu ngoại đang  say sưa trong giấc ngủ sau một đêm cấp cứu thành công. Đứa cháu bụ bẫm đang nằm đó như là một báu vật quí giá nhất trong đời tôi mà lâu nay tôi hằng mong ước. Lòng tôi lâng lâng niềm hạnh phúc tràn trề, muốn nhào đến ôm chặt lấy nó.

          Hằng ơi! Vậy là anh đã toại nguyện. Anh đã làm được điều trăng trối của em trước khi em về với tổ tiên. Anh sẽ bảo vệ chăm sóc cho con, bù đắp cho cháu tình yêu thương, những mất mát mà lâu nay chúng đang chịu thiệt thòi.

          Ngọn gió đầu hạ đang mơn man trên mái đầu bạc trắng của tôi, một cảm giác lâng lâng ùa về.


Nguyễn Đại Duẫn

Email: nguyenduanqh@gmail.com

https://www.facebook.com/nguyenduanqh

 

                                 

 

 

 

 

 

READ MORE - HẰNG VÀ TÔI - Truyện ngắn: Nguyễn Đại Duẫn

Youtube: Ca khúc EM VỀ THĂM QUẢNG TRỊ - Thơ: Nguyễn Thị Hương - Nhạc: Phan Ni Tấn - Giọng ca: Hà Thanh - Hòa âm: Đỗ Hải

 




EM VỀ THĂM QUẢNG TRỊ

Thơ: Nguyễn Thị Hương




Em đi giữa hoàng hôn Quảng Trị

Ngỡ mắt ai thuở tuổi hai mươi

Ngỡ lời anh ngày còn vụng dại

Gió rát mưa chiều rơi miên man

Em qua ngọn gió xưa Quảng Trị

Nghe nắng chiều cõng những cơn mưa

Nghe cát níu chân đầu đội nắng

Nắng buồn theo gió rụng lê thê

Mùa hạ em về thăm Quảng Trị

Vắng ai bên hiên đời năm cũ

Nghe thoáng bóng chiều rơi cuối mắt

Cánh phượng buồn rụng đỏ mênh mông

Anh đi giữa hoàng hôn Quảng Trị

Ngỡ áo ai còn bay trong xưa

Ngỡ đường xưa chiều còn ngập ngừng

Nắng rất nghiêng tỏa bóng xanh che

Anh trên ngọn núi kia Ngự Bình

Nghe nước mòn chảy ướt sông Hương

Nghe thớ đất nuôi hồn Thành Cổ

Gối đầu lên giấc ngủ ơi thương

Mùa hạ anh về thăm Quảng Trị

Tiếng em xưa tan trường qua lới

Nghe thoáng áo dài bay rất mới

Trắng dại bờ Thạch Hãn sông ơi

Em đi qua mấy nhịp cầu

Còn nghe gió cõng giọt sầu riêng anh

Anh đi qua mãi một thời

Còn nghe nước chảy duềnh trời quê em

Nguyễn Thị Hương

Tháng 6. 2023

https://www.facebook.com/huong.nguyen.thi.942137

 

READ MORE - Youtube: Ca khúc EM VỀ THĂM QUẢNG TRỊ - Thơ: Nguyễn Thị Hương - Nhạc: Phan Ni Tấn - Giọng ca: Hà Thanh - Hòa âm: Đỗ Hải

CẢM ƠN TÌNH ĐẦY TRÀN - Thơ: Quách Như Nguyệt

Tác giả Như Nguyệt



Cảm Ơn Tình Đầy Tràn


Em ích kỷ nên muốn mình sẽ là người đi trước

Sợ phải ở một mình trống vắng chẳng còn anh

Tối hôm nay mưa buồn rơi lướt thướt

Buồn bất ngờ, buồn kéo đến quẩn quanh



Không có anh, computer hư, ai sửa?

Internet down, việc nhà cửa ai lo?

Mỗi sáng sớm, trước khi ra khỏi cửa

Ai bóp chân, đắp chăn ấm cho em?

Ai hôn em, nói nhớ em nhiều lắm!

“I’ve missed you already. Chiều về gặp cưng nha”

Lời thương yêu anh nói rất thật thà

Anh nhắc đi nhắc lại nhiều lần “I love you!”,

Em nghe mãi, nghe hoài... không bao giờ thấy chán



Không có anh, ai tình nguyện làm tài xế

...chở em đi chơi, đi công việc, ăn hàng

Ai nhường nhịn, nuông chìu, ai âu yếm thương nàng

Ai nhìn em ấm áp, ai kể chuyện “tếu” cho em cười

Thấy em cười, ai sung sướng cười theo?



Không có anh, đời buồn lắm, anh ơi!

Nên bây giờ còn anh, được ở bên cạnh anh, thấy hạnh phúc vô vàn!

Cảm ơn tình đầy tràn!

Rất trân quý tình mình, thương anh nhiều anh hỡi!



Như Nguyệt

May 18th, 2026

nhunguyet9963@gmail.com

https://www.facebook.com/quach.nhu.nguyet

READ MORE - CẢM ƠN TÌNH ĐẦY TRÀN - Thơ: Quách Như Nguyệt

VÀI NGHĨ VỤN TỪ ĐÁM CƯỚI SÁNG NAY - Đặng Xuân Xuyến

 

Hình của Chat GPT

VÀI NGHĨ VỤN

TỪ ĐÁM CƯỚI SÁNG NAY

 

 Sáng ra quán nước mua cốc trà nóng về uống cho tỉnh ngủ, thấy cậu trai trẻ nhìn quen quen mặc áo chú rể đỏ choét chuẩn bị lên xe đi rước dâu. Hỏi cô bán bánh bao đầu ngõ mới nhớ ra chú rể ngày bé thường sang nhà chơi với "anh Đặng Tuấn Hưng", kém anh Đặng Tuấn Hưng chừng 5, 6 tuổi.

 

Ồ mà lạ nhỉ, ngày hôm nay là ngày 10 tháng 4 âm lịch thuộc Trực Nguy, Sao Dực, là ngày Bạch Hổ (Hắc đạo) rất xấu với nhiều việc, nhất là mấy việc trọng đại như cưới hỏi, xây nhà, khởi nghiệp,... sao không tiến hành vào ngày mai, ngày 11 âm lịch, là ngày Ngọc Đường (Hoàng Đạo), thuộc Trực Thành, Sao Chẩn rất tốt cho nhiều việc, là ngày cực đẹp với mấy việc trọng đại của đời người như cưới hỏi, xây nhà, khởi nghiệp,... mà lại tổ chức vào ngày hôm nay?!

 

Giờ lắm "thầy", mỗi "thầy" một sách, một kiểu chẳng biết đâu mà lần. Tựa như chiều qua vô tình nghe video "thầy" phong thủy M ở Hải Phòng giảng với "tín đồ" rằng "cửa phòng ngủ mà thường xuyên đóng lại thì có thể còn khuyết một ngôi nhà, thậm chí còn có thể mất người." Tôi ngớ người thắc mắc: Ơ, phòng ngủ không đóng cửa mà cứ mở tông hốc cho mọi người tự do nhòm ngó à? Vậy có bao nhiêu trường hợp cụ thể đã "mất người" vì "cửa phòng ngủ thường xuyên đóng"? Mà oái oăm thế, cửa phòng không đóng thì làm cửa để làm gì? Rồi nghe "thầy" M giảng giải: "Bởi vì xây nhà rất đẹp, xây phòng ngủ rất đẹp để sau này về già xuống đấy ở đỡ phải leo lên leo xuống, nhưng mà chưa dùng đến thì đóng cửa lại, thì nó khuyết ở phía sau, nó khuyết gần như mất luôn.". Tôi lại ngớ người: Phòng bỏ trống chưa sử dụng sao quy chụp đó là phòng ngủ? Phòng nằm trong diện tích nhà nguyên căn của chủ nhà, có bán cho ai đâu mà khẳng định là "khuyết ở phía sau", "khuyết gần mất luôn"?

 

Hay như "thầy" phong thủy T ở Bắc Ninh tuyên bố "5 tuổi này cả đời không giữ được tiền", dù "họ là người rất thông minh, tháo vát, nhanh nhẹn, biết nắm bắt thời cơ để giàu lên, tuy nhiên lại là người tiêu xài hoang phí, tiền vào cửa trước thì ra cửa sau, có tiền là nghĩ ngay tiêu gì bây giờ. Đó là các tuổi Đinh Mão (1987), Canh Ngọ (1990), Tân Mùi (1991), Ất Hợi (1995), Kỷ Mão (1999)". Tôi mỉm cười với lời nhận xét phản thực tế của "thầy" T này. Chưa bàn đến sự hồ đồ "vơ đũa cả nắm" của "thầy" T mà chỉ cần để ý một chút tới thực tế: Theo thời gian, sự phóng khoáng của tuổi trẻ sẽ dần chuyển thành sự cẩn trọng trong chi tiêu. Và người kiếm tiền giỏi luôn là người biết bảo vệ thành quả của họ sau những trải nghiệm thăng trầm lúc tuổi trẻ thì lời "phán" của "thầy" T nghe thật câu view.

 

Cũng khá nhiều "thầy" phong thủy trên mạng "rao giảng" rằng bàn thờ đối diện với cửa chính sẽ làm tán gia bại sản, bởi bàn thờ thuộc Âm, cửa chính thuộc Dương, bàn thờ thuộc Hỏa khí, cửa chính thuộc Thủy khẩu. Khi bàn thờ cần yên tĩnh để hội tụ phúc khí thì cửa chính lại là nơi động khí mạnh nhất của ngôi nhà đã tạo thế xung khắc trực diện khiến gia chủ nóng tính, hấp tấp, dễ ra những quyết sách sai lầm khiến phúc khi bị suy tán mà các "thầy" phong thủy đó lại quên rằng cửa chính là nơi nạp khí, gồm cả sinh khí và vượng khí, nó không mang Ngũ hành là Thủy khí để khắc Hỏa khí của bàn thờ. Và khi bàn thờ được đặt đối diện với cửa chính, sẽ lập tức đón nhận và hấp thu năng lượng tươi mới, tích cực từ cửa chính để kích hoạt phúc lộc. Hơn nữa, kinh nghiệm phong thủy của cổ nhân có câu "Động vi tiên, Tĩnh vi hậu" để diễn giải khí từ cửa chính đi vào mang tính "Động", gặp bàn thờ được toạ sơn vững chắc là điểm dừng mang tính "Tĩnh", là sự biến đổi từ "Động" sang "Tĩnh" giúp bàn thờ tụ khí để kích hoạt phúc lộc. Thực tế, từ cổ xưa, ông cha ta đã luôn đặt bàn thờ ở gian chính giữa nhìn thẳng ra cửa chính để cầu mong được gia tiên trấn giữ môn hộ, xua đuổi tà khí và che chở lâu dài cho con cháu.

 

Ngay đến cả "thầy" A, một người khá nổi danh trong giới Tử Vi cả trong và ngoài nước, cũng luôn "xuất xưởng" khá nhiều video mang tính câu view. "Thầy" thừa biết Tử Vi căn cứ vào Giờ / Ngày / Tháng / Năm sinh cụ thể của mỗi người để lập Lá số Tử Vi của riêng mỗi người vậy mà "thầy" ra những video câu view dễ dãi: Tuổi Thân là tuổi khổ nhất trong 12 con Giáp, Nhà nào có 3 tuổi Ngọ, Hợi, Tỵ rất nhiều phúc khí, Tuổi Thìn vì sao lại long đong, lận đận nhất trong 12 con Giáp, Mẹo dân gian giúp vợ chồng hoà thuận, tình cảm mặn nồng, Tuổi Dần là tuổi vất vả trong hôn nhân nhất,...

 

Thế mới thấy, thời buổi công nghệ số, "thầy" trên mạng mọc lên như nấm sau mưa. Từ chuyện cưới xin, đóng mở cửa phòng, cho đến việc kiếm tiền giữ tiền hay đặt bàn thờ,... mỗi "thầy" phán một kiểu để câu view, để tạo "cốt" mà chẳng cần đến tính thực tế hay căn cứ khoa học nào vậy mà các "tín đồ" cứ răm rắp nghe theo, sùng bái y như đang được vọng bái những thần nhân. Cứ đà này thì xã hội này chẳng mấy chốc sẽ loạn cào cào vì những trò mê tín dị đoan.

 

Thôi thì phúc lộc hay họa hại cũng đều từ tâm và hành động của chính mình mà ra nên cứ sống tử tế, chăm chỉ làm ăn và giữ một cái đầu tỉnh táo trước ma trận những "thầy mạng", mới là lá bùa bình an nghiệm nhất cho cuộc đời.

 

Nhớ lại chuyện chú rể trẻ đầu ngõ sáng nay, khi nhìn chiếc xe hoa lăn bánh, tôi thầm chúc cho 2 cháu trăm năm hạnh phúc. Ngày xấu hay ngày tốt không hẳn quan trọng vì suy cho cùng đó cũng chỉ là niềm tin tín ngưỡng trong dân gian, không quan trọng bằng lòng 2 cháu luôn hướng về nhau, luôn sống vì nhau và trao cho nhau những gì tốt đẹp nhất.

 

*.

 

Hà Nội, chiều 26 tháng 5-2026.

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

 

.

READ MORE - VÀI NGHĨ VỤN TỪ ĐÁM CƯỚI SÁNG NAY - Đặng Xuân Xuyến

YouTube: NHỚ QUẢNG TRỊ - Ca khúc của Hoàng Lương


 

READ MORE - YouTube: NHỚ QUẢNG TRỊ - Ca khúc của Hoàng Lương

CHÙM YẾT HẬU - Thơ: Lưu Lãng Khách

  



1.

Rạng sáng quá buốt giá

Trưa phai làn môi hồng

Tối đặc sệt bóng ngả

Đông!

        Đông 1983

   Duy Toàn Bàu Đình

 

2.

Phượng vĩ đỏ mắt biếc

Sân trường hồng tên ai

Gạt nước mắt giã biệt

Mai!

           Hè 1983

   Duy Toàn Bàu Đình

 

3.

Gặp nhau chẳng nói nhiều

Tâm sự tỏ bao nhiêu

Dầu cạn nằm thao thức

Yêu!

          Xuân 1983

   Duy Toàn Bàu Đình

 

4.

Chẳng hát khúc tiễn biệt

Sao lòng đà như là

Mắt biếc đọng nuối tiếc

Xa!

           Hè 1983

    Duy Toàn Bàu Đình

 

  

5.

Anh đây chàng thư sinh

Thương non sông quê mình

Yêu bao tà lung linh

Tình!

          Xuân 1982

    Duy Toàn Bàu Đình     

 

6.

AO

Ta niêm phong tình trao

Ai ngơ luôn vì sao!

Hay là quen làm cao

Ao!

      Xuân 1981

 Duy Toàn Bàu Đình

 

7.

LÚC CHIỀU TÀ   

Chiều Trà giang ươm sương

Đôi bờ thu vương vương

Hình môi cười đêm về

Thương!

           Thu 1982

    Duy Toàn Bàu Đình

 

8

Đưa xuân qua hè sang

Thu ai lên đò ngang

Mang giùm yêu mơ tàn

Tan!

 

9

Thương ai đời hồng nhan

Đau tình đơn không than

Bên đôi bờ thu vàng

Tàn!

        Thu 1982

   Duy Toàn Bàu Đình

 

10

Vàng thu sa sanh tình

Đường quê ai đơn hình

Nhìn trăng lên cô thinh

Mình!

        Thu 1982

   Duy Toàn Bàu Đình      

 

 

READ MORE - CHÙM YẾT HẬU - Thơ: Lưu Lãng Khách