Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Lang Trương. Show all posts
Showing posts with label Lang Trương. Show all posts

Tuesday, March 24, 2020

GIỚI THIỆU TẬP HỒI KÝ “CHUYỆN ĐỜI TÔI” CỦA NGUYỄN THỊ NGỌC DIỆP - Châu Thạch


           



GIỚI THIỆU TẬP HỒI KÝ “CHUYỆN ĐỜI TÔI” CỦA NGUYỄN THỊ NGỌC DIỆP
                                                                        Châu Thạch

     Chắc chắc, rất ít người biết đến bút hiệu nầy vì tác giả không phải là một nhà văn chuyên nghiệp. Chắc chắn, rất ít người biết đến tác phẩm nầy vì tác giả chỉ in 100 quyển dành để tặng cho những người yêu mến mình. Thế nhưng, nếu ai đọc được tập hồi ký nầy thì nước mắt sẽ rơi, rơi vì nhiều cảm xúc:

Thứ nhất:
- Cảm xúc vì một đời người luôn chịu những nỗi đắng cay
- Cảm xúc vì một thời cuộc đã qua trong máu lửa và trong đau thương.

Thứ hai:
- Cảm xúc vì một nhân vật có thật trong hồi ký đã vượt qua mọi chông gai của đời để lớn lên trong tri thức, trong nhân cách của mình, như một bông hoa đẹp nở trên vùng sỏi đá.
- Cảm xúc vì phẫn nộ trước những con người gian ác, rung động trước những tâm hồn nhân đạo. Tất cả đều có thật, diễn ra trong tập hồi ký như một hoạt cảnh trường đời hấp dẫn và lý thú


     Tập hồi ký dài gần 500 trang, gồm có 5 chương và phần kết, 68 tiêu đề, nhà thơ Lang Trương viết lời tựa:

Chương I: Sinh Ra Từ Gốc Rạ Quê Nghèo.

     Nguyễn Thị Ngọc Diệp kể lại tuổi thơ của mình. 13 tuổi, con Bê còn ở truồng, không có áo quần để mặc, tắm mưa, kéo mo cau, mút cà rem, không đi học nên không biết chữ và lớn dần, vô tư với một mối tình rất tự nhiên của Tám Nho, một thanh niên mộc mạc chất phát. Thế rồi, một tháng mười thương đau đến, cha chết, chị chết, chiến tranh lan tràn trên quê hương, đẩy con người đi vào địa ngục trần gian.

Chương II: Xa Quê Tìm Con Chữ.

     Bỏ quê hương cho Tám Nho đứng ngóng theo dưới rặng tre đầu làng, không hứa hẹn gì với người đơn phương e ấp yêu mình, đi đến xứ “đất đỏ mưa bùn” An Hòa, Quảng Nam. Tìm việc trong một bệnh viện Việt Đức. Học tiếng nước Đức, học chữ nước Đức trước khi học chữ nước mình. Từ một nhân viên tạp dịch quê mùa, không biết chữ, tôi luyện trở thành một y tá giỏi, tốt nghiệp ngay trên xứ người.

Chương III: Biến Cố Cuộc Đời.

     Sau ngày đất nước thống nhất, chịu chung số phận của phe thua cuộc, bị nghi ngờ, bị mất việc, buôn chùng bán chạy, vượt biên bị bắt và tù tội. Ra tù, không nơi nương tựa, không có chỗ ở, hứng chịu liên miên những điều tồi tệ của con người và của thể chế trước khi qua được nước Đức để định cư.

Chương IV: Nước Đức Trong Tôi.

     Kể lại những lần đến Đức, ân nghĩa của nước Đức, của người Đức, cùng sự nhạy bén, phấn đấu không mệt mỏi của tác giả để đạt được những thành quả khó tin là có thật trong cuộc đời.

Chương V: Ân Nghĩa người Dưng.

     Kể lại những ân nhân, những nghĩa cử đầy nhân bản của những con người, kể cả hai phía, đã đem đến cho tác giả niềm an ủi vô biên.

- Phần Kết Của Hồi Ký:

Tác gỉả tâm sự những điều sâu thẳm trong lòng mình, những tình cảm chan chứa đối với cha mẹ, thân nhân, con cháu, bạn bè và những thương yêu, buồn giận, những điều được điều mất mà tác giả đã trải qua, như con thuyền cứ trôi hoài qua bão tố, dầu hôm nay đang sống trên một đất nước văn minh và giàu có.

Phần kết của bài viết nầy:

     Nhận định Chuyện Đời Tôi, nhà thơ Lang Trương đã viết:
“Chuyện Đời Tôi của Nguyễn Thị Ngọc Diệp là những trang đời đẫm nước mắt nhưng không hề bi lụy mà tràn ngập tính nhân văn. Người đọc không tìm thấy lòng thù hận mà chỉ thấy tình yêu trải dài trong suốt quyển hồi ký. Chị viết đơn giản, mộc mạc như lời tâm tình, thủ thỉ trò chuyện với chính mình. Phong cách hành văn theo lối tự sự đó đã lay động trái tim bạn đọc. Những gì chân thành xuất phát từ trái tim rất dễ kết nối những trái tim”

     Đúng vậy, tôi đã thấy những nhà trí thức, những nhà thơ, nhà văn sau khi đọc Chuyện Đời Tôi thì nói hoài nói mãi những lời khen ngợi. Tôi đã thấy những bà nội trợ rất ít đọc sách, ôm Chuyện Đời Tôi đọc suốt đêm, rồi sáng hôm sau, kể lại cho chồng con nghe một cách thích thú. Tôi cũng đã thấy những Việt kiều tuổi trẻ, lớn lên sau 1975, đọc Chuyện Đời Tôi và rơi nước mắt.

     Vậy tôi nghĩ, không cần nói thêm điều gì nữa cho bài viết thêm dài. Nếu một ngày nào đó, hồi ký Chuyện Đời Tôi của Nguyễn Thị Ngọc Diệp đoạt một giải thưởng lớn thì tôi cũng không ngạc nhiên mấy, vì nó xứng đáng được như vậy!

                                                                    Châu Thạch

READ MORE - GIỚI THIỆU TẬP HỒI KÝ “CHUYỆN ĐỜI TÔI” CỦA NGUYỄN THỊ NGỌC DIỆP - Châu Thạch

Wednesday, October 30, 2019

ĐỌC HAI BÀI THƠ HAY VỀ “CANH MẠNH BÀ” CỦA LANG TRƯƠNG VÀ VUA ĂN MÀY - Châu Thạch


 

             Nhà bình thơ Châu Thạch


ĐỌC HAI BÀI THƠ HAY VỀ “CANH MẠNH BÀ” CỦA LANG TRƯƠNG VÀ VUA ĂN MÀY
                                                                   Châu Thạch

 “Mạnh Bà là một nhân vật của nhiều truyền thuyết Á Đông gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam... Mạnh Bà là người chế tạo Chén Canh Mạnh Bà ở dưới Địa Phủ giúp các vong hồn quên hết mọi chuyện kiếp trước, trước khi đầu thai kiếp sau.
Người ta nói rằng, sau khi con người chết đi, linh hồn sẽ phải đi qua một con đường gọi là Hoàng Tuyền lộ. Cuối đường có dòng sông Vong Xuyên, nước chảy không ngừng. Bắc ngang qua sông là cầu Nại Hà, đi hết cây cầu này sẽ đến Vọng Hương Đài. Những linh hồn được đầu thai làm người đều phải qua Vọng Hương Đài này, rồi uống bát canh quên lãng của một bà lão tên là Mạnh Bà.
Bất cứ ai uống bát canh Mạnh Bà ấy thì mọi chuyện trong quá khứ đều trôi theo dòng nước Vong Xuyên mà chìm vào quên lãng. Những hỷ nộ ai lạc, những ân oán tình thù, hết thảy đều tan đi như làn khói, chỉ còn lại ký ức trống rỗng cùng một gương mặt yên bình.
Tuy nhiên, trên thế giới có rất nhiều trường hợp, có lẽ vì không uống bát canh Mạnh Bà này, nên đã nhớ được hết thảy những chuyện của đời trước, và những câu chuyện được kể lại hết sức chân thực, khiến người ta không thể không hoài nghi rằng, luân hồi chuyển thế phải chăng là chuyện chân thực.”

Câu chuyện Canh Mạnh Bà chắc chắn chỉ là chuyện huyễn hoặc do người xưa hư cấu. Thế nhưng nhờ nó, nhiều nhà thơ dùng làm đề tài sáng tác ra thơ hay. Hai trong những bài thơ như thế mà tôi đọc được là của nhà thơ Lang Trương và cúa nhà thơ Vúa Ăn Mày. Trước hết mời quý vị hãy xem bài thơ của Lang Trương:


         
                   Nhà thơ Lang Trương


CANH MẠNH BÀ
(Tặng Đức Thanh)

Tưởng rất gần mà thật xa xăm
Trong gang tấc, một đời không với tới
Em và ta, chung đường ngược lối
Đã bao lần ngắm thiên hạ thành đôi.

Ta đã tìm em khắp sáu nẻo luân hồi
Chợt gặp nhau khi ráng chiều vừa tắt
Áo nâu sồng nhuốm lời kinh dìu dặt
Em trợ duyên người, sao chẳng trợ duyên ta ?

Sợ quên em ta không uống chén Mạnh Bà
Giữ cho em qua Nại Hà không lạc lối
Từng bước chân son, em qua cầu rất vội
Chẳng đoái hoài ta nơi bể khổ trầm luân.

Thuận duyên lành, em nhẹ gót đưa chân
Tâm hướng thiện nương cửa thiền sớm tối
Bỏ mặc ta giữa dòng đời trôi nổi
Mang nặng trong tim mình, một tảng đá ba sinh.

Muôn vạn lần say cũng không thể quên mình
Bởi kiếp trước, chén Mạnh Bà ta không uống
Mãn cuộc rong chơi, thêm một lần đi xuống
Chén Mạnh Bà, thêm một lần,
ta cũng sẽ không uống,
vì em !
                                                Lang Trương

Phải nói rằng bài thơ bày tỏ một tình yêu chung thủy đến ngàn năm. Câu chuyện được kể lại như một trường thiên tiểu thuyết đi qua trăm ngàn kiếp làm người.

Ở khổ thơ đầu ta thây nhà thơ nói “Em và ta, chung đường ngược lối”. Vậy thì, hoặc là nhà thơ chỉ yêu đơn phương, hoặc là có một sự ngăn trở mà nhà thơ không vượt qua được, nên dầu hai người đi chung một con đường mà ông tơ bà nguyệt cứ rẽ lối chia đôi.

Qua khổ thơ thứ hai nhà thơ nói “Ta đã tìm em sáu nẻo luân hồi”. Sáu nẻo hay sáu cõi luân hồi là gì?  Sáu cõi luân hồi là thuật ngữ trong Phật giáo dùng để chỉ về những con đường mà chúng sinh sẽ tái sinh vào sau khi chết. 6 cõi luân hồi bao gồm:

Cõi trời
Cõi thần
Cõi người
Cõi súc sinh
Cõi ngạ quỷ
Cõi địa ngục.

Ai cũng biết rằng, đời người sống 70. 80 hay 100 năm rồi chết thì xem như qua một kiếp, hay một vòng, hay một nẻo luân hồi. Thế nhưng một kiếp của ta đỗi với sự trường tồn của vũ trụ thì nó chỉ như một cái chớp của ánh sáng hay bóng tối mà thôi. Vậy thì Lang Trương lang thang sáu nẻo luân hồi, tức là nhà thơ đã đi qua nhiều kiếp đầu thai vào nước trời, nước người, cho đến nước địa ngục để tìm em.

Rồi thì trong một kiếp cuối cùng nhà thơ cũng gặp được em, nhưng gặp được em trong hoàn cảnh éo le. Gặp em ở buổi “ráng chiều vừa tắt” là ở gần cuối cuộc đời. Trớ trêu hơn nữa, nhà thơ gặp em thì em đã đi tu, đã mặc áo cà sa, còn nhà thơ là người thế tục. Ví đó, nhà thơ phải ai oán trách nàng: “Áo nâu sồng nhuộm lời kinh dìu dặt/Em trợ duyên người, sao chẳng trợ duyên ta?”

Bây giờ Lang Trương mới kể lể khóc lóc đây:

Sợ quên em ta không uống chén Mạnh Bà
Giữ cho em qua Nại Hà không lạc lối
Từng bước chân son, em qua cầu rất vội
Chẳng đoái hoài ta nơi bể khổ trầm luân.

Truyền thuyết kể rằng; “Vong Xuyên hà (dòng nước Vong Xuyên) còn được gọi “Tam Đồ hà”, chắn ngang giữa đường Hoàng Tuyền và âm phủ. Nước sông có màu đỏ như máu, bên trong đều là cô hồn dã quỷ không được đầu thai, những trận gió tanh hôi tạt thẳng vào mặt. Vì để kiếp sau có thể gặp lại người mình yêu thương nhất trong kiếp này nên có người không uống canh Mạnh Bà mà chấp nhận nhảy vào Vong Xuyên hà bao đau đớn, đợi nghìn năm mới có thể đầu thai.
Trong nghìn năm đó, họ sẽ nhìn thấy người mà mình yêu thương nhất trong kiếp này đi trên đầu, nhưng không thể nói chuyện với nhau, vì mình thấy họ, nhưng họ lại không thấy mình. Sau nghìn năm, nếu như lòng nhớ nhung không hề giảm đi, còn có thể nhớ được chuyện của đời trước, vậy thì mới có thể đầu thai trở lại, tìm kiếm người mà mình yêu nhất trong đời trước.
Ta biết rằng, tác gỉả bài thơ đã “Ta tìm em sáu nẻo luân hồi”. Như vậy, cứ mỗi lần để còn nhớ em, để có thể tìm em qua một nẻo luân hồi, thì phải chịu đau đớn thêm 1000 năm trầm mình dưới Vong Xuyên Hà, nhìn em đi qua trong nhiều kiếp, mình thấy em mà em chẳng thấy mình. Nếu tính đời người là 100 năm thì Lang Trương phải thấy em qua cầu Nại Hà 100 lần mới được đầu thai lại, để đi tìm em lại. Thế nhưng nhà thơ đã “Ta tìm em sáu nẽo luân hồi” tính ra cũng bằng triệu năm có lẽ!
Vậy nhưng, với lòng chung thủy vô biên, với quyết tâm phải được chung sống với em, nhà thơ lại thêm một lần từ chối uống bát Canh Mạnh Bà:

Muôn vạn lần say cũng không thể quên mình
Bởi kiếp trước, chén Mạnh Bà ta không uống
Mãn cuộc rong chơi, thêm một lần đi xuống
Chén Mạnh Bà, thêm một lần,
ta cũng sẽ không uống,
vì em !

Bây giờ xin mời đọc bài thơ “Mấy Nẻo luân Hồi” của Vua Ăn Mày cũng đề cập đến bát Canh Mạnh Bà


   
                         Nhà thơ Vua Ăn Mày


MẤY NẺO LUÂN HỒI

Từ bữa chia tay ngoài nhãn giới
Luân hồi mỗi đứa một đường đi
Ta men theo gió qua sông Nại
Quán Mạnh Bà uống mấy lon bia

Say bí tỉ, ăn nhầm cháo lú
Thiên duyên xưa lỡ mất, đâu ngờ
Mây tiền kiếp trắng trời thương nhớ
Chợt thấy lòng buồn hơn gió thu

Ta kiếm tìm em mờ đất tục
Lạc loài trôi cả tuổi thanh niên
Thu về mấy độ tàn hoa cúc
Ta đọa đày ta giữa xứ phiền

Đêm nay chợt thấy trăng mùa cũ
Phơi sắc vàng phai giữa lối xưa
Ta nhớ em nhiều, ta nhớ quá
Nơi nào em có nhớ thương ta

                         Vua Ăn Mày

Nhà thơ Vua Ăn Mày khác với Lang Trương, anh ta vì say mà uống nhầm bát Canh Mạnh Bà.  Bát Canh Mạnh Bà đã làm mất “thiên duyên” để có thể gặp lại em chớ không làm chàng quên em được. Nói một cách khác, Vưa Ăn mày đã thay đổi truyền thuyết Canh Mạnh Bà theo một hướng khác. Chàng trai trong thơ vì ham chơi, nói trắng ra là ham uống nên phải chịu đắng cay vì tội lỗi của mình. Bài thơ nói lên một thực tê nhan nhản xảy ra giữa đời nầy. Bao nhiêu cuộc tình chia ly chỉ vì một phút sai lầm, một phút yêu đuối, đế sầu phải nhận lảnh trăm năm.
Vì bát Canh Mạnh bà là chuyện không có thật, nên nhà thơ có thể sửa đổi, có thể hư cấu theo tưởng tượng của mình để gởi vào đó vần thơ, bày tỏ lòng thương nhớ một người hiện hữu hay một người trong mộng mà ta chưa gặp bao giờ. Vua Ăn Mày có lẽ còn đau khổ hơn Lang Trương, vì phải mang mặc cảm tội lỗi mà đi tìm em. Nếu tìm được em rồi biết nói sao đây? Biết đâu em không tha thứ mà ngoảnh mặt làm ngơ!

Đọc hai bài thơ nói về Canh Mạnh Bà của hai nhà thơ, tất nhiên tiếng thơ, ý thơ, vần điệu thơ khác nhau, thế nhưng ta thấy họ có một dáng thơ giống nhau. Đó là một dáng thơ mang tâm hồn lãng mạn. Câu chuyện của hai nhà thơ đều là hư cấu, ta biết không có nhưng ta vẫn yêu mối tình của họ, vì mối tình của họ nói lên những gì ấp ủ trong lòng ta, những nhớ thương, tìm kiếm một giai nhân không có trong đời ta, hay có chẳng cũng chỉ trong giấc huyễn mộng một đêm nào!

                                                                     Châu Thạch 

READ MORE - ĐỌC HAI BÀI THƠ HAY VỀ “CANH MẠNH BÀ” CỦA LANG TRƯƠNG VÀ VUA ĂN MÀY - Châu Thạch

Wednesday, July 17, 2019

“GÃ VÀ TA” THƠ LANG TRƯƠNG, TÊN CÔN ĐỒ THI SĨ - Châu Thạch


              Nhà thơ Lang Trương


GÃ VÀ TA
(Viết giúp ai đó)

Có một gã du côn đời bỏ lại
Ta vô tư nhặt được ở bên đường
Gã nắn nót vuốt cung đàn tình ái
Mọi nẻo đường đời bỗng hoá lối yêu đương.

Thơ ta viết lời yêu thương nồng cháy
Từ những giọt tình gã rót vào ta
Ta thèm khát mỗi ban mai thức đậy
Mỗi hoàng hôn, mỗi lúc bóng chiều tà.

Ta yêu gã, tên côn đồ thứ thiệt
Khoác áo thi nhân lem luốc chợ đời
Một nửa tâm hồn thanh cao tinh khiết
Gã vứt bên đường qua những cuộc chơi.

Cám ơn gã, chút men nồng tình ái
Đốt lòng ta cháy bỏng lúc trời chiều
Tim rạo rực như thuở còn con gái
Mỗi bước đường đời, thêm một bước liêu xiêu.

                                                     Lang Trương


      
                          Nhà  bình thơ Châu Thạch
                      
        “GÃ VÀ TA” THƠ LANG TRƯƠNG - 
                                    TÊN CÔN ĐỒ THI SĨ 
                                                      Châu Thạch

Lang Trương còn có biệt hiệu là Trương Đạo Sĩ, là người bạn thơ vong niên của tôi. Khi chưa gặp nhau tôi tưởng anh ta lớn hơn tôi ít nhất là 10 tuổi, vì thi phú của Lang Trương thật là chững chạc, kiến thức thật cao. Vậy nhưng khi gặp nhau, hóa ra anh ta thuộc hàng con cháu, nhỏ hơn tôi đến 25 tuổi. Tôi ít viết cảm nhận cho người quen thân vì nhiều lý do. Lần nầy thấy bài thơ ngông ngông thật dễ thương khiến cảm xúc trong lòng rạo rực muốn viết. Thôi thì xin viết tản mạn cho vui, chơ viết bình thơ, rủi sai trật thì gã nạt tôi như là nạt con cháu của gã, du côn mà. Vì trong bài thơ Lang Trương tự nhận mình là “du côn”, “côn đồ” nên tôi có cơ hội mở google tìm hiểu cuộc đời của nhiều tên du côn thuở xưa như Đại Ca Thay chẳng hạn. Tôi thấy những tên côn đồ hạng nhất xưa nay còn thua Lang Trương nhiều lắm, vì họ toàn bị tù tội và chẳng biết làm thơ.

Côn đồ Lang Trương không bị tù ngày nào, biết làm thơ phú hay có danh, lại còn làm đạo sĩ mà không theo pháp tu nào cả.
Kinh nghiệm cho biết những đạo sĩ mà không theo phương tiện nào để thành chánh quả thì thường theo phương tiện “Ghẹo Gái” mà thôi. Ha Ha ha! Thế nhưng ông bạn vong niên của tôi tu ghẹo gái thế nào mà đến nay tuổi đã tri thiên mạng vẫn còn độc thân. Lần nầy gã làm bài thơ viết giúp cho ai đó, nhưng đọc thì biết ngay không ai vào đó ngoài người yêu của gã!
Thôi bây giờ xin nói qua thơ.

 Vào đề:  

Có một gã du côn đời bỏ lại
Ta vô tư nhặt được ở bên đường

Bài thơ nầy tác giả lấy lời một người đàn bà để viết về mình. Hai câu thơ mở đầu tác giả tự hạ mình xuống thật thấp. Chúa nói “Ai hạ mình xuống thì ta sẽ đưa lên”. Ở đây Chúa chưa đưa lên mà hai câu thơ đã đưa tác giả lên rồi. Đọc thơ, bạn đọc nào cũng biết không ai dại gì tự cho mình là du côn cả, không ai dại gì tự hạ gíá trị mình xuống làm một vật rơi ở bên đường. Ở đây Lang Trương đã dùng phương pháp nghịch lý một cách kỷ xảo để tôn mình lên bằng những cụm từ hạ mình xuống. Tất nhiên đọc thơ ai cũng cảm tình ngay với chàng “du côn” tự hạ mình xuống thật là hiền hòa, thật là dễ thương ấy.

Tiếp hai câu sau:  

Gã nắn nót vuốt cung đàn tình ái
Mọi nẻo đường đời bỗng hóa lối yêu đương

Đúng y, gã không chỉ là du côn. Du côn thì không thể làm cho em “Mọi nẻo đường đời bổng hóa lối yêu thương”. Vậy gã còn  là nhà thơ? Chỉ có nhà thơ mới dễ hư cấu thành hoa bướm, trải thảm yêu thương trên khắp nẻo đường đời, dầu các nẻo đường đời ấy có lắm chông gai. Chỉ có nhà thơ thôi, chớ dầu có đại gia thì cũng không hóa hoa, hóa bướm dễ như vậy.
Đọc bốn câu thơ ta hiểu ngay Lang Trương đã tự thú trước bình minh rằng trong mình có hai bản chất: Một là du côn, một là thi sĩ.
Du côn thì thường có khí chất anh hùng hảo hán, thi sĩ thì mộng mơ, yêu thương và đắm đuối. Hai tính chất ấy hòa nhập trong một con người thì thành một nhân phẩm, một con người trác tuyệt hiếm có trên đời.
Bốn câu thơ Lang Trương viết có một ẩn dụ kín đáo vô cùng, nằm sâu trong ý thơ, nhưng lại thẩm thấu vào lòng người nhẹ như hơi nước, đến nỗi lòng người yêu mến sự kiêu hãnh trong thơ một cách tự nhiên trong vô thức của mình.

Tiếp khổ thơ thứ hai:

       Thơ ta viết lời yêu thương nồng cháy
       Từ những giọt tình gã rót vào ta
       Ta thèm khát mỗi ban mai thức đậy
       Mỗi hoàng hôn, mỗi lúc bóng chiều tà.

À hóa ra nàng cũng là thi sĩ. Thi sĩ mà gặp thi sĩ thì hai tâm hồn đồng điệu biết bao. Nếu họ khác nhau thì như hai cục nam châm cùng cực, đẩy nhau suốt đời. Nếu họ giống nhau thì như hai cục nam châm khác cực, hút vào nhau vô cùng khắng khít. Người nữ nầy cực âm, đã nhặt được bên đường một cực dương, hay đúng hơn là một viên trân châu quý giá, hay đúng hơn nữa là một mối tình vừa ý, nên yêu đến nỗi cuồng say da diết.

Qua khổ thơ thứ ba người phụ nữ thổ lộ hết tình yêu của mình và cũng công khai người yêu của mình là một tên côn đồ thi sĩ:

          Ta yêu gã, tên côn đồ thứ thiệt
          Khoác áo thi nhân lem luốc chợ đời
          Một nửa tâm hồn thanh cao tinh khiết
          Gã vứt bên đường qua những cuộc chơi.

Thật ra, bài thơ là của gã viết thay cho người nữ, nên những gì trong thơ là từ miệng lưỡi gã tự nói về mình. Người nữ yêu là vì yêu cái tính chất của gã: Côn đồ, thi nhân, lem luốc mà thanh cao và tinh khiết.
Chữ “côn đồ” chẳng qua là một cách viết nhún nhường để nói lên tính cách trung trực, hảo hán của con người, còn lại những từ khác đều chứng minh trong thơ được đây là tâm hồn của một kẻ sĩ.
Khổ thơ cũng cho ta biết gã là một con người bất đắc chí. Cuộc đời không ưu ái với một nhân tài, nên gã mới làm tên côn đồ, đem linh hồn thanh cao tinh khiết của mình vứt vào những cuộc ăn chơi.

Qua khổ thơ chót, ta thấy người nữ thốt lời cảm ơn, một lời cảm ơn không vui mấy, một lời cảm ơn buồn như ánh sáng của ngọn đèn bùng lên trước gió, để sẳn sàng chờ tắt đi trong một phút giây nào đó:

Cám ơn gã, chút men nồng tình ái
Đốt lòng ta cháy bỏng lúc trời chiều
Tim rạo rực như thuở còn con gái
Mỗi bước đường đời, thêm một bước liêu xiêu.

Yêu thì đến nỗi “Thơ ta viết lời yêu thương nồng cháy”, “ta thèm khát mỗi ban mai thức dậy/Mỗi hoàng hôn, mỗi lúc chiều tà”, “Gã nắn nốt vuốt cung đàn tình ái/Mọi nẻo đường bổng hóa lối yêu thương”, nhưng tất cả điều ấy chỉ được nàng cho là một “Chút men nồng tình ái” mà thôi.
Vì sao vậy? Tất nhiên ai cũng biết đó là thứ tình “lúc về chiều” trong bước đường đời “thêm một bước liêu xiêu”.

Đọc thơ không ai không thấy se lòng bởi mặc cảm bi quan của người phụ nữ, hiểu thấu và cảm thông với niềm đau của chính tác giả bài thơ. Nhà thơ đã viết cho người phụ nữ nhưng cũng viết chính cho mình, cho “Mỗi bước đường đời, thêm một bước liêu xiêu”, nghĩa là cả hai người đã bị đời xô đẩy biết bao lần.
Đọc toàn bộ bài thơ, ta thấy một chút ngông nghênh, một chút ngổ ngáo, một tâm hồn thi sĩ, một con người bất mãn, một tình  yêu như lửa cháy, tất cả tạo thi vị, tạo cảm xúc và tạo nên một trường phái viết thơ tình không khóc, không than, không bi lụy, khiến cho người đọc có vui có buồn và có cảm khoái rất mới lạ với thơ!!!

                                                                        Châu Thạch

READ MORE - “GÃ VÀ TA” THƠ LANG TRƯƠNG, TÊN CÔN ĐỒ THI SĨ - Châu Thạch

Friday, August 17, 2018

ĐƯA CHÂU GIA XUÔI NAM - Thơ Lang Trương



        Châu Thạch và Lang Trương



ĐƯA CHÂU GIA XUÔI NAM

(ta không yêu đâu, thơ bình thanh
sao người chê ta đồ quê mùa
ừ, thì ta yêu mùi hương đồng
nồng nàn vương hoài trên môi em.)

Đà thành ngày sang thu
Đưa người ra sân ga
Lên tàu xuôi phương nam
Buồn vương hơi heo may.

Người đi mang theo trăng
Tìm vui chiều thu vàng
Còi tàu vang xa xa
Mênh mang bờ sông Hàn.

Ta đưa người đi xa
Nhìn mây trôi phiêu du
Lời người vang trong tai:
Hôn em giùm cho ta!

Lang Trương

READ MORE - ĐƯA CHÂU GIA XUÔI NAM - Thơ Lang Trương

Wednesday, June 20, 2018

VĂN TẾ HỒN MA GIẶC PHƯƠNG BẮC - Lang Trương

 
    
                   Tác giả Lang Trương



VĂN TẾ HỒN MA GIẶC PHƯƠNG BẮC

Hỡi ơi !
Mưa phủ kín trời
Mây giăng ngập lối
Bản quán mịt mờ
Cố hương diệu vợi.
Thảm thiết quá, luân hồi trọn kiếp, phận cam đành sanh bắc tử nam
Não nùng thay, nhân quả mãn đời, số đã định sống mờ chết tối.
Hồn vơ vất bờ hoang bụi vắng, lập lòe đốm lửa ma trơi
Tiếng nỉ non bóng xế canh tàn, ai oán cung đàn quỷ đói.
" Sách trời định đất nào vua nấy ", quỷ tha hương gục mặt cúi đầu
Cương thổ phân bắc đó nam đây, ma viễn xứ còng lưng khụy gối.
Tuyên ngôn đành rành
Hịch truyền vang dội :
" Đánh cho để tóc dài
Đánh cho để răng đen
Đánh cho chúng phiến giáp bất hoàn,
Đánh cho chúng chinh luân bất phản
Đánh để sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ !"
Địa lôi nổ chuyển rung trời đất Bắc, xương tan thịt nát, máu Mãn Thanh lênh láng ruộng đồng
Hỏa hổ soi sáng rực núi sông Nam, mặt cháy da sôi, xác Rợ Hán mỡ màng cây cối.
" Gươm Đại Việt mài khuyết mòn đá núi", xông lên chém phứa, đếch thèm xem cổ giặc cứng hay mềm
"Voi An Nam uống cạn ráo nước sông", xốc tới đạp bừa, chớ cần biết đầu thù hôi hay thối.
Thảm thiết thay !
Nào những kẻ cậy tài thao lược, phải tay hào kiệt, mảnh nhung y chôn sấp liệm càng
Nào những người cậy trí kinh luân, gặp đấng hùng anh, đồ kim giáp xô nghiêng bó vội.
Cũng có kẻ tâm hùng chí tráng, không quen thủy thổ, đành bỏ mình dưới nắng lửa chang chang
Cũng có người vai rộng sức dài, chẳng thuộc địa dư, cam quăng xác dưới ao đầm lầy lội.
Cũng có kẻ mưu cầu danh lợi, lợi danh chưa tới số, phách đã tan bàng bạc áng mây bay
Cũng có người mộng rắp khanh hầu, khanh hầu chẳng đến tay, hồn đã rã hiu hiu làn gió thổi.
Kìa Chi Lăng Liễu Thăng cụt ngọn, đầu lăn lông lốc, nghĩa phu thê đứt gánh hẹn thề
Nọ Đống Đa Nghi Đống lìa trần, cổ thắt lửng lơ, đạo thần tử nghẹn lời trăng trối.
Như Nguyệt Bạch Đằng "sấm rền chớp giật", giáo gươm tua tủa, Hoằng Tháo Toa Đô về Địa Phủ dâng công
Xương Giang Bình Than "trúc chẻ tro bay", tên đạn bời bời, Lý Khánh Lương Minh xuống Âm Ty lãnh tội.
Nào những kẻ dân phu lao khổ, đói cơm lạt muối, chốn Cửu Tuyền còn thân gánh mình gồng
Nào những người nô dịch nặng nề, đồn nặng roi đau, nơi Chín Suối còn vai mang đầu đội.
Chết lăn lóc rừng hoang bể thẳm, phiêu dạt dật dờ mặc gió táp sương sa
Chết mỏi mòn núi hiểm sông thiêng, nổi trôi vất vưởng mặc mưa dầm nắng gội.
Kẻ lạc bước sơn cùng thủy tận, miệng hùm nọc rắn, bồng bế nhau Âm Cảnh dự phần
Kẻ sa chân vực thẳm ao sâu, nanh khái ngà voi, dắt díu chúng Diêm Đài phó hội.
Đi đường thủy, Hà Bá đưa đường
Đi đường bộ, Tử Thần dẫn lối.
Nghe tiếng trống lân lúc dập dồn lúc rộn rã, ngỡ tiếng trống công đồn mà tán đởm kinh tâm
Trông bóng trăng thu khi vằng vặc khi mập mờ, tưởng chiến thuyền nã đạn mà nát gan vỡ phổi.
Cốt nhục nào chẳng xót, thịt xương kia chất đống thành gò
Huyết lệ nào không cay, nước mắt đó tuôn tràn thành suối.
Thảm thiết bấy mẹ già cha yếu, canh thâu tựa cửa, ngóng tin con ruột héo gan mòn
Thê lương thay vợ dại con thơ, đêm vắng trở mình, trông bóng bố đầu bù tóc rối.
Hồi cố quốc lối xưa thăm thẳm, thảm trạng nước nhà tin tức không thông
Ngóng cố hương nẻo cũ mịt mờ, hiện tình quê quán đường truyền khó nối.
Tổ quốc các ngươi nay :
Hạng nô tài hèn hạ lại tiếm ngôi cửu ngũ, nghe cái tên thánh tởm thần kinh
Giống ca xướng vô loài lại ngồi ghế mẫu nghi, trông bản mặt ma hờn quỷ chối.
Múa lưỡi rêu rao thánh hiền chật đất, nào Trình nào Khổng, học tiền nhân trên lọc dưới lừa
Ngoác mồm lếu láo chánh đạo ngút trời, nào Lão nào Trang, dạy hậu thế trong gian ngoài dối.
Mặt nung núc như loài heo nọc, còng lưng dân một nắng hai sương
Mình lặc lè tựa lũ lợn sề, nguy mệnh nước ba chìm bảy nổi.
Tàn độc hơn cả loài quỷ dữ, Thiên An Môn xích nghiến lạnh lùng
Dã man hơn cả lũ ác ma, chùa Tây Tạng lửa thiêu nóng hổi.
Dẫu tu tròn chín kiếp cũng khó giải nghiệp căn
Dẫu giết sạch ba đời cũng khôn trừ tội lỗi.
Thương chúng ngươi kẻ trung người dũng, sa trường bỏ mạng, mà tông miếu từ đường chúng san phẳng, muôn nỗi xót xa
Xót chúng ngươi kẻ hiếu người hiền, chiến địa phơi thây, mà mồ mả tôn linh chúng quật nhào, vạn điều nhức nhối.
Việc lửa hương ai kẻ kẻ lo toan
Việc tế tự ai người đắp đổi ?
Nay:
Đạo sĩ ta ra lời hiệu triệu, Mãn Hán các ngươi sau trước sắp hàng
Lang Truong này phát lệnh xuất quân, Mông Khựa các ngươi dưới trên lập đội.
Kéo rốc về phương Bắc, vặn cổ thằng Bình cho dân an quốc thái, tôi chúa đồng lòng như thác đổ triều dâng
Tiến thẳng đến Trung Nguyên, lôi họng con Bành cho mỹ tục thuần phong, tướng sĩ đồng tâm tựa sóng gầm bão nổi.
Dặn con cháu chớ lầm đường lạc lối, hãy trông gương tổ phụ, chớ mê muội hung hăng mà mạng uổng thân vong
Nhắn hữu bằng cố mở trí khai tâm, hãy soi bóng ông cha, chớ ngu dốt hống hách mà đầu lìa máu xối.
Khai đạo nghĩa sống thù chết bạn, soạn lời văn giúp chuyển dạ ăn năn
Mở lòng nhân sinh dữ tử hiền, thảo bài tế giúp hồi tâm sám hối.
Cam lộ một bầu
Phóng tay cứu rỗi.
Thương thay !

Lang Trương
Trung Thu năm Bính Thân 2016. Tuyên hạ

READ MORE - VĂN TẾ HỒN MA GIẶC PHƯƠNG BẮC - Lang Trương

Thursday, June 7, 2018

TA NÉN CẢ HỜN CĂM ĐẦU NGỌN BÚT - Thơ Lang Trương

        
          
                   Nhà thơ Lang Trương




TA NÉN CẢ HỜN CĂM ĐẦU NGỌN BÚT
(Vô cùng khinh bỉ gửi bọn bồi bút, văn nô)

Hãy nghe đây, hỡi giống nòi phản quốc !
Tiếng oan khiên đã dậy khắp sơn hà
Tiếng ai oán của những oan hồn trong tiềm thức
Tiếng thảm thiết kêu gào của thịt nấu nồi da.

Lũ các ngươi không ngớt lời phỉ báng
Nào Quý Ly, nào Chiêu Thống đê hèn
Lũ các ngươi cũng hùa nhau chửi mắng :
“Rước voi về, giày mồ mả ông cha”

Hãy rửa tai nghe đây,
nghe thật rõ lời ta :
Chẳng đấng quân vương nào dâng giang sơn cho giặc
Đã xông trận là vươn mình đứng thẳng
Chưa từng cúi đầu nhận tiếng: “Đứa con hoang”.

Trả lại cho ta chứng tích Mục Nam Quan
Nơi Nguyên Trãi tiễn cha về đất Bắc
Nguyễn Phi Khanh dạy con chớ cúi đầu thờ giặc
Hãy nuốt lệ vào lòng, rửa quốc hận thiên thu.

Máu anh hùng rải khắp biên khu
Từng tấc đất giữ gìn cho hậu thế
“Xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ”
Máu quân thù đỏ nước Bạch Đằng Giang.

Bốn ngàn năm: “Vạn cổ thử giang san”
Gương trung liệt đời đời soi sáng
Bom Sa Diện nổ tung lòng Lưỡng Quảng
Mộ người anh hùng lấp lánh giữa Hoàng Hoa Cương.

Hãy nghe thật rõ lời ta, lũ điếm bút văn chương
Bóp méo sử là dìm dân tộc ta trong biển máu
Lũ các ngươi mặt mũi nào nhìn con cháu
Khi cơ đồ phút chốc tan hoang.

Hãy mở mắt mà xem, dưới biển, trên ngàn
Đâu cũng thấy một màu chết chóc
Rợ phương Bắc ngàn đời gieo tang tóc
Sao nỡ cúi đầu thờ giặc như cha ?

Có biết nhục không, khi gấm vóc sơn hà
Bị xâu xé bởi loài đã thú
Hay chỉ thoả thuê, một đời no đủ
Hải vị, sơn hào chan nước mắt dân đen.

Ta biết các ngươi nhiều giải thưởng, lắm bằng khen
Nhà nọ, nhà kia vễnh râu vênh váo
Tự ngươi biết, mình chỉ là loài cầy cáo
Theo đóm ăn tàn, tìm chút thịt vãi xương rơi

Hãy sống trung can, lẫm liệt một đời
Để khi chết không miệng đời phỉ nhổ
Đừng làm con bọ hung suốt ngày lo giông tố
Cứ mãi vùi mình dưới đống phân đen.

Chớ làm bẩn văn chương, hỡi lũ đê hèn
Tổ quốc lâm nguy, các ngươi câm miệng hến
Chút hôi tanh, cả bầy xô đến
Bán thánh buôn thần, đổi trắng thay đen.

Hồn thiêng sông núi hỡi, có linh chăng ?
Xin nén cả hờn căm đầu ngọn bút
Chỉ thẳng các ngươi: Lũ văn nô phản quốc
(Loài phản quốc còn biết đâu vinh nhụ)
Chẳng đáng làm người, chỉ là giống sài lang.

                                           Lang Trương

READ MORE - TA NÉN CẢ HỜN CĂM ĐẦU NGỌN BÚT - Thơ Lang Trương