Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Thursday, November 9, 2017

SẦU ĐÔNG - Thơ Đỗ Anh Tuyến





SẦU ĐÔNG
(Kính tặng nhà thơ Đặng Xuân Xuyến 
tác giả bài thơ ĐÔNG VỀ)

Đông đến chi đông gợi thêm sầu
Đông làm chi giá lạnh ngàn sau
Đông mang băng tuyết vùi thương nhớ
Đông giết tình ta trong đớn đau.

Đông đến mang ta một nỗi niềm
Nỗi niềm hoang vắng cõi tình riêng
Nỗi niềm của những chiều đông lạnh
Nỗi niềm của đời ta lãng quên.

Ta phải thù đông ta ghét đông
Cho ta những ngày tháng chờ mong
Cho ta những chuỗi ngày lặng lẽ
Khi phải xa người ta nhớ mong...

Thị trấn Thanh Nê, 09/11/2017
              Đỗ Anh Tuyến

READ MORE - SẦU ĐÔNG - Thơ Đỗ Anh Tuyến

Ở trước tượng đài Houston-Texas - Huy Uyên





Ở trước tượng đài Houston-Texas

Tay ôm súng mắt buồn trên bệ đá
Nửa thế-kỷ qua chiến trận xa rồi
Áo treillis bạc màu từ độ đó
Ở Houston còn lại một mình tôi.

Màu cờ trên cao lộng gió bay
Có trở về không hồn xưa bóng cũ
Bến bờ đại-dương đăm mắt từng ngày
Ba-lô còn gối đầu chờ giặc.

Nỗi buồn nổi trôi tình viễn-xứ
Xa quê nỗi nhớ thư viết nao lòng
Đêm mù câm chiến-trường tăm tối
Nơi quê nhà vợ dại mẹ chờ mong.

Năm tháng ngậm-ngùi đứng trước Mall
Canh giữ một gia-tài được mất
Sống chết khôn thiêng đau xót linh-hồn
Năm mươi mấy ngàn chiến-binh bỏ xác.

Đứng giữa trời tháng ngày mưa nắng
Mộng muôn phương trả lại hết cho người
Ở Texas sầu, khôn nguôi căm giận
Hồn chiến-binh súng đạn chập-chùng vây.

(Mới ngày nào binh-lửa quê-hương 
hồn ai chết sầu điệu ru tử-sĩ.)

                               Huy Uyên
                            Houston, 11-16

READ MORE - Ở trước tượng đài Houston-Texas - Huy Uyên

THÁNG MƯỜI MỘT, NHỮNG CƠN ÁP THẤP… - Thơ Nguyễn An Bình





THÁNG MƯỜI MỘT,
NHỮNG CƠN ÁP THẤP…

Lại thêm một tháng 11
Áp thấp lại theo về
Không ai muốn hẹn trước đón chờ một cơn bão lớn
Và những ngày mưa gió rầu rĩ, tả tơi
Lòng người bay theo chiếc lá
Rụng rơi cuối mùa.

Tờ lịch treo tường mỏng thêm chút nữa
Không ai nhận ra có gì đổi thay đâu
Chân cầu vẫn rong rêu bao dòng nước chảy
Cuốn theo những bọt bèo
Hình như số phận con người cũng mỏng manh như thế.

Thành phố những ngày cuối năm
Sáng sớm còn lang thang những hạt sương mờ đục
Trôi đi lặng lẽ trên các nẻo đường
Gió thổi từ bên kia sông
Hôm nay hỏa táng một người bạn thơ vừa mất*
Lòng cũng muốn dững dưng đôi chút
Sao mắt lại xót cay quá thể.

Tháng 11 rồi cũng qua đi
Mùa thu rồi sẽ qua đi
Năm tháng rồi sẽ qua đi
Thời gian chập chùng tiếp nối
Tình yêu bao giờ trở lại
Hay như dòng đời mê mải?

              Nguyễn An Bình

READ MORE - THÁNG MƯỜI MỘT, NHỮNG CƠN ÁP THẤP… - Thơ Nguyễn An Bình

HẾT CÓ RỒI TỚI KHÔNG, ĐẦU CHÀY ĐÍT THỚT - Thơ Chu Vương Miện





HẾT CÓ RỒI TỚI KHÔNG

hết không rồi tới có
người dìu dặt bướm ong
người hai tay một xó
có dễ thì có khó
có mưa thì có dông

nói là bạc, im là vàng
vàng giả
thiếu cà ra
nói rất là mất đoàn kết
im lặng tốt hơn hết
câm là vàng tốt
nói toạc móng heo
là thèo lèo cứt chuột
vàng giả vàng mã
chưa được tốt


ĐẦU CHÀY ĐÍT THỚT

vai cày cổ bừa
đúng là mít đặc
bố thằng dốt
toàn là thứ dựa cột
mà nghe
toàn cháo không chè
toàn ngậm miệng khoanh tay
ngu
tứ đại đồng đường
chỉ nghe

tình càng to càng nhỏ
buồn càng kéo càng dài
mới trăng rằm hôm đó
bây giờ lại lưỡi trai
kẻ giữa sông lãng tử
kẻ giặt bến Tần Hoài
đêm đêm dài nhã nhạc
vọng tù và nhức tai ?

CHU VƯƠNG MIỆN

READ MORE - HẾT CÓ RỒI TỚI KHÔNG, ĐẦU CHÀY ĐÍT THỚT - Thơ Chu Vương Miện

ĐỌC NHỮNG “SẾN KHÚC…” THƠ TRƯƠNG ĐÌNH PHƯỢNG - Châu Thạch

     
             
 Nhà bình thơ Châu Thạch


ĐỌC NHỮNG “SẾN KHÚC…” THƠ TRƯƠNG ĐÌNH PHƯỢNG 
                                                           Châu Thạch

Trương Đình Phượng: Thật tình tôi không biết anh là ai và không biết anh là bạn facebook của tôi lúc nào. Một hôm tình cờ đọc lướt một  bài thơ của anh đăng trên trang mạng. Bài thơ dài ngoằn là thứ tôi ghét nhất, vậy mà sao tôi đọc hết và đọc lại vài ba lần. Mở google ra tìm thì biết đây là một nhà thơ đã giao lưu và được mến mộ trên thi đàn hiện nay. Từ đó tôi đọc tất cả thơ anh trên dòng thời gian facebook có tên Trương Đình Phượng. Phải nói rằng đa số thơ anh viết dài và đa số cuốn hút tôi vì cho tôi sự thú vị. Tôi chú ý nhất đến những bài thơ mà Trương Đình Phượng gọi là “Sến Khúc…” Có nhiều “Sến Khúc” nhưng trên dòng thời gian của tác giả tôi chỉ tìm được 8 Sến khúc. Đó là Sến Khúc 2, Sến Khúc 5, 11, 12, 13, 17,19, 20. Mỗi Sến Khúc có một chủ đề riêng như Xem Kịch, Sân Khấu,, Ngôi Đền, Những Giấc Mơ không có Khuôn Mặt…vv.. Đọc những Sên Khúc nầy chúng ta như đi vào một câu chuyện dài viết ngắn. Dài là vì nó phản ảnh đủ một bộ mắt của đời và ngắn vì nó là một bài thơ. Ví dụ Sến Khúc 2 có đầu đề là “Xem Kịch’, nhà thơ kể câu chuyện mình đi xem kịch ở nhà hát. Vở kích có tên là “Đứa Bé và Những bài Thơ Biết Nói”. Trong Sến Khúc nầy, đứa bé đã lưu lạc trong trần gian. Nhờ vào những bài thơ nó thoát qua tai ương để quay về bản xứ. Thế nhưng khi quay về nó thấy một quê hương điêu tàn. Tôi đọc Sến Khúc nầy và thấy mình cũng đang xem một bi kịch, không phải bi kịch của một đời người mà là bi kịch của cả một nền văn hóa và một thế hệ con người. Những bài thơ là một nền văn hóa và đứa bé kia là một thế hệ đáng ra phải lớn lên tại quê hương và làm cho quê hương mình giàu đẹp.  Xin hãy đọc một đoạn u buồn khi “Đứa bé và những bài thơ biết nói” quay lại quê hương:

Về gần đến nơi chúng reo lên “ Chào mảnh đất nơi ta đã chào đời và gắn bó hơn máu thịt”
Ngôi nhà xưa không còn
Bên mái hiên đôi dép mòn đứt quai của những bà mẹ
Rêu mọc từ lâu
Bậc cửa chỉ còn những hòn đá Hình Giọt Lệ
Lặng câm dưới sắc chiều tím buốt
Những thằng nhóc gầy gò không quần không áo
Nép bên hàng rào xiêu vẹo nhìn chúng như những kẻ khác thường
Những con chó nằm bên những ngôi mộ không khói hương
Chốc chốc tru lên từng hồi thảm thiết
Những bãi biển vắng bặt dấu chân người
Những mảnh thuyền trơ đôi mắt dại khờ nhìn mây trắng
Hấp hối cuối chân trời
Gió não nề xuyên qua bạt trùng xương cá
Tấu lên khúc nhạc Gọi Hồn.

Sến Khúc 13 có chủ đề bài thơ là “Ngày Tọa Thiền Của Gió”. Bài thơ nói về “Có những ngày không gió” vì trời đất được bình yên nhưng “lòng người lại đầy bão giông”. Gió thì yên tịnh như thiền, như con người “cầm tay nhau/ Ngỡ đã cùng nhịp đập trái tim” nhưng trong lòng thì ngược lại vì “Khoảng cách giữa chúng ta như hai đầu chiến tuyến”. Bài thơ tố cáo sự dối trá giữa đời nầy. Sự dối trá ấy xấu xa vô cùng. Xấu xa bởi vì nó là:

Chiến trường không xác người
Không máu
Không tiếng thét gào
Không gươm không giáo
Và cả tiếng súng đạn cũng không
Bởi tất cả diễn ra một cách âm thầm

Và cái chiến trường không máu, không tiếng thét gào, không tiếng súng đã sinh ra những hung thần:

Những con quỷ được sinh ra bằng những bài ca
Những bài ca giấu móng vuốt sau tà áo tinh khôi
Những bài ca thần thánh hóa loài bạo chúa
Ở đó
Có những tượng đài
Tôn thờ sự hủy diệt

Sến Khúc 13 cho ta nhìn lại và gớm ghiếc những tà thuyết trong đời, đã mê hoặc những con người dại khờ “Ngây thơ chắp tay cầu nguyện” và tưởng rằng “Cánh cửa thiên đường dễ dàng mở ra như khi chúng ta tra chìa vào ổ khóa nhà mình”.

Sến Khúc 11 nói về một niềm tin hư huyễn, tác giả tin vào con người và con người là tên buôn bán “những linh hồn trong sạch”. Bài thơ dài lắm, người viết xin trích một vài đoạn rồi ghép lại để tóm lược ý thơ:

Bạn rủ tôi đến một ngôi đền
Chúng ta đã quỳ ở đó rất lâu
Bạn bỏ tôi lại một mình
Bạn đi đâu tôi chẳng rõ
Nên tôi đợi
Sương khuya buông dày
Nơi đây bốn mùa đều lạnh
Những hồn ma rủ nhau đến
Chúng vờn quanh và dỗ ngọt tôi
Bạn bỏ tôi ở lại một mình
Thay vì buổi đêm
Những tiếng kêu thảm thiết chạy vào ngôi đền tìm nơi ẩn nấp
Nghe lời bạn tôi không dám ngẩng lên
Nhưng tôi biết đó là những tiếng kêu của bầy cừu
Chúng đang bị đem vào lò mổ.
Tôi vùng dậy 
Và tôi chạy
Cuối cùng tôi đến bên bờ biển
Và tôi nhìn thấy bạn
Đang trao đổi hàng hóa với bầy người lạ hoắc
Tôi nghe tiếng bạn đếm 
“Này đây là những linh hồn trong sạch cuối cùng”

Chỉ tóm lược bài thơ thôi, ta đã thấy sự phủ phàng của câu chuyện. Bài thơ cho ta bài học về sự mê muội trong lý tưởng ngọt ngào dã dối được phủ dụ giữa đời nầy . Chàng trai cứ cúi đầu thờ phượng sự dối trá, nên không biết tới cả đàn cừu bị cắt tiết đang rên xiết chung quanh anh ta.
Sến Khúc 20 có đầu đề là “Ngôi Mộ”. Nhà thơ đã vạch trần sự ngu dốt, nỗi đớn đau khi loài người tự tay đào huyệt cho mình. Nhà thơ khuyên bọn làm thơ hiện tại hay nói chung cũng khuyên cả con người:

Thay vì viết những bài thơ
Thì hãy làm điều gì đó ý nghĩa hơn
Thí dụ
Chặt đầu đám mây đang che kín mặt trời
Hốt xác lũ gió tử nạn trên dòng sông đêm qua
Hay là còn bao nhiêu việc khác mà nhà thơ chỉ phải làm như:

Gõ cửa những trái tim đã mục rữa hồng cầu
Nối lại mạch máu cho những con đường từ lâu gãy khớp
Băng bó những đỉnh núi bị bổ toác sọ não
Tiêm vacxin cho những cánh rừng bị cưỡng bức giữa mùa xuân

Và rồi nhà thơ đã vạch tội con người:

Chúng ta đã không dám
Lên tiếng
Khi lũ chó dại cắn đứt chiếc dương vật của những hài nhi hi vọng
Chúng ta đã vỗ tay
Khi lũ hung thần hãm hiếp chị và mẹ, chúng ta.
Chúng ta đã hồn nhiên đặt bàn chân trần trụi
Lên những con đường dẫn vòng quanh mép vực, khổ đau
Chúng ta chẳng thèm nghe, giả vờ không nhìn thấy
Tiếng kêu khóc của đồng bào

Và cuối cùng tác giả  dang hai tay lên than khóc:

Tôi đã chẳng thể nào leo lên chóp não mặt trời
Kiếm tìm giọt máu cuối cùng của ước mơ chân lý
Tôi đã chẳng thể nào bẽ gãy đường kinh tuyến của địa cầu
Dồn tất cả các quốc gia về thảo nguyên bác ái
Chẳng có một thế lực siêu nhiên nào cứu chuộc được loài người
Khi loài người tự tay đào huyệt chôn mình.

Đọc Sến Khúc 20 chắc ai cũng thấy có một chút buồn, một chút xấu hổ, một chút ân hận trong lòng, vì chúng ta không mấy ai là kẻ anh hùng.

Trong khuôn khổ bài viết không thể dài khi đăng trên mạng, người viết xin giới thiệu qua bốn Sến Khúc trong nhiều Sến Khúc của Trương Đình Phượng. Phải nói rằng khi đọc Sến Khúc của Trương Đình Phượng, tôi có cảm tưởng rằng mình đương đi du lịch qua những vùng khác lạ, mà ở đó những thành phố, những cánh đồng, biển và sa mạc  được dựng lên bằng lời, để cho mắt tôi nhìn thú vị những chân trời mới, đánh động trí óc tôi suy tư và chiêm nghiệm qua từng khổ thơ cuốn hút như từng đợt sóng biển đẩy ta bơi trong vùng nước mặn là vùng ý nghĩa của thơ ./.

                                                                    Châu Thạch

READ MORE - ĐỌC NHỮNG “SẾN KHÚC…” THƠ TRƯƠNG ĐÌNH PHƯỢNG - Châu Thạch

NGƯỜI CHỒNG BẰNG MÂY ĐAN - Truyện ngắn của Ursula Wills-Jones - Nguyễn Khắc Phước dịch


Ảnh minh họa từ trang www.eastoftheweb.com



NGƯỜI CHỒNG BẰNG MÂY ĐAN
Nguyên tác: The Wicker Husband
Truyện ngắn của Ursula Wills-Jones
Nguyễn Khắc Phước dịch. 



Ngày xưa có một cô gái xấu xí, vừa mập vừa lùn, chân đi khập khiễng, hai lông mày dính liền nhau. Cô gái xấu xí sống bằng nghề làm ruột cá. Căn nhà xiêu vẹo của cô nằm ở ngoài làng. Cô không bao giờ than thở chuyện gì.

Trai gái trong làng lần lượt kết hôn với nhau. Họ tung tăng dẫn nhau đến nhà thờ làm lễ cưới. Cô gái xấu xí cũng đến dự nhưng chỉ đứng sau lưng nhà thờ khóc thầm. Phụ nữ trong làng thường ngồi lê đôi mách đủ chuyện về cô gái ấy. Rằng họ không biết cô tiều tiền vào việc gì. Rằng cô ta không bao giờ mua váy mới, không hề sửa nhà và không bao giờ đến quán ăn gì.


Vào thời gian ấy có một ông lão sống bên đầm lầy rất giỏi nghề đan rổ rá. Một hôm ông lão nghe có tiếng gõ cửa, liền mở, và trông thấy cô gái xấu xí đứng ngoài cửa. Trong tay cô có sáu đồng xu bằng vàng.
"Cháu muốn ông đan cho cháu một anh chồng," cô gái nói.
"Một tháng nữa trở lại," lão đáp.

Lão thợ đan hết sức cảm động vì cô gái xấu xí tin lão và giao cho lão một việc quan trọng. Lão quyết định đan một anh chồng đẹp nhất cho cô gái. Anh chồng do ông đan phải có đôi vai rộng, đôi chân dài, cánh tay khỏe, cổ dẻo dai, đôi lông mày đậm và cân đối, mái tóc nâu đen và đôi mắt xanh nâu. Và nhiều thứ khác mà đàn bà thích.

Đúng hẹn, cô gái đến. "Anh ấy nói hôm nay chưa được. Ngày mai anh ấy sẽ đến nhà thờ lúc mười giờ," lão thợ đan nói. Cô gái xấu xí ra về, suốt ngày ngồi gỡ vẩy cá dính trên áo.

Tối hôm đó anh thợ may trong làng nghe tiếng gõ cửa, liền mở, và thấy anh chồng bằng mấy đan đứng bên ngoài.
"Cho tôi mượn một bộ đồ," anh ta nói. "Sáng mai tôi cưới vợ và không thể trần truồng đến nhà thờ".
"Á á á á á!" anh thợ may sợ hãi kêu thét và bỏ chạy ra cửa sau. Chị vợ bước ra, nắm chặt hai bàn tay cho khỏi run, hỏi,"Chuyện gì vậy?". "Cho tôi mượn một bộ đồ," anh chồng đan nói. "Ngày mai tôi cưới vợ và không thể trần truồng đến nhà thờ." Chị vợ ném cho anh ta một bộ đồ và đóng sầm cửa.

Sau đó anh thợ giày trong làng nghe tiếng gõ cửa, liền mở, và trông thấy anh chồng đan đang đứng đó. "Cho tôi mượn một đôi giày," anh chồng đan nói. "Ngày mai tôi cưới vợ và không thể đi chân trần đến nhà thờ." "Ua trời ơi!" anh thợ giày hét lên và bỏ chạy ra cửa sau. Vợ anh thợ giày run rẩy hỏi,"Anh muốn gì?". " Cho tôi mượn một đôi giày," anh chồng mây đan nói. "Ngày mai tôi cưới vợ và không thể đi chân trần đến đám cưới." Chị vợ cho anh ta một đôi giày và đóng sầm cửa lại.

Anh chồng đan đi đến quán làng. "Cho tôi ít đồ uống. Ngày mai tôi cưới vợ và muốn có thứ gì đó để đãi khách," anh chồng đan nói. "Ối làng ơi!" chủ quán hét lên và tất cả khách hàng bỏ chạy. Anh chồng đan vào trong quán và lấy đồ uống.

Sáng hôm sau, khi đến nhà thờ, cô gái xấu xí vô cùng sung sướng vì thấy chồng mình quá đẹp trai và bảnh bao.

Sau đêm tân hôn thứ nhất, anh chồng đan bảo vợ, "Cái giường gảy rồi, kiếm cái đục để anh chữa lại." Như bao anh chồng tốt trên đời, anh chồng đan bắt đầu chữa giường. Chị vợ xấu xí đi làm ruột cá. Chiều cô về đến nhà, anh chồng đan nhìn chị nói, "Anh được tạo ra để sống với em."

Sau đêm trăng mật thứ hai, anh chồng đan nói, "Mái nhà bị dột, kiếm cái thang để anh chữa." Thế là anh chồng tốt trèo lên và bắt đầu chữa mái tranh. Chị vợ xấu xí đi làm ruột cá. Chiều đến, chị về nhà . Anh chồng đan nói, "Nếu không có em, anh đã không bao giờ được thấy ánh sáng mặt trời chiếu lên mặt nước và mây bay trên trời."

Sau đêm trăng mật thứ ba, trước khi đi làm, chị vợ xấu xí nói, "Cần phải làm sạch ống khói để đốt lửa." Chị vừa dứt lời, anh chồng tỏ vẻ sợ hãi. Từ đó, chị vợ xấu xí hiểu rằng không thể bắt một người đàn ông làm bất cứ chuyện gì, cho dù người ấy là một anh chồng tốt.

Vài tuần sau, dân làng bắt đầu chú ý sự thay đổi của chị vợ xấu xí. Dù chân vẫn cà thọt, nhưng mông chị bắt đầu lắc lắc làm họ khó chịu. Dù áo quần vẫn bốc mùi tanh, nhưng chị vừa làm cá vừa hát. Chị diện váy mới và cài hoa trên tóc. Cặp lông mày không còn dính nhau nhờ anh chồng nhổ bằng những ngón tay khỏe và dẻo. Họ để ý thấy nhà chị sơn mới, các cửa sổ sạch bóng, cửa lớn không còn xiêu vẹo. Đừng tưởng rằng những thay đổi này làm dân làng vui, không đâu. Trái lại, các chị vợ bắt đầu ra lệnh các anh chồng sửa chữa cửa nẻo và phàn nàn chồng sao không tự kiếm việc mà làm. Các anh chồng cãi : nếu các chị vợ diện váy mới và cài hoa lên tóc, thử hỏi họ có thích chữa nhà hay không. Mọi người cằn nhằn và nguyền rũa lẫn nhau, nhưng trong thâm tâm, họ đổ tội cho chị vợ xấu xí và anh chồng đan của chị ta.

Chị vợ xấu xí không hề biết người ta đang ganh ghét mình. Chị đang bận làm quen với cuộc sống hôn nhân, và thấy rằng anh chồng mây đan của mình có nhiều bất cập. Anh không ăn, không bao giờ phàn nàn vì cơm tối trể. Anh chỉ uống nước, càng đục càng tốt. Chị hơi buồn vì không có cơ hội nấu nướng và nhìn chồng ăn như bao người vợ khác. Vào những đêm giá lạnh, họ không ngồi cạnh nhau bên bếp lửa vì anh chồng sợ lửa, chỉ thích ngồi trong bóng tối. Khi mùa xuân đến, trời mưa nhiều, anh chồng đan bị ẩm mốc, chị phải dùng bàn chải và giấm để làm sạch mốc. Vào mùa hè, đặc biệt vào tháng sáu nóng nực, các khớp xương của anh trở nên khô cứng, và suốt ngày anh cứ nằm bên mương nước. Chị phải bưng cá ra mương làm, để ngồi với anh cho vui.

Càng ngày, thói tò mò thôi thúc dân làng đến nổi họ không còn chịu đựng được nữa. Nhân có một đám cưới trong làng, cặp vợ chồng ấy được mời đến dự. Đám cưới có dàn nhạc, nhảy múa, thức ăn và rượu. Khi nhạc trổi lên, chị vợ xấu xí và anh chồng đan ra sàn nhảy. Dân làng ngạc nhiên thấy anh chồng đan nhảy quá đẹp. Anh ta nhắc bổng chị vợ mập ú và quay nhiều vòng nhẹ nhàng tựa như một nhấc một chiếc lông chim. Anh chồng mây đan tỏ vẻ hết sức lịch lãm và duyên dáng. Chị vợ xấu xí tưởng mình như đang trên thiên đường.

Cánh phụ nữ che miệng nói thầm với nhau. Vợ anh thợ rèn là người bạo dạn nhất. Chị ta quyết định mời anh chồng đan cùng nhảy. Khi nhạc vừa ngừng, chị ta đi về phía cặp vợ chồng ấy. Chị vợ xấu xí đang ngồi trên đùi anh chồng đan làm anh này phát ra tiếng cót két. Vợ anh thợ rèn định đập vào vai anh chồng đan nhưng hai tay anh này đang ôm choàng lấy chị vợ. "Em là lý do duy nhất để anh sống và thở", anh chồng đan nói. Vợ anh thợ rèn nghe được câu ấy liền bỏ đi, chẳng nói chẳng rằng.

Hôm sau, không khí giận dỗi căng thẳng lan ra khắp làng.
" Ông chỉ có hai chân biết đi mà thôi," chị vợ anh thợ giày mắng chồng.
" Ông không bao giờ nói với tôi điều gì hay ho," chị vợ anh thợ rèn hét vào mặt chồng.
" Ông chỉ biết mỗi một việc là nhìn xoáy vào đám đàn bà con gái mà thôi," vợ anh chủ lò bánh nhiếc chồng. Mặc dù chính chị ta cũng không làm gì khác hơn là nhìn anh chồng đan chết mê chết mệt suốt buổi đám cưới.

Sau đám cưới, cánh đàn ông tụ tập tại quán rượu.
"Bậy quá, bậy quá."
"Thằng chả làm mất mặt bọn ta."
"Bày đặt sơn cửa."
"Sửa mái tranh nữa chứ."
"Thì thầm với vợ những câu lãng xẹt."
"Bày đặt khiêu vũ nữa chứ."
"Hắn có phải là người đâu. Đồ tởm lợm."
"Hắn không ăn."
"Không cằn nhằn."
"Đánh rắm cũng không," anh thợ may buồn bực nói.
Đám đàn ông lắc đầu và đều đồng ý rằng chuyện này không thể tiếp diễn được nữa.

Trong khi đó, cánh đàn bàn tập trung trong nhà bếp.
" Có gì đó bậy bạ trong chuyện này," họ thì thầm với nhau.
"Con vợ làm sao mà xứng với thằng chồng ấy."
"Chắc con này bỏ bùa nó thôi."
"Rồi nó sẽ bỏ bùa chồng của bọn ta . Coi chừng đấy," vợ anh chủ lò bánh nói.
"Phải làm cho nó hết vênh váo."
"Nó mà hơn bạn ta, hả?"
"Còn bày đặt cài hoa lên tóc nữa chứ."
"Thấy nó nhảy mà phát ghét."
Và họ dứt khoát chuyện này không thể tiếp diễn được nữa.


Một hôm, sau khi kiểm tra mấy cái bẩy cá, anh chồng đan mây đang đi về nhà thì tay chủ lò bánh xuất hiện và đi theo.
"Tối hôm đó anh tạo ấn tượng khá đấy."
"Thế hả?" anh chồng đan nói.
"Bọn phụ nữ bị kích động . Anh có bao giờ nghĩ...e hèm..."
"Cái gì?" anh chồng đan bối rối hỏi.
"Đàn ông như anh...có nhiều cơ hội lắm đấy". Anh ta nghiêng người về phía anh chồng đan khiến anh này phải lùi lại, né tránh. Hơi thở tay chủ lò bánh bốc mùi bột chua khiến anh chồng đan khó chịu.
"Vợ thằng hàng thịt rất hấp dẫn. Tôi biết chắc thằng chả không có ở nhà. Lên thăm thằng em ở thành phố rồi. Tới đó thử xem."
"Không được đâu," anh chồng đan nói. "Vợ tôi đang chờ tôi ở nhà". Anh chồng đan quay người và bước nhanh. Tay chủ lò bánh bực tức quay về nhà.

Anh chồng đan có tính cả tin, lại chẳng để bụng chuyện gì nên vợ anh ta không hề hay biết có chuyện rắc rối đang nhen nhúm. Chừng một tuần sau, khi chị vợ xấu xí đang hái quả dâu trên hàng rào thì vợ anh thợ may rón rén bước tới.
"Này em yêu quý ơi!" vợ anh thợ may vừa kêu vừa vẫy tay.
"Chuyện gì thế?" chị vợ xấu xí nói.
Vợ anh thợ may giả đò lau nước mắt, nhìn trước nhìn sau, rồi thì thầm, "Em yêu quý ơi, chị đến đây để báo cho em biết chuyện này: chồng em đang đi lại với mấy người đàn bà, em biết chưa?"
"Đàn bà nào?" chị vợ xấu xí hỏi.
Vợ anh thợ may khoát tay. Hình như chị ta không có ý định nói thế.
"Em yêu quý ơi! Đừng tin bọn đàn ông. Họ đều một giuộc như nhau. Chẳng tốt lành gì đâu - đàn ông như chồng em, đàn bà như em- thật đấy."
Chị vợ xấu xí quá tức giận, lấy cái rổ đập chị vợ anh thợ may và chạy đi. Chị vợ xấu xí về nhà, mặc dù biết nhiều chuyện chẳng lành hơn chồng mình và nghĩ mãi về chuyện ấy nhưng vì sợ phật ý chồng nên chị làm thinh.
Vợ anh thợ may giận dữ quay về nhà, trên mặt có nhiều vết xước. Tối hôm đó, tất cả những cặp vợ chồng trong làng nhất trí phải có hành động quyết liệt.

Vài ngày sau, lão thợ đan nghe tiếng gõ cửa, liền mở, và thấy nhiều dân làng đứng ngoài. Ngay lúc đó, vợ anh thợ may bắt đầu khóc nức nở.
"Chuyện gì thế?" lão thợ đan hỏi.
"Chị ấy không có con," vợ anh chủ lò bánh sụt sùi.
"Trai không, gái cũng không," tay thợ may buồn bã nói.
"Chẳng ai chăm sóc họ lúc tuổi xế chiều," tay lò mổ thêm.
"Họ buồn ghê lắm," chủ lò bánh tiếp.
"Thế nên chúng tôi đến yêu cầu..."
"...nhờ lão đan cho chúng tôi một đứa bé. Bằng dây mây."
Và họ cầm một túi vàng đưa ra.
"Được," lão thợ đan nói. "Một tháng sau đến đây."


Vào một ngày thu trời xám xịt, chị vợ xấu xí đang ngồi bên bếp lửa thì nghe tiếng gõ. Anh chồng đan mở cửa và thấy dân làng đứng bên ngoài. Vợ anh thợ may ẵm một cái bọc phát ra tiếng khóc oe oe.
"Cái gì thế?"
"Cái này là do mày tất," tay hàng thịt chỉ vào anh chồng đan và rít lên.
"Đồ bẩn thỉu, người không ra người," tay chủ quán khịt mũi.
Tay thợ may kéo phăng cái mền và chị vợ xấu xí trông tấy một đứa bé đan bằng dây mây. Mắt, mũi giống chồng chị như đúc. Chị khóc rống lên.
" Trời ơi! Hãy nói cái này không phải của anh đi!"
Nhưng anh chồng của chị chẳng nói chẳng rằng, cứ nhìn chằm chặp vào đứa bé. Chưa bao giờ anh trông thấy đồng loại của mình và cảm thấy hết sức xúc động. Trông thấy vẻ mặt của anh, chị vợ nằm lăn trên nền nhà, rên rỉ.
"Đồ thối tha , dơ bẩn. Đồ súc vật," tay thợ may rít lên. Anh ta chụp đứa bé liệng vào trong bếp lửa. Ngay lập tức, anh chồng đan la lên, nhảy ra. Chị vợ xấu xí hét lên, ném cây đèn dầu vào anh chồng đan. Bầu thủy tinh vở và dầu văng tung tóe. Lửa bắt đầu liếm vào ngực anh chồng đan, cháy lên cổ, lên mặt. Anh ta cố dập lửa nhưng ngón tay dính dầu bật cháy. Anh ta rú lên, chạy ra và lao xuống sông.
"Mọi sự diễn ra tốt đẹp," tay hàng thịt thỏa mãn nói.
Dân làng chẳng ai để mắt tới chị vợ xấu xí. Họ về nhà ăn cơm tối. Trên đường về, vợ tay thợ may ném đứa bé đan xuống rãnh nước, lấy chân đạp vào mặt nó và nói, "Đồ ghê tởm."


Hôm sau, chị vợ xấu xí lang thang trên đường, gặp ai chị cũng hỏi, "Chồng tôi đâu rồi?". Thấy mắt chị có vẻ dữ tợn, người ta bỏ đi. Chiều tối, khi đang lang thang không biết nơi đâu, chị nghe có tiếng gì kêu trong rãnh nước. Cúi xuống, chị trông thấy đứa bé mây đan. Nó kêu gào và cố vùng vẫy. Mắt và mũi của nó làm chị nhớ chồng. Chị ôm nó vào lòng và bồng về nhà.

Bấy giờ, lão thợ đan chẳng hay biết chuyện gì đã xảy ra. Một hôm lão chợt nảy ý tưởng nên đi xem hai tạo vật của lão tiến bộ ra sao. Lão vào làng, đến gõ cửa nhà tay thợ may, gặp chị vợ, lão hỏi, "Đứa bé ra sao rồi?". "Ối dào, nó chết rồi," chị vợ trả lời và đóng sầm cửa lại.
Lão thợ đan tiếp tục đi đến nhà của chị vợ xấu xí. Nhà đóng cửa, vườn tược nhếch nhác, cửa ngõ bụi bẩn. Lão thợ đan gỏ cửa, đợi thật lâu vẫn không ai trả lời.
Lão thợ đan thất vọng quay về nhà. Khi đang đi trong bóng tối chạng vạng gần đầm lầy, lão nghe có tiếng gì trong bụi cây bấc. Lúc đầu lão sợ, lấy khăn trùm mặt. Nhưng tiếng kêu hình như đi theo lão, lâu lâu lại rên rỉ. "Ai đó?" lão kêu lên. Một bóng người tã tơi đang lê bước khập khiễng trên đường, trông rất thương tâm. Lão kinh hoàng nhận ra đó là cái phần còn lại của anh chồng mây đan: tay bị lửa thiêu, mặt bị mất. Ngực bị lửa đốt tạo thành những lỗ đen, bắt đầu mục rã. Lão thợ đan khóc rống lên, "Trời ơi, ai làm gì con tôi thế này?" Anh chồng đan không nói được: lưỡi anh ta đã bị mất. Lão mang anh ta về nhà mình. Sáng hôm sau, lão bắt đầu sửa chữa. Càng chữa, lão càng tức giận, "Tao làm ra mầy, lại để cho mầy hư hỏng thế này," lão nói. "Tao sẽ không để cho mầy tới đó nữa."

Anh chồng đan sau một thời gian được chữa lại như mới mặc dù mùi khét vẫn còn. Nhưng vài ngày sau, mốc đen do ẩm bắt đầu mọc. Lão thợ đan rút những sợi mục và thay vào những sợi mới. Nhưng hình như vô ích: anh chồng đan bị mục từ trong ra ngoài. Rốt cục, lão thợ đan đành bó tay.

Không kể đêm hôm khuya khoắt, lão khoác áo và đi băng qua làng, đến nhà chị vợ xấu xí. Trong vườn đầy rác rưởi, chị vợ đang đứng, tay bồng đứa bé. Chị đang hát một điệu ru buồn da diết. Nhìn kỹ, lão thấy nó chính là đứa bé lão đã tạo ra.

Lão thấy cơn giận của mình dịu lại. Bước ra khỏi bóng tối, lão nói, "Chị giữ đứa bé làm gì khi mà chị đã đuổi chồng ra khỏi nhà." Nghe có người hỏi, chị vợ bật khóc òa lên, "Nó là tất cả những gì mà chồng cháu để lại," chị nói sau một hồi khóc lóc. "Dù đây là bằng chứng lừa dối của anh ấy nhưng cháu không nỡ nào để nó chết trong rãnh nước." "Chị ngốc quá," lão nói. "Chính ta đã tạo ra đứa bé nầy, chồng chị chẳng có tội gì."

Vừa nghe xong lời ông lão, chị vợ xấu xí hét lên và chạy ra sông. Ông lão chụp tay chị, ngăn lại, "Khoan đã. Đi theo ta, ta sẽ cho xem cái này."

Chị vợ xấu xí bước theo sau lão thợ đan, vòng qua đầm lầy. Khi trời sáng, chị thấy rõ mặt ông lão có nhiều nét giống đứa bé. Như những người sáng tạo khác, lão đã truyền hình dáng và tính cách của mình vào trong tác phẩm.

Khi họ đến chỗ ở của ông lão, chị vợ xấu xí mở cửa và thấy chồng mình đang ngồi trong bóng tối.
"Lẽ nào chồng của em đây," chị nói. "Anh đã chết rồi. Chính em đã giết anh rồi mà!"
"Anh đã được tạo ra để dành cho em", anh chồng đan nói. "Nhưng em lại vứt anh đi."
Chị vợ khóc òa lên và quỳ xuống, gục đầu vào chân chồng.

Vài ngày sau, dân làng ngạc nhiên thấy lão thợ đan đứng trước nhà thờ.
"Lão có chuyện muốn nói với các người," lão nói. "Ta sắp nghỉ hưu. Nhưng trước khi nghỉ hưu, ta muốn làm một kiệt tác - một cô gái bằng mây đan. Nếu muốn, các người sẽ được phép sở hữu cô ta. Nhưng các người phải cho lão quà để lão nghỉ hưu. Bất cứ ai mang quà có giá trị nhất sẽ được phép sở hữu cô ta." Nói xong, lão quay lưng và đi về đầm lầy.
Khi lão vừa đi xong, dân làng bắt đầu xầm xì.
"Thằng chồng mây đan cao ráo và phong nhã quá đi chứ!"
"Nó làm việc siêng năng quá chứ lỵ?"
"Anh ta không đẹp trai nhưng biết chiều vợ đấy chứ?"

Hôm sau, dân làng tuyệt đối không ai nói mình thích cô gái đan, nhưng bắt đầu có kế hoạch. Đàn ông hỏi nhau về giá bò. Đàn bà lén mở hộp đựng nữ trang.
"Thằng chồng đan làm việc như nô lệ, chẳng bao giờ đòi ăn," vợ anh thợ giày nói với chồng. "Mua cho tôi con gái đan ấy để tôi bắt nó làm đầy tớ. Tôi sẽ làm bà hoàng, suốt ngày chẳng đụng đến móng tay."
"Thằng chồng đan không bao giờ cãi cọ với ai, chẳng khi nào to tiếng," tay chủ quán trọ nói với vợ. "Không như bà, giống hàng tôm hàng cá."
"Thằng chồng đan chẳng mỏi mệt, nhức đầu," anh hàng thịt nói với anh chủ lò bánh. "Hãy tưởng tượng xem..."
"Này em, cho chị mượn ít tiền," vợ anh thợ giày nói. "Chị cần mua đồ lót mới."
"Không được đâu," vợ anh thợ rèn nói. "Em đã mua thuốc hết rồi. Con em đau nặng lắm."
"Trả món tiền mầy còn nợ tao ngay đi," anh hàng thịt nói với anh thợ may đang thuê nhà mình.
"Lâu nay có may vá gì được đâu," anh thợ may nhỏ nhẹ. " Em sẽ trả bác nay mai thôi."
Anh hàng thịt lên phố thuê luật sư đuổi anh thợ may khỏi nhà mình. Anh thợ may dẫn vợ đến thuê nhà anh thợ giày.
"Ông định dùng cái nhà trống vào việc gì?" vợ anh hàng thịt hỏi chồng.
"Chẳng làm gì cả," anh hàng thịt nói, bụng nghĩ đến chỗ ở cho cô vợ bé.
Vợ anh hàng thịt đánh nhau với vợ anh thơ may ngoài chợ, về nhà mặt sưng bầm. Trong quán, không ai nói gì, chỉ len lén nhìn nhau.
Tay luật sư vẫn chưa về làng. Người ta đồn vợ anh thợ may đang muốn ly hôn. Vợ anh chủ quán trọ kêu cảnh sát bắt chồng khi thấy cầu thang có bôi mỡ.
Tóm lại, lúa không ai gặt, bò không ai vắt sữa, bếp lò không ai dọn. Cả làng đang bị ám.

Thế rồi một ngày lão thợ đan đến, ngồi bên hông nhà thờ. Dân làng mang quà tới. Đầu tiên anh thợ may mang một cái áo bành tô đắt giá. Kế đến, anh thợ xay xát mang một chục bao lúa. Anh chủ lò bánh mang một cái bánh cực kỳ ngon. Anh thợ mộc mang một bộ bàn ghế. Anh xà ích mang một con ngựa to khỏe. Vợ anh thợ rèn khệ nệ bưng một miếng pho-mát to cỡ bánh xe. Em họ chị ta, vợ anh thợ may, mang đến một túi vàng.
"Vàng ở đâu ra vậy?" anh thợ may hỏi vợ.
"Mắc mớ chi ông," chị vợ đốp chát.
Vợ chủ quán trọ không có mặt. Chị ta bị trượt chân khi lên cầu thang.
Người cuối cùng là tay hàng thịt. Anh ta bỏ xa những người khác: hai con bò đực, bốn con bò cái và chục con cừu.
Lão thợ đan nhìn quanh rồi nói, "Được rồi. Phần thưởng thuộc về ... anh hàng thịt. Lão mang những thứ nầy về và sẽ mang cô gái đan trở lại."
Tay hàng thịt quá sung sướng đến rớt nước dãi.
"Tôi lấy lại lúa," anh xay xát nói.
‘Không không," lão thợ đan nói. "Đây có phải là mua bán gì đâu". Lão chất hết hàng lên ngựa.

Đáng lẽ ra dân làng phải túm nhau mà đánh lộn nhưng vì họ quá tha thiết muốn trông thấy cô gái đan nên chỉ đứng đó và chờ.

Khi lão thợ đan trở lại thì trời đã nhá nhem tối. Cô gái đan ngồi trên lưng ngựa, mặc áo choàng, đầu đội khăn voan như một cô dâu. Khi cô đi ngang, dân làng ngửi thấy mùi hương ngào ngạt.
Anh hàng thịt đứng trước ngôi nhà trước đây cho anh thợ may thuê. Để chuẩn bị, anh đã nhốt vợ vào trong kho than.
Lão thợ may đưa tay, giúp cô gái đan bước xuống. Anh hàng thịt trố mắt nhìn cô. Cô gái đan thấp và chân đi vòng kiềng, mặt đen và thô nhám. Nhưng tệ hơn, từ đầu đến chân phủ đầy gai.
"Cái quái gì thế này?" tay hàng thịt rít lên.
"À," lão thợ đan nói. "Anh chồng đan được làm bằng cây mây. Mây là cây cao, thân mềm mại, chẳng làm ai đau đớn. Nhưng ta thấy các người không thích, nên ta làm cô gái này bằng cây mận gai. Mận gai thì cứng và đầy gai. Lửa hay nước không làm cô ta chết."

Dân làng có lẽ đã đè lão thợ đan mà đánh nếu cô gái đan không bước ra. Cô ta chụp tay hàng thịt và hôn vào môi anh ta. Tay hàng thịt rú lên. Khi dứt ra được, môi anh ta bị cào xước, máu chảy xuống cằm. Đúng lúc ấy, người ta nghe một tiếng rầm: vợ tay hàng thịt đã thoát khỏi kho than và đang chạy tới. Trông thấy cô gái đan đang hôn chồng mình, chị ta thét lên và đè cô gái đan xuống. Hai người xoắn với nhau, lăn xuống rãnh nước, vừa hú vừa cào.
Ngay lúc ấy, tay luật sư xuất hiện. "Các người chưa làm biên bản sao? Phải kiểm tra mọi dấu vết. Quan trọng lắm đấy," tay luật sư nói.
Dân làng lấy dao của tay hàng thịt, kéo của tay thợ may, xảy rơm của mình, rượt đuổi tay luật sư. Chạy đến khi mệt đứt hơi, họ ngừng.
"Lão thợ đan gian trá," tay lò bánh nói. "Lão lừa bọn ta rồi." Thế là họ quay sang đường khác, nhắm hướng đầm lầy.
Trời đã tối và họ vấp ngã, lỏm bỏm trong bùn, lạc đường và gần bị sa lầy.
Khi đến được chỗ ở của lão thợ đan, họ đốt lửa lên cho sáng. Nhưng lão thợ đan, anh chồng bằng mây đan, chị vợ xấu xí, đứa bé và tất cả hàng hóa của dân làng, hết thảy đều biến mất.

Ursula Wills-Jones

Nguyễn  Khắc Phước chuyển ngữ.
READ MORE - NGƯỜI CHỒNG BẰNG MÂY ĐAN - Truyện ngắn của Ursula Wills-Jones - Nguyễn Khắc Phước dịch