Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Phạm Đình Nhân. Show all posts
Showing posts with label Phạm Đình Nhân. Show all posts

Sunday, August 30, 2020

ĐỀN KIẾP BẠC VÀ NIỀM TIN CẦU PHÚC, TRỪ TÀ, BAN CON, BAN CHỨC - Đặng Xuân Xuyến

 


ĐỀN KIẾP BẠC VÀ NIỀM TIN CẦU PHÚC, TRỪ TÀ, 

BAN CON, BAN CHỨC

 

Trong tâm thức dân gian, Hưng Đạo Đại Vương được vinh danh là đức Thánh Trần và đồng nhất Ngài với Ngọc Hoàng thượng đế, từ đó tạo nên một dòng Đạo Nội - đạo Thanh Đồng, mà đức Thánh Trần là giáo chủ.

 

 Suốt mấy trăm năm qua, Đức Thánh Trần đã thực sự có ảnh hưởng sâu đậm tới đời sống tâm linh của người dân Việt. Nhất là tín ngưỡng hầu đồng, ban ấn... ở đền Kiếp Bạc.

 

Hầu đồng là một nghi thức trong hoạt động tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Về bản chất, đây là nghi thức giao tiếp với thần linh thông qua các ông đồng, bà đồng. Người ta tin các vị thần linh có thể nhập hồn vào thân xác các ông đồng, bà đồng nhằm phán truyền, diệt trừ tà ma, chữa bệnh, ban phúc, ban lộc cho các con nhang, đệ tử. Khi thần linh nhập vào đồng thì lúc đó các ông đồng, bà đồng không còn là mình nữa mà là hiện thân của vị thần nhập vào họ. Người đứng giá hầu đồng gọi chung là Thanh Đồng, Thanh Đồng là nam giới thì được gọi là "Cậu", nữ giới được gọi là "Cô hoặc Bà đồng".

 

Ngoài việc lên đồng để giao tiếp với thần linh, tín ngưỡng truyền thống Việt Nam còn tin rằng sau khi chết, linh hồn người chết vẫn còn và theo dõi cuộc sống của người thân đang sống.

 

Do đó, khi lên đồng, linh hồn của người chết có thể nhập vào Đồng Cô, Đồng Cậu để trò chuyện với thân nhân đang sống. Thông qua cuộc trò chuyện này, người sống sẽ biết được những yêu cầu của người thân đã quá cố và người sống cũng biết được vận mạng tương lai của mình.

 

Trong ngày hội, những người đàn bà mắc chứng vô sinh, hiếm muộn hoặc mắc các chứng bệnh của phụ nữ... đến Đền cúng bái. Thầy cúng sẽ dùng roi dâu đánh vào người “bệnh nhân” và “bệnh nhân” ấy lăn lộn, thậm chí lăn xuống sông, thì coi như tà ma đã được diệt trừ (xuất phát từ truyền thuyết Hưng Đạo Đại vương chém Phạm Nhan). Người ta tin rằng, với uy danh của đức Thánh Trần trừ diệt được Phạm Nhan thì mọi tà ma đều được trừ diệt.

 

Ngoài ra, trong hội đền Kiếp Bạc, nhân dân còn đến Đền mua thuốc ở Nam Tào (Dược Sơn) về uống rất là hiệu nghiệm.

 

Dân trong vùng có tục lệ đầu năm đến đền Kiếp Bạc để cầu được bình an, học hành hiển đạt, làm ăn phát tài, tránh được mọi điều xui xẻo và phổ biến nhất là việc cầu được có con nối dài hương hỏa.

 

Tục truyền, người đến cầu con khi đến Đền, phải tuân thủ: "Vào cửa cha, ra cửa mẹ" (Dưới pho tượng đồng của Đức Thánh Trần và Đức Quốc mẫu có cửa chui qua) hay xin một ít đất ở mô cao sau Đền thì thế nào cũng sẽ được thỏa nguyện. Dân gian còn tín: nhà nào "hữu sinh vô dưỡng" hoặc con sinh phạm vào giờ quan sát, thiết tỏa...  khó nuôi thì làm lễ bán khoán vào Đền. Đến năm đứa trẻ 12 tuổi thì gia đình biện lễ chuộc con về, làm như thế đứa trẻ sẽ được bình yên vô sự.

 

Theo lệ cổ, đêm 18 tháng 8 (Âm lịch), trước ngày ngày giỗ Đức Thánh Trần, chính quyền sở tại cùng với thủ từ làm lễ đóng ấn vào một tấm lụa màu vàng để đến hội ban cho khách thập phương.

 

- Ấn thứ nhất, kích thước 10cm x 10cm, khắc chữ Trần triều Hưng Đạo vương chi ấn (ấn của Hưng Đạo vương triều Trần).

 

- Ấn thứ hai, kích thước 5,5cm x 5,5cm, khắc 4 chữ Quốc pháp Đại vương (Đại vương nắm (giữ) phép nước).

 

- Ấn thứ ba, kích thước 4,3cm x 4,3cm, khắc 4 chữ Vạn Dược linh phù (Bùa thiêng Vạn Dược).

 

- Ấn thứ tư, kích thước 5,2cm x 7,8cm, khắc 6 chữ Phi thiên thần kiếm linh phù (Bùa thiêng phi thiên thần kiếm).

 

 Muốn cầu được thăng quan tiến chức thì xin ấn Triều triều Hưng Đạo vương chi ấn, hoặc Quốc pháp Đại vương; cầu được sinh con, cầu xin việc trừ tà sát quỷ, diệt giặc dã, giữa bệnh, thì xin ấn Phi thiên thần kiếm linh phù.

 

Sau khi làm lễ ban ấn, nhân dân xin ấn về treo ở nhà để gặp nhiều may mắn. 

 ***

(Trích từ VÀO CHÙA LỄ PHẬT NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT của Đặng Xuân Xuyến ; Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin 2006)

 

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

READ MORE - ĐỀN KIẾP BẠC VÀ NIỀM TIN CẦU PHÚC, TRỪ TÀ, BAN CON, BAN CHỨC - Đặng Xuân Xuyến

Monday, November 10, 2014

THƠ ĐƯỜNG CHỌN DỊCH: VŨ PHẠM KHẢI - Phạm Đình Nhân dịch - Dịch giả Ngọc Châu giới thiệu

Phần 10 "108 bài thơ Đường chọn dịch"

(Tiếp theo kỳ trước)

21. VŨ PHẠM KHẢI
      (1807 – 1872)


Vũ Phạm Khải người làng Phượng Trì, xã Yên Mạc, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Ông tự là Đông Dương, hiệu Ngu Sơn. Đỗ Cử nhân khoa Tân Mão (1831), làm quan qua Tham biện Nội các, Bố chính Thái Nguyên. Là văn thân phe chủ chiến trong triều Nguyễn khi Pháp xâm lược. Tác phẩm : Đông Dương văn tập, Ngu Sơn toàn tập, Dưỡng Trai tập v.v…

81. QUÁ HOÀNH SƠN

Nguyên tác:  過  橫  山

幾  度  桑  滄  一  夢  惺
依  依  石  骨  走  滄  溟
地  區  山  海  通  南  北
天  界  陰  陽  半  雨  睛
鉦  皼  尚  嚴  今  世  锁
風  霜  長  弔  昔  人  城
亨  逢  四  海  為  家  會
一  日  登  臨  萬  古  情


Phiên âm:  Quá Hoành Sơn

Kỷ độ tang thương nhất mộng tinh,
Y y thạch cốt tẩu thương minh.
Địa khu sơn hải thông Nam Bắc,
Thiên giới âm dương bán vũ tình.
Chinh cổ thượng nghiêm kim thế tỏa,
Phong sương trường điếu tích nhân thành.
Hạnh phùng tứ hải vi gia hội,
Nhất nhật đăng lâm vạn cổ tình.


Dịch giả Phạm Đình Nhân

Dịch thơ :       
Qua Hoành Sơn (1)                       
                          Phạm Đình Nhân
                          Dịch 2005

Biển dâu biến đổi  giấc mơ nhanh,
Cốt đá còn nguyên vươn biển xanh.
Nam Bắc thông thương đường núi biển,
Âm dương mưa nắng dệt đan mành.
Trống chiêng nghiêm cẩn nay còn đó,
Sương gió luôn thăm mãi lũy thành(2).
Bốn bể một nhà cùng tụ hội,
Một ngày lên đó vạn tâm tình.



Dịch giả Ngọc Châu

Qua Đèo Ngang
                          Ngọc Châu
                          Dịch 2014

Biển dâu biến đổi nhanh sao
Còn nguyên cốt đá ngày nào vươn ra
Bắc Nam thủy bộ thuận hòa
Âm dương mưa nắng trời già dệt đan
Trống chiêng còn với nhân gian
Gió sương thăm thẳm thành đan lũy dầy
Bốn bể một nhà chung tay
Qua Hoành Sơn một ngày bao tâm tình. 


82. THÚY HOA SƠN

Nguyên tác:  翠  花  山

天  家  樂  界  卽  蓬  瀛
江  漢  風  流  萬  古  情
海  一  湾  通  晴  展  鏡
山  千  疊  下  倒  圍  屛
门  深  白  雀  棲  玄  樹
晝  靜  晨  鐘  響  太  清
慾  上  幾  層  調  淑  塔
五  雲  多  處  辦  神  京

Phiên âm: Thuý Hoa sơn

Thiên gia lạc giới tức Bồng Doanh,
Giang Hán phong lưu vạn cổ tình.
Hải nhất loan thông tình triển kính,
Sơn thiên điệp hạ đảo vi bình.
Môn thâm bạch tước thê huyền thụ,
Trú tỉnh thần chung hưởng thái thanh.
Dục thướng kỷ tằng Điều Thục tháp,
Ngũ vân đa xứ biện Thần kinh 

Dịch thơ:       
Núi Thúy Hoa (1)
                         Phạm Đình Nhân
                         Dịch 2005

Như nơi thiên giới cảnh Bồng Doanh(2),
Giang Hán phong lưu ấy vạn tình.
Một vịnh xanh trong như tấm kính,
Nghìn non trùng điệp tạo lam bình.
Cổng sâu, chim trắng nghiêng cây đậu,
Ngày vắng, chuông ngân lặng tiếng thinh.
Những muốn trèo lên Điều Thục tháp,
Nhìn mây ngũ sắc cảnh Thần Kinh.                                 
              

Thúy Hoa sơn
                        Ngọc Châu
                        Dịch 2014
  
Như cảnh tiên chốn Bồng Doanh
Nơi Giang Hán cũng muôn tình phong lưu
Vịnh xanh như kính lam chiều
Núi non trùng điệp bao nhiêu mơ màng
Cổng sâu chim trắng điệu đàng
Chuông ngân tiếng vọng ngày càng vắng thêm
Tháp Điều Thục  muốn trèo lên
Nhìn  mây ngũ sắc nhuộm miền Thần Kinh

Chú thích:
Qua Hoành Sơn
(1) Hoành Sơn tức Đèo Ngang nối giữa tỉnh Hà Tĩnh và tỉnh Quảng Bình.
(2) Trên núi này có di tích lũy đá, dân thường gọi là lũy ông Ninh do Trịnh Ninh, tức Ninh Quận công Trịnh Toàn xây dưng trong thời gian Trịnh – Nguyễn phân tranh. Đó là theo dân gian truyền lai. Nhưng theo bài Thư bàn về viết sử. của Vũ Phạm Khải đoạn nói về Hoành Sơn  (Đông Dương thi văn tuyển. NXBKHXH. H. 1991), Vũ Phạm Khải cho rằng không phải.

Núi Thúy Hoa
(1) Núi Thúy Hoa thuộc huyện Phú Vang, Thừa Thiên-Huế.
(2) Bồng Doanh tức Bồng Lai và Doanh Châu, tương truyền là hai trong số ba ngọn núi tiên ở ngoài biển
READ MORE - THƠ ĐƯỜNG CHỌN DỊCH: VŨ PHẠM KHẢI - Phạm Đình Nhân dịch - Dịch giả Ngọc Châu giới thiệu

Friday, October 31, 2014

THƠ ĐƯỜNG CHỌN DỊCH: PHẠM VĂN NGHỊ - Phạm Đình Nhân dịch - Dịch giả Ngọc Châu giới thiệu

Phần 10 "108 bài thơ Đường chọn dịch".


(Tiếp theo kỳ trước).

20. PHẠM VĂN NGHỊ
      (1805 – 1881)
Phạm Văn nghị người xã Tam Đăng, tổng An Trung, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng, nay là thôn Tam Quang, xã Yên Thắng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Đỗ Hoàng giáp năm 1838. Làm quan rồi về mở trường dạy học đào tạo nhiều danh nhân nổi tiếng. Khi Pháp xâm lược, ông dâng Trà Sơn kháng sớ. Ông là một nhà thờ yêu nước tiêu biểu nửa cuối thế kỷ XIX. Ông mất năm Canh Thìn (1880) hưởng thọ 75 tuổi.


78. CẢM TÁC

Nguyên tác: 
感  作

案  上  無  燈  残  影  入
檐  頭  苦  雨  落  聲  来

天  时  人  事  何  如  此
明  发  令  人  不  放  懷


Phiên âm: 
Cảm tác

Án thượng vô đăng tàn ảnh nhập,
Thiềm đầu khổ vũ lạc thanh lai.
Thiên thời nhân sự hà như khử?
Minh phát, linh nhân bất phóng hoài.


Dịch giả Phạm Đình Nhân


Dịch thơ:       
Cảm tác
                        Phạm Đình Nhân
                        Dịch 2005


Trên án đèn hoa sao lắt lay,
Ngoài hiên mưa gió não nề thay.
Cơ trời, nhân sự ra sao nhỉ?
Man mác lòng ta nỗi nhớ này.


Dịch giả Ngọc Châu

Cảm tác 
                         Ngọc Châu
                         Dịch 2014


Án hương không đèn, ảnh lay
Ngoài hiên mưa gió tạt bay não nề
Cơ trời, thế sự u mê
Nhớ chi man mác ủ ê lòng này?




79. BÁT NGUYỆT VŨ LẠO,
      THẦN KHỞI NGẪU TÁC

Nguyên tác:
八  月  雨  潦  晨  起  偶  作

自  夏  徂  秋  四  水  灾
劬  勞  周  野  菁  聲  哀
兰  花  不  解  忧  千  意
常  有  芗  风  扑  劓  来


Phiên âm : 
Bát nguyệt vũ lạo, thần khởi ngẫu tác

Tự hạ tồ thu, tứ thủy tai,
Cù lao chu dã, nhạn thanh ai.
Lan hoa bất giải ưu thiên ý,
Thường hữu hương phong phốc tị lai.


Dịch thơ : 
Tháng tám mưa lụt, sớm dậy chợt viết
                              Phạm Đình Nhân
                              Dịch 2005

Từ hạ sang thu bốn lụt rồi,
Công lao mất hết tiếng kêu trời.
Hoa lan chẳng thấu ta phiền muộn,
Mà vẫn đưa hương khắp mọi nơi.


Viết trong mưa lụt tháng 8                                   
                           Ngọc Châu
                           Dịch 2014

Hạ, thu, bốn lần lụt rồi
Công lao mất hết, kêu trời lan xa
Hoa lan chẳng thấu lòng ta
Cứ đưa hương tới nhà nhà, nơi nơi.


80. XUÂN NHẬT TỰ THUẬT

Nguyên tác:
春  日  自  述

事  事  偕  称  心
唯  有  一  不  滿
初  敌  落  楊  人
情  分  非  绛  觀
孤  讞  深  慮  患
逢  此  國  多  难
仰  屋  图  設  嘆

Phiên âm: 
Xuân nhật tự thuật[3]

Sự sự giai xứng tâm,
Duy hữu nhất bất mãn :
Sơ địch Lạc Dương[4] nhân,
Tình phận phi Giáng, Quán[5].
Tiết thứ phụng châu phê,
Cô nghiệt thâm lự hoạn.
Phùng thử quốc đa nan,
Ngưỡng ốc đồ thiết thân.


Dịch thơ : 
Tự thuật ngày xuân
                       Phạm Đình Nhân
                       Dịch 2007

Mọi việc đã vừa lòng,
Duy một điều chưa xong :
Khách Lạc Dương còn đó,
Tình Quán Giáng đâu còn?
Châu phê đôi ba lượt,
Đường hoạn nạn vẫn còn,
Vận nước lúc nguy nan,
Nhìn mái nhà thở than.


Cảm nghĩ ngày xuân
                     Ngọc Châu
                     Dịch 2014


Mọi thứ đã tạm yên lòng
Duy còn một việc vương trong dạ này:
Lạc Dương tích xưa còn đây
Quán, Giang trung tín ngày nay có là?
Châu phê đôi lượt ban ra
Hoạn nạn nào đã lui xa mở đường
Vận nước đang lúc tai ương
Nhìn lên than thở thượng phương thấu cùng.



[3] Bài thơ viết trong dịp Phạm Văn Nghị chuẩn bị đưa đoàn quân Nghĩa Dũng vào Đà Nẵng đánh Pháp. Đoàn quân lên đường ngày 27.2.1860
[4] Khách Lạc Dương chỉ Giả Nghị, một nho sinh có tài được vua Hán tin dùng, sau có kẻ gièm pha nên bị vua Hán xa lánh. Tác giả tự ví mình như Giả Nghị, có ý  ám chỉ việc ông mộ quân tình nguyện vào Đà Nẵng đánh giặc bị một số triều thần gièm pha là chia quyền của triều đình.
[5] Giáng, Quán : chỉ Giáng hầu Chu Bột và Quán Anh là 2 cận thần được vua Hán Văn đế tin dùng

(Còn tiếp)
READ MORE - THƠ ĐƯỜNG CHỌN DỊCH: PHẠM VĂN NGHỊ - Phạm Đình Nhân dịch - Dịch giả Ngọc Châu giới thiệu

Saturday, October 25, 2014

THƠ ĐƯỜNG CHỌN DỊCH: VŨ TÔNG PHAN - Phạm Đình Nhân dịch - Dịch giả Ngọc Châu giới thiệu

 Phần 10 "108 bài thơ Đường chọn dịch"

(Tiếp theo kỳ trước)

19. VŨ TÔNG PHAN
      (1800 – 1851)

Vũ Tông Phan, người xã Hoa Đường, huyện Đường An nay là thôn Lương Ngọc, xã Thúc Kháng, Bình Giang, Hải Dương. Đỗ tiến sĩ năm 1826, làm quan bảy năm, sau cáo bệnh về hưu dạy học. Là một nhà thơ bạn xướng họa với Thần Siêu, Thánh Quát. Ông để lại nhiều thơ văn.


76. HƯƠNG GIANG TẾ NGUYỆT

Nguyên tác: 香  江  霽  月

姮  娥  推  出  广  寒  窗
一  片  银  河  落  帝  邦
不  夜  乾  坤  青  見  底
無  窮  舟  舰  影  成  双
延  新  渔  火  星  疏  淡
隔  岸  樵  歌  笛  幾  腔
触  境  友  人  冀  記  問
余  晖  曾  抚  到  泸  江


Phiên âm: Hương giang tế nguyệt

Hằng Nga thôi xuất Quảng Hàn song,
Nhất phiến Ngân Hà lạc đế bang.
Bất dạ càn khôn thanh kiến để,
Vô cùng chu hạm ảnh thành song.
Duyên tân ngư hỏa tinh sơ đạm,
Cách ngạn tiều ca địch kỷ xoang.
Xúc cảnh hữu nhân liêu ký vấn,
Dư huy tằng phủ đáo Lô giang.


Dịch giả Phạm Đình Nhân


Dịch thơ: 
Trăng sông Hương sau tạnh mưa
                          Phạm Đình Nhân
                          Dịch 2005

Hằng Nga từ chốn cung Hàn,
Tung dòng Ngân xuống đế bang kinh thành.
Đất trời trong xuốt đáy xanh,
Thuyền về soi bóng nước thành hóa hai.
Sao chiều mờ ánh lửa chài,
Ven sông vọng khúc sáo dài tiều phu.
Cảnh tiên khiến kẻ muốn thu,
Ánh trăng thừa để chiếu bù Lô Giang(1)


 (1) Lô Giang, một tên cổ của sông Hồng.

Dịch giả Ngọc Châu

Trăng sông Hương sau mưa
                         Ngọc Châu
                         Dịch 2014

Hằng Nga tựa đứng chốn cung Hàn
Quăng xuống dòng Ngân tặng đế bang
Đất lặng đáy xanh thành dải ngọc
Thuyền soi bóng nước hóa đôi hàng
Sao chiều mờ nhạt soi chài vạn
Sáo quyện mơ hồ dỡn thạch trang
Tiên cảnh khiến người sinh ước muốn
Thu trăng vàng sáng rọi Lô Giang
  

77.    ĐỀ TÂY HỒ

Nguyên tác: 题  西  湖

湖  中  境  色  不  胜  题
秋  肆  還  添  壹  色  迷
牛  渚  月  波  金  潋  琰
鳳  頹  雲  影  碧  高  低
漁  村  棹  月  城  楼  北
鎭  宇  敲  鐘  寺  館  西
独  立  秾  山  山  上  望
河  蒼  蒼  處  数  鸥  栖


Phiên âm: Đề Tây hồ

Hồ trung cảnh sắc bất thăng đề,
Thu tứ hoàn thiêm nhất sắc mê.
Ngưu chử  nguyệt ba kim liễm diễm,
Phượng đồi  vân ảnh bích cao đê.
Ngư thôn trạo nguyệt thành lâu bắc,
Trấn Vũ xao chung tự quán tê (tây).
Độc lập Nùng sơn sơn thượng vọng,
Hà thương thương xứ sổ âu thê.


Dịch thơ: Đề thơ cảnh Tây hồ
                            Phạm Đình Nhân
                            Dịch 2007

Hồ Tây cảnh sắc đẹp như mơ,
Thêm sắc thu về gợi ý  thơ.
Ngưu chử [1] trăng vàng soi lấp lánh,
Phượng đồi [2] mây biếc lượn lưng bờ.
Thôn chài trăng phủ trên lầu bắc,
Trấn Vũ chuông thờ dội quán chờ.
Đơn độc núi Nùng ta ngắm mãi,
Đầm sen đôi cánh lượn bên bờ.

                        
Thơ viết ở Tây hồ    
                           Ngọc Châu
                           Dịch 2014

Tây hồ cảnh sắc như mơ
Sắc thu mời gợi ý thơ ngọt ngào
Bãi Trâu lấp lánh trăng sao
Phượng Đồi mây biếc nghiêng chào bờ xa
Thôn chài trăng phủ lầu hoa
Tiếng chuông Trấn Vũ ngân nga quán chờ
Đơn độc núi Nùng ngẩn ngơ
Đầm sen cánh nhạn lượn bờ xa xa.

[1]  Ngưu chử : Gò Kim Ngưu (Bãi Trâu)

[2] Phượng đồi : Gò Phượng Hoàng (đồi chim Phượng hoàng) từ Thuỵ Khuê nhìn ra, nay không còn nữa.

(Còn tiếp)




READ MORE - THƠ ĐƯỜNG CHỌN DỊCH: VŨ TÔNG PHAN - Phạm Đình Nhân dịch - Dịch giả Ngọc Châu giới thiệu

Sunday, October 19, 2014

THƠ ĐƯỜNG CHỌN DỊCH: DOÃN UẨN - Phạm Đình Nhân dịch, dịch giả Ngọc Châu giới thiệu

Phần 10 "108 bài thơ Đường chọn dịch"

(Tiếp theo kỳ trước)


18. DOÃN UẨN
     (1795 -1850) 

Doãn Uẩn tên huý là Ôn, tự Nhuận Phủ, Ôn Phủ, hiệu Nguyệt Giang, Tĩnh Trai,  người làng Ngoại Lãng (nay là Song Lãng), huyện Thư Trì, tỉnh Thái Bình. Đỗ Cử nhân hạng ưu khoa Mậu Tý (1828), từ năm 1829 ra làm quan. Liên tục 20 năm trải qua 3 triều vua Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức, Ông đảm nhiệm từ chức Chủ sự, Viên ngoại lang, Lang trung, Thị lang đến Tả Hữu Tham tri ở các Bộ Hộ, Bộ Lại, Bộ Hình, rồi tới Thượng thư Bộ Binh. Ông cũng từng đảm nhiệm Án sát, Tuần phủ, Tham tán, Bang biện đại thần, Khâm sai đại thần, Tổng đốc ở một số tỉnh thành. Về thơ văn, ông để lại Tuy Tĩnh tử tạp ngôn và một số tác phẩm khác. Khi mất được truy tặng hàm Hiệp Biện Đại học sĩ.

74.THU DẠ LỮ QUÁN

Nguyên tác:  秋 夜 旅 舘

慷  慨  鷄  聲  中  夜  歌
寒  風  萧  瑟  月  光  斜
世  閒  何  事  不  如  意
客  子  歲  时  還  在  家
隱  管  忭  邊  吟  促  織
鳴  宵  江  外  走  飛  沙
旦  來  誰  議  宽  心  物
獨  把  壺  鶬  看  菊  花

Phiên âm: 
Thu dạ lữ quán

Khảng khái kê thanh trung dạ ca,
Hàn phong tiêu sắt nguyệt quang tà.
Thế gian hà sự bất như ý,
Khách tử thuế thời hoàn tại gia.
Ẩn quản biện biên ngâm xúc chức,
Minh tiêu giang ngoại tẩu phi sa.
Đán lai thuỳ nghị khoan tâm vật,
Độc bả hồ thương khán cúc hoa



Dịch giả Phạm Đình Nhân

Dịch thơ :       
Quán trọ đêm thu
                Phạm Đình Nhân
                Dịch 2007

Đêm khuya gà gáy điểm canh,
Tiếng đàn gió lạnh dục nhanh trăng tà.
Thế gian còn việc bất hoà?
Đi đâu khách cũng về nhà hợp tan!
Tiếng tiêu trong quán dệt đan,
Tiếng chim lảnh lót từng đàn bên sông.
Sớm ra bàn bạc tâm đồng,
Tay nâng đài cúc thoả lòng ngắm hoa.

    
Dịch giả Ngọc Châu

Đêm thu lữ quán
                Ngọc Châu
                Dịch 2014


Cất tiếng đêm khuya gà điểm canh
Tiếng đàn lạnh giục trăng tà nhanh
Người còn ham muốn hòa nhân sự
Khách vội hoàn gia dưới gió thanh
Tiêu vọng âm trầm trong quán nhỏ
Chim kêu lảnh lót phía sông xanh
Sớm mai tâm hợp đồng câu chuyện
Đài cúc tay nâng ngắm hoa lành.


75. SƠN MAI ĐÌNH VŨ
Nguyên tác: 山 梅 亭 雨

日  暇  心  齐  展  畫  屛
夕  霞  瑞  色  正  臨  庭

料  陽  倒  影  烝  紅  綺
彩  葛  光  浮  醮  碧  靈
階  下  低  含  芳  树  绿
竹  邊  睛  帯  满  山  青
天  禨  淨  處  天  光  發
長  得  仙  家  養  狌  靈


Phiên âm: Sơn Mai đình vũ

Nhất hạ tâm trai triển hoạ bình,
Tịch hà thuỵ sắc chính lâm đình.
Liễu dương đảo ảnh chưng hồng ý,
Thái cát quang phù tiêu bích linh.
Giai hạ đê hàm phương thụ lục,
Trúc biên tinh đới mãn sơn thanh.
Thiên cơ tịnh xứ thiên quang phát,
Trường đắc tiên gia dưỡng tính linh.


Dịch thơ :         
Đình Sơn Mai trong mưa
                  Phạm Đình Nhân
                  Dịch 2007

Tâm sáng trời trong tựa bức tranh,
Ráng chiều muôn sắc rọi sân đình.
Liễu dương ánh đỏ còn le lói,
Màu sáng bên tường hiện ánh linh.
Tam cấp cỏ thơm xanh sắc biếc,
Ngoài biên cành trúc tỏa non xanh.
Trời soi ánh sáng qua khe lá,
Trong khám tượng thần hiện hiển linh.


Mưa ở  đình Sơn Mai
                   Ngọc Châu
                   Dịch 2014


Tâm sáng trời trong tựa tranh
Ráng chiều muôn sắc sân đình rọi soi
Liễu dương khoe ánh đỏ ngời
Tường như rọi sáng ánh trời lung linh
Tam cấp thơm mùi cỏ xanh
Trúc ngoài biên cũng rung cành non tơ
Ráng chiều soi khe lá thưa
Tượng thần trong khám đón giờ hiển linh



(Còn tiếp)


READ MORE - THƠ ĐƯỜNG CHỌN DỊCH: DOÃN UẨN - Phạm Đình Nhân dịch, dịch giả Ngọc Châu giới thiệu