![]() |
| Tác giả: Trương Tam Phong |
HIỀN LƯƠNG SÁU XÓM, SÁU PHƯỜNG
Trương Tam Phong
1. Đặt vấn đề
Làng Hiền Lương (nay thuộc Tổ dân phố (TDP) Đông
Hiền, phường Phong Thái, thành phố Huế.) vốn có tên là Hoa Lang. Theo các nguồn
sử liệu và văn bản Hán Nôm, cư dân đã đến khai phá, lưu trú ổn định tại đây từ
khoảng thế kỷ XV. Đến năm 1841, dưới triều vua Thiệu Trị, do kiêng húy tên
Hoàng thái hậu Hồ Thị Hoa, làng được đổi tên từ Hoa Lang thành Hiền Lương và giữ
tên gọi này cho đến nay [1, 2, 3, 4, 5]
Trải qua nhiều thế kỷ, Hiền Lương
trở thành một trong những làng rèn nổi tiếng của xứ Thuận Hóa. Việc mở rộng
làng, cùng với nghề rèn, không chỉ tạo nên các vùng đất mới mà còn tạo nên sinh
kế bền vững cho nhiều thế hệ cư dân và góp phần hình thành bản sắc văn hóa đặc
trưng của làng cổ Hiền Lương. Góp phần đưa Hiền Lương trở thành một địa danh
quen thuộc trong lịch sử thủ công truyền thống Việt Nam.
Cư dân Hiền Lương từ bao đời nay vẫn
thường nhắc nhớ về quê hương qua câu khẩu quyết quen thuộc: "Làng sáu xóm, sáu phường".
Trong cấu trúc ấy, sáu xóm bao gồm Siêu Quần, An Hội, Đồng Nhơn, Võ Đình, Văn
Quán và Phước Tự; song hành cùng sáu phường là Công Thành, Hưng Long, Thượng
Hòa, Triều Dương, Khánh Mỹ và La Vần. Hai hệ thống này không đơn thuần là tên gọi
hành chính, mà còn phản ánh hai không gian cư trú, sinh kế trong tiến trình mở
cõi, lập làng và phát triển lâu dài của cộng đồng.
Hệ thống sáu phường không hình
thành đồng thời mà là kết quả của một quá trình mở rộng không gian lịch sử. Bốn
phường Công Thành, Hưng Long, Thượng Hòa và Triều Dương ra đời sớm hơn cả, gắn
liền với công cuộc khai phá vùng gò đồi phía tây của các bậc tiền nhân. Trong
khi đó, Khánh Mỹ và La Vần xuất hiện muộn hơn vào thời Nguyễn; đến thời Khải Định,
hai phường này đã chính thức nằm trong địa giới làng và được triều đình ban sắc
phong chuẩn định. Sự góp mặt của Khánh Mỹ và La Vần đã hoàn thiện cấu trúc “sáu
xóm, sáu phường” của làng Hiền Lương.
Mỗi phường mang trong mình những đặc
điểm riêng biệt về lịch sử hình thành, các bậc Khai canh – Khai khẩn, hệ thống
địa danh cũng như những dấu ấn đậm nét trong văn bản Hán Nôm và hệ thống sắc
phong triều đình. Bên cạnh đó, qua các nguồn tư liệu lịch sử và điền dã, một số
nơi còn lưu giữ nhiều tên gọi song hành qua các thời kỳ: Triều Dương gắn liền với
tên nôm Vĩnh Nẫy, Khánh Mỹ gắn với vùng đất mang tên Đức Thắm (Đất Thắm), hay
La Vần xưa vốn thuộc sự quản lý của xóm Văn Quán. Bài viết này xin giới thiệu
quá trình hình thành, đặc điểm cụ thể của sáu phường cùng các tên gọi và dấu ấn
lịch sử, qua đó làm rõ cấu trúc địa giới và sự mở rộng không gian cư trú bền bỉ
của làng Hiền Lương.
2. Một vài đặc điểm của sáu phường thuộc làng Hiền Lương
2.1. Phường Công Thành
Là một trong bốn phường hình thành
sớm nhất trên dải gò đồi phía tây, cách trung tâm làng Hiền Lương khoảng 17 cây
số. Bản sắc phong 68 (1), triều đình ghi nhận ngài Hoàng Ngọc Tích có công khai
khẩn vùng đất này. Từ đó, trải qua các thế hệ, hậu duệ nơi đây phát triển thành
hai nhà thờ họ (với khoảng 17–18 thế hệ),
Công thành, nay thuộc TDP Tây Bắc
Sơn, phường Phong Thái, thành phố Huế. Bên cạnh dòng họ Hoàng chủ đạo, vùng đất
này còn đón nhận dòng chảy cư dân từ các họ khác đến sinh cơ lập nghiệp như họ
Trương Tất, họ Dương.
2.2. Phường Hưng Long
Cũng nằm trong nhóm các phường hình
thành sớm, gắn liền với công cuộc khai phá đầu tiên ở phía tây làng. Hệ thống sắc
phong ghi nhận hai vị Đồng Hậu Khai khẩn có công lớn là ngài Dương Phước Lộc và
ngài Dương Phước Dã. Tên gọi Hưng Long được thế hệ con cháu trân trọng gìn giữ
nguyên vẹn qua nhiều thời kỳ.
Về mặt hành chính hiện nay, địa bàn
Hưng Long, Thượng Hòa và Vĩnh Nãy đều thuộc TDP Bắc Hiền, phường Phong Thái,
thành phố Huế. [1, 2, 3, 4, 5]
2.3. Phường Thượng Hòa (Đất Thắm)
Thuộc nhóm bốn phường hình thành sớm
trên vùng gò đồi phía tây, Thượng Hòa hiện còn lưu giữ hai đạo sắc phong quan
trọng là Sắc phong số 78 (ban cho ngài Hoàng Ngọc Tuấn và Trần Văn Công) cùng Sắc
phong số 79 (1) (ban cho ngài Hoàng Thanh Vật) [1, 2, 3, 4, 5] .Thượng Hòa từ
lâu gắn liền với tên gọi dân gian là Đất Thắm (xuất hiện song hành cùng Khánh Mỹ
trong tư liệu sắc phong), phản ánh sự đan xen hài hòa giữa danh xưng của hai vùng đất.
Địa bàn này nay cùng chung không
gian hành chính với Hưng Long, Vĩnh Nẫy, thành TDP Bắc Hiền, phường Phong Thái,
thành phố Huế.
2.4. Phường Triều Dương (Vĩnh Nẫy)
Là phường có bề dày lịch sử lâu đời
thuộc nhóm đầu của làng. Theo dòng phát triển, cư dân tiếp tục mở rộng thêm
vùng đất Vĩnh Nẫy sát kề, khiến trong dân gian quen gọi gộp là Triều Dương -
Vĩnh Nẫy. Theo địa thế xưa, đây là vùng đất có đầm nước ngập, trên mặt phủ đầy
các loài cỏ mọc đan kết dày đặc thành một lớp thảm thực vật vững chắc; khi người
qua lại trên mặt đầm thường có cảm giác chân bước "nảy lên, nảy xuống",
từ đó dân gian gọi vùng này là “Vịnh Nảy”, về sau đọc chệch thành Vĩnh Nẫy.
Sắc
phong bản số 76 (1) ghi rõ "...Hiền
Lương xã, Vĩnh Nẫy ấp..." (永朏邑) và ban sắc phụng thờ vị Khai khẩn Hoàng Như Phượng
Đại Lang Chi Thần. Ngôi miếu cổ tại đây hiện vẫn phụng thờ thêm ba vị Khai khẩn
khác là Nguyễn Đức Thọ, Trương Công Cổ và Hoàng Quý Công.
Ngày nay, vùng đất Triều Dương -
Vĩnh Nẫy cùng với Thượng Hoà, Hưng Long thuộc TDP Bắc Hiền, phường Phong Thái, thành phố Huế,
là minh chứng sinh động cho sự bảo lưu bền vững các lớp địa danh truyền thống. [1,
2, 3, 4, 5,6]
2.5. Phường Khánh Mỹ (Đất Thắm)
Hình thành muộn hơn khi không gian
gò đồi phía tây đã tương đối ổn định. Sắc phong bản số 65 (1)ghi nhận công lao
của vị Khai khẩn Trần Ngọc Lãng[1, 2, 3, 4, 5] (1). Nơi đây từng là điểm quy tụ
của nhiều dòng họ di cư từ trung tâm làng ra, trong đó tiêu biểu có phái Trương
Duy (gốc từ xóm An Hội). Khánh Mỹ còn được gọi với cái tên quen thuộc là Đức Thắm,
gắn liền với vùng Đất Thắm chung với Thượng Hòa.
Địa bàn hiện nay thuộc TDP Khánh Mỹ,
phường Phong Điền, thành phố Huế.
2.6. Phường La Vần (Truông Vần)
Là phường hình thành muộn nhất cùng
với Khánh Mỹ. Khởi thủy, đây là khu vực do xóm Văn Quán trực tiếp quản lý, sau
đó mới chính thức lập thành phường dưới thời Nguyễn (đến thời Khải Định được
ghi nhận trong Hiền Lương chí lược tân biên).
Trong đời sống dân gian, nơi đây còn được gọi là Truông Vần hay Truông Cầu.
Ngày nay, La Vần- Truông Cầu, địa bàn này thuộc TDP Tây Hiền, phường Hiền, phường Phong Thái, thành phố Huế.
Các phường thuộc làng Hoa Lang- Hiền Lương trong quá trình mở rộng không gian cư trú (1)
|
STT |
Địa danh cổ / Phường / Vùng đất |
Vị trí hành chính hiện
nay (Thuộc TP. Huế) |
Các vị tiền hiền có công
Khai canh, sắc phong lập phường
|
|
1 |
Làng Hiền Lương |
TDP
Đông Hiền, phường Phong Thái, thành phố Huế. |
Công
đức thuộc về 12 vị khai canh lập làng |
|
2 |
Phường Công Thành |
TDP Tây Bắc Sơn, phường Phong Thái,
thành phố Huế |
Ngài Hoàng Ngọc Tích Bản số 68 |
|
3 |
Phường Thượng Hòa (Đất Thắm) |
TDP Bắc Hiền, phường Phong Thái, thành phố Huế. |
- Ngài Hoàng Ngọc Tuấn Bản số 82 - Ngài Trần Văn Công Bản số 78 - Ngài Hoàng Thanh Vật Bản số 79, ghi “Hiền Lương xã Đất Thắm ấp" (坦 閏 邑) |
|
4 |
Phường Hưng Long |
TDP Bắc Hiền, phường Phong Thái, thành phố Huế. |
-Ngài
Dương Phước Lộc -Ngài Dương Phước Dã |
|
5 |
Phường Triều Dương (Vĩnh Nãy) |
TDP Bắc Hiền
phường Phong Thái, thành phố Huế. |
- Hoàng Như Phượng Bản số 76, ghi "Hiền Lương xã, Vĩnh Nẫy ấp" (永 朏 邑),
Tại đây, còn có miếu thờ 3 vị Khai khẩn: - Ngài Nguyễn Đức Thọ - Ngài Trương Công Cố |


.jpg)



.jpg)







.jpg)

.jpg)
.jpg)

.jpg)


.jpg)






.jpg)

.jpg)

