Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label LÝ BẠCH. Show all posts
Showing posts with label LÝ BẠCH. Show all posts

Friday, December 16, 2016

BÀN THÊM VỀ BÀI THƠ TẶNG UÔNG LUÂN CỦA LÝ BẠCH - Nguyễn Ngọc Kiên


 

 BÀN THÊM VỀ BÀI THƠ TẶNG UÔNG LUÂN 
                            CỦA LÝ BẠCH

贈汪倫
李白乘舟將欲行,
忽聞岸上踏歌聲。
桃花潭水深千尺,
不及汪倫送我情!
.
Phiên âm:
.
Tặng Uông Luân
.
Lý Bạch thừa chu tương dục hành,
Hốt văn ngạn thượng đạp ca thanh.
Đào hoa đàm thuỷ thâm thiên xích,
Bất cập Uông Luân tống ngã tình.
.
Dịch nghĩa:
.
Tặng Uông Luân
.
Lý Bạch cưỡi thuyền sắp sửa ra đi
Bỗng trên bờ giếng có tiếng chân nhảy nhịp và hát
Nước đầm đào hoa sâu hàng ngàn thước
Không bằng tình Uông Luân tiễn ta.
.
Dịch thơ:
.
Tặng Uông Luân
.
Lí Bạch xuống thuyền sắp sửa xa
Bỗng nghe điệu nhảy quyện lời ca
Đầm Đào hoa thẳm sâu ngàn thước
Sao sánh tình Uông tiễn biệt ta!
(Bản dịch của Nguyễn Ngọc Kiên)
.
Về xuất xứ bài thơ, giai thoại kể rằng, vào năm 754 (năm Thiên Bảo thứ 13) đời nhà Đường, có Uông Luân là một Hào sĩ ở Kinh Xuyên, tuy tài năng không thể so sánh với Lý Bạch, nhưng ông cũng là dòng dõi hào kiệt. Ông từng làm Huyện Lệnh ở Kinh huyện, nay thuộc tỉnh An Huy, rất thích giao du với các danh sĩ, vô cùng hâm mộ Lý Bạch. Một lần nghe nói Lý Bạch sắp đi chơi qua đây, Uông Luân bèn gửi thư đón mời, trong thư có nói rằng: “Trộm nghe thơ, mỗ ngưỡng mộ tiên sinh đã lâu. Biết tiên sinh vốn yêu thích những nơi phong cảnh đẹp, lạ lùng, kỳ thú. Nếu tiên sinh không quản đường xa hiểm trở mà tới hàn gia, tại hạ sẽ đưa tiên sinh ghé một vạn tửu lầu, cùng tiên sinh cưỡi sóng ngắm hoa đào giữa tiết thu. Xin chắp tay đứng chờ trước cửa.”
.
Lý Bạch háo hức, vui vẻ đến, Uông Luân bèn nói thật rằng : “Xin tạ tội cùng tiên sinh! Tại hạ đã dùng xảo ngôn để dụ rước tiên sinh về đây chứ thực ra ở nơi thôn quê hẻo lánh này cả xóm chỉ có duy nhất một quán rượu cóc nhà lão Vạn, còn cái đầm trước mặt nhà có tên là đầm Mực nước sâu không thấy đáy, dân sính chữ trong thôn gọi là đầm Đào hoa, tại hạ từ nhỏ tới giờ chưa một lần dám bơi ra giữa đầm. Chỉ có tấm tình ngưỡng mộ, quyến luyến nhau là thật mà thôi!”
.
Lý Bạch nghe xong cả cười, ở lại chơi với Uông Luân vài ngày.
.
Họ nói với nhau những gì không thấy sách nào nhắc đến. Sau đó, Uông Luân tặng 8 con ngựa và 10 cuộn gấm đẹp rồi đích thân tiễn biệt Lý Bạch.
.
Buổi tiễn đưa là một sớm mùa thu ảm đạm. Hơi lạnh lảng bảng trong màn sương mỏng giăng giăng trên mặt nước, trên tấm vải buồm bạc thếch quấn quanh mép thuyền. Con thuyền từ từ rời bờ, trông ra chỉ thấy một ông lão mặc áo bông cũ , mắt dõi theo, giậm chân hát mà từ biệt. Phía sau lưng là bờ lau bời bời trắng xóa.
.
Lý Bạch cảm kích vì tấm lòng chân thành của Uông Luân nên đã hạ bút xuất thần làm bài tuyệt cú tuyệt cú “桃花潭” (Đầm Đào hoa) đề “Tặng Uông Luân” mà nghìn năm sau vẫn làm xúc động lòng người.
.
Đây là bài thơ được nhiều người yêu thích và thuộc lòng. Câu 1 tác giả tự nói về mình, ba chữ “將欲行” [tương dục hành] diễn tả cảnh lưu luyến, bịn rịn lúc chia tay. Câu 2, miêu tả cảnh tượng lúc lên đường, chữ [hốt] (bỗng nhiên, đột nhiên, hốt nhiên) dùng ở đây quả là có thần. Khi dịch sang tiếng Việt, Trần Trọng San đã chuyển chữ này thành “chợt”: “Chợt nghe trên bến có người hát ca.”
.
Một số dịch giả khác khi dịch đã lược mất chữ này. Chẳng hạn:
.
Trên bờ chân giậm, nghe liền tiếng ca. (Tản Đà)
.
Trên bờ nhịp nhảy rộn lời ca (Ngô Văn Phú)
.
Trên bến nghe bài hát “Dậm chân”, (Lê Nguyễn Lưu)
.
Cũng trong câu 2, tác giả miêu tả chủ nhà với động tác “踏歌” [đạp ca], một lối hát nhiều người cùng dang tay giậm chân làm nhịp. Chữ “” [thanh] chỉ âm thanh mà tác giả – người được tiễn, nghe được lúc lên thuyền.
.
Cũng cần nói thêm rằng, Lí Bạch rất thích khoa trương(*) – một thủ pháp tu từ nói quá sự thật – đôi khi đến mức không thể tin được. Cái đích người nói hướng tới người nghe không phải là điều “nói ra” mà là điều “nói lên”. Khoa trương trong thơ Lí Bạch hết sức đa dạng, phong phú. Trong hai câu 3 và 4 của bài thơ này, tác giả sử dụng thủ pháp tỉ dụ khoa trương, ví tình cảm của Uông Luân đối với Lí Bạch như nước đầm Đào Hoa sâu tới ngàn thước; trên thực tế, ai cũng hiểu rằng đầm Đào Hoa không sâu đến như vậy. Cụm từ “千尺” (ngàn thước) ở đây không phải là con số cụ thể, chính xác như trong toán học mà là con số ước lượng chỉ “rất nhiều thước”, ý nói đầm rất sâu; đó mới chính là điều “nói lên”. Từ ngữ so sánh “不及” (bất cập, không sánh kịp) dùng rất độc đáo biểu thị tình cảm giữa hai người là vô cùng sâu sắc và quý giá, khiến người đọc có thể tưởng tượng ra được nó sâu đậm đến mức nào. Hơn thế nữa, cách lựa chọn hình ảnh “đầm Đào Hoa” cũng rất tinh tế và đầy ý nghĩa; màu hoa đào đỏ rực, còn nước đầm sâu thì trong vắt, những hình ảnh này được dùng để so sánh với tình bạn khiến ta liên tưởng tới tình bạn đẹp, ấm áp thuần khiết. Cái hay của bài thơ này là ở chỗ, nó vô cùng giản dị, câu chữ không hề “đao to búa lớn”, nhưng nhờ có thủ pháp khoa trương mà đã nêu bật tình cảm chân thành thân thiết giữa Lý Bạch và Uông Luân. Chẳng thế mà hơn một ngàn năm nay, người đời đã tốn khá nhiều giấy mực để bình luận về bài thơ này. Đặc biệt là hai chữ “tương” và “hốt” nổi bật là dạng “nhãn tự” (chữ mắt) như có thần tỏa sáng cả bài thơ.
.
Thế mới biết, cái sự quyến luyến đâu chỉ là tình cảm giữa nam và nữ; đúng như Tú Xương đã viết “Tương tư lọ phải là trai gái”. Qua bài thơ, có người còn suy rộng ra, kiếp con người cũng thật cô đơn giữa bao nhiêu đồng loại!
.
Truyện Sử còn kể tiếp, đến đời Thanh (Khang Hy thứ 55) trở đi, Viên Mai đã chép: “今潭已壅塞” (Ngày nay thì Đầm Đào hoa đã cạn, đường qua đây đã tắc nghẽn). Nhà thơ Trương Tinh Trai (张惺斋) đã cảm thán rằng:
.
蝉翻一叶坠空林,
路指桃花尚可寻。
莫怪世人交谊浅,
此潭非复旧时深。
.
Phiên âm:
.
Thiền phiên nhất diệp truỵ không lâm
Lộ chỉ đào hoa thượng khả tầm
Mạc quái thế nhân giao nghị thiển
Thử đàm phi phục cựu thời thâm.
.
Dịch thơ:

.
Rừng vắng ve chuyền chiếc lá rơi
Đào Hoa nẻo ấy dễ tìm thôi
Lạ gì tình bạn nay hời hợt
Đầm cũ xem ra cạn khác rồi.
(Bản dịch của Trương Đình Chi)
.
Bài thơ “Tặng Uông Luân” của Lý Bạch thật mộc mạc, giản dị nên dễ nhớ dễ thuộc, nhưng nó xứng đáng được xếp vào danh sách những bài thơ bất hủ của Lí Bạch nói riêng, thơ Đường nói chung và trường tồn với thời gian.

                                                                     Nguyễn Ngọc Kiên
.
(*) Xem thêm: “Khoa trương trong thơ Lí Bạch”, Nguyễn Ngọc Kiên, Ngôn ngữ và Văn học (Kỉ yếu Hội thảo Ngôn ngữ học toàn quốc năm 2013).

READ MORE - BÀN THÊM VỀ BÀI THƠ TẶNG UÔNG LUÂN CỦA LÝ BẠCH - Nguyễn Ngọc Kiên

Thursday, December 15, 2016

HAI BÀI THƠ TÌNH CỦA LÝ BẠCH (701 - 762) - Nguyễn Ngọc Kiên dịch




HAI BÀI THƠ TÌNH CỦA LÝ BẠCH 

                    (701 - 762)

          Nguyễn Ngọc Kiên dịch

怨情
美人卷珠帘,
深坐颦蛾眉。
但见泪痕湿,
不知心恨谁。

Phiên âm:
OÁN TÌNH

Mỹ nhân quyển châu liêm.
Thâm tọa tần nga mi.
Đãn kiến lệ ngân thấp,
Bất tri tâm hận thùy

Dịch nghĩa:
OÁN TÌNH

Người đẹp cuốn bức rèm châu,
Lặng ngồi chau cặp mày ngài.
Chợt thấy mắt ướt lệ,
Chẳng biết lòng này đang giận ai?

Dịch thơ: 
MỐI TÌNH AI OÁN
Người đẹp cuốn bức rèm châu
Mày ngài lặng lẽ khẽ chau mơ màng.
Bỗng nhìn lệ ướt hai hàng
Làm sao biết được là nàng giận ai!

寄遠
美人在時花滿堂,
美人去後空餘床。
床中繡被卷不寢,
至今三載猶聞香。
香亦竟不滅,
人亦竟不來。
相思黃葉落,
白露濕青苔。
 
Phiên âm:
KÍ VIỄN

Mỹ nhân tại thì hoa mãn đường,
Mỹ nhân khứ hậu dư không sàng.
Sàng trung tú bị quyển bất tẩm,
Chí kim tam tải văn dư hương.
Hương diệc cánh bất diệt,
Nhân diệc cánh bất lai.
Tương tư hoàng diệp lạc,
Bạch lộ thấp thanh đài.

Dịch nghĩa:
GỬI PHƯƠNG XA

Lúc người đẹp ở đây, hoa đầy nhà
Lúc người đẹp đi rồi, giường vắng không
Trong giường chăn thêu cuộn không đắp
Ba năm đã qua, hương còn thơm
Hương cũng không bao giờ mất
Người cũng không bao giờ về
Nhớ nhau, lá vàng rụng
Sương trắng ướt đầm rêu xanh.

Dịch thơ:
GỬI PHƯƠNG XA
Người đẹp ở đây, hoa đầy nhà
Người đẹp đi rồi, giường trống trơ
Chăn thêu cuốn lại không người đắp
Nay đã ba năm hương còn đưa.

Hương cũng không bay mất
Người cũng không trở về
Nhớ nhau lá vàng rụng
Rêu xanh sương trắng nhòe.


READ MORE - HAI BÀI THƠ TÌNH CỦA LÝ BẠCH (701 - 762) - Nguyễn Ngọc Kiên dịch

Monday, December 12, 2016

NHÀ THƠ LÍ BẠCH - Nguyễn Ngọc Kiên dịch thơ


         

           NHÀ THƠ LÍ BẠCH

                                              Nguyễn Ngọc Kiên dịch thơ

Lý Bạch 李白 (701-762) tự Thái Bạch 太白, hiệu Thanh Liên cư sĩ 青蓮居士, sinh ở Tứ Xuyên (làng Thanh Liên, huyện Chương Minh, nay là huyện Miện Dương). Quê ông ở Cam Túc (huyện Thiên Thuỷ - tức Lũng Tây ngày xưa). Lý Bạch xuất thân trong một gia đình thương nhân giàu có. Lúc nhỏ học đạo, múa kiếm, học ca múa, lớn lên thích giang hồ ngao du sơn thuỷ, 25 tuổi "chống kiếm viễn du", đến núi Nga My ngắm trăng, ngâm thơ rồi xuôi Trường Giang qua hồ Động Đình, lên Sơn Tây, Sơn Đông cùng năm người bạn lên núi Thái Sơn "ẩm tửu hàm ca" (uống rượu ca hát), người đời gọi là Trúc khê lục dật. Sau đó được người bạn tiến cử với Đường Minh Hoàng, ông về kinh đô Trường An ba năm, nhưng nhà vua chỉ dùng ông như một "văn nhân ngự dụng" nên bất mãn, bỏ đi ngao du sơn thuỷ.

Đến Lạc Dương, gặp Đỗ Phủ kết làm bạn vong niên (Đỗ Phủ kém Lý Bạch 11 tuổi). Họ cùng Cao Thích vui chơi, thưởng trăng ngắm hoa, săn bắn được nửa năm. Rồi ông lại tiếp tục chia tay Đỗ Phủ viễn du về phương nam. Những năm cuối đời ông ẩn cư ở Lư Sơn. Tương truyền năm 61 tuổi ông đi chơi thuyền trên sông Thái Thạch, tỉnh An Huy, uống say, thấy trăng lung linh đáy nước, nhảy xuống ôm trăng mà chết. Nay còn Tróc nguyệt đài (Đài bắt trăng) ở huyện Đăng Đồ, An Huy, là địa điểm du lịch nổi tiếng. Người đời phong danh hiệu cho ông là Thi tiên, Trích tiên, Tửu trung tiên,...

Sau khi ông qua đời, Lý Đăng Dương sưu tầm thơ ông. Theo đó thì ông làm khoảng 20.000 bài, nhưng ông không để tâm cất giữ nên nay chỉ còn khoảng 1.800 bài. Thơ ông viết về mọi đủ mọi đề tài: vịnh cảnh, thưởng hoa, tình bạn, nỗi khổ đau của người dân, nỗi cay đắng của người vợ trẻ xa chồng (chinh phụ, thương phụ), của người cung nữ, nỗi cô đơn và bất lực trước vũ trụ vô cùng vô tận, nỗi cay đắng vì có tài mà không được dùng... Đề tài nào cũng có những bài tuyệt tác.

                               (Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)



Phiên âm:
THU PHỐ(1) CA
Bạch phát tam thiên trượng
Ly sầu tự cá trường
Bất tri minh kính lý
Hà xứ đắc thu sương

Dịch nghĩa:
BÀI CA THU PHỐ
Tóc trắng [tưởng như] dài ba ngàn trượng
Nỗi sầu ly biệt cũng dài bằng
Chẳng hay trong gương sáng kia
Còn chỗ nào để lọt sương thu?

Dịch thơ:
BÀI CA THU PHỐ
Tóc trắng ba ngàn trượng
Theo sầu dài lê thê
Chỗ nào trong gương sáng
Để sương thu ướt nhoè?

望庐山瀑布
日照香炉生紫烟,
遥看瀑布挂前川。
飞流直下三千尺,
疑是银河落九天。

Phiên âm:
VỌNG LƯ SƠN BỘC BỐ
Nhật chiếu Hương Lư sinh tử yên,
Dao khan bộc bố quải tiền xuyên.
Phi lưu trực há tam thiên xích,
Nghi thị Ngân Hà lạc cửu thiên.
Dịch nghĩa:
NGẮM THÁC BỘC BỐ Ở NÚI LƯ
Ánh nắng chiếu rọi trên sông Hương Lư sinh ra khói tía
Từ xa ngắm cảnh thác núi treo trước con sông này
Thác nước chảy như bay xuống từ ba nghìn trượng
Ngỡ như là dải Ngân Hà lạc khỏi chín tầng mây
Dịch thơ:
NGẮM THÁC BỘC BỐ Ở NÚI LƯ
Nắng rọi Hương Lư khói tía lồng
Xa nhìn Bộc Bố, thác treo sông
Như bay thẳng xuống ba ngàn thước
Tự Ngân Hà lạc chín tầng không

下江陵(2)
朝辭白帝彩雲間,
千里江陵一日還。
兩岸猿聲啼不住,
輕舟已過萬重山。

Phiên âm:
HÁ GIANG LĂNG
Triêu từ Bạch Đế thái vân gian,
Thiên lý Giang Lăng nhất nhật hoàn.
Lưỡng ngạn viên thanh đề bất trú,
Khinh chu dĩ quá vạn trùng san.

Dịch nghĩa:
XUỐNG GIANG LĂNG
Buổi sáng từ biệt thành Bạch Đế, ở trong làn mây rực rỡ,
Đi suốt một ngày, vượt qua ngàn dặm về tới Giang Lăng.
Hai bên bờ sông tiếng vượn kêu mãi không thôi,
Thuyền nhẹ đâu ngờ đã vượt qua muôn trùng núi non.

Dịch thơ:
XUỐNG GIANG LĂNG
Sáng từ Bạch Đế vạn màu mây
Nghìn dặm Giang Lăng, trọn một ngày
Tiếng vượn đôi bờ kêu chẳng dứt
Thuyền qua muôn núi nhẹ như bay.

靜夜思
床前明月光,
疑是地上霜。
舉頭望明月,
低頭思故鄉。

Phiên âm:
TĨNH DẠ TỨ
Sàng tiền minh nguyệt quang,
Nghi thị địa thượng sương.
Cử đầu vọng minh nguyệt,
Đê đầu tư cố hương.

Dịch nghĩa:
NGHĨ TRONG ĐÊM VẮNG
Trước giường trăng sáng soi,
Ngỡ là sương trên mặt đất.
Ngẩng đầu nhìn vầng trăng sáng,
Cúi đầu lại thấy nhớ quê nhà

Dịch thơ:
NGHĨ TRONG ĐÊM VẮNG
Bản dịch 1
Ánh trăng rọi đầu giường
Ngỡ mặt đất phủ sương
Ngẩng đầu nhìn trăng sáng
Cúi đầu nhớ cố hương.
Bản dịch 2
Đầu giường trăng rọi sáng loà
Ngỡ như mặt đất nhập nhoà hơi sương
Ngẩng đầu ngắm ánh trăng suông
Cúi đầu bỗng nhớ cố hương xa vời.
……………………
Chú thích:
(1) Tên huyện, nay thuộc thỉnh An Huy

(2) Bài này có bản chép “早發白帝城” [Tảo phát Bạch Đế thành], (Buổi sáng đi từ thành Bạch Đế

                                                                                  Nguyễn Ngọc Kiên

READ MORE - NHÀ THƠ LÍ BẠCH - Nguyễn Ngọc Kiên dịch thơ