Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, February 6, 2012

Cáp Xuân Tú - ĐẶC SẢN QUÊ TÔI: BÁNH ĐÚC



Nếu món cá tràu kho khô là đặc sản của vùng đất này thì món bánh đúc là đặc sản của riêng quê tôi. Bởi vì nhiều nơi làm bánh đúc ngon, thậm chí nổi tiếng khắp nước nhưng bánh đúc quê tôi là đặc sản của riêng mỗi người dân ở vùng này. Dù già hay trẻ, dù đang ở trong làng hay xa quê hương vị bánh đúc ấy vẫn mãi không quên.

Dù là loại bánh dân dã nhưng chỉ đến khi có giỗ chạy, cúng kỵ mới được ăn bánh đúc. Mỗi lần trong nhà có việc, khi gà gáy canh ba bác gái trở dậy để nấu nướng. Bếp thổi rơm đỏ hừng hực. Gạo chọn để làm bánh là loại gạo mới, vừa thơm vừa dẻo, được đánh tơi, nấu nhuyễn. Phải thật khéo trông và giữ lửa, nước sao cho không được khô mà không ướt nhảo nhoét. Phần cơm nhuyễn được trộn thêm đậu phụng. Đôi khi bác còn thêm da heo hoặc tóp mỡ heo gia tăng thêm vị béo cho bánh. Sau đó, đổ ra mâm hoặc cái mẹt có trải lá chuối. Bác dùng vá múc cơm có thấm mỡ heo vừa chầy vừa nén cho cái bánh thật chặt săn nhưng vẫn dẽo dai. Tiếp theo là một lớp mè rang được rải lên bề mặt. Các chị dùng dao nhỏ cắt bánh thành những miếng nhỏ hình bình hành, sắp lên đĩa. Tôi lúc nào cũng muốn tự tay mình bưng đĩa bánh đúc đặt lên mâm cúng.
Bánh đúc phải ăn với nước lèo. Nước lèo quyết định độ ngon của bánh. Nước lèo phải được chế biến thật khéo vừa ngọt ngọt, chua chua, béo béo. Tôi chỉ nhớ là các chị thường giã nhỏ gan heo hay gan vịt với đậu phụng làm nước lèo. 

Sau này đi ăn bánh đúc nhiều nơi, thấy người ta xay gạo thành bột rồi đúc thành bánh nên khi ăn không cảm giác cái lộm cộm của gạo, không thấy mùi gạo thơm quyện mùi lá chuối, vị mặn béo ngầy ngậy của mỡ heo lẫn trong bánh. Với bánh đúc quê tôi có những cảm nhận riêng. Bánh đúc như sự kết tinh của trời và đất, một sản vật từ bùn đất quê hương, từ công lao vất vả của những cuộc đời gian khổ. Bánh đúc cũng là thể hiện lòng thảo hiếu của con cháu với tổ tiên, là văn hoá, là hồn quê, là văn minh nhỏ trong nền văn minh lúa nước.

Cáp Xuân Tú
capxuantu@gmail.com
READ MORE - Cáp Xuân Tú - ĐẶC SẢN QUÊ TÔI: BÁNH ĐÚC

CÂY MAI LẺ BẠN - Trương Nguyễn


Sáng xôn xao
Nắng tràn vào khung cửa
Con đường nhà tôi mới mở
Mà những người bạn cũ
Không còn đi qua đây
  
Bóng chiều nhẹ
Chầm chậm xuống mỗi ngày
Giọng nói cười thật khẽ
Không gian bây giờ vẫn thế
Lá rũ buồn quanh sân
  
Cây mai già...
Xơ xác trầm ngâm
Đứng nhìn ngày qua cô quạnh
Chiếc lá vàng rơi…
                     Trơ cành
                                    khô nhánh
Hỏi ai còn…
                        Tha thiết mùa Xuân ?


TRƯƠNG NGUYỄN
truongnguyen49@yahoo.com.vn

READ MORE - CÂY MAI LẺ BẠN - Trương Nguyễn

TÌNH SẦU - Võ Làng Trâm




(Cảm tác qua bài NGANG TRÁI của anh Châu Thạch )




Thời gian dẫu có trôi qua

Mối tình chưa kịp nở hoa nhớ đời

Tiếng lòng chưa nói thành lời

Tình cờ gặp lại rụng rời tay chân !




Chia tay chưa gặp một lần

Nhớ hoài hình ảnh kết thân buổi đầu

Thư tay ghi vội mấy câu

Luồn trong tập vở lo âu - rụt rè !

Một phần sợ mẹ cha nghe

Thầy cô quở trách bạn bè xôn xao

Yêu thầm chẳng biết làm sao

Cõi lòng ngây dại em nào thấu chăng ! ?

Hè về chưa kịp nói năng

Cuốn vào quân ngũ làm thằng chiến binh

Đạn bom thật quá vô tình

Biết bao nhân mạng hy sinh Nam Lào

Một hôm tang lễ cấp cao

Gặp người góa bụa hao hao giống nàng

Ôm quan lệ chảy thành hàng

Giật mình trông thấy ngỡ ngàng ngó nhau !




Rồi từ dịp đó về sau

Tôi theo nghiệp lính trông mau ngày về

Có đêm nửa tỉnh nửa mê

Thấy nàng áo trắng hịên về hờn ghen

Cuộc chiến kết thúc một phen

Theo đoàn “ học tập” tôi len xuống tàu

Chẳng kịp trông trước nhìn sau

Đến cô bán nước mua mau lọ  dầu

Hữu duyên thiên lý đụng đầu

Tha phương hội ngộ mặc dầu trớ trêu

Ngẫm mình số phận rong rêu

Theo dòng nước cuốn lều bều nổi trôi !

Vội vàng em gửi gói xôi

Kèm theo hộp bánh tiển tôi lên đường




Nỗi lòng lại tiếp vấn vương

Mười năm “ lao động” ngẫm thương phận nàng !

Hôm nay được trở về làng

Tìm em nối lại “ bẻ bàng” duyên xưa

Nén nhang khói thoảng hương đua

Vấn vương di ảnh còn lưa bàn thờ

Bao năm ly biệt nào ngờ

Giờ đây gặp lai trang thơ não lòng

Than ơi ! một kiếp chờ mong

Nụ hoa chẳng nở để dòng lệ rơi

Em ơi ! em ở bên trời

Khóc em anh nhỏ mấy lời từ tâm !
                     

Võ Làng Trâm
volangtram@yahoo.com.vn
READ MORE - TÌNH SẦU - Võ Làng Trâm

MA RỪNG - Truyện ngắn của Trương Huỳnh Như Trân


Truyn ngn đt gii ba (không có gii nht)
trong cuc thi sáng tác văn h
do Hi VHNT tnh Bình Phước tổ chức
ln th 3 năm 2011.




      Vĩnh và Sao Khuê ngồi đối diện nhau qua ánh lửa bập bùng. Gương mặt Sao Khuê biến dạng đi từng lúc theo điệu vũ của lửa. Sao Khuê ngồi bó gối nhìn vô định ra cánh rừng đen tối ngoài kia. Ánh mắt đó không còn trong veo không gợn chút đời như ngày anh mới gặp. Vĩnh ao ước thời gian ngừng lại ở khoảnh khắc này, không có lo lắng, không có mâu thuẫn, không có những ước mong đối lập nhau.  Và không có sự chia xa phía trước. Mãi mãi anh ngồi nhìn cô như thế này. Sáu tháng trôi qua, mà mọi thứ xảy ra như của cả đời người. Cả hai đều quá mệt mỏi và sợ hãi với trò chơi sắp đặt của ông trời.

Trước khi gặp Sao Khuê, trước khi đặt chân đến xứ sở này, Vĩnh còn chưa biết được mục đích của đời mình là gì. Ra trường với bằng kỹ sư, cũng bôn ba một vài công ty như những người đồng thời, nhưng Vĩnh không tìm thấy chỗ đứng của mình ở đâu cả. Anh bước những bước đi mơ hồ trong đời, bồng bềnh không chạm đất. Rồi một ngày Vĩnh làm chấn động tất thảy mọi người khi tuyên bố sẽ bỏ phố về rừng. Nhưng không có gì để níu kéo Vĩnh ở lại, từ bỏ ý định “điên rồ” đó. Cha mẹ đã mất, một mình anh làm đủ thứ nghề để tồn tại với đời tới giờ phút này. Họ hàng anh ở quanh quanh đâu đó, nhưng sợi dây ràng buộc như bị chùng giãn, hết đát. Người yêu rời xa vì quá chán nản cái gã hoang đường, những ý nghĩ lạ lùng trong đầu anh mà cô không bao giờ nắm bắt được. 

Ngày cuối cùng nằm trong căn phòng trọ quạnh hiu, Vĩnh ngơ ngác buồn. Tại sao anh sống ở nơi này hơn hai mươi năm, mà thấy vô cùng xa lạ? Một câu hỏi như từ vạn cổ lại trỗi dậy: anh là ai, ký ức anh ở đâu? Không có! Hoàn toàn không có!

Tivi đang phát sóng chuyên đề gì đó về vùng núi. Nơi anh đến cũng sẽ như thế này, núi rừng và cây xanh, những mặt người xa lạ. Dù sao thì ở đâu với anh, mặt người cũng xa lạ. Lời bình của đoạn phim hơi khiến anh giật mình, vì nó nhắc đến một địa danh đúng với cái nơi anh sẽ đến. Trùng hợp ngẫu nhiên thật. Nhưng nó cũng không gây sự chú ý bằng một ánh mắt! Ánh mắt lẩn khuất giữa núi rừng, và nó không phải là nhân vật của đoạn phim, vì tiếng người đọc lời bình đều đều vang lên, không hề nhắc đến ánh mắt vừa lướt qua khung hình, cứ như không ai thấy cô, cứ như cô là sơn nữ lơ ngơ nào đó tình cờ lọt vào ống kính ngoài dự kiến của đạo diễn, người quay phim, của tất tần tật những ai ở đó, trừ anh, một khán giả truyền hình.  Ánh mắt đó chỉ loáng qua, rồi tan lẫn vào những vòm cây, mà sao ám ảnh Vĩnh kỳ lạ, như dòng điện giật làm rung chuyển cái tâm thức đang ngủ yên của anh.

Vĩnh lắc đầu tự nhạo mình. Tưởng như vô cảm cho chuyến đi này, mà anh lại suy nghĩ quá nhiều, sinh hoang tưởng. 

***

Lần đầu tiên trong đời, Vĩnh thấy cuộc sống của mình có ý nghĩa khi chạm những ánh nhìn ngây thơ, khát khao cuộc sống nơi “thế giới của anh”. Với những đứa trẻ của núi rừng này, anh đến từ một thế giới hào nhoáng, đáng mong ước. Kiến thức của anh là những điều hoàn toàn mới mẻ và cuốn hút, giữ chân những cô cậu bé lam lũ hàng giờ liền trong lớp học, tạm quên đi những trưa nắng cháy dang lưng trên đồng, những chiều cắt ngang con suối lũ về nhà, những đêm mưa dầm phả hơi lạnh buốt vào nhà qua khe vách hớ hênh.

Anh sống say sưa như chưa bao giờ được sống. Bọn trẻ say sưa theo từng bài giảng của anh, và truyền cảm hứng cho anh mạnh mẽ với những cặp mắt mở to, những cái miệng há hốc ra nghe anh nói. Nói một cách lý thuyết thì anh tìm thấy ý nghĩa cuộc sống của mình nơi đây, sau đằng đẵng hai mươi mấy năm trời tìm kiếm.

Nhưng sao anh vẫn thấy thiếu vắng điều gì.

Rồi điều đó đã đến. Ánh mắt ấy đã vụt hiện bên ngoài cửa lớp, rồi cũng nhanh chóng biến mất sau khi chạm cái nhìn của anh. “Chắc mình có vấn đề gì đó về phân tâm học thật!” Anh nhiều lần nghĩ như thế.

Nhưng anh không thể không tin vào thị giác của mình khi bắt gặp thêm đôi lần ánh mắt ấy len lén ghé qua ô cửa sổ. Ánh mắt thăm thẳm như chứa cả đại ngàn, không thể lẫn vào đâu được. Anh ớn lạnh khi nhận ra đó chính là ánh mắt, nét mày anh đã nhìn thoáng qua trong chương trình trên tivi dạo nọ.

Tiếng gọi ngây thơ của học trò khiến anh trở về thực tại: “Thầy ơi! Thầy ơi! Thầy có sao không!”

Anh bắt đầu hành trình tìm kiếm đôi mắt đó vào những buổi không lên lớp, những giờ nghỉ trưa. Tất nhiên anh phải giấu hành vi bất thường của mình. Đất và người nơi này đang tin tưởng anh, không thể để niềm tin đó lay động.

Những lối mòn trong rừng dần trở nên quen thuộc với anh, cũng như anh đã thuộc tên từng món lá thuốc, từng cái hoa rừng, từng tiếng chim hót mà những người dân bản địa đáng mến đã chỉ cho anh. Lâu dần, thú vui lang thang trong rừng đã trở thành một thói quen, và anh cũng quên mất mục tiêu ban đầu là đi tìm ánh mắt lạc loài nào đó.

Không bao lâu mà Vĩnh dường như quên mất phố xá. Chốn rừng núi này anh cảm thấy được yên ổn, kỳ lạ hơn, anh thấy thân quen như đã ở đó từ bao giờ.

Một ngày nọ, cả buôn làng rúng động vì một cái tang ma không bình thường. Đó là đám tang một bà cụ mà theo lời của già làng là đã mất tích từ lâu lắm, từ cái ngày con ma rừng xuất hiện. Con “ma rừng” đó vốn là một đứa bé không cha. Mẹ nó là người miền xuôi, bị “trời bắt tội” mà bụng mang dạ chửa lưu lạc tới buôn làng rồi sinh ra nó. Sản phụ vừa sinh con xong thì cũng qua đời, theo luật tục của dân làng, đứa bé phải được chôn theo mẹ để con ma rừng bị đuổi vào rừng sâu, không ở lại phá phách dân làng. Kỳ lạ là trong lúc làm ma chay cho sản phụ xấu số, đứa bé đó đã biến mất, cùng với một người phụ nữ không chồng con là bà H-mú.

Từ đó biền biệt 17 năm trời không thấy H-mú quay trở về, ai cũng chắc mẩm bà đã bị con ma rừng làm hại. Nào ngờ đâu nay bà đã quay lại với bản làng, trong hình dạng một nắm xương tàn.

Vĩnh ngồi yên như tượng khi nghe xong câu chuyện. Một câu chuyện quá bi thảm cho số phận của những người trong cuộc, và cho cái luật tục khắc nghiệt của chốn rừng sâu núi thẳm này. 

Dân bản xôn xao trước sự xuất hiện đột ngột của H-mú:

-         Thì ra lâu nay bà ấy vẫn còn sống ở trong rừng.

-         Vì sao suốt bao nhiêu mùa rẫy rồi bà không quay về?

Già làng chép miệng:

-         Hầy! Cọp chết quay đầu về núi! 

Một người bỗng dưng buột miệng:

-         Còn ma rừng thì sao?

-         Chúng ta có nên tìm nó, đánh đuổi nó?

-         Chắc gì nó còn sống chứ?

-         Chắc phải cúng Yàng để xua đuổi hồn ma của nó!

Vĩnh như bừng tỉnh. Không dưng anh thấy lo lắng tột cùng cho con ma rừng xa lạ nào đó.

Lễ tang cho H-mú diễn ra có phần lặng lẽ. Trong khi dân bản đang lần lượt chờ đến phiên mình tắm nước cây ngải pha máu gà để cắt đứt sợi dây kết nối với hồn ma H-mú, Vĩnh biến mất. Dân bản còn xôn xao hơn cả khi H-mú xuất hiện:

-         Thầy giáo biến mất rồi!

-         Hay nó bị ma rừng bắt rồi? Nó chưa kịp rửa nước ngải…

-         Tội nó! Cái bụng thầy giáo tốt mà!

Vĩnh không biết mình đi đâu. Anh cứ đi mãi trên con đường mòn. Những ý nghĩ hỗn loạn trong đầu anh. Những con người anh từng yêu thương, những con người vô cùng tử tế, với cái hủ tục ác nghiệt đang ở phía sau. Anh hiểu gì về họ, khi đã cùng chung sống suốt một năm qua? Một đứa bé sơ sinh bị ép đem chôn cùng mẹ… Anh rùng mình. Dù những câu chuyện như vậy anh vẫn đọc được, nghe được, nhưng nó ở đâu đó trong những buôn làng xa xôi, giờ đây nó diễn ra chính ở nơi anh đang sống. Sắp tới anh sẽ làm gì, nếu câu chuyện đó lặp lại một lần nữa? Anh đứng nhìn một sinh linh bị chôn sống? Hay anh có đủ sức ngăn cản đám đông? Lần đầu tiên anh tự chất vấn mình về chuyện đúng sai khi đặt chân đến nơi đèo heo hút gió này.

Vĩnh cứ đi như thế, đêm tối xuống và trăng lên. Anh nhận ra mình đã lạc đường, và đói khát đến lả người. Vĩnh hoang mang tột độ, cứ phía trước mà dấn bước. Chợt anh trông thấy một làn sương mờ mỏng trước mặt, như một bức màn chắn ngang anh và một thế giới khác. Như bị thôi miên, Vĩnh vẫn bước tới, ấn mình vào màn sương đó. Mát rượi. Và ngay lập tức Vĩnh như lọt vào một cảnh giới khác. Một khung cảnh rừng đêm đẹp tuyệt với đồi cây thưa, để ánh trăng chiếu sáng mọi ngóc ngách.  Một dòng suối êm đềm chảy ngang qua, với đủ loài kỳ hoa dị thảo vẫn nở trong đêm một cách yên bình, như không biết đến sự tồn tại của đời thực khắc nghiệt bên ngoài.

Vĩnh nhào tới dòng suối, uống lấy uống để. Nước ngọt và thơm như pha mật. Vĩnh ngả người trên phiến đá và lập tức đối diện mặt trăng tròn vạnh và bầu trời đêm trong vắt. Dòng suối trăng chảy trên người anh. Vĩnh rùng mình vì mơ hồ nhận ra anh vừa tìm thấy mình, tìm thấy nơi chốn thân quen của mình. Vì sao anh lại có cảm giác quá đỗi thân thuộc và dễ chịu như thế? Vĩnh thiếp đi.

Tiếng chim hót trên cành và tiếng suối chảy róc rách đánh thức Vĩnh dậy. Anh mở mắt và giật bắn cả mình khi thấy một cô sơn nữ đang đứng nhìn chằm chằm vào anh. Anh như bị hút vào đôi mắt ấy! Chính đôi mắt ấy, đôi mắt anh đã tìm kiếm một cách có chủ đích và vô định lâu nay.

Vĩnh choàng dậy, đưa mắt nhìn quanh. Cảnh vật xung quanh anh đã chuyển từ đêm sang ngày, nhưng vẫn không đánh mất vẻ lung linh kỳ ảo của nó. Vậy tất cả không phải là một giấc mơ. Nhưng mình đang ở đâu đây? – Vĩnh hoang mang nghĩ.  Cô gái này chắc không phải là nàng tiên, và thế giới anh đang ngồi không phải là thế giới cổ tích.

***

Sáu tháng đã trôi qua kể từ lần gặp gỡ kỳ lạ đó của Vĩnh và Sao Khuê.

Cô sơn nữ có cái tên của người miền xuôi là Sao Khuê, do bà mẹ nuôi H-mú đặt theo lời căn dặn của người mẹ đã mất. Bà đã liều mình bế Sao Khuê chạy trốn khỏi cuộc chôn sống, từ đó hai người biệt tích trong rừng, không một lần dám quay lại. Mẹ H-mú tuy không sinh ra Sao Khuê nhưng Sao Khuê chỉ biết có bà là mẹ, chỉ đến khi H-mú biết mệnh mình không qua khỏi, bà quyết định ra đi và nói cho Sao Khuê biết về thân phận thật của mình. Tình thương đứa con không máu mủ ruột rà không đủ lớn bằng một thứ tình thiêng liêng khác.

H-mú nhớ cái nương rẫy, nhớ buôn làng, nhớ nơi H-mú sinh ra. Vào phút cuối của cuộc đời mình, sợi dây nối với mảnh đất của riêng mình nó mới thắt chặt, mới bùng lên, thôi thúc mãnh liệt “cọp quay đầu về núi”. H-mú chưa một lần dám đưa Sao Khuê trở lại buôn làng, vì cô chính là một con ma rừng ám ảnh bao thế hệ dân bản chốn này.

Vĩnh chắp nối dữ kiện và đau xót khi đọc được đầu đuôi của một câu chuyện dài 17 năm: đôi mắt ám ảnh giữa đại ngàn, đứa bé sơ sinh mất tích cùng một phụ nữ, H-mú trở về để chết trong lòng dân bản…

Nhưng Vĩnh đã có một thời gian đẹp nhất của đời mình ở khu rừng kỳ lạ, với người sơn nữ kỳ lạ mà cuộc đời mang đầy biến cố đó.

Sao Khuê như nàng Bạch Tuyết giữa núi rừng, bản năng và hồn nhiên, như có một sức mạnh nội tại nào đó mà không thế lực nào xâm hại được. Thú rừng thân thiện cô, gió núi ve vuốt cô, những bông hoa nở thơm làm đẹp lòng cô. Không còn nghi ngờ gì nữa, Sao Khuê là vị thần nữ của nơi này, nơi cô thuộc về.

Trong khu rừng đó với Sao Khuê, không có nghi kỵ, không có tổn thương, không có những cuộc đua khốc liệt để dành vị trí, cũng không có hủ tục man rợ nào đe dọa… Vĩnh bàng hoàng nhận ra đây chính là cuộc sống mà mình tìm kiếm, một nơi thuộc về anh, anh thuộc về nó.

Sao Khuê đón nhận Vĩnh hồn nhiên như một đứa trẻ tìm thấy bạn, tha thiết như con chim rừng tìm thấy bạn tình, đằm thắm như con trai con gái yêu nhau.

Vĩnh quên hết những lạc loài quá khứ, quên hết những vết thương xưa cũ, quên những con người đời thường anh gặp, quên cả quê hương bản quán, vì dường như chính nơi này mới là quê hương bản quán của anh.

Nhưng có vẻ như tạo hóa đã sắp đặt sẵn, để người mơ ngủ luôn thức dậy vào lúc giấc mơ đang đẹp.

Bên trong Vĩnh có một con người thứ hai đang phán xét. Những con người chờ đợi anh, cuộc sống bên ngoài chờ đợi anh. Dù sao đi nữa, anh cũng là con người của thế giới đầy bon chen ngoài kia. Anh không thể phủ nhận nguồn gốc thực thể của mình. Vĩnh nhớ tiếng con người.

Như kết cuộc của một câu chuyện phải như vậy, Vĩnh muốn đưa Sao Khuê trở về. Điều đó đồng nghĩa với việc kết thúc giấc mơ cổ tích, kết thúc mọi thứ an nhiên và tự tại nơi này, để đón nhận một nơi trần trụi, gian nan, bất trắc nhưng bình thường, theo soi chiếu của số đông. Nàng Bạch Tuyết cuối cùng cũng phải về cung vua. 

Nhưng nàng công chúa Sao Khuê đã ngủ quá lâu trong rừng. Mặt khác nàng đang là một con ma rừng đáng sợ. Một con ma rừng sắc nước hương trời khiến đàn ông trong bản thèm muốn lớn hơn cả sợ hãi, khiến phụ nữ căm ghét lớn hơn cả sợ hãi.

Cho nên, dù hủ tục không còn, dù niềm tin ma rừng đã phai phôi theo thời gian mà sự giao thoa văn hóa đã mài mòn, thì Sao Khuê vẫn là một con ma rừng đáng sợ với sắc đẹp và sự sống bản năng quá mạnh trong cô.

Vĩnh và Sao Khuê trở thành tấm bia cho những thịnh nộ trần tục mà không bao giờ Sao Khuê hiểu được.

Một lần nữa, già làng lại chép miệng: “Cọp quay đầu về núi” khi Sao Khuê như con thú bị thương bỏ chạy tuốt vào rừng già, mãi mãi không bao giờ dám quay lại thế giới loài người.

Sao Khuê, ngôi sao chỉ sáng và hùng cứ ở đại ngàn sâu thẳm.

***

Sao Khuê đẩy thêm củi vào bếp lửa đang bập bùng. Họ đã ngồi như vậy gần suốt đêm. Đêm tàn cũng là lúc Vĩnh kiệt sức. Hai con người giằng xé trong anh cũng thấm mệt, để yên cho anh ngủ một giấc sâu, có lẽ là cuối cùng.

***

Vĩnh thức dậy ngay trên bàn giáo viên trong căn lớp lụp xụp. Học trò ngơ ngác nhìn anh. Anh cũng ngơ ngác không kém:

-         Thầy đã ngủ sao?

-         Dạ. Thầy ngủ lâu lắm rồi. Gọi Thầy không được…

***

Người thầy giáo trẻ đầy nhiệt huyết của buôn làng vùng cao, một ngày nọ bỏ đi vào núi và không còn ai biết tung tích.

Rằng xưa có gã từ quan
Lên non tìm động hoa vàng ngủ say… (*)

Trương Huỳnh Như Trân
(Bình Phước)


Chú thích: (*) Thơ Phạm Thiên Thư.

*****


Trương Huỳnh Như Trân là ái nữ của nhà văn Trương Đình Tuấn
- hội viên hội VHNT tỉnh Bình Phước
truonghuynhtth@gmail.com


Hình minh họa: Thiếu nữ Ê-Đê,  ảnh của Đào Thọ

***
READ MORE - MA RỪNG - Truyện ngắn của Trương Huỳnh Như Trân