Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, September 25, 2026

A MELODIOUS SMILE / NỤ CƯỜI DU DƯƠNG - Đồng tác giả: Musharraf Hussain (Ấn Độ) và Thi Lan Anh Tran (Đức)

 


A MELODIOUS SMILE

Co-author:

Musharraf Hussain and Thi Lan Anh Tran

Date — 21 September 2026

---

 

Stanza 1

 

Behind your large spectacles, a river’s gentle waves seem to flow,

Within your smile, the sweetness of ripe jackfruit softly glows.

With blue headphones on your ears, you seem to forget the world,

Yet how many times have you listened to the news my heart has whispered?

 

Stanza 2

 

Your pink floral dress unfolds like a garden in full bloom,

Amid the city’s restless crowds, you create your own little room.

Within the gentle curls of your hair, my quiet feelings hide,

And whenever you smile, all the sorrows of the world subside.

 

Stanza 3

 

Amid the crowd of likes and comments, our love is never cheap,

Within your tender gaze, even time grows silent, still, and deep.

Whether beside the waters of Kolkata or along Guwahati’s shore,

You are the eternal refuge of my soul, the one I cherish evermore.

 

Stanza 4

 

Your smile is captured in a frame, yet your heart is revealed,

Will you, too, open a little of your heart to mine, gently and unsealed?

Love knows no conditions, nor does it recognise the walls of distance;

When you are beside me, every sorrow of life fades into silence.

 

Stanza 5

 

This is not merely a poem—it is a promise from my heart,

May the light of our love endure when time and ages depart.

Receive my sincere affection and make it your own with tender grace,

And may this portrait of our love never fade from your heart’s embrace.

---

© 2026 — Musharraf Hussain and Thi Lan Anh Tran. All Rights Reserved.

 

 

NỤ CƯỜI DU DƯƠNG

Đồng tác giả: 

Musharraf Hussain và Thi Lan Anh Tran
Ngày 21 tháng 9 năm 2026


Khổ 1

Sau đôi kính lớn, sóng sông như khẽ gợn,
Êm đềm trôi qua những khoảng trời xanh.
Trong nụ cười em, vị ngọt của mít chín
Thoảng như hương, dịu ngát một trời tình.

 

Đôi tai nghe xanh khiến em quên thế giới,
Bỏ lại sau lưng bao náo nhiệt cuộc đời.
Nhưng em có nghe chăng, giữa nghìn thanh âm ấy,
Tin yêu từ tim anh vẫn thầm gọi tên người?

 

Khổ 2

Chiếc váy hoa hồng như khu vườn đang nở,
Mang sắc xuân về giữa phố thị đông người.
Giữa dòng đời vội vã ngược xuôi,
Em lặng lẽ dựng cho mình một khoảng trời riêng.

 

Trong những lọn tóc mềm cong như gió,
Có tình anh âm thầm nép lại, chẳng thành câu.
Và mỗi lúc em mỉm cười thật khẽ,
Nỗi buồn nhân gian cũng chợt hóa nhiệm màu.

 

Khổ 3

Giữa biển lượt thích, giữa muôn lời bình luận,
Tình chúng mình đâu phải thứ dễ đem cân.
Trong ánh mắt em, dịu dàng và sâu lắng,
Thời gian cũng thôi bước, lặng im một lần.

 

Dẫu bên dòng nước Kolkata huyền thoại,
Hay ven bờ Guwahati những sớm những chiều,
Em vẫn là bến bình yên của tâm hồn anh mãi,
Là người anh thương, trân quý đến muôn điều.

 

Khổ 4

Nụ cười em nằm yên trong khung ảnh,
Mà trái tim dường như cũng hé mở đôi phần.
Liệu em có thể mở lòng thêm một chút,
Để tình anh tìm được một chốn dừng chân?

 

Tình yêu vốn chẳng cần điều kiện,
Cũng chẳng vì xa cách mà ngại ngần.
Bởi chỉ cần em hiện diện bên anh,
Mọi ưu phiền cuộc sống sẽ lặng dần, tan biến.

 

Khổ 5

Đây chẳng chỉ là bài thơ anh viết,
Mà là lời thề gửi tận đáy con tim.
Nguyện ánh sáng tình yêu ta luôn còn mãi,
Dẫu tháng năm đi qua, dẫu thế sự nổi chìm.

 

Xin nhận lấy tình anh chân thành tha thiết,
Và dịu dàng giữ lấy ở trong tim.
Để bức chân dung tình yêu ta từng vẽ
Mãi chẳng phai mờ giữa những tháng năm im.


© 2026 — Musharraf Hussain và Thi Lan Anh Tran. Bảo lưu mọi quyền.

______________________________________

From: E- Mail: <Wirtschaftskanzlei@Dipl-Kauffrau-Tran.de>

Dipl.- Kauffrau Thi Lan Anh Tran

 

READ MORE - A MELODIOUS SMILE / NỤ CƯỜI DU DƯƠNG - Đồng tác giả: Musharraf Hussain (Ấn Độ) và Thi Lan Anh Tran (Đức)

Chân dung văn học: VŨ TRỌNG PHỤNG - VIẾT SỰ THẬT BẰNG CẢ MÁU MÌNH - Hoàng Thị Bích Hà

  



Chân dung văn học:
VŨ TRỌNG PHỤNG - VIẾT SỰ THẬT 
BẰNG CẢ MÁU MÌNH

Hoàng Thị Bích Hà

 

Lịch sử văn học Việt Nam có không ít thiên tài đoản mệnh. Nhưng hiếm ai để lại một cảm giác xót xa như Vũ Trọng Phụng - người được mệnh danh là "ông vua phóng sự đất Bắc", một trong những cây bút hiện thực xuất sắc nhất của văn học Việt Nam hiện đại. Người ta có thể viết bằng trí tuệ, bằng trái tim, nhưng Vũ Trọng Phụng dường như đã viết bằng chính máu mình. Hai mươi bảy năm ngắn ngủi của đời người đã để lại một sự nghiệp khiến gần một thế kỷ sau, văn đàn Việt Nam vẫn chưa thôi nhắc đến tên ông với sự kính trọng và tiếc nuối. Vũ Trọng Phụng là một nhà văn, nhà báo nổi tiếng của Việt Nam vào đầu thế kỷ 20.

Ông sinh ngày 20 tháng 10 năm 1912, quê ở làng Hảo thuộc làng cổ Liêu Xuyên, trước sát nhập là thôn Ông Hảo, xã Nguyễn Văn Linh, tỉnh Hưng Yên. Nhưng ông lớn lên và qua đời tại Hà Nội. Con ông Vũ Văn Lân làm thợ điện ở Ga-ra Charles Boillot, cha mất khi Vũ Trọng Phụng được 7 tháng tuổi, mẹ là bà Phạm Thị Khách ở vậy nuôi con ăn học. Học hết tiểu học tại trường Hàng Vôi, Vũ Trọng Phụng phải thôi học để đi làm kiếm sống vào khoảng năm 16 tuổi. Sau hai năm làm ở các sở tư như nhà hàng Gôđa, nhà in IDEO (Viễn Đông), ông chuyển hẳn sang làm báo, viết văn chuyên nghiệp. Tác phẩm đầu tay là truyện ngắn Chống nạng lên đường đăng trên Ngọ báo năm 1930.

Các tác phẩm: hơn 30 truyện ngắn, 9 tập tiểu thuyết, 9 tập phóng sự, 7 vở kịch, một vở kịch dịch từ tiếng Pháp, một số bài phê bình, tranh luận văn học và hàng trăm bài báo viết về chính trị, xã hội, văn hóa.

Cả đời Vũ Trọng Phụng sống trong nghèo khổ. Dù lao động cật lực, ngòi bút của ông vẫn không đủ nuôi gia đình nhỏ cùng bà nội và mẹ già. Tuy viết về nhiều tệ nạn, thói ăn chơi nhưng Vũ Trọng Phụng là một người đạo đức và sống rất kham khổ.

Những ngày cuối đời, trên giường bệnh ông nói với Vũ Bằng: "Nếu mỗi ngày tôi có một miếng bít tết để ăn thì đâu có phải chết non như thế này". Vợ ông, bà Vũ Mỹ Lương, tên thường gọi là bà Gái, là con người vợ thứ tư của cụ Cửu Tích, một nhà tư sản có cửa hàng thuốc ở phố Hàng Bạc. Sau khi cưới (ngày 23/01/1938), vợ chồng ông thuê nhà phố này.

Ông mất (ngày 13/10/1939) do bệnh lao phổi, để lại gia đình còn bà nội, mẹ đẻ, vợ và người con gái chưa đầy một tuổi tên là Vũ Mỵ Hằng.

Ông được chôn cất ở nghĩa trang Hợp Thiện, rồi dời đến nghĩa trang Quán Dền. Năm 1988, con gái Vũ Mỵ Hằng mới đưa ông về quy thổ vĩnh tại mảnh vườn của nhà mẹ vợ ông tại làng Giáp Nhất.

Ông sống vỏn vẹn hai mươi bảy năm. Hai mươi bảy năm ấy đủ để viết nên những tác phẩm bất hủ, nhưng lại không đủ để giúp ông thoát khỏi đói nghèo, bệnh tật và cái chết. Có lẽ bi kịch lớn nhất của Vũ Trọng Phụng không phải là chết trẻ, mà là một thiên tài đã phải viết trong những cơn ho ra máu và ra đi khi không đủ tiền mua thuốc chữa bệnh.

Đêm cuối cùng của một thiên tài. Theo nhiều hồi ức của bạn văn, Hà Nội bước vào mùa đông se lạnh. Những ngày cuối đời ông nằm trên chiếc chiếu mỏng trong căn nhà thuê ở phố Hàng Bạc, sức đã kiệt vì bệnh lao. Bên cạnh là người vợ trẻ lặng lẽ nhìn chồng trong bất lực. Ở góc phòng, cô con gái nhỏ đã ngủ thiếp đi vì quá mệt. Trên chiếc bàn gỗ cũ kê sát tường vẫn còn chồng bản thảo viết tay dày đặc, nhiều trang chưa kịp hoàn thành. Đó chính là tác giả của Số đỏ - cuốn tiểu thuyết châm biếm được xem là đỉnh cao của văn học hiện thực Việt Nam.

Một nghịch lý đến nhói lòng. Người đã tạo nên nhân vật Xuân Tóc Đỏ - kẻ nhờ sự láu cá và may mắn mà leo lên đỉnh cao danh vọng lại không thể kiếm nổi tiền để mua cho mình một liều thuốc kéo dài sự sống. Ông ra đi khi tuổi đời còn quá trẻ Đám tang của Vũ Trọng Phụng diễn ra lặng lẽ. Không có những vòng hoa rực rỡ, không có những điếu văn long trọng. Chỉ vài người thân, vài bạn văn và những người yêu quý ông lặng lẽ đưa tiễn. Một thiên tài của văn học hiện thực Việt Nam khép lại cuộc đời trong sự âm thầm đến xót xa. Hôm ấy, Hà Nội vẫn đông đúc như mọi ngày. Ít ai biết rằng thành phố vừa mất đi một trong những cây bút lớn nhất của mình.

Tuổi thơ nghèo đã dạy ông nhìn thấy sự thật. Cha mất khi ông chưa đầy một tuổi. Mẹ ông tần tảo bán hàng xén ngoài chợ để nuôi con khôn lớn. Thuở nhỏ, ông học rất giỏi. Nhưng hết bậc tiểu học, việc học phải dừng lại vì gia đình không còn khả năng đóng học phí. Tuổi thơ thiếu thốn ấy đã khiến cậu bé Vũ Trọng Phụng sớm hiểu rằng: phía sau những phố phường hào nhoáng của Hà Nội thuộc địa là biết bao phận người cơ cực. Một Hà Nội tồn tại hai thế giới: Một bên là phố Tây với nhà đá, quán cà phê, rạp chiếu bóng, những cuộc vui của tầng lớp thượng lưu. Một bên là những con ngõ tối, trẻ bán báo, người kéo xe, người làm thuê chen chúc trong nghèo đói. Chính khoảng cách ấy đã nuôi lớn trong ông khát vọng phải viết ra sự thật. Những năm tháng bươn chải kiếm sống đã đưa ông bước gần hơn với nghề báo và cũng là lúc thiên chức nhà văn được đánh thức. Từ lúc mười sáu tuổi, ông làm nhân viên đánh máy tại hãng Thông tấn Viễn Đông. Mỗi ngày gõ lại những bản tin về giới quan lại, thương gia và tầng lớp giàu có, ông càng nhận ra khoảng cách rất lớn giữa những gì được tô vẽ trên mặt báo và đời sống thật của xã hội. Có lẽ từ đó, nhà văn trong ông đã được hình thành.

Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan từng đánh giá Vũ Trọng Phụng là một nhà văn có sức quan sát hiếm thấy. Ông cho rằng ngòi bút của Vũ Trọng Phụng "sắc như dao mổ", đi thẳng vào những ung nhọt của xã hội thuộc địa mà không né tránh, không tô son điểm phấn. Chính sự trung thực đến quyết liệt ấy khiến tác phẩm của ông vừa gây tranh cãi dữ dội lúc sinh thời, vừa có sức sống bền bỉ cho đến hôm nay.

Vũ Trọng Phụng bước vào văn chương và ông chọn con đường chông gai nhất.

Những năm ba mươi của thế kỷ XX, văn học Việt Nam rất sôi động. Nhiều nhà văn viết về tình yêu lãng mạn, cái tôi cá nhân hay những thân phận nghèo bằng giọng văn nhẹ nhàng, giàu thương cảm. Riêng Vũ Trọng Phụng lại chọn một con đường khác. Ông không vuốt ve hiện thực. Ông mổ xẻ nó, không nhân nhượng, không né tránh, không tô hồng sự thật. Ngòi bút của ông cứ thế giống như lưỡi dao phẫu thuật, bóc từng lớp giả dối của xã hội thuộc địa nửa Tây nửa ta.

Năm 1936, lúc hai mươi bốn tuổi, ông cho ra đời Số đỏ. Xuân Tóc Đỏ từ một đứa trẻ bụi đời, nhặt bóng quần vợt, bằng tài "diễn", bằng sự cơ hội và nhờ những nghịch lý xã hội, bỗng trở thành người hùng, chuyên gia thể thao, nhà cải cách...

Điều Vũ Trọng Phụng châm biếm không phải chỉ là một cá nhân. Ông phơi bày cả một xã hội, nơi năng lực nhiều khi không quan trọng bằng khả năng đóng vai, nơi đạo đức bị thay thế bằng danh tiếng và sự hào nhoáng. Xuân Tóc Đỏ chỉ là cái cớ. Đằng sau nhân vật ấy, Vũ Trọng Phụng đã dựng lên cả một sân khấu xã hội, nơi danh vọng được mua bằng sự lố bịch, nơi cái giả nhiều khi được tung hô hơn cái thật...các nhân vật như ông Văn Minh luôn rao giảng "Âu hóa" để kiếm tiền; bà Phó Đoan khoác lên mình chiếc áo "tân thời" đầy giả tạo; cụ Cố Hồng chỉ mong có người chết để được làm một đám tang thật lớn.

Gần một thế kỷ đã trôi qua, nhưng đọc Số đỏ hôm nay, người ta vẫn giật mình vì nhiều điều dường như chưa hề cũ. Nhiều nhân vật trong Số đỏ vẫn khiến người đọc bật cười rồi chợt lặng đi. Bởi đằng sau tiếng cười ấy là một sự thật đau xót: ở bất cứ thời đại nào cũng có những "Xuân Tóc Đỏ" biết lợi dụng sự phù phiếm của xã hội để bước lên đỉnh cao mà không cần tài năng hay nhân cách. Đó chính là giá trị tiên tri của một kiệt tác.

Vũ Trọng Phụng không chỉ viết tiểu thuyết Số đỏ mà còn là nhà báo viết phóng sự điều tra rất dũng cảm qua các tác phẩm: "Kỹ nghệ lấy Tây" và "Cạm bẫy người"

Nhà văn thiên tài ấy viết đến hơi thở cuối cùng trong cảnh nghèo túng và bệnh tật. Ít ai biết rằng khi Số đỏ ra đời, Vũ Trọng Phụng đã bắt đầu mắc bệnh lao phổi. Ông thường xuyên ho ra máu. Nhiều ngày phải nhịn ăn để dành tiền mua thuốc.

Thế nhưng, ông vẫn viết. Viết không ngừng nghỉ. Chỉ trong khoảng bảy năm cầm bút, ông đã để lại một khối lượng tác phẩm khiến nhiều người kinh ngạc. Các tiểu thuyết như Dông tố, Số đỏ, Vỡ đê, Làm đĩ, Lấy nhau vì tình, Trúng số độc đắc..., cùng hàng loạt thiên phóng sự nổi tiếng như Cạm bẫy người, Kỹ nghệ lấy Tây, Cơm thầy cơm cô,..

Đó là một sức lao động gần như phi thường. Nhưng cũng chính vì phải viết để kiếm sống, sức khỏe của ông ngày một suy kiệt. Cuộc đời ông rơi vào một vòng luẩn quẩn nghiệt ngã: Viết nhiều để có tiền. Có tiền để sống và để mua thuốc. Nhưng viết quá sức nên bệnh nặng hơn. Bệnh nặng càng cần tiền mua thuốc nên phải viết nhiều hơn. Có những mùa đông, ông mặc chiếc áo mỏng, ho ra máu vào khăn tay rồi lặng lẽ gấp lại, tiếp tục ngồi vào bàn viết cho kịp hạn giao bài. Ông đang viết để nuôi gia đình. Và cũng đang viết để níu giữ chính sự sống của mình.

Càng viết trung thực, ông càng bị công kích. Bởi sự thật chưa bao giờ dễ được chấp nhận. Tác phẩm của Vũ Trọng Phụng từng bị lên án là "dâm thư", "dâm uế", bị kiểm duyệt và bị nhiều người chỉ trích dữ dội. Nhưng ông chưa bao giờ lùi bước.

Năm 1937, đáp lại những lời công kích, ông viết một câu đã trở thành tuyên ngôn nghệ thuật bất hủ:

"Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết. Tôi và các nhà văn cùng chí hướng như tôi muốn tiểu thuyết là sự thật ở đời."

Đó không chỉ là lời đáp trả dành cho những người phê phán ông. Đó còn là lời tuyên ngôn của một nhà văn suốt đời trung thành với sự thật.

Hành trình tiếp nhận tác phẩm của Vũ Trọng Phụng cũng có nhiều thăng trầm. Sau năm 1945, từng có thời gian ông bị nhìn nhận phiến diện, rồi giá trị được phục hồi.

Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh từng nhận xét rằng Vũ Trọng Phụng là "một trong những đỉnh cao nhất của chủ nghĩa hiện thực phê phán Việt Nam". Theo ông, đọc Vũ Trọng Phụng không chỉ để cười mà còn để hiểu vì sao một xã hội có thể sản sinh ra những bi kịch và những nghịch lý đến như vậy. Chính vì thế, tác phẩm của ông càng lùi xa về thời gian càng chứng tỏ giá trị lâu bền.

Nguyễn Tuân từng nhiều lần bày tỏ sự khâm phục đối với tài năng của Vũ Trọng Phụng. Ông xem người bạn văn bạc mệnh ấy là một hiện tượng đặc biệt của văn học Việt Nam, một cây bút có sức quan sát xã hội sắc bén hiếm có. Với Nguyễn Tuân: Vũ Trọng Phụng không chỉ là một nhà văn lớn mà còn là người đã dám nhìn thẳng vào sự thật trong một thời đại mà sự thật nhiều khi không được chào đón.

Cái chết của một nhà văn và sự bất tử của một ngòi bút.

Khi Vũ Trọng Phụng qua đời, tin buồn ấy chỉ xuất hiện bằng vài dòng ngắn ngủi trên báo. Gia tài ông để lại thật ít ỏi, không nhà cửa, không tiền bạc. Chỉ có người vợ chưa đầy ba mươi tuổi, cô con gái thơ dại, những món nợ còn dang dở và hàng chồng bản thảo. Nhưng thời gian đã trả lại cho ông sự công bằng.

Nhiều thập niên sau, Số đỏ được thừa nhận là một kiệt tác của văn học Việt Nam, được dịch ra nhiều thứ tiếng, đưa vào chương trình học và nghiên cứu ở nhiều trường đại học. Tên Vũ Trọng Phụng (1912 -1939) được đặt cho đường phố, trường học; còn "Xuân Tóc Đỏ" đã trở thành một danh từ riêng để chỉ những kẻ cơ hội, bất tài nhưng gặp thời. Sự vinh danh ấy là xứng đáng. Nhưng cũng khiến người ta day dứt. Phải chăng xã hội thường rất hào phóng với những thiên tài sau khi họ đã mất, còn khi họ còn sống thì lại quá ít người đủ bao dung để giúp họ tồn tại?

Ai cũng biết nhà văn viết bằng tài năng và tâm huyết. Nhưng Vũ Trọng Phụng còn đặc biệt hơn là ông đã viết đến hơi thở cuối cùng cho sự thật, trong những cơn ho của bệnh tật nghèo đói và bằng chính sinh mệnh ngắn ngủi của mình.

Vũ Trọng Phụng đã ra đi ở tuổi hai mươi bảy. Nhưng ông chưa bao giờ chết. Bởi mỗi lần xã hội còn có sự giả dối, cơ hội, háo danh và những chiếc mặt nạ được khoác lên bằng quyền lực hay tiền bạc, thì tiếng cười châm biếm của ông vẫn còn vang lên từ những trang sách. Mỗi trang sách của ông đều thấm mồ hôi của lao động, thấm máu của bệnh tật và thấm nỗi đau của một nhà văn dám trả giá cho sự thật.

Gần một thế kỷ sau ngày ông khép lại cuộc đời, người đọc vẫn lặng lẽ cúi đầu trước một ngòi bút đã dám sống đến tận cùng với sự thật. Đó là lý do Vũ Trọng Phụng không chỉ thuộc về lịch sử văn học, mà còn thuộc về lương tri của mọi thời đại.

Sài Gòn ngày 05/8/2026

Hoàng Thị Bích Hà

*Tiểu sử tham khảo: nguồn Wikipedia, các thông tin khác liên quan đến cuộc đời, giai thoại tổng hợp từ nhiều nguồn.

 

READ MORE - Chân dung văn học: VŨ TRỌNG PHỤNG - VIẾT SỰ THẬT BẰNG CẢ MÁU MÌNH - Hoàng Thị Bích Hà

TƯỞNG NHỚ BẠN XƯA: NHỚ ANH TRẦN VĂN LỮ - Đỗ Tư Nhơn



TƯỞNG NHỚ BẠN XƯA:

 NHỚ ANH TRẦN VĂN LỮ 

ĐỖ TƯ NHƠN

 

Mỗi khi tưởng nhớ những người bạn trân quý một thời dưới mái trường trung học Nguyễn Hoàng Quảng Trị đã sớm lìa cõi tạm về chốn vĩnh hằng, lòng tôi không tránh khỏi bồi hồi xúc động. Điều đó khiến tôi tìm lại trong ký ức từng khuôn mặt,dáng hình, mượng tượng từng cử chỉ, nụ cười…nhằm phác thảo bức chân dung tinh thần của bằng hữu.Tôi đã thắp nén tâm hương mỗi độ xuân về để thương tiếc các anh Phan Phụng Thạch, Trần Thương Bá, Đặng Sĩ Tịnh, Trần Đình Bé trong từng giai phẩm Hương Quê Nhà (SG) đặc san Nguyễn Hoàng (Huế) . 

Giờ đây, cùng với những trang Di cảo của anh Trần Văn Lữ, do người em trai là Trần Thiện Tài công bố, tôi xin gợi lại đôi nét về anh.

Trần Văn Lữ (tức Thạch) sinh năm 1942, xuất thân trong một gia đình nhà giáo, quê nội ở làng Quảng Lượng, Triệu Phong, Quảng Trị.Thân mẫu của anh thuộc dòng tộc lớn của làng Thạch Hãn. Khu vườn nhà anh rộng rãi với cây trái sum suê nằm cạnh con đường thẳng tắp, hai bên là những bức tường gạch dài, chiếc cổng bằng gỗ thường khép kín của một đại điền chủ giàu có. Con đường này rất đẹp, ban đêm mùi hoa dạ lan hương từ các sân vườn tỏa ra thơm ngát, phảng phất trên mái tóc những cô gái, chàng trai từng bước chân chầm chậm thầm thì câu chuyện trăng sao. Những anh em họ Đoàn có truyền thống học giỏi, mấy chị em họ Trần hiền thục duyên dáng đáng yêu cùng từ con đường này đến trường Nguyễn Hoàng. Gần đây, con đường này được mang tên của ngôi làng xưa, có biển đề Thạch Hãn, một chứng tích lưu giữ hồn quê giữa phố thị. Hồi đó, tôi học sau anh Trần Văn Lữ hai lớp nên chưa quen anh, chỉ biết cô em gái Dạ Hương ngày ngày đi học cùng các bạn. Anh theo học ở Viện Hán học - Huế khóa 1960-1965, đồng thời với Lý Văn Nghiên, Hoàng Đằng, Trần Văn Dật. Lúc mới ra trường, anh dạy ở trung học Quảng Phước, Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên. Năm 1969, thuyên chuyển về Nguyễn Hoàng. 

Năm 1970, tôi về dạy cùng trường, kết bạn với anh và Phan Phụng Thạch.Tính anh rất hiền lành và khiêm tốn, trên môi thường nở nụ cười, bạn bè và học sinh rất thương mến. Hằng ngày anh đi qua con đường trước ngõ nhà tôi để đến trường. Chúng tôi trao đổi cho nhau những sáng tác, các tài liệu văn học, tham gia Đặc san Xuân 1971, Hội mùa xuân 1972. Ngoài ra, với bút danh Trần Lãng Tử, anh đã góp mặt trên tạp chí Chim Việt do anh Hồ Thế Vĩnh chủ biên. Còn nhớ những ngày chuẩn bị giai phẩm HỘI MÙA XUÂN (HMX), chúng tôi đã chia nhau đọc bài của học sinh gửi đến thật phong phú, đa dạng. Các thầy cô Phạm Sữu, Phan Phụng Thạch, Trần Văn Lữ, Văn Chương, Trần Kiêm Đoàn, Võ Thị Hồng, Nguyễn Thiện…đã viết bài và giúp trưởng ban biên tập rất nhiều để chọn lựa những tinh hoa đưa vào vườn thơ văn HMX, đó là những ngòi bút tài năng đầy triễn vọng như Nguyễn Tùng, Thái Đào, Võ Thị Quỳnh, Nguyễn Đặng Mừng,Võ Văn Hoa, Đỗ Huy Sanh, Hoàng Văn Chẫm…, mà đến nay, ít nhiều đã khẳng định được vóc dáng của mình qua tác phẩm. Bên cạnh các đồng nghiệp, anh Trần Văn Lữ gởi đăng bài “Mùa xuân, hoa đào và ông đồ già trong thơ Vũ Đình Liên". Hãy lần giở giai phẩm H M X của 52 năm trước để nghe thầy giáo văn chương bình thơ thật tâm huyết :

‘’Nho học dần dần được thay thế bằng Tây học…Người ta quên “ông đồ”, trời đất dường như ngậm ngùi cho nhân thế. Vũ Đình Liên lại bày tỏ niềm thương cảm đầy bâng khuâng,lưu luyến ,băn khoăn về “cái di tích tiều tụy đáng thương một thời tàn” (Hoài Thanh- Thi nhân VN ).

"Năm nay hoa đào nở

Không thấy ông đồ xưa

Những người muôn năm cũ

Hồn ở đâu bây giờ? ‘’

Từ "Ông đồ già” của Vũ Đình Liên, anh Trần Văn Lữ đã liên tưởng tới những người đồng nghiệp trong sự cảm thông sâu sắc và ngậm ngùi xót xa: “Ngày nay, trong những năm dài chinh chiến, nhiều vị giáo viên, giáo sư đã âm thầm nằm xuống sau những năm tháng đem hết sức, tâm huyết giảng huấn, truyền đạt, hy sinh. Có người chết ngay cả khi đang làm “sứ mệnh” giảng dạy. Họ chết đi, không hiểu linh hồn họ có được thảnh thơi siêu thoát hay còn dật dờ đây đó buồn thương, chán ngán cho thế sự nhân tâm, "Hồn ở đâu bây giờ".  Họ đã chết đi để cho những mầm non do họ chăm sóc, lo lắng,uốn nắn từng ngày,từng giờ sẽ sống vươn cao nơi xứ mình, xứ người."

Cuối cùng là điều băn khoăn day dứt từ tâm khảm của thầy Trần Văn Lữ vô cùng chân thành thiết tha,nói hộ cho đồng nghiệp muôn đời.

"Có còn ai nghĩ tưởng về những vị ân sư trẻ trung hay già nữa không đây?!"

Tấm lòng đối với thầy cô NH năm xưa đã được các cựu học sinh thể hiện trong cuộc sống,trên trang viết tri ân thắm đậm tình nghĩa thầy trò của báo Nguyễn Hoàng khắp nơi.Xin quý thầy cô, anh chị yên lòng về truyền thống nhân văn cao đẹp ấy của đại gia đình mang tên Chúa Tiên.

Năm 1972, sau hội mùa xuân rộn ràng diễn ra trên sân trường Nguyễn Hoàng, lửa đạn chiến tranh đã ập vào Quảng Trị, người dân bỏ quê vượt đèo Hải Vân tỵ nạn, thầy trò bỏ lại ngôi trường thân yêu. Lúc này, hai địa điểm tạm thời để học sinh tiếp tục trau dồi kiến thức là trại tạm cư Hòa Khánh và Non Nước, thuộc Đà Nẵng. Làm sao diễn tả hết nỗi lòng của con người Quảng Trị khi nhìn về quê nhà xa xôi đang bị bom đạn cày xới. Không thể vô tư, nhà thơ Trần Lãng Tử, ngày đêm bồn chồn tiếc nhớ từng con đường, hàng cây, giáo đường, ngôi chùa, quán ca fe, góc chợ, hiệu sách, dòng sông, bến nước, cây cầu … Trong Di cảo của anh Trần Văn Lữ có hai bài viết dạng tùy bút-hồi ký, bây giờ chúng ta đọc lại, vẫn không tránh được niềm xúc động dâng lên trong lòng! Trước tiên, hãy cùng thưởng thức bài tản văn có nhan đề "Thương về Quảng Trị" được viết vào tháng 7-1972, sau ba tháng lìa xa quê nhà. Này đây hãy lắng nghe dòng cảm xúc tuôn trào trong từng câu chữ, để cùng ôn lại những hình ảnh, nơi chốn, kỷ niệm một thời dấu yêu:

"Thế là tôi xa xứ Quảng thân yêu ba tháng trời. Quảng Trị giờ đây mờ mịt lửa đạn. Đêm đêm nhìn về hướng Bắc xa xôi , tôi nghe nhiều nhớ thương dâng tràn.‘’…

‘’ Con đường Quang Trung thẳng tắp trong tháng ngày qua, mưa về sũng nước nhưng sao láng lẫy thế! Còn đâu những ngày đi ngang qua giáo đường Thạch Hãn, nhìn hàng cây bàng khoác áo màu xanh đầy hy vọng vươn cao….Nào đâu những chiều ngồi trong quán Văn, quán Quyên, quán Gió… thả hồn trong khói thuốc. Bún tai mụ Dư trong đình chợ, bún cô Ba, bún Nông Tín ngon thật là ngon khi chiều chiều ghé lại… Tìm đâu những lúc đứng ở quán sách Tùng Sơn, Lương Giang…

"Con đường, quán chợ, dòng sông, bến nước, chiếc cầu, cái gì cũng quá quý, cầu cho nó được còn mãi. Quảng Trị nho nhỏ như một chiếc áo ấm, nhưng nó che chở ta tháng ngày qua trong giá lạnh.

"Con sông Thạch Hãn nước vơi đầy, rồi lần mùa mưa lũ đến, nước đục ngầu lềnh bềnh củi rều… Khi mùa hạ về, nó trải lòng cho người ta chiêm ngưỡng. Lòng dân người Quảng Trị cũng chân chất như dòng sông Thạch Hãn trong mùa nước cạn.

"Nhà thờ La Vang, chùa Sư Nữ, hết rồi những ngày đại hội, rằm mồng một. Chắc giờ đây chỉ là đống gạch vụn vì chinh chiến.‘’

Đó là một bài tùy bút có giọng văn ngọt ngào, thấm đẫm tình yêu quê nhà, dẫn chúng ta về với thị xã Quảng Trị xưa thân thuộc đang quằn quại đau xót giữa bom đạn mịt mù! Ước mong được trở về Quảng Trị luôn cháy bỏng trong tâm hồn mọi người con của Non Mai, Sông Hãn, trở thành điệp khúc nguyện cầu thiêng liêng tha thiết trong từng câu văn ngân vang trong không gian,trong tâm hồn mọi người:

"Mong sao được trở về Quảng Trị sớm để nhìn lại thành phố thân yêu, mảnh vườn xanh lá cây, nương chè, lũy tre, ruộng lúa, chiếc cầu ao loáng nước, mồ mả cha ông.

Bà con xóm giềng còn bị kẹt, con chó quấn quit bên nhà không hiểu ra sao?...

Quảng Trị ơi, ta chờ mong ngày trở về…Ta sẽ trở về cúi hôn mặt đất xứ Quảng của ta.Từng kỷ niệm sống động trong ta khắc khoải từng ngày từng giờ nếu còn xa Quảng Trị. Nguyễn Hoàng, Bồ Đề, Thánh Tâm, Phước Môn… hay chờ dân Quảng Trị về xây dựng lại.

Quảng Trị ơi, muôn người đang rưng rưng lệ nhớ thương về người.‘’

Bên cạnh con người nặng tình với quê hương, còn có một con người luôn gắn bó thân thiết với bạn bè. Cho nên, khi cùng vào ở trại tạm cư Đà Nẵng, anh Phan Phụng Thạch đã viết  "Bài Thơ Làm Khi Say Rượu"  đề tặng nhóm bạn chí thân, anh chọn hình ảnh anh Trần Văn Lữ để khắc họa đầu tiên vì đã hiểu rõ nhau, chia sẻ cùng nhau những buồn vui trong phận người:

"Buổi tối tiêu sầu-chai rượu đắng/Tri âm !Này hãy uống cho say

‘’Lỡ mai có chết- không ân hận,/ Vì đã ngồi chung một chiếu này!

"Thằng bạn chưa già nhưng tóc bạc/ Bụng đầy Kinh Lễ với Kinh Thư

"Chuyện đời hư ảo xin mày gác/ Không lẽ mày là Ngũ Tử Tư?"

Mấy câu thơ trên đã giới thiệu khá rõ nét về người bạn với lối so sánh có chút đùa tếu khi nhắc đến “bụng đầy Kinh Lễ với Kinh Thư”. “Không lẽ mày là Ngũ Tử Tư?” Bởi anh Trần Văn Lữ xuất thân từ Viện Hán học, kiến thức về Nho giáo, sách sử xưa phong phú.Thêm vào đó là giống nhân vật Ngũ Tử Tư: “Một đêm suy nghĩ tóc bạc trắng!’’

Đây là nhóm bạn tham gia Hội Hồng Thập Tự, làm công tác xã hội từ thiện giúp nhân dân các vùng bị thiên tai, bom đạn, cho nên như anh em ruột thịt một nhà. Trong những ngày sống trong trại tạm cư Đà Nẵng, căn bệnh ác tính của anh Phan Phụng Thạch đến hồi trầm trọng, bạn bè cùng gia đình thay nhau săn sóc cho đến khi anh từ trần.Trong đó, anh Trần Văn Lữ, Lê Lợi là bằng hữu luôn ở bên cạnh nhà thơ họ Phan, cho nên anh đã ghi lại những giây phút cuối cùng của Gs Phan Phụng Thạch và đọc tại Lễ tưởng niệm một năm nhà thơ Phan Phụng Thạch về cõi thiên thu, gồm gia đình, nhà trường, thân hữu, đại diện học sinh. (Tôi được phân công giới thiệu thơ PPT).Trên tờ giấy A.4 gấp hai, viết trọn bốn mặt, anh Phan Ngọc Bích (em trai PPT) trao cho tôi là bút tích của anh Trần Văn Lữ kể lại từng chi tiết cuối cùng ở Bệnh viện Việt Đức của người bạn họ Phan, có đoạn như sau :

"Rạng ngày thứ bảy 24-2-1973, độ 4-5 giờ sáng, chúng tôi tự nhiên thấy bồn chồn xao xuyến.Từ trại Hòa Long, chúng tôi đi bộ lên trại 5 để rủ Lợi qua anh. Cũng vừa khi đó, một thân nhân của anh sang tin cho hay là anh đang hấp hối. Chúng tôi qua đến nơi thì anh đã yếu lắm.Thở đã cách khoảng. Đôi mắt đã trăng trắng và kéo sụp mi nhiều. Đêm qua anh đã chuyện trò cùng thân mẫu anh, không nói ra được nên anh đã lấy sổ ra để bút đàm cùng bà. Nghẹn ngào đau đớn, anh trút hơi thở cuối cùng lúc 7 giờ 25. Tiếng khóc của thân mẫu anh làm chúng tôi se thắt. Bào đệ của anh, Lợi và tôi cũng không cầm được sự xúc cảm tột cùng. Sau đó trên chiếc xe HTT của bệnh viện Đức, thân mấu anh và tôi đưa thi hài anh về trại 5. Ngồi trên xe giữ chiếc băng ca, tự nhiên nước mắt tuôn trào…’’

Trong lễ truy điệu nhà thơ Phan Phụng Thạch, cùng với bạn bè viết điếu văn, khóc bạn, anh Trần Văn Lữ nghẹn ngào đọc bài thơ Tiếc Thương: 

“Đại dương, sóng vỗ xôn xao/ Thạch ơi mầy chết biết bao đau buồn

Mây trời vẫn cứ bay luôn/ Bóng mầy đâu nữa những hôm chuyện trò

Nhạc còn huệ vẫn thơm tho/ Trà đây rượu đó nào giờ cụng ly…

Lá bay bay mãi im lìm / Mầy đi, đi biệt như chim tách đàn.

Hết rồi giây phút liên hoan / Yêu đời nghe hát dư vang đêm nào."

Bài thơ thể 6/8 dung dị, ngôn ngữ xưng hô thân mật, không khách sáo, hình ảnh gần gũi đã thể hiện tình bạn chân thành, sự tiếc thương vô hạn, nỗi mất mát lớn lao!

Để hiểu thêm tấm lòng của anh đối với bạn, chúng ta đọc hồi ký của anh Hoàng Đằng đăng trong Đặc san 60 NĂM NGUYỄN HOÀNG (- 2012): “Trần Văn Lữ rất quan tâm đến bằng hữu. Năm 1974, biết tin tôi sẽ đi vào Sở Học chánh Bình Tuy,Trần Văn Lữ đã sốt sắng tìm tôi, trao lá thư giới thiệu với anh Nguyễn Như Lộc, nguyên Hiệu trưởng trường Quảng Phước mới vào nhận chức Chánh sự vụ sở này. Trần Văn Lữ hy vọng nơi đất khách quê người, tôi sẽ có người che chở. Sau đó ít lâu, Trần Văn Lữ qua đời. Đến bây giờ, mỗi lần nghe nhắc đến tên Trần Văn Lữ, tim tôi lại rung động, mắt tôi lại rươm rướm!“

Nhìn lại bức chân dung tinh thần của anh hiện lên qua lời kể, cùng trang văn, câu thơ còn lại, chúng ta đều hiểu được tâm hồn anh giàu tình nghĩa, đa cảm, thật đáng trân trọng, mến yêu!

. Nhưng chắc không ít bằng hữu và học sinh cũ cảm thấy thiếu sót nếu bài viết này không nói đến một góc nhỏ của tình yêu trong thơ Trần Lãng Tử. Qua mấy lần giới thiệu thơ Trần Thương Bá, Phan Phụng Thạch, Triệu Phong, Đặng Sĩ Tịnh, chúng tôi đã cùng xao xuyến với nhiều cung bậc, giai âm của ái tình. Nhưng lần nầy lại khác. Có chút ái ngại khi nói về niềm đau, nỗi buồn, xót xa trong tận cùng của tâm hồn người bạn khả kính, cam chịu trong éo le của tình duyên. Tuy khá thân tình nhưng tôi cũng tránh né, không hỏi han chuyện riêng tư tế nhị của bạn. Hôm nay, đọc những bài thơ của anh - Trần Lãng Tử trên Chân Dung Và Kỷ Niệm, chúng ta sẽ mở cánh cửa lâu nay khép chặt đó để cảm thông và chia sẻ những nỗi niềm sâu kín cùng anh. Đây là những bài thơ có lẽ được sáng tác sau khi Chúa Trời đã xua đuổi anh ra khỏi căn vườn mang tên Hạnh Phúc vào năm 1969. Những câu hát đâu đây còn vọng lại: "Em đang tâm xé nát tim tôi…’’ như lời trong Niệm Khúc Cuối của Ngô Thụy Miên. Anh sáng tác bài LỜI NÀY CHO EM‘ trong thời gian bi kịch tình yêu đang gây bão tố quay cuồng. Hai khổ thơ hiện ra sự đối lập giữa hạnh phúc êm ấm với tan vỡ chia xa, nhưng giọng điệu dường như vẫn du dương vì tác giả dùng nhiều từ có thanh bằng. Bốn câu đầu là kỷ niệm đẹp, tháng ngày tay trong tay, tình nồng lên khơi:

‘’Qua bao tháng ngày / Trong đôi vai gầy /Tình ơi lên khơi/Trong đôi tay này.

Lại diễn ra sự khác biệt, mâu thuẫn giữa thiên nhiên bên ngoài với nội tâm nhà thơ, nắng ấm không sưởi được cõi lòng giá lạnh cô đơn vì đột nhiên bị xa cách ngàn trùng:

‘’Nắng lên khắp trời/Nắng lên chơi vơi/Nhưng tôi vẫn gào:Tôi xa em rồi.Tiếp theo tiếng gào thảng thốt đó là trạng thái tâm lý điên dại vì đau khổ trước nghịch cảnh phũ phàng, tan nát bao thề nguyền.

Câu thơ cuồng nộ như không thể chịu đựng được nữa: ‘’Xé nát mặt trời/Xé cả mặt trăng/Xé luôn thân nàng/ Lòng không ăn năn"

Giờ đây, nhà thơ họ Trần đã về cõi vĩnh hằng nhưng còn gởi lại những câu thơ ám ảnh day dứt về nỗi cô đơn trống trải trên dương thế để tìm sự đồng cảm và sẻ chia:

‘’Chết rồi thịt nát xương tan /Hồn bơ vơ nữa ai hàn huyên đây ? ‘ ‘

Sống mãi trong lẻ loi, nhà thơ Lãng Tử đã tìm đến cõi mộng như một liệu pháp, một cách hóa giải nỗi đau buồn nhức nhối không nguôi của những người bị tình phụ. Trong bài MỘNG gồm có 6 đoản khúc, như từng trang nhật ký để mình đối thoại với mình, thầm thì an ủi chính bản thân…

"Nhớ nhung mộng mới trở về/ Tỉnh ra mộng biến não nề tấm thân!

"Nhớ em dẫn mộng vào đêm/ Cuộc đời qua mãi như rèm chiêm bao.’’

‘’Ngủ say mộng lén vào hồn/Niềm vui phủ mắt, Dậy buồn tâm tư’’

‘’Trở mình- đêm lạnh- mộng nhiều/ Ước mơ- xa cách-bao điều em ơi

‘’Người đây hồn lạc về đâu/ Gieo bao nhung nhớ u sầu mộng tan.’’

‘’Nghĩ đời kể cũng nực cười/ Đêm đêm là mộng, ngày rời mộng thôi!

Đến đây, chúng ta liên tưởng đến câu chuyện tình giữa Hàn Mặc Tử và người đẹp Mộng Cầm, với bao lần hẹn hò, say đắm,gắn bó thiết tha thế nhưng kết cục thật buồn. Khi biết nhà thơ họ Hàn bị bệnh nan y, nàng đành đoạn tình, bước lên xe hoa để cho họ Hàn đau khổ khôn nguôi, có lúc tự nhủ: ‘’Làm sao giết được người trong mộng, để trả thù duyên kiếp phụ phàng!" Nhưng khi lòng lắng xuống,hồn thơ trở nên dịu dàng chịu đựng ông viết bài Những Giọt Lệ :

‘’Họ đã xa rồi khôn níu lại /Tình thương chưa đã mến chưa bưa

Người đi một nửa hồn tôi mất /  Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ!

Và: 

Dẫu đau đớn vì điều phụ rẫy/ Nhưng mà ta không lấy làm điều

(Muôn năm sầu thảm)

Bản tính anh Trần Văn Lữ vốn hiền lành, thương người, cam chịu, cho nên tuy những cơn đau trong lòng có khi khiến anh muốn gào thét xé nát cả vũ trụ, nhưng cũng như Hàn thi sĩ, anh tìm được sự cân bằng nhờ thi ca và cuộc sống. Anh góp phần vào sự nghiệp khai nguồn trí tuệ cho thế hệ trẻ, vỗ về an ủi người dân bị thiên tai, bom đạn qua hoạt động từ thiện cùng bạn bè.Năm 1973 anh khóc thương tiễn nhà thơ Phan Phụng Thạch về nơi an nghỉ cuối cùng trên đồi cát trắng Non Nước, thì năm sau gia[1]đình, đồng nghiệp và học trò lại đưa anh đến chỗ nằm bên cạnh bạn thân bao ngày gắn bó. Một thời gian sau, hài cốt của hai anh về với làng quê của mình bên tổ tiên. Trong dịp cùng thầy Nguyễn Văn Thị về Bồ Bản thăm mộ thầy Lê Đình Ngân, chúng tôi đã ghé Quảng Lượng thắp hương cho anh trong khu nghĩa trang của gia đình. Hiện nay, anh Trần Thiện Tài cho biết gần đây đã cải táng toàn bộ các phần mộ nội thân về Nha Trang.Tôi thầm hứa sẽ vào viếng anh trong một ngày thuận tiện không xa. Mong anh tha thứ cho tôi vì đã chạm vào vết thương của những ngày tháng dương gian xa xưa ấy!

Viết tại làng Thạch Hãn cuối xuân Giáp Ngọ. 2014

Thắp nén tâm hương tưởng nhớ anh Trần Văn Lữ 50 năm xa đời.

ĐỖ TƯ NHƠN

.


READ MORE - TƯỞNG NHỚ BẠN XƯA: NHỚ ANH TRẦN VĂN LỮ - Đỗ Tư Nhơn

TÌM VỀ - Thơ: Đặng Xuân Xuyến

 


TÌM VỀ

.

Gã ngược miền ký ức 

Tìm về tuổi đôi mươi 

Tim rộn ràng náo nức 

Gọi đò ơi... ơi... ời.. 

.

Nghe như tiếng ai cười 

Khuấy sông xưa ngơ ngác 

Gã trai làng lưu lạc 

Nén thở dài rất sâu. 

.

Ừ, đời là nương dâu 

Ừ, đời là bể khổ 

Đã vấp nhiều bão tố 

Nụ cười còn trinh nguyên.

.

Nhớ. Nhớ bao là chuyện

Thuở tắm sông, thả diều

Ngợp bến xưa vàng nắng

Nhịp hò reo rộn chiều.

.

Kìa như ai đang tới

Tiếng cười vang góc trời

Gã hòa vào mây trắng

Thả hồn cùng chơi vơi.

*.

Làng Đá, sáng 18 tháng 9/2026

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

 

READ MORE - TÌM VỀ - Thơ: Đặng Xuân Xuyến

CHÙM THƠ NGUYỄN ĐƯC TÙNG: Mẹ / Mặt trời nguội đi / Hãy để chim chóc làm đầy bầu trời

Tác giả Nguyễn Đức Tùng


Mẹ

Mẹ đã tám mươi
Người nhỏ lại
Hét lớn bên tai
Mẹ chỉ nghe rì rào gió thổi

Phá vỡ im lặng
Mẹ thu mình lên cây nhãn
Giữa những cái trứng
Của chim họa mi

Khi mẹ đi xa rồi
Mọi người trong nhà vẫn còn lớn tiếng


Mặt trời nguội đi

Mặt trời nguội đi
Trái đất giá lạnh
Loài người văn minh dời đến một nơi xa

Một hành tinh bên kia các thiên hà
Nơi ánh sáng mất hai triệu năm để tới
Các nhà khoa học thế giới
Tìm cách đi xuyên qua lỗ sâu
Như cách các con sâu xuyên qua một trái táo
Táo bạo vượt qua
Giới hạn của tốc độ ánh sáng
Đưa nhân loại đến vùng đất mới
Có không khí và nước

Họ mang đi trước các thiên tài
Các giống lúa
Và các nghệ sĩ ưu tú
Họ mang theo những đứa trẻ ngậm vú mẹ
Những đứa trẻ thông minh
Và cả những đứa chậm chạp
Họ mang đi hết những người già, những người tàn tật
Các nhà tu hành, và các nhà cách mạng
Nhưng họ đành bỏ lại
Các giấy tờ lộn xộn
Những diễn văn hỗn độn
Những hồi ký chiến tranh
Họ đành bỏ lại
Những bức thư tình
Chưa kịp dán tem
Họ đành bỏ lại các phiên tòa lem nhem
Giấy nợ nhà
Bill điện thoại

Họ đành bỏ lại
Bến đò chiều mưa
Nụ hôn bên bờ liễu
Họ đành bỏ lại
Chỗ ngồi của anh và em
Dưới cội cam vàng.


Hãy để chim chóc làm đầy bầu trời

                                Tặng Du Tử Lê


hãy để chim chóc làm đầy bầu trời
hãy để muối
làm đầy môi chúng ta hãy để bông hoa
đứng thẳng lên
khi trên màn hình
một thường dân bị bắn hạ
hãy để chiều rơi
xuống mí mắt mệt mỏi, hãy hỏi
đường ở rễ cây, hãy để mưa bôi
xóa khuôn mặt anh ngoài cửa kính
hãy để kẻ tử tù
trốn thoát qua mái nhà hãy để hắn
nhảy xuống một sân ga, khi tàu vừa chuyển bánh
hãy săn đuổi cái chết như phóng viên nhiếp ảnh
hãy để mắt em hiu quạnh trong
mắt anh, hãy để ong bay
trên váy hoa góa bụa
hãy để bữa ăn sáng dọn ra như bữa
ăn cuối cùng của bạn
hãy để những gì bạn để lại phía sau là tất cả
những gì bạn có thể mang theo
được, hãy bay đi thật xa
nếu chúng ta còn nhớ đường về
hãy chờ anh
ở chỗ dòng sông nước chảy chậm
hãy để chiếc lá
chẻ đôi
sự giận dữ của chúng ta
trước cuộc đời
hung
hãn
này
hãy
gõ cửa
chiều mưa
như người láng giềng
để mất
chiếc bật lửa.

(SH283/09-12)

Nguyễn Đức Tùng

ductungducnguyen@gmail.com

READ MORE - CHÙM THƠ NGUYỄN ĐƯC TÙNG: Mẹ / Mặt trời nguội đi / Hãy để chim chóc làm đầy bầu trời

ĐẾN VỚI BÀI THƠ HAY: “RƯỢU ĐÊM NAY” CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN - Trịnh Thị Nhâm

Tác giả Trịnh Thị Nhâm


 

ĐẾN VỚI BÀI THƠ HAY: 

“RƯỢU ĐÊM NAY” CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN 

* 

RƯỢU ĐÊM NAY, nhân vật trữ tình uống cùng một người đàn bà, họ không hề xa lạ với nhau, hoặc giả đã từng có thời bên nhau rồi rời xa, nay gặp lại trong một đêm cùng chén rượu. Anh say thật hay cố say để quên đi sự đời u uất nhức nhối trầm luân, và sống động hơn là người đàn bà xưa đang bên cạnh, trước mặt mình trong hoàn cảnh không mong muốn:

 

"Người ở lại bên ta ngồi châm tửu

Dìu ta say quên bớt oái oăm đời

Quên "cười ruồi - mắt đĩ - và cơn đau"

Cả nham nhở niềm tin vừa vá vội"

 

"Quên" ư? Anh đang hận, anh đang cười khẩy cho phận mình và nhân vật nữ là bạn anh, đang cố làm cho cả hai đều vui, nhưng vui sao được trong nỗi gượng gạo bẽ bàng, và trong ánh mắt vằn những tia u ám của anh. Tôi tin là thế. Cả hai cùng đau hay chỉ có anh đau và thương người còn lại có thể đã dạn dĩ, đã "sạn sỏi" với niềm đau. Viết tới đây, tôi đặc biệt bị ám ảnh bởi câu thơ: "Chén rượu đấy, rót rồi, cứ uống". Tôi hình dung rõ rệt khuôn mặt, cử chỉ của người đàn bà lúc ấy: dè dặt, bối rối, e ngại, ngượng ngập, len lén, cảm thấy vị thế của mình thấp kém, phải cúi mình, không dám ngẩng cao đầu. Nên chén rượu rót rồi mà không dám chạm tới, thật tái tê day dứt. Bởi vậy, nhân vật nam phải lên tiếng: "Chén rượu đấy, rót rồi, cứ uống". Ta quay trở lại với nhân vật trữ tình xưng "ta". Anh muốn đắm chìm trong cơn "say yêu" trong lữ quán, nhưng anh đau, đắng đót, trong sự u uẩn cố "lừa" mình ngay cả trong cơn khát dục tình, thật xót xa cay đắng:

 

"Nước mắt đan đốt tê dại đêm cuồng

Đắp nụ cười nghẹn đắng lằn môi

Nuốt lấy nhau gán niềm tin tráo đổi".

 

Ở khổ thơ tiếp theo với giọng thơ chứa đựng sự day dứt, vật vã, đầy thương cảm, trách nhiệm, pha chút mặc cảm và nhân văn, khi cho rằng: vì một lẽ nào đó, có liên quan đến mình mà người đàn bà ngồi đây trước kia "lành lặn" trong sạch, giờ bị xô đẩy vào chốn mưu sinh "đèn mờ" phải hứng chịu sự xỉ vả, khinh bỉ của người đời:

 

"Ta vẫn biết đêm cuồng xô sóng dội

Người vì ta dạn dĩ chốn quần hồng

Xác thân phàm bầm dập những bỉ bôi

Phận lá liễu tả tơi vì gánh tội"

 

Và rồi để bù đắp những ân tình trong quá khứ đã mất, anh mong muốn cùng nàng một đêm "chồng vợ". Đó là khát vọng ân ái nâng đỡ nhau, tôn trọng nhau trong cảm xúc yêu đương đến tột cùng. Tôi cho rằng đó là sự tử tế rất nhân văn trong hoàn cảnh cuộc sống hiện tại của nhân vật nữ trong bài.

 

Bài thơ thật ám gợi với cảm xúc tận trong gan ruột của nhà thơ.

 

Thi sĩ Đặng Xuân Xuyến có biệt tài khơi mạch nguồn cảm xúc về thơ tình. Thơ tình của anh mang dấu ấn riêng: đắm say, bạo liệt, cuồng dâng, tận hiến, nhưng cũng đầy đớn đau. Đọc thơ mà tôi thấy quặn thắt, và muốn khóc! Có lẽ bài thơ đã " nhập đồng" vào tôi đấy thi sĩ!!!

 

------------

 

RƯỢU ĐÊM NAY 

- với M.Q - 

 

Người ở lại bên ta ngồi châm tửu

Dìu ta say quên bớt oái oăm đời

Quên "cười ruồi - mắt đĩ - và cơn đau"

Cả nham nhở niềm tin vừa vá vội.

 

.

 

Chén rượu đấy, rót rồi, cứ uống

Nước mắt đan đốt tê dại đêm cuồng

Đắp nụ cười nghẹn đắng lằn môi

Nuốt lấy nhau gán niềm tin tráo đổi..

 

Ta vẫn biết đêm cuồng xô sóng dội

Người vì ta dạn dĩ chốn quần hồng

Xác thân phàm bầm dập những bỉ bôi

Phận lá liễu tả tơi vì gánh tội..

 

Ta sẽ dám trọn đêm nay chồng vợ

Cho mồ hôi rịn chặt với mồ hôi

Cho hơi thở mơn man dìu hơi thở

Cho bỏng đêm cuộn từng cột sóng trào.

*.

 

Làng Đá, đêm 28 tháng 12/2023 

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

 

P/S: Bài thơ được in trong tạp chí VĂN HỌC MỚI số 29 trang 297 do nhà thơ Hà Nguyên Du thực hiện. Phát hành tháng 1/2024 qua hệ thống Amazon.

 

*.

 

Hạ Long, 01 tháng 02/2024

 

TRỊNH THỊ NHÂM 

Thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 

Email: trinhnham52@gmail.com

 

.

READ MORE - ĐẾN VỚI BÀI THƠ HAY: “RƯỢU ĐÊM NAY” CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN - Trịnh Thị Nhâm