Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Cô Giáo Hoàng. Show all posts
Showing posts with label Cô Giáo Hoàng. Show all posts

Monday, January 25, 2021

LIÊN HỆ THI PHÁP BÀI “NGƯỜI ĐÀN BÀ TRẮNG” CỦA PHẠM NGỌC THÁI VỚI "ĐÂY THÔN VỸ DẠ" CỦA HÀN MẶC TỬ - Nguyễn Thị Hoàng

 Nguyễn Thị Hoàng
 Nguyên GV Trường ĐH Sư phạm

LIÊN HỆ THI PHÁP BÀI “NGƯỜI ĐÀN BÀ TRẮNG” CỦA PHẠM NGỌC THÁI VỚI "ĐÂY THÔN VỸ DẠ" CỦA HÀN MẶC TỬ                                                   


       Trong Tập 64 BÀI THƠ HAY, Nxb Hồng Đức 2020 – Bình luận về “Người đàn bà trắng”, nhà nghiên cứu văn học Trần Đức – Nguyên CB Viện ngôn ngữ và văn hóa dân gian đã viết: “Người Đàn Bà Trắng là một bài thơ tình hay, điển hình, viết theo thi pháp của dòng thơ tượng trưng hiện đại Châu Âu. Những yếu tố thơ tượng trưng xuyên suốt khắp bài…”.
      Trong bài viết này, tôi xin tập trung phân tích cho rõ nét thi pháp thơ tượng trưng của từng thi phẩm? Trước hết về "Người đàn bà trắng":


*  KHỔ THƠ ĐẦU -  Khắc họa chân dung "Người đàn bà trắng" (Tác giả gọi em là đàn bà, thực ra khi đó em vẫn là một thiếu nữ), anh đã lấy những hình ảnh của vũ trụ qua cảm xúc để miêu tả: Đôi mắt em đong những áng mây, huyền thẳm… Em đi, chiếc mũ vải trắng mềm đội lệch... mây trắng vờn bay trên mái tóc, v.v… Tất cả hình hài nàng đều được tả qua ấn tượng của nhà thơ.
      Điểm ở thi đàn xưa nay - Thi nhân Bích Khê tả ánh mắt của nàng mỹ nữ trong bài thơ “Tranh lõa thể” nổi tiếng:
              Mắt ngời châu rung ánh sáng nghê thường
    Xuân Diệu thì mô tả:
               Mắt em thăm thẳm như màu gió                 
     Đều là những hình ảnh tượng trưng.

*  CÁC KHỔ THƠ SAU - Hình ảnh người thiếu nữ hiện lên trong khung cảnh thiên nhiên rực rỡ: Em đi chao cả những hàng cây bên hồ; gió và nắng tắm lên tấm thân em; mái tóc xoã ngang vai… Tả cảnh nhưng tình thơ rất gợi cảm.
     Giờ đây trên con đường đã qua, bồi hồi trong ký ức... Nhà thơ chỉ còn nghe thấy tiếng gió táp, mưa sa – Thiên nhiên trở nên hoang dã trong qui luật bụi cát của thời gian: Đã đầy xác lá, xác ve... cùng xác gió, xác mưa…
    Khúc tình ca xưa êm đềm sống lại, trong tiếng gọi vọng của thi nhân:
                       Đường xưa đó về đây, em ơi!
     Hoặc là diễn tả về tố chất người đàn bà trong nàng, hình ảnh thơ được cách điệu:                
                       Chùm trinh em hát: Đấy chỗ thiên thai
                       Người đàn bà ai mà định nghĩa?
    Biểu tượng mô tả tuy ảo, trừu tượng nhưng gợi cảm, xoáy vào trong cảm thức người đọc: Đúng là người đàn bà không thể nào định nghĩa được,  trong vũ trụ và cuộc sống con người? Khái niệm thơ mở ra cả một thế giới về đàn bà. Khó có nhà thơ nào tả về người đàn bà sâu xa được như thế.

*   KHỔ THƠ NĂM -  Triết lý về cuộc sống và tình yêu. Thơ được viết như đời: Dù mối tình tan vỡ làm cho cả hai trái tim đều đau đớn? (vì sao tan vỡ thì ta không biết), nhưng: Em không thể trở thành hòn vọng phu mà hóa đá; Anh cũng không đầy mình làm cái anh chàng Trương Chi tương tư nàng Mỵ Nương rồi chết... Hoặc chung tình như nàng Mỵ Châu – chàng Trọng Thủy, nhảy xuống biển tự tử - Thần tượng thì đẹp, nhưng "cuộc sống và tình yêu" trở nên bi đát quá.
    Họ vẫn phải sống và tồn tại, dù suốt cuộc đời:
                     Dẫu hình hài khắc mãi tim nhau
     Khác với các tình thơ khác là thế, khi miêu tả sự chung thủy của các mối tình. Tuy vậy, cũng không làm cho ý nghĩa trong tình yêu của họ xấu đi.

*     KHỔ THƠ CUỐI – Nhà thơ khắc khoải nhớ về người thiếu nữ xưa? Hình ảnh thiên nhiên đã được nhân cách hóa: 
                        Những đêm sao buồn, những đêm gió khát  
       Hình ảnh “sao buồn, gió khát” đều mang ý nghĩa của thơ tượng trưng. Cuối cùng bài thơ đã được kết thúc bằng một câu hình tượng nhất về Nàng:
                       Người đàn bà ngậm cả vầng trăng
        Chữ “ngậm” mang màu sắc thơ siêu thực: “ngậm cả vầng trăng” – Một thiên tạo đang nép trong tấm thân người đàn bà… hay chính nàng là một vầng trăng !?
         “Người đàn bà trắng” là một thiên tình ca về "tình yêu và đàn bà" rất mẫu mực của nhà thơ Phạm Ngọc Thái, viết theo thi pháp thơ tượng trưng thật hay!
   

          Nguyễn Thị Hoàng  
      
                            THI PHÁP TRONG “ĐÂY THÔN VĨ DẠ” CỦA HÀN MẶC TỬ
     Nói về “Đây thôn Vĩ Dạ” (1938) của Hàn Mặc Tử, cũng được viết theo thi pháp của dòng thơ tượng trưng hiện đại châu Âu - Từ thuyết “tương ứng cảm quan” do Charles Baudelaire (1821-1867), nhà thơ Pháp bậc thầy khởi xướng: 
     Thơ diễn tả theo phương pháp loại suy qua quan hệ tương đồng giữa hai sự vật, thể hiện mọi sự vật bằng biểu tượng. Nghĩa là: giữa vật này với vật khác, giữa con người – cuộc sống với thiên nhiên, đều có thể thay thế nhau bằng biểu tượng. Để phản ảnh một cách tương ứng dựa vào cảm thụ từ các giác quan (gọi là cảm quan), hay từ trong tâm linh. Cho nên ngôn ngữ thi ca nhiều khi mang tính ảo…
     Tính chất tượng trưng giữa ảo và thực này cũng rất rõ trong bài thơ “Người đàn bà trắng” của Phạm Ngọc Thái. Tôi đã phân tích trên - Thực ra,  Hàn Mặc Tử chính là một trong những thần tượng thi ca của Phạm Ngọc Thái. Anh đã chịu ảnh hưởng về hình tượng tư duy thơ của ông khá nhiều. Không ít độc giả và các văn sĩ đã phát biểu rằng: Phạm Ngọc Thái là một phiên bản của thi nhân Hàn Mặc Tử. Đọc trong bài thơ "Khóc Hàn Mặc Tử cũng được in ở tập "64 BÀI THƠ HAY" thì rõ, anh đã viết:
                          Ngồi đọc Tử, tim vỡ toang máu đỏ
                          Tôi khóc biển, khóc trời xanh, khóc gió...
      Hay là:
                          Tử có nghe! Thơ Người tôi viết tiếp
                          Cúi lậy không gian cả tám phương
      Chính bài thơ "Người đàn bà trắng" đã chịu ảnh hưởng về thi pháp tượng trưng từ những bài thơ hay điển hình như "Đây thôn Vĩ Dạ" hay "Mùa xuân chín của thi nhân họ Hàn. Nếu tìm hiểu sâu về thi ca và cuộc đời Phạm Ngọc Thái thì thấy: Thơ anh không hề giống với Xuân Diệu, Huy Cận hay Thế Lữ... Mà ngoài Hàn Mặc Tử, anh còn chịu ảnh hưởng cả tính triết lý của thơ Chế Lan Viên -  Đối với các thi nhân nước ngoài, anh chịu ảnh hưởng nhiều nhất về giọng điệu thi ca của nhà thơ thiên tài Nga vĩ đại Pushkin, qua bản dịch của Thúy Toàn.
      Trở lại với bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ”: Những hình ảnh tượng trưng theo thuyết “tương ứng cảm quan” đã xuyên suốt bài thơ của thi nhân - Thuộc trong ít bài thơ hay nhất thế kỷ XX. Sở dĩ thi phẩm được đánh giá tầm vóc cao như thế (mặc dù cả bài chỉ có 3 khổ, 12 câu), chính vì tính chất tượng trưng ảo huyền của nó. Như Chế Lan Viên từng có suy lý về thơ rằng:
                         Bên kia bờ hư ảo – Bờ thơ
                                              (trích Di cảo)
    Xin phân tích vài nét để làm rõ những yếu tố tượng trưng của bài thơ:

*   KHỔ THƠ ĐẦU – Bắt đầu vào thơ, thi nhân nhớ lại lời của Hoàng Cúc (người thôn nữ mà Người đã yêu): Sao anh không về chơi thôn Vĩ  /- Rồi cảnh quê được hiện lên:
                      Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
                      Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
                      Lá trúc che ngang mặt chữ điền.
      Đó là cảnh thôn hương của nàng, như: hàng cau trong nắng mới; vườn ai mướt xanh như ngọc… Tất cả hiện lên từ trong hồi ức Người – Song, đến câu thơ cuối của khổ:
                     Lá trúc che ngang mặt chữ điền
     Cảnh ở đây không còn thuần túy chỉ là hồi ức nữa? Hình ảnh thơ qua tư duy thi nhân đã chứa ý nghĩa tượng trưng bên trong? 
    ... lá trúc” là biểu tượng về làng quê – “mặt chữ điền” theo cách nói của người Phương Đông, chính là biểu tượng cho gương mặt người đàn ông: “mặt chữ điền” - Ý của câu thơ: Thôn Vĩ với thi nhân giờ đây đã hoàn toàn cách biệt (che ngang), không còn gần gũi được như xưa - Nghĩa là, giữa ông và nàng đã hoàn toàn xa cách.
     Vậy là, cũng bằng hình ảnh tượng trưng nhưng cảnh thơ ôm bọc cả tâm tư, thế giới nội tâm ở bên trong: Con người, cuộc đời, tình yêu? Tất cả đã bị… “cắt ngang” – Chính nhờ những yếu tố tượng trưng sâu xa ấy, tầm vóc thơ càng thêm cao và hay.

* KHỔ THƠ HAI – Nói về duyên phận giữa thi nhân và nàng (chỉ là tình yêu đơn phương), giờ đây Người lại lâm bệnh hiểm nghèo, tình càng bẽ bàng, hẩm hiu - Hàn Mặc Tử đã sử dụng hình ảnh thiên nhiên làm tượng trưng, diễn tả về nỗi lòng Người:
                   Gió theo lối gió, mây đường mây,
                   Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay...
     Nghĩa là, em đi đường em… anh đường  anh... Duyên phận của đôi ta hết rồi, chỉ đến vậy thôi.  Lòng thi nhân buồn rầu ví như dòng nước trôi lặng lờ… hay những bông hoa bắp phật phờ lay bên sông – Chỉ là những hình ảnh tượng trưng mà thơ chứa chất nỗi tình.

*   KHỔ THƠ CUỐI - Xin nói một chút về hai câu thơ kết:
                       Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
                       Ai biết tình ai có đậm đà?
     “ sương khói mờ nhân ảnh” vừa là cảnh thực nơi thi nhân đang sống heo hút, khói sương… để chữa bệnh ở Gành Ráng, Qui Nhơn – Đồng thời cũng là hình ảnh tượng trưng về thân phận của Người lúc này: “ nhân ảnh mịt mờ như sương khói” – Tâm trạng thi nhân rơi vào nỗi xót xa, trước sự lãng quên của người đời. Sau đó Người buông ra một câu hỏi: Ai biết tình ai có đậm đà? /-  Liệu nàng còn nhớ đến ta không ? Bài thơ kết thúc ở đó. Thơ giàu cảm xúc, ai oán mà đằm thắm, chứa chan, thấm đầy lệ.
     Sở dĩ “Đây thôn Vĩ Dạ” trở thành một áng thi nổi tiếng và được đánh giá cao vậy, chính do nghệ thuật tinh hoa như thế! Ngôn ngữ, hình tượng thơ kết hợp nhuần nhuyễn trong thi pháp của dòng thơ tượng trưng “tương ứng cảm quan” mà tôi vừa nói trên.

                          MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA HAI BÀI THƠ 
    Như tôi đã phân tích: “Người đàn bà trắng” (1994) của Phạm Ngọc Thái, cũng được viết theo thi pháp dòng thơ tượng trưng “tương ứng cảm quan” do nhà thơ Pháp Charles Baudelaire khởi xướng ấy! 
     Liên tưởng với thi pháp trong “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử: Hai bài thơ ra đời cách nhau nửa thế kỷ, nhưng cùng được viết theo thi pháp của một dòng thơ. Tuy nhiên, nỗi tình và cảm xúc trong mỗi bài có sự biến hóa khác nhau - Bởi vậy, từng thi phẩm lại có cái độc đáo và hay riêng...
       Vâng, người đời nay chỉ biết bình về mối tương quan của cả hai bài thơ như vậy. Phần còn lại xin dành để thời gian và hậu thế xem xét !? 
                                                                                                                                    Nguyễn Thị Hoàng      
 
       
             NGƯỜI ĐÀN BÀ TRẮNG

                     Người đàn bà đi trong mưa rơi
                     Chứa một trời thầm như hoa vậy...
                                         *              
Chiếc mũ trắng mềm em đội bầu trời
Khóm mây trắng bay nghiêng trôi trên tóc
Đôi mắt em đong những áng mây
Người đàn bà trắng!

Em đi,về... chao những hàng cây
Hồ gió thổi lệch vành mũ đội
Thấm đẫm mình em cả thềm nắng gội
Xõa ngang vai mái hất tơi bời.

Nỗi niềm thao thức
Những đêm trăng nước...
Chùm trinh em hát: Đấy chỗ thiên thai 
Người đàn bà, ai mà định nghĩa?

Đường xưa đó về đây, em ơi!
Những con đường đã đầy xác lá rơi
Xác ve, xác gió và xác của mưa...

Em không biến thành đá để hóa Vọng Phu
Anh cũng không làm chàng Trương Chi
                                  suốt đời chèo sông vắng
Ta không đi theo Con-đường-lông-ngỗng-trắng
Dẫu hình hài khắc mãi tim nhau.

Vết thương lòng không dễ đã lành đâu 
Những đêm sao buồn, những đêm gió khát
Khúc thơ tình anh lại viết về em 
Người đàn bà ngậm cả vầng trăng...

              PHẠM NGỌC THÁI
   (Trích tập 64 BÀI THƠ HAY, Nxb Hồng Đức 2020)
          
READ MORE - LIÊN HỆ THI PHÁP BÀI “NGƯỜI ĐÀN BÀ TRẮNG” CỦA PHẠM NGỌC THÁI VỚI "ĐÂY THÔN VỸ DẠ" CỦA HÀN MẶC TỬ - Nguyễn Thị Hoàng

Monday, February 24, 2020

ĐỜI VĂN CHƯƠNG PHẠM NGỌC THÁI & TẦM VÓC "TUYỂN THƠ CHỌN LỌC " - Nguyễn Thị Hoàng


ĐỜI VĂN CHƯƠNG PHẠM NGỌC THÁI & TẦM VÓC 
"TUYỂN THƠ CHỌN LỌC "


                                      Nguyễn Thị Hoàng
                                      Nguyên GV Trường ĐH Sư phạm



     Nói là " đời văn chương" nhưng ở đây, do khuôn khổ của một bài viết  - Tôi chỉ khái quát mấy nét liên quan đến sự nghiệp thi văn của nhà thơ. Vào mùa đông vừa qua, anh đã cho xuất bản: " TUYỂN THƠ CHỌN LỌC " Phạm ngọc thái, Nxb Hồng Đức 2019 - Một tác phẩm thi ca hiện đại !
 
              A.  KHÁI QUÁT CUỘC ĐỜI VĂN CHƯƠNG CỦA NHÀ THƠ
       Phạm Ngọc Thái lớn lên khi cả nước đang bước vào giai đoạn cuộc chiến tranh đánh Mỹ ác liệt nhất ! Thu đông 1966, anh tốt nghiệp phổ thông cấp III Hà Nội... tiếp sang đời một sinh viên Trường Đại học Bách khoa. Như hàng vạn thanh niên thủ đô và cả nước -  Hồi đó, hưởng ứng lời kêu gọi tổ quốc có lâm nguy! Mùa xuân 1967, Phạm Ngọc Thái tình nguyện rời bỏ trường đại học, rời quê hương, gia đình... dấn mình vào cuộc chiến tranh đầy máu và nước mắt của dân tộc. Anh từng thổ lộ: Suốt mười năm chiến đấu trên chiến trường Tây Nguyên Nam Bộ - Qua các Sư đoàn 312, Trung đoàn pháo 40 Tây Nguyên, Trung đoàn 48 Sư 320... tiến vào đánh cứ điểm Đồng Dù của Mỹ, chiếm Sài Gòn 30.4,1975 - Kết thúc chiến tranh. Mỹ rút về nước !
     Trong những năm chiến trận, chính anh cũng ba lần đổ máu ngoài chiến trường... vẫn giữ vững kiên trung với nghĩa khí của một chiến binh cho tới giây phút cuối cùng. Đất nước hòa bình. Anh đã được tặng thưởng 5 huân chương chiến công, kháng chiến, cùng các danh hiệu dũng sĩ diệt Mỹ và bằng khen khác.  
     Ròi quân ngũ trở về. Phạm Ngọc Thái tiếp tục theo học Đại học ngoại thương rồi công tác tại ngành ngoại thương quốc tế tới lúc về hưu. Tuy nhiên, dù làm công việc của một cán bộ nhưng anh vẫn dành hết tâm huyết mình với khát vọng thi ca.
     Suốt  ba mươi năm sáng tác văn học, đến nay, nhà thơ đã cho ra đời đúng 10 tập sách:

1/.  Chín tác phẩm về thơ và bình luận:
-  Có một khoảng trời                  1990
- Người đàn bà trắng                   1994
- Rung động trái tim                      2009
- Hồ Xuân Hương tái lai               2012
- Phê bình & tiểu luận thi ca         2013
- Phạm Ngọc Thái chân dung nhà thơ lớn thời đại                                       2014
- Thơ tình viết cho sinh viên         2015
- Phạm Ngọc Thái cánh đại bàng của thi ca đương đại Việt Nam      . Xuân 2019
-  " Tuyển thơ chọn lọc " Phạm Ngọc Thái                                          . Đông 2019.
2/.   Hai tiểu thuyết:
    - Tiểu thuyết: CUỘC CHIẾN HÀ NỘI 12 NGÀY ĐÊM, 2019.
    -  Tiểu thuyết CHIẾN TRANH VÀ TÌNH YÊU (hai tập). Sách chuẩn bị xuất bản trước 30.4.2020.
3/.   Sáng tác thành công 5 vở kịch nói sân khấu:  
*  Hai kịch bản dài:
     -  Bản án dưới mồ
     -  Số phận những hòn đá tảng.
*  Ba kịch bản ngắn:
      -  Mối tình hoa hồng bạch
      -  Chuyện ở quán gốc đa
      -  Cánh cửa quốc tế
              * Hội viên Hội nghệ sĩ sân khấu Thủ đô. 

    Nhà giáo Bùi Văn Dong - Nguyên GV Trường Đại học Quốc gia, cũng là một CCB từng có thời cùng chiến đấu với Phạm Ngọc Thái trên chiến trường Tây nguyên Nam Bộ, viết về nhà thơ như sau:
     " Tôi biết Phạm Ngọc Thái từ thuở còn chiến tranh. Cùng là anh lính chiến ăn rừng ngủ rú  trên mặt trận Tây Nguyên - Nam Bộ. Suốt chặng đường chinh chiến ấy, Thái ham viết nhật ký và làm thơ. Nhiều đêm nằm với nhau bên võng giữa rừng Trường Sơn, anh thường đọc thơ cho chúng tôi nghe. Được biết, mấy cuốn nhật ký đó đã bị mất trong bom đạn của chiến tranh. Tác giả chỉ còn nhớ ít bài tản mạn. Cũng là một điều đáng tiếc.
     Bọn lính Hà Nội của tiểu đoàn chúng tôi ra đi hồi đó! Hết chiến tranh, kiểm lại chỉ còn mươi đứa sống sót trở về. Chẳng ai có thể ngờ rằng: Cái anh chàng lính trận rất ham thích thơ thuở ấy, nay đã trở thành môt nhà thơ nổi danh trên văn đàn".
      Nhà giáo Bùi Văn Dong viết tiếp:
     "Thơ Phạm Ngọc Thái rất hàm súc, kể cả những bài viết dưới dạng triết lý đến những bài trải theo dòng cảm xúc tự nhiên. Từ nhận thức về tình yêu và cuộc sống được trải nghiệm qua đường đời, thấm tháp chảy vào thơ. Thơ tình thì huyền diệu, có sức rung cảm trái tim người yêu thơ ! Thơ đời lại ôm bọc những giá trị hiện thực xã hội, cô đúc sâu sắc. Đặc điểm cơ bản trong tính triết lý thơ đời của tác giả là vận từ đời sống dân gian, nỗi kiếp con người. Thơ được chắt ra từ tim óc nên đọc không bị gò ép, tạo thành bản sắc riêng của thơ anh. Nó bao chứa tính nhân sinh xã hội cùng thế giới quan của nhà thơ ".
      Trích Tiểu luận "Con người và thi ca" của Nhà giáo Bùi Văn Dong,in trong Tập "Phạm Ngọc Thái - Cánh đại bàng của thi ca đương đại Việt Nam", Nxb Thanh niên 2019.  

 -  Nói về nhân cách và tầm vóc thơ Phạm Ngọc Thái, Nguyễn Khôi - Nhà văn Hà Nội viết:
     "Qua tác phẩm và gặp con người cụ thể - Nguyễn Khôi có cảm tưởng về tính cách như thấy ở Thái một Vladimir Maiakovsky Việt Nam: Hiên ngang đứng trên tầm thời đại, dám tự khẳng định mình bằng những bài thơ, dòng thơ trữ tình (ở Maia là "phản trữ tình) đều vì tình yêu lớn lao. Ước vọng sâu sắc nhất của anh...
    Thơ tình Phạm Ngọc Thái... đọc không nhàm chán, vì anh luôn tạo được ý mới, tứ lạ, ngôn ngữ thơ tinh luyện, hình tượng thơ ĐẸP và sống động. Cái "thơ" đan trong cái "mộng" - cái "ảo" diệu huyền để hiện lên cái thực thấm vào tâm can người đọc...
     Thơ trữ tình Phạm Ngọc Thái HAY vì anh luôn bám vào cuộc sống đầy máu thịt đang sinh sôi....
     Thơ "yêu" Phạm Ngọc Thái là tiếng lòng, tiếng con tim luôn ngân nga một giai điệu như "mưa rơi" vào miền ký ức sâu thẳm.
     Chao ôi ! Thơ là đời, là tâm huyết máu thịt của thi sĩ. Không có tình yêu lớn lao - chân thực thì không thể có những vần thơ tuyệt tác là thế.
-   Một tài năng lớn... với những giá trị văn học tuyệt vời !
     Mong rằng "thơ Phạm Ngọc Thái" sẽ được người đời ( trong và ngoài nước ) thưởng thức, đánh giá một cách trân trọng, đúng mức.. "
       NGUYỄN KHÔI
       Hội nhà văn Hà Nội
      ( trích đăng trên báo Người Hà Nội - số 28 


                    
                  B.  TẦM VÓC " TUYỂN THƠ CHỌN LỌC " PHẠM NGỌC THÁI
     Sách dày 368 trang với 215 bài thơ tự do hiện đại các loại. Cấu trúc Tuyển Thơ chia ra thành 5 phần:
-  Phần đầu và cuối là 122 bài thơ tinh
-  Thơ khóc con 20 bài
-  Thơ viết ở nước ngoài 19 bài
-  Thơ đời " 54 bài.
    Nói về tầm vóc của một "tác phẩm thi ca lớn" ? Nó "lớn" không phải vì độ dầy của tập sách. Cũng chưa phải vì số lượng bài "thơ tuyển chọn" nhiều... mà vì cái HAY có được trong các bài thơ, tạo nên Tầm Vóc Lớn của tác phẩm !
    ( Xin mở ngoặc nói thêm: Bên cạnh Đại thi hào Nguyễn Du và Nguyễn Trãi ( dựa theo tác phẩm " Ba thi hào dân tộc " của Xuân Diệu ) - Thơ ca Hồ Xuân Hương chỉ vẻn vẹn trong khoảng năm mươi bài, nhưng Bà vẫn được đánh giá thuộc mấy nhà thơ lớn nhất của Việt Nam. ).

        BÌNH LUẬN TIẾP VỀ THƠ PHẠM NGỌC THÁI 
        Vì "Tuyển thơ chọn lọc" là thi tuyển được tinh chọn trong suốt cuộc đời nhà thơ Phạm Ngọc Thái ! Cần phải được trình bầy, dẫn giải bằng cả một quyển sách mới mong sự thỏa đáng. Cho nên, trong một bài viết ngắn - Tôi chỉ xin tóm bắt một số khía cạnh có tính chất giới thiêu tác phẩm. Tổng hợp bài viết các tác giả trong đương đại từ chục năm qua, đã bình luận về thơ hay của anh ! Nêu lên những nhận thức riêng mình.
    " Tuyển thơ chọn lọc " Phạm Ngọc Thái là cả một thế giới thơ tự do hiện đại các loại: Từ thi pháp thơ hiện thực, đến tượng trưng, nhiều bài pha trộn màu sắc thơ siêu thực - Được thể hiện bằng một bút pháp tinh luyện, tạo nên vô vàn những áng thi ca giàu cảm xúc, huyền thẳm, sâu sắc.  

    Nhà bình luận văn học Nguyễn Đình Chúc, trong tiểu luận với nhan đề: PHẠM NGỌC THÁI CHÂN DUNG MỘT NHÀ THƠ TÌNH LỚN CỦA DÂN TỘC, đã viết:
    " Thi ca Phạm Ngọc Thái dù là thơ tình hay thơ đời, những bài đạt độ viên mãn về ý tưởng cũng như ngôn ngữ nghệ thuật và tính nhân văn là rất nhiều. Mức độ hay mỗi bài khác nhau, nhưng những tình thi đó đều cảm hóa được trái tim người yêu thơ. Về bút pháp nhiều bài thơ tình của anh được hòa trộn trong khuynh hướng của dòng thơ tượng trưng hiện đại châu Âu cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Điển hình là thuyết " tương ứng cảm quan" của nhà thơ tương trưng bậc thấy ở Pháp Charles Baudelaire (1821 - 1867) lúc đó chủ xướng. ".
                                              (Trích Tập "Phạm Ngọc Thái chân dung nhà thơ lớn thời đại", xuất bản 2014.)

    Đặc biệt là thơ tình của anh, nhà văn Nguyễn Khôi viết:
     "...Thơ tình Phạm Ngọc Thái viết với một dung lượng lớn tới vài trăm bài....  Từ trữ tình kiểu Xuân Diệu đã vượt lên cái tượng trưng, siêu thực của Bích Khê... ".
   Hơn hai trăm bài thơ tự do hiện đại trong "Tuyển thơ chọn lọc" Phạm Ngọc Thái rất phong phú và đa sắc. Tôi chưa thấy có nhà thơ nào sáng tác được nhiều thơ tình hay đến thế ! Nếu thống kê thì phải có tới mấy chục bài đạt loại thơ tình thật hay, có khả năng sống trường tồn trong nền văn học nước nhà. Mỗi bài hay một vẻ nhưng đều có thể làm rung cảm trái tim đời !

      Những năm qua, các tác giả bình thơ đặc sắc và hay của anh, đăng trên các trang mạng Việt cũng nhiều. Sau đó được nhà thơ chọn lọc, cho xuất bản thành sách. Thí dụ:
    * Trong tập " Phạm Ngọc Thái chân dung nhà thơ lớn thời đại ", 2014 - Có cả thẩy 32 bài bình thơ hay và tiểu luận chân dung của 30 tác giả viết về anh.
    * Cuốn "Phạm Ngọc Thái cánh đại bàng của thi ca đương đại Việt Nam", Nxb Thanh niên 2019: có thêm 7 bài bình thơ và tiểu luận của 7 tác giả khác.
      Đến nay, tổng cộng có tới 39 tác giả là các nhà giáo, văn nghệ sĩ... với trên 40 bài viết về nhà thơ ! Còn không ít các bài thơ hay khác của anh được dư luận ca ngợi, chưa có người bình.

      Tôi đã đọc hầu hết các bài bình thơ ấy, qua các tập sách đã xuất bản của anh:
     * Cô giáo Nguyễn Thi Xuân dạy văn tại Trường THPT  Ba Đình, Hà Nội - Bình và đánh giá bài thơ "Anh vẫn về theo dòng lệ em tiếc nuối" hay vào hàng kiệt tác thơ tình! Cô giáo ví bài thơ của Phạm Ngọc Thái hay tựa như bài "Hai sắc hoa ti-gôn" của nữ sĩ TTKH. nổi tiếng trên thi đàn thơ Việt năm xưa.
     Khi "Tuyển thơ chọn lọc " ra đời - Nhà văn Nguyễn Khôi thì khen: "Phạm Ngọc Thái, nhà thơ tình số 1 Hà Thành" !
     Còn nhận thức của tôi: "Không chỉ riêng với Hà Thành - Phạm Ngọc Thái là nhà thơ tình số 1 của thi ca đương đại Việt Nam!".

(Còn tiếp)



READ MORE - ĐỜI VĂN CHƯƠNG PHẠM NGỌC THÁI & TẦM VÓC "TUYỂN THƠ CHỌN LỌC " - Nguyễn Thị Hoàng

Monday, February 22, 2016

PHẠM NGỌC THÁI MỘT BẦU TRỜI THƠ SÂU THẲM - Cô giáo Hoàng


 
Tác giả Cô giáo Hoàng


      Đọc thơ Phạm Ngọc Thái, ta nhận thấy ở anh một tâm hồn tha thiết yêu thương và thường hồi ức về những kỷ niệm đã xa xưa:
                            Hãy níu lại dùm ta! Một thời dĩ vãng…
                            Gió vẫn trôi, lá vẫn bay vèo
                            Nhưng vẫn đó: em, anh - cuộc sống
                            Và một mối tình ta đã tặng cho hết thảy trăng sao.
                                                        (Khoảng trôi trong lá)
     Hay bài Anh Vẫn Ở Bên Hò Tây:
                            Tình để lại vết thương không lành được
                            Soi mặt hồ in mãi bóng thời gian
                            Em hiền dịu trái tim từng tha thiết
                            Người con gái anh yêu
                                                    nay hóa khói sương tan.
     Một số bài thơ ta lại thấy hiện lên một cái bóng bảng lảng cõi thiền, quanh quất chốn phật đài của cái buổi hoàng hôn trong cuộc đời:                           
                              Chiều lễnh loãng bóng đa gù bên phố
                              Mõ chùa buông thay tiếng nói của tình yêu!
                              Trong sân gạch sư già quét lá
                              Bước người đi thầm lặng cõi hư hao...
                                                      (Một góc hồ Tây)
     « Mưa bay trong tiếng chuông »:
                              Chuông chùa thỉnh lên lời cầu nguyện
                              Nam-mô-a-di-đà!
                              Trong khúc mưa bay âm vang trời đất
                              Nửa tỉnh, nửa mê cũng thể như là…
     Thơ Phạm Ngọc Thái giầu triết lý. Đặc điểm của tính triết lý ấy là được vận từ đời sống vào thơ, chắt ra từ tim óc nên cảm xúc mạnh mà không bị gò ép. Thí dụ:
                              Em không biến thành đá để hoá Vọng Phu
                              Anh cũng không làm chàng Trương Chi
                                                                 suốt đời chèo sông vắng
                              Ta không đi theo con-đường-lông-ngỗng-trắng
                              Dẫu hình hài khắc mãi tim nhau!
                                                                (Người đàn bà trắng)
     Cái đời thường được khái quát bằng một sự trải nghiệm sâu sắc: con người với xã hội, cá nhân và thế giới. Nó mang tính đời sống triết học, tính vũ trụ… tồn tại và cát bụi. Tùy  theo cảnh tình nhào luyện thành vóc thơ ca.    

                                 A.  ÍT NÉT VỀ SỰ KHÚC TRIẾT TRONG THƠ ĐỜI CỦA ANH

    Thơ đời Phạm Ngọc Thái đẫm tính hiện thực, xã hội và thời đại. Nó rất cô đúc. Để nói về sự vất vả, lam lũ kiếm miếng cơm manh áo của người lao động, anh ví cuộc đời của họ giống như những chiếc chổi tre kéo lê trên đường, năm tháng bị mòn vẹt dần đi:
                            Em quét lá lẫn đời lẫn kiếp
                            Tiếng chổi mòn kêu xiết vào tim
                                                 (Cô quét lá đêm hồ)
       Tác giả đã gắn nỗi lòng mình trước những sự mất mát của những con người bần hàn ấy, theo nghĩa ẩn dụ sâu sắc:
                               Trăng như đứa không nhà trôi lạc lõng
                               Con nai vàng chết bóng thu xưa...
      Hình ảnh sinh động mà đa nghĩa. Tả về cô quét lá đêm mà thơ như một khúc hát du dương, cứ thánh thót gieo thấm vào lòng ta:
                               Liễu ru nhè nhẹ quanh bờ vắng
                               Em thầm thì quét lá bên tôi!
     Trong bài thơ "Em bán xoài", tại một khung cảnh bên bờ biển thành phố Nha Trang.  Dưới những bóng dừa xứ sở là những thân phận đang sống nổi trôi, vất vưởng chốn nhân quần. Chủ nghĩa nhân đạo của bài thơ chính là lòng thương người và nỗi đau đời:
                             Thế giới em đi "vòng thiên la địa võng"
                             Tóc còn xanh em bán kiếp đời trôi
                             Xoài em thơm hương toả mát thân người
                             Ai mua xoài?
                                                     Còn ai có mua em?
      Để phản ảnh thân phận những lớp người xuất khẩu lao động ở nước ngoài, chẳng khác gì là đoàn quân ô hợp, bèo dạt mây trôi. Nhiều nơi nhiều chỗ tranh giành, xô xéo, dối lừa nhau làm ăn không kém gì cảnh chợ giời. Đạo đức bị tha hoá:
                            Kẻ tìm vàng - Người vì cảnh nghèo đi
                            Đạo lý có hoá thừa đành giả dại làm ngơ
                            Đứa mách qué lại vân vi dễ sống...
                            Hạt muối xót tháng năm và lòng ai đắng?
                            Tôi nhận chìm tôi vào những lãng quên.
                                            (Nỗi trăn trở người đi tìm vàng).
      Còn ở bài « Làm ma em vợ », ta lại thấy thi phẩm nhuốm đầm nỗi kiếp đoạn trường ở trong kinh Phật:
                             Em ơi: chữ “kiếp” trước chữ “người”!
                             Sống cần cố gắng, chết rồi thôi.
                             Hãy đi, yên nhé! Coi hết nợ...
                             Anh ở vì chưng trả nợ đời.
     Nhà văn Đào Viết Minh khi bình bài thơ này đã có nhận xét:
     "Làm ma em vợ" là một bài thơ khóc. Đứng trước bao cảnh đời khốn khổ trên bờ bến nhân gian, với tâm khảm xót xa một người em vợ, nhà thơ đã viết ra bài khóc tang này... Bài thơ tuy cũng dựa trên một nỗi đời cụ thể, nhưng nó có cấu trúc của một bài thơ tượng trưng nói về nơi bể khổ dân tình - Câu thứ ba của đoạn thơ này:
                         Hãy đi, yên nhé! Coi hết nợ...
     Cái nạn kiếp người nơi hạ tầng của chúng sinh thời nào mà chẳng khổ? Trải qua những thăng trầm trong nhân tình thế sự, chiêm nghiệm tận thẳm sâu tâm linh cuộc đời mình, thấm đẫm về chữ "kiếp" luân hồi ấy để nỗi xót thương từ trong lòng tác giả trào ra: Em chết, là coi như đã trả hết nợ đời đó em!... /- Mặt sau của bản thơ là tiếng kêu cứu xã hội, tiếng khóc nấc bật ra từ trong khối cộng đồng của thời hiện đại này?... Bài thơ chỉ như một lời khấn cầu từ bi nơi cửa phật để thắp cho đứa em tội nghiệp, cùng những kẻ đáng thương đã sinh ra ở trên cõi trần ai, một nén nhang đời!".
     Vân vân...
 
                                  B-  THƠ TÌNH PHẠM NGỌC THÁI GIÀU  SẮC THÁI VÀ HAY

     Hầu hết đều xuất phát từ những mối tình dang dở hoặc tan vỡ. Tuy tình yêu của nhà thơ với người con gái đã qua đi, nhưng trái tim anh vẫn tha thiết, nồng nàn lắm. Có khi còn tạo ra cả những thiên tình diễm lệ, rất đa dạng và phong phú.
      Tôi có thể kể ra đây một số tình thơ, như bài « Khoảng trôi trong lá », được cấu thành dưới gió mưa và trăng sao. Những kỷ niệm tình yêu xưa trở về cồn cào, day dứt trái tim thi sĩ, tạo thành cảm xúc cho thơ trào ra:
                           Bỗng cồn nhớ một thời dĩ vãng
                           Gió cứ trôi không hữu hạn bến bờ
                           Nhưng vẫn đó: Em, anh - cuộc sống
                           Xa nhau rồi! tình cũ đến bơ vơ...
     Tình yêu thì đã vào bụi cát, nhưng cuộc sống của anh và em thì vẫn phải tồn tại... dù trong lòng bao nỗi nhớ thương:
                          Có bao lá cây rơi, em đã vào xa vắng
                          Lá nuốt em. Giờ sống thế nào rồi?
                          Em sung sướng? Ưu phiền? Lãng quên hay bụi cát?
                          Mặt trăng trên trời. Tim anh rất mồ côi !
    Chỉ có tiếng lá và tiếng gió vu vi kia đáp lại lời tâm tình đó của anh.
    Về thơ tình mùa thu thì sâu lắng và súc tích. Cái cách tả người yêu của anh thành biểu tượng:
                         Đôi mắt em bóng trúc bay xoà...
                         Đường phúc hậu vầng trăng đầy nở...
                         ... Môi em cười hoa lá nát đau thêm.
                                                (Sáng thu vàng)
    Để rồi anh hạ một câu thơ thật đắt:
                         Người đàn bà, em nuốt mùa thu tan! 
    Chữ «nuốt mùa thu» còn mang theo cả ý nghĩa thơ siêu thực. Hay ở bài « Đêm thu phố vắng »:
                        Ta sẽ viết cho ai bài thơ đêm thu vắng?
                        Tiếng trong khuya em gọi vọng rất xa
                        Trên thảm lá lòng ta say đắm
                        Tha thiết bên em vì không muốn đêm qua...
    Anh đã đem đến cho thi đàn mấy bài thơ mùa thu đặc sắc.
   « Thông và biển » là một tình thơ mà đôi trai gái đã được hoá thân vào đất trời, để ca vọng mãi tình yêu tuổi trẻ:
                       Anh đứng làm cây thông trên đá, sỏi
                       Vi vu kêu... tình thiếu nữ qua rồi!
     Trong cuộc sống đầy đá, sỏi... Tháng năm thì như một đoàn tàu nghiền đời ta thành tan nát, nhưng "thông và biển" vẫn cứ quấn quít mà hát mãi bên nhau. Chúng hát rằng: Trong sự tồn tại của đất trời chỉ có tình yêu là vĩnh cửu!
      Nếu ở bài Người Đàn Bà Trắng, ta bắt gặp một Phạm Ngọc Thái với cách triết lý về tình yêu - cuộc sống rất thực tiễn như đã nói ở trên - thì trong « Em về biển », tình yêu ấy lại được nhà thơ đẩy cao lên thành một thần tượng thiêng liêng:
                        Bờ bãi đời người - Cuộc sống tình yêu
                        Trái tim nhỏ em dựng cả toà sen chân Phật Tổ!
      Như nhà thơ Nga M.Lermôntốp đã thần tượng tình yêu đối với người đàn bà:
                        Tượng thờ dù đổ vẫn thiêng
                        Miếu thờ bỏ vắng vẫn nguyên miếu thờ.
      Ở bài Một Góc Hồ Tây tôi thích cái câu thơ:
                       Thiếu vắng em nên anh lẻ bóng
                       Lá vàng rơi thay vào chỗ em ngồi...
      Bài thơ vẽ lên một bức hoạ mà mỗi cảnh vật đều thấm đẫm tâm linh của một con người đã bước vào tuổi hoa niên. Tâm hồn nhà thơ vẫn yêu da diết nhưng lại chơi vơi nửa vời bởi sự cô liêu, đầy sắc hư hao:
                      Trong tiếng lá bay... chầm chậm bóng ta theo...
     Về « chùm thơ áo trắng », nuối cảm những tình yêu chớm nở thưở ban mai. Có những câu thơ hình tượng gợi vào trái tim làm ta bàng hoàng, da diết:
                     Tà áo trắng động vào... khe khẽ nát tim anh!
                                                           (Thời áo trắng)
   Hay là:
                     Tà áo trắng trôi dưới dòng mây bạc
                     Lang thang vài cánh bướm bơ vơ
                     Áo trắng in ngang trời - sét đánh!
                     Lưỡi dao nào cào nát tim thu?
                                              (Phố thu và áo trắng)
     Nhà thơ không khỏi bỡ ngỡ, thảng thốt như một giấc chiêm bao. Vừa mới thoáng đây thôi mà mình đã già rồi? Vì thế nên cả thành phố cũng hiu hắt, cô đơn cùng nỗi lòng anh, muốn níu kéo lại một thuở nào:
                      Trả lại cho anh một thời áo trắng
                      Em đi rồi, mai thành phố cô đơn!
     Trái tim của nhà thơ nhiều khi giống như một con tầu chở đầy ắp tình yêu chuyển bánh. Con tầu ấy chạy qua những cái quán cô quạnh trong tiếng gió hú, những vầng trăng chết đuối đang trôi, những làn mây lang thang ở chân trời và cả thành phố đang chìm đắm trong đêm. Tình yêu người thiếu nữ như hồi chuông nơi thánh đường trắng trinh,  vuốt ve trái tim đau nhói của nhà thơ. Trái tim ấy như một loài hoa không ngủ, nó bay theo con tầu chuyển bánh đi mãi, đi mãi tới vô cùng:
                  Quán cô quạnh suốt đời nghe gió hú
                  Trăng chết đuối rồi… trắng dại… đang trôi…
                  Mây lang thang dưới chân trời bão tố
                  Thành phố chìm trong đêm xa xôi.
     Và:
                   Hương đã theo anh và con tầu chuyển bánh
                   Đến vô cùng mà chẳng biết đi đâu?
                                    (Trong bóng cây ngủ đêm)
     Tình yêu trong hoài vọng, trong kí ức là vô vi… nhưng nó vẫn như cánh chim bay xa, mang đến cho anh cả đau khổ cùng hạnh phúc, khát vọng và tan vỡ! Những hình tượng thi ca chứa đầy ắp trong tâm hồn của nhà thơ, theo cảm xúc dào dạt bay ra mà tạo thành hàng trăm áng thi ca ngập tràn hương sắc.
    Có khi chỉ nằm trong nhà nghe thấy tiếng rúc của một con chim đêm trong bụi cây, với nỗi trống trải cô dơn của lòng mình - Thế là tác giả liên tưởng tới câu chuyện tình của đôi chim:
                   Chim gọi đàn - Anh gọi tên em
                    Năm tháng, nắng mưa, non ngàn, bão tố
                   Có lẽ nào em không về nữa?
                   Để hồn anh hoang mạc bơ vơ...
     Và chuyện "tình chim" trở thành chuyện "tình người". Mối tình cũ lại gợi về:
                   Đã xa rồi! Mùa dĩ vãng trăng mơ
                   Đời vui vẻ cuốn theo dòng gió bụi…
    Để rồi:
                   Con chim đêm run rẩy bóng xanh già
                   Anh bổi hổi một thời qua vọng lại...
                                        (Tiếng rúc chim đêm)
     Đó là tiếng run rẩy của con chim? Không! Đó là tiếng run rẩy của trái tim thi sĩ còn vọng mãi vào năm tháng xa xôi, vô cùng, vô tận kia. Tiếng lòng của anh vọng gọi người yêu!? Thơ đã mang ý nghĩa nhân bản sâu sắc trong tình yêu và sự sống con người.     
     Thơ tình của Phạm Ngọc Thái nhiều vô kể, sâu sắc và không ít thi phẩm đã đạt được tầm vóc là những bài thơ tình hay! Hầu hết đều  là thơ tự do hiện đại. Tác giả rất coi trọng tính nhạc và giọng điệu nên thơ đọc cuốn hút, truyền cảm được trái tim đời. Có thể nói, thơ Phạm Ngọc Thái như một bầu trời mênh mông sâu thẳm... được chẩy ra từ trong máu tim và cuộc đời. Càng đọc sâu càng thấm thía.
   
               NGUYỄN THỊ HOÀNG

      Giảng viên Trường ĐH Sư phạm
READ MORE - PHẠM NGỌC THÁI MỘT BẦU TRỜI THƠ SÂU THẲM - Cô giáo Hoàng