Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Ngô Văn Ánh. Show all posts
Showing posts with label Ngô Văn Ánh. Show all posts

Saturday, May 27, 2017

HOÀI NIỆM - Thơ Ngô Văn Ánh


                Tác giả Ngô Văn Ánh




HOÀI NIỆM
(Gởi cố nhân Quốc Học khóa 1972-1975)

Ta như cánh én lạc loài
Mịt mù giông bão, ưu hoài nắng xuân.
Hỡi cố nhân, hỡi tri âm,
Vó câu chiếc bách hoa râm mái đầu !
Máy tạo hóa trước sau vẫn thế,
Vòng càn khôn ai dễ đổi thay.
Tà huy lụy góc trời tây,
Hồn xưa trường cũ đong đầy trinh nguyên.
Người đi vào cõi thần tiên
Xiêm y phóng tẩy nhập miền thiên thai.
Có còn ai ? Biết còn ai ?
Trăng thu viễn xứ dặm dài cố hương.
Ngày hội ngộ rèm sương ánh lệ,
Buổi tương phùng nhân thế, thế nhân.
Hương trà, men rượu bâng khuâng
Phong ba yên nguyệt tím dần thời gian.
Tang điền thương hải đa đoan!

                                  Ngô Văn Ánh                              
                             (Ban C Quốc Học)

READ MORE - HOÀI NIỆM - Thơ Ngô Văn Ánh

Tuesday, May 23, 2017

ĐIẾU VĂN LỄ CHUNG ĐIỆN CỐ MẪU - Ngô Văn Ánh


                Tác giả Ngô Văn Ánh



ĐIẾU VĂN LỄ CHUNG ĐIỆN CỐ MẪU
 
Việt Nam Quốc - Tuế thứ... niên,… nguyệt,… nhật.
Thừa Thiên…
Cô ai tử… đồng gia cốt nhục huynh đệ, tỉ muội, nam nữ, tử tôn, hôn tế, nội ngoại thiết cúng chung điện chi lễ hương linh cố mẫu thế danh… pháp danh…, sinh…, chung mạng… nhật,… nguyệt, …. niên. Hưởng thượng thượng thọ cửu thập niên tuế.

HỠI ƠI!    
Xuân huyên hữu hạn, nhật nguyệt vô thường.
Phong vân tụ tán, sơn nhạc tang thương.
Đau xé lòng con cháu,cạn khô dòng lệ sụt sùi tiễn mẹ  ra đi
Thiên đường mờ mịt
Cõi Phật xa xăm
Tổ tiên vẫy gọi
Mẹ già cỡi hạc bay xa!

NHỚ VONG LINH TỪ MẪU NGÀY XƯA
Chính gốc con giòng, cháu giống
Ái nữ Lê tộc đại tôn, cũng từng có danh có thế .
Thuở ấu thời bà ngoại sớm qui tiên
Ông chịu cảnh cha già con muộn
Tháng ngày côi cút gà trống nuôi con
Nhờ phước đức tổ tiên, trẻ mau ăn chóng lớn.

Tuổi xuân vừa chín - mười tám, đôi mươi.
Ông tơ bà nguyệt buộc chỉ xe duyên
Chú bác cô dì mối mai khuyên bảo
Mẹ thành dâu cụ Bộ nức tiếng cự gia, nổi danh hào phú
Phong lưu đệ nhất trong làng
Âu Tây đứng đầu hàng tổng.
Những tưởng cuộc đời từ đây thay đổi, bốn mùa vất vả vơi đi.
Nào hay phận số  hẩm hiu, quanh năm lận đận.
Tiếng thì có miếng thì không, quả là hữu danh vô thực.
Trăm công nghìn việc nhà chồng trút cả một đầu dâu trưởng.
Sao mai chưa tỏ vội dậy lo cơm nước thợ thầy.
Gà đã vào chuồng còn ngồi nhặt sắn khoai ngoài rẩy.
Một lòng phụng kính cha chồng
Thật dạ hiếu chăm nhạc mẫu
Lũ em chồng tuổi lớn, tuổi ăn
Tay chị trưởng lo toan mọi nhẽ.
Thịt thà cơm cá nhường em
Mắm nuối rau dưa phần chị.
Máu đầu chị đổ, bởi chú ba tính khí hung hăng.
Bụng không đủ bữa vì cô út cần người bón mớm.
Thật trọn đạo dâu hiền
Quả sáng gương chị thảo.
Miệng người người nói , mặc mẹ răng lưỡi thế gian.
Lòng mình mình hay, thây cha mép mồm trần tục.

THẾ MÀ
Trời  chẳng thương người.
Họa vô đơn chí.
Năm giặc Tây đổ bộ từ biển kéo vào, lửa cháy ngút trời, tiếng kêu dậy đất.
Xóm làng đang trù phú bình yên bỗng chốc thành tiêu điều xơ xác.
Pháp xả súng, chồng bị thương, chân què, ruột thủng.
Nhật cướp lương, con đói lã, da bủng mình teo.
Thương thay số mẹ gieo neo
Thân gầy chạy giặc gánh theo con, chồng!
Long đong khắp Hà Trung, Hà Trữ.
Lận đận vùng Phú Thứ, Phú Vang
Nương nhờ Hà Ốc, Vinh An.
Ăn xin  Mỹ Á, Nghi Giang, Nam Trường.
Trong cơn hoạn nạn tai ương 
Đọa đày thân mẹ đoạn trường ai hay?
Cơ đồ giờ đã trắng tay
Tảo tần mình mẹ dựng xây cửa nhà.

Nhớ thuở còn ba ban sáu thập
Khi nước hôm, khi nước sáng,lúc bến đình, lúc bến chợ mẹ chẳng vắng mặt buổi nào.
 Mua tôm bán lại chủ lò,  có đồng lời lãi để cho đỡ nghèo.
Tan chợ Cồn, chạy lên Mỹ Lợi, chạy suốt ngày kiếm ít đồng xu.
Chợ chiều Mỹ Á, lộn ngược Đông Am, giải nắng dầm mưa kiếm thêm chút vốn.
Vai gầy gánh nặng, kẽo kẹt quanh năm
Chân yếu đường xa gập ghềnh suốt tháng.
Nuôi con dại, gái trai đầy đủ, chăm lo từng giấc ngủ miếng ăn.
Đêm đông bên ướt mẹ nằm, con đau mẹ thức âm thầm năm canh.
Cả đời mẹ nhịn ăn ,nhịn mặc, chỉ những mong no đủ chồng con.
Cả đời mẹ chịu khó chịu thương, tâm hằng muốn gia môn hưng thịnh.

CHAO ÔI ! 
Chỉ một đôi quang gánh,mấy cái rổ, cái sàng mà dựng nên gia nghiệp
Có vài ba điểm chợ, dăm mớ cá, mớ tôm mà nuôi đàn con khôn lớn.
Nhà cửa tuy chẳng bằng ai, vẫn có chỗ gia tiên thờ phụng, hôm sớm vào ra.
Cháu con dù chưa hiển đạt, vẫn mang danh ông cử ông đồ, rạng rỡ tổ tông, mở mày mở mặt

HỠI ƠI !  
Công sinh thành dưỡng dục cao quá Thái Sơn.
Đức cưu mang bú mớm lớn hơn Đông Hải.
Xóm làng sau trước thủy chung, thân thích sớm khuya trọn đạo.
Gần chín chục mùa xuân tại thế, chưa xuân nào hưởng trọn niềm vui. 
Hơn bốn phần năm thế kỉ làm người,  chưa một lúc thảnh thơi đôi chút.
Bởi khó khăn kinh tế, lũ chúng con lo chạy gạo nuôi con,
Vì tha phương cầu thực, thiếu thời gian về chăm sóc mẹ già.
Trước linh sàng nghi ngút  trầm hương
Có xóm có làng có họ hàng thân thích phúng viếng phân ưu
Có tiếng mõ  lời kinh của đao tràng phát tâm cầu nguyện .
Ngày mai huyệt lạnh bãi tha ma, bỏ cửa bỏ nhà, rời xa con cháu.
Nắm đất cỏ khâu mẹ vĩnh hằng yên nghỉ!!
     
XÓT XA THAY!    
Lúc còn tại thế, con cháu để mẹ bữa đói bữa no.

XẤU HỔ THAY!    
Khi đã xuôi tay, lễ vật lại bày dâng la liệt.

Lễ Chung điện trầm hương nghi ngút, bát nước chén trà, mượn tiếng kệ lời kinh, nhờ phép phật siêu sinh tịnh độ.
Phút Tiến linh nghẹn ngào tiếng khóc. Con cháu gái trai giập đầu bái lạy. kính xin mẹ linh thiêng chứng giám..
Nước mắt chảy xuôi, lòng mẹ biển trời, hồn mẹ anh linh xin hải hà tha thứ.

                                                                       NGÔ VĂN ÁNH

READ MORE - ĐIẾU VĂN LỄ CHUNG ĐIỆN CỐ MẪU - Ngô Văn Ánh

Monday, May 22, 2017

CẢM NHẬN VỀ BÀI THƠ MỘT THOÁNG SÔNG HÀN CỦA ĐĂNG XUÂN - Ngô Văn Ánh


Đọc trên Văn nghệ Quảng Trị, mình thấy có mục bình thơ khá thú vị. Mình có người bạn tên Trần Đăng Xuân ở Gia Lai gởi cho mình bài thơ Một Thoáng Sông Hàn đề nghị mình bình giúp. Vì là bạn thân nên mình chân thành bình như sau. Nay gởi đến trang VNQT xem để nhận xét về lời tập (tập sự) bình của mình như thế nào. Cám ơn.


                Tác giả Ngô Văn Ánh



            MỘT THOÁNG SÔNG HÀN

            Biển trong phố, phố trong biển (1)
            Trong xanh sông Hàn màu mắt em (2)
            Sơn Chà canh đứng lặng thinh (3)
            Sao trời, sao đất lung linh rạng ngời.
            Xao lòng trước biển trùng khơi,
            Sao em chưa đến trả lời thề xưa.(4)
                                          Đăng Xuân
                                 (Phú Nhơn, Gia Lai)

BÌNH:
              Câu thứ nhất: Mang tính khẳng định khách quan. Chưa thể hiện được sự ngỡ ngàng của chủ thể trữ tình trước thưc tại phố và biển lồng vào nhau. Đó là thành phố biển hay biển thành phố? Yếu tố nào bao hàm yếu tố nào? Câu này nên chuyển thành dạng câu nước đôi nghi vấn- cảm thán: Biển phố hay là phố biển đây?!
             Câu thứ hai: Kết hợp tốt cả ba biện pháp miêu tả, so sánh và liên tưởng nhưng chưa rõ tác giả khen dòng sông Hàn hay màu mắt của cô gái. Để vừa giữ lại các thủ pháp nghệ thuật đã sử dụng vừa hàm ý tán dương đôi mắt của cô gái-màu mắt cô cùng màu xanh của sông Hàn làm cho mây khói, bầu trời sông Hàn trong xanh hơn; câu nầy có thể chữa lại là: Mắt em xanh biếc khói mây sông Hàn.
            Câu thứ ba: Núi Sơn Chà (Sơn Trà) đã được nhân hóa làm người đứng canh giữ thành phố biển. Chưa thể hiện được vẻ đẹp quyến rũ của thành phố, đẹp đến nỗi làm cho vật vô tri giác (Núi Sơn Chà) phải say đắm, đứng yên ngơ ngẩn!  Vì vậy, câu nầy có thể chữa lại là: Sơn Chà ngơ ngẩn lặng thinh.
          Câu cuối: Đợi em đến trả lời. Cô gái có thể thực hiện hoăc không thực hiện điều mà cô đã hứa trước đây với chàng trai. Bấy lâu nay, vì lí do nào đó, cô chưa thể trả lời hoăc chưa thể thực hiện được lời thề thốt, hẹn ước ngày xưa. Theo mạch cảm xúc của bài thơ, ta hiểu chàng trai đang chờ cô gái thực hiện lời thề chứ không phải trách sao cô không trả lời. Chờ ngày trái tình chín mọng, ngày tình yêu viên mãn , ngày thu hoạch vụ mùa thắng lợi hoàn toàn khác với chờ xem vụ mùa được hay mất. Cho nên câu cuối thay trả lời bằng từ ngữ khác như: trọn, vẹn, đẹp lời thề xưa. Vậy bài thơ có thể chữa lại thành thể thơ lục bát như sau:
            
            MỘT THOÁNG SÔNG HÀN

            Biển phố hay là phố biển đây!?
            Mắt em xanh biếc khói mây sông Hàn
            Sơn Chà ngơ ngẩn lặng thinh
            Sao trời, sao đất lung linh rạng ngời.
            Xao lòng trước biển trùng khơi,
            Sao em chưa đến - trọn lời thề xưa?  
                                            Ngô Văn Ánh

            
READ MORE - CẢM NHẬN VỀ BÀI THƠ MỘT THOÁNG SÔNG HÀN CỦA ĐĂNG XUÂN - Ngô Văn Ánh

Saturday, May 20, 2017

NGUỒN GỐC VÀ Ý NGHĨA CỤM TỪ “THANH MAI TRÚC MÔ; DỊCH THƠ “TRƯỜNG CAN HÀNH” CỦA LÝ BẠCH - Ngô Văn Ánh



                Tác giả Ngô Văn Ánh


NGUỒN GỐC VÀ Ý NGHĨA CỤM TỪ “THANH MAI TRÚC MÔ; DỊCH THƠ “TRƯỜNG CAN HÀNH” CỦA LÝ BẠCH
                                         
     Là giáo viên đứng lớp giảng dạy hơn 35 năm với 3 môn tạm gọi là sở trường là Ngữ Văn, Lịch Sử và Địa lý thế mà chỉ một cụm từ thông dụng thường được nghe nói hằng ngày đến lúc sắp nghỉ hưu vẫn còn chưa biết! Dù rằng kiến thức nhân loại là vô tận, sự hiểu biết của mỗi người chỉ là hạt cát trong sa mạc mênh mông nhưng tôi vẫn thấy xấu hổ cho chính mình! Thành thật mà nói, cho đến bây giờ tôi mới hiểu được nghĩa và xuất xứ của cụm từ “Thanh mai trúc mã”. Thì ra “Thanh mai trúc mã” là một điển tích lấy từ trong bài thơ Trường Can Hành của thi tiên Lý Bạch đời nhà Đường bên Trung Quốc. Tôi xin chép ra đây bài thơ phiên âm Hán-Việt của Lý Bạch để chúng ta cùng thưởng lãm.

          TRƯỜNG CAN HÀNH
                          
          Thiếp phát sơ phú ngạch
          Chiết hoa môn tiền kịch
          Lang kỵ trúc mã lai
          Nhiễu sàng lộng thanh mai
          Đồng cư Trường Can lý
          Lưỡng tiểu vô hiềm sai.
          Thập tứ vi quân phụ
          Tu nhan vị thường khai
          Đê đầu hướng ám bích
          Thiên hoán bất nhất hồi.
          Thập ngũ thủy triển mi
          Nguyện đồng trần dữ hối
          Thường tồn bão trụ tín
          Khởi thướng Vọng phu đài.
          Thập lục quân viễn hành
          Cù Đường, Diễm Dự đôi
          Ngũ nguyệt bất khả xúc
          Viên thanh thiên thượng ai.
          Môn tiền trì hành tích
          Nhất nhất sinh lục đài
          Đài thâm bất năng tảo
          Lạc diệp thu phong tảo.
          Bát nguyệt hồ điệp hoàng
          Song phi tây viên thảo
          Cảm thử thương thiếp tâm
          Tọa sầu hồng nhan lão.
          Tảo vãn há Tam Ba
          Dự tương như báo gia
          Tương nghênh bất đạo viễn
          Trực chí Trường Phong Sa.

                                     Lý Bạch

       Đây là bài thơ ngũ ngôn theo thể Cổ Phong (thể thơ cổ có trước thể thơ Đường) làm theo điệu hát dân gian của người Trung Quốc xưa ( Như ở Việt Nam ta có đồng dao, dân ca…). Bài Trường Can hành kể về cuộc tình của đôi trai gái ở xóm Trường Can. Tạm dịch như sau: Thời nhỏ đôi trẻ chơi thân với nhau rất hồn nhiên. Năm cô gái 14 tuổi thì họ thành vợ chồng.  Lúc về làm vợ, cô gái còn xấu hổ thường quay mặt vào tường. Mười lăm tuổi, cô gái bắt đầu lộ vẻ tươi vui. Họ cùng thề nguyền sống với nhau trọn đời dù gặp phải nghèo khó. Hứa sẽ như chàng Vỹ mãi ôm chân cầu (Vỹ Sinh giữ chữ tín cứ ngồi ôm chân cầu chờ đợi cho đến khi nước ngập mà chết) và sẽ làm người Vọng phu đứng trông chồng. Mười sáu tuổi họ xa nhau vì chồng phải đến tận chốn xa xôi. Tháng Năm nước lớn không thể đến với chồng được, Tiếng vượn kêu thảm thiết  vang vọng trời xanh. Trước sân nhà còn in dấu chân người xưa đã phủ đầy rêu xanh. Rêu dày không thể quét sạch hết được. Gió thu thổi sớm làm lá rụng nhiều. Tháng Tám, từng đôi bướm vàng bay lượn  ở thảm cỏ phía tây khu vườn. Nhìn cảnh ấy nàng thấy xót xa cho mình. Ngồi buồn vì tuổi xuân ngày càng phai tàn. Đến Tam Ba dù sớm hay muộn,  chàng nhớ gửi thư báo về cho gia đình biết. Nàng sẽ đi thẳng đến Trường Phong Sa đón chàng dù cho đường sá có xa xôi.
     Trong bài thơ có chi tiết  chàng (lúc nhỏ) lấy cành trúc làm ngựa  đến chạy quanh ghế nàng ngồi và ném những quả mơ xanh để chơi đùa (khi nàng đang hái hoa chơi trước sân). Sau này người ta dùng cụm từ “ Thanh mai trúc mã” để chỉ về đôi trai gái trời sinh có duyên nợ xứng đôi vừa lứa từ nhỏ.
        Tôi xin mạo muội dịch bài Trường Can Hành của Thi tiên Lý Bạch ra 3 thể thơ khác nhau là Ngũ ngôn, Lục bát và Song thất lục bát. Mong các bạn góp ý giúp đỡ..

     TRƯỜNG CAN HÀNH
       (Dịch thơ ngũ ngôn)

    Tóc nàng xõa chấm trán
    Trước sân hái hoa chơi
    Ngựa trúc chàng chạy tới
    Mơ xanh đùa ghế ngồi.
    Cùng ở xóm Trường Can
    Đôi trẻ còn trong sáng.
    Mười bốn thành vợ chồng
    Nàng xấu hổ thẹn thùng
    Quay mặt vào vách tối
    Mặc cho chàng vẫy gọi.
    Mười lăm mày ngài nở
    Thề cùng dù nghèo đói
    Ôm trụ giữ niềm tin
    Lên Vọng phu chờ đợi.
    Mười sáu chàng đi xa
    Chốn Diễm Dự, Cù Đường
    Tháng năm thuyền khó đến
    Vượn hú vọng bi thương.
    Dấu chân xưa còn đó
    Khắp lối phủ rêu xanh
    Rêu dày khó xóa sạch
    Gió thu lá tan tành.
    Tháng tám bươm bướm vàng
    Vườn tây từng đôi múa
    Thấy cảnh thiếp đau lòng
    Ngồi buồn hồng nhan úa.
    Về Tam Ba sớm muộn
    Chàng nhớ gởi thư nhà
    Dù xa xôi vẫn đón
    Thiếp tới Trường Phong Sa.

                       Ngô Văn Ánh


      TRƯỜNG CAN HÀNH 
           (Dịch thơ lục bát)

      Tóc em chấm trán xõa dài
Hái hoa trước cửa nắng mai vui đùa
      Ngựa trúc chàng đến bất ngờ
Vờn quanh ghế nhỏ ném đùa mơ xanh
      Trường Can xóm nhỏ yên bình
Ngây thơ hai trẻ vô tình hồn nhiên
      Tơ hồng, Nguyệt lão xe duyên
Tròn mười bồn tuổi đã nên vợ chồng
      Em còn xấu hổ, thẹn thùng
Quay vào vách tối mặc chồng gọi kêu.
      Mười lăm mày phượng mỹ miều
Nguyện dù nghèo khổ vẫn yêu trọn đời
      Một lòng ôm trụ giữ lời
Xin lên núi đá làm người vọng phu.
      Mười sáu xa cách tuyệt mù
Cù Đường, Diễm Dự biên khu việc chàng
      Tháng năm nước lớn khó sang
Vượn kêu ai oán đại ngàn vọng ra
      Dấu chân còn trước sân nhà
Bóng xưa phủ kín nhạt nhòa rêu xanh
      Quét rêu xóa hết sao đành
Gió thu thổi sớm tan tành lá rơi
      Bướm vàng tháng tám rợp trời
Từng đôi bay lượn chẳng rời vườn tây
      Cảnh như xé nát lòng nầy
Ngồi buồn gặm nhấm hao gầy tuổi xuân.
      Tam Ba về tới, phu quân
Phong thư xin báo tin mừng nhà hay
      Đường xa em cũng đi ngay
Trường Phong thẳng đến vui say đón chàng.

                                          Ngô Văn Ánh


           TRƯỜNG CAN HÀNH  
         (Dịch thơ song thất lục bát)

      Thuở ấu thơ tóc còn xõa trán
     Thiếp hái hoa nắng sớm trước sân
         Ngựa trúc, chàng phóng lại gần
  Đùa quanh ghế nhỏ ném chùm mơ xanh.
     Xóm Trường Can, yến oanh đôi trẻ
     Cùng thơ ngây có ngại ngùng chi
       Thiếp vừa mười bốn xuân thì
   Nên duyên chồng vợ biết gì phu thê.
      Thiếp xấu hổ, đêm về chung bóng
     Ngoãnh vào tường lóng ngóng làm ngơ
       Mặc cho chàng mãi gọi chờ
   Rèm mi run rẩy, hững hờ bờ vai. 
     Mười lăm tuổi, mày ngài  mắt phượng
     Nghĩa tào khang càng đượm càng sâu
       Nguyện cùng trọn kiếp ôm cầu
  Vọng phu núi đá dãi dầu cũng cam.
     Mười sáu tuổi, li tan đôi ngã
     Chốn biên khu vất vả riêng chàng
       Cù Đường, Diễm Dự quan san
   Tháng Năm, sông lớn nước tràn khó qua.
       Não trời xanh, xót xa vượn hú
     Trước hiên nhà xanh phủ đầy rêu
        Dấu xưa phai nhạt ít nhiều
   Ngậm ngùi cảnh cũ, phòng tiêu lạnh lùng.
      Tháng Tám sớm, thu phong lá đỏ
     Lũ bướm vàng vờn ngõ vườn tây
        Từng đôi bay lượn sum vầy
   Tủi thân thiếp sợ hao gầy tuổi xuân. 
      Đến Tam Ba, phu quân chàng hỡi
     Cánh nhạn hồng xin gởi nhà hay
         Dù xa, thiếp cũng đi ngay
   Trường Sa thẳng tới mừng ngày đoàn viên.

                                             Ngô Văn Ánh

READ MORE - NGUỒN GỐC VÀ Ý NGHĨA CỤM TỪ “THANH MAI TRÚC MÔ; DỊCH THƠ “TRƯỜNG CAN HÀNH” CỦA LÝ BẠCH - Ngô Văn Ánh