Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Lê Thí. Show all posts
Showing posts with label Lê Thí. Show all posts

Sunday, December 18, 2016

ÔNG CỬ LÀNG PHONG THỬ - Lê Thí

Khu lưu niệm Phan Châu Trinh ở Sài Gòn nằm trên đường Phan Thúc Duyện. Ai cũng biết Phan Châu Trinh nhưng ít người biết một đồng chí thân tín của ông. Bài viết tặng một học trò cũ đã có lần hỏi tôi: "Thầy ơi, Phan Thúc Duyện là ai?" Bài đăng trên QNCT ngày 16/12 vừa rồi.



Phan Thúc Duyện (1873-1944).
Ảnh từ baoquangnam.vn


ÔNG CỬ LÀNG PHONG THỬ

Phan Thúc Duyện* là nhân vật quan trọng hàng đầu của Phong trào Duy tân. Ông“đứng mũi chịu sào” ở lãnh vực kinh tế-thương mãi, lãnh vực khó khăn nhất của phong trào. Điều đáng buồn là ông rất“nổi bật” trong cái nhìn của đồng nhân, đồng chí và cả của kẻ thù nhưng lại “mờ nhạt” trong mắt các nhà nghiên cứu.

Vị cử nhân của khoa thi đặc biệt

       Cử Diện hay cử Phong Thử là tên dân gian gọi Cử nhân Phan Thúc Duyện. Gọi là cử Phong Thử vì ông quê làng Phong Thử, nay là xã Điện Thọ, thị xã Điện Bàn. Còn cử Diện là do giọng Quảng thường đọc vần uyên thành vần iên. Quốc triều Hương khoa lục của Cao Xuân Dục lại ghi tên ông là Phan Sung (theo nhiều nhà nghiên cứu thì do chữ Duyện và chữ Sung có tự dạng giống nhau).

       Phan Thúc Duyện hiệu Phong Thử, tự My Sanh, sinh năm 1873 , trong một gia đình nông dân, đông anh em. Ông là học trò xuất sắc của trường Đốc Quảng Nam cùng với Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Đình Hiến…Ông đỗ vị trí thứ 6 trong khoa thi Hương năm 1900, một khoa thi đặc biệt đối với sĩ tử Quảng Nam. Khoa này Quảng Nam có 14 người đỗ trong số 42 người của cả trường thi, lại chiếm luôn 4 vị thứ đầu bảng. Đây là khoa thi đóng góp các danh hiệu cao quý như “tứ tuyệt”, “tứ hổ”, “tứ hùng” cho Quảng Nam.

       Nhưng đặc biệt hơn, rất nhiều người đỗ khoa này sau đó được Quốc triều Hương khoa lục ghi thêm chữ “can tội” phía sau tên vì đã “cả gan” chống lại chế độ thực dân phong kiến thối nát (đối với dân tộc, ngày ấy tội càng nặng, thì công càng lớn) như Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Lê Bá Trinh, Lê Lượng…

       Thi đỗ xong, ông không chịu ra làm quan mà ở nhà cùng các đồng hương thực hiện công cuộc duy tân với mục tiêu “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”. Không những là người sáng lập, tham gia ngay từ đầu Phan Thúc Duyện còn là một lãnh tụ quan trọng của phong trào, đảm nhận lãnh vực thương mại, lãnh vực khó khăn và mới mẽ, nhất là đối với các nhà nho.

       Năm 1908, nhân vụ kháng thuế, Phan Thúc Duyện bị kêu cùng mức án và cùng bị đày Côn Đảo một lượt với Huỳnh Thúc Kháng “…Nhưng xét Phan Châu Trinh đã vâng án nghị xử tử, phát đi Côn Lôn; Huỳnh Thúc Kháng, Phan Thúc Diện, xin cùng Phan Châu Trinh đồng định tội xử tử, phát án Côn Lôn “ ( Nguyễn Thế Anh- Phong trào kháng thuế ở Miền Trung qua các châu bản triều Duy Tân, Nxb Văn Học, 2008, tr 57). Đến năm 1919, nhờ con trai vốn là người có quốc tịch Pháp khiếu nại, ông mới được trả tự do nhưng bị chỉ định cư trú ở Quảng Bình để dễ kiểm soát. Tai đây ông đã xây dựng một trang trại theo mô hình ‘vườn,ao, chuồng” như một thử nghiệm cho sản xuất nông nghiệp kiểu mới. Trang trại của Phan Thúc Duyện sau này được người dân Quảng Bình gọi là “vùng đất Quảng Nam”. Năm 1930, ông về quê sau đó (1932) vào Phan Thiết xây dựng “nhàn điền” nhưng có lẽ để liên lạc với Công ty Liên Thành, một tổ chức Duy tân ở phía Nam. Năm 1935, ông về lại Quảng Nam cộng tác với một số nhà thầu để làm đường sắt, xây ga Phước Cang (Thăng Bình). Năm 1937, ông về lại Phong Thử tham gia xây dựng, qui hoạch lại quê hương theo tinh thần xây dựng nông thôn mới của phong trào Duy tân. Ông vận động xây dựng sân vận động, chợ, nhà hát, đường sá, qui hoạch lại nhà cửa, lập hương ước…góp phần biến quê hương ông trở thành một vùng quê trù phú, văn minh hàng đầu trong tỉnh như tinh thần mà các đồng chí của ông đã mơ ước từ những ngày trứng nước của phong trào Duy tân.

       Ông mất ngày 3/10/1944, thọ 72 tuổi. Mộ ông hiện nay được qui hoạch về nghĩa trang thị xã Điện Bàn.

       Nhà Duy tân thực hành

       Phan Thúc Duyện được xem là người có khả năng đa diện nhất của phong trào Duy tân, cân bằng giữa lí thuyết và hành động, có tính thực tiễn rất cao. Ông lãnh đạo phong trào trên cả ba mặt trận: Nông hội, thương hội và giáo dục.

       Phan Thúc Duyện là đồng tác giả của các Nông hội trong tỉnh như Cờ Vĩ, Yến Nê, Bửu Sơn , Mĩ Sơn … với mục đích đổi mới trong sản xuất nông nghiệp, đưa nông nghiệp đi lên sản xuất lớn, trở thành một ngành sản xuất hàng hóa, gắn liền với các thương hội.

       Phan Thúc Duyện là người thành lập và điều hành Hợp thương Diên Phong ở Phong Thử vào thời kì 1906-1907. Đây là tổ chức kinh doanh lớn nhất, hiệu quả nhất và có tiếng tăm nhất thể hiện tư tưởng, tinh thần của phong trào Duy tân. “… Hợp thương Phong Thử biến thành đầu não cho các thương cuộc trong tỉnh….. Có thể nói đây là thương cuộc có qui củ bậc nhất của nước ta thời ấy...” (Nguyễn Văn Xuân, Phong trào Duy Tân, Nxb Lá Bối, 1970, trang 188). Năm 1906, khi xây dựng Hợp thương Hội An, các lãnh tụ phong trào cũng cử Phan Thúc Duyện điều hành cơ sở này.

Bên cạnh Hội thương và Nông Hội, Phan Thúc Duyện cũng là một thành viên quan trọng trong lãnh vực giáo dục của phong trào Duy tân. Ông là người sáng lập, quản lí và giảng dạy ở trường Diên Phong, một trong hai trường lớn nhất của phong trào (ở Phong Thử cạnh Hợp thương Diên Phong). Trường Diên Phong “gây một tiếng vang rộng lớn hơn cả vì trước hết nó không phải là của chính quyền mà là của tư nhân. Nhà trường tự định liệu các sách học, các môn hát và thể dục… Diên Phong gồm hai trường, một ngôi ở ngay Hội thương… ngôi thứ hai ở chùa (gần chợ Phong Thử). Tổng số học sinh cả 2 ban cũng lên tới hơn 200 người… Ngoài việc giảng dạy trường thường tổ chức các cuộc diễn thuyết có hội thảo để các bậc khoa cử tới dự”.(Nguyễn Văn Xuân, Sđd, tr 214)

Sự đánh giá thiếu công bằng

Người Pháp đã qui cho Phan Thúc Duyện rất nhiều tội nào là mặc âu phục vào “quậy” ở Văn thánh Điện Bàn, lập thương hội, tham gia diễn thuyết, viết thư cho Huỳnh Thúc Kháng với lời lẽ “cường quyền diện tự”, liên lạc với Trần Quý Cáp và hoan hô cuộc biểu tình chống thuế… nên kết án “trảm giam hậu” ngang mức án với Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng.

       Lúc sinh thời nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Xuân hay than phiền việc các nhà nghiên cứu xếp Phan Thúc Duyện sau bộ ba Duy tân Quảng Nam (Phan-Trần-Huỳnh). Ông cho đó là không công bằng, thua cả người Pháp. Lý giải việc này, ông đưa ra mấy lý do: “Giữa xã hội trọng hư danh, Phan Thúc Duyện không có bằng đại khoa là một thiệt thòi rồi. Ông tuy làm thơ hay song không phải là thi sĩ lớn, lại là một thiệt thòi thứ hai đối với sĩ phu thích ngâm nga. Ông lại đăng ký vào lĩnh vực mà trí thức thời ấy hoặc không tôn trọng là:kinh tế, thương mãi…” Và cao hơn là do: “Các tác giả Việt Nam thường ít chịu tra cứu hoặc có tra cứu cũng chỉ bám chặt vào mấy đại danh hay hư danh mà không đi vào thực chất của vấn đề”.(Phan Thúc Duyện trong phong trào Duy tân Việt Nam, Nxb Văn Hóa, 1997, tr 184).

       Nguyễn Văn Xuân viết: “Bệnh học khoa cử in sâu vào tâm não của sĩ phu và cả quần chúng cho nên dầu công lao của Phan Thúc Duyện cực kỳ lớn lao, đứng vào hàng tiền đạo của phong trào, nếu ở nước khác thì đã tượng đồng bia đá, không khác gì Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, thì ông trở nên mờ nhạt. Ông chỉ nổi bật trong hàng ngủ đồng nhân đồng chí và với cả kẻ thù:đế quốc Pháp và Nam triều” (sđd, trang 185).

       Có lẽ đã đến lúc có sự đánh giá công bằng và hợp lý đối với ông!
                                                             LÊ THÍ



READ MORE - ÔNG CỬ LÀNG PHONG THỬ - Lê Thí

Sunday, June 26, 2016

CÒN ĐÓ ... PHẠM DUY! - Lê Thí


Tác giả Lê Thí

Lê Thí

CÒN ĐÓ ... PHẠM DUY!


Khoảng năm 1971, một người bạn học, sau khi thi hỏng tú tài phần II, anh đã trở thành một sĩ quan trong quân đội Sài Gòn. Một lần hành quân anh nhặt được một quyển sổ tay của một người lính Bắc Việt. Trong quyển sổ tay có chép rất nhiều thơ cũ, mới. Tình cờ, tôi được người bạn cho đọc cuốn sổ tay đó, trong có một bài thơ nói về Phạm Duy được ghi ở dưới là của XYZ. Bài thơ làm tôi thắc mắc mãi cho đến tận bây giờ không biết ai là tác giả thực. Một vài tác giả kí bút danh XYZ mà tôi biết, không thể viết bài này. Tôi đã đem hỏi một số anh chị dạy văn hoặc nghiên cứu về thơ văn. Nhưng tất cả đều chưa có câu trả lời cụ thể.

Đã quá lâu, tôi không còn nhớ đầy đủ và thật chính xác bài thơ. Xin chép lại những gì còn nhớ để gọi là... hiểu thêm về Phạm Duy và may ra có thể biết XYZ là ai. Bài thơ có những câu như sau:
....
...
Chúng tôi biết bên kia
Có người vợ hiền,
Có mái nhà anh bên đường phố nhỏ
Rũ cành hoa ti gôn
Nhưng nếu chỉ là có thế
Anh bỏ mà đi sao đành
Anh về chi bên nớ
Với một bầy quĩ dữ
Bọn lính Lê Dương
Và bầy gái chứa
Còn ai nghe tiếng hát của anh
Anh bỏ mà đi sao đành,
Anh về chi bên nớ
Ở phía bên mình,
Chia nhau miếng cơm độn bắp
Nhường nhau manh áo mùa đông
Nhưng chúng ta giàu một tình thương
Có bà mẹ hiền hiền,
Có đàn cháu ngoại.
Con bà đi giữ nước những ngày qua
...
Chiều nay,
Đoàn cán bộ áo mong manh
Dằng dặc Trường Sơn, đường chiều mưa đổ
Chúng tôi hát “Bà Mẹ Gio Linh”,
Nước mắt ngắn dài từng giọt long lanh
Bà Mẹ già cầm tay tôi hỏi:
Ai làm bài ni rứa các con?
Nói làm sao cho đành,
Chúng tôi nhìn nhau lời nghẹn
...
Anh có biết không anh!


Thế hệ chúng tôi, những người sinh ra vào những năm cuối thập niên 40, đầu thập niên 50 của thế kỉ XX, đã từng đọc Phạm Duy đã chết như thế nào của Nguyễn Trọng Văn, Phạm Duy, còn đó nỗi buồn của Tạ Tỵ, đã từng ném cà chua lên sân khấu khi nghe Phạm Duy hát tục ca, khi thấy Phạm Duy mặc bộ đồ đen “xây dựng nông thôn” hát những ca khúc mang tính tuyên truyền (không phải vì quan điểm chính trị mà vì cảm thấy lòng tôn trọng dành cho một nghệ sĩ lớn bị tổn thương, chúng tôi mong muốn ông đứng ở một vị trí cao sang hơn- phía bên trên cuộc chiến. Xin thưa thêm đó là suy nghĩ của một thời, nay thì đã khác) nhưng cũng từng đã thổn thức khi nghe Bà Mẹ quê, Tiếng sáo thiên thai, Tình ca, Ngày trở về... của ông, nuốt từng lời qua ca khúc Trả lại em yêu, Ngày xưa Hoàng thị, Đưa em tìm động hoa vàng, Gọi em là đóa hoa sầu... Chúng tôi đã từng chia sẻ sâu sắc tâm thức của ông về Mẹ (Mẹ Việt Nam), về Đất Nước (Việt Nam, Việt Nam: Việt Nam, Việt Nam nghe từ vào đời... Việt Nam không đòi xương máu, Việt Nam kêu gọi thương nhau.. Việt Nam hai câu nói sau cùng khi lìa đời...).Chúng tôi cũng đã từng lãng mạn nghĩ giá bản nhạc này của ông được chọn làm Quốc ca thì hay biết mấy, hòa giải biết mấy!

Chúng tôi đã từng biết, từng chứng kiến chuyện ông “ra đi” và “trở về”. Đối với Phạm Duy một số trong chúng tôi đã từng hờn giận, yêu thương... yêu thương, hờn giận ông, nhưng không xuất phát từ một thiên kiến chính trị nào mà xuất phát từ sự mách bảo của chính trái tim mình dành cho người nghệ sĩ lớn.

Viết lại bài thơ trên không nhằm mục đích khen chê ông, mà chỉ là có một cái cớ để nói về ông. Một số chúng tôi chưa bao giờ dám khen chê (chỉ đồng tình hay không đồng tình với ông mà thôi) dù lúc còn sống huống gì lúc ông vừa mất. Mặc khác, thời gian cũng đã có những “lắng đọng” cần thiết để có những cái nhìn “bình tỉnh” hơn. Chỉ muốn nói một điều Phạm Duy luôn được “thương yêu”, “kính trọng” dù đồng tình hay không đồng tình với việc ông làm.


Phạm Duy đã ra đi vào cõi Vĩnh Hằng vào lúc 14 giờ 30 ngày 27 tháng 1 năm 2013. Đúng ra phải nói ông đã trở về, chấp nhận thực hiện cuộc trở về “Cuối Cùng”. Bỏ lại sau lưng mọi “vinh quang”, mọi “khen chê” phù phiếm.(Nay thì Kiều phần 2 và Hồi Ký 4 đã hoàn thành, lời hứa đã đúng hẹn và đây là lúc tôi được buông rơi tất cả . Buông bút, treo đàn, hạ màn nhung, cởi áo tuồng, chùi phấn son, tắt đèn, rời sân khấu... Tôi buông rơi hết, không có nghĩa là tôi chối từ những gì tôi đã làm ra trong dĩ vãng. Tôi vẫn chịu trách nhiệm về từng soạn phẩm của mình, nhưng tôi không còn đứng giữa chợ đời để nhận lời khen hay tiếng chê đến từ bất cứ ai, từ bất cứ đâu, cho bất cứ loại nhạc gì!
Cầm bằng cho gió cuốn bay đi, tất cả!
Bây giờ tôi mới thực sự là... vui một mình tôi đi! (Trích Hồi Ký 4 của Phạm Duy).

Nói vinh quang, khen chê phù phiếm vì ông đã sống “cuộc đời của ông’, cũng như mỗi chúng ta rồi phải chấp nhận sống “cuộc sống của mình”. Nhưng có một điều, dù khen hay chê, đối với Phạm Duy người ta luôn coi ông là một “nghệ sĩ”, luôn dành cho ông sự bao dung và quý trọng. Yêu một người nghệ sĩ ta chấp nhận, chia sẻ những “góc khuất” trong cuộc đời của họ. Chúng ta, nguyện cầu cho người nghệ sĩ ấy ra đi thanh thản, an nghỉ thanh thản và mãi mãi thanh thản nơi cõi Vô Cùng.



LÊ THÍ
READ MORE - CÒN ĐÓ ... PHẠM DUY! - Lê Thí

Monday, June 13, 2016

HƯƠNG CAU MÙA CŨ - Tản mạn của Lê Thí

Tác giả Lê Thí
  
HƯƠNG CAU MÙA CŨ
Tản mạn của Lê Thí

Anh bây giờ già khú đê khú điếc,
Làm sao về thương tiếc … một mùa cau!

Những làng quê Quảng Nam nhất là những làng trung du thì chuối, tre và cau là những loại cây biểu trưng. Tre được trồng thành hàng rào bao quanh vườn, vừa tạo cảnh quan vừà để bảo vệ. Còn trong vườn lại theo qui luật “chuối sau, cau trước”.

Đối với bọn trẻ chúng tôi thời nhỏ, cây chuối “bình dân”, cây tre quá“gần gũi” nên ít được chú ý. Riêng cây cau không những vừa rất “gần gũi” lại vừa rất “lạ lùng” vì thế đã tạo nhiều ấn tượng sau này, nhất là về tuổi thơ và quê nhà.

Những vật dụng “gần gũi”.

Cây cau được người dân quê yếu mến và gần gũi vì sự đa dụng của nó. Không có bộ phận nào của cây cau là không trở thành vật dụng trong nhà.

Thân cau già xẻ dọc được dùng làm rui, mè lợp nhà rất đẹp và chắc vì thẳng, cứng và không bị mối ăn, nhất là sau khi ngâm một thời gian dưới bùn. Đem bổ dọc rồi đục bỏ lớp ruột mềm bên trong thân cây sẽ là máng xối, ống dẫn nước vô cùng tiện lợi. Nhiều người còn dùng thân cau để vót thành đũa bếp, đũa con hay làm giàn, hàng rào… vừa chắc vừa đẹp.

Bẹ cau, phần bọc quanh buồng hoa cau khi mới ra lại là thứ để gói cơm, gói xôi rất tuyệt vời vì vừa giữ ẩm tốt lại hình như vẫn còn thoang thoảng mùi hoa cau làm cho món ăn thêm ý vị.

Tàu cau tước bỏ phần lá, phần xương được phơi khô bó lại thành chổi cau. Loại chổi mới để quét trong nhà, khi đã “cùn” được đưa ra quét sân, quét ngõ.Tiếng chổi cau rào rào trên sân gạch là thứ âm thanh gợi nhớ quê nhà nhiều nhất có lẽ chỉ sau tiếng võng đưa kẽo kẹt.

Mo cau được sử dụng vào nhiều việc, từ dụng cụ để nhắc nồi cơm, trả cá… đang sôi trên bếp xuống cho khỏi nóng, cho đến cái gàu múc nước, cái “mo đài” thay cho gáo, bát uống nước. Nước chè tươi uống bằng cái mo “mo đài” thì không thứ nước giải khát nào qua mặt được. Cái quạt mo để đuổi ruồi, muỗi, quạt cho mát, ngày trước còn đắc dụng hơn cả quạt máy, điều hòa ngày nay. Nhà nào cũng có mươi chiếc, không những cho mỗi thành viên trong nhà mà còn để giành cho khách. Quạt mo vừa mát lại vừa bền không như quạt giấy, sang nhưng chỉ “ba bảy hai mốt”. Chính vì vậy mới có chuyện “thằng bờm có cái quạt mo”, “quân sư quạt mo”. Mo cau còn được dùng để làm dép rất “thân thiện với môi trường” mang trong nhà, ra vườn theo mùa cho đỡ nóng, lạnh đôi chân.

Ngày trước chưa có kem đánh răng và bàn chải. Xác cau là loại bàn chải “dùng một lần” góp phần vào việc tạo nên một hàm răng trắng sạch, làm nên cái duyên của trai, gái. Miếng trầu cau ăn hàng ngày chính là “nước súc miệng Listernin” có công dụng kháng khuẩn, thơm miệng!

Loại cây đầy… dược tính

Quê tôi ngày trước cau là cây đầy dược tính, chữa được nhiều loại bệnh, từ những bệnh thông thường cho đến những bệnh rất… thời sự!

Nếu có người bị đứt tay chân, chảy máu, người ta thường cạo một ít mốc cau (rêu cau, phấn cau) đem rang lên rồi trộn với bồ hóng rịt vào vết thương. Có người lại sử dụng trái cau già giả thật mịn rắc vào, lấy vải rịt lại. Bảo đảm hôm sau mở ra vết thương hoàn toàn lành miệng.

Trẻ em quê tôi không bao giờ tốn một viên thuốc xổ sán. Người ta lấy hột cau già sắc lấy nước cho uống. Không loại sán nào chịu nổi. Có lẽ nhờ vậy mà dù cơm thì “bữa sắn, bữa khoai” nhưng đứa nào cũng khỏe mạnh!

Lá cau sắc chung với võ cây núc nác là thuốc trị bệnh co giật cho trẻ em rất thần diệu. Chỉ cần uống vài ba thang là yên trí không bao giờ tái phát không cần gì thuốc hạ sốt, chống co giật!

Xác cau khô (phần võ của trái cau) được các thầy thuốc đông y gọi là phúc đại bì, vị thuốc rất hay cho những người bị phù thủng. 

Các bộ phận của cây cau còn chữa được nhiều bệnh khác như kiết lỵ, mụn nhọt, ăn không tiêu, đầy bụng… Bà nội tôi từng được mấy ông chú của tôi phong làm bác sĩ … cau vì bệnh gì cũng chữa bằng … cau!

Đặc biệt rễ cau, loại trồi lên mặt đất, nhất là những rễ ở phía mặt trời mọc lại là thuốc đặc dụng cho đàn ông… mà thiếu bản lĩnh đàn ông! Lúc nhỏ một lần tôi thấy ông bác thứ hai đến gặp cha tôi với vẻ mặt hết sức căng thẳng. Thấy hai người thầm thì với nhau điều gì đó có vẻ rất …bí mật, tôi lân la đến gần để nghe. Bị cha tôi đuổi đi nơi khác. Sau đó nghe cha tôi dặn: Rễ cau, rễ cau… loại nổi lên trên mặt đất… nhớ là về phía mặt trời mọc. Một lúc vẻ mặt bác tôi tươi hẳn lên. Hai anh em nhìn nhau cười ha hả. Sau này lớn lên tình cờ đọc sách tôi mới biết được chuyện bí mật của hai người ngày ấy nên đem kể cho mấy ông anh nghe. Cách đây mấy năm trong lần giỗ đầu của bác, mấy anh tôi đem chuyện này hỏi cha. Ông già đánh trống lảng bằng cách đập nhẹ cái quạt mo xuống bộ phản ngựa mấy cái rồi bảo: “Hơi mô mà nghe cái thằng tào lao nớ”!

Và những điều… lạ lẫm

Đối với chúng tôi, hương hoa cau chính là mùi hương của tuổi thơ và quá khứ. Hoa cau thoang thoảng, êm dịu chứ không ngạt ngào như hoa sầu đông hay hoa sữa. Vì ở trên cao nên hương hoa cau thường thoắt có thoắt không theo gió. Đôi khi đứng dưới gốc cau muốn tìm một chút hương lại không có nhưng ra xa hàng trăm mét, gặp một cơn gió mùi hoa cau lại xuất hiện, thoáng một cái chưa kịp thưởng thức đã bay mất.

Ngày nhỏ những buổi chiều bọn trẻ chúng tôi thường tụ tập ngồi dựa lưng vào gốc cau trong vườn, xoay theo chiều của nắng xiên khoai đọc say sưa mấy cuốn sách của Tự lực văn đoàn, đến độ quên cả trời nhá nhen và tiếng mẹ gọi về ăn cơm tối!

Còn vào những đêm trăng sáng, nửa đêm giật mình thức giấc vì âm thanh của gió nồm làm ngã cái nong phơi lúa xuống nền gạch. Nhìn ra ngoài sân, những bóng cau đang nhảy múa. Tôi giật mình tưởng như những cây cau cũng có linh hồn, đang đùa giỡn cùng ánh trăng!

Ngày trước, lương duyên thường được bắt đầu chỉ bằng việc “bỏ một nhánh cau, liễn trầu” mà ngày nay gọi là lễ thăm nhà, chạm ngõ … rất phức tạp và tốn kém. Những nhánh cau, liễn trầu đơn sơ ngày đó lại có khả năng giữ cho bao mối tình bền chặt đến tận… răng long đầu bạc!

Ngày cha tôi đi học xa, ông bà nội tôi đã sai người làm trèo cây cau ở gần giếng “tước” một buồng cau và hái mấy liễn trầu trên giàn đến nhà ông bà ngoại tôi để làm lễ “bỏ trầu cau” cho con trai, để gọi là “rào một nhành gai” cho chắc ăn. Bà nội tôi kể, lúc hai gia đình đang bàn chuyện “trăm năm” trong nhà thì ngoài sân mẹ tôi và mấy chị em vẫn đang chơi trò kéo… mo cau. Sau này đối với anh em tôi, cây cau bên giếng bỗng trở nên vô cùng … thiêng liêng!

Cau là cây có giá trị nhiều mặt. Nhà nào vườn hẹp thì ít nhất cũng trồng mươi cây, làm chói cho giàn trầu, làm cảnh cho lối dẫn từ ngõ vào nhà và cung cấp đủ trầu cau cho gia đình dùng nhất là trong các dịp lễ tết, cúng giỗ. Nhà nhiều đất có thể trồng cả rẫy, hàng trăm cây để bán, chế biến. Cau là loại cây lâu năm, không tốn nhiều đất, không bỏ công chăm sóc, trồng một lần có thể thu hoạch cả đời, có khi đời cha trồng, đời con vẫn được hưởng, lại là mặt hàng giao lưu trên thị trường, phục vụ cho xuất khẩu nên rất "kinh tế". 

Chuyện kể, vợ nhà văn Nhất Linh nhờ chuyện buôn cau khô với những Hoa kiều ở Hội An đã tìm lại “cố xứ” cho chồng. Không “ngoa ngôn” tí nào khi nói chính hạt cau khô lại là cái “duyên” để vợ chồng Nhất Linh về an nghỉ ở Hội An vào năm 2001, mảnh đất mà tổ tiên ông, đã chọn làm nơi “Tường phát địa” năm xưa.

Hương mùa cũ

Mùa cau bắt đầu từ khi cau ra hoa, vào khoảng tháng 3-4. Khi hoa cau “rụng trắng sân nhà” là lúc chuyển qua mùa trái.Từ trái non chuyển qua trái dầy phải mất gần 4-5 tháng. Cau dầy là cau đã đến thì, ruột cứng hơn và nhất là trăn cau đã đầy (trăn cau là mầm của cây cau sau này). Khi cau bắt đầu “dầy” vào tháng 9, mùa thu hoạch bắt đầu. Thu hoạch cau gắn liền với việc “xé cau”. Xé cau thường dùng để chỉ việc trèo cây cau hái quả cau xuống để làm cau khô hoặc bán tươi thành từng buồng. Đó là, động tác dùng “dao xếp” cắt vào hai bên buồng cau chỗ dính vào thân, sau đó dùng sức tách buồng cau khỏi thân cây và đưa xuống đất. Để xé cau, người ta phải dùng một dây nài tréo lại thành hình số 8 để leo cau. Bẻ xong buồng cau người ta dùng dây thả xuống sau đó “san” qua cây khác. “San” là chuyền từ cây này sang cây khác. Đây là cả một nghệ thuật. San cau tuy nguy hiểm nhưng lại rất thú vị và chỉ những người thành thạo mới thực hiện được. Trước hết, họ chọn hướng gió và nhún người tạo trớn để cây cau nghiêng về phía cây mới. Đến khi có thể thì hai tay chụp vào thân cây mới, hai chân nhanh chống rời cây cũ bám vào cây mới” (Phạm Úc-Từ chân núi Đá Tịnh, Nxb Văn Học, 2015).

Cau hái xuống được đưa vào lò, dùng “dao cau” róc lớp vỏ xanh bên ngoài sau đó “bửa” ra, tách riêng phần vỏ trắng đem phơi làm “cau xác”. Ruột cau được bửa làm 2 hoặc 4 đem vào lò sấy. Lò sấy chỉ là những tấm ví (cót) quấn tròn có nia đậy ở trên để giữ hơi nóng. Dưới là lửa than, trấu đun …để sấy cho khô. Cau sấy bằng lửa thì mới thơm ngon.

Cuối tháng 10, mùa cau chấm dứt, những tấm cót, sịa sấy cau nằm im trên giàn chờ mùa cau sang năm. Hột cau khô và cau xác được phân loại vô bao tời chờ thương lái đến mua hoặc mang ra Hội An bán. Ngày trước sau mùa cau, bọn trẻ chúng tôi đứa nào cũng được một tấm áo ấm chuẩn bị một mùa đông giá rét. Mùa cau vì vậy là mùa của ấm cúng!

*
* *

Ngày nay đồ nhựa, đồ điện tử đã thổi phăng những vật dụng làm bằng cau. Cũng không còn những người con gái “ăn trầu cắn chỉ” như xưa. Cau mất dần vị thế, mùa cau không còn. Chỉ còn là những hàng cau cảnh để gợi nhớ một thời. Mỗi lần dong ruổi trên đường quê, chợt thấy những hàng cau đang soi bóng, bỗng nhớ đến não lòng mùi hoa cau thoang thoảng dịu nhẹ, tiếng chổi cau rào rào trên nền gạch, bóng cau nhãy múa trên sân vào những đêm trăng sáng; thèm được một lần trở về khu vườn cũ ngồi đọc sách Tự lực văn đoàn dưới gốc cau khi nắng xiên khoai đang kéo bóng chiều dần về phía xa phai như một chiều xa lắc xa lơ thời trẻ dại!

Tháng Tư-Mùa cau

Tháng Tư, hạ rập rình trước ngõ
Em có về vườn cũ nhớ hoa cau
Có thấy quyển sách Tự lực văn đoàn
Anh bỏ quên ngày tuổi nhỏ
Có bông cau rụng trên nền cỏ
Thoảng chút hương chợt có chợt không
Quyển sách cũ chắc đã nhòa nét chữ
Trang cuối cùng có còn giữ tên ai!
Thời gian trôi, trôi mất những mùa phai
Trôi luôn cả những tháng ngày còn lại
Nên gom mùa đông và cả Giêng Hai
Gửi theo gió những mùa cau thuở trước
Anh một đời nổi trôi theo con nước
Chút buồn lên chút sầu xuống trơ lòng
Anh bây giờ già khú đê khú điếc
Làm sao về thương tiếc một mùa cau!
Lê Thí
lethitp@gmail.com


READ MORE - HƯƠNG CAU MÙA CŨ - Tản mạn của Lê Thí

Thursday, April 23, 2015

NGƯỜI PHỤ NỮ HỌ TRƯƠNG VÀ NGÔI MỘ CHUNG TRÊN ĐỒI TỪ HIẾU - Lê Thí

Lăng mộ chung của Thái Phiên và Trần Cao Vân.
Ảnh từ art2all.net

Lê Thí
NGƯỜI PHỤ NỮ HỌ TRƯƠNG 
VÀ NGÔI MỘ CHUNG TRÊN ĐỒI TỪ HIẾU

Hai nhà cách mạng người Quảng tuy không sinh cùng năm nhưng lại cùng lý tưởng, cùng hy sinh một ngày cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và cùng được an nghỉ với nhau trong một ngôi mộ chung. Đó là Thái Phiên và Trần Cao Vân.

Trong cuộc khởi nghĩa của Việt Nam Quang phục hội (thường được gọi là cuộc khởi nghĩa của vua Duy Tân) năm 1916, Trần Cao Vân và Thái Phiên là nhân vật chủ chốt, có vai trò quan trọng hàng đầu. Điều này được thể hiện trong tờ chiếu khởi nghĩa của vua Duy Tân đề ngày 27 tháng 3 năm Duy Tân thứ mười (29-4-1916) hiện còn lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Hải ngoại (The Archives Nationales d’Outre-Mer, viết tắt là ANOM) của Pháp ở Aix-en-Provence và Văn khố Toàn quyền Đông Dương. Tờ chiếu này có sao gửi cho 4 người gồm: Trần Cao Vân, Thái Phiên, Lâm Nhĩ, Nguyễn Quang Siêu.
Nguyên văn trong tờ chiếu (được dịch ra quốc ngữ):
“... Trong tất cả mọi việc, Trẫm trao quyền hành động cho Hồng Việt, Hoàng Anh, Thanh Minh và Lam Giang, với sự hợp tác của những người có tấm lòng cao cả trong ba kỳ của Quốc gia Annam, dù họ là quan chức, viên chức, đương nhiệm hay không đương nhiệm, các nho sĩ, thân hào, người bình dân, và tất cả đều vì mục đích theo đuổi là đem lại một kỷ nguyên Văn Minh.
Ngay sau khi sự nghiệp hoàn thành, tất cả những ai có cống hiến sẽ được nhận những phần thưởng xứng đáng và sẽ trở thành bất tử qua thời gian.
Bất cứ ai cản trở sự nghiệp này sẽ bị truy tố và trừng phạt không tha thứ.
Nay kính báo.
Chuyển để thi hành:
-  đến đạo nhơn Trần... (tức Trần Cao Vân - LT), tự Hồng Việt - chức vụ và cấp bậc: Cố vấn cao cấp, Tể tướng để phục hưng, phòng vệ đoàn tùy tùng hoàng gia, phụ trách các vấn đề quân sự.
- đến đạo nhơn Thái... (tức Thái Phiên - LT), tự Hoàng Anh, Phó cố vấn cao cấp, Tổng đốc Hoàng Thành, phụ trách các vấn đề tài chính và kinh tế”.
- đến…”
Cuộc khởi nghĩa được dự định tổ chức vào đúng 1 giờ sáng ngày 3-5-1916.  Trần Cao Vân và Thái Phiên phân nhiệm cho các nhân vật, chiếm các tỉnh, còn hai ông điều khiển việc chiếm kinh đô Huế, rước vua Duy Tân ra khỏi Đại Nội, đi vào phía Nam chờ bình định xong sẽ phò nhà vua trở lại ngôi.
Đại sự bị bại lộ, cuộc khởi nghĩa thất bại. Thái Phiên, Trần Cao Vân, Tôn Thất Đề, Nguyễn Quang Siêu bị bắt tại chùa  Ngũ Phong (gần An Cựu, thành phố Huế).
Thái Phiên và Trần Cao Vân đã bị Viện Cơ mật kết án: “Thủy nhi Hậu hồ thùy điếu, thiện tả chiếu văn, nhi Thương Bạc đình thuyền, yêu nghinh thánh giá, Hà Trung mạch phạn,Ngũ Lĩnh kê thang, thừa dư chí thử phong trần, môi nghiệt giai do thử bối” (Tạm dịch: “Ban đầu buông câu ở Hậu Hồ, tự thảo chiếu văn, kế đến neo thuyền ở bến Thương Bạc, chờ rước nhà vua, mời vua dùng cơm lạt ở làng Hà Trung, ăn cháo gà ở núi Ngũ Phong, mình rồng phải chịu dãi dầu sương gió, tội lỗi này đều do bọn kia tạo ra) và ra lệnh xử chém.
Chiều 17-5-1916 Thái Phiên cùng Trần Cao Vân, Nguyễn Quang Siêu và Tôn Thất Đề ra trường chém ở An Hòa đền nợ nước.
Về cái chết của hai ông, các tài liệu đều cho là diễn ra vào ngày 17-5-1916.  Nhưng gần đây nhà nghiên cứu Nguyễn Trương Đàn trên tạp chí Xưa và Nay và báo Đà Nẵng Cuối tuần lại dẫn các tờ báo Trung Bắc Tân Văn (số ngày 27-5-1916), Lục Tỉnh Tân Văn, Nông Cổ Mín Đàm (8-6-1916) lại cho rằng cuộc xử chém diễn ra vào lúc 16 giờ 30 chiều 16-5-1916. Đây là mẩu tin ngắn trên báo Trung Bắc Tân Văn: “Hồi 4 giờ rưỡi chiều 16 Mai, bốn người mưu việc khởi loạn Trung Kỳ, đã phải xử tử tại đường Quảng Trị, cách la-ga An Hòa 100 thước. Một người tên là Trần Cao Vân và một người là Thái Phiên, cùng ở Quảng Nam cả...”.
Cho đến nay vẫn không biết vì sao có sự vênh lệch này!
Tương truyền, tại pháp trường hôm ấy, khi đầu Thái Phiên rơi xuống đất, một thiếu phụ mặc đồ tang đã chạy ngay đến, ôm chặt thi thể người chí sĩ vào lòng, khóc thương thảm thiết. Khi bị lôi ra, thiếu phụ đã xõa tung mái tóc đen thấm lấy dòng máu tươi từ cơ thể người chí sĩ. Thiếu phụ ấy là bà Trần Thị Băng, thiếp của Thái Phiên. Bà đã giữ máu ấy trên đầu, không chịu tắm gội. Mấy tháng sau bà mang bệnh nhưng kiên quyết không uống thuốc để chết theo chồng.
Cái chết của Thái Phiên, Trần Cao Vân và các chí sĩ của cuộc khởi nghĩa đã gây xúc động lớn. Huỳnh Thúc Kháng lúc này đang thụ án ở Côn Đảo nghe tin cái chết oai hùng này đã có thơ tặng Thái Phiên (được dịch ra quốc ngữ): Âu học không đem rút của người,/ Chả thành đời sống vứt như chơi./ Kìa phường học mới đông như kiến,/ Đêm hỏi lòng chăng có hổ ngươi? (Huỳnh Thúc Kháng, Thi Tù Tùng Thoại, Nam Cường, 1951).
Người Pháp và Nam triều đã cho vùi xác của 4 vị ngay tại pháp trường với hy vọng sẽ tóm thêm được những đồng chí của các vị khi họ đến viếng.
Năm 1922, con trai của Trần Cao Vân đã làm đơn gửi khắp nơi ở Huế để xin được đưa hài cốt của cha về cải táng ở quê nhà nhưng tất cả đều bị từ chối.
Tại bãi chém An Hòa, hai ngôi mộ lâu ngày không được chăm sóc có khả năng bị mất dấu. Nên năm 1925, một đồng chí của Trần Cao Vân và Thái Phiên là bà Trương Thị Dương đã lén đưa thi hài hai ông đem chôn trong một ngôi mộ chung tại đồi Từ Hiếu nay thuộc xã Thủy Xuân, thành phố Huế. Ngôi mộ chung này đã được công nhận là Di tích văn hóa lịch sử cấp quốc gia vào ngày 14-7-1990. Về việc hai chí sĩ được cải táng chung trong một ngôi mộ được bà Dương thuật lại như sau: “Ngày 5 tháng 5 năm Ất Sửu (1925), tôi và đứa cháu là Đặng Khánh Di vừa đi đến cầu Vân Căn, bỗng một chiếc guốc bị gãy đôi. Tôi nghi có điềm chẳng lành. Đến chùa Đại Trung, gặp ông Nguyễn Hữu Cảnh (trị sự chùa), ông giục tôi đi, không nên do dự.
3 giờ sáng ngày hôm sau (mồng 6), chúng tôi đi thẳng tới chỗ di hài hai cụ. Người giữ nấm mộ ấy là Thủ Tỵ), y có người con bị bệnh phong, làm chòi ở khít bên mộ để giữ, ai đến gần, nó bắt.
Tới nơi, tôi cho thằng phong ấy 3 đồng, trả cho ông Thủ Tỵ 6 đồng, và thuê 5 người nữa với ông Thủ Tỵ 24 đồng, xin dời hộ, vì tôi nói là mộ của ông chú tôi.
Hốt cốt lên, tôi lấy giấy tinh (tức giấy trong có viết chữ Hán) bỏ vào hai thúng đầy, rồi qua cửa Chính Tây ngồi đợi. Khi hốt xong, bọn làm thuê thấy không có mặt tôi, hỏi, thì ông Thủ Tỵ nói tôi đi mượn tiền, và có nhờ gánh cốt qua bên ấy (cửa Chính Tây) mới trả tiền đủ (đã trả trước 12 đồng). Bọn họ dùng dằng một lúc rồi cũng phải gánh đi.
Đến cửa Chính Tây, tôi trả tiền đủ, liền thuê hai chiếc xe kéo: một chiếc tôi chở cốt, một chiếc cho người cháu tôi và Nguyễn Hữu Cảnh ngồi. Xe đi thẳng tới tháp Hòa thượng Kiết Mao gần chùa Châu Lâm, tôi đặt cốt lên bàn, thắp hương ngồi giữ. Đến sáng ngày, tôi thuê Trùm Ngữ mua hai tiểu sành cùng giấy tờ, lại thuê gánh nước tới, tôi rửa sạch cốt hai cụ, liệm vào tiểu sành.
Hai di cốt này trải qua trên 9 năm, đến nay vẫn còn nguyên vẹn. Cốt cụ Thái vàng rực, bỏ vào tiểu sành có dư, phải lấy bớt giấy lót ra. Cụ Thái lúc lâm hình mặc áo lương, máu dính sát vào cốt, gỡ ra nghe rạt rạt. Cụ Trần bận áo vải dù, cũng dính sát vào cốt. Tôi thuê người đào huyệt và đắp nấm hết 4 đồng. Ai dè chôn được 11 ngày, Thừa Phủ hay tin, cho lính đến canh gác. Nhờ có người báo tin về ông Nguyễn Hữu Cảnh, ông Cảnh báo về tôi, tôi thừa đêm khuya thuê 4 người, mỗi người 4 cắc hết 1 đồng sáu, đem chôn nơi khác, hiện nay ở gần chùa Châu Lâm, nhưng chôn thành một nấm.
Nơi đã dời đi, tôi vẫn cho đắp lại thành nấm tử tế, rào giậu kỹ càng, làm như không ai đụng chạm đến. Thế là nơi ấy vẫn có hai cái nấm mồ, nhưng không có cốt người!”. (Dẫn lại Nguyễn Trương Đàn, trong tạp chí Hồn Việt)
Bí mật này được bà Dương giữ kín cho mãi đến năm 1956, khi thấy không còn nguy hiểm nên đã tiết lộ với con cháu và ông Võ Như Nguyện là con trai của nhà cách mạng Võ Bá Hạp, vốn là đồng chí của bà. Ông Nguyện lúc này là Dân biểu Quốc hội của Việt Nam Cộng hòa. Sau đó bà đã khắc tấm bia bằng chữ Hán “Trần Cao Quý Công-Thái Duy Quý Công” và dựng trước ngôi mộ chung của hai ông. Tấm bia này hiện nay vẫn còn.
Chính vì ngôi mộ chung nên cho đến nay hai ông vẫn chưa thể về lại quê nhà.Có khi đó là ý nguyện của hai ông, không muốn xa nhau và … xa Huế!.
Bà Trương Thị Dương có biệt hiệu là Quảng Hà, sinh năm 1881 tại làng Tân Điền, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị là người được Phan Bội Châu kết nạp vào phong trào Đông Du năm 1903, phụ trách việc vận động tài chánh cho du học sinh Việt Nam tại Nhật Bản. Năm 1914, thông qua bà Mai Thị Vàng (con gái Mai Khắc Đôn và là vợ vua Duy Tân) bà được kết nạp vào tổ chức Việt Nam Quang phục hội, được vua Duy Tân giao nhiệm vụ làm liên lạc với các nhà cách mạng. Bà đã từng được nhà vua sai vào tận làng Tư Phú nay là xã Điện Phong, huyện Điện Bàn để trao nhiệm vụ cho Trần Cao Vân. Sau khi cuộc khởi nghĩa thất bại bà đã về ẩn mình ở xóm Nhà Trưa, nay là thôn Tân Trưng, xã Hải Chánh, huyện Hải Lăng, Quảng Trị. Thời gian này bà luôn đau đáu một ý nguyện là tìm cách đưa hài cốt hai đồng chí của mình đến chôn ở một nơi đường hoàng hơn để sau này có điều kiện sẽ đưa về an nghỉ ở quê nhà, để con cháu được hương khói. Bà đã nhiều lần đến thăm mộ nhất là sau lần cải táng năm 1925. Bà mất ngày 24 tháng 7 năm 1957, hưởng thọ 76 tuổi . Đám tang của bà được tổ chức trọng thể có sự tham gia của nhiều quan chức, đặc biệt là có cả mẹ của vua Duy Tân. Hiện nay mộ bà vẫn còn ở xã Hải Chánh huyện Hải Lăng.
Ở Đà Nẵng, trên đường Trần Cao Vân có ngôi trường phổ thông trung học lớn mang tên Thái Phiên, như một gợi nhớ về hai nhà cách mạng tuy sinh không cùng năm nhưng lại cùng lý tưởng, cùng hy sinh một ngày cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và cùng được an nghỉ với nhau chung trong một ngôi mộ. Có lẽ ở Tam Kỳ, Đà Nẵng… nên có một con đường mang tên Trương Thị Dương, để thể hiện sự tri ân của người dân xứ Quảng cho tấm lòng mà bà đã dành cho hai chí sĩ cách mạng kiệt xuất của quê hương mình.



Hậu duệ của các vị Thái Phiên,Trần Cao Vân, Trương Thị Dương trước ngôi mộ chung của Thái Phiên và Trần Cao Vân tại Huế.

                                                       

Tác giả LÊ THÍ
cựu giáo viên trường THPT Trần Phú, 
Đà Nẵng


READ MORE - NGƯỜI PHỤ NỮ HỌ TRƯƠNG VÀ NGÔI MỘ CHUNG TRÊN ĐỒI TỪ HIẾU - Lê Thí

Tuesday, August 12, 2014

DƯ THANH CỦA NGÀY XƯA CŨ! - Tản mạn của Lê Thí

(Tặng các cháu ngoại Ngô Vi Trác, Ngô Cát Tường nhân ngày khai giảng đầu đời)


Tác giả Lê Thí
             
          Ba năm về hưu, ba năm rời xa bục giảng. Ba năm “gửi lại em những năm tháng làm thầy// quên hết cả những” áp cao” “áp thấp”// những “thu phân” những “hạ chí” của đời”. Sáng nay, trời bỗng âm u. Ngồi bên quán café vĩa hè chợt thấy phố phường sáng lên. Trên đường bỗng xuất hiện nhiều tà áo trắng. “Ngày khai trường” của Thanh Tịnh tự nhiên lại hiện về, khuấy động một vùng kí ức tưởng đã lãng quên:

 “Hằng năm cứ vào cuối thu lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm mênh mang của buổi tựu trường. Tôi quên thế nào được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng.

Những ý tưởng ấy tôi chưa lần nào ghi lên giấy, vì hồi ấy tôi không biết ghi và ngày nay tôi không nhớ hết. Nhưng mỗi lần thấy mấy em nhỏ rụt rè núp dưới nón mẹ lần đầu tiên đến trường, lòng tôi lại tưng bừng rộn rã. Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh. Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên tôi thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: Hôm nay tôi đi học...”. (1)

         Mười mấy năm đi học, gần bốn mươi năm đi dạy. Ngày khai giảng dù có chút heo may, có chiếc lá vàng vô tình rụng đôi khi không phải vì thu hay chỉ là những ngày nắng chang chang nuối tiếc mùa hè, Thanh Tịnh luôn hiện về cùng với mùa thu, dù chỉ là mùa thu ước lệ:

 Thu năm nay, tôi lại đi trên con đường vắng này nghe từng chiếc lá rơi trên bờ cỏ...Nước trong như một cặp mắt tuyệt vời. Những cây liễu xanh đứng buồn như những nàng cung nữ thời xưa, và trong vườn nhà ai thấp thoáng, hoa phù dung nở trắng như một linh hồn còn trẻ?


Nắng ở đây vẫn là nắng ngày xưa và linh hồn tôi vẫn là linh hồn tôi năm trước. Tôi vẫn ngờ như không sự thay đổi, vì lại thấy mình đi trên con đường này, thu năm nay, giữa lúc cây vàng rơi lá. Ðường này hiu hắt, tôi đem lòng về để gặp mùa thu thương nhớ cũ, và nay cũng thấy thu về để nước hồ xanh. Chân ai đi xa vắng đằng kia, hay đó chỉ là gió thoảng mong manh? Và gió nào vương vấn hồn tôi, hay cũng chỉ là dư thanh của một ngày xưa cũ? Chao ôi! Buồn lại nhiều rồi, nhưng chỉ buồn như năm trước. Lòng tôi chẳng biết tìm ai mà nhớ, hôm nay nhớ lại buồn qua mới thấy nắng kia nhiều dĩ vãng.(2)


Mấy tà áo trắng giữa phố trong một ngày đầu thu hiu hắt, chợt đánh thức cả một thời xa vắng. Gọi cho một người bạn trẻ, đang còn mài đời mình trên bục giảng để gọi là” đem lòng về để gặp mùa thu thương nhớ cũ”. Lời chia sẻ của người bạn sao có chút ngậm ngùi: “Hôm nay chỉ là ngày học đầu tiên. Phải hai mươi ngày nữa mới khai giảng! 5 tháng 9 mà, qui định mới đồng nghiệp ơi!”. Chao ơi, “ngày khai giảng”, “ngày đầu tiên đi học” lẽ nào đã trở thành “thủ tục”. Còn đâu “lòng tôi lại tưng bừng rộn rã”, để man mác với một mùa thu của đất trời. Có chăng là dư vang một thời, chỉ của “những người muôn năm cũ” để  “mắt buồn như nước, mảng tìm hồn mình hiu hắt trong hồn thu mới...”.
                                                 

 (1). Thanh Tịnh, Ngày khai trường, Quê mẹ, tập truyện ngắn, 1941.

(2)Đinh Hùng, Cảm Thu, bài đăng trong giai phẩm “Mùa Gặt Mới” Xuất bản ở Hà Nội năm 1940.
                                            
                                                              LÊ THÍ

                                                             (15/8/2013)
READ MORE - DƯ THANH CỦA NGÀY XƯA CŨ! - Tản mạn của Lê Thí

Friday, August 1, 2014

AI ĐÃ CỨU PHAN CHÂU TRINH KHỎI ÁN CHÉM? - Lê Thí

Tác giả Lê Thí, nguyên giáo viên trường THPT Trần Phú, Đà Nẵng


            Lâu nay, nhiều người vẫn cho rằng chính Nam triều đã xử tử hình Phan Châu Trinh, nhưng nhờ có sự can thiệp của Liên minh Nhân quyền nên án tử hình mới đổi thành án khổ sai chung thân. Nhưng sự thực không phải như vậy. Những tư liệu mới về Phan Châu Trinh được người cháu ngoại của ông là bà Lê Thị Kinh sưu tầm taị Trung tâm lưu trữ hải ngoại của Pháp (CAOM)  đã làm sáng tỏ việc này và vinh danh hai vị đại thần triều Nguyễn là Lê Trinh và Cao Xuân Dục.


            Năm 1901 Phan Châu Trinh đỗ phó bảng được bổ làm Thừa biện  Bộ Học do Cao Xuân Dục làm Thượng thư. Chỉ một thời gian ngắn ông chuyển sang làm Hành tẩu Bộ Lễ do Lê Trinh làm Thượng thư.

Cao Xuân Dục và Lê Trinh là hai trọng thần của Triều Nguyễn, những người đã đấu tranh để đưa Vĩnh San (Duy Tân) lên làm vua thay vì Bửu Đảo (Khải Định). Khi vua còn nhỏ tuổi, triều đình đã thành lập Phủ Phụ chính để giúp nhà vua quyết định những công việc hệ trọng. Hai ông là những nhân vật hàng đầu của Phủ Phụ chính.


Thượng thư Bộ Lễ Lê Trinh



     Lê Trinh (1850-1909),  sinh tại làng  Bích La Đông, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Ông thi đỗ Giải nguyên năm 1870, phó bảng năm 1875, làm quan trải qua 6 triều vua từ Tự Đức tới Duy Tân. Ông đã từng trải qua các chức vụ quan trọng ở các bộ như  biện lý Bộ Hộ, Bộ Lại (1884), tham tri Bộ Hình, Bộ Hộ, Bộ Binh (1891-1892), Thượng thư Bộ Lễ, Phụ chính đại thần (1903). Ông còn giữ nhiều trọng trách ở các Viện: Tham biện Viện Cơ mật (1888), Chưởng ấn Viện Đô sát (1888), Cơ mật đại thần (1903). Ông  cũng từng được cử vào đoàn sứ bộ sang Trung Quốc (1882). Trên lĩnh vực giáo dục, ông từng được sung làm giáo đạo dạy các hoàng tử  trong đó có Vĩnh San ( Duy Tân,1884), làm phó chủ khảo trường thi hương Thừa Thiên (1887) rồi chánh chủ khảo trường thi hương Bình Định (1891).

     Cao Xuân Dục (1843-1923),  tự là Tử Phát,  sinh tại xã Cao Xá, huyện Đông Thành,  phủ Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Ông đỗ cử nhân năm 1876, làm quan trải qua nhiều chức vụ từ Tri huyện cho đến Thượng thư, Cơ Mật đại thần, Phụ Chính đại thần. Là tác giả của nhiều công trình nghiên cứu quan trọng.

         Chí của Phan Châu Trinh không phải làm quan mà là làm cách mạng cho nên khi làm việc ở Bộ Lễ ông luôn vắng mặt để lo đọc Tân thư và kết giao với những người cùng chí hướng. Chuyện kể, Thượng thư Lê Trinh có lần đã nhận xét rất thú vị về người thuộc cấp gốc Quảng Nam của mình “Ở bộ tôi có anh Thừa biện mà cả năm nay tôi không hề thấy mặt”. Làm việc ở Bộ Lễ chưa ấm ghế, Phan Châu Trinh đã từ chức để xây dựng phong trào Duy tân.

Năm 1904, Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp trả xong nợ khoa cử (đỗ tiến sĩ). Thế là “bộ ba Duy tân Quảng Nam Phan-Trần-Huỳnh” được hình thành. Chỉ trong một thời gian ngắn phong trào Duy tân đã đi vào hoạt động với việc xây dựng các trường học, hội thương, hội nông. Đến cuối năm 1906, phong trào đã lớn mạnh nên Pháp tìm mọi cách để triệt hạ:Theo tôi đã thật sự đến lúc phải chấm dứt cuộc tuyên truyền phá rối trị an và phá hoại tất cả quyền lực của chúng ta” (Báo cáo ngày 7/11/1907 của Công sứ Quảng Nam gửi Khâm sứ Trung Kỳ) (1)

Là nhất thiết cần có một cuộc đàn áp cứng rắn, không kiêng dè, sử dụng bộ máy chính quyền nếu cần..” (Báo cáo ngày 1/7/1907 của Đại lí tại Tam Kỳ gửi Khâm sứ Trung Kỳ). (2)

        Cơ hội đã đến, đó là cuộc biểu tình kháng thuế diễn ra vào tháng 3 năm 1908, bắt đầu từ Đại Lộc sau đó lan ra khắp tỉnh rồi khắp Trung Kỳ. Lúc này Phan Châu Trinh đang ở  Hà Nội nên Khâm sứ Trung Kỳ tức tốc điện nhờ Thống sứ Bắc Kỳ bắt Phan Châu Trinh hoả tốc giải về Huế. Phan Châu Trinh bị bắt ngày 31/3/1908, hai ngày sau đã có mặt ở Huế.

          Phan Châu Trinh bị Toà Khâm giao cho Phủ Phụ chính xét xử. Khâm sứ  Trung Kỳ Lévecque cho rằng Phan Châu Trinh đã khích động dân chúng chống lại Chính phủ Pháp nên làm áp lực buộc Nam triều phải áp dụng điều 223 xử án “trảm quyết”(chém ngay). Ngày 10/4/1908, Hội đồng Cơ mật dưới sự chủ trì của Thượng thư Lê Trinh, sau khi luận tội ông “mưu phản nhưng chưa thực hiện”, nên chỉ kết án "Trảm giam hậu, lưu tam thiên lý, ngộ xã bất nguyên” (giam lại chém sau, đày đi xa nghìn dặm, gặp kỳ ân xá cũng không tha) theo điều 224 của Luật Gia Long. Bản án gửi qua Toà Khâm, Lévecque tức giận, lồng lộn lên đòi phải xử lại. Y cho rằng Phủ Phụ chính đã nhầm lẫn trong việc áp dụng pháp luật khi vận dụng điều 224 về “mưu loạn vị hành” (mưu loạn nhưng chưa làm) đối với trường hợp Phan Châu Trinh, vì không thể nói ông “mưu loạn nhưng chưa làm” mà chính ông đã tổ chức “sách động” dân chúng gây ảnh hưởng không chỉ ở Quảng Nam mà cả các tỉnh Trung Kỳ, đã đi từ Nam chí Bắc tổ chức những hội kín, liên lạc thường xuyên với Phan Bội Châu...Y nhắc Phủ Phụ chính “phải áp dụng đúng đắn văn bản pháp luật, không để cho những suy nghĩ khác chi phối”, phải “xem xét lại bản án này”.

     Trong phiên xử lại ngay ngày hôm sau (12/4/1908), Phủ Phụ chính cũng do Thượng thư Lê Trinh chủ trì, có sự hỗ trợ tích cực của Thượng thư Cao Xuân Dục đã thuyết phục sáu vị còn lại giữ vững quan điểm, cương quyết thực hiện điều 224 cho Phan Châu Trinh. Thượng thư Lê Trinh còn nhắc cho Khâm sứ biết là “Cuộc kháng thuế không có vũ trang chỉ đấu tranh bất bạo động và Phan Châu Trinh không trực tiếp tham gia” và “Điều 223 chỉ áp dụng cho Phan Bội Châu mà thôi và giữa Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh tội trạng lại hoàn toàn khác nhau” (vì biết rằng Phan Bội Châu đang ở Nhật, ngoài vòng kiểm soát của Pháp).


Trước sự “cứng đầu” của Phủ Phụ chính nhất là của hai vị Thượng thư Bộ Học và Bộ Lễ, dù rất bực mình nhưng Khâm sứ Pháp Levecque phải ngậm bồ hòn làm ngọt chấp nhận bản án vì không muốn gây thêm căng thẳng. Mặt khác, y rất sợ phản ứng mạnh hơn của Phủ Phụ chính, nhất là trong lúc phong trào kháng thuế đang sôi sục khắp Trung Kỳ. Nhưng y cố vớt vát gỡ thể diện bằng cách buộc phải đày Phan Châu Trinh ra Côn Đảo chứ không phải ra Lao Bảo như bản án của Phủ Phụ chính.

Hai vị Thượng thư ra lệnh đày Phan Châu Trinh ra Côn Đảo ngay vì sợ để lâu Toà Khâm đổi ý có thể ảnh hưởng xấu đến sinh mạng của viên thuộc cấp mà hai vị vốn rất kính nể. Thế là Phan Châu Trinh thoát án chém và ngay ngày 14/4/1908 Phan Châu Trinh lên đường ra Côn Đảo.



Nhà lưu niệm Phan Châu Trinh tại Đà Nẵng

       Công lao của Phủ Phụ chính, trong đó đứng đầu là Thượng thư Lê Trinh, đã được cụ Phan ghi lại với nhiều cảm kích: “Trong một thời gian ngắn nhiều bản án đã được chính quyền Pháp phê duyệt xử phạt các nhà nho bị bắt, trong đó có tôi, người thì án tử hình, người thì án lưu đày hoặc khổ sai chung thân. Tôi xin nói rõ ở đây, để làm rạng danh họ, rằng một số vị quan Triều đình Huế, mặc dù bị sức ép của Tòa Khâm sứ, đã từ chối ký vào bản án tử hình của tôi vì họ chẳng tìm ra điều gì để buộc tội tôi, ngoài một điều là tôi đã không làm vừa lòng một số quan chức. Nhân đây, tôi xin tỏ lời khen về một chút liêm sỉ còn sót lại trong các bản án man trá chứa đựng biết bao điều tàn bạo” (3)

  Đúng là ông Trinh họ Lê đã cứu ông Trinh họ Phan thoát án chém trong đường tơ kẽ tóc!


  


                                       
(Nguồn:bee.net.vn)                                               
(Ảnh Lê Thí)


                                                                         
(1, 2,3) Lê Thị Kinh,  Phan Châu Trinh qua những tư liệu mới , Nxb Đà Nẵng, năm 2001, trang 258,259).                 


                                                                             LÊ THÍ
lethitp@gmail.com

*****

Trong bài trên, nhiều đoạn và câu trích dẩn được tác gỉả cho in nghiêng. Để giữ nguyên ý của tác giả, VNQT không biên tập mà giữ nguyên format của bản gốc tác giả gởi qua Google nên các dòng chữ gần nhau hơn thường lệ. Mong bạn đọc thông cảm. VNQT
                         

READ MORE - AI ĐÃ CỨU PHAN CHÂU TRINH KHỎI ÁN CHÉM? - Lê Thí