Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, July 31, 2026

HIỀN LƯƠNG SÁU XÓM, SÁU PHƯỜNG - Trương Tam Phong

Tác giả: Trương Tam Phong

         

HIỀN LƯƠNG SÁU XÓM, SÁU PHƯỜNG

Trương Tam Phong

 

 1. Đặt vấn đề

Làng Hiền Lương (nay thuộc Tổ dân phố (TDP) Đông Hiền, phường Phong Thái, thành phố Huế.) vốn có tên là Hoa Lang. Theo các nguồn sử liệu và văn bản Hán Nôm, cư dân đã đến khai phá, lưu trú ổn định tại đây từ khoảng thế kỷ XV. Đến năm 1841, dưới triều vua Thiệu Trị, do kiêng húy tên Hoàng thái hậu Hồ Thị Hoa, làng được đổi tên từ Hoa Lang thành Hiền Lương và giữ tên gọi này cho đến nay [1, 2, 3, 4, 5]

Trải qua nhiều thế kỷ, Hiền Lương trở thành một trong những làng rèn nổi tiếng của xứ Thuận Hóa. Việc mở rộng làng, cùng với nghề rèn, không chỉ tạo nên các vùng đất mới mà còn tạo nên sinh kế bền vững cho nhiều thế hệ cư dân và góp phần hình thành bản sắc văn hóa đặc trưng của làng cổ Hiền Lương. Góp phần đưa Hiền Lương trở thành một địa danh quen thuộc trong lịch sử thủ công truyền thống Việt Nam.

Cư dân Hiền Lương từ bao đời nay vẫn thường nhắc nhớ về quê hương qua câu khẩu quyết quen thuộc: "Làng sáu xóm, sáu phường". Trong cấu trúc ấy, sáu xóm bao gồm Siêu Quần, An Hội, Đồng Nhơn, Võ Đình, Văn Quán và Phước Tự; song hành cùng sáu phường là Công Thành, Hưng Long, Thượng Hòa, Triều Dương, Khánh Mỹ và La Vần. Hai hệ thống này không đơn thuần là tên gọi hành chính, mà còn phản ánh hai không gian cư trú, sinh kế trong tiến trình mở cõi, lập làng và phát triển lâu dài của cộng đồng.

Hệ thống sáu phường không hình thành đồng thời mà là kết quả của một quá trình mở rộng không gian lịch sử. Bốn phường Công Thành, Hưng Long, Thượng Hòa và Triều Dương ra đời sớm hơn cả, gắn liền với công cuộc khai phá vùng gò đồi phía tây của các bậc tiền nhân. Trong khi đó, Khánh Mỹ và La Vần xuất hiện muộn hơn vào thời Nguyễn; đến thời Khải Định, hai phường này đã chính thức nằm trong địa giới làng và được triều đình ban sắc phong chuẩn định. Sự góp mặt của Khánh Mỹ và La Vần đã hoàn thiện cấu trúc “sáu xóm, sáu phường” của làng Hiền Lương.

Mỗi phường mang trong mình những đặc điểm riêng biệt về lịch sử hình thành, các bậc Khai canh – Khai khẩn, hệ thống địa danh cũng như những dấu ấn đậm nét trong văn bản Hán Nôm và hệ thống sắc phong triều đình. Bên cạnh đó, qua các nguồn tư liệu lịch sử và điền dã, một số nơi còn lưu giữ nhiều tên gọi song hành qua các thời kỳ: Triều Dương gắn liền với tên nôm Vĩnh Nẫy, Khánh Mỹ gắn với vùng đất mang tên Đức Thắm (Đất Thắm), hay La Vần xưa vốn thuộc sự quản lý của xóm Văn Quán. Bài viết này xin giới thiệu quá trình hình thành, đặc điểm cụ thể của sáu phường cùng các tên gọi và dấu ấn lịch sử, qua đó làm rõ cấu trúc địa giới và sự mở rộng không gian cư trú bền bỉ của làng Hiền Lương.


2. Một vài đặc điểm của sáu phường thuộc làng Hiền Lương

2.1. Phường Công Thành

Là một trong bốn phường hình thành sớm nhất trên dải gò đồi phía tây, cách trung tâm làng Hiền Lương khoảng 17 cây số. Bản sắc phong 68 (1), triều đình ghi nhận ngài Hoàng Ngọc Tích có công khai khẩn vùng đất này. Từ đó, trải qua các thế hệ, hậu duệ nơi đây phát triển thành hai nhà thờ họ (với khoảng 17–18 thế hệ),

Công thành, nay thuộc TDP Tây Bắc Sơn, phường Phong Thái, thành phố Huế. Bên cạnh dòng họ Hoàng chủ đạo, vùng đất này còn đón nhận dòng chảy cư dân từ các họ khác đến sinh cơ lập nghiệp như họ Trương Tất, họ Dương.

2.2. Phường Hưng Long

Cũng nằm trong nhóm các phường hình thành sớm, gắn liền với công cuộc khai phá đầu tiên ở phía tây làng. Hệ thống sắc phong ghi nhận hai vị Đồng Hậu Khai khẩn có công lớn là ngài Dương Phước Lộc và ngài Dương Phước Dã. Tên gọi Hưng Long được thế hệ con cháu trân trọng gìn giữ nguyên vẹn qua nhiều thời kỳ.

Về mặt hành chính hiện nay, địa bàn Hưng Long, Thượng Hòa và Vĩnh Nãy đều thuộc TDP Bắc Hiền, phường Phong Thái, thành phố Huế. [1, 2, 3, 4, 5]

2.3. Phường Thượng Hòa (Đất Thắm)

Thuộc nhóm bốn phường hình thành sớm trên vùng gò đồi phía tây, Thượng Hòa hiện còn lưu giữ hai đạo sắc phong quan trọng là Sắc phong số 78 (ban cho ngài Hoàng Ngọc Tuấn và Trần Văn Công) cùng Sắc phong số 79 (1) (ban cho ngài Hoàng Thanh Vật) [1, 2, 3, 4, 5] .Thượng Hòa từ lâu gắn liền với tên gọi dân gian là Đất Thắm (xuất hiện song hành cùng Khánh Mỹ trong tư liệu sắc phong), phản ánh sự đan xen hài hòa giữa danh xưng của hai vùng đất.

Địa bàn này nay cùng chung không gian hành chính với Hưng Long, Vĩnh Nẫy, thành TDP Bắc Hiền, phường Phong Thái, thành phố Huế.

2.4. Phường Triều Dương (Vĩnh Nẫy)

Là phường có bề dày lịch sử lâu đời thuộc nhóm đầu của làng. Theo dòng phát triển, cư dân tiếp tục mở rộng thêm vùng đất Vĩnh Nẫy sát kề, khiến trong dân gian quen gọi gộp là Triều Dương - Vĩnh Nẫy. Theo địa thế xưa, đây là vùng đất có đầm nước ngập, trên mặt phủ đầy các loài cỏ mọc đan kết dày đặc thành một lớp thảm thực vật vững chắc; khi người qua lại trên mặt đầm thường có cảm giác chân bước "nảy lên, nảy xuống", từ đó dân gian gọi vùng này là “Vịnh Nảy”, về sau đọc chệch thành Vĩnh Nẫy.

Sắc phong bản số 76 (1) ghi rõ "...Hiền Lương xã, Vĩnh Nẫy ấp..." (永朏邑) và ban sắc phụng thờ vị Khai khẩn Hoàng Như Phượng Đại Lang Chi Thần. Ngôi miếu cổ tại đây hiện vẫn phụng thờ thêm ba vị Khai khẩn khác là Nguyễn Đức Thọ, Trương Công Cổ và Hoàng Quý Công.

Ngày nay, vùng đất Triều Dương - Vĩnh Nẫy cùng với Thượng Hoà, Hưng Long  thuộc TDP Bắc Hiền, phường Phong Thái, thành phố Huế, là minh chứng sinh động cho sự bảo lưu bền vững các lớp địa danh truyền thống. [1, 2, 3, 4, 5,6]

2.5. Phường Khánh Mỹ (Đất Thắm)

Hình thành muộn hơn khi không gian gò đồi phía tây đã tương đối ổn định. Sắc phong bản số 65 (1)ghi nhận công lao của vị Khai khẩn Trần Ngọc Lãng[1, 2, 3, 4, 5] (1). Nơi đây từng là điểm quy tụ của nhiều dòng họ di cư từ trung tâm làng ra, trong đó tiêu biểu có phái Trương Duy (gốc từ xóm An Hội). Khánh Mỹ còn được gọi với cái tên quen thuộc là Đức Thắm, gắn liền với vùng Đất Thắm chung với Thượng Hòa.

Địa bàn hiện nay thuộc TDP Khánh Mỹ, phường Phong Điền, thành phố Huế.

2.6. Phường La Vần (Truông Vần)

Là phường hình thành muộn nhất cùng với Khánh Mỹ. Khởi thủy, đây là khu vực do xóm Văn Quán trực tiếp quản lý, sau đó mới chính thức lập thành phường dưới thời Nguyễn (đến thời Khải Định được ghi nhận trong Hiền Lương chí lược tân biên). Trong đời sống dân gian, nơi đây còn được gọi là Truông Vần hay Truông Cầu.

Ngày nay, La Vần- Truông Cầu, địa bàn này thuộc TDP Tây Hiền, phường Hiền, phường Phong Thái, thành phố Huế.

 

Các phường thuộc làng Hoa Lang- Hiền Lương  trong quá trình mở rộng không gian cư trú (1)


STT

Địa danh cổ /

Phường / Vùng đất

Vị trí hành chính hiện nay (Thuộc TP. Huế)

 

Các vị tiền hiền có công Khai canh,  sắc phong  lập phường

 

1

Làng

Hiền Lương

TDP Đông Hiền, phường Phong Thái, thành phố Huế.

Công đức thuộc về 12 vị khai canh lập làng

2

Phường Công Thành

TDP Tây Bắc Sơn, phường Phong

Thái, thành phố Huế

Ngài Hoàng Ngọc Tích

Bản số 68

3

Phường

Thượng Hòa

(Đất Thắm)

TDP Bắc Hiền,   phường Phong Thái, thành phố Huế.



- Ngài Hoàng Ngọc Tuấn

Bản số 82

- Ngài Trần Văn Công

Bản số 78

- Ngài Hoàng Thanh Vật

Bản số 79, ghi “Hiền Lương xã Đất Thắm ấp" (坦 閏 邑)

4

Phường

Hưng Long

TDP Bắc Hiền, phường Phong Thái, thành phố Huế.

-Ngài Dương Phước Lộc

-Ngài Dương Phước Dã

5

Phường

Triều Dương

(Vĩnh Nãy)

TDP Bắc Hiền phường Phong Thái, thành phố Huế.

- Hoàng Như Phượng Bản số 76, ghi "Hiền Lương xã, Vĩnh Nẫy ấp" (永 朏 邑),

Tại đây, còn có miếu thờ 3 vị
Khai khẩn:


- Ngài Nguyễn Đức Thọ

- Ngài Trương Công Cố

READ MORE - HIỀN LƯƠNG SÁU XÓM, SÁU PHƯỜNG - Trương Tam Phong

XIN MÃI GỌI TÊN EM - Truyện ngắn: Lê Thi


  

XIN MÃI GỌI TÊN EM 

               Thân Tặng - T.T

 

     Có những cuộc tình không bắt đầu bằng những lời hứa lớn lao, cũng không cần những điều lãng mạn rực rỡ. Không cần những món quà đắt tiền, chỉ cần một tiếng gọi từ trái tim. Chúng đến rất khẽ và rung lên những nhịp thổn thức đồng điệu. 

Như một buổi chiều nắng rơi xuống sân trường. Như tiếng cầu lông chạm vợt giữa khoảng sân đất đỏ. Như ánh mắt chạm nhau rồi không rời đi nữa. 

Thành gặp Hương vào một mùa hè như thế. 

Anh vừa tốt nghiệp trường sư phạm và nhận công tác tại một ngôi trường vùng sâu, nơi con đường đất đỏ bụi mù mỗi mùa nắng và lầy lội mỗi mùa mưa. Nhiều người trẻ tìm cách rời đi, còn anh lại chọn đến. Ngôi trường nhỏ nằm giữa những rặng keo xanh dưới chân đồi, nơi người dân quanh năm trồng bắp và bí đỏ. Lũ học trò chân đất, áo sờn vai nhưng ánh mắt trong veo. Mỗi sáng, tiếng gọi “Thầy ơi!” vang lên khiến mọi vất vả trong anh tan biến. Anh yêu dải đất ven biển này hơn cả phố thị phồn hoa. 

Cách trường không xa là một tiệm may nhỏ. Chủ tiệm là Hương, một cô gái vùng quê có đôi mắt hiền, giọng nói nhẹ nhàng và nụ cười ấm áp như nắng cuối ngày. Cha cô bán cà rem dạo, mẹ bán hàng nước ven đường. Cuộc sống nghèo khó, nhưng họ luôn dạy con gái sống tử tế và biết yêu thương mọi người. Lớn lên trong thiếu thốn, Hương mở một tiệm may nhỏ để mưu sinh. 

Ban đầu họ chỉ là những người hàng xóm biết mặt. Cho đến một buổi chiều trên sân cầu lông của xã. 

- Thầy giáo có biết chơi không?

Hương cười hỏi. 

- Biết chút chút thôi.

-Vậy đánh thử một trận thầy nha. 

-Nếu em thua phải đi ăn chè với thầy nhé? 

-Dạ thầy .

 

Trận cầu đầu tiên bắt đầu như thế.

 

Không ai ngờ từ một buổi chiều bình thường, cuộc đời họ lại gắn chặt với nhau. Chiều nào tan trường, Thành cũng ghé sân cầu lông. Hương luôn ở đó. Tiếng cười của họ vang lên giữa khoảng trời quê bình yên. Người trong xã bắt đầu trêu: 

- Cô thợ may với thầy giáo đẹp đôi quá.

Hương đỏ mặt. Thành chỉ cười. Nhưng trong lòng anh, một tình cảm dịu dàng đã âm thầm lớn lên.

 

Thành đã có những năm tháng xa quê, xa cha mẹ. Anh luôn khát khao một mái ấm gia đình để cuộc sống phương xa không còn cô đơn. Dù gia cảnh Hương không khá giả, anh chưa từng bận tâm. Anh từng từ chối nhiều đồng nghiệp, bởi tin rằng điều quý giá nhất của đời người là tìm được một người đồng hành chân thành. Anh đã chia tay một tiểu thư con “Tổng cục trưởng” đang đương chức.. Anh quan niệm hôn nhân phải có một tình yêu thực sự mới bền vững.

 

Một buổi chiều cuối hạ, sau trận cầu kéo dài đến khi trời tối, Hương chợt hoảng hốt: 

- Dây chuyền của em đâu rồi?

Đó là kỷ vật cuối cùng mẹ cô để lại. Cả sân rộng chìm trong bóng tối. Ai cũng nghĩ không thể tìm lại được. Nhưng Thành chạy về lấy đèn pin rồi quay lại. 

- Anh sẽ tìm giúp em.

Đêm ấy anh lội khắp cánh đồng, soi từng bụi cỏ, từng mô đất. Gần nửa đêm, ánh đèn pin phản chiếu một tia sáng nhỏ. 

- Tìm thấy rồi!

Hương bật khóc khi nhận lại sợi dây chuyền. Đó không chỉ là món trang sức, mà còn là ký ức của mẹ, là một phần tuổi thơ của cô. Từ khoảnh khắc ấy, trái tim hai người thật sự thuộc về nhau. Hương đứng lặng để anh đeo sợi dây vào cổ, Thành nghe rõ từng nhịp đập từ trái tim cô và mùi hương của tóc.

 

Bốn năm sau, họ tổ chức đám cưới. Không xa hoa lộng lẫy nhưng đủ đầy niềm vui. Bà con lối xóm, đồng nghiệp và học trò đến chúc phúc đông vui. Nhiều người bất ngờ khi Thành chọn Hương bởi anh từng có cơ hội quen biết những cô gái xuất thân từ gia đình danh giá. Nhưng với anh, tình yêu chân thành luôn đáng quý hơn mọi điều kiện vật chất.

 

Trong chiếc áo dài trắng do chính tay mình may, Hương bước đến bên người đàn ông của đời mình. 

- Anh nhìn gì vậy?

- Nhìn người anh muốn cô học trò theo thầy mãi những mùa hoa phượng.

Nụ cười của Hương hôm ấy theo anh suốt cả cuộc đời.

 

Những năm tháng sau đó là hành trình đầy yêu thương nhưng cũng không ít khó khăn. Đồng lương giáo viên ít ỏi. Sau giờ dạy, hai vợ chồng chạy chiếc xe Dame chở chuối từ xã khác về làm kem chuối bán thêm cho học sinh. Thành mua dê, mua bò, gửi người dân nuôi ăn chia. Anh trồng tràm bông vàng với ước mơ một ngày thu hoạch đủ tiền mua chiếc Dream II, niềm mơ ước của biết bao thanh niên những năm 1990. Tiệm may của Hương khi đông khách, khi vắng khách. Nhiều đêm hai vợ chồng ngồi tính toán từng đồng chi tiêu, nhưng chưa bao giờ than trách số phận. Họ tin rằng chỉ cần đồng lòng thì sẽ vượt qua tất cả.

 

Rồi hai người con lần lượt ra đời. Một trai, một gái. Ngôi nhà nhỏ lúc nào cũng đầy tiếng cười. Ban ngày, Thành đứng lớp; tối về phụ vợ làm sinh tố, cắt may, dạy thêm. Hương vừa may đồ vừa kèm con học bài. Cuộc sống tuy vất vả nhưng ấm áp và hạnh phúc.

 

Năm tháng trôi qua. Con trai chuẩn bị tốt nghiệp ngành Dược, con gái bước vào cấp ba. Gia đình đứng trước một ngã rẽ lớn. Năm 2019, sau mười bốn năm chờ đợi, họ sang Mỹ định cư theo diện bảo lãnh.

 

Ngày rời quê, hai người đứng rất lâu trước ngôi trường cũ. Hàng phượng vẫn đỏ, những chiếc ghế đá, nơi in dấu hai người đã qua bao mùa mưa nắng. 

- Anh có tiếc khi chia tay nghề giáo không?

Thành im lặng hồi lâu rồi khẽ nói: 

- Có chứ. Nhưng ở đâu có em thì ở đó là nhà.


Những ngày đầu nơi đất khách đầy thử thách. Từ một người thầy giáo có công việc ổn định, có nhà cửa ở quê hương, nay anh cùng gia đình sống trong căn hộ nhỏ chỉ khoảng bốn mươi mét vuông. Các con vừa học vừa làm. Thành làm nhiều nghề để mưu sinh. Mỗi ngày là một lần bắt đầu lại. Nhưng rồi thời gian cũng mỉm cười với những người biết cố gắng, tràn đầy nghị lực. 

Sau sáu năm, cả gia đình ổn định cuộc sống. Họ mua được nhà riêng trong khu Villa Court. Các con thành đạt, hiếu thảo và luôn ở bên cha mẹ. Con trai mua nhà gần nhà cha mẹ. Con gái cuối tuần nào cũng đưa các cháu đến chơi. Ngôi nhà nơi xứ người lúc nào cũng rộn vang tiếng cười.

 

Sau bao năm vất vả, Thành và Hương bắt đầu thực hiện những chuyến đi mà tuổi trẻ chưa từng dám nghĩ đến. Họ ngắm mùa thu vàng ở Bắc Mỹ, câu cá trên vùng Ngũ Hồ lộng gió, ngắm hoa anh đào nở rực ở Washington và thăm lại những học trò cũ ở khắp các tiểu bang. 

Rồi một ngày, họ cùng nhau đặt chân đến châu Âu. Buổi sáng ở Paris, hai người ngồi bên quán cà phê nhỏ nhìn dòng người đi dưới những hàng cây cổ thụ. Tháp Eiffel hiện lên giữa bầu trời xanh như một bức tranh. Hương mỉm cười: 

- Hồi trẻ em đâu dám nghĩ có ngày mình ngồi ở đây. Em chưa dám nghĩ mình bước khỏi lũy tre làng.

Thành nắm nhẹ tay vợ: 

- Anh cũng vậy. Nhưng có lẽ hạnh phúc không phải là mình đi được bao xa, mà là người đi cùng mình là ai.

Ở Venice, hai người ngồi trên chiếc thuyền gondola trôi qua những con kênh cổ kính. Ánh chiều vàng phủ lên những mái nhà hàng trăm năm tuổi. Hương tựa đầu lên vai chồng như cô gái ngày nào trên sân cầu lông năm ấy. Họ lại nhớ những ngày tháng đi du thuyền trên sông Hương ngắm chùa Thiên Mụ, cầu Tràng tiền những dịp về thăm quê ngoại. 

Tại Thụy Sĩ, họ đứng trước những dãy núi phủ tuyết trắng. Những đồng cỏ xanh trải dài đến tận chân trời. Thành lặng người trước vẻ đẹp thiên nhiên kỳ vĩ rồi quay sang nhìn vợ. 

- Cảnh đẹp thật.

- Dạ đẹp. 

- Nhưng vẫn không đẹp bằng người ngồi cạnh anh hơn bốn mươi năm qua. 

Hương bật cười, nụ cười vẫn dịu dàng như thuở nào.  Không chỉ đi du lịch, hai vợ chồng còn tham gia các hoạt động thiện nguyện. Họ góp tiền xây giếng nước cho trẻ em nghèo, giúp học sinh khó khăn ở quê nhà, hỗ trợ người già neo đơn. Thành làm thơ, viết báo, in sách tặng thư viện vùng cao. 

Anh thường nói với các con: 

- Tiền bạc chỉ thật sự có ý nghĩa khi giúp được người khác.

Những năm tháng tuổi già trôi qua bình yên. Mỗi sáng cùng nhau uống trà. Mỗi chiều dạo bộ dưới hàng cây vàng lá. Mỗi cuối tuần quây quần bên con cháu. Nhìn con trai thành đạt, con gái hạnh phúc và những đứa cháu khỏe mạnh lớn lên, hai người hiểu rằng mọi nhọc nhằn năm xưa đều xứng đáng.

 

Một buổi chiều mùa thu, ánh nắng vàng phủ kín khu vườn sau nhà. Hương tựa đầu lên vai chồng. 

- Anh còn nhớ sân cầu lông ngày xưa không?

- Nhớ chứ.

- Nếu hôm đó em không rủ anh đánh cầu thì sao?

Thành bật cười. 

- Thì anh vẫn tìm cách gặp em.

Nụ cười của Hương vẫn hiền như ngày nào. Sau hơn bốn mươi năm chung sống, bàn tay ấy vẫn nằm trong tay anh. Họ đã đi qua nghèo khó, đi qua những tháng ngày gian nan, đi qua hai bờ đại dương để làm lại từ đầu. Và giờ đây, họ đang tận hưởng mùa vàng của hạnh phúc. 

Những hạt giống yêu thương gieo từ tuổi trẻ cuối cùng đã đơm hoa kết trái. Con cháu sum vầy. Gia đình trên thuận dưới hòa. Dâu hiền, rể thảo. Tuổi già an yên.

 

Chiều xuống thật chậm. Những dải nắng cuối ngày trải như chiếc khăn lụa vàng trên sân vườn. Thành nắm chặt tay Hương. Hai người cùng nhìn đàn cháu đang chạy nhảy dưới nắng. Không ai nói gì. Nhưng cả hai đều hiểu. 

Điều đẹp nhất trong cuộc đời một người thầy giáo vùng sâu không phải là những thành công hay những chuyến đi xa. Mà là ngày năm ấy, giữa sân cầu lông nhỏ của quê nghèo, anh đã gặp cô gái mang tên Hương. 

Người đã cùng anh đi hết một đời. 

Trong phòng khách, chiếc máy may hiệu Con Bướm và đôi vợt cầu lông được đặt ở nơi trang trọng nhất. Như lưu giữ một thời tuổi trẻ. Như nhắc nhớ về những ngày gian khó đã qua. Và như minh chứng rằng tình yêu chân thành, nếu được gìn giữ bằng sự hy sinh và tử tế, nhất định sẽ cho một mùa quả ngọt.

Lê Thi

         thivanle1569@gmail.com

READ MORE - XIN MÃI GỌI TÊN EM - Truyện ngắn: Lê Thi

YouTube: Ca khúc THƯƠNG VỀ CỐ NHÂN - Thơ: Đăng Nguyên - Nhạc: Nguyễn Tuấn - Siliconband AI

 

READ MORE - YouTube: Ca khúc THƯƠNG VỀ CỐ NHÂN - Thơ: Đăng Nguyên - Nhạc: Nguyễn Tuấn - Siliconband AI

Wednesday, July 29, 2026

BREATHE - THỞ / I DO NOT BELONG... - TÔI KHÔNG THUỘC VỀ - Thơ: Eva Petropoulou Lianoy - Bản dịch: Trần Thị Lan Anh



1. Thở

Thở đi…

Bạn chỉ có một giây
để nhìn lại cả cuộc đời mình
trước khi rời khỏi thế gian này…

Hãy lựa chọn…

Được sinh ra lần nữa
trong một thực tại khác.


©® Eva Petropoulou Lianoy


🍀🍀🍀


2. Tôi không thuộc về…

Suốt cuộc đời,
người ta dạy tôi phải làm gì,
phải nghĩ thế nào,
phải hành động ra sao,
phải yêu thương, phải sống,
phải mỉm cười như thế nào…

Suốt những năm tháng học hành,
người ta dạy tôi cách hiện diện,
cách ăn mặc,
cách nói năng,
cách cảm nhận…

Suốt những ngày tháng nơi công việc,
người ta dạy tôi phải cư xử thế nào,
phải ngồi ra sao,
phải phản ứng thế nào,
phải lên tiếng, phải can thiệp,
phải giao tiếp…

Tất cả những khuôn mặt ấy,
tất cả những điều ấy,
khiến tôi cảm thấy
mình không thuộc về nơi này.

Tôi không thuộc về
những nửa sự thật.

Tôi không thuộc về
khu vườn nhỏ bé ấy.

Tôi không thuộc về
những lời chưa bao giờ được nói ra.

Tôi không thuộc về
những chiếc hộp chật hẹp
giam giữ nụ cười của buổi sớm mai.

Tôi không thuộc về
những tiếng hét
và những cuộc xây dựng tình yêu
mà tôi chưa từng nhận được.

Tôi không thuộc về
những khả năng mơ hồ, bất định.

Nhưng…

Tôi thuộc về chính mình.

Tôi thuộc về
khả năng bước lên một ngọn núi lớn.

Có thể tôi sẽ không bao giờ chạm tới đỉnh cao,

nhưng tôi thuộc về
những giấc mơ của tôi…


©® Eva Petropoulou Lianoy

 

1.Breathe 

Breathe

U are having 1 second to see your whole life before you die..Choose... 

Re born in anorher reality


©®Eva Petropoulou Lianoy

 

🍀🍀🍀

 

2.

Ι do not belong...

All your life they teach how u must do, think, act, love, live, smile

All the years of education they teach how u must be present, dress, talk, feel...

All the time at your job they teach u how u behave, how u must seat, react, claim, interfere, communicate...

All those faces they teach me... make me feel that i do not belong

I do not belong in half truth

I do not belong in that small garden

I do not belong in the words that were never said

I do not belong in small boxes that keep the smile of the morning

I do not belong in shouting and builing of the love, i never get

I do not belong in the uncertain possibilities

But i do belong in myself

And in the possibility of climbing a big mountain

Maybe never go to the top

But I do belong in my dreams.. 


©®Eva Petropoulou Lianoy


🍀🍀🍀

From: Dipl.-Kauffrau Thi-Lan Anh Tran 

Wirtschaftskanzlei@dipl-kauffrau-tran.de


🍀🍀🍀

Eva Petropoulou Lianoy là một tác giả, nhà thơ và nhà báo người Hy Lạp từng đoạt nhiều giải thưởng; bà nổi tiếng với các tác phẩm văn học thiếu nhi, các hoạt động thúc đẩy văn học quốc tế và vai trò đại sứ văn hóa tại nhiều tổ chức thơ ca toàn cầu. 

Thông tin cơ bản và sự nghiệp - Thời trẻ & Báo chí: Sinh ra tại Xylokastro (Hy Lạp), bà từng theo học ngành báo chí (bao gồm cả tại Trường ANT1) và làm việc tại Paris cho tờ báo Pháp *Le Libre Journal* trước khi trở về sinh sống tại Athens.

Các tác phẩm văn học: Bà đã xuất bản hơn 10 cuốn sách, tiêu biểu như *The Daughter of the Moon* (Con gái của Mặt Trăng) và *Zeraldin and The Elf of the Lake* (Zeraldin và Tinh linh Hồ nước). Các tác phẩm của bà đã được Bộ Giáo dục và Văn hóa Cộng hòa Síp phê duyệt đưa vào hệ thống thư viện trường học và được dịch sang nhiều ngôn ngữ trên thế giới. 

Các tổ chức quốc tế: Bà đảm nhiệm vai trò đại diện, đại sứ hoặc biên tập viên cho nhiều tổ chức nghệ thuật quốc tế, chẳng hạn như International Academy of Ethics (Học viện Đạo đức Quốc tế) và Mil Mentes Por Mexico.

Google.com

 

READ MORE - BREATHE - THỞ / I DO NOT BELONG... - TÔI KHÔNG THUỘC VỀ - Thơ: Eva Petropoulou Lianoy - Bản dịch: Trần Thị Lan Anh

NHÀ PHÊ BÌNH CÓ NGƯỜI "THƯƠNG" KẺ "GHÉT"- VÀ ĐÓ LÀ CÁI GIÁ CỦA SỰ THẲNG THẮN - Hoàng Thị Bích Hà

 

Tác giả Hoàng Thị Bích Hà

NHÀ PHÊ BÌNH CÓ NGƯỜI "THƯƠNG" KẺ "GHÉT"

- VÀ ĐÓ LÀ CÁI GIÁ CỦA SỰ THẲNG THẮN

 

Công việc của một nhà phê bình là khai thác cái hay, cái đẹp của tác phẩm. Muốn hiểu sâu một tác phẩm, người phê bình không thể bỏ qua môi trường sáng tác, tiểu sử tác giả, hoàn cảnh xã hội và những tác động của lịch sử lên trang viết. Đồng thời, họ cũng có nhiệm vụ chỉ ra những điều chưa tới, những hạn chế của tác phẩm bằng tri thức, trải nghiệm và góc nhìn nghề nghiệp của mình.

Đó là công việc đòi hỏi bản lĩnh, sự trung thực, tinh thần độc lập cùng một vốn văn hóa đủ dày để bảo vệ quan điểm. Bởi vậy, một nhà phê bình làm đúng chức năng của mình không thể chỉ khen mà còn phải dám nói những điều người khác không muốn nghe. Và cũng chính vì thế, họ thường đứng ở một vị trí khá "nguy hiểm": tác giả đôi khi không thích bị phê bình, còn độc giả lại có những cách nhìn khác nhau. Nghề phê bình từ lâu vốn là nghề dễ "mang oán" trong đời sống văn chương.

Có một câu nói hài hước được truyền tụng trong giới văn học: "Tôi mong các nhà phê bình chết hết". Câu nói này thường được gán cho nhiều tác giả khác nhau, trong đó có nhà văn Ireland Samuel Beckett, nhưng đến nay vẫn khó xác định chính xác nguồn gốc.

Ở Việt Nam cũng có một giai thoại thú vị. Người ta kể rằng nhà thơ Xuân Diệu từng đùa: "Khi tôi chết, hãy chôn tôi cạnh một nhà phê bình văn học. Tôi muốn tiếp tục cuộc tranh luận với ông ta ở thế giới bên kia." Dù khó kiểm chứng từng câu chữ, nhưng câu chuyện phần nào phản ánh mối quan hệ vừa đối đầu vừa gắn bó giữa người sáng tác và người phê bình.

Thực ra, mối quan hệ ấy từ lâu đã là một đề tài thú vị của văn chương. Victor Hugo xem phê bình là cần thiết nhưng không ít lần bực bội vì bị hiểu sai. Mark Twain nổi tiếng với những lời châm biếm sắc sảo dành cho giới phê bình. Trong khi đó, Oscar Wilde lại cho rằng phê bình, khi đạt đến trình độ cao, cũng là một hình thức sáng tạo nghệ thuật.

Ông từng nói: "Phê bình là hình thức tự truyện cao nhất."

Ý của Oscar Wilde là mỗi nhà phê bình, khi đọc một tác phẩm, cũng đồng thời bộc lộ vốn sống, học vấn, thẩm mỹ và thế giới quan của chính mình. Vì vậy, một nhà phê bình giỏi không phải là người luôn đúng, mà là người có khả năng mở ra những cách đọc mới, những góc nhìn đáng suy ngẫm đối với tác phẩm.

Người đọc có thể đồng tình hoặc phản đối họ. Nhưng nếu những trang phê bình khiến người ta muốn đọc lại một tác phẩm bằng con mắt sâu sắc hơn, thì nhà phê bình ấy đã hoàn thành sứ mệnh của mình.

Văn chương cần người sáng tác để tạo ra tác phẩm. Nhưng văn chương cũng cần những nhà phê bình để đối thoại với tác phẩm ấy. Và mọi cuộc đối thoại thực sự đều có khả năng làm mất lòng ai đó. Người sáng tác cũng như người phê bình đều phải có sức chịu đựng trước mọi khen chê. Bởi vì khi tác phẩm ra đời, sự khen chê là quyền của độc giả. Chấp nhận với một thiện ý là: VÌ TÌNH YÊU VĂN CHƯƠNG.

Sài Gòn, ngày 21/6/2026

Hoàng Thị Bích Hà

          habich1963@gmail.com

        https://www.facebook.com/hoang.ha

 

READ MORE - NHÀ PHÊ BÌNH CÓ NGƯỜI "THƯƠNG" KẺ "GHÉT"- VÀ ĐÓ LÀ CÁI GIÁ CỦA SỰ THẲNG THẮN - Hoàng Thị Bích Hà

TÊN LÀNG TRONG TÂM THỨC NGƯỜI QUẢNG TRỊ - Nguyễn Khắc Phước - Hình: Tran Dang Mau sưu tầm.






TÊN LÀNG TRONG TÂM THỨC NGƯỜI QUẢNG TRỊ


Trong làn sóng sắp xếp, sáp nhập các đơn vị hành chính cấp xã gần đây, không ít tên làng, tên xã lịch sử tại Quảng Trị – cũng như nhiều vùng quê khác trên khắp Việt Nam – đã dần khuyết bóng trên bản đồ hành chính mới. Những cái tên quen thuộc gắn liền với bao thế hệ, từ tờ giấy khai sinh đến tấm bưu thiếp, nay chỉ còn nằm trong hoài niệm.

Tuy nhiên, địa danh hành chính có thể thay đổi theo yêu cầu phát triển của thời đại, nhưng “hồn làng” – nơi kết tinh của lịch sử mở đất, văn hóa, tập tục và tình máu mủ ruột rịt – thì không dễ gì bị xóa nhòa.

1. Nguồn gốc tên làng: Dấu ấn mở đất vùng Ô Châu

Quảng Trị – vùng đất đầu cầu của dải đất miền Trung, nằm trong vùng đất Ô Châu xưa – là nơi giao thoa và tiếp biến văn hóa mạnh mẽ. Nguồn gốc tên các làng quê ở Quảng Trị phản ánh rõ nét tiến trình khai sơn phá thạch của người Việt từ xứ Thanh - Nghệ tiến về phương Nam từ thế kỷ XIV–XVII.

  • Tên làng gắn liền với ước vọng hòa bình, hưng thịnh: Rất nhiều làng cổ ở Quảng Trị được đặt tên bằng những từ Hán-Việt mang ý nghĩa tốt đẹp. Ví dụ như Bích La (ngọc bích xanh mướt, tươi tốt), Gia Đẳng (gia đình, dòng họ dâng cao, phát triển), An Đôn, Đại An (sự bình an, vững bền).
  • Tên làng gắn với địa danh, sản vật hoặc nghề nghiệp: Những tên gọi nôm na như Làng Cát, Chợ Sãi, Làng Vôi hay các tên làng gắn với sông nước như Đông Hà, Cửa Tùng lại xuất phát từ chính đặc điểm tự nhiên, vị trí địa lý hay sinh kế truyền thống của cư dân bản địa.

Mỗi cái tên không đơn thuần là một danh từ để gọi, mà là tấm "thẻ căn cước" ghi dấu công ơn của các vị Tiền hiền, Hậu hiền – những người đã dũng cảm dắt díu con cháu vào vùng đất mới "họa sơn hãi thủy" để lập làng, dựng nghiệp.

2. Văn hóa, tập tục và những mối quan hệ trong làng quê Quảng Trị

Xã hội làng quê Quảng Trị mang đầy đủ những đặc trưng tiêu biểu của làng xã Việt Nam truyền thống, nhưng đồng thời cũng mang đậm bản sắc riêng biệt của vùng đất giàu bản lĩnh và gian lao.

Quan hệ huyết thống và tâm thức "Đồng dòng, chung họ"

Ở Quảng Trị, mối quan hệ họ hàng, dòng tộc cực kỳ khăng khít. Trong một làng thường có nhiều họ lớn (Nguyễn, Lê, Trần, Hoàng/Huỳnh, Phan...), mỗi họ lại chia thành các Chi, Phái.

  • Nhà thờ họ (Tộc đường): Là trái tim tâm linh của dòng họ. Dù đi đâu về đâu, ngày giỗ Tổ (Giỗ Họ), con cháu khắp nơi đều thu xếp trở về.
  • Tập tục Gia phả: Lịch sử dòng họ được ghi chép cẩn thận. Quan hệ huyết thống quyết định đến cách xưng hô, cư xử và tinh thần "một giọt máu đào hơn ao nước dã". Sự tương trợ giữa các gia đình trong cùng dòng họ khi có biến cố, hoạn nạn hay hỉ sự là nét đẹp văn hóa ăn sâu vào máu thịt.
  • Quan hệ hôn nhân: Các họ tộc trong làng đều có quan hệ hôn nhân qua nhiều đời, nhiều thế hệ. Bà con trong làng đều là bà con nội hoặc ngoại với nhau.  Mỗi khi nhà ai có đám, tiệc, tất cả mọi người trong làng đều đến dự.  

Văn hóa tâm linh và tín ngưỡng cộng đồng

  • Lễ Tế Thu / Lễ Kỳ Yên: Hằng năm, các làng quê Quảng Trị đều tổ chức lễ tế Đình làng để tạ ơn Bổn Cảnh Thành Hoàng và các vị Tiền hiền. Đây là dịp để toàn thể dân làng tụ họp, không phân biệt giàu nghèo.
  • Tín ngưỡng thờ Thần và Mẫu: Sự hòa quyện giữa tín ngưỡng thờ thần sông, thần núi, thờ cá Ông (ở các làng chài ven biển như Cửa Tùng, Mỹ Thủy) với thờ Mẫu Thiên Y A Na tạo nên một không gian văn hóa tâm linh vừa linh thiêng, vừa gần gũi.

Mối quan hệ "Tình làng nghĩa xóm"

Bên cạnh quan hệ huyết thống theo chiều dọc, quan hệ xóm giềng theo chiều ngang (Xóm, Phe, Giáp) tạo nên sức mạnh đoàn kết cộng đồng. Mối liên kết này thể hiện rõ nhất qua:

  • Tục hoán công (đổi công): Giúp nhau mùa cấy, mùa thu hoạch.
  • Chia sẻ ngọt bùi: "Bát canh rau ngót nghĩa tình", "con cá tươi vừa kéo dưới sông lên" đều được chia sẻ qua bờ rào dâm bụt.
  • Văn hóa ẩm thực đậm đà: Rượu Kim Long, ớt bột Hải Lăng, bánh lọc, bánh nậm... những món ăn giản dị nhưng chứa đựng cả sự tảo tần, khéo léo của người phụ nữ quê Trị Thiên.

3. Thách thức khi mất tên làng trong làn sóng sáp nhập

Khi các xã cũ hợp nhất thành đơn vị hành chính mới, việc lựa chọn một tên gọi chung thường dẫn đến hệ quả là tên của một số làng, xã lâu đời phải lui vào lịch sử. Sự thay đổi này mang lại không ít trăn trở:

  • Sự hụt hẫng về mặt ký ức: Tên làng là sợi dây kết nối thế hệ hiện tại với tổ tiên. Mất tên làng trên giấy tờ khiến nhiều người già cảm thấy như mất đi một phần ký ức, một phần danh xưng tự hào.
  • Nghịch lý về di sản: Nhiều làng nghề truyền thống, danh nhân lịch sử hay di tích gắn liền với cái tên cụ thể. Khi tên làng không còn trên bản đồ hành chính, việc bảo tồn và quảng bá di sản văn hóa gặp không ít khó khăn.

4. Giải Pháp: Để giá trị tên làng vẫn mãi bền lâu

Mất tên làng trên giấy tờ hành chính không có nghĩa là xóa bỏ làng trong đời sống văn hóa. Lịch sử Việt Nam đã chứng minh, làng xã có sức sống vô cùng dai dẳng. Để những giá trị văn hóa, tập tục và tình nghĩa làng quê Quảng Trị không bị lãng quên, chúng ta cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp:

1. Bảo tồn địa danh trong đời sống dân gian và không gian sinh hoạt

  • Giữ nguyên tên làng trong sinh hoạt cộng đồng: Dù tên xã mới là gì, tên các làng cổ (thôn, xóm) vẫn nên được giữ nguyên trong tên gọi của các Đình làng, Nhà thờ họ, Chợ làng, Cổng làng.
  • Viết Địa chí làng và Số hóa ký ức: Mỗi làng nên khuyến khích các trí thức, người cao niên ghi chép lại Địa chí làng (lịch sử hình thành, các dòng họ, phong tục, lễ hội, các câu chuyện dân gian). Hiện nay, việc ứng dụng công nghệ số để làm "Bản đồ di sản làng" hay số hóa gia phả là hướng đi rất hiệu quả.

2. Phát huy vai trò của nhà thờ họ và các lễ hội truyền thống

  • Duy trì Lễ Tế Đình và Giỗ Họ: Đây chính là "sợi dây tâm linh" bền chặt nhất. Dù địa giới hành chính thay đổi, ngày giỗ Tổ, ngày tế Thu vẫn là thời điểm để con cháu tìm về nguồn cội, ôn lại lịch sử của làng và dòng họ.
  • Trao truyền cho thế hệ trẻ: Tổ chức các buổi sinh hoạt truyền thống tại Đình làng, dạy cho thanh thiếu niên hiểu về nguồn gốc làng mình, về ý nghĩa của từng câu hoành phi, câu đối trong Nhà thờ họ.

3. Quy hoạch không gian văn hóa "Làng trong xã mới"

  • Bảo tồn các kiến trúc làng cổ: Giữ gìn cây đa, bến nước, sân đình, cổng làng, các giếng cổ... Đây là những di sản vật thể trực quan nhất nhắc nhở về sự tồn tại của làng.
  • Kết hợp bảo tồn với du lịch trải nghiệm: Quảng Trị có thể phát triển các tour du lịch văn hóa làng quê, làng nghề (như làng đúc đồng Phường Đúc, làng nón, làng dệt...), lấy chính câu chuyện lịch sử của làng làm giá trị thu hút du khách.

4. Đặt tên công trình công cộng theo tên làng cũ

  • Chính quyền địa phương khi quy hoạch các công trình mới như: trường học, công viên, cầu, đường phố, nhà văn hóa có thể lấy tên của các làng cổ đã bị giải thể để đặt tên. Đây là cách "sống lại" tên làng vô cùng văn minh và bền vững trong không gian hiện đại.


Lời Kết

Tên làng trên giấy tờ hành chính chỉ là một ước lệ quản lý của nhà nước trong từng thời kỳ lịch sử. Nhưng Làng trong tâm thức người Việt là một thực thể văn hóa, tâm linh vô hình nhưng vô cùng mạnh mẽ.

Người Quảng Trị – với bản tính kiên cường, trọn nghĩa trọn tình – dù ở đâu, dù tên xã tên làng trên bản đồ có đổi thay, thì trong tâm khảm của họ, tiếng gọi "Tôi là người làng Bích La", "Tôi là con cháu làng Kim Long" vẫn sẽ luôn vang vọng. Giữ được nếp nhà, giữ được tình làng nghĩa xóm, giữ được lòng kính thờ tổ tiên – đó chính là cách bền vững nhất để "hồn làng" Quảng Trị sống mãi với thời gian.


HÌNH CỔNG LÀNG QUẢNG TRỊ TỪ FACEBOOK CỦA ANH TRAN DANG MAU





































Anh Tran Dang Mau sưu tập số lượng khá nhiều hình cổng các làng ở Quảng Tri. Bên cạnh mỗi hình cổng làng, anh có thêm một vài dòng thông tin về vị trí và đặc điểm của làng. Mời quý bạn bấm vào liên kết dưới đây để mở trang FaceBook của anh Tran Dang Mau.

https://www.facebook.com/trandang.mau



READ MORE - TÊN LÀNG TRONG TÂM THỨC NGƯỜI QUẢNG TRỊ - Nguyễn Khắc Phước - Hình: Tran Dang Mau sưu tầm.