Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, December 10, 2018

CHÙM THƠ VỀ CHÂU ÂU CỦA HUY UYÊN



                   Nhà thơ Huy Uyên



Sông Seine buồn

Chiều hoang trôi theo dòng sông Seine
anh bàng hoàng nhớ em
những chiếc cầu chải ngang mái tóc
nhớ ai mà em khóc
đôi bờ trôi êm đềm.

Nước cũng không vội vàng
mây trôi bơ vơ cùng chiều
(người đã một lần chết cho tình yêu)
đâu đây bóng em lặng thinh không nói.

Những tòa tháp cổ cũng bạc màu mây
hồ như mắt em đang lệ nhỏ
bầy thiên nga chấp đôi cánh vỗ
nước trong xanh thác mời.
những mái cong nhà thờ tỉnh lặng
màu trời xám về một mùa thu dịu dàng
đứng lại bên cầu không có em
thôi rồi một thời xa vắng.

Anh đang bơ vơ như em bơ vơ
chiều sông Seine buồn mịt mù hơi thở
em đi rồi hay còn đó
Paris đêm về vội vàng.

Thôi rồi mấy nhịp sông Seine
anh đi mà không còn em nữa
trời ơi ai một thuở
đứng nhìn nhau mà nước mắt chạy quanh
anh cứ ngờ đang ở bên em.


Strasbourg

Ai đi thấp thoáng bóng chiều
(ngẫn ngơ lưng đồi hai mộ)
rừng thông chạy dài không kịp nhớ
mênh mông đất trời Titisee.

Xanh một màu cỏ non
chiều lên lá đời ngậm vú
lên đồi,lên đồi mây rũ
thuyền chiều trôi về cuối sông.

Rừng cây dưới kia chập chùng
gió đêm âm vang tiếng gọi
tim hoài ru ai không nói
người về có nhớ mưa không.


Ánh đèn hắt hiu bóng đổ
đêm đi vàng dảy phố buồn
ai giờ quạnh lòng mà nhớ
người về đêm nay có quên .

Người rồi về đâu, về đâu
bỏ lại gương xưa mặt hồ
sầu kia có còn ở lại
hay chảy ngang trời bơ vơ.

Bổng nhớ Dalat đến lạ lùng
Rhine Fall vắt trời thác đổ
hồ chiều rưng rưng
những con thuyền trong chiều cũng mắt đỏ.


Lặng lẽ Zurich

Ở đó Sư-tử-buồn* chết lặng
nằm hoang hoải cùng trời xuống nghiêng
ai kia một mình một bóng
nhớ hoài về em.

Anh đến đây và ở lại một mình
Zurich nghiêng màu ô cửa sổ
Chagall Windows lung linh
người đã đi hay còn ở đó.

Tilis cao vời vợi
sương sáng lung linh trôi
đưa tay kéo sắc trời chưa tới
đám băng dưới chân cũng ngừng trôi.
Tilis nghiêng trời cánh chim
ánh bạc bùng lên cùng trời đất
những núi đồi bát ngát
tuyết băng cũng sững lòng nhớ em.

Ai đứng lặng lòng bên cầu Chapel
giờ này tuồng như cũng đã vắng em
giáo đường Jesuit ngủ muộn
lạy cha và thánh thần, Amen.

Những căn nhà đâm lên giữa rừng đen
Black Forest quay về mai sáng
biết em giờ còn đợi ai mà trời bãng lãng
đám mây đầu núi cuối mùa nằm im.

Zurich buồn và lặng lẻ trong đêm.

*Tượng điêu khắc sư tử hấp hối trong công-viên nước.


Bern

Những mái ngói đi qua Bern*
nổi nhớ chồm lên một thời đời gấu
chen nhau những mái che êm đềm
sông bao quanh
mái nghiêng ngã màu nhớ ai mà đậm đỏ.

Những vết chân người cũng bao quanh
giá mà em còn đứng dịu dàng đưa tay vuốt tóc
gió Swiss như đang dỗ dành
cùng đời em mê ngủ.

Giữa trời chiều Bern ngã ba
tiếng của người gọi ai mà tha thiết
tìm người nói câu ly biệt
trước lúc đi xa.

Dòng sông xưa rồi nước cũng quay về
Bern nào hay biết
Chilon thấp thoáng xa bờ
ngàn đời ngũ yên nhớ ai da diết .

Ai gọi người mà không về kịp
nguyện ơn xin Chúa cha
đâu đây tiếng chuông nhà thờ Vincent đổ buồn
muốn chết.

*Thành phố của gấu

         
 Nửa vầng trăng Geneva

Chiều đứng lặng im bên hồ
nghe tiếng gọi người
nước về đâu mà chảy dòng thương tiếc
Geneva thấp thoáng sương mờ.

Đâu rồi lâu đài Sforza cỗ xưa
lặng thinh bao đời đứng đợi
người đi lâu rồi cũng không quay lại
Doumo thức trong mưa.

Bước chân ngập ngừng Rousseau phố cỗ
chiều lung linh hồ Leman lộng gió
để ai đi mà không nhớ
kỹ niệm Geneva buồn quắt quay.

Ai đang hát bên Jet D'eau
giọng người ngậm ngùi cỗ độ
ngút trời sầu theo hơi gió
để nước thả trôi về đâu .

Người cũng về đâu,về đâu
bỏ lại gương xưa mặt hồ
sầu kia có còn ở lại
hay chảy cuối trời bơ vơ.

Geneva mỗi mùa tiển đưa
một người đi không quay lại
có hắt hiu buồn tím tái
có ngậm ngùi theo bước xưa.


Ngày qua Milan

Buổi sáng nhà trên đồi đang ngũ
mây cũng ngủ dưới lũng sâu
em đã về đây chưa
mà trời tuồng như quay về chốn cũ.

Alpes phía đông nằm dịu dàng
những rặng cây xanh đá dựng ngút ngàn
người còn nhớ những ngày xa khuất
tình sương tan âm thầm.

Nghe đâu đây nỗi nhớ
trở về với Milan
không tiếng con thuyền neo bến đậu
(vẳng đâu rồi tiếng-hát-mi-lăng).

Anh đến nơi đây buổi chiều vàng
những đồng cỏ cũng vàng trong nắng
vườn nhà ai im vắng
không một bóng người
hoài mãi tìm một chút MiLan.

Quanh nhà thờ Doumo cổ kính
lặng lẻ làm đám tang
người xưa quá buồn
một hình một bóng.

Đón em mùa thu đã sang
chập chùng mây trôi đầu đỉnh
dưới nắng chiều vàng khép kín
giọng chiều bâng khuâng quá chừng.

Tìm người quay về đồng cỏ
nhạc lên vang vọng chiều sương
ai đi bỏ chi nỗi nhớ
mây trôi có chút lạnh lòng.

Chuyến tàu đi qua quá muộn
em về đâu
mà bão anh chiều còn sớm
khoảng trời còn lại hẹn hò
Milan cuối mùa tiễn đưa !


Venice

1-
Biển xanh ngọt môi em
Venice nhung êm từng dãi lụa
nói lời yêu em từ thuở
sóng xao thuyền trôi êm đềm.

Mưa vội về với Venice
anh đi tìm em mà em có biết
hai ta tiển chỉ một người
xa nhau chi để một đời tưởng tiếc.

Ai trở về đây phố-nổi
nước kênh chao lạnh vào hồn
ai đi mà không đứng đợi
trao người kỹ niệm buồn hơn.

Ta tặng nhau những cọng rơm vàng
nép đời theo từng cối xay gió
nhịp lên ấm từng hơi thở
núi xa để lòng đau thêm.

2-
Thuyền trôi trên kênh Venice
những mái chèo khua êm
em có biết
nhớ em từ thuở yêu em.

Những mái chèo ngậm sương
chưa hề một lần nói
những lâu đài xa xưa cũng vội
gọi tình nhau âm thầm.

Ai quay lại rộn ràng Marco
nhà ai ẫn mình trong tối
ơi người xưa đừng đi vội
cả mây đang ngũ cũng chờ.

Thôi rồi một cuộc tình
anh một mình quay lại
thôi rồi anh một mình
Venice lạnh buồn sóng vỗ
vĩnh biệt đi và nhớ.


Roma

Bên đồi hướng dương vàng phai chín tím
em treo tình qua lũng đồi
ngút ngàn hồ thiên nga mọc cánh
em đi còn lại mình tôi.

Roma ngũ chìm sắc nắng
nhà ai nằm lặng chân đồi
cửa sổ buồn chi mà đóng kín
cô đơn chạy quanh mình tôi.

Những con đường Roma trải rộng
cây xanh ngút màu trần gian
nhịp đời chảy qua bao lần
trôi về đâu mà lòng buồn lắm.

Đường quá dài qua Vatican


Pisa

Pisa chuông nguyện hồn ai
tháng năm nằm chết dang tay cùng trời
thánh đường khuất bóng chơi vơi
về đây buồn quá em ơi quá buồn
bao năm tháp đứng sầu vương
trên đồi ai đợi mà thương nhớ người.

Pisa nỗi nhớ riêng tôi
về đây làm đám tang người phụ nhau
Pisa nghiêng mấy trời sầu
để ai mang cả hồn đau suốt đời
ngàn năm bỏ lại cùng tôi
ngàn năm còn mãi nơi người nỗi đau. . .

                                       Huy Uyên

READ MORE - CHÙM THƠ VỀ CHÂU ÂU CỦA HUY UYÊN

EM, MỘT THỜI ĐỂ LẠI - Thơ Thủy Điền





EM, MỘT THỜI ĐỂ LẠI

Em, một thời tôi...nhớ
Áo trắng dài bay bay
Tóc huyền thả bờ vai
Giữa trưa hè nắng cháy

Em, một thời để lại
Trong tôi nét mặn mà
Lời ngọt ngào, êm ả
Ký ức tuổi thư sinh

Tôi, một thời bịn rịn
Dường như kẻ si tình
Đêm về luôn thao thức
Canh... đợi ánh bình minh

Em, một thời câm nín
Chuyện xưa giờ khép kín
Tôi, vẫn còn trong mơ
Ngày ấy một bóng hình.

                  Thủy Điền
                 11-12-2018

READ MORE - EM, MỘT THỜI ĐỂ LẠI - Thơ Thủy Điền

TÌNH THƠ MỘT THUỞ... - Thơ Tịnh Đàm



                   Nhà thơ Tịnh Đàm


TÌNH THƠ MỘT THUỞ...

Nghe chừng
Lạnh bước chân đêm
Thẫn thờ trăng
Ngả bên thềm...
Hắt hiu !

Tôi ngồi
Thắp nỗi buồn thiu
Nhớ trong hoài niệm
Chắt chiu chút tình.

Người xưa
Giờ
Cũng an bình
Nhủ tôi :
Thôi nhé duyên mình...
Bấy nhiêu.

Trả em
Dáng mộng yêu kiều
Tình thơ một thuở...
Bao điều vấn vương !

         TỊNH ĐÀM
(Hóc Môn, TP.HCM)

READ MORE - TÌNH THƠ MỘT THUỞ... - Thơ Tịnh Đàm

TỪ PHIM “HAI MẪU ĐẤT” ĐẾN BÀI THƠ CỦA ZULU DC - Châu Thạch


      
               Nhà bình thơ Châu Thạch



TỪ PHIM “HAI MẪU ĐẤT” ĐẾN BÀI THƠ CỦA ZULU DC
                                                              Châu Thạch
                  
Khoản 60 năm trước, tại các rạp chiếu bóng miền Nam Việt Nam, có một cuốn phim của Ấn Độ đã làm rơi nước mắt khán giả hơi nhiều. Đó là phim Hai Mẫu Đất. Phim kể chuyện một nông dân bị lấy hai mẫu đất trồng lúa của mình để đưa vào khu nhà máy, phục vụ cho nền công nghiệp phát triển của Ấn Độ thời bấy giờ. Lúc đó tôi còn nhỏ quá, xem phim không sâu nhiệm gì mấy, nhưng hình ảnh người nông dân đứng bên ngoài, nhìn đất mình qua hàng rào B40 với đôi mắt đau buồn đã ám ảnh tôi suốt một đời mỗi khi nhớ lại cuốn phim kia. Hôm nay tình cờ đọc bài thơ của ZuLu DC, hình ảnh người nông dân trong phim ngày ấy, với tất cả thảm thương bộc lộ trên đôi mắt lại hiện ra trong tôi. 
Tôi liên nghĩ đến những người nông dân Việt nam đã mất đất vì các khu công nghiệp hiện lên, vì các sân golf cần cho giới quý tộc mới, chắc chắn sẽ gây đau khổ cho họ, không khác chi người nông dân Ấn Độ 60 năm vể trước.
Tìm hiểu trên mạng ta biết: “Từ con số 1 cách đây gần một thế kỷ, đên nay, Việt Nam đã có khoảng 58 sân golf trải khắp 24 tỉnh thành, chiếm khoảng 9,27 nghìn ha”. “Trong 5 năm trở lại đây. Đất nông nghiệp bị thu hồi để triển khai các dự án sân golf nói riêng và các khu đô thị nói chung đã tác động đến đời sống của hơn 600.000 hộ gia đình với gần 1 triệu lao động và 2,5 triệu nhân khẩu nông nghiệp. Trung bình mỗi ha đất nông nghiệp bị thu hồi sẽ lấy đi cơ hội việc làm của 13 lao động ở nông thôn”. Một cử tri nhà nông đã nói với chủ tịch quốc hội VN như sau:“Sân golf chạy đến đâu đất nông nghiệp mất đến đó. Người dân không thể lấy công trình, nhà hàng, khách sạn để mà ăn”
Trong khuôn khổ bài nầy, tôi chỉ xin viết cảm nhận của mình, về bài thơ của ZuLU DC, một bài thơ thổn thức cho người nông dân mất đất vì sân golf. Vào khổ đầu của bài thơ, ta thấy ngay một phút tâm thần hoang tưởng của người nông dân, anh nhìn đồng có xanh mà tưởng mạ non mình vừa cấy xuống:

Đưa tay lên, Anh chờ ngọn gió
Đồng cỏ xanh, Anh tưỡng mạ non
Sân golf ơi – Nếu ruộng đất còn
Lúa mơn mởn, nhởn nhơ thời con gái

Rồi từ cái phút chốc hoang tưởng đó, người nông dân mơ lại một giấc mơ vàng son của cái thời ruộng còn của mình và lúa do mình chắm bón:

Mùa Xuân về,gió Xuân ái ngại
Lúa căng đầy nhựa sống tuổi hai mươi
Đất nước mừng những cây lúa mang thai
Lúa bẽn lẽn giả từ thời con gái

Chào mùa Xuân, đón chào bông lúa mới
Anh hân hoan bên núm sữa căng đầy
Lòng Anh theo ngọn gió hây hây
Đây hạt lúa, kết tinh của Trời Đất

Hai khổ thơ thất là bình dị, ai đọc cũng hiểu. Thế nhưng nói như Trịnh Công Sơn: “Sống trên đời phải có một tấm lòng”. Có tấm lòng để làm gì? Theo tôi tấm lòng để viết hai khổ thơ nầy và để thổn thức với hai khổ thơ nầy cũng đáng quý lắm rồi. Bởi vì từ hai khổ thơ nầy, người có tâm lòng sẽ đồng cảm với tấm lòng của tác giả, mộng mơ quay về một ký ức tốt đẹp nay đã trở thành bọt bễ, xót xa cùng với những thân phận bị hà hiếp giữa cuộc đời nầy.
Tác giả dùng những cụm từ “đầy nhựa sống tuổi hai mươi”, “cây lúa mang thai”, “núm sửa căng đầy” để nhân cách hóa cây lúa thành người, hình tượng hóa mạch sống của lúa như mạch sống của người, làm cho người đọc cảm nhận đầy đủ sự hân hoan khi đồng lúa còn tươi tốt, khi đồng lúa chưa vụt mất khỏi tay người nông dân yêu dấu.
Mùa xuân cũng được đề cập đến trong hai khổ thơ nầy. Đó không chỉ là mùa lúa trổ bông mà còn mang ẩn dụ về một mùa xuân trong đời sống của người nông dân khi đất đang còn của họ và lúa do họ gieo trồng.
Qua khổ thơ thứ tư, nhà thơ đã đưa tâm linh vào trong những cánh đồng đã mất:

Anh van vái những Vong linh đã khuất
Còn nhận ra đất nước Việt Nam không
Xưa kia, đây vốn là những cánh đồng
Có bia mộ - những Bát nhang thờ tiên tổ

Người nông dân trong thơ đã van vái vong linh đã ở cùng bia mộ, bát nhang trên cánh đồng nầy năm xưa. Những vong linh đó. Những bia mộ đó, những bát nhang thờ tiên tổ đó chính là linh hồn của cánh đồng. Đọc thơ ta biết bia mộ chắc chắn không còn, bát nhang chắc chắn không còn, và vong linh thì đã vất vưởng trôi dạt phương nào rồi. Khổ thơ không nói sự tàn phá, không đề cập đến sự chết nhưng cho ta liên nghĩ một sự sống có linh hồn bị hủy diệt trên những cánh đồng nầy, để thay vào đó những đồng cỏ xanh tươi nhưng chỉ là những sân golf không có linh hồn.
Ở khổ thơ cuối, ZuLu DC mới thở dài và than một lời than rất nhẹ. Thế nhưng ta nghe trong lời than đó sự sướt mướt của ngàn vạn nông dân. Đọc khổ thơ nầy, đôi mắt người nông dân Ấn Độ trong phim Hai Mẫu đất năm xưa lại hiện ra trước mắt tôi, nó nhẩn nhục làm sao! nó xa vắng làm sao! và nó thê thiết làm sao!. Đôi mắt ấy ngày nay đã hóa thành hàng ngàn hàng vạn suốt 24 tỉnh thành trên đất nước ta:

Bao nhiêu rồi những nông dân nghèo khổ
Bám ruộng bám đồng rạo rực niềm vui
Nay sân golf chiếm ruộng đất rồi
Dẫm chân trần mà thấm đau niềm tủi nhục.

Toàn bộ bài thơ không hằn học, không nặng nề, không quá khích,  thế nhưng thơ đà làm hiển hiện trong lòng ta những bất công của xã hôi, những phẩn uất của người nông dân thấp cổ bé miệng, và gieo vào lòng mỗi chúng ta một niềm đau khó tả hết. Tất nhiên đất nước phát triển thì sân golf phải có, và những mãnh đời đau khổ vì nó không nhiều cũng ít. Mong rằng những bài thơ như bài thơ nầy sẽ đánh động lương tri bậc quyền thế, để giảm thiểu tối đa những gì đem đến hệ lụy cho người nông dân tay lấm chân bùn, chỉ mong sống an lành trên mãnh đất ngàn đời của cha ông mình để lại

                                                                     Châu Thạch
.........

 
                                      Nhà thơ Zulu DC


BONJOUR VIETNAM'S GOLF PARK

Đưa tay lên, Anh chờ ngọn gió
Đồng cỏ xanh, Anh tưỡng mạ non
Sân golf ơi – Nếu ruộng đất còn
Lúa mơn mởn, nhởn nhơ thời con gái

Mùa Xuân về,gió Xuân ái ngại
Lúa căng đầy nhựa sống tuổi hai mươi
Đất nước mừng những cây lúa mang thai
Lúa bẽn lẽn giả từ thời con gái

Chào mùa Xuân, đón chào bông lúa mới
Anh hân hoan bên núm sữa căng đầy
Lòng Anh theo ngọn gió hây hây
Đây hạt lúa, kết tinh của Trời Đất

Anh van vái những Vong linh đã khuất
Còn nhận ra đất nước Việt Nam không
Xưa kia, đây vốn là những cánh đồng
Có bia mộ - những Bát nhang thờ Tiên Tổ

Bao nhiêu rồi những nông dân nghèo khổ
Bám ruộng bám đồng rạo rực niềm vui
Nay sân golf chiếm ruộng đất rồi
Dẫm chân trần mà thấm đau niềm tủi nhục.

                                                   Zulu DC

READ MORE - TỪ PHIM “HAI MẪU ĐẤT” ĐẾN BÀI THƠ CỦA ZULU DC - Châu Thạch

NÉT HUẾ ÁO DÀI – Ugno.Vn




    NÉT HUẾ ÁO DÀI 
                 Ugno.Vn

Áo dài là món quà tôn vinh vẻ đẹp thiếu nữ Việt Nam. Nhiều công trình nghiên cứu đã tìm thấy lịch sử chiếc áo dài gắn bó với phụ nữ Việt Nam từ thời dựng nước. Tuy nhiên, trải qua ngàn năm Bắc thuộc và mấy trăm năm mở nước, cách ăn mặc của người Việt Nam với chiếc áo dài ít nhiều thay đổi. Đến thời Nam Bắc phân tranh, ở xứ Đàng Trong, để minh định bản sắc văn hóa riêng, Vũ vương Nguyễn Phúc Khoát (1739-1765) đã đã ban hành sắc dụ qui định cách ăn mặc, trong đó định hình cơ bản chiếc áo dài như sau: "Thường phục thì đàn ông, đàn bà dùng áo cổ đứng ngắn tay, cửa ống tay rộng hoặc hẹp tùy tiện. Áo thì hai bên nách trở xuống phải khâu kín liền, không được xẻ mở. Duy đàn ông không muốn mặc áo cổ tròn ống tay hẹp cho tiện khi làm việc thì được. Lễ phục thì dùng áo cổ đứng tay dài, vải xanh chàm hay vải đen hay trắng tùy nghi…(Đại Nam Thực Lục tiền biên - Bản dịch Viện Sử học). Chúa Nguyễn Phúc Khoát đã viết những trang sử đầu tiên cho chiếc áo dài như vậy.
Cuộc chiến tương tàn Trịnh-Nguyễn-Tây Sơn cuối thế kỷ XVIII qua đi, nhà Nguyễn thống nhất giang sơn. Năm 1828, Minh Mạng (1820-1840), vị vua thứ hai triều Nguyễn,  một lần nữa ra chiếu chỉ cấm đàn bà mặc váy, thay vào phải mặc quần hai ống. Từ đó bộ y phục áo dài truyền thống của phụ nữ định hình cho đến ngày nay.
Hình thức chiếc áo dài thay đổi theo từng thời nhưng cơ bản vạt áo luôn che phủ kín đáo, lịch sự những vùng cơ  thể nhạy cảm. Tùy điều kiện sống và yêu cầu thẩm mỹ mà có áo tứ thân, (hai vạt  có 4 mảnh ghép lại, có sống ở giữa vạt áo), áo ngũ thân, (tứ thân có thêm một chéo vải nhỏ lót bên trong phần ngực phía cài nút áo). Khi có vải khổ rộng, mỗi vạt áo chỉ còn một thân. Trong các mẫu áo dài của các nhà thiết kế thời trang hiện nay, hai vạt chiếc áo dài được cách điệu muôn hình vạn vẻ, đôi khi không còn phân biệt được mấy thân.
Xưa kia, áo dài là y phục chung cho cả nam và nữ. Áo có cấu trúc thân áo, vạt áo khác nhau theo đặc điểm ngoại hình giới tính. Nam giới thường mặc áo màu đen. Tầng lớp thư sinh mặc áo trắng. Người cao tuổi, có chức sắc trong lễ tế, mặc áo dài màu xanh, màu vàng hoặc đỏ. Áo dài nam  may bằng hàng the, hàng lượt mỏng, mặc vào thấy được áo trắng cúc bâu bên trong. Áo dài nam đi kèm khăn đóng, giày hạ đã trở thành quốc phục một thời. Phụ nữ mặc áo trắng, áo màu, kèm theo khăn vành, áo choàng, chân mang hài hoặc guốc trở thành y phục truyền thống dân tộc. Dù nam hay nữ, mặc áo dài luôn kết hợp với quần trắng bằng vải hoặc lụa mềm.
Trong khi chiếc áo dài nam giới gần như đã có cấu trúc ổn định thì chiếc áo dài nữ giới trải qua nhiều cải biên, đến nay vẫn đang còn trên đà tìm kiếm của các nhà thiết kế thời trang. Đã có một thời của áo dài Cát Tường (Le Mur), áo dài Lê Phổ thập niên 30-40 thế kỷ trước; của áo dài Raglan, áo dài Mini, áo dài cổ thuyền Lệ Xuân ở miền Nam thời  đất nứơc chia cắt. Gần đây xuất hiện những chiếc áo dài kết hợp nét trang phục phương tây; những chiếc áo dài phát huy nét đẹp thổ cẩm dân tộc, nét đẹp lụa tơ tằm uyển chuyển uốn cong mềm mại tấm thân ngọc ngà thiếu nữ xuân thì.
Nét đẹp áo dài là nét đẹp tà áo tung bay. Nhạc sĩ Từ Huy không phải ngẫu hứng nhất thời mà có những câu hát ca ngợi:

“Tà áo em... bay bay bay bay trong gió nhẹ nhàng/Tà áo em... bay bay bay bay trên phố dịu dàng/Áo bay trên đường... như mây xuống phố/Áo tung sân trường tựa... cánh chim câu
(……) Tung bay... tà áo tung bay, xôn xao một trời nắng đỏ/Tung bay... tà áo tung bay, áng mây trắng đầu ngọn gió/Tung bay... tà áo tung bay, tím biếc những chiều hoàng hôn/Tung bay... tà áo tung bay, xanh xanh đồng cỏ quê hương”…
           (Một thoáng quê hương-nhạc Từ Huy)

Nhà thơ Nguyên Sa, trong bài “Tương Tư” cũng thế khi vẽ nên tà áo dài:

Có phải em mang trên áo bay
Hai phần gió thổi, một phần mây
Hay là em gói mây trong áo
Rồi thở cho làn áo trắng bay”

Vẻ đẹp chiếc áo dài có nhiều thay đổi do thị hiếu thời thượng về vẻ đẹp người thiếu nữ. Thời xa xưa, trong những bức tranh phụ nữ còn lưu lại, chiếc áo  dài tà  rộng, trước sau ôm kín thân thể xuống sâu quá gối. Từ khi thị trường vải vóc xuất hiện nhiều loại vải lụa dệt bằng sợi nilon rộng khổ giữa thế kỷ trước, có những chiếc áo may vạt thùng thình, tà áo dài chấm gót, che hết chiếc guốc Đakao gót cao nhọn hoắc; cùng lúc chiếc cổ áo bó sát, căng hết chiều cao vòng cổ. Khi xuất hiện những chiếc áo dài Raglan vai phồng, chiếc áo dài Mini, vạt áo dài rút ngắn ngang gối,  tà áo gọn hơn nhí  nhảnh bay bay trên đường phố cùng chiếc cổ áo nhỏ nhắn, xinh xinh chấn ngang làn da trắng mịn màng. Chiếc áo dài cổ thuyền Lệ Xuân, cổ áo khoét hở sâu xuống ngực, phô bày nét đẹp  nữ tính đầy khêu gợi, làm mê mẩn những cái nhìn thèm muốn. Chiều Sài Gòn nắng gay, trên đường phố xuất hiện tà áo dài, Nguyên Sa trong bài thơ “Áo lụa Hà Đông” đã phải thốt lên:

“Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát,
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông.
Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng
Thơ của anh vẫn còn nguyên lụa trắng”.

Áo dài, nhất là áo dài nữ là tài sản chung của  phụ nữ Việt Nam. Thế mà có một thời, nói đến áo dài, nhiều người thường chỉ liên tưởng đến người thiếu nữ Huế. Khi còn là một học sinh tiểu học, tôi thường dùng  tập vở hiệu ba cô gái. Bìa vở vẽ hình ba thiếu nữ Bắc-Trung-Nam với trang phục ba miền. Người thiếu nữ Huế với tà áo dài và chiếc nón bài thơ ở giữa hai thiếu nữ Nam bộ với chiếc áo bà ba, và thiếu nữ Bắc kỳ với chiếc áo tứ thân. Bấy giờ, ra phố Huế là thấy áo dài. Cô tiểu thương, bà công chức, chị buôn gánh, đám nữ sinh… đều áo dài tha thướt.  Đường phố tung bay nhiều tà áo màu chiều hè nắng nhuộm hồng cánh phượng. Áo dài, mặc nhiên là y phục ra đường bắt buộc cho phụ nữ Huế thời đó.
Chiếc áo dài gắn bó với người phụ nữ Huế mỗi giai tầng xã hội một kiểu cách. Nét Huế trong chiếc áo dài gợi lên nhiều ký ức một thời xa vắng:
Năm Mướp 11 tuổi vào trường nữ trung học, mẹ may cho bé chiếc áo dài phin trắng nõn. Mẹ ướm chiều cao thân áo, chiều dài tay áo trước khi cho Mướp mặc thử. Chiếc áo xinh xinh ôm sát tấm thân thẳng đuột, nhỏ nhắn, lép kẹp như cá mòi của Mướp, trông thật ngộ nghĩnh. Cái cổ áo tròn tròn sáng lên dưới vòng tóc búp bê mẹ bắt đầu dưỡng dài cho bé. Mướp nhảy tung tăng, cười thật tươi lộ rõ chiếc răng khểnh mới nhú. Mẹ bảo Mướp mặc áo dài là đã thành người lớn, phải biết ý tứ giữ gìn. Mấy ngày đi học thật vui. Trong lớp ai cũng áo dài. Giờ ra chơi, trong khi các chị lớn vui đùa trò chuyện trên hành lang hay nắm tay nhau dạo quanh thì Mướp cùng mấy bạn nhỏ cùng lớp vui chơi nhảy dây, nhảy cò cò, chơi ô chuyền ngoài sân. Hai tà áo dài vướng víu, các bạn buộc chéo vào nhau, có người nhét vào quần lủng lẳng. Trên hiên trường, cô giáo khoanh tay nhìn mấy bé chơi, cười chúm chím. Giờ vào học, cô giáo ôn tồn chỉ vẽ cho đám học trò nhỏ sửa sang tư thế, biết cách giữ gìn vẻ duyên dáng nữ tính trong chiếc áo dài. Chiếc áo dài theo Mướp mãi trong thời gian đến trường làm cô bé ngần ngại dần với những trò chơi thơ ấu để đến khi quên hẳn.
Sáng nay, Mướp tần ngần mãi trước gương. Đã qua hai năm mặc áo dài thế mà cô bé thấy ngồ ngộ sao ấy! Mướp úp hai bàn tay lên ngực nghe hơi ấm truyền qua rồi khẽ vuốt hất hai vòm tóc ra sau. Tóc Mướp đã xõa quá bờ vai. Ngực đã đầy lên tròn trịa. Mướp thả thõng hai tay rồi lại vòng chéo ôm lên ngực mê man nghe từng hơi ấm thoáng qua da thịt. Hơi ấm lan lên má, nóng cả vòng tai. Mướp mỉm cười ngượng nghịu. Mẹ nhìn cô bé không chớp mắt rồi bảo: “Con gái xinh xắn của mẹ lớn rồi. Hãy đẹp như nàng tiên và giỏi giang như cô Tấm”. Năm học đó, mẹ may thêm cho Mướp chiếc áo dài lụa vàng, dành khi ra phố. Ba sắm cho Mướp chiếc xe đạp đầm có lưới vải chắn vành xe sau, phòng  tà áo dài quàng vào tăm xe. Mỗi sáng lên xe đến trường, mẹ không quên nhắc Mướp giữ chặt tà áo sau vào sợi dây thun buộc yên phụ, tà áo trước giữ theo tay lái ghi đông. Mướp lớn lên theo chiếc áo dài. Tâm hồn cô bé cũng mềm mại như mỗi chiều qua cầu tà áo tung bay…

Ngày cưới chị vào cuối đông. Trong những đồ dẫn cưới nhà trai mang đến có hai chiếc áo dài màu xanh da trời và hồng phấn. Vốn là thanh nữ nông thôn, những chiếc áo dài thường ngày của chị khi ra chợ có màu sẫm, cắt may bình dị. Hôm ấy ngày đưa dâu, chị mặc hai chiếc áo cưới khác màu chồng lên nhau, tà áo bay bay cuộn vào nhau làm ẩn hiện chiếc quần lụa trắng nõn nà. Với chiếc nón bài thơ và đôi guốc gỗ kiểu cách, chị bước theo đoàn đưa  dâu qua các ngõ xóm về nhà chồng. Đoàn thanh nữ phụ dâu với nhiều màu áo dài nối bước đưa chị. Gió bấc se lạnh cùng hương vị miếng trầu ngai ngái làm hồng những đôi má thanh nữ xuân thì sóng đôi trên đường làng cát mịn. Tôi đã thấy những đám cưới nhà giàu ở phố, trang phục cô dâu ngoài áo dài gấm còn thêm khăn vành vàng, áo choàng đỏ, đôi hài kết cườm cùng hoa tai, vòng cổ, tay xuyến vàng ròng. Cô dâu lộng lẫy hẳn lên trong đoàn rước dâu sang trọng. Nhưng đó là của người ta. Nhìn chị rụt rè, vụng về khi bước vào bậc cửa nhà chồng với hai lớp áo xanh hồng, tôi thương chị nhiều lắm…
Tôi còn nhớ mãi chiếc áo dài vải thao  nhàu nát không bao giờ rời nội tôi từ khi xuống giường buổi sáng đến khi lên giường buổi tối. Tôi cũng nhớ mãi chiếc áo dài nối vạt của mẹ tôi phải thay vải mấy lần cầu vai. Vốn là dân lao động kiếm ăn và nuôi gia đình bằng việc đòn gánh đè vai, chiếc áo dài mẹ tôi thường rách vai khi hai vạt còn nguyên vải. Những người thợ may Huế có sáng tạo nối vạt áo từ ngực trở lên để còn sử dụng chiếc áo sau vài lần rách vai. Vai áo vải mới sáng màu nổi lên trên vạt áo sậm màu cũ kỹ có nét đẹp  riêng của người lao động nghèo. Tôi nhớ mãi. Tôi thương mãi chiếc áo dài hai màu nối vạt lam lũ ngày xưa...
Dì út tôi là một tiểu thương, con nhà nghèo mà ham đua đòi. Căn nhà lá nhỏ nhắn của gia đình ngoại tôi chật hơi người, dì vẫn dành riêng cho mình một nơi kín đáo kê gọn cái tủ áo dài. Được cái, dì rất xinh, nước da trắng mịn, dáng người dong dỏng, vẻ đẹp tự nhiên, có duyên ai cũng ưa nhìn. Dì là con út luôn được ngoại cưng chiều. Tủ áo dài của dì có hơn mấy chục chiếc. Vạt dài, vạt ngắn; cổ thấp, cổ cao; eo thả, eo bó; màu sáng, màu tối; vải mịn, vải gai…tha hồ để dì chọn lựa. Tôi kinh  nhất là những đôi guốc Đakao gót sắt cao nhọn hoắc, không dùng quen chỉ cần mang vào vài bước là ngã lăn. Mỗi ngày dì đổi kiểu áo vài lần. Cái bàn ủi than bằng đồng có con gà cài làm chốt khóa nắp, thường xuyên được dì sử dụng mỗi đêm  cho tính đỏng đảnh này. Ra khỏi nhà, dì như một tiên nữ đang xuân. Những chiều nắng nhạt trên đường Ngự Viên, gió tung bay đôi tà áo vàng như cánh bướm lượn vờn theo bước chân dì đi qua. Thanh nữ Huế!
Dì đi lấy chồng mang theo một ít áo dài. Gần mười năm sau, dì trở lại nhà ngoại tôi với hai nách con và di ảnh người chồng chết trận. Dì sống với ngoại tôi và trở về nghề cũ kiếm ăn, nuôi gia đình. Dì vẫn mặc áo dài nhưng chỉ chọn những màu sẫm, hai vạt áo có một sống may ngược ở giữa, nhìn vào như tứ thân. Hằng ngày dì lặng lẽ đi về chợ sáng tối. Hai em tôi lớn lên, ngoại tôi qua đời, dì vẫn thủ tiết thờ chồng, nuôi con. Vẻ đẹp đức hạnh người phụ nữ Huế truyền thống là vậy.

Chiếc áo dài xứ Huế làm nên vẻ đẹp người con gái đất kinh kỳ trong chiều sâu tâm hồn và cả ngoại hình hiền dịu, thanh nhã. Vẻ đẹp ấy đã đi vào thơ ca, nhạc họa với hình ảnh người phụ nữ mảnh mai trong tranh Đinh Cường, “vai em gầy guộc nhỏ” trong nhạc Trịnh Công Sơn. Vẻ đẹp ấy là vẻ đẹp tà áo trắng trinh nguyên, vẻ đẹp tà áo tím nhung nhớ bên dòng Hương Giang làm đắm say nhiều thế hệ trai Huế và người yêu Huế. “Áo em trắng quá nhìn không ra” (Đây thôn Vỹ Dạ - thơ Hàn Mạc Tử); “Gió cầu vương áo nàng Tôn Nữ. Quai lỏng nghiêng vành chiếc nón thơ” (Trong đôi mắt Huế - thơ Đông Hồ); “Áo trắng hỡi thuở tìm em chẳng thấy. Nắng mênh mang mấy nhịp Trường Tiền” (Tạm biệt - thơ Thu Bồn);“Ngàn thu mưa rơi trên áo em màu tím. Ngàn thu đau thương vương áo em màu tí” (Ngàn thu áo tím-nhạc Hoàng Trọng).
Đã có một thời, những tiếp viên hàng không với chiếc áo dài truyền thống màu thiên thanh có thêu con rồng vàng của hãng bay Air Việt Nam làm dịu mắt du khách trên các chuyến bay đường dài. Một tiếp viên với chiếc áo dài ấy đã tạo nên một thiên tình sử lãng mạn giữa trai anh hùng và gái thuyền quyên. Bây giờ, chiếc áo dài luôn luôn là hành trang mang theo của quí bà trong các dịp xuất ngoại tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Trong các buổi tiếp tân, trong hội nghị, diễn đàn quốc tế, chiếc áo dài đã nâng cao tư thế và vẻ đẹp phụ nữ Việt Nam cạnh những quốc phục kín đáo của phụ nữ Nam Á hay bộ váy kiểu cách của phụ nữ Tây Âu. Trên đường phố xứ người đã có tà áo dài Việt Nam tung bay làm xao lòng người nhạc sĩ xứ Quảng miền Trung: “Thoáng thấy áo dài… bay trên đường phố/ Sẽ thấy tâm hồn…quê hương ở đó…em ơi!”
Thế mà  tại quê nhà, chiếc áo dài xa dần… xa dần người phụ nữ. Trên phố nhiều quần jean, áo pull. Trường học thì quần tây, áo sơ mi. Đồng phục thì váy, jupe. Cô công nhân, chị viên chức đồng phục theo cơ quan không dính dáng gì với áo dài. Người lao động, chị tiểu thương … chỉ còn chiếc áo bà ba kiểu cách và quần đen; tươi trẻ hơn thì quần tây, áo sơ mi. Trong các lễ hội, một vài cơ quan qui định phụ nữ mặc áo dài cũng không phải vừa lòng hết các chị em trong cơ quan. Một lý do duy nhất biện minh cho hiện tượng này là tính tiện dụng và mới mẻ, hợp thời. Đã có các lễ hội tôn vinh áo dài nhưng những chiếc áo dài ấy chỉ để trình diễn hay chỉ là để dự lễ hội. Thành lũy cuối cùng của chiếc áo dài bây giờ là nhà trường. Tôi tâm đắc với nhiều vị hiệu trưởng khuyến khích nữ sinh mặc áo dài đến trường và qui định y phục lên lớp của giáo viên nữ là áo dài.
Những lần về Huế, thả bộ trên cầu Trường Tiền, thấy thiếu thiếu một cái gì của nét xưa, bất chợt tôi nhớ mấy câu thơ của Trương Nam Hương trong bài thơ “Mười năm trước Huế”:

 “Chợt thấy mình già mau đến vậy
   Qua cầu tiếc ngẩn… áo người bay”

                                                                Ugno.vn

READ MORE - NÉT HUẾ ÁO DÀI – Ugno.Vn