Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Tuesday, July 3, 2012

Xứ Huế trong bài thơ “Anh ước thành” của Nguyễn Hồng Trân - Lời bình: Châu Thạch


ANH ƯỚC THÀNH

Anh ước thành Hương Giang,
Nâng thuyền em trôi nhẹ.
Anh muốn làm nón Huế,
Để gợi em ước mơ.
Anh ước thành bài thơ,
Hợp  lòng em  ý  tứ.
Anh ước thành Núi Ngự,
Để em ngắm mây trời.
Anh ước thành biển khơi,
Dẫn thuyền em đây đó.
Anh ước thành làn gió,
Mơn man mái tóc em.
Anh ước thành hồ sen,
Đợi trăng rằm em đến.
Anh ước thành ngọn nến,
Thức cùng em đêm dài.
Anh ước thành chàng trai,
Ngày xưa em yêu nhất…

    NHT
Phước Vĩnh, tp. Huế
nghongtran38@gmail.com



Lời bình: Châu Thạch

Các nhà thơ thường giàu trí tưởng tượng, cho nên trong thơ họ, ngòai những ước ao bình thường như mọi người, họ còn có những ước ao cao vời, không tưởng và đôi khi kỳ quặc nữa. Ta hãy thử nghe một ước ao lạ đời của nhà thơ Tế Hanh:

                     Nếu em chết chắc là anh có thể
                     Tỏ mối tình lặng lẽ, quá sâu thâm
                     Anh tìm nơi em nghĩ giấc ngàn năm
                     Ngồi điên dại, sầu như cây liễu rũ.
                                                         ( Ước ao)

Và ta hãy nghe một ước ao của nhà thơ Hàn mạc Tử:

                      Tôi ước ao, là tôi ước ao
                      Tình tôi vô lượng sẽ dâng cao
                      Như bông trăng nở, bông trăng nở
                      Những cánh bông thơ trắng ngọt ngào.
                                                              ( Ước ao)

Cũng mang cái bệnh thường tình của những con người làm thơ, tác giả Nguyễn hồng Trân trong bài thơ “Anh ước thành” của mình cũng mơ mộng một cách cao vời và ao ước những điều có thể gọi là không tưởng. Tuy thế cái ước ao của Nguyễn hồng Trân không phải chỉ là mơ thành mây, thành nước, thành trăng, thành gió một cách chung chung như bao thi sĩ khác mà mây, nước, trăng, gió của Nguyễn hồng Trân gắn liền với một dịa danh có cảnh quan đầy thơ mộng : Đó là xứ Huế đẹp xinh.

Ta hãy đọc bốn câu đầu của bài thơ:

                          Anh muốn thành Hương giang
                          Nâng thuyền em trôi nhẹ
                          Anh muốn thành nón Huế
                          Để gợi em ước mơ.

Hương giang là dòng sông đẹp của xứ Huế, nón Huế hay nón Bài Thơ là đặc sản xứ Huế, đây là hai cái đẹp tượng trưng cho nhiều nét đẹp đặc thù của Huế. Nhà thơ Nguyến hồng Trân có phần ủy mị khi muốn bíến mình thành hai vẽ đẹp nên thơ nầy, nhưng cũng thông cảm cho một tâm hồn lãng mạn không thể hóa thành cái gì hùng vĩ hơn khi mà con thuyền em đang đi trên Hương giang và  đầu em đang đội chiếc nón bài thơ mong manh và trắng đẹp. Biến thành Hương giang, biến thành nón Huế là biến thành dòng sông nơi tác giả đương sống, là biến thành sản vật truyền thống ở chốn định cư, Nguyễn hồng Trân đã muốn biến thành cái mình yêu để tôn vinh, phục vụ cho con người mình yêu quý. Ở một nhận xét khác, đây là bốn câu thơ bày tỏ ước ao thực tế, cụ thể chứ không phải là những mơ mộng viễn vông, vì ở đây tác giả ao ước cho tâm hồn mình thơ mộng như dòng Hương giang, nhẹ nhàng như chiếc nón Huế để hiến tặng cho người yêu thăng hoa trong cuộc sống, chứ không phải tác giả lấy chính thân thể mình làm dòng sông, làm chiếc nón.

Bốn câu thơ tiếp tác giả đề cập đến một vẽ đẹp khác, đó là vẽ đẹp trong tâm hồn và vẽ đẹp của núi Ngự Bình nơi đất thần kinh:

                                   Anh ước thành bài thơ
                                   Hợp lòng em ý tứ
                                   Anh ước thành núi Ngự
                                  Để em ngắm mây trời.

Ước thành bài thơ để cho hợp ý nàng là điều biết bao thi sĩ mong muốn và đã nói ra, nhưng ước làm núi Ngự cho em ngắm mây trời là một suy tư độc đáo mà không mấy thi sĩ nào nói ra được. Núi Ngự là một thắng cảnh nằm bên bờ sông Hương. Cùng với sông Hương, núi Ngự là quà tặng vô giá thứ hai của tạo hóa, quyện vào nhau tạo nên cảnh sơn thủy hửu tình của Huế. Ước ao cho thân thể mình thành núi Ngự hay ước ao cho tâm hồn mình như núi Ngự đều là những mơ ước đầy thi vị, và hình ảnh em đứng trên núi Ngự ngắm mây trôi là hình ảnh đẹp tuyệt vời của người nữ trước thiên nhiên cao rộng. Trí tưởng tượng của Nguyễn hồng Trân không nằm trong sự nhỏ bé của tình yêu giữa nam và nữ mà nó được biến hóa vượt lên, hòa điệu trong phong cảnh hửu tình. trong không gian cao rộng: Anh trở thành ngọn núi và em đứng cao vời nhìn mây trời bay lồng lộng.

Đã qua thời ủy mị để làm dòng sông Hương thơ mộng. làm chiếc nón Bài Thơ nhẹ nhàng, nhà thơ Nguyễn hồng Trân muốn làm cái gì lớn lao cho em nữa nên đã làm núi Ngự Bình và bây giờ lại ước ao làm biển lớn, ước ao làm cả ngọn gió trời:

                                   Anh ước thành biển khơi
                                   Dân thuyền em đây đó
                                   Anh ước thành làn gió
                                   Mơn man mái tóc em.

Vì ở các khổ đầu của bài thơ tác giả đã nói đến sông Hương và núi Ngự, nên ở khổ thơ nầy biển của tác giả chắc chắn cũng chỉ là biển xứ Huế mà thôi. Cùng với biển Lăng Cô, phá Tam Giang, biển Thuận An là một kiệt tác thiên nhiên của Huế, thu hút du khách không kém gì đền đài lăng tẩm đã nổi tiếng. Biển Thuận An luôn luôn biến đổi kỳ ảo theo mùa, nên nó mang nhiều nét bí ẩn kỳ thú như tâm hồn người thi sĩ mộng mợ. Nhà thơ Nguyễn hồng Trân ao ước mình thành biển để đưa thuyền em đi, làm gió để mơn man tóc em làm cho ta liên tưởng đến vẽ đẹp muôn màu của biển Thuận An và ngọn gió dịu dàng từ ngàn khơi thổi vào chạy dọc theo Hương giang lên miền lăng tẩm.
Rồi thì ngao du sơn thủy đủ rồi, tác giả lại đưa em quay về trong lòng xứ Huế với hồ sen, khóac cho em hình ảnh thanh tân như những nàng cung nữ xa xưa, để với em ngồi cùng ngọn nến đêm dài:

                                               Anh ước thành hồ sen
                                               Đợi trăng rằm em đến
                                               Anh ước thành ngọn nến
                                               Thức cùng em đêm dài.

Nói đến hồ sen làm sao người đọc có thể quên được hồ Tịnh Tâm xứ Huế. Hồ Tịnh Tâm là di tích của cảnh quan được kiến trúc dưới triều Nguyễn, Cảnh đẹp của hồ đã tạo nên nguồn thi hứng cho những bài thơ nổi tiếng của vua quan thời xưa và của thi nhân nhiều thế hệ sau nầy. Đứng bên hồ Tinh Tâm ngắm nhìn, thưởng thức mùi hương ngào ngạt của hoa sen, lòng ta thanh thản và tỉnh lặng vô cùng.

Ngọn nến xứ Huế cũng không phải là ngọn nên bình thường như bao địa phương khác. Nói đến ngọn nến xứ Huế là nói đến ngọn nến hòang cung, nếu nó không thể hiện nét cá biệt   sinh họat của một thời phong kiến thì thường bày tỏ tâm tư, tình cảm, nỗi lòng của bao cung nữ xa xưa. Nhà thơ Nguyễn hồng Trân đã ao ước làm hồ sen, rồi làm ngọn nến, điều đó cũng bày tỏ được cái chất Huế  thấm đậm  trong tâm hồn. Bốn câu thơ nói về sen và nến đưa người đọc đến một miền thơ cổ kính, liên tưởng đến những cung nữ âm thầm nuốt lệ nơi chốn lảnh cung.

Và cuối cùng bài thơ Nguyễn hồng Trân ước ao một điều thật sự cho mình:

                            Anh ước thành chàng trai
                             Ngày xưa em yêu nhất…

Đây là một ước ao chính trong lòng người thí sĩ, và chính nó là động lực để nhà thơ nẩy sinh biết bao ước ao cao vời khác. Ước ao nầy như cánh cửa mở ra những ước ao thành sông thành núi, thành biển thành hồ của xứ Huế mộng mơ và cô đọng thành một bài thơ ngắn gọn rất hay: Bài thơ “ Anh ước thành” của Nguyễn hồng Trân ./.

                                                                               Châu Thạch
READ MORE - Xứ Huế trong bài thơ “Anh ước thành” của Nguyễn Hồng Trân - Lời bình: Châu Thạch

Lê Minh Quốc viết tựa tập thơ TẢN MẠN của Võ Thị Như Mai





1.

Thế đấy, những hồn thơ cứ như hạt bụi, lẫn khuất, chìm khuất đâu đó, bỗng một ngày kia lại dội vào tâm hồn mình. Muốn né tránh cũng không được. Muốn ngoảnh mặt chối từ cũng không xong. Hồn mở ra thì thơ lại đến. Hồn khép lại thì thơ cũng đến. Thế đấy! Như một lẽ tự nhiên, ngày nọ tháng kia tôi nhận được tập thơ của Võ Thị Như Mai từ Tây Úc qua email. Cái cảm giác hồi hộp này cũng tựa lúc đọc những vần thơ, nhạc của những người bạn nữ xa xứ đã gửi về chia sẻ. Họ bảo, anh đọc đi và anh cảm nhận thế nào?

Thế nào ư? Thơ là tiếng nói riêng tư, riêng biệt, riêng lẻ và cũng rất đỗi lẻ loi của một người. Đọc thơ của Mai, hình ảnh đầu tiên hiện lên trong tôi là cái cảm giác non nớt, ngây thơ, trong trẻo và vô tội của cậu bé học trò lần đầu tiên đến trường trong truyện ngắn Tôi đi học của Thanh Tịnh? Cái gì lạ vậy? Chẳng lạ gì. Cậu học trò của làng Mỹ Chánh mà nhiều thế hệ đã gặp “Hàng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc...” là “đồng hương" của Mai đấy. Nơi ấy, Mai đã sống những ngày:

Mỗi năm đến mùa bão cứ nhìn lên lịch
Vái ông trời, cho Mỹ Chánh lặng yên

Nghe thương thương, tồi tội thế nào. Cũng tồi tội, thương thương thế nào ấy khi Mai viết đôi dòng về đêm khuya của cái làng nổi tiếng này:

Dăm người đàn bà xua tay đuổi chó:
“Mấy thằng khỉ gió
Chúng nó lại đi gò”
Đợi hoài thành âu lo
Các cô xuống đò
Ngậm ngùi về làm dâu làng khác

Cứ ngỡ Mai viết về một làng quê chung nào đó. Những câu trên cà rởn, có dăm từ địa phương, nhưng câu cuối lại mở ra một nỗi ngậm ngùi xa xăm quá đỗi. Thơ? Nếu không khái quát, không cho người đọc tìm thấy bóng dáng của họ, tâm tư của họ thì liệu mạch cảm xúc của nhà thơ có lan truyền đến người đọc?


2.


Xa quê và đau đáu nhớ quê cũng là lẽ thường tình. Nhưng đôi khi đang sống với tình mà vẫn nhớ  đến tình. Bởi đó là thơ. Thơ của Mai là những bài thơ tình, tôi ngờ rằng ấy là tình có thật trong cuộc đời hoa mộng, lặng lẽ của Mai. Ở đó, có rất nhiều sương đêm mưa mù “Trên con đường Đà Lạt ngàn  thông vi vu hát”. Lúc ấy, Mai bảo:

Hạt mưa gầy như tình đã phai phôi
Em ôm ấp chút dư hương thuở ấy

Lạ chưa! “Mưa gầy”? Phải Đà Lạt. Phải máu thịt với Đà Lạt trong từng chân tơ kẽ tóc, mới có thể cảm nhận vậy chăng? Sự tinh tế ấy, nếu đọc thoáng qua thì ta sẽ không dễ dàng bắt gặp. Đọc chậm thôi. Có như thế, ta mới thấy đàng sau của chữ là một tấm lòng. Đàng sau một tấm lòng là những con chữ đang thở trên trang giấy. Thử hỏi, “Trên đường Sài Gòn người qua hối hả”, Mai thấy gì? Chưa rõ, nhưng nếu cũng hối hả như mọi người thì làm sao nàng có thể viết được đôi câu bâng quơ khiến ta giật mình:

Giọt mưa nào
Buồn
Thả xuống bờ vai...

Mà cái giọt mưa ấy, với Mai, cũng là nhiều kỷ niệm. Ngay cả lúc sống xa xứ, đã có lần Mai tự nhủ:

Chỉ sợ cuối thu gom mưa về nhiều quá
Mỗi giọt rơi là một giọt nhớ người

Nhớ mênh mông, Nhớ tràn đầy. Nhiều đến thế là cùng. Có những câu thơ “dụng công” rất nghề nghiệp nhưng lại hóa ra vô tích sự. Ngược lại có những câu thơ viết như chơi nhưng lại bám chặt vào trí nhớ:

Tình yêu đơn phương
Đau trong từng ngón tay, ngón chân
Đau trong từng giấc ngủ

Đọc mà thương. Có những lúc Mai viết như giỡn chơi, nhưng lại tạo ra một bất ngờ:

Chiều hôm qua cầm cây cọ đỏ như son môi
Vẽ tháng tư lên núi

Cô học trò làng Mỹ Chánh đang nghịch đó chăng? Mà này, làm thơ là gì nhỉ? Là nghịch với những con chữ như đứa trẻ nghịch với giấc mơ của mình đấy thôi.


3.

Có những câu thơ hay. Có những bài thơ dàn trải. Nếu kiệm chữ hơn. Nén cảm xúc lại. Nếu chỉnh chu hơn nữa. Và, và gì nữa? Chẳng gì cả. Thử hỏi, có ai chuẩn bị... để nhớ, để yêu một cách tỉnh táo? Không rõ nữa. Mai thì không. Nàng phơi bày cảm xúc trên trang giấy và gọi là Tản mạn. Tản mạn thơ. Tản mạn một phần đời. Có người đến ngắm nhìn và sẽ bỏ ra đi, nhưng cũng có người ngồi xuống thủ thỉ tâm tình và chia sẻ. Tôi đọc những bài thơ của Mai vào những ngày mưa trút, chợt nhớ về ngày tháng học trò xa xăm đang thất lạc từng ngày trong trí nhớ... Tôi lại tự nhủ, đọc chậm thôi. Có như thế, ta mới thấy đàng sau của chữ là một tấm lòng. Đàng sau một tấm lòng là những con chữ đang thở trên trang giấy...



LÊ MINH QUỐC
(Nguồn:  tập Tản Mạn Thơ- Võ Thị Như Mai - NXB Văn Nghệ - 2010)
READ MORE - Lê Minh Quốc viết tựa tập thơ TẢN MẠN của Võ Thị Như Mai