Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Tuesday, January 10, 2012

Trương Nguyễn - ĐÓA HOA XUÂN


Viên sỏi nhỏ chìm sâu trong biển lớn
Cơn sóng ngầm xô dạt tới điêu linh
Ta nép mình giữa phù du bọt sóng
Ngóng trên cao giọt nắng thanh bình

Nửa cuộc đời gánh thơ – ca mỏi mệt
Cơn gió chiều quay quắt với hoàng hôn
Chiếc lá vàng tiễn ngày đông qua hết
Đón mùa Xuân hoa đua nở bướm vờn

Ai thảng thốt bên đời câu than vãn ?
Ngày thênh thang –đêm sâu đến thiên thu
Cuộc trăm năm chỉ là mộng ảo
Nỗi buồn – vui như thoáng chốc sương mù

Em hãy về cùng ta nơi vô tận
Giữa tấm lòng lời không chữ gọi nhau
Như bến cũ mừng đò xưa trở lại
Đêm ba mươi Mai nở cánh nhiệm mầu

TRƯƠNG NGUYỄN
truongnguyen49@yahoo.com.vn
READ MORE - Trương Nguyễn - ĐÓA HOA XUÂN

Lê Văn Trạch - BĂNG ĐỒNG, CHỈ SÁ...

             Trằm Trà Lộc, Hải Lăng

            Nghe tin Anh đau đầu chưa khá
            Em băng đồng chỉ sá bẻ nạm lá qua xông
            Ước mần răng cho nên đạo vợ chồng
            Đổ mồ hôi ra em quạt, lại ngọn gió lồng em che !

            Câu này thường thể hiện dưới dạng hò ru, được phổ biến rộng rãi trong mỗi miền quê mặc nhiên tồn tại và chan hoà trong đời sống, chẳng cần phân tích về tính thực tế và hợp lý của nó như đối với hầu hết ca dao tục ngữ. Có khi từ những nghịch lý, ta nhận ra được cái sâu sắc ý nhị trong biểu lộ tình cảm nhất là ở vị trí người phụ nữ:

            Nghe tin anh đau đầu chưa khá

Với người nông dân cầy sâu cuốc bẫm, một nắng hai sương thì việc nhức đầu sổ mũi chỉ là chuyện nhỏ, lẻ lẻ, chuyện thường ngày, chẳng phải bận tâm, phải quan trọng hoá để tạo nên một lời đồn đại ! Có thể đây là cơ hội, dịp may hiếm có để mà Nàng mong đợi từ lâu:

            Em băng đồng chỉ sá bẻ nạm lá qua xông !

Trong mỗi khu vườn ở vùng nông thôn Quảng Trị đã chứa sẵn một kho lá xông từ chanh, bưởi, mãng cầu, lá tre đến tía tô, sả ... chỉ cần thêm vài giọt dầu Khuynh diệp là có một nồi hoàn chỉnh, chứ chẳng cần đi đâu xa, mà dù có băng đồng chỉ sá tận đâu đâu cũng không tìm thấy những thứ ấy .

            Xã hội phong kiến đã tạo nên những vòng kẽm gai để  phong toả mọi sinh hoạt tình cảm của người phụ nữ, gần những ngôn từ:  Gia phong, lễ giáo, tiết hạnh…. nhằm kìm hãm mọi biểu lộ …. đặc biệt là sau  lũy tre làng.

            Nhưng tình yêu vốn có sức sống mãnh liệt của nó. Trong điều kiện bị bao vây tứ phía, cô thôn nữ chấp nhận mọi tai tiếng, dị nghị, lên án … lấy cớ băng đồng chỉ sá, đi là xong, để có dịp tiếp xúc … Đây là hình ảnh hiếm có trong xã hội ngày xưa, thời điểm mà chuyện lứa đôi phải thông qua mai mối hoặc chỉ có người con trai chủ động kiếm tìm … Nàng đã làm một bước đột phá, không theo khuôn phép "cha mẹ đặt đâu con ngồi đó" mà tự mình "đôi đàng thân đã" đi gặp người mình yêu với bao điều mong muốn:

            Ước mần răng cho nên đạo vợ chồng

            Một ước muốn trong sáng, bình dị, ở đó nó thể hiện sự thông cảm, tôn trọng giữa người bạn trăm năm trên nền tảng tình yêu, và từ căn bản ấy nàng phát tiết tất cả lòng yêu thương săn sóc: Đổ mồ hôi ra em quạt, lại ngọn gió lồng em che !

            Không biết người đàn bà Nhật cung phụng chồng như thế nào để được thiên hạ xếp hàng đầu ở vị trí làm vợ. Chứ xem cái cung cách của người phụ nữ Quảng Trị chăm sóc chồng như thế thật là tuyệt vời, chưa kể ngày ba bữa nấu cho chồng những món ăn thanh tao bổ dưỡng: Cháo le le, canh bông lý, chè hạt sen…

            Có lẽ do tiềm ẩn những đức tính đặc trưng ấy mà đã có những chàng trai ngoài tính đến đây để tìm người kết tóc se tơ, ngay từ thuở xa xưa một Nguyễn Phúc Luân đã gặp nàng Nguyễn thị Hoan bên giòng Bến Hải để sản sinh ra vị vua đầu tiên của nhà Nguyễn có công thống nhất Sơn Hà và từ đó đến nay trong bối cảnh như thế những phụ nữ Quảng Trị lấy chồng bên ngoài đã cống hiến cho đất nước biết bao nhân tài … những duyên nợ ấy hình thành trong nhiều trường hợp khởi đầu xuất phát từ trái tim của người phụ nữ.

                                                                              Lê Văn Trạch
letrach@yahoo.com
READ MORE - Lê Văn Trạch - BĂNG ĐỒNG, CHỈ SÁ...

Nguyễn Thị Liên Hưng – MỜI BẠN VỀ THĂM MIỀN DÂN CA MỘT THUỞ

Tranh của Hà Huỳnh Mỹ



Nguyn Th Liên Hưng 
MỜI BẠN VỀ THĂM MIỀN DÂN CA MỘT THUỞ


            Càng ngày con người càng lệ  thuộc vào máy móc, sống bằng máy móc, làm việc bằng máy móc và cả giải trí cũng bằng máy móc. Thời đại nầy khó mà kiếm những cánh thư hồng vượt qua bao chặng đường dài để đến tay người thương, trong nỗi mong ngóng đợi chờ. Khi cánh thư xa đến, nàng (hay chàng) ấp lá thư lên con tim mà thương mà nhớ. Bây giờ lớp trẻ (và cả người già) muốn liên lạc với nhau đều qua alô hay mail, chat, messenger…có thể lên mạng vừa nhìn mặt nhau vừa nói chuyện và …cụng ly qua màn ảnh(!). Phải chăng vì thế mà tình cảm con người cũng ngày một máy móc hoá. Có lần tôi gởi một album ảnh cho người thân qua email, người ấy bảo thấy hình ảnh rất sống động bèn đưa tay…sờ, nhưng giật mình tỉnh mộng vì đụng phải màn LCD lạnh ngắt. Người ấy có thể in ra nếu muốn, nhưng việc làm đó sẽ mất đi lắm ý nghĩa… Sau khi nghe lời than ấy tôi đã sửa sai bằng cách đem in rồi gởi vài tấm ảnh kèm lời đề tặng phía sau qua đường bưu điện. Như thế thì người thân của tôi ngay khi mở thư là có thể…sờ, có thể bỏ trong ví mang theo để dòm bất cứ lúc nào và khi nỗi giận có thể đem…ngâm nước cho đỡ tức. Chứ chỉ nhìn trong màn hình thì lỡ khi tức lên đấm vỡ…computer thì sao?

            Vì lệ thuộc máy móc như thế nên những sản phẩm vô hình do tâm hồn tạo ra một thời đang bị mai một, coi chừng sẽ có ngày không hô mà biến khỏi tư duy của loài người. Để bảo tồn chút văn hoá dân tộc đó, một số người có tâm huyết đang ra sức sưu tầm để lưu các bộ môn nghệ thuật xa xưa, nhằm truyền lại cho con cháu đời sau biết cha ông ta đã từng…giải trí như thế nào? Trong đó có thầy trò của Nguyễn Hoàng Quảng Trị quê hương ta. Chiều thứ bảy vừa rồi, ngày nghĩ rảnh rỗi tôi ngồi mở mail và “lượm” được hai bài viết về đề tài nầy của Trachle sư huynh ở tận bên kia bờ đại dương. Bài viết nói về những câu hò của người dân quê Quảng Trị ngày xưa, càng đọc tôi lại càng thấy thú vị. Sực nhớ mạ tôi đang nằm choèo queo một mình buồn bã, tôi bèn hớn hở ôm laptop vào phòng đọc cho mạ nghe như một món quà. Ồ không! Không phải là món quà bình thường, mà là tha hương ngộ cố tri. Càng nghe đọc mặt mạ tôi càng tươi lên, khi tôi đậy nắp máy lại mạ ngơ ngẫn hỏi hết rồi hả con? Rồi bỗng dưng bà cất tiếng hò, hò say sưa hết bài này qua bài khác. Tôi thấy thương mạ vô cùng, tuổi già phải rời quê theo con, vào đây kẻ lạ người dưng, nơi tôi ở lại không có người già. Con cháu từ sáng sớm đã ra khỏi cửa, mạ ở nhà lủi thủi một mình cứ như là tù giam lõng, chỉ biết làm bạn với cái tivi suốt ngày chiếu phim Hàn Quôc, từ yêu đến yêu làm bà chả thèm coi. Hiếm khi mạ tôi vui như hôm nay. Thấy thế tôi hỏi mạ còn thuộc nhiều bài hò thế sao? Bà hớn hở trả lời nhiều lắm, rồi kể cho tôi nghe bao nhiêu là ký ức về các thể loại hò thuở ấy.

            Thuở đó, có những người chuyên sống bằng nghề hò. Hình như họ được trời phú cho môi mép (nói theo ngôn ngữ mạ tôi và của thời đó), ngoài chất giọng thiên phú ra họ chẳng hề được học hành gì, một chữ nhất bẻ đôi cũng không biết mà cứ mở miệng là thơ lục bát cứ vanh vách...với những vần, những điệu lại kèm điển tích này nọ thông thạo không thua gì các ông đồ. Họ thường ngồi ở chổ đông người qua lại như chợ, bến đò…ai đến yêu cầu đề tài gì là họ sẵn sàng…chiều theo. Ví dụ như thấy khách quấn khăn tang còn mới là họ hò cho khóc ròng luôn. Mạ tôi kể hồi đó ở chợ tỉnh có một o tên Chỏn người thì bé tí mà hò rất nỗi tiếng. Có lần mạ tôi được nghe o Chỏn hò diễn cảnh Châu Long tiễn Lưu Bình đi thi, với chất giọng ai oán khiến ai nấy ngậm ngùi. Có người thút thít khóc… Mắt mạ xa xôi,  như vẫn còn nghe mấy chữ Lưu Bình chàng ơi…đứt ruột ấy. Có lần một ông khách nọ tai quái, đến thách o Chỏn rằng tui chỉ ra đề một chữ, nếu o hò được thì muốn gì tui cũng chiều, còn nếu hò không được thì bỏ nghề đi nhé. Không cần nghĩ ngợi, o Chỏn OK liền, văn tự không có chữ ký nhưng đã có bà con đi chợ vây kín lớp trong lớp ngoài. Ông khách ba trợn liền đưa tay chỉ vào của quý  mình rồi bảo hò đi. Đám đông đang ồn ào chợt lặng đi thầm nghĩ chuyến nầy o Chỏn chắc phải bỏ nghề rồi. Có người liếc xéo ông khách chửi thầm cái đồ trơ tráo, dơ dáng dị hình, cái đồ vô liêm sĩ… Không ngờ chỉ qua một thoáng đỏ mặt, o Chỏn trở lại bình tĩnh rồi cất tiếng thánh thót: Hơ…ơ hơ….chứ mưa dập gió cũng dập mà mưa dồn gió cũng dồn. Chứ bác có…của bác thì tui cũng có…của tui đây. Hơ…hò… Đám đông cười muốn vỡ bụng còn ông khách ba trợn tái mặt và …trở thành phỗng đá. Thế là văn tự không chữ ký được thi hành. Người thắng cuộc không làm khó khách cũng chẳng đòi chi xa xôi, chỉ yêu cầu cái gì…không dính trên người bác thì để lại cho tui rồi đi. Thật là đáo để! Bà con được một phen cười nôn ruột khi thấy người thua cuộc phải thi hành ngay luật chơi, đưa hai tay bụm của quý lủi nhanh ra cánh đồng vắng để tìm đường về nhà. Đúng là bụng làm dạ chịu chớ phàn nàn trách ai, thấp cơ thua trí đàn bà đến là nhục! Nghe đâu là từ đó ông ta không dám chường mặt ra chợ tỉnh nữa.

            Mạ tôi lại kể, ngày xưa nhà ông nội tôi thuộc loại điền chủ của một vùng lúa Quảng Trị, khi mùa màng xong thường tổ chức giải trí cho thợ gặt. Bà con lối xóm tập trung lại. Những đêm hò, những buổi hò có tổ chức như thế gọi là hò trường. Giữa sân gạch rộng thênh thang, đèn huê kỳ được thắp sáng, có để hai cái cối và chày cho các cặp hò. (Cối và chày chỉ là tượng trưng chứ không phải để giã gao). Mỗi cối có hai cặp nam nữ hò đối đáp nhau, cứ cối nào nghĩ ra trước thì gõ chày xuống cối một cái rồi cất tiếng hò – như cái kiểu bấm chuông dành quyền ưu tiên trong các gameshow thời nay. Quanh sân già trẻ trai gái vây kín. Bắt đầu vào cuộc chơi cũng có khai mạc giới thiệu vv… đặc biệt là giới thiệu tám người cầm chày để hò. Họ cũng chỉ là những chú thím, eng ả trong xóm quanh năm cày sâu cuốc bẩm, đổ mồ hôi để đổi lấy bát cơm. Những lúc lao động trên ruộng đồng, họ là các hạt nhân của các nhóm thợ, cùng nhau hò để quên đi cái vất vả trong công việc. Giờ đây họ được mời ngồi cầm chày là một vinh dự. Đám đông tha hồ mà ra đề tài. Họ sẵn sàng hò theo yêu cầu vì nếu hò hay họ còn được thưởng. Trong các đêm hò ấy người ta thường yêu cầu hò hai thể loại, hò ân tình và hò đâm bắt. Lúc mới vào cuộc phần lớn là hò ân tình, những điệu hò trao tình, ly tình, thất tình…và vô số tình ấy dùng các điển tích để ví von, nghe đến não lòng. Khi trời về khuya thì chủ trường lại chuyển hướng đưa ra đề tài hò đâm bắt, thế là không khí vắng lặng của đêm khuya xôn xao hẳn lên.  Những câu hò thông minh, dí dõm, có khi còn hỗn láo - theo cái kiểu đố thanh giảng tục, nói một chữ phải hiểu ngầm hai ba ý - tha hồ tỉ thí. Vì đang ở trường hò nên sẽ chẳng có cảnh gây gỗ mất trật tự. Nếu thấy tình hình căng thẳng thì chủ trường sẽ đưa ra yêu cầu hò điển tích, thế là các cảnh Kim Kiều gặp gỡ hay Phạm Công Cúc Hoa… gì gì đó sẽ theo lời hò, cứ như một màn  “nhạc kịch”, qua những vần thơ biến tấu theo điệu hò da diết. Khi trăng đã xế, đêm hò khép lại, eng ả ra về mang theo câu hò ngọt ngào vào cả giấc mơ.
            Với hai thể loại hò đối đáp được kể, tôi xin ghi lại đây theo lối ngẫu hứng. Mời bà con theo câu hò mà xuôi về miền quê hương Quảng Trị, cái ngày xa xưa ấy nhé.
             Trước hết xin nói đến điệu hò ân tình. Để vào cuộc, đôi khi chủ trường cao hứng cất tiếng chào bà con rất lịch sự:
- Chào bên nam mất lòng bên nữ
Chào người quân tử bỏ dạ thuyền quyên
Thôi thôi cho tôi chào chung một tiếng kẻo chào riêng khó chào.
            Một tràng pháo tay vang lên cứ như là phát pháo lệnh. Cứ như đôi trai gái lần đầu gặp gỡ, bên nam mở lời làm quen trước với lời lẽ hoa mỹ chẳng kém gì truyện cổ phong:
- Gặp nhau đây thiên tri lý ngộ, rày chộ mai không.
Đồng điền nước chảy mênh mông.
Biển hồ ngàn dặm khốn trông ghe thuyền.
            Nữ dịu dàng tiếp lời:
                        - Ngộ tình cờ lại gặp nhau đây
                          Thiên tri lý ngộ ai xây ông trời tròn?
Chàng vừa mở lời liền được nàng…gật gù, được nước chàng liền lấn tới ướm lời:
- Thiên sinh nhơn, hà nhơn vô lộc?
 Địa sinh thảo, hà thảo vô căn?
 Nguyện cùng dưới nước trên trăng
 Ai mà trao duyên gởi nợ anh sẽ đắc bằng như sên
Ồ! Vội quá chàng, hãy nghe bên nữ hò tiếp nì:
                        - Đi mô mà vội mà vàng
                         Mà vương phải gióng mà quàng phải chân.
Đúng là đừng tưởng bở, chàng chưa kịp mở miệng đã nghe tiếp lời dạy:
- Ra đi mẹ có dặn rằng
             Cam chua chớ phụ, ngọt bòng đừng tham.
Bòng: nghĩa là trái bưởi (Dân Quảng Trị chỉ chuộng cam mà coi rẽ bưởi bòng). Thế thì mình là bòng hay cam đây nhỉ? Bên nam lúng túng chưa biết trả lời sao thì bên nữ lên lớp tiếp:
- Sông sâu còn có kẻ dò.
Mần răng lấy thước mà đo dạ chàng?
À ra thế! Thì ra nàng ta chỉ cân nhắc thôi, không sao đâu. Bên nam lấy lại lòng tự tin và thầm nhủ mình cứ thả giọng trầm, nói ngọt lọt đến xương mà:
- Con chim đại bàng bay qua hòn núi bạc.
 Con cá ngư ông về móng nước ngoài khơi
            Gặp nhau đây phân giải một đôi lời
 Kẻo một mai con cá về sông vịnh con chim lại đổi dời non cao.
Phụ nữ đúng là giống ưa ngọt, bị nghe mấy câu êm ru đó nàng ta liền đổi giọng:
                        - Con cá ngư ông nằm ngang sông vịnh
                         Con chim bay ba ngàn dặm hãy còn ngó dọi chơi vơi
                         Căn duyên chi rứa hở trời
                         Chàng nam thiếp bắc biết mấy đời gặp lại nhau?
Để rồi cái ngộ tình cờ ấy đã làm đau lòng kẻ ở người đi:
- Ra về bỏ áo lại đây
 Để khuya em đắp gió Tây lạnh lùng
Ngọn gió Tây ấy sao mà xa xót, đến nỗi:
                        - Thiếp xa chàng bơ ngơ báo ngáo
                        Chàng xa thiếp may áo quên bâu
Cho hay cái giống hữu tình. Ai bảo người dân quê không biết tương tư. Hãy nghe người ta đem cái tương tư ấy vào những công việc bình thường hàng ngày:
- Thiếp xa chàng hái dâu quên giỏ
Chàng xa thiếp bứt cỏ quên liềm
Xuống sông gánh nước đôộc trìm gióng trôi
Bạn thấy không? Đâu cần lầu vắng, đâu cần nguyệt tận, đâu cần đàn kia treo những hững hờ…mới chuyển tải được cái tương tư. Bởi thế mới biết đã là con người thì chữ tình tất phải vương mang.
Và đây là những cuộc tình lỡ, hãy nghe họ khóc:
- Biết rằng thiếp đã có chồng
Cớ sao chàng tặng đôi vòng minh châu?
Ngắm vòng lệ ngọc tuôn sầu
Trách sao chẳng gặp lúc đầu còn son?
Thế đó! Câu trách Cớ sao …ban đầu chỉ là nói để mà nói, bởi vì thiếp ngắm vòng đã khóc như mưa để rồi tiếc nuối trách sao chẳng gặp…nữa cơ. Ai bảo người phụ nữ trong thời đại phong kiến chỉ một phép thưa vâng mà không hề biết nỗi loạn?

Nói thế cũng không có nghĩa là thời đó không có những mối tình đằm thắm, những đôi vợ chồng nghèo thuỷ chung son sắt. Mời bạn nghe những câu hò sau đây sẽ thấy:
- Thương nhau mấy núi cũng trèo,
 Mấy sông cũng lội mấy đèo cũng qua.
- Thương chồng nấu cháo le le
 Nấu canh bông lý, nấu chè hạt sen

Hay:                - Thiếp nhờ chàng khi mưa khi nắng
                         Chàng nhờ thiếp khi miệng đắng cơm hôi.
                         Tay bưng chén thuốc tay đỡ dậy ngồi
                         Nên câu ân nghĩa nói răng rồi với nhau.
Thỉnh thoảng trong những mái tranh quê ấy ít nhiều nổi sóng, khi đó người phụ nữ sẽ buồn rầu hát ru thân phận:
- Chàng ơi phụ thiếp làm chi
Thiếp là cơm nguội để khi đói lòng
Ôi nghe mà não ruột. Và khi mối duyên lâm vào thế cùng nào đó mà người đàn ông phủi tay thì người phụ nữ lại cay đắng thốt:
- Gió đưa cây cải về trời
 Rau răm ở lại chịu lời đắng cay
            Đắng cay nên phải nhả ra
            Cơ chi ngon ngọt anh đà nuốt đi.
            Cá biệt vẫn có những con người cứng rắn, dứt khoát, họ ghét sự lững lơ con cá vàng trong tình cảm:
- Đã thương thì thương cho chắc
             Đã trục trặc thì trục trặc cho luôn
 Chớ đừng như con thỏ nọ đứng đầu truông
            Khi vui nó đùa bóng, khi buồn nó lại giỡn trăng.
Và khi ôi thôi rồi thì họ lại hát câu may mà…
- Hoạ hổ hoạ bì nan chi hoạ cốt
            Tri nhơn tri diện bất tri tâm
 May thôi chút nữa em lầm
Củ khoai lang khô xắt lát mà em tưởng cao ly sâm bên tàu.
           Sâm xứ Cao Ly (Triều Tiên) mà lại ở bên Tàu (Trung Quốc). Những hiểu biết địa lý rất ngây thơ, cho chúng ta thấy họ chẳng học hành chi mấy. Những nhầm lẫn vô tư ấy đến là dễ thương.

Về cái khoản hò đâm bắt thì đúng là chuyện dài nhiều tập không thể nói hết được. Ví dụ câu hò trêu các cô gái lấy chồng già mà ai cũng thuộc:
- Có duyên lấy được chồng già
Ăn xôi để cháy ăn gà để xương
            Rồi có chuyện một chàng trai trẻ ghẹo cô gái như thế nầy:
                        - Tiếng đồn em lấy chồng già
                        Đêm nằm em thấy ớt, cà ra răng?
            Cô gái cũng không vừa, trả treo liền:
- Tre già thì dẽo hơn măng
                        Ớt, cà tra hột hơn thằng ớt non.
            Đúng là bốn chín gặp năm mươi. Thế mới thú vị. Bây giờ tôi xin dẫn chứng một ít câu để giúp bà con thư giãn nhé. Nhớ cười có chừng mục thôi chứ đừng như hai ông lão trong ngũ tuyệt của Kim Dung cười đến die luôn thì tôi mang tội chết.

            Cũng như hò ân tình, bên nam thường là phe gây chiến, mở lời trước. Tuy nhiên cái lối gây chiến của họ dí dõm rất dễ chịu, chỉ để đưa phe nữ vào chuyện thôi, họ chào như thế nầy:
                        - Tới đây không hát thì hò
                        Mô phải con cò ngóng cổ mà nghe
            Vậy mà bên nữ liền xổ cái đanh đá vốn có của mình ra liền:
- Chị đây mô phải kiếp ve  
Kêu mấy tháng hè rồi bị chết khô?
            Chà, gay dữ ha. Các nàng đã xưng chị, rồi nói xỏ ta. Bên nam liền gỡ:
                        - Cảnh bên em chơi mần răng thì anh không biết.
                        Chứ cảnh bên anh chơi thì thượng cầm hạ thú, xướng hát đờn ca.
                        Đêm nằm nệm gấm thêu hoa.
                        Thấy hồ vàng bên bạn muốn qua thả chình.
            Đã khoe khoang rồi còn thả giọng cà rỡn. Các nàng đâu chịu thua:
                        - Cảnh bên mấy em chơi rứa không mấy thú.
                        Chớ cảnh bên mấy chị mai, lan, cúc, trúc, tùng, mộc, chậu sành.
                        Trên thì lưỡng long chầu nguyệt, dưới gốc dành dành cá lia thia.
            Các chị nầy ghê thiệt. Thường khi bị thua, các chàng liền thả cái lợi thế đàn ông của mình ra :
                        - Cá lia thia núp bụi cỏ lia thia
                        Con cá tràu của anh ăn đã quá khuya
                        Thiếp ơi hởi thiếp mở cửa đìa cho cá vô.
            Những tưởng các nàng đỏ mặt rút êm với cái lối nói ởm ờ khủng khiếp ấy. Ai dè:
                        - Cửa đìa đây đầy những phân trâu.        
                        Cá kia có muốn thì cúi đầu mà vô ăn.
            Đến nước nầy thì chủ trường phải ra tay dàn xếp chớ không chừng chày hò không gõ xuống cối mà gõ vào đầu nhau cũng nên.

            Còn một số câu hò đối đáp khác, có khi trên ruộng đồng, có khi trên sân lúa hay bên cối gạo những đêm trăng, có khi lại vương vất  trải dài theo những con thuyền ngang dọc trên sông nước. Xin kể ra đây một ít hầu cùng bà con:
            Ghẹo cô góa:
                        - Hởi o khăn trắng đằng tê
                        Mau cởi khăn áo, theo về cùng anh.
            Nữ trả lời:
                        - Anh mau về làm một con heo quay, một mâm xôi cho ráo.
                        Rồi theo em đem ra phần mộ cáo với chồng xưa.
                        Chồng xưa thác sớm để lại cái duyên thừa cho anh.
            Nam:  
- Em ơi! Đó duyên thừa đây cũng duyên ôi.
                        Có ưng chắc thì lấy chứ heo xôi mô mà đòi.
            Nữ:     
- Tội anh đáng phạt mười voi.
                        Mà voi thì anh không có nỏ đòi mần chi.
            Nam :
                        - Một voi anh cũng chịu một voi
                        Mà voi anh nỏ có, có cái vòi được không?
            Đúng thật là...Cô nàng nói năng dễ thương, dù có đòi phạt nhưng cái phạt rất nhẹ nhàng như thể bắc cầu, vậy mà anh chàng nầy lại cắc cớ. Thế là nàng ta nổi giận, phải cho cái anh chàng lộn xộn nầy biết tay mới được:
                        - Ai về nhắn ông Xạ mau mau
                        Trai anh hùng đang tử vận giữa bàu thuyền quyên.
            Nam không thua:
                        - Em nhắn ông Xạ làng ni hay ông Xạ làng mô?
                        Rõ ràng thầy mẹ thiếp thác đó, răng đổ hô là chàng?
                        Bây chừ thằng con  anh lỡ chết ngay đơ
                        Quê nhà xa ngái muốn cậy chôn nhờ đất em?
            Đúng là vừa hỗn vừa trơ tráo, đến nước nầy thì nàng nổi điên:
                        - Đất em vừa đỏ vừa đen
                        Chôn cha anh mới tốt chứ ai thèm chôn con?
            Và kết thúc cuộc hò giao duyên ba trợn này là đường ai nấy đi, kèm theo những câu chửi thầm.

            Những cuộc hò có kết thúc không đẹp như trên nhiều vô số, tôi xin kể thêm một cuộc tỉ thí mang đậm tính cách chửi cha nữa nhé:
            Lại bên nam ra đòn trước:
- Ơi o mặc áo nối tay
Lại đây anh hỏi ăn mày chợ mô?
            Nữ:     
- Ăn mày ở chợ Đông Ba
                        Xin đầu tôm đuôi cá về nuôi phụ mẫu già thay anh.
            Nam:
                        - Có chưa đầy miệng mo, nỏ có mô mà cho mo đài.
                        Chưa đủ nuôi phụ mẫu bên thiếp tưởng chi tới đường dài bên anh.
            Lần nầy thì bên nữ đành thua. Chuyện hiếm, vì phụ nữ vốn là dòng đáo để nên trị được họ không phải chuyện dễ, họ thua chăng chỉ tại lỡ lời mà thôi.

            Về các câu hò ân tình đôi khi còn dị bản. Ví dụ như nghe tôi đọc câu hò Tai em nghe anh đau đầu chưa khá. Em băng đồng chỉ sá hái lá qua xông…trong Băng đồng chỉ sá của TL sư huynh. Mạ tôi liền bật cười hò luôn dị bản như vầy:                    
- Tai em nghe anh đau đầu chưa khá
Em băng đồng chỉ sá vác đá qua quăng
Bởi vì anh ăn ở lỗi đạo ngãi thiếp chàng
Đổ mồ hôi em múc nước xối, ngọn gió quàng em quạt thêm.
            Tôi nghe hò mà cười nôn cả ruột, có lẽ đó là cái uất ức của người vợ bị chồng phụ bạc, giận quá nên mới trút như thế. Đúng là khi đàn bà nổi giận thì đến thiên lôi cũng phải chào thua.

            Và đây là các câu hò dị bản khác trong điệu giã bạn lâm ly:
                       
- Chàng về chàng đục vô oi.
                        Ơi làng ơi xóm tới coi chàng về!
- Chàng về thì đục cũng về
Đùi cui ở lại mần nghề chi ăn
- Chàng về thiếp một theo mây
Con thơ có khóc lấy cây mà qoào.
- Chàng về nắm áo lôi lui
Chàng về răng đứt với tui mà về
vv……..

            Tôi còn nhớ cái thuở còn đi học lớp một trường làng, cứ giờ sinh hoạt lớp là thầy trò thi nhau hò, hò giọng đò, hò ru em, hò khoan hò hụi vv... Chúng tôi thích nhất là bài hò tếu:
- Gió đưa ôn Đội vô dinh
Mụ Đội thương tình xéc nón chạy theo
Ôn Đội đòi cưới ba heo
Mụ Đội mụ nói cưới một con mèo cụt đuôi.
            Hồi đó còn nhỏ, chúng tôi chưa hiểu hết cái thâm thuý của câu hò, chúng tôi chỉ mắc cười vì cái chuyện đi cưới một con mèo cụt đuôi mà thôi.
            Rồi các câu hò cảnh cáo các ông chồng tham lam như:
- Nhà nghèo lợp lá bồ quân
Anh tham lắm vợ không có quần mà mang.
- Một vợ nằm giường lèo
Hai vợ nằm chèo queo
Ba vợ ra chuồng heo mà nằm.

             Rồi đến buổi tổng kết năm học đó, có phụ huynh học sinh dự đầy hội trường, xen vào lễ phát thưởng là phần phụ diễn văn nghệ cây nhà lá vườn, có cậu học trò cùng lớp với tôi dơ tay tình nguyện lên hò giúp vui. Không biết cậu ta vô tình hay bị ai xúi mà cất giọng hò rằng:
- Hò hơ…Nhà rường mà lợp tranh mây
Thân anh hai vợ …như dây buộc mình.
            Cả hội trường lắng đi một chốc rồi bỗng oà ra cười, cười lăn cười lóc trong khi một người ngồi tái mặt, đó chính là cha của cậu bé. Trời ạ! Cậu là con bà hai.

            Vào khoảng những năm cuối của thập niên 70, phần lớn trai gái của tỉnh Quảng Trị đều được gọi đi làm thuỷ lợi ở đầu nguồn sông Thạch Hãn, gọi là đập Trấm. Đó là cái thời mà câu ca Con kênh ta đào chưa có nước chảy qua, chỉ có nắng mùa hè nóng bỏng. Mồ hôi muối lưng  áo em bạc trắng… nằm ở đầu môi đám thanh niên nam nữ, như nói lên cái cơ cực thời ấy và em gái Vĩnh Phước của tôi là một. Nó kể rằng những ngày đầu xa nhà, cái lán nữ toàn con gái mười tám, đôi mươi chưa chồng, sống trong thiếu thốn và sợ ma. Ngày thì công việc nặng nhọc giữa công trường mưa nắng đầy bụi bặm, bùn đất. Ăn uống thì theo tiêu chí của Nguyễn Công Trứ Người quân tử ăn chẳng cầu no mà ăn khoai sắn cõng cơm chứ không phải ăn cơm độn khoai sắn nên nuốt không trôi, nhất là mấy đứa con gái vừa rời áo học trò như VP. Đêm thì những phương tiện tối thiểu cho giấc ngủ cũng hiếm oi, giữa vùng đất hoang sơ có lắm ma trơi và đom đóm lập loè quanh lán, có đứa đêm ngủ bị bóng đè mê sảng làm cả bọn ngồi dậy ôm nhau run rẩy chờ trời sáng. Lại còn cái nạn bị muỗi và côn trùng thi nhau cắn đốt đấn thành ghẻ. Thế là vừa cực khổ, vừa đói vừa sợ càng tăng nỗi nhớ nhà. Chỉ cần một đứa tấm tức là lôi theo những đứa khác, đôi khi cả lán cùng nhau khóc hu hu. Bên lán con trai thì đỡ hơn vì nam nhi vốn có sức chịu đựng, những lúc đói bụng họ lại xách đàn ra gảy từng tưng cho quên đói, nhưng đừng có quen tay mà từng tưng vài nốt nhạc Trịnh đó nhé! Coi chừng bị mời ngay!Có những đêm bên lán nam thấy lán nữ im lìm tội quá nên kéo nhau qua trước lán bày chuyện hò đối đáp để giúp nhau xua đi cái đói, cái khổ và cả cái sợ. Những cuộc chống đói đó cũng đã kết được mấy đôi trai làng nọ gái làng tê thành chồng thành vợ, nhưng đáng nhớ nhất là những trận hò đâm bắt làm người trong cuộc nhớ mãi. VP kể nhiều lắm nhưng tôi chỉ đơn cử mấy câu hò vui vui, để thấy rằng đến cái thời cận đại mà câu hò đối với người lao động quê ta cũng vẫn đóng một vai trò quan trọng.
            Khi đã dàn quân trước lán nữ, vừa đập muỗi vừa gãi sột soạt, bên nam tằng hắng lên giọng:
-         Hơ hơ…
Đêm ni trời túi thùi thui
Mời o nho nhỏ ra nghe tui hò
Thò tay ngứt một ngọn ngò
Ơi o nho nhỏ ra mà hò với tui
                        Hơ.. hơ…hơ …
Chứ ai về Lam Thuỷ mà coi
                        Con gái Lam Thuỷ,
Con gái Lam Thuỷ…vác roi dọi chồng hơ hơ ơ ơ….
            Tai vừa lắng nghe, mấy o vừa xúm lại hội ý nên chi bên nam vừa dứt câu là họ đáp từ ngay:
- Túi thui răng chộ nhỏ to?
Chắc anh đui mắt nên giọng hò…cũng đen thui.
            Lửa chiến tranh đã được châm ngòi, bên nam tức khí:
- Túi thui nỏ cần biết nhỏ to.
Dù anh có đui mắt thiệt thì cái khoản thập thò cũng khỏi chê.
            Thế đó, cứ tức khí xung thiên là hò lung tung, nhưng bên nữ cũng đáo để không kém:
- Anh là người chánh nhân quân tử
Chứ mô phải đám tiểu nhân trộm đạo rình mò
Cứ cửa trước mà bước chứ răng lại thập thò ở chuồng heo
            Cuộc chiến vẫn tiếp diễn, hò qua đáp lại sao đó mà bên nữ lại giở giọng hỗn láo (mà hình như đó là cái bệnh?):
- Ơi người quân tử thập thò.
Anh về bắt mạ bỏ chuồng gà, bắt cha bỏ chuồng vịt rồi đi hò với em.
            Mà đã là bệnh thì hay lây, thế là bên nam lôi cả dòng họ nhà nàng vào chuồng luôn:
- Chuồng nhà anh rộng thênh thang
Vẫn còn đủ chổ nhốt cả dòng họ bên nàng cho vui.

            Trận chiến đến hồi quyết liệt, nếu còn kéo dài chắc…đổ máu. Mà im lặng rút lui thì nhục. Thế là sau phút hội ý chớp nhoáng, bên nữ đưa ra một chiêu độc:
- Mai chừ hò qua đối lại, tiếng dại lời khôn.
Cho đêm dài khắc khoải, nghe trong dạ bồn chồn chàng ơi!
Sáng trăng quân tử tới chơi…
            Câu hò cao vút, duyên dáng. Bên nam đang vểnh râu lên vì tưởng các nàng đã chịu phép, ai ngờ câu kết thật là quá quắt:
                        - Hơ hơ…sáng trăng mà quân tử tới chơi.
                        Em đấy một trộ anh bơi anh về.

            Câu hò chưa dứt thì đèn trong lán đã tắt phụt, rồi cả lán nữ im re như đang đi vào giấc mộng. Những cọng râu (nếu có) mới giương lên chưa kịp vểnh đã vội cụp xuống. Cha chả, tức ơi là tức, đúng là bọn nữ quái. Bên nam tức tối lồng lộn, hò móc họng tùm lum nhưng dù hò có khản cả cổ thì vẫn cứ là độc…hò. Cả lán nữ ngủ rồi, giấc ngủ thật đẹp của những người thắng cuộc. Cuối cùng đám chiến binh tả tơi áo giáp kéo nhau về,  trắng đêm tức ứ hơi khỏi ngủ luôn.

            Thế đó, những câu hò đối đáp dù ân tình hay đâm bắt, thì vẫn là món ăn tinh thần quý giá của người lao động quê mình một thuở. Tôi đã ghi lại một tí rồi. Bà con ơi! Ai còn nhớ câu nào nữa không? Góp vào một chút nữa đi. Biết đâu những sưu tầm nho nhỏ của chúng ta bây chừ lại có giá trị cho các nhà biên soạn văn học dân gian trong tương lai nhỉ?
                                                                                               
                                                                                                           
                                                   Biên Hoà, 20/10/2007

 Liên Hưng
thienan2507@yahoo.com.vn 


***
888

READ MORE - Nguyễn Thị Liên Hưng – MỜI BẠN VỀ THĂM MIỀN DÂN CA MỘT THUỞ