Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Thư từ. Show all posts
Showing posts with label Thư từ. Show all posts

Monday, September 5, 2022

MẶT HỒ ÊM Ả - Nguyễn Đức Tùng

(Thư gởi con trai nhân ngày tựu trường 2022)


Mùa hè đã qua, một mùa hè bận rộn. Chúc mừng con hoàn thành lớp cứu nạn của huấn luyện viên bơi lội thiếu niên. Chúng ta phải học cách tiếp xúc với nguy hiểm. Nhận ra nó, chọn cách ứng phó, học cách giúp đỡ người khác. Gặp nạn, có người bình tĩnh, có người không. Hầu hết là không.
 
Cảm giác nguy hiểm trong đời, chết đi sống lại, có lẽ con đã biết nhưng con sẽ quên. Vì ký ức cay đắng không tồn tại lâu. Một ngày hè nóng nực ta lái xe từ California về nhà, dọc xa lộ I-5. Bên trái là biển, vịnh nước dài nửa như hồ nửa như sông. Chiếc xe cà tàng, không có điều hòa không khí, thật nóng. Ta dừng xe ngồi nghỉ một lát, nhìn mặt nước êm ả. Sức hấp dẫn của nó không cưỡng được. Theo kinh nghiệm ta biết hồ nước khá sâu khi ra xa, mặc dù trong bờ cạn, cát chạy dài thoai thoải. Ta cởi quần áo, mặc quần sọt vốn không phải quần bơi, nhảy xuống. Dòng nước dịu dàng đưa đi. Thấy bên kia bờ những căn nhà nhỏ ẩn hiện trong rừng thông, ta bơi liền một mạch, dễ dàng. Cái hồ không rộng, dự định bơi qua phía bên kia, nơi có ngọn núi mà đường đi lên thật đẹp. Nhưng quá nửa đường, ta đổi ý vì không nhìn ra đường đi bộ vòng quanh, như thế khi về phải bơi ngược lại, đó là quãng đường khá xa. Chính vào lúc ta đột ngột quay người lại, đổi hướng, bơi về chỗ cũ, về chiếc xe hơi của mình, ta cảm thấy hai gót chân tê dại.
 
Nhìn lên bờ không có ai, cảm thấy lo sợ. Càng lo sợ, bắp chân càng tê cứng lại. Càng tê cứng, chúng càng đau, nhất là chân phải. Tay vẫn vận động được, khoát sóng nhưng hai chân bất động hoàn toàn. Khi bất động, chúng nặng lên trầm trọng. Hai chân trở thành gánh nặng của cơ thể, kéo xuống. Ta cố lấy bình tĩnh. Thả lỏng. Đổi cách bơi. Bơi ngửa. Bơi ếch. Để thả trôi tự nhiên, cố giữ cho người nổi trôi như một chiếc lá, nhớ lại tất cả những lời dạy của huấn luyện viên. Nhưng hai chân ta ngày càng nặng, càng tê, càng đau nhức. Cơn đau nhức khủng khiếp như bị tra tấn. Đúng ra khi bơi qua hồ, ta có thói quen đếm số lần sải tay để tính đường về, nhưng hôm ấy trời nóng quá sau một ngày lái xe mệt mỏi, thích thú với làn nước ta quên mất đếm. Ta đếm ngược lại. Biết mình chìm xuống. Nhìn lên bờ, cầu khẩn, tuyệt không có bóng người ở đó. Ta đoán phải bơi ba trăm sải tay trước khi đến được bờ. Kiệt sức. Chính hai bắp chân tê dại làm kiệt sức. Ngẩng đầu lên, nhìn thấy bờ hồ, bãi cát, những hòn đá rất đẹp mà thổ dân xếp chồng lên nhau. Nhìn ra xa thấy đường xe hơi chạy, chiếc xe màu mận chín của ta lấp loáng sau cành lá. Bắt đầu đuối. Ta biết rõ vậy. Hai chân như bị một con thủy quái vô hình cầm lấy kéo xuống, kéo từ từ nhưng chắc chắn, từng chân một. Sặc nước nhiều lần.
 
Cái chết đến chậm, nhưng chắc chắn.
Ta nhận ra trong một tích tắc sự sợ hãi của mình, khuôn mặt của nó.
Khuôn mặt của sợ hãi là lời kêu cứu đối với người khác.
Ta trở lại dòng sông thời trẻ. Những buổi chiều trốn nhà bơi qua thị xã, ăn kem, thuê truyện, coi phim cọp. Nhưng dòng sông ấy quen thuộc, nước không sâu, bơi dọc theo đò, có khi lại đứng trên cồn cát nổi dưới sông. Còn bây giờ là một cái hồ phẳng lặng nhưng lạnh lùng, sâu, bề ngoài dịu dàng mà bên trong cay nghiệt. Ta không muốn chết. Ta vừa bắt đầu cuộc đời ở Bắc Mỹ, còn nhiều việc phải làm trước mắt. Cuộc phỏng vấn. Kỳ thi. Sắp lên lương. Ta còn lời hứa. Có một người chờ ta ở đó sau hàng cây khuynh diệp vàng ngày trở lại. Ta có những cuốn sách đang đọc giữa chừng, có một bầy gà con trong xóm nhỏ. Tại sao vào lúc sắp chết lại nhớ đến bầy gà thì ta không biết. Nhìn thấy bờ hồ ngày càng khác, ngày càng mờ mịt, như ảo ảnh. Nhìn thấy tia nắng chiều rọi xuống nước như hơi sương. Ta nhắm mắt lại, từ biệt các bạn của ta.
 
Khi mở mắt, một bóng người hiện ra phía trên bờ, người ấy cũng vừa nhìn thấy ta đang chìm dần sau lớp sóng. Đó là một cậu bé chừng mười một mười hai tuổi, đội chiếc mũ rộng vành. Ta nhìn thấy cậu ta vung tay lên, cái cần câu trên tay, đang đi dọc theo bờ nước. Đứa bé nhìn thấy ta có vấn đề, nhưng có lẽ nó không phải là người có kinh nghiệm, không thể quyết đoán. Nó do dự đứng trên bờ, hoảng hốt, vung cần câu lên. Ta thấy rõ ràng nó muốn giúp đỡ, nhưng không biết ta cần sự giúp đỡ ấy hay không, nguy hiểm thế nào.
 
Ở dưới mặt nước bạn tưởng bạn có thể gọi to lên được. Ta cất tiếng gọi nhưng rõ ràng cậu bé không nghe, nó buông cần câu chạy dọc bờ nước về phía ta. Nhìn thấy chú bé chạy, ta quên mất sức nặng khó chịu của mình, cơn chuột rút, người trở nên nhẹ hơn, ta lấy lại sức mạnh từ khi nào không biết. Rồi ta bơi vượt lên, càng lúc càng thoăn thoắt, thằng bé đứng trên bờ đã cởi áo ra, định nhảy xuống, nhưng thấy ta bơi nhẹ nhàng đã bớt lo và dừng lại chờ. Ta bơi một mạch, bắp chân không còn tê, không đau nữa. Ta bơi nhanh đến nỗi khi chạm tay vào bờ đá lởm chởm rồi, chú bé, khuôn mặt của người da đỏ, mới vừa chạy bộ tới nơi. Ta bước lên khỏi mặt nước mặc bàn chân dẫm sỏi đau rát, ngạc nhiên thấy người nhẹ nhõm, hai chân trở lại bình thường, nhanh nhẹn. Sự xuất hiện của người khác khi bạn gặp hoạn nạn, chỉ cần sự xuất hiện ấy thôi, làm nỗi sợ hãi của bạn dịu xuống. Trước ý định cứu giúp của chú bé da đỏ, hay ta tin chắc rằng ý định ấy đang xảy ra, trước lòng tốt của đồng loại, sự nguy hiểm của ta không còn nữa, bệnh chuột rút biến mất. Ta lấy lại sức mạnh của mình, đôi chân lấy lại sự nhẹ nhõm hằng ngày của chúng, lòng tự tin của chúng, như khi một con người sắp bị số phận đánh ngã bỗng được người khác vực dậy từ trong tai nạn.
 
Tai nạn mà mùa hè qua con được huấn luyện để can thiệp là những tai nạn dưới mặt nước. Có những tai nạn khác nữa, khó thấy hơn, dưới những bề mặt dịu dàng hơn.
Tên của chú bé thổ dân là Aputik, nếu con muốn biết. Aputik có nghĩa là tuyết.
 
Nguyễn Đức Tùng

READ MORE - MẶT HỒ ÊM Ả - Nguyễn Đức Tùng

Monday, November 6, 2017

THƯ ĐỖ TƯ NGHĨA GỬI ĐOÀN ĐỨC, BẠN ĐỒNG MÔN TRUNG HỌC NGUYỄN HOÀNG 1960-1967


       


THƯ ĐỖ TƯ NGHĨA GỬI ĐOÀN ĐỨC, BẠN ĐỒNG MÔN TRUNG HỌC NGUYỄN HOÀNG 1960-1967

Dalat, 30.9. 2017
Đức ơi,
Nhớ xưa, cô Nhã gọi Đoàn Đức, Nguyễn Thắng và Đỗ Tư Nghĩa là “Tam anh Vườn  Đào xứ Quảng.”  
Thuở ấy, chúng mình chưa có lần nào “uống máu ăn thề” theo kiểu người xưa, đúng không? Chỉ nhớ, thời trung học, chúng mình luôn ngồi bàn đầu – mình ngồi giữa Đức và Nguyễn Thẳng. Hiếm khi rời nhau. Chỉ biết, vắng nhau thì nhớ.
Nhà Đức ở làng Thạch Hãn, um tùm cây lá vây quanh. Mình vẫn thường đến đó. Có anh Đoàn Liên, Đoàn Minh... Lúc ấy, hình như còn song thân của Đức. Có cô cháu gái Đoàn Thị Hoa, vẫn còn bé xíu. Ngày đó, Đức và mình đều thích nhạc của Trúc Phương. Đức thích Mưa nửa đêm, Chiều cuối tuần... Còn mình thì thích Con đường mang tên em, Ai cho tôi tình yêu...
Nhà Nguyễn Thắng ở tận phía cầu ga, gần bệnh viện Quảng Trị. Thắng có hai cậu em trai, là Nguyễn Thái, Nguyễn Lang, và một người anh, mình đã quên tên. Một chị gái tật nguyền, nhưng có khuôn mặt xinh đẹp, hồng nhan bạc mệnh. Nhớ ca khúc "Một bàn tay" của Phạm Duy, mà Thắng vẫn thường ôm đàn và hát. “Bàn tay đưa anh ra khỏi lòng người / Một đêm kêu lên hơi thở tuyệt vời / Bàn tay êm ái, ôi bàn tay khoan khoái / Nhạc ru tiếng khóc trần ai...”
Đức ơi, không rõ tại sao hồi đó chúng mình thân thiết với nhau như vậy? Mình gặp Thắng từ lớp ba, trường Nam tiểu học. Đức, mới gặp từ năm đệ Thất. Có phải đó là “duyên tiền kiếp” không nhỉ? 
Suốt bao nhiêu năm bên nhau, chúng mình đã nói với nhau những gì, đã cùng đi với nhau trên những con đường nào, mình đã không còn nhớ.  Chỉ còn đọng lại một nỗi thân thương, một cảm giác êm đềm, ấm áp. 
Có lần, mình đã viết, “nếu Huế là thành phố của một thời lãng mạn, B’lao là nơi tôi chập chững bước vào đời, thì Quảng Trị là nơi tôi đã sống một tuổi thơ êm ái.”
Cái tuổi thơ êm ái đó, gắn liền với cái tên Nguyễn Hoàng và Quảng Trị.
Cuốn sách của Đức nói về trường Nguyễn Hoàng, về các cô Nguyễn Thị Nhã, Nguyễn Thị Thanh; các thầy Trần Thương Bá, Trương Ngọc Hội, Lê Mậu Tâm, Hồ Sỹ Châm, và Hary Carkin. 
Trong số đó, thì thầy Hary Carkin, mình không rõ – vì năm Đệ Nhất C mình không còn là học sinh của trường nữa. Mình chỉ học dự thính duy nhất môn Triết của thầy Lê Mậu Tâm. Mình cũng không có “duyên” với thầy Hồ Sỹ Châm, nên mình không có nhiều kỷ niệm với Thầy như Đức.
Trừ hai thầy đó ra, thì số còn lại, mình nhớ khá rõ: Cô Nhã, thầy Bá, cô Thanh, thầy Tâm, thầy Hội.
Cô Nhã, thầy Bá, và thầy Tâm, bây giờ đã thành người thiên cổ
Theo cảm nhận của mình, thì cô Nhã và thầy Bá, là hai người đã dành cho mình nhiều ưu ái nhất.
Khoảng năm 1999, mình đã liên lạc được với thầy Bá. Đã tâm sự một đôi lần với Thầy qua thư tín. Một đôi lần nghe giọng nói ấm áp của Thầy trên phone. Không ngờ Thầy ra đi sớm thế. Mình đã có bài viết về Thầy đăng trên Nguyễn Hoàng-Chân dung & Kỷ niệm, do Võ Thị Quỳnh chủ biên – nên ở đây mình không nhắc lại. Mình chỉ nói gọn: Thầy là một trong những hình ảnh đẹp nhất trong số các thầy cô của mình thuở đó. 
(Nhờ cuốn sách của Đức, mà mình biết thêm về quãng đời của Thầy ở quân trường, và những “hệ lụy trần gian” của Thầy sau 75. Chi tiết về “cái áo gối” của chị Ngọc Lan, rất “hấp dẫn,” mình cũng chưa hề biết). 
Còn cô Nhã, thì thỉnh thoảng mình vẫn gặp Cô – mỗi lần Cô vào Dalat thăm cô con gái. Những lần đó, mình thường sang thăm Cô, và dùng bữa trưa với Cô. Gần đây – chỉ vài tháng trước khi Cô ra đi – Cô đã gửi quà cho mình. Khi Cô nằm viện, mình đã kịp gửi cho Cô xem bài viết ngắn của mình về Cô. May mắn thay, hình như Cô đã đọc. Vài ngày sau đó thì Cô qua đời. 
(Chi tiết “Tam anh Vườn đào xứ Quảng, nhờ Đức và Thắng nhắc lại, mình mới nhớ). 
Khi anh Võ Văn Cẩm gọi điện báo tin Cô ra đi, thì mình đang ở Saigon chữa bệnh. Mình bàng hoàng, nhưng im lặng, không có biểu hiện gì. Sau đó, khi Nguyễn Thắng lại báo tin, thì mình đã bật khóc. Mình không hiểu, do đâu mà cô dành tình cảm ưu ái cho “Tam anh Vườn đào xứ Quảng.”           
Thầy Lê Mậu Tâm là người giản dị, cởi mở, chân thật và độ lượng, với nụ cười hiền hòa. Bài giảng của Thầy rất dễ hiểu, có hệ thống. Mình có kỷ niệm rất đáng nhớ với Thầy. Năm Đệ Nhất C, mình chỉ học (dự thính) duy nhất các giờ Triết của Thầy. Mình nghỉ học ở trường, là vì nhiều lý do sâu xa, chứ không phải chỉ vì “buồn tình” đâu Đức ạ. Năm Đệ Nhất C đó, là năm rất cô đơn của đời mình – vì mình đã tự quyết định nghỉ học, tuy rất nhớ trường, nhớ lớp. 
Sau này, khi còn là sinh viên Triết ở Đại học Văn khoa Huế, mình đã có dịp làm “giáo sư,” mặc áo veston chỉnh tề lên lớp thay cho Thầy vài tháng – ở một lớp Đệ Nhất C nào đó. Khoảng thời gian đó, hình như sức khỏe Thầy không được tốt. 
Đọc cuốn sách của Đức, mình biết thêm quãng đời của Thầy sau năm 1972,  và quãng đời gian truân ở Đạ Tẻ trước khi Thầy rời cõi tạm: trải qua một cuộc bể dâu/Những điều trông thấy mà đớn lòng!
Nhân đây, chúng mình hãy thắp một nén tâm hương, để tưởng nhớ hương linh của cô Nguyễn Thị Nhã, thầy Trần Thương Bá, và thầy Lê Mậu Tâm, nhé Đức. Cầu mong cô Nhã và hai Thầy đang ở trong một cảnh giới bình an nào đó. 
Còn thầy Hội, thì mình không rõ hiện nay Thầy đang ở đâu... Thầy có còn trên đất nước Việt Nam? Thầy có còn ở trần gian này, hay đã đi về một cảnh giới nào khác? Đã quá lâu, mình không có tin tức nào về Thầy. Thầy là một khuôn mặt hết sức “độc đáo.” Nhờ cuốn sách của Đức, mà mình mới nhớ lại chuyện “bắn hoa hồng muộn,” một kỷ niệm rất thú vị.  Và nhiều chi tiết khác, xung quanh con người và phong cách giảng dạy của Thầy. 
Trong số 7 thầy cô mà Đức nói đến, thì chỉ còn cô Thanh và thầy Châm là vẫn còn lưu lại cõi tạm này. 
Thuở ấy, mình không học với thầy Châm ở lớp Đệ Nhất C, nên đã bỏ mất rất nhiều kỷ niệm mà Đức đã có. Không ai giảng cho mình những điều thâm thúy trong các bài thơ, bài văn trong sách giáo khoa La vie en Amérique. Những cái đó, mình đều phải tự học. 
Mới đây, nhờ đọc cuốn sách HOÀI NIỆM THẦY CÔ GIÁO của Đức, và bài viết của Thầy Châm về cuốn sách đó,  mình mới biết Thầy là một người có kiến thức uyên thâm, một tâm hồn sâu lắng. Mình đã viết về một số thầy cô, nhưng không có bài nào viết về Thầy. Bởi vì, cái năm Đệ Nhất C ấy, mình đã không được học với Thầy, do vậy, không rõ lắm về Thầy. Hôm rồi, nói chuyện với Thầy một lát qua điện thoại, mình rất cảm động, không ngờ rằng Thầy đã âm thầm dành cho mình một tình cảm ưu ái. Xin gửi đến Thầy lời cảm tạ. Hình như Thầy đã ở khoảng tuổi 80. Rất mong có ngày được hàn huyên với Thầy. 
Riêng cô Thanh, thì mình khó mà quên Cô được – bởi vì thuở đó, Cô trẻ đẹp, dịu hiền và nói tiếng Pháp rất hay. Ngày ấy, mình vẫn thường thấy Cô đi qua con đường làng Thạch Hãn, những sáng Chúa nhật, Cô đi lễ nhà thờ. 
Về câu chuyện  “vớ vẩn” xung quanh “je t’aime,” – mà Quang và Đức hay nhắc lại – thì thú thật, mình không còn nhớ gì. Nhưng quả thật, đó là một kỷ niệm rất thú vị của thời áo trắng. Mới đây, khi dịch Life of Tolstoy (Đời Tolstoy) của Romain Rolland – qua bản Anh ngữ của Bernard Miall – mình có đối chiếu với nguyên tác Vie de Tolstoi, tiếng Pháp. Với khả năng tiếng Pháp sinh ngữ 2, mà cơ bản vẫn hiểu được nguyên tác – thì một phần lớn cũng nhờ cô Thanh trẻ đẹp dịu hiền của chúng ta ngày ấy!
Lần mình về Saigon chữa bệnh, chưa tiện đến thăm Cô, nhưng Cô đã nhiều lần gọi điện thăm mình. Qua giọng nói của Cô, mình cảm nhận một tình cảm thân thương khó lòng diễn tả. Xin cảm tạ tấm lòng trìu mến của cô. 
Bây giờ tuy đã ở tuổi “xưa nay hiếm” rồi, nhưng mỗi lần hồi tưởng lại, vẫn thấy như thể mình được hóa thân trở lại thành cậu bé của những ngày thơ ấu đó.
Có một cô từng là nữ sinh trường Nguyễn Hoàng, tên là Nguyễn Thị Thu, được biết đến như là “ca sỹ Thu Vàng.” Mới đây, mình đã nghe cô hát NHỮNG NGÀY THƠ MỘNG của Hoàng Thi Thơ.  “Tìm đâu những ngày thơ ấu qua? / Tìm đâu những ngày xinh như mộng?/ Tìm đâu những ngày thơ? / Tìm đâu những chiều mơ?/ Tìm đâu, biết tìm đâu, đâu giờ?” 
Bài hát ấy, mỗi lần nghe lại, đều khiến tâm hồn mình xúc động.  Những ngày thơ mộng ấy, đã qua đi theo thời gian, nhưng dư âm dường như vẫn ngân vang hoài trong ký ức.
Ngày ấy, có Nguyễn Hoàng, có Quảng Trị. Có dòng sông Thạch Hãn, có những con đường Quang Trung, Trần Cao Vân, Trần Hưng Đạo, Gia Long... Có những người thân, có thầy cô và bạn hữu. Có những “sợi tơ tình” giăng mắc, mỏng như tơ, mơ hồ như mây như khói, nhưng cũng đẹp lung linh như những hạt sương mai. 
Mình vẫn thầm tri ân tất cả những gì đã góp phần làm nên cái tuổi thơ êm ái đó của mình. 
Thời gian là một dòng sông không trở lại. “There is a river/ A river of no Return”– như ca từ một khúc hát mà thầy Lê Văn Sét đã có lần hát cho chúng mình nghe. Mặc dầu vậy, cơ hồ như dòng sông ấy vẫn thường trở lại trong hồi ức, trong những cuốn sách như HOÀI NIỆM THẦY CÔ GIÁO của Đức, có phải thế không?

                                                                        Thân mến!
                                                                       Đỗ Tư Nghĩa

READ MORE - THƯ ĐỖ TƯ NGHĨA GỬI ĐOÀN ĐỨC, BẠN ĐỒNG MÔN TRUNG HỌC NGUYỄN HOÀNG 1960-1967

Saturday, August 6, 2016

QUI NHƠN VÀ CHƯƠNG - Thư của nhà thơ Yến Lan


 Cô Lâm Bích Thủy - ái nữ của nhà thơ Yến Lan (trong nhóm thơ tiền chiến Bàn Thành Tứ Hữu) vừa gửi đến VNQT một bài viết của phụ thân cô được viết từ năm 1936. Xin trân trọng giới thiệu cùng quy bạn đọc.


      
                   Nhà thơ Yến Lan lúc còn trẻ



QUI NHƠN VÀ CHƯƠNG 

Nàng Lê,
Lâu lắm rồi, vắng hẳn thư cho Lê. Nhưng viết cái gì về Hà Nội khi người ta “hàng tỉnh” thế này. Và nắng ở Miền Nam, thiêu đốt như mấy hôm gần đây, thì thật không khỏe đâu mà nghĩ đến bạn.
Lê ở Hà Nội sướng nhỉ?  Sao vẫn buồn, chắc là cái “buồn sớm mai” như anh Kiều đã nói. Yến lại cứ tin rằng, bất kỳ những người nào chết ở Hà thành đều chết vì vui cả đấy chứ! Như đêm hôm 20 vừa rồi, đêm du dương, đêm thơ mộng ở nhà hát Hà thành thì thật những kẻ mường mán như Yến chả bao giờ biết được. Ở đây? Ở đây ấy à? trừ có mấy anh thi sĩ tối đến bắc ghế ra sân nhìn lên trời nghe “muôn sao bật nổi lên âm điệu” hay “Nhạc sao rời rạc trong tay đệm đàn” còn thì, bọn mình
   Qui Nhơn địa tịch vô âm nhạc
   Chung tuế bất văn ti trúc thanh.
Chỉ có đêm 21 này, ở Cerele Qui Nhơn có một cuộc diễn thuyết. Anh Tôn Thất Vỹ, nói về chữ hiếu trong tiểu thuyết hiện đại. Khởi đầu anh phác qua cái nguyên tắc của gia đình cũ, và lịch trình tiến hóa của nó, lịch trình tiến hóa đang trải qua những bước “nhảy”, từ lúc “sóng văn minh Âu-Mỹ đến đập vào thành trì của “Khổng giáo bền vững tự muôn xưa”. Và anh vào đề, bằng cách đưa ra, lần lượt những nạn nhân của chữ Hiếu, trong các tiểu thuyết gần đây. Tố Tâm ở Tố Tâm, Lộc, Mai ở Nửa chừng xuân, Loan trong Đoạn tuyệt (theo tiếng gọi của ái tình) Linh ở Một người (theo tiếng gọi của lý tưởng), và sau cùng , Vạn Tóc Mai ở Giông tố (Vạn Tóc Mai! ồ Vạn Tóc Mai, chỉ theo cái gì thì ai còn biết được.) Kết luận là sự giải phóng cho thanh niên ra khỏi ảnh gia đình và chữ Hiếu nên chỉ có, (nếu người ta khỏi muốn luôn luôn thấy từng đoàn con bất hiếu) cái nghĩa : Yêu và kính trọng. Câu kết luận khéo léo quá, đến nỗi có nhiều ông cụ đến đó định công kích, đều lững thững ra về.
Giữa lúc trong làng báo người ta (Lan Khai, Duy Khiêm, nhóm Responsable, nhóm Ngày Mới) đang đua nhau nói đến gia đình, bài diễn thuyết trên đến rất phải lúc. Đã thế, nói nóng sốt quá. Số thính giả có đến 500 và cũng lần đầu tiên những thiếu nữ diễm kiều đến dự thính.

Nhưng có một điều là một phần không ít những thính giả ở Qui Nhơn còn “hạ cấp quá” Họ vỗ tay cái gì buồn cười thôi, cái gì hóm hỉnh thôi, nếu cho họ nghe một cái gì cao cao một chút thì họ thề không dám đi nghe lần thứ hai. Và phỏng nàng Lê vào đây, thấy đoạn nào hay, Nàng Lê vỗ tay một mình, họ sẽ “ê”, sẽ “Huýt còi” sẽ “cười chế nhạo”. Như đêm vừa rồi, có mấy người bị thế. Ôi ngu vậy thay! Và đáng thương hại vậy thay! Và mất dạy cũng không ít đấy chứ.
Vừa rồi có cùng Lê Mộng Thu và Chế Lan Viên đến thăm anh Hàn Mặc Tử. Anh vẫn thế, nghĩa là buồn, và ngày nào cũng ăn ngũ, cầu nguyện, khóc, ngâm thơ. Nhưng anh vẫn hy vọng ở Chúa và lúc nào anh cũng thấy rằng một ngày kia anh cùng với tất cả”xuân như ý ở trong hồn và ở trong lòng” trở lại giữa đời..
Lê phải thấy tất cả cái vui mừng của anh, khi thấy bóng người quen, nghe tất cả sôi nổi du dương trong lúc anh ngâm những vần thơ phong tỏa niềm đạo hạnh, thì Lê mới có những cảm mà Yến có, mỗi lúc đến thăm anh.
Và cho Lê một tin mừng này nhé. Đến cuối Julliet, Yến sẽ gửi cho Lê một quyển “Thơ muôn đời” tập phê bình của nhà thơ yêu quí Hàn Mặc Tử yêu quí của chúng ta đã viết ra những ngày cô quạnh, và do một ông bạn thân ở Nha Trang đứng ra phát hành.

                                                                        Yến Lan
                                                              TTTN số 33/1.6.1936

READ MORE - QUI NHƠN VÀ CHƯƠNG - Thư của nhà thơ Yến Lan