Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, October 13, 2025

THU THIÊN TAI - Chùm thơ Lưu Lằng Khách

Tác giả Lưu Lãng Khách


 THU THIÊN TAI

Hết phạt Trung Kỳ đến Bắc phương

Mấy miền dân chịu lắm tang thương

Kinh hoàng bão lũ vùi thôn bản

Tàn khốc thiên tai dập phố phường

Tiếng nấc bi ai ngày khổ nạn

Lời than thống thiết tối thê lương

Toàn dân chia sẻ niềm thương cảm

Cả nước cùng đau nỗi đoạn trường.



BÍ BẦU MÁU CHẢY RUỘT MỀM

Thái Nguyên Thanh Hóa Nghệ an

Lạng Sơn Phú Thọ Cao Bằng Bắc Ninh...

Dân tình khốn đốn điêu linh

Bão lũ cướp bất thình lình hỡi ôi!

Phải chăng lấn biển san đồi

Lấp sông phá rú đất trời chẳng thương

Thiên tai kim cổ vốn thường

Kinh hồn thảm họa mịt đường Bắc Trung

Nghẹn ngào trước nỗi đau chung

Chút tình dân tộc lệ cùng ứa tim

Cầu trời sớm được bình yên

Bí bầu, máu chảy ruột mềm hỡi ai!

            10/10/2025  


QUÊ TÔI TRÀ GIANG

Quê tôi miền Trung sao đầy thiên tai người ơi!

Lo toan mưu sinh dân lành nghèo như truyền đời

Bao năm bôn ba nay về thăm quê vàng rơi

Con chim vàng oanh bên thềm mưa tuôn im lời

Đêm thu trăng tan tơi bời phong ba ầm vang

Trà Giang hiền nhu gầm gào dâng cao kinh hoàng

Chiều vàng mưa qua lang thang xa sông

Hoa màu đang xanh điêu hoang mênh mông

Sinh linh phơi thây đầy đồng

Đâu thiên thai đâu đời hồng

Diều hâu vây quần trên không.

                      12/10/2020

                    Lưu Lãng Khách


 TÔI  TÔI THƯƠNG MIỀN TRUNG

Tôi thương miền Trung bao đời thiên tai tang thương

Sông Lam - sông La - Ngàn Sâu - sông Hàn hung hăng triều cường

Mưa như gươm đao găm vào xương da người dân

Đau bao làng quê nhà chìm trôi trong dòng ngầu

Từ đồng bằng lên trung du

Nhà nhà sầu đau thương ru

Đời cần lao qua xuân thu

Tương lai chìm trong âm u

Ôi sông Sa Lung mưa cuồng trong cơn triều dâng

Sông Hương - sông Gianh - sông Chu - sông Trà bao dòng châu tràn

Hanh khô triền miên mưa dầm sanh cơn cuồng điên

Thê lương làm sao xui nghèo đeo hoài dân hiền

Trời cao xin thương miền Trung

Muôn người trăm ngàn lao lung

Lênh đênh lao đao dù oai hùng

Tôi thương miền Trung không còn lời

Sao đời chưa sang trang người ơi!

Về đâu bao đêm trăng rằm

Rào Thanh- Thu Bồn- Đà Rằng

Sông Rinh - sông Tang kêu than ngàn năm

Tôi thương miền Trung trâu bò chơi vơi dòng sâu

Ngô khoai mùa đang hư tàn lương dân ưu sầu

Thương sao gà heo lều bều trôi sông tàn hơi

Ôi quê miền Trung! Người ơi!  Thiên tai ngàn đời.

                                   Luu Lãng Khách


From:Nguyễn Duy Toàn luulangkhach@gmail.com
READ MORE - THU THIÊN TAI - Chùm thơ Lưu Lằng Khách

KÝ ỨC MÙA THU - Chùm thơ Đặng Xuân Xuyến

 

Tác giả Đặng Xuân Xuyến


THÁNG BẢY

 

Tháng 7 chớm về sao đã Ngâu

Mưa đâu vội rắc ấm chân cầu

Hương Thu rỏn rẻn men bờ giậu 

Giục Cúc Họa Mi vội trổ mầu.

*.

Hà Nội, 04 tháng 08-2024

(Mồng Một tháng 7 âm lịch)

ĐXX

 

ĐÊM VẮNG

 

Ơ hay đêm vắng còn chưa ngủ

Mải đứng dòm khuya mãi gật gù

Ờ nhỉ tháng Mười giăng ngõ cũ

Xáo xác cuối vườn tiễn gió Thu.

*.

Làng Đá, 03:26/13-11-2023

ĐXX

 

THÁNG CHÍN

 

Tháng Chín cuộn tròn hương sữa đêm

Gió Thu vê rối lọn tóc mềm

Tiếng cười rúc rích thi thoảng điểm

Sương Thu run rẩy rót xuống thềm.

*.

Hà Nội, 11 tháng 11/2023

(đêm 28 tháng 9 âm lịch)

ĐXX

 

 THU NĂM NAY LẠ THẾ 

 

Thu năm nay lạ thế 

Heo may vàng ngõ quê 

Đêm cựa mình tiếng dế

Xới vang cả góc trời.

,

Ồ rúc rích ai cười

Rộn ngõ quê đến lạ

Mà như là trong lá 

Thì thầm lời triền đê.

,

Ai hát khúc tình quê

Dặt dìu câu giã bạn

Kìa hàng cây xòe tán 

Vươn cao nhiều hơn xưa

,

Chợt nghe khúc đò đưa

Giữa đồng quê bát ngát 

Lúa se mình mẩy hạt

Nắng suộm vàng rẻo đê

,

Thu năm nay lạ thế 

Heo may vàng ngõ quê 

Đêm cựa mình tiếng dế

Thì thầm lời triền đê!

*.

Làng Tám, 16 tháng 8-2023

ĐXX

 

THU MỚI

- tặng NTT -

 

Em đi gom lại mùa thu cũ

Trả lại vườn xưa tiếng Cu gù

Sớm nay nắng ấm về trú ngụ

Lảnh lót trong vườn hương sắc Thu. 

*.

Hà Nội, 10G25 ngày 20-02-2021

ĐXX

 

HỎI

 

Sao cứ tìm ta trong giấc ngủ

Để ngày lãng đãng giọt mưa Thu

Đã bảo tim ta đừng trú ngụ

Mà còn gài bẫy tiếng cu gù.

*.

3G45, 29 tháng 12-2020

ĐXX

 

CHÚT YÊU...

 

Có chút Thu về trong nắng say

Có mùi Sen dịu thoảng nhẹ bay

Có người trai ấy chiều hôm đấy

Vun một miền yêu nhẹ dâng đầy.

*.

Hà Nội, ngày 20.08.2018

ĐXX

 

THU LẠNH

 

Người đã đi rồi, đi quá xa

Bỏ ta ở lại với quê nhà

Hôm nay về lại thăm làng Đá 

Ngơ ngẩn chiều tà ta với ta…

,

Giếng nước còn trong, bậc đã rêu

Chênh chao chiều vọng tiếng cu gù

Tháng chín thôi mà... sao đã lạnh

Thu vàng vồi vội rải nắng hanh.

,

Ừ, trách gì đâu, chỉ nhớ thôi

Người đi thì cũng đã đi rồi

Nào ai biết được duyên mà đợi

Mây tím lưng trời, thôi, cũng thôi.

*.

Hà Nội, chiều 20 tháng 10.2017

ĐXX

 

SẮC THU

 

Tiếng cười trong veo, ngọt lịm

Ngác ngơ, chim Ngói gật gù.      

Ngõ nhà ai hoa tim tím

Dịu dàng níu khách lãng du.

*

Làng Đá, 17 tháng 09.2016

ĐXX

 

THU SỚM

 

Em hỡi! Mùa thu đã đến chưa?

Có nghe se lạnh gió chuyển mùa?

Có nghe thoang thoảng thơm cốm mới?

Có thấy nhà bên rúc rích cười?

,

Em nhỉ. Mùa thu đến thật rồi

Sương chiều bảng lảng rắc muôn nơi

Diều ai dìu dặt chòng chành nắng 

Vắt vẻo em cười. Ơ ... đã thu.

*

Làng Đá, Hưng Yên 18.09.2015

ĐXX

 

HƯƠNG THU

 

Ô kìa chiều

Ai thả nắng vương cây

Tóc rối ai bay

Mòn ai đuôi mắt

Điệu lý buông lơi tính tang khoan nhặt

Da diết bổng trầm xao xác sông xưa

,

Ta hỏi chiều 

Thu đã về chưa

Mà lá vàng rơi khẽ nghiêng thật nhẹ

Mà gió mơn man vuốt ve thật khẽ

Biêng biếc trời chiều 

Man mát hương sen.

,

Ta hỏi chiều

Sao rất đỗi thân quen

Tí tách bếp ai dẻo thơm cốm mới

Câu lý giao duyên ngập ngừng bối rối

Bồng bềnh người ơi

Mây tím lưng trời.

*.

Hà Nội, chiều 07 tháng 08 năm 2014

ĐXX

 

CHIỀU THU

 

Bảng lảng chiều 

Em thẩn thơ nhặt nắng 

Tiếng chim kêu lảnh lót sau vườn

Chiếc lá mỏng cuộn mình rơi khẽ

Gió liu riu 

Run rẩy khóm cúc vàng 

,

Ngơ ngác nắng 

Em thẩn thơ nhặt nắng

Hoa cúc vàng se sẽ trổ bông.

*

Hà Nội, đêm 12 tháng 09 năm 2013

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

 

 

READ MORE - KÝ ỨC MÙA THU - Chùm thơ Đặng Xuân Xuyến

GIỮA HOANG MẠC TINH THẦN, TÌM LẠI TÂM KINH - Trần Kiêm Đoàn




GIỮA HOANG MẠC TINH THẦN 

TÌM LẠI TÂM KINH 

  

Mùa Nobel đang nở rộ với các giải thưởng danh giá nhất trong nhiều lĩnh vực chuyên môn như Vật Lý, Hóa Học, Y Khoa, Văn Chương, Hòa Bình đang lần lượt được công bố. Sự thú vị tuyệt vời trong mùa phát giải Nobel là hầu hết người trúng giải đều thật sự xứng đáng là những nhân vật tinh hoa thời đại. Giải Nobel Văn Chương năm nay đang xoáy vào đề tài “hoang mạc tinh thần” hay “sa mạc vô tâm”... nói đến thân phận con người giữa vòng xoáy của sự cô độc trong cơn tuyệt vọng gần như tận thế của tâm hồn. Trước nỗi tuyệt vọng đầy cuồng nộ của phương Tây và nhẹ nhàng hơn ở phương Đông mình thử làm người cưỡi ngựa xem hoa, đi tìm vài giọt sương Thu trong cơn khát cháy... 

 

 Ảnh của Janos Marjai/EPA. (https://www.upi.com/Top_News/World-News/2025/10/09/stockholm-hungarian-laszlo-Krasznahorkai-nobel-prize-literature/3631760015489/)

Khôi nguyên Nobel Văn chương 2025  

Giải thưởng văn chương cao quý nhất thế giới – giải Nobel Văn học – năm 2025 đã được viện Hàn lâm Thụy Điển công bố. Người thắng giải là nhà văn Hungary László Krasznahorkai (LK).  Anders Olsson, chủ tịch Ủy ban Nobel, đã đưa ra lời nhận định về tầm nhìn tiên tri của nghệ thuật: 

“Vì sự nghiệp sáng tác đầy sức cuốn hút và mang tầm nhìn tiên tri của ông – ngay giữa cơn kinh hoàng tận thế, vẫn khẳng định sức mạnh cứu rỗi của nghệ thuật.” 

 

Và Olsson nhìn về khía cạnh văn chương: 

László Krasznahorkai là một đại văn hào mang phong cách sử thi của truyền thống Trung Âu, nối dài từ Kafka đến Thomas Bernhard, đặc trưng bởi chủ nghĩa phi lý và sự phóng đại mang tính bi hài. Tuy nhiên, ông không chỉ dừng ở đó; ông còn hướng về phương Đông, tiếp thu một giọng văn tĩnh lặng, chiêm nghiệm và tinh tế hơn, thể hiện chiều sâu của tâm linh và suy tưởng trong thế giới hỗn loạn.

Tác phẩm xuất bản đầu tay của Krasznahorkai là  The Melancholy of Resistance (phản kháng trầm luân).  Tác phẩm này, ra đời năm 1989, là một ẩn dụ về xã hội Đông Âu tan rã, nơi niềm tin tập thể mất dần, người dân rơi vào một sự hoang vu tâm hồn với tinh thần trống vắng tột cùng như viễn khách trên chính quê hương của mình giữa cõi đi về không định hướng. 

Khái niệm “hoang mạc tinh thần” (spiritual dessert) lan tỏa trong suốt cả bốn tác phẩm đưa tác giả lên đài danh vọng văn chương. Krasznahorkai viết nó như hành giả tụng kinh thiền hành giữa tận thế: ngôn từ dài, xoắn, tối, nhưng mang sức gợi về khả năng hồi sinh của tâm hồn – rất gần với tinh thần “vô minh dẫn tới giác ngộ” trong Phật học.

Tuy Krasznahorkai có lối hành văn rất khác thường so với văn chương truyền thống với câu văn có cấu trúc rắc rối, dài lê thê, dồn dập và nội dung diễn đạt đen tối, u sầu, nhưng Anders Olsson - Chủ tịch Ủy ban Nobel – đã ca ngợi “ Văn xuôi của Krasznahorkai đã phát triển theo hướng cú pháp trôi chảy. Các câu dài, quanh co không có dấu chấm tạo nên thương hiệu của ông. Krasznahorkai là nhà văn sử thi vĩ đại..." Và cũng chính László Krasznahorkai từng nói với Guardian: "Nếu có độc giả nào chưa đọc sách của tôi, tôi không thể gợi ý cho họ bất cứ điều gì để đọc. Thay vào đó, tôi khuyên họ hãy ra ngoài, ngồi xuống đâu đó, chỉ im lặng như đá. Rồi họ sẽ gặp được người đã đọc sách của tôi". Lời tự bạch “tâm vô sở trụ” nầy làm người ta nhớ thi hào Nguyễn Du với kinh Kim Cang trong lần đi sứ cuối đời: Ngã độc Kim Cang thiên biến linh. Kim Cang vô tự thị chân kinh – (Kim Cang ta đọc nghìn lần. Kim Cang thật sự tự thân không lời.)


Hoang mạc tinh thần và một thoáng Tâm Kinh

Sự “hoang mạc tinh thần” là hậu quả của văn minh lý trí bởi con người biết rất nhiều cách sống, nhưng quên mất ý nghĩa của sự sống. Sự tuyệt đối hóa lý trí khiến con người cô độc, hoài nghi và lạc hướng giữa vô vàn thông tin nhưng thiếu minh triết. Đây là bối cảnh mà Kafka, Beckett, Bernhard và nay Krasznahorkai đã diễn tả cái trống rỗng của hiện hữu trong thế giới mù Tâm. Khuynh hướng tìm về Phật lý là con đường trở lại “Tâm nguyên”.

Khi con người ý thức rằng mọi nỗ lực bên ngoài không còn cứu rỗi được sự bế tắc bên trong, họ quay về tìm đạo lý nội tâm. Phật lý – với nguyên lý Duyên khởi, Vô ngã, Vô thường và Trung đạo –  chính là phản đề của hoang mạc tinh thần:

Duyên khởi chỉ ra rằng mọi hiện tượng tương liên, phá vỡ cô đơn của “cái tôi biệt lập”.

Vô ngã giúp ta thoát khỏi chấp thủ, cái gốc của khổ đau. 

Trung đạo mở lối quân bình giữa hư vô và cực đoan, giữa cảm xúc và lý trí.

Từ đó, Phật lý trở thành “dòng suối mát” tưới tẩm hoang mạc tâm linh, giúp con người nhận ra rằng: cứu rỗi không đến từ bên ngoài mà từ sự tỉnh thức nội tâm.

 

Khi nghệ thuật trở thành con đường giác ngộ

Với Krasznahorkai, nghệ thuật không chỉ là phản ánh hiện thực mà là phương tiện để trở về với im lặng là gốc của chính mình, nơi con người chiêm nghiệm sự tan rã của thế giới và sự tồn sinh của Tâm. Giữa khi đó, trong “hoang mạc tinh thần”, người nghệ sĩ đi tìm thể tánh – bản lai diện mục chính mình – là hành trình trở về với bản thể của sáng tạo, nơi chữ nghĩa chỉ còn là hơi thở và tư tưởng trở thành vắng lặng vô ngôn.

Để so sánh “sự chiêm nghiệm về tâm lý hoang mạc” và cách “giải quyết” (nếu có) bằng thiền định hay quan niệm nhân sinh giữa hai thế giới Đông Tây, trước hết ta cần làm rõ cách hiểu “tâm lý hoang mạc” (desert psychology / desert mind) trong ngữ cảnh triết học, tâm lý, rồi xem mỗi tác giả hoặc tư tưởng mà ta so sánh diễn đạt nó ra sao và họ có giải pháp hay hướng đi nào để tự mỗi người hướng tâm, khai trí.

 

1. “Tâm lý hoang mạc” –  khái niệm và hình ảnh

Khái niệm “hoang mạc” (desert, emptiness, wasteland) thường mang tính biểu tượng: cô lập, khô cằn, mất chiều sâu gắn kết, nơi mọi cấu trúc quen thuộc bị bóc trần.  Trong tâm lý học, nó cũng có thể ám chỉ trạng thái nội tâm rỗng không, hoang mang, tuyệt vọng, mất mát liên kết tinh thần, nơi “không có chỗ bám”. 

Nếu xem “tâm lý hoang mạc” là hình ảnh hay ẩn dụ cho trạng thái tinh thần nơi con người hoang mang đối diện với vô nghĩa, thì ta có thể xem thử có chăng một giải pháp để “cứu chữa” tâm lý bế tắc cùng cực này.

Thử tìm một nhân vật đối ứng với nhà văn Krasznahorkai trong hai thế giới Đông – Tây; có lẽ Thiền sư Thích Nhất Hạnh là một trong những hình ảnh tiêu biểu.

Trong văn chương hiện đại, László Krasznahorkai, là kẻ lữ hành lang thang giữa hoang mạc ấy.

Trong đời sống tâm linh hiện đại, Thiền sư Thích Nhất Hạnh là người gieo hạt trên cánh đồng khô cằn, chỉ ra con đường trở về.

 

2. Thích Nhất Hạnh: từ “hoang mạc” đến chánh niệm và giao cảm

Mặc dù Thầy Nhất Hạnh không dùng cụm từ “tâm lý hoang mạc” thường xuyên như một khái niệm chính thống, nhưng trong nhiều bài giảng và sách viết, ta thấy rõ Thầy nhìn thấy những vùng “cằn cỗi” nội tâm – những tâm lý sợ hãi, cô đơn, tổn thương – và dẫn dắt con người ra khỏi nó bằng chánh niệm, thiền định, lòng từ bi và “interbeing” (tương thuộc).

Thầy nhấn mạnh rằng, nhiều khổ đau nội tại không đến từ hoàn cảnh bên ngoài mà từ cách mình không lắng nghe, không hiểu mình là chính. Do vậy, nếu biết lắng nghe và hiểu được cảm xúc nội tại của chính mình sẽ làm vơi đi niềm đau nỗi khổ đang đè nặng trong ta (Listening to and understanding our inner sufferings will resolve most of the problems we encounter.)

Tức thị rằng vùng đất “hoang mạc” (nỗi khổ, sầu muộn, cảm giác bị bỏ rơi) cần được lắng nghe hơn là đàn áp, tự áp chế.

Thầy Nhất Hạnh nói về chánh niệm (mindfulness) như một năng lượng, một con đường, không chỉ một phương tiện: (Mindfulness is not a tool … True mindfulness is a path, an ethical way of living.)

Chánh niệm giúp người ta “ở với” khổ đau, nhìn rõ chúng mà không phản ứng tự động, từ đó có thể chuyển hóa.

Lắng nghe, nói lời thương yêu – ái ngữ – (deep listening, compassionate speech) là một phần của nghệ thuật chữa lành: vấn đề nội tâm không tách rời cộng đồng – để vượt hoang mạc, người ta cũng cần trà trộn, giao cảm, lắng nghe người khác.

Quan niệm “interbeing” (tương thuộc) là mấu chốt: mọi sự sống liên đới, không có cái tôi độc lập tuyệt đối. Khi ta cảm thấy “cô độc trong hoang mạc”, Thầy Nhất Hạnh sẽ nhắc nhở rằng cái tôi cô độc đó vốn là ảo tưởng; trong khi ta thực sự “liên-hữu” với mọi người và mọi sự vật.

Và trong thực hành: tâm nằm trong hơi thở, bước đi, ăn uống – mọi hành động đời thường đều là dịp để thực tập chánh niệm – khơi lại tương thuộc và chữa lành những vùng “cằn cỗi” trong lòng.

Vậy, “giải quyết hoang mạc tâm linh” theo Thầy Nhất Hạnh không phải bằng việc thoát khỏi nó ngay lập tức, mà bằng cách bước vào nó trong chánh niệm, lắng nghe, mở rộng lòng từ bi để nhận ra rằng ta không thực sự đơn độc, đó là tiến trình dần hồi sinh mạch kết nối với mình, với người, với sự sống.

 

3. Krasznahorkai: cái hoang mạc nhân sinh và hư vô kéo dài bất tận

Khác với nhà thiền, Krasznahorkai là nhà văn hiện đại/ hậu hiện đại và cách “chiêm nghiệm” của ông là thông qua văn chương – mô tả trạng thái, giọng nói, cấu trúc câu – chứ không đề xuất một phương pháp giải quyết rõ ràng. Ở ông, ta dễ thấy “tâm lý hoang mạc” ở cấp độ nhân sinh: sự kiệt quệ của ý nghĩa, sự cạn kiệt của thời gian, sự căng thẳng giữa khát vọng và thực tại bất định. 

Có thể nói: Thích Nhất Hạnh là người chữa lành hoang mạc; Krasznahorkai là người làm cho ta thấy nó rõ mồn một và để ta tự mang nó trong mình. 

Thích Nhất Hạnh là tâm ảnh phương Đông – mở đường thoát khỏi “sa mạc” bằng việc buông bỏ, hòa tan, an trú. 

Krasznahorkai là ảo ảnh của phương Tây – dấn thân vào “sa mạc” để nhìn tận cùng vô nghĩa, để nghệ thuật còn lại như “bằng chứng con người từng tồn tại”. 

Tuy hai hướng khác nhau, cả hai gặp nhau ở điểm cốt lõi: 

“Không ai có thể thật sự thoát khỏi hoang mạc nếu chưa đi xuyên qua nó.” 

Thích Nhất Hạnh đi qua bằng hơi thở; Krasznahorkai đi qua bằng chữ nghĩa.

Một người “đem nước từ bi tưới mát”, người kia “giữ lại tro than của nhân loại để soi vào đó ánh sáng.” 

Có chăng ánh sáng của Krasznahorkai là ánh sáng của trí tuệ và nghệ thuật phát ra từ bóng tối của tuyệt vọng. Sự giao thoa đầy lý tính của phương Tây về trí tuệ và nghệ thuật là một hứa hẹn “giải phóng hoang mạc tinh thần” thấp thoáng đâu đó cuối đường hầm. Mong rằng, thế hệ Trí tuệ Nhân tạo và khoa học công nghệ sẽ giúp phát ra tia sáng. 

Sacramento mùa Thu 2025 

Trần Kiêm Đoàn

trankiemdoan@gmail.com

READ MORE - GIỮA HOANG MẠC TINH THẦN, TÌM LẠI TÂM KINH - Trần Kiêm Đoàn