Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Mang Viên Long. Show all posts
Showing posts with label Mang Viên Long. Show all posts

Thursday, July 23, 2020

TIN BUỒN


READ MORE - TIN BUỒN

Sunday, December 29, 2019

THĂM XUÂN, NÓI CHUYỆN… THƠ! - Tạp bút Mang Viên Long


Nhà văn Mang Viên Long.


THĂM XUÂN, NÓI CHUYỆN… THƠ!

Tạp Bút
Mang Viên Long


Xuân về - Tết đến, tôi được thư thả mấy hôm. Nhưng trong “mấy hôm ở không”  ấy, lại phải “nằm nhà” hết ba hôm, bởi - theo tục lệ - tôi không dám suồng sả đến “xông đất“ nhà ai sớm, bởi biết “cái số” mình không bao giờ được giàu sang vinh hiển - ngại sẽ làm phiền cho gia chủ cả năm chăng?
Ba ngày đầu năm mới – người ta thường chờ đón người có tuổi hạp với gia chủ - chờ đón người quyền quý, hay mong đón người có cái tên đẹp! (như : Hưng / Thịnh / Vượng / Sang / Quý / Mỹ / Phú…). Tên tôi không đẹp-cũng không đến nỗi xấu - nhưng lại vướng số “tam tai / sao hạn xấu”- nên nghĩ phải từ từ sẽ lần luợt đi thăm bằng hữu vì … mùa Xuân ít ra cũng phải qua Nguyên Tiêu!
Tôi cẩn thận ghi tên những vị nên đến thăm để tránh “thiếu sót” như những năm trước. Ưu tiên là tên những ông bạn mà tôi đã “hứa hẹn trong năm” (rằng Tết dù thế nào cũng sẽ đến thăm để được cụng ly !) – người đứng đầu danh sách là ông bạn vong niên, năm nay đã 80 tuổi! Đúng ra, ông là bạn của người anh cả tôi – nhưng khi có dịp xuống phố, ông thường ghé thăm - nên tôi trở thành “bạn nhỏ” của ông!
Nhà ông ở cách thị xã khoảng 15 cây số - vùng ngoại ô yên tĩnh, xanh mát! Khi vừa trông thấy tôi quành xe vào ngõ - ông đã bước ra sân - tuơi cuời: “Năm nay chắc vợ chồng tôi làm ăn khá lắm đây! Rồng đến nhà tôm sớm vậy?“. Sau thủ tục thăm viếng, chúc Tết vợ chồng ông và các con cháu (ông có 7 con - 5 trai / 2 gái – cháu chắt nội ngoại tổng cộng là 20).
Vừa rót đầy ly rượu “Lão Tửu Bàu Đá“ - Ông cười hớn hở: “Mấy cái Tết hứa suông rồi năm nay chú mới đến nhà thăm tôi – vợ chồng tôi rất cảm ơn – để làm quà Xuân cho chú - hôm nay, tôi đọc cho chú nghe một bài thơ…”.
Nghe sẽ được thưởng thức thơ - tôi cầm ly ruợu lên nhấm nháp một chút để có “khí thế” mà nghe: “Anh vẫn thường làm thơ sao?”
Ông giải thích: “Thỉnh thoảng thôi,chú à! Ở quê, buồn – con cháu ở xa, còn lại hai vợ chồng già - tôi cũng “đối cảnh sanh tình” - làm thơ cho vui vậy thôi!”  Ông uống cạn ly rượu – tiếp: “Người xưa có câu: ‘Thơ dĩ ngôn chí – ca dĩ đàm tình’ mà, chú?”
Tôi cảm thấy thú vị - bởi không ngờ, thăm Xuân lại được nghe thơ (và có đủ trà ngon - rượu quý, bánh mứt đầy đủ) - Tôi nhìn ông - cuời: “Vậy anh đọc cho nghe một bài thơ nào đi!“
Ông không đọc vội, mà tâm sự: “Tôi làm thơ thường chỉ để cho mình đọc giải khuây – đôi lúc vui , lại gọi vợ đến nghe . Bà ấy nghe xong, không khen - cũng chẳng chê, mà chỉ tủm tỉm cười thôi, chú à!”
- Cười vậy là khen rồi! Hiếm có người vợ nào “chịu khó” lắng nghe thơ của chồng mà anh! - Tôi tiếp lời ông.
- Đúng đấy! Tôi nhìn thấy trên nụ cười của bà một niềm vui mới, nhiều lúc rất duyên dáng như thuở mới yêu thương nhau nữa!.
- Anh thật diễm phúc…
Ông lại chiêm thêm ruợu vào hai ly – ngẩng lên nhìn tôi:
- Lát nữa, tôi sẽ dưa cho chú xem cả tập thơ tôi đã ghi lại trong mấy chục năm. Có một số bài tôi đã gởi cho con cháu đọc. Một số bạn già đến đọc chơi rồi chép lại để làm kỷ niệm. Nhưng bây giờ, tôi chỉ đọc cho chú nghe bài tứ tuyệt lục bát này nhé?

“Làm Thơ làm thở làm Thơ
Làm Thơ làm thở thì làm cho vui!
Làm Thơ làm thợ, xin lui…
Làm Thơ làm thợ lui cui – nghĩ buồn!”

Tôi nhìn thấy nụ cười của người vợ ông vừa bước lên phòng khách để pha thêm trà. Tôi nghĩ đến ba chữ “Thơ / thở / thợ” được ông lập lại mà cảm thấy được cái “chí”, cái “quan điểm” khi đặt bút làm thơ của ông. Tôi đang suy nghĩ về “phong cách thơ” - thì ông đã bước lại bàn viết, lấy tập vở dày trao cho tôi: “Đây, chú lướt qua xem tôi làm thơ có đọc đuợc không?”
Tôi trân trọng đón tập thơ - giở từng trang vở viết tay – chữ nắn nót, chân phương - đẹp. Tôi đã đọc: “Nhớ bạn hiền phương xa / Thơ tặng vợ / Quà cho cháu nội / Sinh nhật, nghĩ lại đời mình / Chiều quê một mình / Đón trăng Nguyên Tiêu ở hiên nhà / Thương Nhớ Người Xưa” v.v. Chỉ lướt qua mấy bài thơ ấy – tôi đã có cảm nhận: Thơ ông quả là hơi thở, là nhịp đập của trái tim, là xúc cảm chân thành sâu lắng của đời ông! Nó tự nhiên, trong sáng, giản dị mà đầy trải nghiệm sâu sắc! Đọc thơ, tôi hiểu thêm nỗi ưu tư, niềm an ủi, và sự kỳ vọng của ông dành cho vợ con, bằng hữu và quê nhà. Trong thơ ông không có “triết lý ba xu”, càng không có “lý luận ba hoa” để tự khoe. Tôi rất ngạc nhiên - một con người sống lặng lẽ ở miền quê xa đã “gần đất xa trời” mà vẫn còn yêu quý Thơ, đến với từng trang thơ một cách trân trọng và nhiệt tình! Thơ quả là mầu nhiệm biết bao! Tôi chợt liên tưởng đến mấy bài thơ đã đọc được đâu đó chỉ là sự gia công nặn chữ, ráp vần – sáo rổng, cứng đơ, vô nghĩa, lại không có mảy may xúc cảm chân thật nào! Ấy vậy mà nghe nói họ không hề “chịu” thơ ai – ngoài thơ của mình! Ai đó có nói đùa: “Mấy ông nhà thơ kiểu ấy, mỗi ông là một ông trời con mà!”
Liếc nhìn đồng hồ đã hơn 9 giờ rồi mà “chương trình” thăm Xuân buổi sáng của tôi còn đến 5 người bạn nữa – tôi châm một điếu thuốc, uống một tách trà – cười thân tình: “Tôi rất vui được đọc qua tập thơ của anh. Hôm nào có dịp – tôi xin mượn tập thơ, đọc tiếp nhé? Anh đã cho tôi một buổi sáng Xuân thật đầm ấm!”
Ông dưa tay, có ý ngăn chưa cho tôi rút lui. Giọng vui vẻ: “Chú cũng phải đọc cho tôi nghe một bài đi chứ?”
- Tôi cũng muốn lắm, nhưng ngặt nỗi tôi “không biết làm thơ “ anh à! – Tôi cười. Chẳng thà mình nói thật lòng với nhau, anh thông cảm!
- Mấy ông bạn già của tôi thường nói chơi – dạo này, ra khỏi ngỏ - đã gặp… nhà thơ rồi ! Sao chú không… làm thơ cho vui?
Chỉ còn có một con đường để có thể chào từ giả êm thắm là phải đọc “cái gì” đó cho ông để “đáp lại” tấm chân tình của ông đã dành cho mình - tôi nói: “Thơ vui thì được! Anh nghe qua, rồi bỏ nhé?”
-Được rồi! Chú đọc đi…
Tôi chậm rải nhớ lại “bài thơ” không hề viết lên giấy - chỉ ngẩu hứng đọc cho một người bạn văn phương xa nghe chơi khi anh ta ghé thăm cách nay đã hơn hai chục năm rồi:

“Chữ Thơ, chữ thợ một vần…
Làm Thơ, làm thợ - ta mần cả hai!
Làm thợ thì để sinh nhai,
Làm Thơ thì để … lai rai, đỡ buồn!”

Ông dứng dậy vỗ vào vai tôi: “Chú rất giống tôi! “
Hà hà hà…

Mồng 8 Tết Tân Mão
MANG VIÊN LONG

READ MORE - THĂM XUÂN, NÓI CHUYỆN… THƠ! - Tạp bút Mang Viên Long

Sunday, October 13, 2019

THỬ TÌM MẪU SỐ CHUNG CHO THƠ & THẾ NÀO LÀ BÀI THƠ HAY? - Mang Viên Long

Tác giả Mang Viên Long



THỬ TÌM MẪU SỐ CHUNG CHO THƠ 
& THẾ NÀO LÀ BÀI THƠ HAY?
MANG VIÊN LONG


Trên tuần báo Giác Ngộ (số 119 / 01.12.95) tôi có đưa ra vài nhận định – có tính khái quát, để hiểu “Thế Nào Là Một Bài Thơ Hay”. Gần đây, vài bạn thơ trẻ, lại nêu lên một thắc mắc – trước các “trường phái” thơ đang được cổ súy, đang được vận động hoan hô. Vậy Thơ (nói chung) – có gì chung nhất, hay nói nôm na là có “một mẫu số chung” nào không – khi người đọc thưởng ngoạn, đánh giá ?

Theo tôi là có. Thơ – dầu là nhân danh “trường phái nào” đi nữa- đều do “con người” viết ra cho “con người” đọc. (Chứ không có người đọc thì viết ra để làm cái trò gì? ). Nhà thơ khao khát được giải bày, tha thiết được tâm sự, sẻ chia – từ đó, có Thơ. Người đọc mong ước được cảm nhận, học tập, cảm thông (…) – tìm đến với Thơ.

Do hai nhu cầu (viết/ đọc) gắn bó mật thiết keo sơn như vậy – nên Thơ tồn tại trong đời sống. Có mặt bên loài người. Để cùng xây dựng thế giới ngày một hoàn thiện, đem lại sự gần gũi, kết nối, cảm thông và hạnh phúc.

Đặt trên nền tảng bất biến ấy, chúng ta có thể “thử tìm” ra “một mẫu số chung” cho thơ . (cũng chỉ là tiêu biểu/ tượng trưng mà thôi):

Theo nhận định của vài nhà phê bình lý luận văn học – và theo thiển ý của chúng tôi – “mẫu số chung” (hay có thể hiểu là tiêu chuẩn căn bản) của Thơ là:

1. Cảm xúc: Không có tâm trạng thực sự thúc bách, dồn nén – đến nếu không viết ra – thì anh sẽ rất khổ đau, rất cô độc - thì sẽ không có thơ hay. Nhà thơ đã kinh qua. Đã thực chứng thực tại – mới có xúc cảm tràn đầy bật thốt lên lời thơ một cách tự nhiên, hồn nhiên, chân thật. Chính từ mạch nguồn cảm xúc cao độ, thiết tha này – Thơ đến với người đọc nhanh chóng/ dễ dàng/ và được chấp nhận. Thơ mà vắng bóng cảm xúc – tức là “thơ giả” (hay hoa giả /ni lon) . Thơ làm dáng. Thơ thách đố chơi (…)

2. Trí tuệ: Sự hiểu biết (tạm gọi là tri thức / kinh nghiệm) của nhà thơ sẽ có quyết định căn bản cho giá trị của tác phẩm. Trí tuệ được hiểu ở đây, bao gồm rộng rãi cả tri thức và kinh nghiệm sống (tâm hồn nhạy cảm, trong sáng / khát vọng đến với thi ca (…) Một tác phẩm nông cạn, hời hợt, lập lại; sẽ không thể tạo ấn tượng sâu đậm, mạnh mẽ cho người đọc ( và dĩ nhiên tác dụng, tầm ảnh hưởng của nó cũng giới hạn – nếu không muốn nói là vô ích). Và, nếu một tác phẩm thô kệch, dung tục, trần trụi, làm dáng, trống rỗng chữ nghĩa – thì lại càng tệ hại, nguy hiểm hơn.

3. Nhân bản: Yếu tố này – có thể gọp chung ở phần (2) – Trí tuệ - nhưng chúng tôi cảm thấy cần lưu ý thêm, bởi vì – trước “cơn sốt” hăm hở chạy theo các “trào lưu/ trường phái” ngoại lai một cách rùm beng, mê muội – thì điều kiện cho “mẫu số chung” của Thơ – phải nêu lên tính “Nhân văn/ nhân bản” cốt tử này. Thơ viết cho Người. Thơ tồn tại là vì Người. Nên thơ phải “có tính Người” (chữ Người viết hoa/ đầy đủ ý nghĩa thiêng liêng cao đẹp của nó). Mới đây, trong một bài có đề tựa “Nhập Lưu Hậu Hiện Đại Cuối Cùng hay giải (minh/ oan) cho một từ” – Nhà Thơ Inrasara đã tâm sự nhiều điều cần thiết cho bạn đọc – nhưng có điều, sự “Giải / minh oan” cho “một từ” là cần phải xét lại. (Xin đọc Vanchuongviet.org – để hiểu rõ thêm): Nhà thơ đã “Giải/ minh oan” cho “một từ” đã sử dụng trong bài “Chuyện 14 Thằng Hoang” (trong tập thơ “Chuyện 40 năm mới kể / 18 bài thơ Tân hình thức”- NXB Hội Nhà văn 2006): Đó là Chữ “Lồn”. Sau khi giải – minh oan cho từ “lồn” ấy – nhà thơ đã ca ngợi, đã tăng bốc nó – “(…) Người ta đã mân mớ nó, hít hà nó, liếm láp nó mỗi ngày mà cứ sợ nó làm dơ văn chương thanh tao ta – hỏi như thế có công bằng không?”. Và trong phần “Ghi chú” Nhà thơ Inrasara còn thêm : “(…) Hậu Hiện Đại quyết đánh tan mặc cảm đó” (!).

Vậy ra là nhà thơ đòi “công bằng” cho từ “lồn”. Và cổ súy đệ tử “quyết đánh tan” (!). Đòi hỏi sự “công bằng” là một thiêng trách của nhà Thơ (của Thơ) – nhưng đời sống chúng ta – có nhiều sự đòi hỏi sinh tử hơn (từ “lồn”) – sao nhà thơ không thấy lên tiếng giúp cho dân đen họ nhờ? Còn cụm từ “đánh tan mặc cảm” lại càng cho thấy sự trống rỗng, hời hợt, và nóng vội của nhà thơ hơn nữa : Thưa anh, chính nhờ cái “mặc cảm” ấy – mà chúng ta còn là “Con Người” đó anh à ! (Nếu không có “mặc cảm” ấy, sẽ là con gì gì… nhỉ?). Anh hô hào “quyết đánh tan” cái gì kia – thì nghe còn hữu ý, chứ “đánh tan” cái mặc cảm (từ ngữ của anh) – thì sẽ nguy hại không thể lường (…) (sau cái “đánh tan” ấy thì sẽ có vô số từ ngữ thô tục, bẩn thỉu, đen tối, chán chường (…) nhảy vào “Thơ” – thì “Thơ” sẽ là cái gì / cho ai / để làm gì nhỉ ? Và xã hội, đời sống sẽ ra sao? (…) (Tôi không “nhất trí” từ mặc cảm anh dùng – mà gọi là “Sự tự hổ thẹn” – Phật ngữ gọi là đức tính “tàm quý”. Nếu một con người đánh mất đức tính ấy thì sẽ không từ bỏ một việc xấu xa nào mà không làm!)

Xin trở lại cái “Mẫu số chung” đang đề cập : Mẫu số chung (cho một bài thơ) = cảm xúc + Trí tuệ + Nhân bản (ví dụ MS = 100)
Tử số có thể di chuyển từ 1 – 100.
Tử số càng lớn (80/ 90 / 100) thì tác phẩm càng có giá trị.

Đây chỉ là một cách ví dụ - rất tương tương, không có gì là “tuyệt đối” cả! (Vì đời sống có khi nào đạt … tuyệt đối đâu? ). Nhưng với riêng tôi – tôi luôn tôn trọng “công thức” ấy để đánh giá một bài thơ để tìm đọc (…).

Th.6.08

Thế nào là một bài thơ hay?

Cách đây vài năm, người ta có tổ chức một cuộc hội thảo, gồm một số người làm thơ –về đề tài “Thế nào là một bài thơ hay?”- được trích giới thiệu trên một tạp chí văn nghệ xuất bản ở miền Trung. Căn cứ trên những lời phát biểu tượng trưng ấy, chúng tôi chưa thật thỏa mãn được sự tìm hiểu sâu xa của thơ ; vì hầu như tất cả đều vô tình (hay cố ý?) không đề cập tới tự nhân của thơ và môi trường chung quanh nó.

Hôm nay, trong giới hạn một bài “thử định nghĩa”, chúng tôi mong ước tìm hiểu thêm bên cạnh những lời phát biểu ấy, để có một nhận thức chân xác, toàn vẹn hơn “thế nào là một bài thơ hay” – dù biết rằng, đây là một vấn đề khá phức tạp và vô cùng tế nhị.

Chúng ta thử hỏi ngược lại : “Thế nào là một bài thơ dở?”. Ông Dương Quang Hàm đã góp ý: “Tình ý không thể diễn đạt được tự nhiên, lại nhiều khi các nhà thơ gia công gò các câu thơ, đọc lên rất kêu mà không có tình ý gì hay, thành ra thơ chỉ có xác mà không hồn” (“Việt Nam thi văn hợp tuyển” - “văn học Việt Nam” – 1939). Ông Phạm Thượng Chi đã có lần phát biểu trên Nam Phong tạp chí (số 5/1917): “Thơ là tiếng kêu tự nhiên của Tâm, nhưng phần nhiều nhân công nhiều mà vẻ tự nhiên ít, quả là một bức tranh cảnh vật!”. Tác giả “Thi nhân Việt Nam”- Hoài Thanh, Hoài Chân- thì cho rằng: “Cái học khoa cử, những bài hơ kiệt tác ngâm đi giảng lại hoài đã gần thành vô nghĩa. Nó chỉ còn là những cái máy để đúc ra hàng vạn thí sinh, cùng hàng vạn bài thơ dở (…). Cái khát vọng cởi trói cho thi ca chỉ là cái khát vọng rõ những điều kín nhiệm u uất ; cái khát vọng được thành thục. Một nỗi khát vọng khẩn thiết đến đớn đau (…). Cái bắt chước vô ý thức nó đương lưu hành trong làng thơ như một cái họa: họ như những con thiêu thân chỉ nhảy vào lửa để mà chết (…)”. Alexandre Mercerau cũng nhận định: “Thơ dở là thứ tư tưởng không chân thật, đó chỉ là thứ nghệ thuật trang trí vô ích cho nhân loại”. Tóm lại, thơ dở là những bông hoa giả, chỉ để dùng trang trí cho những hình nộm, hay những khán đài…
Như vậy, một bài thơ “hay” thì cụ thể như thế nào?

45
Hai ông Hoài Thanh, Hoài Chân (đồng tác giả “Thi nhân Việt Nam”) đã khẳng định: “… Từ bao đời cho đến bây giờ, từ Homère đến kinh Thi, đến ca dao Việt Nam, thơ hay vẫn là sức đồng cảm mãnh liệt và quảng đại. Nó ra đời giữa vui buồn với loài người và nó sẽ kết bạn với loài người cho đến ngày tận thế (…). Mỗi bài thơ hay là một cánh cửa mở cho tôi đi vào một tâm hồn (…). Đi sâu vào hồn một người, ta sẽ gặp hồn nòi giống, và đi sâu vào hồn nòi giống, ta sẽ gặp hồn chung của loài người”. Nhà phê bình văn học Bê-lô-rút-xi-a –ông Vla-đi-mia Go-nhi-lô-mê-đốp, cũng đã viết: “Cái hay, cái mới trong thơ (văn học nói chung) – điều đầu tiên là tiềm lực mới của con người, sự tìm tòi bóc trần hiện thực: xã hội, đạo đức, tâm lý, trạng thái (…). Sự nghiên cứu thế giới tâm hồn của con người trong những tác phẩm tốt nhất đặc trưng nổi bật lên điểm cao của tiêu chuẩn đạo đức, luân lý và thử thách luân lý (…). Thơ hay là sự thành thục và hoàn hảo về nghệ thuật” (“Tinh thần sáng tạo của sự tìm tòi”). Gần đây, Lâm Thị Mỹ Dạ trong một bài nêu lên “Vài suy nghĩ về quá trình sinh thành của những tứ thơ” (Tạp chí Sông Hương, số 4, 12.1983) đưa ra nhận định: “…để là một nhà thơ (dĩ nhiên là đúng nghĩa- NV) trước hết phải là một con người có khả năng nhìn và nắm bắt những hiện tượng có ý nghĩa của môi trường sống- của thiên nhiên, xã hội, con người, và nói rộng ra là toàn bộ thời đại của anh ta (…), như một con ong phải làm mật từ những bông hoa có thật mà nó đã hút nhụy” (hoa “có thật” mới có mật, ong mới hút nhụy – còn “hoa giả” làm sau hút nhụy?– NV) . Armand Sully – Pruddhomme cũng chỉ rõ: “Ở đời không có chi nên đứng nguyên một chỗ, và nghệ thuật sẽ tê liệt, nếu không đổi mới” . Như vậy, chúng ta có thể ví von một chút: Thơ hay là những cánh hoa hương sắc đậm đà chơn thật, để choàng vào cổ con người, và được đặt vào một nơi trang trọng trong trái tim họ.
Qua sự tìm hiểu xa gần về Thơ, chúng ta có thể kết luận một cách chắc chắn rằng: -Một bài thơ gọi là “dở” hoặc “hay”, tùy thuộc vào một điều kiện tiên quyết là “con người” và một điều kiện phụ thuộc là “ngoại cảnh” hay cuộc sống, xã hội, thời đại v.v…

Con Người - thi sĩ, là người sáng tạo ra những bài thơ – tác phẩm, nên yêu cầu nơi Con Người của anh ta (hay chị ta) là rất quan trọng. Tự thân người sáng tạo sẽ quyết định gần như phần lớn, để có một tác phẩm có giá trị hay không. Con người – chỉ rõ là Trái Tim, trước hết phải chân thật, trong sáng và đắm say thi ca mãnh liệt, tin yêu cuộc sống hết lòng. “Tài sản quý báu nhất là Trái Tim. Trí tuệ và nhan sắc là những tấm khăn choàng” (Alfred de Musset).

(Báo Giác Ngộ số 119 ngày 1-12-1995)
Mang Viên Long

READ MORE - THỬ TÌM MẪU SỐ CHUNG CHO THƠ & THẾ NÀO LÀ BÀI THƠ HAY? - Mang Viên Long

Wednesday, December 21, 2016

CÓ MỘT ĐÁM CƯỚI NHƯ THẾ - Truyện ngắn Mang Viên Long

 


CÓ MỘT ĐÁM CƯỚI NHƯ THẾ

 Truyện Ngắn
 MANG VIÊN LONG

        Ông Mẫn liếc nhìn vẻ mặt buồn buồn của Kiệt – lòng cảm thấy chua xót bỗng nhớ Lành. Đứa con mà nàng đã ấp ủ bao ước mơ  thật đẹp khi biết nó đang tượng hình trong người nàng bây giờ đang buồn khổ vì chuyện vợ con. Chỉ một ước mong nhỏ nhoi là có được vài chỉ vàng để lo việc đám cưới cho thân mình cũng không biết tìm đâu.
-         Ba dành dụm được năm chỉ định sửa lại nhà hết ba rồi còn hai chỉ có đủ không? – Ông dò xét nhìn Kiệt.
-         Còn dì Hiên hứa cho con hai chỉ nữa mà ba? Kiệt quay lại nhìn ông chờ đợi.
-         À – Ông cười vậy là được bốn chỉ…
      Hiên- người vợ kế của ông Mẫn từ nhà sau bước lên giọng vui vẻ:
-         Dì đã tính rồi con à! – Hiên đến ngồi đối diện Kiệt – sính lễ cho ngày đại nạp là hai chiếc nhẫn hai chỉ đôi bông tai một chỉ và sợi dây chuyền một chỉ…
-         Đôi bông tai một chỉ thì cũng coi được chứ dây chuyền một chỉ làm sao em ?  Ông Mẫn thở dài.
-         Tôi sẽ hỏi mượn thêm để lo phần trà rượu bánh trái  đám tiệc nữa – tổng cọng cũng gần bốn năm chục ngàn đồng nữa mà…
Hiên nhìn vào mắt Kiệt :
-         Áo quần giày dép thì con đến hiệu cho thuê mướn họ hai ngày cũng không bao nhiêu tiền đâu – nàng do dự - dì cũng sẽ liệu cho…
       Ông Mẫn đến bên bàn thờ Lành bật quẹt dốt ba cây nhang – chợt nhớ quay lại hỏi Kiệt: “ À này bác Minh mày hứa trả cho bao nhiêu ?“.
-         Bác bảo trừ tiền ăn uống chi phí lặt vặt hai năm rồi bác ấy sẽ trả cho con bốn chỉ nhưng đến ngày cưới mới đưa ra giữa hai họ cho hai đứa làm vốn làm ăn - Kiệt đáp lơ lửng.
-         Hai năm làm thợ mà chỉ trả cho bấy nhiêu thôi sao Kiệt? – Ông Mẫn vừa cắm nhang vào chiếc lư sành vừa liếc nhìn Kiệt lắc đầu.
-         Con nghe bác gái nói vậy thì biết vậy mà? – Kiệt nhếch cười mà bác gái đã nói thì bác trai cũng bó tay!
       Hiên móc trong túi áo ra một tấm giấy nhỏ trao cho ông Mẫn “  Ba mầy thấy còn thiếu sót gì thì ghi thêm vào đây! Chộn rộn rồi đến ngày là quên trước quên sau hết đó! “.
       Ông Mẫn vói tay lấy tờ giấy chăm chú đọc.
-         Em đúng là cô giáo mẫu mực!- Ông liếc nhìn Hiên cười ông trời có mắt đã thương cha con anh mà; nhà này không nhờ có cái đầu và bàn tay của em thì cha con anh “ ở lính cả đời “..
-         Anh vẫn không “ chừa “  cái bản tính “ lính chiến đa tình “ ngày xưa mà! – Hiên vội chạy ra sau nhà khi nghe có mùi khét của trách cá bóng kho tiêu .
      Ông  Mẫn đứng dậy vỗ vào vai Kiêt: “ Con yên tâm đi! Ba và dì sẽ lo cho con chu tất thôi! Còn  gần hai tuần lễ nữa mới đến ngày “ viếng gia bỏ lễ “  bên nhà gái theo lời thầy Cửu dặn mà! “.

            Kiệt thương yêu Duyên trong một dịp rất tình cờ : Đang lui cui sửa chiếc xe bị mất lửa đạp hoài không nổ của ông khách đi xe thồ thì Duyên dắt xe vào tiệm.  
           Duyên vội nói : “ Anh sửa giúp em gấp được không? “
-         Em đi đâu mà gấp dữ vậy?
-         Em phải về tận Gò Bồi trời tối lại sắp mưa rồi…
-         Trời tối anh sẽ đưa em về mà- Kiệt cười được không?
-         Em sợ …” vợ anh “  chận đánh lắm -  Duyên lấy tay che miệng khúc khích cười.
-         Có ai thương anh thợ nghèo này đâu em? – Kiệt vừa thay chiếc vít lửa vào xe vừa nói tỉnh bơ - Ai mà thèm để mắt tới anh…
-         Nghèo giàu mà làm gì anh?
-         Sao lại “ không làm gì “ ? – Kiệt ngước lên nhìn kỹ khuôn mặt Duyên một chút - cười em không nghe ngưởi ta nói “ có tiền mua tiên cũng được “ sao ?
-         Mua “ tiên ở ngoài đường “ chứ làm gì mua được …
Kiệt vừa sửa xong xe cho bác xe thồ dắt xe ra sân – đến bên chiếc xe Dream II của Duyên còn dựng ờ ngoài – nhìn thoáng qua hỏi : “ Xe em bị “ bệnh” gì  ? “
-         Em đạp đến chục lần vẫn không chịu nổ…
Kiệt thử đạp vài cái anh cười : “ Bệnh nhẹ thôi mà! “.
-         Chắc là bị…cảm rồi? – Duyên lại che tay lên miệng cười.
-         Xe em bị ngộp xăng thôi! – Kiệt loay hoay mở bộ lọc xăng.
-         Vậy là đỡ tốn nhiều tiền rồi!
-         Anh sửa giúp em cũng được mà – Kiệt ngẩng lên nhìn Duyên cười thoải mái - em chịu không?
-         Bộ em…khùng sao không chịu? – Duyên ngồi xuống chiếc ghế xếp bên cạnh - sửa xe không lấy tiền sao không chịu mà hỏi? – nàng lại cười thân tình chỉ sợ anh “ không chịu “ thôi!
       Kiệt súc rửa bộ hòa khí lọc xăng – thong thả ráp vào – trong đầu chỉ nghĩ đến câu sẽ trả lời sao để có thể tỏ tình với cô khách hàng lạ lẫm vui tính này. Đã bao năm làm việc cho tiệm sửa xe của bác Minh Kiệt gặp  nhiều cô gái nhưng lần nầy cảm thấy ở cô khách lại rất khác lạ: Cô không tỏ ra xem thường ỷ vào đồng tiến sẽ bỏ ra mà còn ăn nói rất thân thiện chân tình.
      Duyên đang chăm chú nhìn Kiệt cũng với vẻ gần gũi như đã được gặp nhau lâu rồi. Nàng nhận ra trên khuôn mặt đầy đặn phúc hậu của chàng sửa xe có đôi mắt rất đặc biêt nốt ruồi ở trên bờ môi trái dễ thương mỗi khi anh cười.
       Kiệt đứng dậy lau tay – đạp thử. Xe nổ tiếng hơi rền to. Anh đưa que chỉnh lại  mức xăng ga – tiếng nổ êm dần. Xe đã sửa gần xong mà Kiệt chưa tìm ra câu nói nào thật ưng ý để “ gởi gắm “ cho nàng. Anh tắt máy – tiếp tục mở bugi ra lau chùi. Kiệt bổng dừng tay – nhìn sững lên mặt nàng giây lâu : “ Em đẹp mà ăn nói rất dễ thương nết na lắm! “.
-         Anh đừng cho em mừng…hụt đó nhé?.
-         Anh nói thiệt mà!
-         Vậy sao mới biết em mà anh đã nói vậy?
-         Chỉ mới biết em thôi – nhưng anh đã biết…nhớ gặp nhiều cô khách hàng đã đến đây. Họ tuy sang giàu chưng diện vậy mà thua em xa!
      Duyên đưa tay che miệng cười – giọng ngập ngừng :
-         Anh nói thiệt thì em cũng nói thiệt nhé?
-         Em cứ nói đi - Kiệt vặn chiếc bugi vào xe – anh không hề giận đâu!
-         Anh cũng thông minh đẹp trai lắm!
      Lần đầu tiên nghe một cô gái dạn dĩ khen mình Kiệt rất bối rối xúc động. Anh đứng dậy – chỉ đắm đuối nhìn Duyên mà không thể nói được lời nào  nữa …
      Rồi họ thường hẹn gặp nhau. Yêu thương gắn bó.
      Một năm sau…

            Ông Thanh – cha của Duyên nói : “ Con đẹp có học gia đình ta đừng sựng vầy – sao lại chọn yêu thằng sửa xe rồi mai đây ba biết ăn nói làm sao với bà con bạn bè ? “.
           Duyên ngồi ở giường với mẹ - im lặng.
-         Bà nghĩ sao ? Sao bà cũng nín thinh vậy? – Ông Thanh xẳng giọng.
-         Thì còn nghĩ sao nữa? – Bà thở dài con nó đã nói hết tình rồi – ông không nghe thấy sao? Còn tôi?  Tôi đã bao phen nói thẳng với ông rồi – sao còn hỏi lại?
-         Nghe gì?
-         Không cho nó ưng thằng Kiệt nó đi tu hay …
-         Thôi thôi!- Ông Thanh đưa tay ra ngăn – bà còn “ bắc thang” cho nó leo nữa rồi!
-         Ông mau quên - bà liếc nhìn chồng chứ ngày xưa ưng tui ông có hơn thằng Kiệt chút nào?
-         Hồi đó khác bây giờ khác!- Ông lớn tiếng “ con hư tại mẹ “ là đúng rồi!
         Sau lần bất hòa với vợ hôm ấy ông Thanh biết mình không thể can ngăn được vợ - nhất là Duyên nên thường yên lặng giao phó cho bà Thanh quyết định. Nếu không bị thất hứa với vợ chồng lão chủ doanh nghiệp Mười Thịnh thì có lẽ ông không nhiều lần bất hòa nóng tính với vợ con như thế. Trong một bữa nhậu lão Mười Thịnh đã ướm lời hỏi Duyên cho cậu con trai đã bao phen làm cho vợ chồng ông điêu đứng. Giải pháp “ cưới vợ “ cho Tùng là cách còn lại có khả năng cứu vãn cho gia đình ông. Tùng học không nổi lớp 10 chạy điểm mấy lượt cũng không xong đành bỏ ngang la cà lêu lỏng. Hết bi da đến xì phé. Cá độ. Suốt ngày dong ruổi trên chiếc Cami đời mới ăn diện như tài tử xi nê tụ họp nhậu nhẹt ghi sổ nợ làm vợ chồng lão Mười mất ăn mất ngủ. Lão muốn “ cột chân “ Tùng lại bằng cách “ cưới vợ” cho Tùng. Vợ con sẽ cột chặt đôi chân Tùng  hơn là sợi dây xích sắt ông đã có lần xích Tùng vì thua cá độ bóng đá phải thế luôn chiếc xe.  Ông hỏi Tùng : “ Mày chịu ưng con nào tao sẵn sàng cưới cho mà lo làm ăn - chỉ trừ con ông trời là tao không cưới được cho mày thôi! “. Tùng đáp gọn : “ Ba cưới con Duyên cho tui! “. Lão Thịnh cười khà khà : “ Tưởng mày chọn con hoa hậu hoa khôi  – hay con quan nào tao cũng cưới cho mày được - đằng này con gái ông giáo Thanh thì dễ ợt ! Nhưng mầy cũng có cặp mắt tài tình đó. Con nhỏ đẹp hấp dẫn lạ lùng… “.
          Vợ chồng lão Thịnh đang coi ngày giờ tốt để qua làm lễ hỏi không ngờ Kiệt đã chở ông Mẫn đến “ viếng gia “ với cặp trà rượu theo lời dặn của Duyên. Vợ chồng ông Thanh tiếp cha con Mẫn một cách dè dặt – không dám hứa gì mà cũng không dám trả trà rượu lại. Ông Thanh nhìn vợ yên lặng có vẻ đắn đo suy tính – nên không thể mạnh dạn từ chối. Cuộc gặp đầu tiên kết thúc đơn giản nhanh chóng ngoài dự định của Kiệt. Trên đường về Kiệt nói : “ Duyên có dặn riêng con nếu sau một tuần không xảy ra chuyện gì thì con chở ba sang đi lễ hỏi ngay định ngày đại nạp và cưới sau đó vài ngày..”.
          Giọng ông Mẫn có vẻ bất bình :
          - Mày cưới vợ mà làm y như đi đánh giăc vậy Kiệt?
          -  Thì lúc ba cưới má con cũng y như …chạy giặc rồi mà? – Kiệt chợt cười.
          - Thời chiến khác bây giờ khác chớ?
          - Thời nào cũng có…chuyện của thời ấy mà ba?
         Trong một tuần sau ngày nhận lễ vật “ viếng gia “ của ông Mẫn – ông Thanh hai lần gây gổ với bà Thanh và cả Duyên. Lần này ông không thể dấu giếm chuyện đã hứa gả Duyên cho thằng Tùng – con lão Mười Thịnh nữa Ông nói ngay: “ Bà thấy gia đình tài sản của lão Mười Thịnh thế nào? “.
-         Sao ông lại đem chuyện của người ta vào nhà mình? - bà Thanh ngạc nhiên.
-         Có chuyện tôi mới hỏi bà cứ trả lời đi rồi sẽ biết…
-         Lão giàu nổi tiếng cả huyện này ai mà không biết!
-         Không phải cả huyện đâu – có thể cả tỉnh nữa đấy…
-         Thì kệ người ta lão giàu lão hưởng có mắc mớ gì đến mình?
-         Bà chưa biết đâu : Vợ chồng lão muốn hỏi con Duyên cho thằng Tùng đó…
        Chuyện này thì Duyên cũng đã nghe cô Tuyết nói xa gần từ sau bữa nhậu ở quán ăn của cô rồi chỉ có bà Thanh thì chưa hay biết gì. Duyên đôi lần gặp lão Mười Thịnh đến nhà rủ rê ba mình đi nhậu – cùng cặp kè thân tình cũng đoán ra mọi chuyện giữa hai người nhưng vẫn lẳng lặng .
-         Họ có chính thức đến đây với lễ lộc gì đâu mà ông biết?
-         Lão Mười đã nhiều lần nói với tôi…
-         Ở đâu?
-         Ở quán cô Tuyết…
-         Trời chuyện vợ chồng mà mang ra quán nhậu đàm tiếu vậy coi sao được ông?
Không trả lời câu hỏi của vợ - ông Thanh cao giọng:
-         Nhà cửa tài sản ở cái thị trấn thành phố này là chuyện nhỏ. Lão còn có mấy lô đất có nhà chung cư  villa đặc biệt ở Saigon nũa kìa!
Bà Thanh ngồi yên.
Duyên im lặng liếc nhìn mẹ.
-         Bà biết lão có chiếc xe con mấy tỷ không?
-         Đủ rồi!- bà sẵng giọng - con Duyên về nhà lão mới có chỗ ở có cơm ăn hay sao?
-         Nhưng mà nhà cửa sang trọng xe hơi lộng lẫy ăn mặc đẹp đẽ hơn – lại không lo nghĩ gì…Bà không muốn cho con được sung sướng hay sao?
-         Ai nói với ông là “ không lo nghĩ gì ? “-  Ông có chắc là nó sẽ sung sướng hạnh phúc không? – Bà chợt cười – nó có ăn thì một ngày cũng hai ba bữa vài mươi bộ đồ nằm một cái giường nhưng muốn có vậy nó sẽ biến thành…- Bà bỏ lửng câu nói chiếu tia nhìn sắc vào mặt ông Thanh - ông không thấy ông Kỳ bà Phụ gả con gái cho gia đình mấy tay áp phe buôn bán giàu sụ  đó sao?

        Sau ngày nhận lễ hỏi và đại nạp của cha con ông Mẫn ông Thanh vội cỡi xe qua nhà lão Mười Thịnh ngay. Dường như lão Mười cũng đã nghe tin đón ông Thanh với vẻ mặt lầm lì sắt đá.  Chưa đợi cho ông Thanh ngồi vào ghế salon đã to tiếng : “ Ông còn vác mặt sang đây gặp tôi làm gì? “.
-         Tôi có chuyện quan trọng muốn bàn tính với vợ chồng anh chị…
-         Chuyện gì mà quan trong?
-         Chuyện của cháu Tùng và con gái tôi…
-         Lại  định phỉnh phờ lường gạt tôi nữa sao ông?
-         Không phải vậy mà!
Lão Mười gầm gừ xô ghế đứng phắt dậy : “ Mời anh ra khỏi nhà tôi ngay! “. Lão Mười nhìn chằm chằm vào mặt ông Thanh như muốn ăn tươi nuốt sống. Người bình thường khi nổi giận đã khó chịu người giàu có quyền thế như lão Mười lại càng gay gắt hung tợn hơn nhiều. Tiền của sự sang giàu thường biến con người trở nên rất dễ nóng giận cộc cằn. Ông Thanh vẫn ngồi yên nhưng như chao đảo trên chiếc ghế rộng. Ông vịn hai tay lên thành ghế.
        Bà Mười bước ra khỏi phòng riêng đến ngồi vào chiếc ghế đối diện với ông Thanh – cuời nhạt : ‘ Anh có chuyện gì xin cứ nói! “. Ông Thanh chồm người lại gần rầm rì một hơi dài. Bà Mười mỉm cười khẽ gật đầu tỏ vẻ ưng ý..
       Ông Thanh vội đứng dậy bước lại đẩy cánh cửa kính giọng ngập ngừng : “ Xin chị nói lại với anh Mười! Cứ y như vậy nhé? ”
       - Anh yên tâm nơi nào tôi cũng có sẵn nhà mà! Tôi thách bọn nó làm gì được tôi!
       Ngày đám cưới  của Kiệt với Duyên đã đến  như dự tính : Bốn chiếc xe Honda chở họ trai gồm tám người : Vợ chồng ông Mẫn vợ chồng bác Minh vợ chồng người con trai trưởng của bác Minh và Kiệt chở theo một người bạn thân. Bốn chiếc xe chạy vào ngõ nhà Duyên…
       Trước cửa nhà ông Thanh cũng đã dựng chiếc cổng “ Mừng Vu Qui “ – giữa nhà bày một chiếc bàn dài với ly tách bình trà lọ hoa - và hai chiếc bàn tròn đã dọn sẵn ly chén…Ông bà Thanh quần áo chỉnh tề họ nhà gái sắn sàng đón nhà trai nhập gia đúng giờ đại lợi.
        Hai họ ngồi yên vị vào hai dãy ghế người phụ việc rót trà ra tách mời khách. Ông Mẫn cầm lấy điếu thuốc từ tay ông Thanh : “ Cám ơn anh! “.
         -Mời hai họ dùng trà – bà Thanh vui vẻ.
Bác Minh nâng tách trà hớp một ngụm liếc nhìn ông Mẫn – đứng dậy: “ Thưa bà con hai họ! Được sự đồng ý của hai họ hôm nay là ngày lành tháng tốt chúng tôi đến xin  được làm hai lễ cưới và rước dâu như đã được thỏa thuận…”.
      Ông Mẫn gọi Kiệt mang hai cặp trà rượu hai quả bánh hộp trầu cau và hộp nữ trang. Ông bày ra giữa bàn cẩn trọng rót hai ly rượu lẻ : “ Tôi xin anh chị nhận cho lễ cưới…”.
       Hai ly rượu được đại diện hai họ nhận cùng cụng ly – uống cạn.
Theo lời dặn của Duyên với Kiệt cố gắng hoàn thành mọi thủ tục lễ nghi càng sớm càng tốt nên Kiệt kề tai ông Mẫn nhắc lại. Ông Mẫn gật đầu.
       Hai họ đã cạn ly rượu cho lễ cưới – ông Mẫn lại đứng lên thưa xin làm tiếp lễ rước dâu. Ông Thanh lầm lì im lặng. Bà Thanh thay chồng đứng dậy đáp lời ông Mẫn nhận rượu rước dâu. Vui vẻ mời hai họ cạn ly rượu…
       Ông Mẫn xin phép cho hai con làm lễ gia tiên. Ông Thanh giơ tay can ngăn : “ Thôi miễn…”. Bác Minh nhắc lại giờ nhập gia bên nhà trai. Chỉ còn một giờ nữa thôi. Bác nói : “  Rất tiếc chúng ta còn rất ít thời gian nên xin phép nhà gái cho chúng tôi rước dâu đi cho đúng giờ…”.
       Tám chiếc xe Honda lần lượt chạy thẳng ra liên tỉnh lộ. Xe của Kiệt chở Duyên ở hàng thứ tư. Sau xe Kiệt là họ nhà gái. Đoàn xe quành vào con hẻm đến ngõ nhà Kiệt trước giờ dự trù ba mươi phút. Hai họ dựng xe đứng thư giãn ở sân chờ giờ nhập gia. Ông Thanh liếc nhìn căn nhà ngói mới xây lại chưa kịp tô vách ngoài của ông Mẫn nói vào tai vợ : “ Bà thấy chưa? Nhà cửa tuềnh toàng kiểu này thì con Duyên có nước khóc! “. Bà Thanh quay đi hướng nhìn khu vườn  trồng nhiều loại rau   giàn bầu bí sum suê mát mắt với vẻ thích thú.
         Ông Thanh bước đến bên người em họ. Người em gật đầu. Sau đó lật đật đến chỗ  Duyên. Ông Thanh tìm lại đứng bên bác Minh và ông Mẫn đang ở hiên nhà chờ giờ đón khách – nói : “ Cháu nó không hạp tuổi với Kiệt ông thầy có dặn khi đúng giờ chúng ta cứ vào nhà làm lễ trước – cháu nó theo vào sau để tránh đi điềm xấu! “.
         Họ nhà gái đã lần lượt vào ngồi ở hàng ghế bên phải. Họ nhà trai đã ngồi sẵn bên trái vui vẻ tiếp trà thuốc. Hai họ đang trò chuyện mưa nắng mùa màng thoải mái vì lễ rước dâu chỉ đơn giản một tuần rượu rồi sẽ mời vào bàn tiệc đã chuẩn bị sẵn ở hai chiếc bàn tròn nơi góc trái bên cạnh; bỗng tiếng la thét của Kiệt kèm theo tiếng khóc ơi ới của Duyên ngoài ngõ vọng vào cùng lúc tiếng xe máy gầm rú ào ào…
        Người em họ ông Thanh đã chở Duyên trên xe cùng với cô em gái ngồi sau kèm giữ chạy băng ra ngõ vượt lên con lộ lớn. Kiệt chở theo người bạn cố rượt đuổi – người bạn ngồi sau la lớn : “ Bắt nó bà con! Bắt nó…quân ăn cướp! “.
        Xe của người em họ ông Thanh chúi vào một bờ giậu dâm bụt cách chiếc xe con của lão Mười Thịnh đang chờ sẵn vài trăm mét cả ba người cùng ngã lăn xuống đường. Chiếc xe vẫn nổ máy gầm rú như con thú bị thương nặng.  Vài phút sau xe của Kiệt nhào đến. Anh bỏ xe cho bạn chạy đến đỡ Duyên ngồi dậy…
         Sau đó thì hai họ đều cùng có mặt. Lúc này thì người đi đường bà con trong các ngõ xóm kéo ra bu quanh khá đông.
         Ông Thanh gạt đám đông ra đứng ở ngoài một mình trên gò đất cao: “ Tôi tuyên bố đám cưới bất thành! Gia dình nhà gái không công nhận đám cưới này nữa! “.
-         Đi mời chính quyền công an xã đến đây xét xử - tiếng bác Mính gầm lên.
-         Kìa công an đã đến rồi…
               Trưởng công xã và hai du kích mang súng tiến lại.
-         Mời tất cả về trụ sở !- ông quay lại người du kích đang đứng bên cạnh – anh điện gọi thêm để áp tải nếu ai chống lại..
               Đám đông kéo theo hai họ cùng về trụ sở . Kiệt chở Duyên trên xe chạy trước. Người ta phẫn nộ bàn tán huyên náo về vụ “ bắt cóc cô dâu “ của gia đình lão Mười Thịnh vì trước khi chiếc xe con chạy thoát người ta đã nhìn thấy Tùng và một bọn du đảng đậu xe chờ đợi cả giờ ở ngã rẽ lên quốc lộ.
               Tại trụ sở - có mặt đầy đủ đại diện chính quyền ban tư pháp công an – và bà con hai họ -  sau khi lấy lời khai của hai họ nhà trai và gái ông chủ tịch xã nhìn Duyên giây lâu - hỏi  : “  Cô có yêu thương anh Kiệt này không? “.
-         Thưa có! Duyên nói to.
-         Còn cậu Kiệt? Cậu có yêu thương cô Duyên này không?
-         Dạ  thưa có! Nhiều lắm…- Kiệt đứng dậy trả lời.
                      Mọi người đứng bên ngoài theo dõi nghe rõ – cười rộ lên.
                     Ông chủ tịch quay lại nhìn  vợ chồng ông Thanh rồi liếc nhìn ông Mẫn : “ Quý vị đã nghe rõ chưa? “.
                     Ông kết thúc biên bản : “ Tôi thay mặt chính quyền địa phương xác nhận hai cháu Kiệt và Duyên được phép kết hôn theo luật định kể từ giờ phút này… “.

Quê nhà tháng 8 năm 2000
MANG VIÊN LONG


Nguồn: mangvienlong.vnwweblogs.com.


READ MORE - CÓ MỘT ĐÁM CƯỚI NHƯ THẾ - Truyện ngắn Mang Viên Long

Tuesday, January 26, 2016

NGHĨ TRƯỚC THỀM NĂM MỚI - tạp bút Mang Viên Long


Tác giả Mang Viên Long


Mang Viên Long

NGHĨ TRƯỚC THỀM NĂM MỚI

Tạp Bút

            Nhìn bloc lịch mỏng dần - chuẩn bị thay bloc lịch mới, tôi thường bàng hoàng tự hỏi: "Một năm đã qua rồi ư?" Một năm sắp hết rồi! 12 tháng - 365 ngày đã sắp kết thúc niên hạn mà ta sao vẫn cứ ngồi yên lơ ngơ với bao ước vọng ngậm ngùi?
            Thời trẻ, người ta ít chú ý đến thời gian, ngày tháng; nhưng khi đã ở vào cái tuổi mà người xưa gọi là "tri thiên mệnh"  (và “xưa nay hiếm) rồi, thì thời gian lướt qua luôn để lại bao nếp hằn năm tháng khó quên! Quá khứ, tôi "nhìn thấy" thời gian "đi" rất chậm - nhẩn nha, thong dong - một năm sao mà dài đến thế?  Hiện tại, tôi cảm thấy thời gian không "đi" mà "chạy" vùn vụt đến chóng mặt? Sáng mở mắt ra, loay hoay đã xế chiều? Thời gian trôi qua không kịp cho chúng ta "trở tay"!  Lẽ nào thời gian cũng bị lôi kéo vào cuộc sống vội vàng, hối hả của thời đại?
              Khoa học kỹ thuật văn minh đến độ không những đã rút ngắn lại được không gian mà còn "rút ngắn" cả thời gian nữa sao?! Rút ngắn đời sống tâm linh vào những tiện nghi vật chất hằng ngày! Rút ngắn cuộc đời vào các chiếc máy mà chúng ta chỉ biết bấm nút là xong! Cuối cùng, thời gian dành cho thiên nhiên, dành cho "phần hồn" dường như cũng rất ít ỏi hay không còn chỗ nào trong 24 giờ mỗi ngày?
             Tôi luôn dành một khoảng thời gian nào đó trong mỗi ngày chật vật để "nhìn lại mình", nhất là vào những ngày  gần cuối năm, khi tẩn mẩn hạ tấm lịch cũ xuống để treo vào tấm lịch mới trên vách tường... Một năm sắp trôi qua, cuộc đời rút ngắn lại dần. Cuộc đời ngắn hay dài không phải chuyện ta quan tâm, nhưng điều đáng vui mừng là trong lòng ta  vẫn rổng rang nhẹ tênh không hằn một vết đen ân oán nhọc nhằn! Tôi đã luôn nhớ đến câu thơ của Kahlil Gibran ghi đầu tiên trên blogs của mình: "Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy/ Cho tôi thêm ngày nữa để Yêu Thương"! Một ngày đi qua trong đời nếu không "thêm" được "Yêu Thương" thì không bao giờ để hận thù len vào đời sống mình, khuấy nhiễu tâm mình! Nếu chưa "đủ duyên" kết thân với ai, làm điều lành cho ai thì cũng không sinh lòng nghi kỵ, thù oán, hay gieo ác tâm với bất cứ ai trên cõi tạm nầy! Sự thù oán sẽ làm tâm hồn ta khô cằn đi, chết dần đi, và cuộc sống trở thành tù ngục!
             Chỉ trong một tháng 11 của năm 2009 tôi đã đưa tiễn ba người ban văn ra đi. Trước là chị Minh Quân, tiếp là Đặng Ngọc Khoa, sau là Nguyễn Trung Bình! Tháng 11 năm 2012 là nghệ sĩ – nhà thơ Tô Kiều Ngân; rồi đến Nhạc sĩ  bác sĩ Trương Thìn (…). Cuộc đời ngẫm lại chỉ ngắn ngủi trong một hơi thở - vậy mà sao còn lắm kẻ bon chen, tranh giành, thù hận?  Nhìn lại bao tháng năm qua- ta đã làm được gì  cho bản thân, cho gia đình, cho bạn bè? Đó là những câu hỏi thiết thân mà mỗi chúng ta nên dành chút ít thời gian của ngày bận rộn để "nhìn lại". Tôi cũng hiểu được rằng, tìm một con người toàn hảo trên thế gian này là điều không tưởng! Là Người, ai cũng còn có những sai sót, khuyết điểm cả. Biết "nhìn lại" những lỗi lầm, khiếm khuyết ấy là biết hướng đời mình chuyễn hóa. đi lên! Nếu mãi vội vàng, hấp tấp sống mà quên “nhìn lại" là mất cơ hội đổi thay, mất giây phút sống thiêng liêng mầu nhiệm của đời người, và sau cùng là đánh mất chính bản thân mà mình không hề hay biết! Nhờ “sống lại”, chúng ta có cơ hội làm lớn thêm lòng Từ Bi với mình. Với tất cả!
             Năm mới lại đến, tôi chợt nhớ lời thơ của người bạn vong niên - cư sĩ - thi sĩ Tống Anh Nghi: "Mỗi lần Xuân/ Đời tôi - tôi lại bắt đầu ...". Lại bắt đầu thế nào? Lại bắt đầu những tháng ngày mới cho Yêu Thương, cho Cảm Thông, cho Chia Sẻ và cho niềm Hy Vọng nở hoa...
           Và, trước thềm năm mới, tôi luôn dặn mình hãy bắt đầu năm mới bằng những tình cảm thiêng liêng như thế - để không còn cảm thấy cô độc mà tiến bước...
           Năm Mới đang đến, tôi chân thành gởi đến Quý Bạn đôi điều suy nghĩ thô thiển. Cầu Chúc Tất Cả Luôn Sống Trong Niềm Hỷ Lạc Năm Mới Đang Đến Với Cuộc Đời Mình!
                                                          MVL

READ MORE - NGHĨ TRƯỚC THỀM NĂM MỚI - tạp bút Mang Viên Long

Friday, November 27, 2015

Cuối Năm Nhớ TRỊNH CÔNG SƠN Và Tháng Ngày Lận Đận… -Tạp Bút: Mang Viên Long



Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn


Cuối Năm Nhớ TRỊNH CÔNG SƠN
Và Tháng Ngày Lận Đận…

Tạp Bút
Mang Viên Long


Ở quê, khi nghe tin Trịnh Công Sơn mất tại Saigon vì bệnh tiểu đường vào lúc 12 giờ 45 phút ngày 01 tháng 4 năm 2001 (nhằm ngày mồng 8 tháng 3 Tân Tỵ), tôi không có điều kiện vào Saigon ngay để được tiễn đưa anh lần cuối. Một năm trước, tôi cũng được bạn văn thông báo một ít tin tức về anh, nhất là về tình trạng sức khỏe ngày mỗi suy kém mà anh không giữ được sự điều độ, hay giới hạn trong sinh hoạt thường nhật. Tôi cũng được biết anh bị bệnh gan và thận khá lâu nhưng lại mất vì bệnh tiểu đường.

Không vào Saigon được trong ngày làm lễ tại chùa Vĩnh Nghiêm là một niềm ân hận với tôi nhưng tôi lại nghĩ sẽ viết “đôi điều về anh” để tỏ lòng thương tiếc anh, như thắp một nén tâm hương gởi theo anh cho lòng vơi bớt phần nào sự ân hận, băn khoăn vì nghịch cảnh hiện tại của mình!

Nghĩ là vậy mà không viết được gì! Nhiều nhà nghiên cứu, phê bình, nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ lớn, thân hữu của anh mọi miền (trong và ngoài nước) viết khá nhiều về anh, một thiên tài âm nhạc Việt Nam; nhìn chung, toàn là những bài ngợi ca tài năng anh đã cống hiến cho nền âm nhạc qua hơn 600 ca khúc trong suốt chặng đường sáng tác (hơn 40 năm) khởi đầu từ năm 17 tuổi (1956) với hai ca khúc “Sương Đêm", “Sao Chiều" và “Ướt Mi" (được An Phú XB năm 1959). Trong không khí “vàng son của tài năng Trịnh Công Sơn khi đã thành danh", tôi không thể viết “lùi lại” về chặng đời có thể gọi là “lận đận” của anh như tôi đã từng biết về anh những năm đầu thập niên 60.

Tôi lại tự nghĩ: viết về cái quá khứ gian khó, những tháng ngày lận đận của tài năng TCS cũng là một điều nên làm. Viết về một thiên tài không hẳn chỉ nói đến các thành công, sự vinh quang mà cũng cần biết đến chặng ngày trưởng thành vươn lên trong gian khó của tài năng ấy. Như một kỷ niệm vui, một bài học cần thiết để học hỏi.. Những ngày cuối năm, ngồi buồn lại nhớ đến anh và chặng đời tuổi trẻ của mình, tôi viết những dòng tuởng nhớ này để ghi lại vài kỷ niệm một thời…

Trịnh Công Sơn đến Qui Nhơn học khóa đầu tiên của truờng Quốc Gia Sư Phạm (khoá 1, năm 1961-1963) khi tôi còn học năm cuối của trường Trung học Cường Đễ. Cũng xin nói thêm đôi điều về ngôi trường Sư phạm đặc biệt này: Trường nhận đào tạo giáo sinh cho 14 tình miền Trung và Cao nguyên (Bình Thuận, Ninh Thuận, Khánh Hòa. Phú Yên, Bình Định, Quàng Tín, Quảng Ngãi, Quảng Nam, Thừa Thiên, Quảng Trị, Kom Tum, Pleiku, Daklak, Phú Bổn). Điều kiện văn bằng chỉ cần Tú Tài một, nhưng trên thực tế, hơn 50 phần trăm đã có văn bằng Tú Tài 2. 20 phần trăm đã học qua 1, hay 2 chứng chỉ đại học. Quy định sau khi ra trường sẽ phân bổ phục vụ ở các trưởng tiểu học khu vực 14 tỉnh trong thời gian hai năm tập sự. Sau 2 năm,  qua kỳ thi dành cho những người có Tú tài 2, giáo viên trúng tuyển sẽ được nâng bậc “giáo sư trung học đệ nhất cấp”. Khi hoàn tất đủ các chứng chỉ đại học, có văn bằng cử nhân, sẽ được nâng bậc tiếp theo “giáo sư trung học đệ nhị cấp”. Như vậy, người có chí tiến thủ mà có hoàn cảnh khó khăn (nhất là đang bị "kẹt" tuổi quân dịch) có thể vừa đi dạy để có thể tự nuôi sống lại vừa có tiền chi phí cho chuyện học tiếp theo của mình!

Vì quy chế ưu đãi mở rộng cho con đường tiến thân, và nhất là vì có thể giúp sớm giải quyết giai đoạn khó khăn truớc mắt về kinh tế và quân dịch đang là nỗi lo lớn cho tuổi trẻ thời ấy nên trường SP Qui nhơn đã “chiêu tập “ được nhiều giáo sinh xin thi vào. Tuyển chọn được nhiều người tài năng trong dãi đất miền Trung-Cao Nguyên nghèo khó…

Tôi nghĩ TCS tìm đến trường SP Qui Nhơn cũng có thể do 2 nguyên nhân chính ấy, bên cạnh mơ ước của tuổi trẻ là muốn “bay nhảy/ thay đổi không khí” cho cuộc sống thêm phong phú để sáng tác của người nghệ sĩ như anh. Trường SP Qui Nhơn không có khoa “Tâm lí Giáo dục Trẻ em” như trang “Bách Khoa Toàn Thư Mở- Wikipedia" đã viết về TCS. Tâm lí GD chỉ là một môn học của chương trình 2 năm mà thôi.

Sau một niên khóa Sơn theo học ở trường SP / QN (61-62), tên anh đã được hầu hết giới sinh viên, học sinh Qui Nhơn-Bình Định biết đến như “một thần tuợng âm nhạc”. Qua mấy lần nhà trường tổ chức những đêm trình diễn để quyên góp quỹ cứu trợ bão lụt, TCS luôn có mặt (bên tay guitar Thanh Hải, violon Văn Thanh, trống Quang Thùy…) với những bản tình ca “mới rợi “ của anh. Các nữ giáo sinh cùng khóa cũng đã được Sơn tập luyện trình bày nhiều bản nhạc của TCS rất thành công (như các bài Diễm Xưa/ Nhìn Những Mùa Thu Đi/ Nắng Thủy Tinh/ Hạ Trắng…)

Tôi được quen thân với TCS khi anh vào học năm thứ 2 (62-63). Trong cái thị xã nhỏ bé ấy, đi lòng vòng vài con đường là gặp nhau nên chúng tôi thường gặp nhau ở Hiệu sách báo Việt Long hay Đại Chúng (lúc đó nằm trên đường Gia Long/ nay là Trần Hưng Đạo). Thỉnh thoảng gặp anh ở quán cafe Dung (góc đường Phan Bội Châu). TCS rất giản dị, vui tính, và dễ gần. Mái tóc dài bồng bềnh , đôi kính cận dày cộm và tấm áo vest màu đà nhạt của anh lúc ấy là “một hiện tượng lạ” cho học sinh Qui Nhơn chú ý! Một hôm trên đường đi học về nhà trọ, tôi trông thấy anh đang đứng tần ngần, ngơ ngác bên lề đường (ngã ba Võ Tánh và Mãi Xuân Thưởng/ Hiện nay là Lê Hồng Phong- Mai Xuân Thưởng), tay còn giữ guidon xe đạp. Tôi dừng lại chào anh, cười: “Anh đang chờ ai vậy, anh Sơn?" Sơn đáp, giọng bất bình: "Bọn du đảng lấy mất chiếc kính của moi rồi!”. Mất cặp kính cận rồi, TCS làm sao mà thấy đường đi? Anh kể chúng gồm ba bốn tên, chận xe anh lại, đưa tay gỡ cặp kính của anh, cuời: “Cho mượn tạm chiếc kính một chút, nghe bạn?"  Tôi không quen với đám học sinh “cao bồi” ấy, nhưng biết mặt chúng. Hầu hết là vài học sinh lêu lỏng ở các trường tư thục, con nhà giàu và quyền thế. Tôi đón mấy người bạn cùng trường, nhiều người quen với số học sinh “anh chị" ấy, nhờ họ can thiệp vì uy tín chung của học sinh Qui Nhơn, và vì lòng yêu chuộng nhạc TCS. Khoảng một giờ sau, chiếc kính gọng đồi mồi của Sơn đã được hoàn trả! Người đem được kính về, đã cho biết chúng “chọc phá/ cảnh cáo TCS chơi vậy thôi - vì TCS được lòng… yêu quý của nhiều nữ sinh..” ( ! )

Một dịp khác, TCS gặp tôi than thở về chuyện tìm nhà trọ, nhà thuê và ngỏ ý nhờ tôi tìm giúp.Tôi cũng không dấu anh, cho biết tôi cũng từ “miền quê nghèo” An Nhơn lên phố trọ học, cũng rất khổ tâm trong việc tìm nhà trọ vào đầu mỗi niên khóa. Nếu có nhiều tiền, những gia đình nhận nấu cơm tháng cho ăn ở luôn cũng không thiếu, nhưng ngặt nỗi nghèo nên việc tìm nơi ăn ở cũng rất gay. Nhưng tôi hứa, sẽ tìm giúp anh (và 3 người bạn cùng khóa, tất cả hình như đều ở trong ban nhạc của trường SP).

Người bạn cùng lớp rất thân ngồi bên cạnh tôi nhiều năm, có năng khiếu đàn hát, thường đi hát cho các chương trình đài phát thanh, là Truờng Hạnh, nghe tôi kể lại trường hợp tìm nhà trọ của TCS, liền đồng ý sẽ về xin “bố" cho TCS và 3 người bạn của anh đến trọ vì nhà khá rộng. Hôm sau Trường Hạnh vui vẻ báo tin lành. Tôi gặp ngay TCS chiều ấy, thông báo và giới thiệu cùng anh địa chỉ nhà của Hạnh (sau lưng trường Cường Đễ cũ). Thế là TCS và 3 người bạn được “bố" của Hạnh nhiệt tình cho "ở không” 1 phòng tươm tất.

Chưa được 1 tháng, Hạnh báo tin "bố" của anh không chịu cho TCS và bạn ở đó nữa vì “mấy ông nghệ sĩ ấy đi chơi về khuya quá, lại thường say khướt, kêu cửa làm cả nhà mất giấc ngủ!”. Tôi chỉ biết cười vì biết rằng những người già và nghiêm tính như “bố" của Hạnh sẽ khó mà “quen" được sinh hoạt bất thường của những người… nghệ sĩ trẻ!

Một kỷ niệm  có lẽ khó quên nhất với TCS, là vào một buổi sáng đầu xuân năm 63, anh đến nhà trọ tìm tôi rất sớm. Tôi thoáng ngạc nhiên thì anh đã nói: “Cậu đi với moi đến thăm ca sĩ Thanh Thúy nhé?"
- Anh quen à?
- Biết chứ không quen thân lắm!
- Ở đâu?
- Phòng ngủ Thuận An…

Đoàn ca nhạc mà Thanh Thúy tham gia hiện đang lưu diễn tại thị xã Qui Nhơn hai hôm nay tôi biết, nhưng không nghĩ là mình sẽ có dịp đến thăm người “nữ ca sĩ tài danh” đang được hâm mộ đông đảo này. Tôi vui vẻ đi theo TCS…

Khi hỏi thăm người quản lý, biết dược số phòng trọ của Thanh Thúy trên tầng 2, chúng tôi lần mò lên ngay.

Đứng trước cửa phòng dang đóng, TCS gỏ cửa gọi.
Có tiếng Thanh Thúy đáp:
- Ai đó? Xin vui lòng chờ chút, Thúy đang thay đồ…
Khoảng vài phút sau, cửa mở. TCS và tôi được mời vào phòng.
- Tôi là Trịnh Công Sơn, anh tự giới thiệu,  và đưa tay vào túi áo vest lấy ra mấy bản nhạc chép tay nhờ Thanh Thúy hát cho …
Thanh Thúy cầm lấy mấy tờ nhạc, xòe ra xem, tôi thoáng thấy đó là bản nhạc Diễm Xưa, Nhìn Những Mùa Thu Đi và Hạ Trắng..
- Được rồi, anh Sơn để em tập đã nhé?

Sau đó, Thanh Thúy hỏi thăm nhà bưu điện Qui Nhơn, và mời chúng tôi cùng đi bộ đến đó cho nàng gọi về nhà…

Khi đã đưa Thanh Thúy trở lại phòng ngủ Thuận An, tôi và TCS ra về. Tôi thắc mắc: “Sao anh không cho xuất bản những bài hát hay ấy đi mà nhờ Thanh Thúy hát làm gì, cho mệt?". TCS giải thích: “Nhạc không như thơ văn mà cần phải được hát, thu băng, phát thanh nhiều lần trước, nhà xuất bản họ mới “đánh hơi" mà xin xuất bản!"
- "Anh tự xuất bản không được sao?", tôi hồn nhiên hỏi.
- Không được đâu cậu." Anh quay lại nhìn tôi cười hiền. "Thứ nhất là mình không có tiền. Thứ hai, in ra ít ai biết mà mua…"

Vài hôm sau, TCS đem “tặng" tôi 2 bản nhạc “Diễm Xưa” và “Nhìn Những Mùa Thu Đi" do anh chép tay trên trang vở học trò rất đẹp! Tôi đã giữ chúng như một kỷ niệm khó quên trong đời …
Một lần khác, tình cờ gặp anh ở café Dung, chúng tôi có dịp trò chuyện lâu. TCS có nói với tôi: “Cậu theo moi đi! Moi sẽ dạy cậu viết nhạc." Biết anh thành thật, nhưng tôi biết rõ tôi hơn. Tôi cười, hơi ngạc nhiên trước đề nghị đột ngột mà tôi chưa hề nghĩ đến: “Tôi chỉ 'yêu nhạc' thôi, không đủ điều kiện, khả năng để 'theo nhạc' được đâu!”

Tháng 4 năm ấy,TCS ra trường. Anh được phân bổ về tỉnh Lâm Đồng, rồi đưa về dạy ở một trường tiểu học thuộc huyện Bảo Lộc. Xa anh, tôi không có dịp biết thêm về cuộc sống mới của anh ở đó, chỉ biết anh vẫn sáng tác đều, thường lên Đà Lạt tham gia sinh hoạt ca nhạc ở quán café Văn. Về Saigon tham gia ca hát cùng sinh viên tranh đấu ở Vạn Hạnh, trường Luật, Văn Khoa, rồi Khoa học. Nghe nhạc của anh đã được thu băng, xuất bản, trình diễn trong những tụ điểm Saigon, trong giới sinh viên - học sinh, và nhất là được nghe Khánh Ly hát nhạc anh mỗi ngày ở những quán café nơi tôi đang dạy học…

Rồi nghe tin anh bỏ dạy về Saigon. Ra Huế. Đi lang bạt nhiều nơi. Vì tự ý bỏ nhiệm sở, nên giấy “hợp lệ quân dịch" của anh cũng bị hủy bỏ. TCS thường bị quân cảnh “hỏi thăm sức khỏe” bất ngờ trên đường di chuyển. Có một “giai thoại vui” về chuyện này: TCS đang ngồi trên xe đò ra Trung, xe bị chặn lại đột ngột để quân cảnh “kiếm soát giấy tờ”. TCS tỉnh bơ chìa ra tấm thẻ căn cước duy nhất còn lại bên mình cho người quân cảnh xét hỏi. Sau khi đọc thẻ căn cước rất kỹ, dù biết tuổi của anh vẫn còn trong thời hạn phải thi hành quân dịch nhưng người lính quân cảnh đã vui vẻ hỏi: “Anh là Trịnh Công Sơn à?" “Phải!" “Nghe anh đang ở Saigon cơ mà?" “Tôi về thăm quê…” “Vậy anh Sơn đi nhé."

Khoàng cuối năm 69-70, tôi được gặp Ông Cao Huy Thuận vừa được Bộ bổ nhiệm về làm Trưởng Ty GD Phú Yên. Ông cho biết từ Ty GD Lâm Đồng về. Ông là người Huế. Đã biết TCS từ ngày anh về dạy ở Bảo Lộc. Cũng rất biết tài năng âm nhạc của TCS…

Ông Cao Huy Thuận kể lại: “Sơn thường bỏ dạy không có lý do báo trước, hiệu trưởng cứ trình báo vể Ty hoài! Một lần, tôi xuống trường để “xem thử” thực hư thế nào? TCS vắng mặt. Tôi dò hỏi nhà trọ của Sơn, lặng lẽ tìm đến. Sơn đang ở trên gác trọ một mình. Tôi xin phép chủ nhà lên gác khẽ khàng. Tôi thoáng trông thấy Sơn đang mãi mê ôm đàn, ghi ghi chép chép, nơi chiếc bàn nhỏ hướng ra cửa sổ …Tôi lại lặng lẽ xuống gác, lên xe ra về. Tôi đã 'nói nhỏ' với gã hiệu trưởng từ nay không nên trình báo gì về Sơn nữa. Hãy phân công người dạy thay anh các buổi vắng, nhé?"

Tác giả Mang Viên Long
Tôi nghĩ: TCS vào trường Sư Phạm, cũng rất yêu quý nghề dạy học, nhưng ở trong anh, nỗi đam mê âm nhạc lớn hơn gấp bội. Ở đời, cuộc sống không dài, cần có sự chọn lựa, nếu không thì cả đời sẽ không làm gì được cho những mơ ước lớn lao của mình!

Hôm nay, những ngày cuối năm, ngồi một mình bên tách café buổi sớm, đón nghe từng dòng nhạc của anh, tôi càng hiểu và thương anh hơn bao giờ…

Quê nhà, những ngày cuối tháng 12/ 2010.

MANG VIÊN LONG
READ MORE - Cuối Năm Nhớ TRỊNH CÔNG SƠN Và Tháng Ngày Lận Đận… -Tạp Bút: Mang Viên Long