Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Sunday, April 15, 2012

CHÙA VĂN QUỸ, CHỐN NƯƠNG TỰA BÌNH YÊN - Lê Đăng Mành



 Ngồi dưới bậc thềm tượng Quán Thế Âm trước cổng chùa làng đợi đến lượt mình nhận quà của đoàn từ thiện về cứu trợ. Tôi lại miên man nghĩ về chùa làng mình đã bao lần cưu mang che chở cho dân vượt qua thống khổ của chiến tranh thiên tai, dịch bệnh.

     Quê tôi vẫn gọi là chùa Văn Quỹ dung dị và mộc mạc như vậy mặc dầu có tên là VẠN AN TỰ hẳn hoi. Thuộc xã Hải Tân, Huyện Hải Lăng nằm tận cùng phía nam tỉnh Quảng Trị cách Thừa Thiên Huế bởi dòng sông Ô LÂU.
                                 
           Mái chùa che chở hồn dân tộc
           Nếp sống muôn đời của tổ tông.
                                                 (Trích câu cuối bài NHỚ CHÙA )
                                                           Thơ Huyền Không

    Có lẽ trên đất nước mình, chùa quê đều như vậy: chùa với đình tuy hai mà một. Nghe quí cụ lão thành kể lại: ngày xưa chùa và đình làng tôi thờ chung trong một ngôi nhà rường năm gian, tiền Phật hậu linh (trước thờ Tôn Tượng Bổn Sư Thích Ca, sau thờ linh vị THÀNH HOÀNG  (khai khẩn) hai gian tả hữu thờ Thất Tộc (Bảy họ: Lê, Nguyễn, Đỗ, Trần, Ngô, Phạm, Nguyễn).

     Năm 1957, chùa tổ chức quy y dưới sự chứng minh của ân sư Thượng Tâm Hạ Thái, pháp hiệu Thiện Trí,tự Hoà Khương, bút hiệu Dạ Sỹ Thiện Trí, thế danh Nguyễn Diệu, sinh năm Đinh Mùi (1907), niên hiệu Thành Thái năm thứ 19. Đại lão Hòa Thượng Thích Thiện Trí, Giáo Phẩm chứng minh Giáo Hội Phật Gíao tỉnh Thừa Thiên Huế, tọa chủ chùa Hiếu Quang. Ngoài kiến thức Phật học, Ngài còn tinh tường về các thể thơ, đối, liễn, nghi lễ và là một soạn giả ca Huế. Ngài xuất gia lúc 12 tuổi, đầu sư với HT Thích Phước Hậu, trụ trì chùa Linh Quang Huế. Năm 27 tuổi (1932), Ngài Thọ Tỳ Kheo, năm 75 tuổi Ngài được Giáo Hội suy tôn lên ngôi vị Hòa Thượng… Về thân thế của Ngài, quê nội là làng Đạo Đầu, xã Triệu Trung, huyện Triệu Phong, nhưng Ngài được sanh ra và lớn lên cho đến ngày xuất gia tại quê ngoại là làng Văn Quỹ, xã Hải Tân, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. (Chỉ xin trích cuộc đời và hành trạng của HÒA THƯỢNG để hàng đạo hữu chùa Văn Quỹ biết Bổn Sư của mình…(Tiểu sử trích theo Mai Lâm Giám Lục”).
Mạng mạch Đạo Pháp bén rể ăn sâu, sum suê hoa trái kể từ đây.

Tuổi thơ tôi thường theo mạ đi chùa, mới đầu ngại ngùng e thẹn, tay cứ níu lấy vạt áo dài nối của mạ, ngập ngừng từng bước một vào điện thờ mà run. Mạ trìu mến dỗ dành: - Vào lễ với mạ, Bụt thương con trẻ lắm, con không nhớ Bụt hiện trong chuyện Tấm Cám mà mệ thường kể cho con nghe à. Mà thiệt, ông Bụt ngồi xếp bằng trên cao nớ răng mà hiền, mắt nhìn xuống như nhìn tôi, miệng tủm tỉm cười mãi không thôi, vô tình tôi ngoái nhìn lại sau lưng phía trên cửa ra vào, một ông mắt trợn trắng bóc, mặt đỏ lòm bộ tướng dữ tợn. Tôi níu tay mạ vừa chỉ vừa thụt lùi. (Sau này lớn lên mới biết đó là Ngài Hộ Pháp).

      Thế rồi, bọn con nít chúng tôi càng lâu càng gắn bó với chùa, thường theo mạ đi chùa. Mạ vào lễ còn bọn tôi bày đủ trò phá phách, vô tâm nghich ngợm chơi đùa, nhất là bắt chim, phía sau tượng Ngài Hộ Pháp có bức hoành phi kín đáo cho chim sẽ tha hồ làm tổ. Té ra trông tướng ngài dữ dằn lại quá hiền, bọn tôi leo trèo đụng tay, đụng chân, có đứa cả gan sờ râu, rứa mà đêm về không ai nằm chộ (mơ) và đau ốm chi nơi. Lần đầu trong đời học sinh ôn thi tiểu học  và đệ thất cũng rủ nhau lên chùa học cho thanh tịnh, mau thuộc bài và lạy phật cầu nguyện…Thế rồi !

       Chiến tranh bùng nổ ngày càng khốc liệt Tôi đành xa quê, bỏ làng, bỏ chùa tản cư lánh nạn, bước đi mà ngậm ngùi ngoái lại bâng khuâng khi nhớ về câu thơ của Nguyễn Bính mới thấm thía làm sao:

              Mai này Tôi bỏ quê tôi
     Bỏ trăng, bỏ gió, chao ôi bỏ chùa !

       Vào Huế, ngày hai buổi đi học đạp xe qua những danh lam thắng cảnh cố đô, những ngôi cổ tự già lam uy nghiêm trầm mặc và những mái chùa nho nhỏ như bóng dáng chùa quê : Hiếu Quang, Cát Tường, Tịnh Bình, cũng thờ Phật, cũng kinh kệ hôm mai mà sao nghe lạ lẫm, không làm cho Tôi khuây khỏa, răng mà nhớ Chùa, nhớ Phật ở làng mình da diết khôn nguôi.
         
   Như Hòa Thượng MÃN GIÁC (thi sĩ Huyền Không) quê làng Phương Lang, xã Hải Ba đã minh chứng: “Tình quê của tôi nó thâm nhập như vậy” nên chi trong thời chiến tranh về thăm làng không được, vào năm 1956 tôi đã sáng tác bài thơ NHỚ CHÙA !
                                         
Thấp thoáng đâu đây cảnh tượng làng
Có con đường đỏ chạy lang thang
Có hàng tre gợi hồn sông núi
Yên lặng chùa tôi ngập nắng vàng(1)
 
       Lang thang làm thân cùng tử, phiêu bạt nơi xứ người, nhìn Gia Đình PhậtTử “người dưng” sinh hoạt, văng vẳng bên tai những bài hát "Dây thân ái lan rộng muôn nhà, tay sắp xa nhưng tim không xa ….”(2). Ra đi lìa xa mái hiên chùa, còn đâu bóng lam hiền…….”(3). Lòng bồi hồi, quay quắt nghèn nghẹn nước mắt chực trào ra thôi. Mỗi chiều hôm nghe chuông chùa ngân nga là mường tượng chuông chùa làng mình chầm chậm rơi rơi, man mác u hoài lãng đãng sương khói đôi bờ Ô Lâu.




       Chiến tranh rồi cũng qua,mái chùa cũng theo từng nhip sống của dân làng mà đứng vững. Nhớ những ngày khó khăn đó, bà con đi học bổ túc văn hóa, mỗi người đi học đều mang theo một cây đèn dầu hoặc ngọn đuốc bằng tre gặp đêm rằm, mồng một thì ghé chùa góp thêm ánh sáng cho ngôi Phạm Vũ tụng một thời kinh rồi đi học, chưa biết chữ nhưng Chú Đại Bi và Tâm Kinh thì thuộc làu. Thế mới thẩm thấu sự nhiệm mầu bất khả tư nghị “VÔ NHẤT VẬT”  của ánh sáng Vô Tận Đăng của Lục Tổ, nguy khó với chiến tranh, lao đao với bão lũ thì cùng nhau tìm về núp bóng dưới mái chùa quê an bình. Là những nông dân lam lũ, một nắng hai sương với ruộng đồng, được Chư Tôn Đức ở Quảng Trị và Huế thường Quang Lâm sách tấn, được thấm nhuần Đạo vị giải thoát và ánh sáng trí tuệ soi đường đã chắt chiu chăm chút ngôi Gìa lam uy nghiêm cửu trụ an nhiên hằng tại nơi Đất Làng Quê Tôi.

       Có một ngôi chùa như thế ở miền quê là nơi trưởng dưỡng Đạo Tâm của quý bác trong làng, là nơi tu học khơi  nguồn trí tuệ của Đoàn sinh Gia đình Phật Tử và cũng là nơi ưu ái  dừng chân của các đoàn từ thiện về cứu trợ họp bàn cùng Khuôn Giáo hội phân phối hàng quà trong tinh thần “BẤT NHỊ” của Tâm Kinh: giàu, nghèo, ghét, thương, lương, giáo. Quê tôi có 2 tôn giáo: Phật Giáo và Công Giáo, tín đồ rất đông, là anh em huyết thống và con dân của 7 họ (tộc)

       Cứ mỗi lần bất an, tôi chống gậy lên chùa ngồi yên ả một mình dưới tượng đài Bồ Tát Quán Thế Âm, thấy thanh thản đến lạ lùng, nhìn đoàn sinh GĐPT sinh hoạt lại vẳng về : “ Hôm nay về dưới bóng cha lành, lòng con thấy nhẹ nhàng, vì tâm con yên vui…”(4) Thì lòng khinh an, cảm động đến rưng rưng.
       Chùa làng Văn Quỹ, nơi che chở tuổi thơ tôi rong chơi an lành thì cũng là nơi nương tựa tuổi già chất ngất bình yên giữa phong ba đời thường./.
                                                    
                                               MÙA SEN !
                                   Lãm nguyệt hiên cuối xuân 


(1)trích thơ “Nhớ Chùa”của HT Mãn Gíac
(2)nhạc Lê Lừng
(3,4)nhạc Trần Nhật Thành


Ảnh:
-Chùa Văn Qũy
-Tượng đài Bồ Tát Quán Thế Âm.
          

READ MORE - CHÙA VĂN QUỸ, CHỐN NƯƠNG TỰA BÌNH YÊN - Lê Đăng Mành

PHƯƠNG XÍCH LÔ - Thơ Phùng Nguyên

Nguyễn Văn Phương. Tranh của Lê Văn Huy


Mang nghiệp làm thơ,
Xích lô khốn cùng,
Thác bờ sống bụi,
Cà phê "ngồi đồng" *.

Chén rượu nồng cay,
Trái xoài quả ổi,
Khóc cười ngất ngây,
Một đời trôi nổi.

Lạc bước trần gian,
Mơ hồ tiên cảnh,
Chuyển bánh lầm than,
Buồn ôi nghiêng thành.

Phố phường nhạt nắng,
Hình bóng xưa phai,
Tình đà hoang vắng,
Cảnh hởi sầu ai !

Đành cố quên đi.
Nhục nhằn phế liệu,
Nước mắt hoen mi,
Mấy người thấu hiểu.

Con kênh lủ trẻ,
Dòng nước trôi nhanh,
Giả từ cỏi thế,
Xao xuyến Trời xanh.


Phùng Nguyên
hoangphung09@yahoo.com.vn

*Cà phê còn phải ngồi đồng
Tiền đâu mà phạt hởi ông áo vàng.
Phương Xích Lô.


READ MORE - PHƯƠNG XÍCH LÔ - Thơ Phùng Nguyên

TIẾNG QUẢNG TRỊ - Trần Hữu Thuần

Kính gửi ban biên tập

Tình cờ tìm trên mạng, tôi thấy quí ban biên tập có đăng lại một bài của tôi bàn về tiếng nói của người Việt qua ba miền. Bài đó là bài tiếp theo bài Tiếng Quảng Trị mà trước đó tôi đã cho phổ biến trên Talawas và trên dunglac.org.

Tôi kính gửi đến ban biên tập bài Tiếng Quảng Trị, để gọi là góp chút công sức vào Quảng Trị quê hương mà tôi đã phải rời xa từ lúc còn rất bé nhưng vẫn canh cánh trong lòng.

Kính chúc quí ban biên tập an mạnh để tiếp tục công việc. 
                                                                                                   THT
 Cửa sông Bến Hải

TIẾNG QUẢNG TRỊ
Trần Hữu Thuần
(Viết năm 2008)

Tôi sinh ra vào tháng sáu năm 1941. Tôi nói ra năm sinh của tôi không phải để khoe tuổi nhưng để đề cập đến chuyện thời gian qua mau. Mới đó mà tôi đã buớc vào tuổi 67, chỉ còn ba năm nữa là 70. Những gì trời và cha mẹ tôi cho tôi biết, nếu không có cơ hội nói lại thì có thể mất đi, mai một nếu sính dùng từ đao to búa lớn. Tôi muốn nói về tiếng Quảng trị, thu gọn vào làng quê nơi cha mẹ tôi cho tôi vào đời. 


 Tác giả: Thu An Trần Hữu Thuần (Thời còn trai trẻ)

Làng quê nội ngoại tôi tên gọi là An Du Tây hoặc An Do Tây, thuộc huyện Gio Linh, phủ Vĩnh Linh, tỉnh Quảng trị. Giấy Thế vì Khai sinh của tôi nêu rõ như vậy. Trước năm 1954, có bốn làng mang tên An Du, chia ra Nam, Bắc, Đông, Tây. Chính quyền chế độ hiện nay đã xoá tên làng Tây, chỉ còn lại ba làng. Có lẽ ngày xưa trước khi chia thành bốn, nguyên thủy chỉ có một làng vì nhà thờ tổ của phía ngoại tôi ở làng Nam. Người ta còn gọi làng tôi bằng tên Đất đỏ vì đó là một vùng đất đỏ ở giữa  khu vực đất trắng.

Ông ngoại và bà nội tôi là chánh gốc An Du Tây. Bà ngoại tôi nguyên ở làng Đông còn ông nội tôi từ nơi khác, làng Phù Mĩ, đến nhập tịch. Tôi ngay từ hồi còn nhỏ rất thắc mắc, tại sao ông ngoại và bà nội tôi là chánh gốc An Du Tây mà lại nói tiếng Quảng trị khác nhau? Bà nội tôi dùng nhiều từ mà hình như không ai khác trong làng dùng kể cả bên ngoại tôi. Ví dụ đa số nói “Trời” còn bà nội tôi nói “B’lời,” đa số nói “Gạo” thì bà nội tôi nói “Cấu.” Không biết có cơ duyên nào để bài này được lọt vào mắt xanh một  học giả nào đó—ông Bình Nguyên Lộc chẳng hạn—để có lời giải thích giùm tôi không?

Như đã trình trên, tôi sinh năm 1941. Tôi học vỡ lòng với các o Nhà Phước mà sau này tôi mới biết là các nữ tu thuộc dòng Mến Thánh giá đạo Công giáo. Các o Nhà Phước đó bây giờ lại tự xưng là xơ, trong khi các dòng nữ trước đây tự xưng là xơ thì bây giờ lại tự xưng là dì! Giấy bút không có, lũ học trò chúng tôi tập viết bằng gạch hoặc ngói vụn trên nền nhà. Bài học là những tấm vải kẻ chữ sẵn để chúng tôi tập đọc, ví dụ một bài như sau:
huyền, sắc, nặng, hỏi, ngã
Lời Chúa dạy phải giữ
Đừng kết bạn kẻ dữ vv.

Lên lớp năm lớp tư (bây giờ là lớp một lớp hai), tôi phải bới cơm trong mo nang với muối đậu muối mè đi bộ có lẽ hơn một giờ đến trường ở làng Nam, đến chiều mới về. Gọi là trường nhưng thực sự thì chỉ có một gian nhà tranh vách đất, bàn ghế là những thân cây ghép lại. Và chỉ có một thầy dạy tất cả các lớp từ trên xuống dưới. Hình như trường chỉ có ba lớp năm-tư-ba, các lớp gọi là Sơ học Yếu lược. Học sinh chẳng có mấy người, đến từ các làng chung quanh. Chúng tôi gặp quá nhiều khó khăn khi phải đọc đúng theo thầy hai từ ăn và anh. Lý do là chúng tôi không có hai từ đó. Ăn chúng tôi nói nghe như là an, còn anh thì là eng. Thêm vào đó, quê tôi còn nhà quê trong việc vẫn còn trao đổi bằng tiền đồng Nhà Nguyễn, với các trự tiền ăn ba, ăn sáu, ăn mười. Đó đã là thời Pháp thuộc và Quốc trưởng Bảo Đại, với tờ bạc Đông dương Gánh dưa, Bộ lư gì đó.

Các tiếng nhà quê và tiền đồng đó theo mãi người dân quê tôi, và không biết có thể đến bao giờ, nếu không có biến cố 1954, Hiệp định Genève chia đôi đất nước. Ngoại trừ gia đình tôi và một số gia đình đã bỏ quê hương ra đi từ trước, dân làng tôi hầu như toàn bộ di cư năm 1954 mang theo tiếng nói nhà quê và tiền đồng trên, loaị tiền đã làm bao nhiêu người trắng tay vì chẳng đổi được gì khi đến nơi khác. Người ta bán đổ bán tháo cho người đúc đồng hoặc người mua tiền cổ. Cùng với tiền đồng, đa số tiếng Quảng trị cũng mất đi khi người ta thay thế loại tiếng nhà quê này bằng các tiếng thành thị để bằng chị bằng em khỏi bị chê cười!

Để gọi là mua vui, tôi xin trình ra các từ nhà quê tôi còn nhớ được với giải thích bằng từ thành thị.

Ả = chị
An = ăn
Áo lá = áo cụt, áo mặc bên trong.
Bạo = bão (tố)
B’lăng = trăng (cũng nói trăng)
B’lời = trời (cũng nói trời, t’lời)
Bọ = cha
Ca (con ca) = gà (con gà)
Cẳng = chân (cũng dùng cả từ chân)
Cấu = gạo (cũng nói “gạo” nữa)
Cấy = vợ 
Cấy = cái (cấy chờng = cái giường)
Cấy = con gái (o con cấy = cô con gái)
Chạc giợ = dây nhợ
Chắc = nhau (đập chắc = đánh nhau)
Chi = gì, sao
Chiếng =giếng
Choọc = Thọc (lấy cái gì để thọc, ví dụ: choọc léc = thọc lét) nhưng vẫn nói “chọc” trong “chọc ghẹo”
Chộ = thấy
Chôồng = chồng (chất)
Chờng = giường
Chu = châu (chu phê = châu phê; chu sa = châu sa)
Chưn = chân (cẳng)
Cộ (khoai) = củ (khoai)
Côi = trên
Cơn = con, cái (loại từ) dùng hạn chế với cơn đao (con dao), cơn rạ (cái rựa), cơn sào (con sào), và ít từ khác.
Cụ = cậu
Cươi = sân
Du = dâu (con dâu: vợ của con trai)
Dzầu = dầu (hỏa). Âm “Dz”này tôi tạm phiên âm, đọc giống như âm “Th” trong “The” tiếng Anh. (Cũng nói dầu như bình thường)
Đao = dao
Đàng = đường
Đặng = được
Đụa (đôi) = đũa (đôi)
Eng = anh
Giôông = chồng
Giôông = giông (bão)
Hè = nhỉ (tiếng đệm, Chi lạ rứa hè = Sao lạ thế nhỉ?)
Hoọc = học
Khôông = không
Lả = lửa
Lịp = nón lá (cũng nói là “nón lá”)
Ló = lúa
Lọi = gãy (chân)
Lộ = lỗ (mũi)
Mạ = mẹ
Mần = làm
Mệ = bà
Mẹng = miệng
Mi = mày
Mo nang = tàu cau (nhưng vẫn gọi trái cau, cau trầu chứ không gọi là trái nang, nang trầu)
Mô = đâu
Mồm = miệng
Mụ = người ngang vai vế với bà, quan hệ bà con hay không.
Mui = môi
Mụi = mũi
Mự = mợ  (vợ của cậu)
Nác = nước
Ngái = xa
Ni = này
Nôỗng = nương (không ở quanh nhà, và thường thế đất cao)
Nớ = kia (chuyện nớ)
Nương = vườn (chung quanh nhà)
O = cô
O mi; cụ mi; chú mi = dùng để chỉ ngôi thứ hai, thường do người trên nói với người dưới và có tình thân mật. Ví dụ anh nói với em gái: “o mi nói rứa nghe mô đặng”: cô nói thế nghe không được = không hợp lý)
Ót = cái gáy (phía sau cổ)
Ôông = ông
Phản ngựa = bộ ghế ngựa (làm bằng hai chân rời gọi là ngựa trên bắc ngang nhiều tấm ván vừa làm giường ngủ, vừa làm nơi tiếp khách quí )
Rạ = rựa
Răng = sao (tại sao)
Roọng = ruộng
Rớ = lưới (cá; chài rớ = chài lưới)
Rú = rừng
Rứa = thế, vậy, như vậy, ví dụ “Mần rứa khôông đặng”: Làm thế không được.
Su = sâu
Tam = em
Tê = kia (bên tê)
Thúi = thối
T’lâu = trâu (cũng nói trâu)
T’le = tre (cũng nói tre)
T’lời = trời (cũng nói trời, b’lời)
Thoọc = thọc
Tra = già
Trẽn = thẹn, mắc cỡ.
Trôốc = đầu
Trôốc cúi = đầu gối (nhưng vẫn nói “cái gối gối đầu”)
Trớng = trứng
Trự (tiền) = đồng tiền
Trượng = dượng (chồng dì, chồng cô)
Út = em
Xạ = xã (ôông xạ = ông lý trưởng)
Xôống = (áo) xống

Một vài nhận xét:
  1. Ba âm “d”, “gi”, và “nh” đều nói thành “gi”, do đó “dái”, “giái”, và “nhái” đều nói thành “giái.”
  2. Âm “uân” nói thành “un”, ví dụ “quần” thành “cùn”, tên tôi là “Thuần” đọc thành “Thùn”
  3. Phân biệt âm cuối “c” và “t”, “n” và “ng”, “oi” và “oai” không như giọng Thừa thiên, ví dụ “cắc” (bạc cắc) và “cắt” (cắt đứt), “tan” (tan nát) và “tang” (đám tang), nói “đen” chứ không “đeng”, và “nói” chứ không “noái”. Chúng tôi nói “rán” (cố gắng) chứ không nói “ráng.”
  4. Phân biệt âm “tr”và “ch”, ví dụ “trâu” và “châu” chứ không như giọng Bắc.
  5. Không phân biệt dấu hỏi dấu ngã và có xu hướng đọc thành dấu nặng.
  6. Có hai từ “bưỡi” và “bòng” để chỉ hai loại trái cây trông tương tự nhưng vị khác nhau.
  7. Lối nói đặc biệt: “Sợ bất chết”: sợ tới chết, rất sợ hãi; “Thương bất chết”: rất thương vân vân; “Thương hung lắm”: rất thương; “Giận hung lắm”: rất giận; “Sợ hung lắm”: rất sợ; “Đắt hung lắm”: rất đắt. Cũng còn nói “Thương dữ lắm,” "Sợ dữ lắm,” “Giận dữ lắm” vân vân.

Cuộc đời chóng thật. Tôi chưa đến tuổi thất thập cổ lai hy (xưa nay bảy mươi tuổi là hiếm) mà đã chứng kiến biết bao nhiêu cảnh tang điền biến vi thương hãi (ruộng dâu biến thành biển cả). Các tiếng Quảng trị quê mùa đó lúc tôi còn bé đã làm cho tôi ngượng chin người khi bị trêu chọc là le nhaque (thằng nhà quê, Pháp phiên âm tiếng Việt, có trong Từ điển Larousse). Mất đi các từ nhà quê đó không biết có đồng nghĩa với việc mất đi các từ cổ Việt Nam còn sót lại một thời trên dân làng quê tôi không? Giờ đây nghĩ lại, tôi cho rằng tôi đã đánh mất đi cả một truyền thống tổ tiên, cũng như bao người khác đã mất đi như vậy, để chạy theo một cái gì đó gọi là văn minh. 

Trần Hữu  Thuần
 jbtranthuan@hotmail.com


READ MORE - TIẾNG QUẢNG TRỊ - Trần Hữu Thuần