TRANG THUẦN TÚY VĂN HỌC NGHỆ THUẬT CỦA NGƯỜI QUẢNG TRỊ VÀ NGƯỜI YÊU MẾN QUẢNG TRỊ.
Chúc Mừng Năm Mới
Monday, February 2, 2026
MÙA ĐÔNG RIÊNG ANH - Thơ Đỗ Anh Tuyến
![]() |
| Tác giả Đỗ Anh Tuyến |
MÙA ĐÔNG RIÊNG ANH
Gió bấc về lùa qua kẽ tay
Phố cũ mình anh bước hao gầy
Em đi bên ấy môi cười ấm
Chẳng biết nơi này gió bủa vây.
Anh gom chút nắng cuối chiều rơi
Sưởi ấm tình câm chẳng thốt lời
Sợ nói ra rồi như khói thuốc
Tan vào sương giá biệt mù khơi.
Bàn tay giá buốt giấu vào túi
Anh đứng một mình dưới đêm khuya
Người ta sưởi ấm bằng chăn đệm
Anh sưởi tim mình bằng nhớ em.
ĐỖ ANH TUYẾN
Địa chỉ: Khu Cộng Hòa, thị trấn Thanh Nê, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình
NƠI GỞI GẮM TÂM TÌNH CỦA NGƯỜI XA QUÊ - TẬP SAN TÌNH QUÊ SỐ 26 CỦA HỘI ĐỒNG HƯƠNG QUẢNG TRỊ tại ĐÀ NẴNG- Văn Nghệ QT
Tình Quê số 26 ra mắt vào mùa Xuân Bính Ngọ 2026 trong một bối cảnh đặc biệt của quê hương Quảng Trị: bối cảnh lịch sử – hành chính mới sau sự hợp nhất Quảng Bình và Quảng Trị cũ, đồng thời cũng là thời điểm Hội đồng hương Quảng Trị tại Đà Nẵng mở rộng không gian sinh hoạt cộng đồng. Chính bối cảnh ấy đã tạo nên “trục cảm xúc” xuyên suốt cho toàn bộ tập san: hồi tưởng – tri ân – khát vọng – hướng tới tương lai.
Có thể nói, Tình Quê số 26 không chỉ là một giai phẩm Xuân thông thường, mà còn mang dáng dấp của một tập san ký ức – thời sự – văn hóa, phản ánh khá đầy đủ tâm thế của người Quảng Trị xa quê trước những chuyển động lớn của đất nước và tỉnh nhà.
1. Mạch chủ đề rõ ràng, nhất quán: từ ký ức chiến tranh đến khát vọng phát triển
Điểm nổi bật trước hết của Tình Quê số 26 là sự thống nhất về mạch chủ đề. Từ “Lời thưa” của Ban Biên tập cho đến các bài viết chính, tập san đều xoay quanh hai trục lớn:
(1) Ký ức lịch sử, chiến tranh, hy sinh;
(2) Niềm tin, khát vọng phát triển trong bối cảnh Quảng Trị “vóc dáng mới”.
Các bài như “Dự cảm mùa xuân” (Nguyễn Tiến Nên), “Ký ức Cồn Cỏ” (Hồ Duy Thiện), “Khát vọng từ miền gió cát” (Đào Tâm Thanh) tạo nên một chuỗi hồi tưởng giàu cảm xúc, giúp người đọc hình dung lại một Quảng Trị từng là tuyến lửa, là tiền tiêu, là nơi chịu đựng gian khổ cùng cả nước. Những trang viết ấy không sa vào bi lụy mà giữ được sự điềm đạm, chắt lọc, thể hiện cái nhìn của những người từng trải, từng “đi qua lịch sử”.
Song song với đó, các bài mang tính chính luận – tổng hợp như “Quảng Trị trong cuộc cách mạng hành chính và khát vọng trên ‘đất thép’” đã mở ra một không gian tư duy mới: Quảng Trị không chỉ là miền ký ức chiến tranh, mà còn là một thực thể hành chính – kinh tế đang chuyển mình mạnh mẽ. Việc đặt bài viết này cạnh các bài hồi ký, bút ký là một lựa chọn hợp lý, tạo nên thế cân bằng giữa “nhớ” và “đi tới”.
2. Giá trị tư liệu và chiều sâu trải nghiệm cá nhân
Một ưu điểm quan trọng khác của Tình Quê số 26 là giá trị tư liệu sống động. Nhiều bài viết được xây dựng từ trải nghiệm cá nhân trực tiếp, có mốc thời gian, địa danh, con người cụ thể. Điều này giúp tập san vượt lên trên tính chất “văn nghệ phong trào” để trở thành nguồn ghi chép ký ức cộng đồng.
Bài “Ký ức Cồn Cỏ” là một ví dụ tiêu biểu. Không chỉ kể lại chuyến công tác năm 1982, tác giả còn tái hiện được không khí gian khổ, thiếu thốn của người lính đảo trong thời kỳ bao cấp, từ chuyện nước ngọt đến sinh hoạt thường ngày. Những chi tiết nhỏ nhưng chân thực ấy làm nên sức nặng của bài viết, khiến Cồn Cỏ hiện lên không phải như một biểu tượng trừu tượng mà là một không gian sống động, có con người, có mồ hôi, có hy sinh.
Tương tự, “Khát vọng từ miền gió cát” kết hợp khá nhuần nhuyễn giữa ký ức chiến trường, nỗi đau lịch sử (thảm sát Mỹ Thủy) và những dự án kinh tế đang hình thành. Bài viết cho thấy một nỗ lực đáng trân trọng: đặt phát triển kinh tế trong mối quan hệ với ký ức và đạo lý, không tách rời quá khứ khỏi hiện tại.
3. Đội ngũ tác giả đa dạng, giàu tâm huyết
Danh sách cộng tác viên của Tình Quê số 26 cho thấy sự quy tụ của nhiều thế hệ, nhiều lĩnh vực: nhà báo, nhà văn, cựu chiến binh, cán bộ, văn nghệ sĩ, người làm công tác nghiên cứu, quản lý. Chính sự đa dạng này tạo nên “giọng điệu tập thể” của tập san – không đồng nhất một màu, nhưng cùng chung một mối quan tâm: quê hương Quảng Trị.
Điều đáng ghi nhận là phần lớn các bài viết đều giữ được sự nghiêm túc, tránh được lối viết dễ dãi, sáo mòn. Tình cảm quê hương được thể hiện bằng trải nghiệm, bằng suy ngẫm, hơn là bằng những khẩu hiệu chung chung.
4. Một số hạn chế và điểm có thể làm tốt hơn
Bên cạnh những ưu điểm rõ rệt, Tình Quê số 26 vẫn còn một số điểm có thể cân nhắc để hoàn thiện hơn trong các số sau.
Thứ nhất, cơ cấu nội dung còn thiên về chính luận và hồi ký, trong khi mảng đời sống đương đại của người Quảng Trị xa quê – nhất là tại Đà Nẵng – chưa được khai thác nhiều. Người đọc có thể mong muốn thấy thêm những câu chuyện gần gũi: sinh hoạt Hội đồng hương, những tấm gương vượt khó, lập nghiệp, hoạt động thiện nguyện, giáo dục con em xa quê.
Thứ hai, giọng văn của nhiều bài khá tương đồng, đều nghiêng về trang trọng, trầm lắng. Đây là nét đẹp, nhưng nếu kéo dài sẽ dễ tạo cảm giác “nặng”. Tập san có thể phong phú hơn nếu có thêm các bài viết ngắn, nhẹ, giàu chất đời thường, hoặc những tản văn, ghi chép mang hơi thở sinh hoạt.
Thứ ba, chưa có nhiều tiếng nói của thế hệ trẻ. Trong bối cảnh Quảng Trị đang hướng tới tương lai, việc tạo không gian cho người trẻ – sinh viên, người lao động, trí thức trẻ xa quê – bày tỏ suy nghĩ, cảm nhận sẽ giúp Tình Quê mở rộng đối tượng bạn đọc và tăng tính kế thừa.
5. Một số đề nghị để Tình Quê ngày càng hay và phong phú hơn
Từ những nhận xét trên, có thể mạnh dạn đề xuất một số hướng để Tình Quê tiếp tục phát triển:
Mở thêm chuyên mục cố định, như:
– “Người Quảng Trị xa quê”: chân dung ngắn, câu chuyện đời thường;
– “Quê hương trong tôi”: bài viết ngắn, cảm xúc cá nhân;
– “Trang trẻ”: dành cho tác giả trẻ, học sinh – sinh viên.
Đa dạng hóa hình thức bài viết: tăng số lượng bài ngắn, ghi chép, phỏng vấn, đối thoại, thay vì chủ yếu là bài dài.
Tăng tính tương tác cộng đồng: kêu gọi bài vở theo chủ đề mỗi số, tổ chức viết theo chủ đề kỷ niệm, hoặc tuyển chọn những bài viết hay từ hội viên.
Chú trọng hơn phần hình ảnh, tư liệu: ảnh xưa – nay, bản đồ, tư liệu lịch sử, giúp tăng tính trực quan và lưu giữ ký ức cộng đồng.
Giữ vững tinh thần nhân văn, phi phô trương: tiếp tục phát huy thế mạnh của Tình Quê là sự chân thành, tử tế, không chạy theo hình thức.
Kết luận
Tình Quê số 26 là một số báo có chất lượng, thể hiện rõ tâm huyết của Ban Biên tập và cộng tác viên. Tập san đã làm tròn vai trò là “sợi dây nối” giữa những người con Quảng Trị xa quê với đất mẹ, giữa ký ức quá khứ và khát vọng tương lai. Với những điều chỉnh hợp lý về nội dung và hình thức, tin rằng Tình Quê sẽ tiếp tục là một ấn phẩm có giá trị tinh thần bền bỉ, góp phần gìn giữ và lan tỏa bản sắc Quảng Trị trong lòng những người con xa xứ.
ÁNH TRĂNG / HOA BÁO MÙA / SỐNG VÀ YÊU THƯƠNG - Thơ Nguyễn Văn Trình – BD: KA THI
![]() |
| Nhà thơ Nguyễn Văn Trình |
Ánh trăng
Trăng nghiêng mình qua cửa sổ
chảy vào đêm như một thì thầm
trăng dịu dàng đến mức bóng đêm cũng thôi làm khó
trăng mát lành
và dịu dàng như làn sương mỏng
phủ lên trần gian một thứ ánh sáng diệu kỳ
trăng dịu hiền như tấm lòng người mẹ
không ồn ào, không phô trương nhưng đủ sáng để dẫn đường
Trăng biết cách yêu thương mà không cần lên tiếng
như lòng mẹ yêu thương bằng sự tha thứ, bao dung
để có những nỗi buồn chỉ được tan ra dưới ánh trăng
để có những mệt mỏi
chỉ chịu mềm đi trong sự chở che của mẹ
Trăng âm thầm không thổ lộ điều gì
nhưng luôn tỏa sáng
như lòng mẹ yêu thương con chưa từng rời đi
chỉ lùi lại ở phía sau
và khi màn đêm khép lại, ánh trăng vẫn ngân nga
trong trái tim người thức muộn
Đông Hà, 2026
NVT
Hoa báo mùa
Sau những ngày mưa bão
hoa lau trắng lặng lẽ nở bên triền sông
không phải để khoe sắc
mà để nhắc, có những vẻ đẹp tinh khiết
sinh ra sau những mất mát, đau thương
Hoa lau trắng là ký ức của gió
là những gì còn lại sau cơn bão đi qua
màu trắng ấy,
giống như sự im lặng của con người từng đau
mà không hề oán trách
thân lau mảnh mai,
nhưng dẻo mềm quyết đứng vững trước bão giông
Hoa lau trắng sau mưa bão
như con người học cách biết tha thứ
tha thứ cho những ngày mưa bão đã đi qua
và khi hoa lau trắng xuất hiện
ta hiểu rằng:
có những bình yên được sinh ra từ mưa bão
Đông Hà, 2026
NVT
Sống và yêu thương
Hướng dương ở đây như một lựa chọn
giữa muôn hướng gió
hoa giữ cho mình một phía tin yêu
Hoa hướng dương
như một chiếc la bàn thầm lặng
nó đo ánh sáng bằng sự đầy vơi của nắng
đo hy vọng bằng khoảng cách đến bình minh
Mặt trời như một chân lý
rằng phía đó là ánh sáng, niềm tin
rằng hoa hướng dương luôn hướng về mặt trời
và bằng cách mỗi ngày hướng thêm một chút
Con người cũng vậy
giữa muôn nghìn ngã rẽ không tên
luôn chọn một hướng đi để gửi lòng
như một cách tròn đầy nhất
để sống và yêu thương
Đông Hà, 2026
NVT
Tác giả NGUYỄN VĂN TRÌNH
BD: KA THI
Hội VHNT tỉnh Quảng Trị
Email: nguyenvantrinh58@gmail.com
Đ/C: 65B Đường Chu Mạnh Trinh, Phường Nam Đông Hà, tỉnh Quảng Trị
CHỐNG LẠI ĐỊNH MỆNH - DEFYING FATE - Thơ Trần Thị Lan Anh
Lan Anh rất vui khi bài thơ “CHỐNG LẠI ĐỊNH MỆNH” được Rhythmic Rainbow vinh danh là một trong những bài thơ hay và ý nghĩa nhất hôm nay. Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến hội thơ và tất cả bạn đọc đã yêu mến và lựa chọn tác phẩm của mình.
Lan Anh is thrilled that her poem “DEFYING FATE” was chosen as one of today’s most beautiful and meaningful poems by Rhythmic Rainbow. Many thanks to the poetry community and readers for their support.
CHỐNG LẠI ĐỊNH MỆNH
Tôi bước giữa bão đời.
Gai đá, chông gai không ngăn nổi tôi.
Định mệnh trôi, vô biên.
Tôi giương cao ngọn cờ khát vọng.
Hy vọng rơi như cánh hoa.
Tôi nhặt lên, vun trồng nụ hồng.
Hạnh phúc từ những hạt cát nhỏ.
Tôi giữ, dựng trời cho riêng mình.
Người nói tôi yếu đuối.
Nhưng tôi bước qua dòng sông dữ.
Định mệnh xoáy tới đâu,
tôi vẫn chiến đấu.
Có lúc nghi ngại chính mình.
Nhưng lửa trong tim bừng cháy, dẫn tôi đi.
Tôi biết, định mệnh không quyết định.
Mỗi bước đi là quyền lực của tôi.
Hạnh phúc nảy sinh từ dũng khí.
Tôi dựng bình minh trong tâm hồn.
Dù bầu trời tối sầm,
ánh sáng trong tôi không tắt.
Niềm tin, nụ cười trên môi.
Chống lại định mệnh, làm chủ đời mình.
Lan Anh,
Aschaffenburg, Germany
DEFYING FATE/ Chống lại định mệnh
I step into the storm of life,
Thorns and trials cannot stop me.
Fate may push, unending,
Yet I raise high my banner of longing.
Hope fades like a falling flower,
I gather it, nurturing every bloom.
Happiness from tiny grains of sand,
I hold it close, building my own sky.
They say I am weak, afraid,
But I walk through raging rivers.
No whirlpool of fate can sweep me,
I fight on, never yielding to life.
Sometimes I doubt myself,
Wondering if life made a mistake bringing me here.
But the fire in my heart blazes bright,
Guiding me through storms, through winter’s chill.
I know that fate does not decide,
Each step is the power of my own.
Happiness springs from courage,
I paint a radiant dawn within my soul.
And even if the sky darkens above,
Nothing can extinguish the light within me.
I keep my faith, a smile upon my lips,
Defying fate, I claim mastery over life.
Lan Anh,
Aschaffenburg, Germany
ĐẶNG XUÂN XUYẾN: ĐI TÌM NIỀM RIÊNG GIỮA DÒNG TRÔI VỒI VỘI - Đỗ Anh Tuyến
ĐẶNG XUÂN XUYẾN: ĐI TÌM NIỀM RIÊNG
GIỮA DÒNG
TRÔI VỒI VỘI
Đọc
"Về thăm Hà Nội" của Đặng Xuân Xuyến, ta không thấy một Hà Nội rực rỡ
vàng son hay ồn ào phố thị, mà bắt gặp một khoảng lặng đầy suy tư, nơi cái
"tôi" trữ tình đang loay hoay giữa hai bờ hư thực của ký ức và hiện
tại. Phong cách nghệ thuật của bài thơ toát lên vẻ trầm mặc, điềm tĩnh nhưng ẩn
chứa một cơn sóng lòng âm ỉ, được thể hiện qua một lối viết giản lược tối đa về
hình ảnh để nhường chỗ cho dòng chảy nội tâm.
VỀ THĂM HÀ
NỘI
- Viết tặng Nguyễn Minh
Tôi xa Hà
Nội, xa Hà Nội
Mới đó
thôi mà bấy năm trôi
Bạn cũ gặp
nhau nhìn rất vội
Nụ cười te
tẻ hé trên môi.
Ờ gió heo
may đã mỏng rồi
Mây chiều
cũng ít bảng lảng trôi
Giờ còn ai
đợi canh chừng tối
Dụ một
tiếng reo thả chỗ ngồi?!
Tôi lặng
nghe lòng chất vấn tôi
Người ta
giờ đã khác xưa rồi
Thời gian
thì cứ trôi vồi vội
Tôi lại
giam mình góc xa xôi.
Tôi biết
nhưng mà biết vậy thôi
Chuyện xưa
còn giữ được mấy hồi
Tôi về Hà
Nội thăm Hà Nội
Mua chút
niềm riêng ngủ quên rồi...
*.
Hà Nội,
ngày 9 tháng 2-2025
ĐẶNG XUÂN
XUYẾN
Cái hay
của Đặng Xuân Xuyến nằm ở cách điều phối nhịp điệu. Những từ láy như "vồi
vội", "te tẻ", "bảng lảng" không chỉ đơn thuần mô tả
trạng thái mà còn gợi lên một cảm giác bất an, một sự đứt gãy trong sợi dây kết
nối với không gian cũ. Hà Nội trong thơ Đặng Xuân Xuyến không còn là thực thể
địa lý, mà đã trở thành một "vùng nhớ" đang bị xói mòn. Nhà thơ sử
dụng những thi liệu rất quen thuộc của Hà Nội như "gió heo may",
"mây chiều", nhưng lại phủ lên chúng cái nhìn hoài nghi: gió đã
"mỏng", mây "ít trôi". Đây là một thủ pháp nghệ thuật tinh
tế, dùng cái khách quan để nói cái chủ quan; cảnh vật không thay đổi nhiều, chỉ
có lòng người đang cảm thấy sự trống trải khi đối diện với những gương mặt bạn
cũ "nhìn rất vội".
Phong cách
nghệ thuật bao trùm bài thơ chính là sự tối giản của ngôn từ để đạt
đến tối đa của sức gợi. Đặng Xuân Xuyến không chọn cách vẽ lại Hà Nội bằng
những địa danh cụ thể như Hồ Tây, tháp Rùa hay phố cổ mà vẽ Hà Nội bằng
"cảm giác". Cái hay của người cầm bút lâu năm nằm ở chỗ biết tiết chế
cái tôi ồn ào để nhường chỗ cho cái tôi chiêm nghiệm. Hà Nội của Đặng Xuân
Xuyến không phải là Hà Nội của một du khách, mà là Hà Nội của một người
"trong cuộc" đã đi xa, nay trở về nhìn thấy những vết rạn nứt trong
lòng phố và lòng người.
Hãy nhìn
vào cách Đặng Xuân Xuyến dùng chữ "vội". Chữ "vội" xuất
hiện xuyên suốt như một nỗi ám ảnh. Từ cái "nhìn rất vội" của bạn bè
đến thời gian "trôi vồi vội". Đây chính là sự va chạm giữa tâm
thế tĩnh tại của thi sĩ và nhịp sống động của thời đại. Nhà thơ
đã rất khách quan khi không đổ lỗi cho ngoại cảnh, mà tự "giam mình"
vào một góc xa xôi để chất vấn chính mình. Đây là một thủ pháp tự vấn thường
thấy trong các tác phẩm có chiều sâu triết lý, biến bài thơ từ một lời tâm tình
cá nhân trở thành tiếng lòng chung cho cả một thế hệ đang lạc lõng giữa những
giá trị cũ và mới.
Cái sự
"mỏng" của gió heo may hay sự "ít" của mây chiều không chỉ
đơn thuần là sự thay đổi thời tiết. Đó là một ẩn dụ nghệ thuật tinh tế về sự
phai nhạt của những kết nối tâm linh giữa con người với mảnh đất này. Nhà thơ
nhìn thấy sự thay đổi không phải ở sự sầm uất của nhà cao tầng, mà ở cái
"nụ cười te tẻ" – một từ dùng rất đắt, nó gợi lên sự gượng gạo, thiếu
vắng cái nồng nàn, sâu nặng của ngày xưa. Đặng Xuân Xuyến đã dùng một lối viết "vẽ
mây nảy trăng", nói về sự thay đổi của Hà Nội thông qua những biểu hiện
tâm lý nhỏ nhặt nhất nhưng cũng nhức nhối nhất.
Khổ thơ
cuối chính là một sự đốn ngộ về mặt cảm xúc. Cụm từ "Mua chút niềm
riêng" nghe thật chua xót nhưng cũng thật kiêu hãnh. Nó biến chuyến trở về
thành một cuộc mua bán tâm tưởng, nơi người ta chấp nhận bỏ ra sự hiện diện của
mình để đổi lấy một chút ký ức đã "ngủ quên". Toàn bộ bài thơ không
có lấy một từ "buồn", nhưng cái phong vị hiu hắt, cô liêu thì lại
thấm đẫm trong từng nhịp thơ.
Cấu trúc của
bài thơ vận hành theo trục xoáy của sự chất vấn. Điểm rơi nghệ thuật mạnh nhất
nằm ở khổ thơ thứ ba, khi tác giả tự tách mình ra để "giam mình góc xa
xôi". Đây là một sự lựa chọn thái độ: thay vì cố gắng hòa nhập vào cái náo
nhiệt đương thời, nhà thơ chọn cách rút lui vào nội tại để bảo tồn những giá
trị cũ.
Khép lại
bài thơ bằng hình ảnh "mua chút niềm riêng ngủ quên", Đặng Xuân Xuyến
đã hoàn tất một hành trình tâm tưởng đầy bản ngã. Nghệ thuật sử dụng ngôn từ ở
đây không cầu kỳ, không nỗ lực làm mới bằng những từ ngữ đao to búa lớn, mà
chinh phục người đọc bằng sự thành thật đến xót xa. Bài thơ giống như một tiếng
thở dài nhẹ nhõm, xác lập một phong cách thơ hoài niệm nhưng không hề cũ kỹ,
bởi nó chạm đúng vào nỗi cô độc vĩnh cửu của con người trước sự chảy trôi tàn
nhẫn của thời gian.
ĐỖ ANH
TUYẾN
Địa chỉ:
Khu Cộng Hòa, thị trấn Thanh Nê, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình
dovantuyenbk@yahoo.com.vn
TÌNH QUÊ 26 – NƠI KÝ ỨC GẶP KHÁT VỌNG - Trần Thanh và nhóm thực hiện
TÌNH QUÊ 26 –
NƠI KÝ ỨC GẶP KHÁT VỌNG
Có những cuốn
sách không đọc vội được.
Bởi mỗi trang
mở ra không chỉ là con chữ, mà là một miền ký ức, một khoảng lặng trong tâm
hồn, nơi người ta bất giác dừng lại để nhớ – để thương – để soi mình vào quê
hương đã nuôi lớn bao phận người.
Tình Quê 26 –
Xuân Bính Ngọ 2026 là một cuốn
sách như thế.
Ra đời trong
một thời điểm rất đặc biệt – khi Quảng Bình và Quảng Trị chính thức về chung
một mái nhà mang tên Quảng Trị mới – giai phẩm không chỉ mang ý nghĩa của một
ấn phẩm xuân thường niên, mà còn là một lời chứng, một tiếng lòng, một nhịp
nối của lịch sử và cảm xúc. Cuốn sách giống như một nén hương lặng lẽ, được
thắp lên giữa thời khắc giao mùa của đất trời và vận hội quê hương.
Điều dễ nhận ra
ở Tình Quê 26 trước hết là không khí nghĩa tình rất Quảng Trị –
thứ nghĩa tình đã được tôi luyện qua chiến tranh, gian khó và chia ly. Nghĩa
tình ấy không ồn ào, không khoa trương, mà lắng sâu, bền bỉ, hiện diện trong
từng trang viết, từng ký ức được gọi tên, từng vùng đất được nhắc lại bằng tất
cả sự trân trọng.
Ở đó, người đọc
bắt gặp Cồn Cỏ – hòn đảo tiền tiêu từng oằn mình trong bom đạn – hiện lên vừa
kiêu hãnh vừa gần gũi, như một người lính già kể chuyện cho thế hệ sau nghe.
Bắt gặp miền gió cát Hải Lăng, Mỹ Thủy, Gio Linh – nơi từng hạt cát thấm mồ
hôi, nước mắt và máu của bao lớp người, nay đang chuyển mình trong những dự án,
những con đường, những khát vọng phát triển. Quá khứ không bị phủ bụi, mà được
nâng niu, đặt làm nền móng cho hiện tại và tương lai.
Tình Quê 26 đặc biệt chạm đến người đọc bởi sự đan xen hài hòa
giữa ký ức cá nhân và vận mệnh cộng đồng. Những câu chuyện đời – chuyện
lính, chuyện học trò, chuyện một thời gian khó – không dừng lại ở hoài niệm
riêng tư, mà mở ra chiều sâu của lịch sử xã hội, của một vùng đất luôn đi lên
từ thiếu thốn. Mỗi bài viết giống như một mảnh ghép, khi đặt cạnh nhau đã tạo
thành một bức tranh đầy đặn về con người Quảng Trị: chịu thương chịu khó, thủy
chung, kiên cường và không bao giờ thôi hy vọng.
Bên cạnh dòng
hồi ức và cảm xúc, Tình Quê 26 còn mang một hơi thở rất rõ của thời đại.
Những bài viết mang tính chính luận, suy tư về cải cách hành chính, về mô hình
quản trị mới, về tầm nhìn phát triển Quảng Trị trong không gian hợp nhất đã cho
thấy một Quảng Trị không chỉ biết nhớ, mà còn biết nghĩ xa và đi tới. Đó
là sự trưởng thành của tư duy: từ vùng đất của chiến tranh trở thành vùng đất
của cơ hội; từ ký ức đau thương bước sang khát vọng thịnh vượng.
Điều đáng quý
là dù bàn về những vấn đề lớn – kinh tế, quản trị, hạ tầng, năng lượng, du lịch
– các bài viết vẫn giữ được giọng điệu nhân văn, không lạnh lùng số liệu, không
khô cứng khẩu hiệu. Phát triển ở đây không tách rời con người, không quên những
phận đời đã ngã xuống, không rời xa cội nguồn văn hóa. Đó chính là chiều sâu
khiến Tình Quê 26 khác với nhiều ấn phẩm mang tính thời sự thuần túy.
Ở bình diện văn
hóa – nghệ thuật, giai phẩm tiếp tục là nơi hội tụ của nhiều giọng văn, nhiều
thế hệ, nhiều phong cách. Có trang viết dung dị như lời kể bên bếp lửa, có bài
đậm chất ký – báo chí, có những đoạn văn giàu chất thơ, lắng lại rất lâu trong
lòng người đọc. Chính sự đa thanh ấy làm nên linh hồn của Tình Quê:
không đồng phục, không một màu, mà chân thật như chính cộng đồng người Quảng
Trị ở khắp mọi miền.
Có thể nói, Tình
Quê 26 không chỉ để đọc trong những ngày Tết. Cuốn sách phù hợp để đặt trên
bàn, để mở ra bất cứ lúc nào người ta thấy lòng mình chùng xuống, thấy nhớ quê,
hay đơn giản là muốn tìm lại một cảm giác thân thuộc giữa nhịp sống hiện đại
nhiều xao động. Mỗi lần đọc lại, người đọc có thể bắt gặp một chi tiết mới, một
rung động mới – như cách quê hương luôn hiện ra khác đi theo từng chặng đời con
người.
Khép lại Tình
Quê 26, đọng lại không chỉ là niềm tự hào về một vùng đất anh hùng, mà còn
là niềm tin lặng lẽ nhưng bền bỉ: rằng với nền tảng lịch sử, văn hóa và
con người như thế, Quảng Trị mới sẽ đủ bản lĩnh để bước tiếp con đường dài phía
trước. Và rằng, dù đi đâu, ở đâu, những người con Quảng Trị vẫn luôn có một
điểm để quay về – không chỉ là một địa danh trên bản đồ, mà là một miền tình
cảm sâu thẳm mang tên Tình Quê.
Trần Thanh và nhóm thực hiện Tình Quê




