Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Nguyễn Văn Quang. Show all posts
Showing posts with label Nguyễn Văn Quang. Show all posts

Thursday, June 13, 2019

ĐƯỜNG TÔI ĐI HỌC – Nguyễn Văn Quang



        Tác giả Nguyễn Văn Quang




ĐƯỜNG TÔI ĐI HỌC

Quê tôi - làng An cư, là một ngôi làng nhỏ thuộc xã Triệu Phước. Làng nằm cạnh một dòng sông, đoạn cuối của hợp lưu hai sông Thạch Hãn và sông Hiếu đổ ra cửa Việt. Tên làng, tên xã nghe thì bình yên, hạnh phúc thế, nhưng quả thực dân chẳng an cư và chẳng được phước lộc là bao!
Sống nơi nước mặn đồng chua, dân thuần nông không đủ gạo ăn, phải đi làm thuê khắp bốn phương trời. Nghe câu hát của Duy Khánh (một người con của làng) thì đủ thông cảm:

Quê hương em nghèo lắm ai ơi
Mùa đông thiếu áo, hè thời thiếu ăn!

Nhà tôi không đến nỗi ba đời ăn củ chuối nhưng cũng ba đời đi ở đợ, làm thuê! Ông nội tôi lên làm thuê tận trên vùng sơn cước, Cha tôi và hai chú tôi phải đi ở giữ trâu, phụ cày cho nhà giàu tại ba xã khác nhau; tôi mồ côi cha lúc bảy tuổi, hai em tôi chết từ nhỏ vì thiếu ăn và bệnh tật không có thuốc chữa. Mẹ tôi đi làm thuê, tôi đi mót lúa, mót khoai để nuôi nhau sống qua ngày! Thế nhưng không hiểu tại sao tôi vẫn ước ao được đi học!

Thời Pháp thuộc, quê tôi nằm trong vùng kháng chiến. Tôi mới 8 tuổi nhưng đêm đêm vẫn hăng say cùng với người lớn trong xóm đi học bình dân học vụ trong các nhà thờ họ hoặc tại đình làng. Năm 1951 ở xã có mở trường cấp Một thì tôi ghi danh đi học lớp Một, rồi lớp Hai tại một nhà thờ họ của làng Cao Hy, cách làng tôi một cánh đồng. Hằng ngày tôi mang cái bị lác đựng một cuốn vở, một chai mực tự pha chế và một ngòi bút cán làm bằng tre có buộc vào đầu cán một lưỡi bút, gọi là bút lá tre. Đi học về phải đem bị vở ra vườn nhà moi đất lên, bỏ vào cái hố nhỏ đã đào sẵn, đặt bị vở trên hai thanh tre gần mặt đất rồi đậy lên bị một tấm lá chuối và lấp đất lại cho ngang với mặt đất. Tay chân, quần áo tuyệt đối không để có một vết mực. Tây mà phát hiện có mực, chúng biết đi học trường Việt Minh thì chúng đánh chết. Còn nhỏ mà bọn tôi đã rất ý thức phải làm gì để tồn tại trong chiến tranh. Đến lớp học, việc trước tiên là phải đào một cái hầm tròn vừa cho một người ngồi, gọi là hầm tròn hay hầm cá nhân. Lần đầu tiên máy bay bắn bay ngang qua, chúng tôi chạy ra hầm, nhảy xuống ngồi mới biết hầm còn cạn quá, vai và đầu nhô trên mặt đất, dễ ăn đạn như chơi! Sợ quá, hôm sau tôi phải mang cuốc chét theo, cố gắng đào sâu thêm. Một hôm tôi đang trên đường về thì máy bay đến bắn mấy loạt rồi bay đi. Tôi nhét bị vở vào gốc cây giữa đồng rồi núp mình giữa ruộng lúa đang chín vàng. Máy bay bay đi đã lâu mà không thấy con về, mẹ tôi lo lắng quá nên cầm lấy một cái hái (dụng cụ để gặt lúa) giả vờ đi gặt lúa để tìm con. Hai mẹ con gặp được nhau giữa đồng lúa thì ôm nhau khóc. Tại nhà, mẹ tôi đào hai hầm cá nhân dọc luỹ tre, cách nhau chừng bảy mét để hai mẹ con núp khi có đại liên từ ca-nô dưới sông hay moóc- chê dưới đồn Cửa Việt bắn lên và ca-nông trên Đông Hà bắn về. Mẹ con tôi không nằm chung hầm vì sợ trúng đạn pháo thì chết cả hai! Mỗi lần hai mẹ con chạy ra hầm, mẹ tôi luôn khấn to: Lạy trời nếu rủi ro có chết thì cho tui chết, để con tui được sống kẻo hắn còn nhỏ dại tội nghiệp!

 Nơi hợp lưu 2 ngọn sông người dân cào xúc hến nước lợ để cung cấp các chợ trong tỉnh (Khúc sông từ Giàng Hến về Cửa Việt)
Qua năm 1953 Tây về đốt nhà, thiêu sạch cả làng. Mẹ tôi đi kiếm tre và rơm làm lại một cái lều che mưa nắng. Cũng năm ấy chúng đóng đồn ở đầu làng gọi là bốt (poste) An Cư. Tây đóng đồn khắp nơi. Cách vài ba cây số có một đồn. Dọc tỉnh lộ 4 từ thị xã về đến Cửa Việt chúng đóng đến 7 đồn. Vậy là tôi thất học. Năm 1954 chia cắt đất nước, năm 1955 chưa có trường, tôi lại thất học. Đến năm 1956 chính quyền miền Nam cho mở trường sơ cấp, tôi đã lớn xác nên phải thi xếp lớp và được vào học lớp Ba. Đến 1959 học hết lớp Năm, tôi đi bộ 7 cây số lên trường Đại Hào để thi Tiểu học. Đỗ Tiểu học thì tôi phải ở nhà đi giữ trâu cho người bà con vì mẹ làm thuê không đủ nuôi con học trường tỉnh. Tuy thế tâm trí tôi luôn nuôi một ước mơ được tiếp tục đi học như bạn bè cùng trang lứa! Nhưng một đứa trẻ con như tôi, đi bộ 16 cây số lên đến trường tỉnh Nguyễn Hoàng để học tiếp Trung học là điều không thể. Nhìn mấy đứa bạn con nhà khá giả được tiếp tục đi học trường tỉnh trong khi tôi phải một mình đi theo con trâu ra đồng, nhiều đêm nằm tủi thân âm thầm khóc! May làm sao, năm 1960, bộ Giáo dục thời bấy giờ cho mở mỗi quận một lớp Đệ Thất. Tôi nghe được tin ấy mừng lắm, vì nghĩ rằng đây là cơ may mình có thể tiếp tục con đường học tập. Làng tôi có một đứa học sau tôi một lớp tên là Phụng, Thằng Phụng lại mồ côi mẹ, cha chiêu yếu làm không đủ nuôi con phải nhờ người o của hắn nuôi giúp. Hắn cũng là một đứa hiếu học. Vậy là hai đứa tôi rủ nhau nộp đơn thi vào Đệ Thất Trung học Triệu Phong. Quá mơ ước được đi học mà đi thi chứ lòng không tự tin lắm vì đã bỏ học một năm và mình là dân nông thôn e không tranh nổi với dân trên vùng ngoại ô và thị xã! Thế mà kết quả đến không ngờ. Cả hai đứa tôi đều lọt vào con số ít ỏi 50 trên 492 học sinh dự thi. Thi đỗ rồi vẫn không nghĩ ra cách để đi học. Mẹ tôi và o của thằng Phụng đều lắc đầu: “Tau chịu, tau chịu!”
Trong làng có một bà quan đã đến nhà nói thẳng với mẹ tôi rằng: “Mấy đứa cháu tau ở trên thị xã sáng sữa bò, tối trứng lộn sung sướng thế mà học không nổi, con mi bủng beo rứa, đừng cho hắn đi học, sinh bệnh ra mà chết chừ!”
Mẹ tôi nghe nói thế sợ quá, kiên quyết không cho tôi đi. Tôi thì nằng nặc xin mãi, nên cuối cùng mẹ tôi đành nhượng bộ, nói lẩy: Mặc kệ mi, mi mần răng học được thì học, tau bất kham!”

 Hậu điện nhà thờ HỌ ĐỖ vẫn còn dáng dấp xưa cũ, ngày ấy những cô cậu học sinh THTP ngồi học tại nơi nầy
Tôi và thằng Phụng vẫn quyết tâm đi học. Dù sao, mẹ tôi cũng như o thằng Phụng vẫn thương con, thương cháu, vẫn thầm mong sao cho chúng tôi ăn học bằng người. Và thế là họ tiếp tục kiếp làm thuê, cần cù hơn, chịu khó, chịu khổ nhiều hơn để có cơm có khoai, sắn cho chúng tôi ăn học! Tất nhiên chúng tôi không thể ở nhà trọ nên chỉ có một cách duy nhất là rèn đôi chân cho chắc, khoẻ để cuốc bộ một ngày hai vòng: Từ An Cư lên nhà thờ họ Đỗ Bích Khê một năm, rồi sau đó là đình Cổ thành và đình Hậu kiên. cung đường cả đi lẫn về trên 24 cây số. Mẹ tôi ngày đi làm thuê, đêm đi bắt cá bằng cách cùng những người khác vây sáo lại để bắt gọi là đi mò sáo. Tôi học xong bài là một mình đến chõng tre ngủ. không biết mẹ về từ lúc nào. Nhưng cứ gần 3 giờ sáng là mẹ thức dậy ăn cơm. Nói là ăn cơm nhưng thực ra thì cơm ít, sắn khoai nhiều. Phần lớn cơm bới vào mo cau cho bữa ăn trưa để khi mở ra ăn tại lớp đỡ tủi hổ với bạn bè! Ăn uống xong, chuẩn bị sách vở, chừng 3 giờ rưởi sáng hai đứa hai cái bị lác, hai mo cơm và hai cái gậy chống đi trong đêm tối mịt mờ! Băng qua cánh đồng làng Cao Hy (xã Triệu Phước) gặp một trạm gác của lính dân vệ xã. Họ quát lớn: “Ai, đứng lại!” Cả hai đứa sợ run người, nhưng cũng lấy lại bình tỉnh để đáp: “Dạ hai đứa cháu bên làng An Cư đi học.” Họ lại hỏi vặn: “Học hành đâu giờ này?”

“Dạ, tụi cháu học trường Trung học Triệu Phong, tận côi Sãi, xa lắm!” -
“Ừ, rứa thì cho đi đi!”
Chúng tôi mừng quá, tiếp tục cuộc hành trình.
Qua đến Bồ Bản thì trời tờ mờ sáng. Đôi chân phải hoạt động đều và khẩn trương để có thể kịp giờ vào lớp (7 giờ sáng). Nhiều lúc trể giờ, lén nhảy cửa sổ vào ngồi bàn sau cùng mà vẫn bị thầy phát hiện, kêu đứng dậy la một trận nên thân. Sau khi chúng tôi trình bày lý do, hoàn cảnh, thầy cũng thông cảm và cho ngồi tiếp tục học. Nhìn chung, tụi tôi phần lớn là con nhà nghèo, thất học từ nhỏ và ở xa trường, nên việc đi học gắn với mo cơm bới. Mùa đông không phơi được nên cái mo để gói cơm mốc meo trông rất bẩn! Trên đường đi, hai đứa tôi gặp các bạn khác cũng cặp kè mo cơm bên mình, cũng kiếp nhà nghèo như nhau, cùng cảnh ngộ nên dễ thân nhau. Chúng tôi hẹn đợi nhau cùng đi để chuyện trò cho quên mệt nhọc. Qua Vĩnh Lại có Trương Đăng Sỏ, lên Đại Hào có Phạm Tiến, Phạm Như Tâm ... Hỏi ra mới biết Tiến mồ côi cha, mẹ đi lấy chồng, được bà nội nuôi từ bé. Bà nội đã già nhưng thương cháu quá cũng ngày hai buổi đi giũi cá về bán kiếm gạo cho cháu ăn học! Cảm động làm sao tấm lòng thương con, thương cháu của bà Mẹ Việt Nam! Trong lớp, con nhà giàu chơi với nhau, bọn con nhà nghèo chúng tôi chơi thân với nhau; tụi tôi nghèo cơm áo nhưng rất quyết tâm nên học khá giỏi, được thầy cô thương và thường quan tâm động viên, giúp đỡ. Trường quy định mặc đồng phục quần xanh, áo trắng. Chúng tôi cũng phải chấp hành để khỏi bị phạt. Nhưng mẹ không có khả năng may nổi cho con bộ đồng phục nên tôi phải tự bản thân tìm cách làm thuê để có quần áo mặc. Một loại hình lao động mà bây giờ tôi vẫn nhớ rất rõ là đi thắp hương thay. Tôi có một người bà con họ hàng nhà ở trên thị xã Quảng Trị. Nhà này có người con gái chết trẻ, đem về chôn ở nghĩa địa của làng. Do xa xôi cách trở, gia đình họ không thể về thắp hương liên tục 50 ngày đầu ở mộ được. Họ thấy tôi nghèo cũng muốn giúp đỡ, nên đã hợp đồng với tôi. Nội dung như sau: “Cứ mỗi chiều tối tôi ra nghĩa địa thắp hương cho người vừa qua đời ấy, thắp đủ 50 ngày” thì sẽ cho tôi đủ vải để may bộ áo quần đi học. Tôi ra điều kiện là vải tốt, xấu cũng được, nhưng vải áo phải màu trắng, vải quần phải màu xanh đậm.
Họ chấp nhận, và tôi hăng hái thực hiện hợp đồng. Mấy buổi đầu đi một mình ra nghĩa địa trong gió lạnh tôi thấy run người, nhất là lúc ra về trời tối thêm nên cứ tưởng tượng có người chết đi theo sau lưng mình. Nhưng chí đã quyết, nghĩ đến bộ áo quần đồng phục sắp có đã giúp tôi vượt qua tất cả. Mỗi năm người mỗi cao thêm, áo quần thì dần bạc màu và ngắn lại, lai quần đã lên quá mắt cá chân khá xa, nhưng nó vẫn theo tôi cho hết năm Đệ Tứ!
Lớp tôi có một bạn cũng con nhà nghèo, quê ở Ái Tử học rất giỏi, vì nó đã học trường tư một năm trên thị xã nên cái gì nó cũng biết trước, nói cho cam quả, nó cũng thông minh, (mà không thông minh thì làm sao hồi ấy nó chỉ đỗ Tú Tài mà bây giờ nó dạy luyện thi Đại học cho ba đứa con và các học trò đời nay đến học thêm với nó?). Học trò trong lớp có nhiều đứa giỏi, phần lớn là những đứa con nhà nghèo, cần cù, chịu khó học. Môn Pháp văn thì tôi và thằng Hoá ngang sức nhau, cuối năm Đệ Lục, hai đứa tôi đã viết lưu bút cho nhau bằng tiếng Pháp. Toán thì nó giỏi hơn tôi nên luôn đứng đầu sổ. Học xong lớp Đệ Ngũ thì nó thi băng lên Đệ Tam Nguyễn Hoàng, nghĩa là bỏ qua lớp Đệ Tứ. Tôi không dám thi băng, sợ trượt thì xấu hổ, hơn nữa lúc ấy tôi chưa nghĩ mình có thể đi bộ một quãng đường gần 16 cây số để lên học trường Nguyễn Hoàng.
Học xong lớp Đệ Tứ là thi Trung học Đệ Nhất cấp. Hồi ấy đánh giá bằng cấp chia làm 4 hạng: Ưu, Bình, Bình thứ và Thứ. Tôi được hạng Bình. Mừng quá, tôi chạy ngay về nhà báo cho Mẹ biết. Mẹ tôi bắt một con gà giò, sáo một lon nếp đặt lên cúng tạ ơn Trời đất, Tổ tiên.
Bốn năm học ở Triệu Phong để lại biết bao nhiêu kỷ niệm thân thương, nhưng rồi tôi cũng đành tạm chia xa mái trường để lên Trung học Đệ Nhị cấp Nguyễn Hoàng. Mấy đứa bạn nghèo nhà quê xa trường chúng tôi lại phải tìm cách giúp nhau để có điều kiện ăn học. Con đường duy nhất là kiếm nhà dạy kèm để có cơm ăn và có chỗ trọ. Nhanh nhất trong đám chúng tôi là Phạm Tiến. Hắn bạo dạn, xông xáo, không sợ xấu hổ. Hắn đi hỏi từ nhà này qua nhà khác. Tôi chưa từng làm quen với cảnh sống thành phố nên rụt rè, lớ ngớ không dám đi hỏi tìm. Đang lo lắng bồn chồn thì thằng Tiến chạy về báo cho tôi là đã tìm ra chỗ dạy kèm cho nó và một chỗ khác cho tôi. Tôi mừng như bắt được vàng!
Hắn dẫn tôi đến giới thiệu với nhà chủ rồi ra về. Tôi cảm ơn hắn và ở lại với nhà ấy. Ông chủ nhà là một sĩ quan cấp uý, có một mẹ già, vợ và 4 con nhỏ. Việc làm của tôi không những dạy học mà còn việc đưa và đón các cháu đi học hàng ngày. Tôi ở trọ được hơn một tuần thì chị vợ gọi tôi đến và thân mật bảo: “Anh chị cũng cần em ở dạy cho các cháu, nhưng bà mẹ chồng không muốn có người lạ trong nhà. Em thông cảm và chịu khó đi tìm nhà khác mà kèm.” Nghe chưa hết câu, tôi đã sững sờ, tuyệt vọng, nghĩ rằng con đường đến trường đã bị chặn lối từ đây! Sáng hôm sau tôi bỏ buổi học, về quê xin mẹ mấy đồng để ăn cơm ở quán cơm xã hội, nằm cạnh bờ sông Thạch Hãn. Tôi bỏ học hai buổi để đi kiếm nhà làm gia sư (gọi là làm prề-xép-tơ, tiếng Pháp: précepteur). Tôi đang buồn lo không ngủ được thì thằng Phụng, thằng bạn nghèo cùng làng đến báo một tin vui: “Có một gia đình nông dân ở xóm Dương, thôn Cổ thành đang cần một prề-xép. Họ có hai con trai năm vừa rồi thi trượt Đệ Thất Nguyễn Hoàng, muốn nhờ người kèm để sang năm thi lại.”
Tôi như người chết đuối níu được phao. Thằng Phụng dẫn tôi đến giới thiệu với bác chủ nhà, chuyện trò một hồi, nó chào ra về. Tôi cảm ơn nó và ở lại với gia đình này. Hồi ấy vào cho được Đệ Thất Nguyễn Hoàng thật chua xương! Dạy cho học sinh từ yếu kém lên trung bình hoặc khá thì còn dễ, dạy cho thi đỗ Đệ Thất quả là một áp lực lớn đối với tôi, nhất là mình còn có tham vọng học giỏi. Nhưng với quyết tâm của cả thầy lẫn trò, với sự chăm lo, động viên của bác chủ nhà, năm sau hai học trò tôi kèm đều đỗ vào Nguyễn Hoàng với vị thứ khá cao. Bác chủ nhà tuy nông dân nhưng rất chăm lo việc học cho con. Bác mừng quá, nói lời cảm ơn tôi, và mời tôi tiếp tục kèm cặp hai em cho đến ngày tôi thôi học Nguyễn Hoàng. Do sức khoẻ yếu, làm việc quá sức nên việc học của tôi đuối dần. Thi Tú tài Bán tôi đỗ Bình thứ và Tú tài Toàn chỉ đỗ hạng Thứ. Tôi hơi buồn nhưng không xấu hổ vì biết mình không thể làm hơn thế, khỏi đúp lớp là may! Xong Tú tài Toàn, các bạn tôi tiếp tục vào Huế kiếm phương tiện học tiếp Đại học. Tôi không mơ gì thêm nên bằng lòng về xin một chân dạy giờ tại trường Bồ đề Triệu Phong. Gần cuối năm học 1967-1968 tôi trở lại thăm trường cũ Triệu Phong, thì cơ duyên đã đến. Tôi được gặp thầy Hiệu trưởng Phan Thanh Thiên, thầy mời tôi vào phòng uống nước. Thầy hỏi tôi có thích về dạy trung học Triệu phong không, tôi mừng quá, nói lời cảm ơn thầy. Sau đó thầy đã làm việc với Nha Học chánh, và hai tháng sau tôi đã có giấy nhận về dạy tại ngôi trường mà 4 năm trước mình còn là học trò ở đây. Những đứa bạn nghèo của tôi mạnh dạn vào Huế kiếm nhà dạy kèm để học tiếp lên Đại học. Các bạn đã tự lo việc học được rồi thì giục tôi bỏ dạy để vào Huế học với họ. Tôi không chịu nên họ bàn cách thứ hai là cứ ghi danh học, bài vở họ chép dùm, gởi xe đò (xe khách) ra cho tôi. Có thầy ở Sài gòn ra dạy thì báo để tôi đổi giờ dạy cho các giáo viên khác để vào học. Kiên trì theo con đường ấy, với sự giúp đỡ của những thằng bạn nghèo tốt bụng, ba năm sau, năm 1971 tôi đã đỗ được bằng Cử nhân Việt Hán.
Con đường đi học của tôi là vậy đó, gian nan, vất vả, nhưng chưa bao giờ than thở, bỏ cuộc. Nghiệm lại, thấy câu nói của người Pháp: “Vouloir c’est pouvoir - muốn là được.” nghe cũng có lý!

Nhờ được thầy cũ giúp đỡ, tôi có cơ duyên gắn bó với trường xưa cho gần đến ngày trường ngưng hoạt động (4/1975). Tôi là người thứ ba ở với trường lâu nhất: 4 năm học và 7 năm dạy. (Trường tồn tại 15 năm thì Thầy Hồ Bính và bác Hồ Thơm ở với trường 14 năm, tôi: 11 năm.)
Từ cái duyên trở thành cái nợ. Nợ này không ai đòi tôi, nhưng tình cảm đối với trường xưa, sự hàm ơn đối với thầy cũ và những kỷ niệm thân thương của tuổi học trò cứ bắt tôi phải ngày đêm suy nghĩ. Trường thì đã bị huỷ hoại trong chiến tranh. Năm mươi năm trôi qua, cũng đã hai phần đời người mà thầy xưa, bạn cũ mỗi người một nơi, ai còn ai mất, sống thế nào, chết ra sao, ... không thể biết được hoàn cảnh của nhau! Tôi đem tâm tình này trao đổi với các thầy cô, các CHS của trường về nguyện vọng tổ chức một ngày đoàn tụ, và làm một cuốn Đặc san kỷ niệm - xem như một cuốn lưu bút của 15 thế hệ học sinh TP thân yêu. Vui thay, mọi người đều đồng tình ủng hộ và quyết tâm thực hiện thành công cả hai nguyện vọng đã đề ra.

                                    Thị xã Quảng Trị, tháng 4/2010
                                               Nguyễn Văn Quang

READ MORE - ĐƯỜNG TÔI ĐI HỌC – Nguyễn Văn Quang

Saturday, May 19, 2018

LỜI BẠT "ĐOÀN ĐỨC VÀ NHỮNG HOÀI NIỆM VỀ THẦY CÔ CŨ" - Nguyễn Văn Quang

   
         


LỜI BẠT 
"ĐOÀN ĐỨC VÀ NHỮNG HOÀI NIỆM VỀ THẦY CÔ CŨ"

Năm mươi ba năm về trước, tôi quen biết Đoàn Đức khi cùng bước chân vào lớp Đệ Tam C (lớp 10), trường Trung học Nguyễn Hoàng - Quảng Trị. Tôi thuở nhỏ thất học nên khi vào Đệ Nhị Cấp người đã cao lớn như một thanh niên. Đức là dân thành thị, được học hành sớm nên so với tôi, anh nhỏ hơn, cỡ bằng tuổi em mình. Tuy nhiên, khi nhận biết Đức thông minh, học giỏi, có trí nhớ tuyệt vời và đam mê học tập, nhất là sự hòa đồng với bạn bè, tôi đã quyết định kết thân với Đức để trao đổi việc học tập, không có mặc cảm lớn-nhỏ, tỉnh-quê. Sau một thời gian, khi đã quen thân nhau, tôi thường lui tới nhà Đức học hoặc chuyện trò. Một hôm tôi đến nhà thì Đức đi vắng; cụ thân sinh của Đức niềm nở tiếp đón và chân tình nói với tôi: “Em Đức nó còn nhỏ, trẻ người non dạ, có gì ở lớp cháu góp ý giúp đỡ cho em với”. Tôi nghe mà thấy hổ thẹn với lời nhờ của cụ. Có lẽ ông cụ tưởng tôi lớn người nên khôn ngoan, tài giỏi hơn Đức, còn thằng con út Đoàn Đức của cụ thì còn ngây thơ, khờ khạo lắm, cần có người lớn tuổi kèm cặp thêm. Tôi lễ phép và chân thành thưa lại với cụ: “Thưa bác, cháu là học sinh từ quê lên, thuở nhỏ thất học nên bây giờ lớn xác rồi mà phải cùng học với các bạn nhỏ tuổi hơn. Cháu thấy bạn Đức giỏi lắm, trẻ người nhưng không non dạ đâu mà bác lo. Cháu còn phải học ở Đức nhiều thứ chứ đâu dám bày vẽ thêm cho Đức điều gì.”

Ông cụ hơi ngạc nhiên về điều tôi thưa, nhưng rồi cụ mỉm cười, như thấy lòng vui vì có người khẳng định khả năng học tập vững vàng của con mình ở trường, ở lớp.

Cùng học một lớp nhưng chúng tôi theo hai sinh ngữ chính và phụ khác nhau. Tôi học sinh ngữ chính là Pháp văn và sinh ngữ phụ là Anh văn; còn Đức thì ngược lại, nên đến giờ ngoại ngữ thì lớp chia làm hai, chúng tôi trở thành hai người khác lớp! Tuy nhiên, do nhận thức được cái hay và tầm quan trọng của cả hai ngoại ngữ này, cộng với tài năng tuyệt vời và nhiệt tình giảng dạy của quý thầy cô, hai chúng tôi cùng tạo cơ hội để học tập, rèn luyện và ước rằng sẽ giỏi cả hai thứ tiếng như nhau.

Người ta thường bảo “Danh sư xuất cao đồ”. Chúng tôi không dám nhận là những cao đồ, nhưng quả thực quý thầy cô chúng tôi xứng đáng là những danh sư. Với vốn kiến thức uyên thâm, với năng lực sư phạm tốt, đạo đức nghề nghiệp cao, lại thêm bầu nhiệt huyết, lòng yêu thương học trò, họ đã truyền thụ cho chúng tôi kiến thức vững chắc, sâu rộng; nhờ vậy, khi ra đời, nhiều bạn đã trở nên nổi tiếng trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống. Công ơn và tình cảm của các vị ân sư, chúng tôi mãi mãi khắc ghi trong lòng, dù hoàn cảnh sống bầm dập ra sao, dù xã hội có đổi thay như thế nào chăng nữa. Biết bao kỷ niệm thân thương, quý giá và tình nghĩa thầy trò rất đáng được ghi lại, đóng thành sách để giúp bạn bè hồi tưởng quãng đời thư sinh, giúp con cháu hiểu được ân tình sâu nặng của các thế hệ cha anh đối với thầy cô của họ. Tiếc thay, trong chúng tôi, những con người đã trên tuổi 70, hứng chịu bao bầm dập, sóng gió của cuộc đời, dường như không ai còn đủ khả năng, tâm trí ngồi viết lại cụ thể những hoài niệm về thầy cô giáo cũ.

May thay, còn có một người trong chúng tôi có thể làm việc đó, không ai khác là anh Đoàn Đức! Anh đã thay mặt chúng tôi viết những dòng hoài niệm thấm đẫm ân tình về các thầy cô giáo cũ. Tôi rất trân trọng và cảm phục những bài viết của anh. Hy vọng, tập sách sẽ là một món quà tinh thần quý giá, thể hiện lòng tri ân của học trò. Tập hoài niệm còn mang đến cho các vị lão sư một niềm vui cuối đời, giúp quý thầy cô ôn lại một thời vàng son của nghề dạy học, và tự hào đã được học trò cũ ghi nhớ, tôn vinh.

Đoàn Đức vốn là thầy giáo Anh văn tài hoa, có kiến thức rộng, nghệ thuật giảng dạy tốt, đặc biệt là dồn hết tâm huyết và tình cảm vào bài giảng, nên rất được học sinh yêu thương, mến phục. Kết quả đó, ít nhiều đã chịu ảnh hưởng của thầy cô giáo cũ. Về sau, cuộc đời đưa đẩy, Đức từ giã nghiệp làm thầy và bước vào con đường kinh doanh. Nhờ có tài năng và bản lĩnh, anh đã rất thành công trong lĩnh vực mới, mang lại lợi ích thiết thực cho dân nghèo, được chính quyền huyện, tỉnh của tỉnh Bình Thuận vinh danh, khen thưởng.

Nhiều người tưởng lầm rằng sau mấy mươi năm rời xa lĩnh vực văn chương, chữ nghĩa, dồn tâm trí vào công việc làm ăn, chắc anh đã quên đi tuổi học trò thân thương cùng bao kỷ niệm học tập quý báu với thầy cô, bạn bè của mình thời thơ ấu. Ngờ đâu, những kiến thức thuở học trò, những hoài niệm dĩ vãng, tình nghĩa thầy trò, tình đồng môn không bao giờ nhạt nhòa trong tâm trí anh.

Nhân khối lớp Cựu HS Nguyễn Hoàng 1960 – 1967 làm tờ đặc san kỷ niệm 50 năm ngày ra trường, chúng tôi mời anh tham gia viết bài. Vì tình cảm bạn bè mà mời gọi chứ không mong gì anh sẽ có bài đóng góp cho Đặc san. Có người còn cá cược nhau rằng nếu Đoàn Đức viết cho tập san được 1 trang thì tôi sẽ chịu 1 triệu đồng đãi anh em bữa nhậu! Và anh bạn tôi bị mất tiền vì Đoàn Đức đã gọi điện đến báo rằng không những viết 1 trang mà viết 100 trang. Anh em lại hoảng hồn, vì một mình Đức viết 100 trang thì không gian đâu dành cho các bạn khác!

Thực ra Đức có ý đinh viết tập “Hoài niệm những Thầy Cô cũ” dày khoảng 200 trang. Khi xong bản thảo, anh gởi từng phần cho tôi đọc, có phần anh đọc trực tiếp trên điện thoại cho tôi nghe và đề nghị cho ý kiến về độ chính xác mấy mươi phần trăm, điều chỉnh như thế nào, cần bổ sung những gì... Tôi ngại quá nên đã từ chối; vì những gì anh viết ra, trí óc tôi không còn nhớ rõ, bạn đã nhớ quá tỉ mỉ từng lời từng chữ mà quý thầy cô đã sử dụng trong lúc giảng bài hơn nửa thế kỷ trước. Khóa tôi có nhiều người giỏi, riêng lớp tôi có anh Đỗ Tư Nghĩa giỏi nhiều môn xã hội, đặc biệt là khả năng nhớ từ ngữ tiếng Anh nên được đồng môn Nguyễn Hoàng mệnh danh là “Cuốn từ điển sống”. Còn Đoàn Đức được tôi mệnh danh là “Bộ nhớ tuyệt vời của một computer siêu hạng”. Khi anh chiếu những thước phim dĩ vãng được lưu từ kho dữ liệu trong bộ nhớ của máy tính siêu hạng về thời dĩ vãng xa xưa để xem lại và hỏi nhân chứng đã ngoài 70 tuổi, nhớ ít quên nhiều như tôi xem có sai sót gì không thì làm sao tôi dám trả lời!

Dù vậy, vì anh nhắc lại hai ba lần, và vì tình nghĩa bạn bè, vì sự thiết tha hoài niệm của anh về quý thầy cô, tôi xin có mấy cảm nhận như sau:

1.   Qua tập hoài niệm, Đoàn Đức đã thể hiện những tình cảm quá ư sâu đậm đối với Thầy Cô giáo của mình; anh đã để hết tâm trí vào bài viết, hình dung và tái hiện không gian, thời gian, bầu không khí, …của từng tiết học diễn ra: bài học gì, môn nào, cùng học với ai, học trò tranh luận ra sao và thầy cô giải đáp, nhận xét, cùng với thái độ và tình cảm của cả thầy và trò như thế nào, anh ghi lại thật công phu và tỉ mỉ. Tôi vẫn ngạc nhiên về ký ức tuyệt vời của anh khi ở tuổi ngoài 70, dù ngày xưa đã biết rõ và khâm phục trí nhớ của Đức khi còn là một thiếu niên! Quả là tuổi già nhưng trí chưa già!

2.   Thể hiện sự quay về dĩ vãng rất mãnh liệt, như là một tình yêu thấm đẫm trong tim. Tôi nhớ, Anatole France viết trong L’amour du Passé: “Le présent est aride et trouble, l’avenir est caché. Toute la richesse, toute la splendeur, toute la grâce du monde est dans le passé. Et cela les enfants le savent aussi bien que les vieillards” (Tạm dịch: Hiện tại thì khô cằn và u ám, tương lai thì mờ mịt. Tất cả sự phong phú, tất cả sự huy hoàng, tất cả vẻ kiều diễm của thế gian đều ở trong dĩ vãng. Và điều đó, trẻ con cũng biết rõ như người già.) Thông thường, khi người ta không thỏa mãn với hiện tại và bi quan về tương lai thì hay trở về yêu thương, ca ngợi dĩ vãng. Còn đối với Đoàn Đức, hiện tại của anh đang thật tươi tốt, tương lai thì thật sáng tỏ, tràn trề hy vọng, thế mà anh vẫn có sự quay về mãnh liệt như thế, phải chăng vì anh quá quý mến Thầy Cô của mình, quá yêu thương cái tuổi học trò trong trắng, nên thơ của mình, quá trân trọng những người bạn học giỏi giang, hiền lành, cần cù và cùng chí hướng với mình?

3.   Bên cạnh những hoài niệm về Thầy Cô, Đức còn nhắc nhớ về những người bạn học đã từng chung sách đèn một thuở. Những anh bạn chí thân, cũng là những học sinh tài giỏi, “kết nghĩa vườn đào” như Nguyễn Thắng, Đỗ Tư Nghĩa, … thường được anh mến mộ và nhắc đi nhắc lại trong những bài viết. Với riêng tôi, những kỷ niệm học chung với Đức môn Pháp văn, Anh văn thật quý giá; nhất là sinh ngữ phụ Anh văn mà không có cơ hội thực hành, giao tiếp thì khó thành công. Những buổi được Đức dẫn đến học thêm với thầy giáo Gary Carkin giúp tôi tiến bộ rất nhiều, nhất là về khả năng nghe nói. Nhờ vậy, sau này, ngoài Quốc văn, tôi còn dạy cả Anh văn và ít khi gặp khó khăn trước những câu hỏi hóc búa của các học sinh giỏi.

4.   Tác giả hoài niệm những thầy cô thông qua tái hiện những bài giảng, bài học giữa thầy và trò. Không phải một thầy mà nhiều thầy, không phải một môn mà nhiều môn khác nhau. Vì vậy tập sách giúp người đọc nhớ lại hoặc hiểu biết về một chương trình giáo khoa bậc Trung học phong phú và uyên thâm, có phần sâu rộng như ở bậc Đại học ngày nay: Văn học dân gian, văn học cổ điển, văn học cận và hiện đại, văn học nước ngoài; thông qua các giờ học ngoại ngữ, những bài thơ, những đoạn văn nước ngoài được trích giảng. Với môn triết, học sinh đã được học về học thuyết của các triết gia xa xưa như Socrate, Platon, Aristote, triết thuyết duy tâm, duy vật cho đến thuyết Hiện sinh của Jean Paul Sartre. Là môn khó học như Triết mà học sinh đứng lên tranh luận với thầy giáo về những nội dung, khuynh hướng trong triết học, nhận xét những ưu khuyết điểm của từng học thuyết…, chứng tỏ họ đã có một vốn kiến thức sâu rộng và đã nghiên cứu, nghiền ngẫm, suy tư kỹ lưỡng trước giờ vào lớp.

5.   Như tôi có đề cập ở trên, tập hoài niệm thể hiện lòng mến phục, tri ân sâu sắc của tác giả đối với thầy cô của mình. Sự tri ân đó càng làm cho tình thầy trò thêm đậm đà, gắn bó và thôi thúc anh phải thể hiện bằng những việc làm cụ thể. Vì thế, dù rất bận với công việc kinh doanh, anh vẫn thường dành thời gian tìm thăm quý thầy cô dù ở gần hay xa, nhất là các thầy cô ốm đau hoặc có hoàn khó khăn thì anh càng quan tâm thăm nom, động viên, giúp đỡ; viếng hương hồn của các thầy giáo đã khuất, như lên Bảo Lộc dâng hương tưởng niệm hương hồn Thầy Lê Mậu Tâm. Đạo Thầy –Trò và tình cảm quý báu ấy đã được anh thể hiện trong mấy chục năm qua và vẫn gắn bó bền chặt, sâu nặng cho đến bây giờ.

Lời người xưa, được ghi trong cuốn Cổ học tinh hoa: “Dữ thiện nhân cư, như nhập chi lan chi thất; cữu nhi bất văn kỳ hương, tức dữ chi hóa hỹ. Dữ bất thiện nhân cư, như nhập bào ngư chi tứ, cữu nhi bất văn kỳ xú, tức dữ chi hóa hỹ.” (Tạm dịch: Ở cùng người tốt/thiện như vào nhà trồng lan; ở lâu ta không còn ngửi thấy mùi thơm của lan tức ta đã được thơm như lan vậy. Ở cùng người xấu/ bất thiện như vào chợ bán cá mắm; lâu ngày ta không ngửi thấy mùi hôi của cá mắm nữa, tức là ta đã trở thành hôi hám như cá mắm vậy). Đấy là một nhận xét thâm thúy, một lời khuyên đầy ý nghĩa, một cảnh báo rất cần thiết cho những ai muốn chọn thầy để học, chọn bạn mà chơi. Ảnh hưởng về nhiều mặt của Thầy Cô giáo đối với học trò là rất lớn. Nhờ gần gũi quý thầy cô, học được phong cách sống mẫu mực, tình cảm dạt dào mà trong sáng, và sự dìu dắt, giáo dục quý báu của quý Thầy Cô nên lớp học trò chúng tôi không những có đủ tri thức để bước vào đời mà còn giữ được nếp sống thanh cao, giàu tình nghĩa, có trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội; Nhìn chung, lớp học trò chúng tôi không dám nghĩ đến những điều thấp hèn vì sợ tổn thương đến uy tín, thanh danh và công lao dạy dỗ của thầy cô mình. Chúng tôi hãnh diện đã có những người Thầy, người Cô như thế! Thành kính tri ân quý Thầy Cô!

Với tác giả Đoàn Đức, xin nói thực lòng, tôi rất vinh dự có được một người bạn quý như anh. Rất cảm ơn anh đã viết thay cho chúng tôi những lời hoài niệm đầy tâm huyết, đầy tình nghĩa thầy trò, bằng hữu mà chúng tôi đã không có khả năng ghi nhớ và viết ra được. Nhờ có tình bằng hữu của anh, cũng như của Lê Mậu Minh, Nguyễn Cư … mà tôi đã hoàn thành được chương trình Đại học để về sau có khả năng đứng vững trên bục giảng, kể cả trước và sau ngày đất nước thống nhất.

Lời cuối, tôi xin mượn tác giả một khoảng không gian nhỏ của tập Hoài niệm để nói lời thành kính tri ân và cầu chúc quý Thầy Cô luôn vui khỏe, an lạc. Kính gởi nén tâm hương viếng quý Thầy Cô đã khuất! Thân chúc tác giả Đoàn Đức dồi dào sức khỏe, hạnh phúc và vẫn giữ đầy bầu nhiệt huyết để còn có nhiều bài viết hoài niệm, tri ân thầy cô, không những thầy cô dạy bậc trung học mà còn thầy cô ở bậc tiểu học, mầm non,… Càng hoài niệm tuổi thơ, càng làm cho đời trẻ lại. Chúc anh thành công hơn nữa trong mọi lĩnh vực của cuộc sống!

Chúc tập Hoài Niệm được trọn vẹn như ý nguyện của tác giả!

Chúc tình Thầy Trò, tình đồng môn NGUYỄN HOÀNG đời đời thắm thiết, bền chặt, thủy chung!                                                                                                                                                                                             Nguyễn Văn Quang

READ MORE - LỜI BẠT "ĐOÀN ĐỨC VÀ NHỮNG HOÀI NIỆM VỀ THẦY CÔ CŨ" - Nguyễn Văn Quang

Monday, May 25, 2015

NHỊP ĐẬP CON TIM - Thơ Nguyễn Văn Quang





NHỊP ĐẬP CON TIM 

(Thương tặng vợ và các bạn gặp rắc rối về tim)


Ngày xưa khi mới yêu nhau

Con tim chưa đều nhịp đập

Thất thường lúc chậm lúc mau

Em bảo - tại lòng thổn thức.


Năm ngoái đè tây lên ngực

Em nghe tim đập không đều

Anh bảo: tại lòng rạo rực

Như ngày em mới biết yêu!


Ngờ đâu đến hồi mỏi mệt

Tim em lệch nhịp an toàn

Đường ống dẫn truyền hở hẹp

Phải làm đại phẩu thay van!


Hôm tiễn em vào phòng mổ

Đúng ngày giải phóng Điện Biên(*)

Anh bảo: Em ơi, đừng sợ!

Quân mình đại thắng - tất nhiên!


Bước chân nặng nề quay lại

Anh sờ thấy ngực nóng ran

Ai xui, anh thầm nghĩ dại

Biết đâu em chết giữa đàng!


Người ta cưa xương, xẻ ngực

Đưa tim em bỏ ra ngoài

Tiếng rưởi đồng hồ ngưng đập

Làm sao sống được em ơi!


May nhờ lương y giỏi quá

Cứu người như có phép tiên

Công ơn, xin nguyền tạc dạ

Giúp anh giành lại vợ hiền!

Hồi xưa chấp năm chấp tháng

Giờ đây tính buổi tính ngày

Đã nguyền yêu nhau, hãy ráng

Ôm tròn hạnh phúc trong tay!


Dù đã qua thời oanh liệt

Tình yêu đâu có tuổi già

Con tim kiên trì gõ nhịp

Cho tình mình mãi thăng hoa!


Mai kia đôi tim ngừng đập

Đưa nhau về chốn vĩnh hằng

Gió trời ru ta an giấc

Hương tình thoang thoảng ngàn năm!

                NGUYỄN VĂN QUANG
               (Quảng Trị - tháng 5, 2015)

.........................

(*)Vợ tôi lên bàn mổ tại Bv TƯ Huế ngày 7/5/2014,

đúng vào dịp kỷ niệm 60 năm giải phóng Điện Biên Phủ-

(7/5/1954-7/5/2014).

READ MORE - NHỊP ĐẬP CON TIM - Thơ Nguyễn Văn Quang

Thursday, November 1, 2012

THƠ NGUYỄN VĂN QUANG

Hình bìa tập thơ GIÓ TRẦN GIAN của Nguyễn văn Quang, NXB Văn Học, 2012


DƯỚI CHÂN MÀY

Những rung cảm tột cùng ân ái
Đằng sau con mắt thăm thẳm cuộc tình
Ta kiếp ngựa hoang tung vó ngoài biên ải
Em đi qua như bóng ma vô hình

Người đàn bà trong tầm tay
Sao chừ lạnh như lát cắt
Người đàn bà hôm qua sáng ra quay mặt
Ai biết nỗi đau dưới chân mày?


CHIA TAY

Em bước qua hồn ta tháng ngày
Người hôm qua chừ nghe xa lạ
Chia tay là vĩnh biệt kiếp này
Xin một lần ân xá…

Em đi về bên ấy phương người
Chốn phồn hoa không lời sám hối
Sá gì những đêm chăn gối

Về phương ấy trăm năm thiên hạ
Nhà thơ bến tạm…
Không mái che lấy gì tiếp khách má đào


GIÓ TRẦN GIAN

Tình yêu đến với ta như đóa phù vân
Như hương gởi gió như tửu tìm sắc
Không tuổi tác không gia hạn thời gian
Sao quy luật trời đất lại tròn số?

Những mối tình giàu sang sao chóng tàn
Tiếc rằng nhan sắc đàn bà con gái
Đau em số phận, thiếu ta phúc phần
Tình ngay phận mỏng…
Làm sao tráo quẻ âm – dương?

Ta chừ như kẻ thấy hồn
Đêm trần gian ngày âm phủ
Chơi với quỷ thần ân ái tinh ma
Thức với trăng sao ngủ cùng Phật – Chúa

Em đi rồi chỉ còn trái tim xanh cỏ
Bốn mùa réo rắt ngọn gió
Ta đành làm gió ở trần gian
Để quanh năm ngự trái tim nàng.

Trời ơi! Ta đùa với ai sao âm - dương tuyệt tình
Xác thân này đau đớn kiếp nạn
Tình yêu qua lại bao bóng ma
Duyên nghiệp từ đây ới hỡi nhan sắc.


NGỰ VIÊN NGÀY XƯA

Rồi mật ngày lại trở về
Trên con đường lá vàng rơi trong gió
Dọc dòng sông vàng hoa hé mở
Nghe mùa thu lành lạnh những ngón tay…

Ngỡ ngàng đấy khu vườn ngày xưa cũ
Ta nghiễm nhiên làm chiếc lá phân vân
Trong lối có bước chân giờ lạ quá
Như cổ tích thiếu vắng một thiên thần

Ngự Viên hôm nay đã thành xóm
Còn đâu ký ức xa xăm
Trời trở gió quanh co đất gấm
Chuyến đò ngang mang nỗi nhớ thầm

Hương đã chết lạc một kẻ như không
Những nỗi buồn mang dáng hình của sóng
Ta gởi mùa thu tóc người lồng lộng
Quay nhìn về phía trăm năm…


NGUYỄN VĂN QUANG
Sinh ở Huế
Hội viên Hội Nhà văn TT Huế
Đã in: Vay mượn trần gian (thơ), 2005




READ MORE - THƠ NGUYỄN VĂN QUANG