TRANG THUẦN TÚY VĂN HỌC NGHỆ THUẬT CỦA NGƯỜI QUẢNG TRỊ VÀ NGƯỜI YÊU MẾN QUẢNG TRỊ.
Chúc Mừng Năm Mới
Showing posts with label Mang Viên Long. Show all posts
Showing posts with label Mang Viên Long. Show all posts
Thursday, July 23, 2020
Sunday, December 29, 2019
THĂM XUÂN, NÓI CHUYỆN… THƠ! - Tạp bút Mang Viên Long
![]() |
| Nhà văn Mang Viên Long. |
THĂM
XUÂN, NÓI CHUYỆN… THƠ!
Tạp
Bút
Mang
Viên Long
Xuân
về - Tết đến, tôi được thư thả mấy hôm. Nhưng trong “mấy hôm ở không” ấy, lại phải “nằm nhà” hết ba hôm, bởi - theo
tục lệ - tôi không dám suồng sả đến “xông đất“ nhà ai sớm, bởi biết “cái số”
mình không bao giờ được giàu sang vinh hiển - ngại sẽ làm phiền cho gia chủ cả
năm chăng?
Ba
ngày đầu năm mới – người ta thường chờ đón người có tuổi hạp với gia chủ - chờ
đón người quyền quý, hay mong đón người có cái tên đẹp! (như : Hưng / Thịnh /
Vượng / Sang / Quý / Mỹ / Phú…). Tên tôi không đẹp-cũng không đến nỗi xấu -
nhưng lại vướng số “tam tai / sao hạn xấu”- nên nghĩ phải từ từ sẽ lần luợt đi
thăm bằng hữu vì … mùa Xuân ít ra cũng phải qua Nguyên Tiêu!
Tôi
cẩn thận ghi tên những vị nên đến thăm để tránh “thiếu sót” như những năm trước.
Ưu tiên là tên những ông bạn mà tôi đã “hứa hẹn trong năm” (rằng Tết dù thế nào
cũng sẽ đến thăm để được cụng ly !) – người đứng đầu danh sách là ông bạn vong
niên, năm nay đã 80 tuổi! Đúng ra, ông là bạn của người anh cả tôi – nhưng khi
có dịp xuống phố, ông thường ghé thăm - nên tôi trở thành “bạn nhỏ” của ông!
Nhà
ông ở cách thị xã khoảng 15 cây số - vùng ngoại ô yên tĩnh, xanh mát! Khi vừa
trông thấy tôi quành xe vào ngõ - ông đã bước ra sân - tuơi cuời: “Năm nay chắc
vợ chồng tôi làm ăn khá lắm đây! Rồng đến nhà tôm sớm vậy?“. Sau thủ tục thăm
viếng, chúc Tết vợ chồng ông và các con cháu (ông có 7 con - 5 trai / 2 gái –
cháu chắt nội ngoại tổng cộng là 20).
Vừa
rót đầy ly rượu “Lão Tửu Bàu Đá“ - Ông cười hớn hở: “Mấy cái Tết hứa suông rồi
năm nay chú mới đến nhà thăm tôi – vợ chồng tôi rất cảm ơn – để làm quà Xuân
cho chú - hôm nay, tôi đọc cho chú nghe một bài thơ…”.
Nghe
sẽ được thưởng thức thơ - tôi cầm ly ruợu lên nhấm nháp một chút để có “khí thế”
mà nghe: “Anh vẫn thường làm thơ sao?”
Ông
giải thích: “Thỉnh thoảng thôi,chú à! Ở quê, buồn – con cháu ở xa, còn lại hai
vợ chồng già - tôi cũng “đối cảnh sanh tình” - làm thơ cho vui vậy thôi!” Ông uống cạn ly rượu – tiếp: “Người xưa có câu:
‘Thơ dĩ ngôn chí – ca dĩ đàm tình’ mà, chú?”
Tôi
cảm thấy thú vị - bởi không ngờ, thăm Xuân lại được nghe thơ (và có đủ trà ngon
- rượu quý, bánh mứt đầy đủ) - Tôi nhìn ông - cuời: “Vậy anh đọc cho nghe một
bài thơ nào đi!“
Ông
không đọc vội, mà tâm sự: “Tôi làm thơ thường chỉ để cho mình đọc giải khuây –
đôi lúc vui , lại gọi vợ đến nghe . Bà ấy nghe xong, không khen - cũng chẳng
chê, mà chỉ tủm tỉm cười thôi, chú à!”
-
Cười vậy là khen rồi! Hiếm có người vợ nào “chịu khó” lắng nghe thơ của chồng
mà anh! - Tôi tiếp lời ông.
-
Đúng đấy! Tôi nhìn thấy trên nụ cười của bà một niềm vui mới, nhiều lúc rất
duyên dáng như thuở mới yêu thương nhau nữa!.
-
Anh thật diễm phúc…
Ông
lại chiêm thêm ruợu vào hai ly – ngẩng lên nhìn tôi:
-
Lát nữa, tôi sẽ dưa cho chú xem cả tập thơ tôi đã ghi lại trong mấy chục năm.
Có một số bài tôi đã gởi cho con cháu đọc. Một số bạn già đến đọc chơi rồi chép
lại để làm kỷ niệm. Nhưng bây giờ, tôi chỉ đọc cho chú nghe bài tứ tuyệt lục
bát này nhé?
“Làm
Thơ làm thở làm Thơ…
Làm
Thơ làm thở thì làm cho vui!
Làm
Thơ làm thợ, xin lui…
Làm
Thơ làm thợ lui cui – nghĩ buồn!”
Tôi
nhìn thấy nụ cười của người vợ ông vừa bước lên phòng khách để pha thêm trà.
Tôi nghĩ đến ba chữ “Thơ / thở / thợ” được ông lập lại mà cảm thấy được cái
“chí”, cái “quan điểm” khi đặt bút làm thơ của ông. Tôi đang suy nghĩ về “phong
cách thơ” - thì ông đã bước lại bàn viết, lấy tập vở dày trao cho tôi: “Đây,
chú lướt qua xem tôi làm thơ có đọc đuợc không?”
Tôi
trân trọng đón tập thơ - giở từng trang vở viết tay – chữ nắn nót, chân phương
- đẹp. Tôi đã đọc: “Nhớ bạn hiền phương xa / Thơ tặng vợ / Quà cho cháu nội /
Sinh nhật, nghĩ lại đời mình / Chiều quê một mình / Đón trăng Nguyên Tiêu ở
hiên nhà / Thương Nhớ Người Xưa” v.v. Chỉ lướt qua mấy bài thơ ấy – tôi đã có cảm
nhận: Thơ ông quả là hơi thở, là nhịp đập của trái tim, là xúc cảm chân thành
sâu lắng của đời ông! Nó tự nhiên, trong sáng, giản dị mà đầy trải nghiệm sâu sắc!
Đọc thơ, tôi hiểu thêm nỗi ưu tư, niềm an ủi, và sự kỳ vọng của ông dành cho vợ
con, bằng hữu và quê nhà. Trong thơ ông không có “triết lý ba xu”, càng không
có “lý luận ba hoa” để tự khoe. Tôi rất ngạc nhiên - một con người sống lặng lẽ
ở miền quê xa đã “gần đất xa trời” mà vẫn còn yêu quý Thơ, đến với từng trang
thơ một cách trân trọng và nhiệt tình! Thơ quả là mầu nhiệm biết bao! Tôi chợt
liên tưởng đến mấy bài thơ đã đọc được đâu đó chỉ là sự gia công nặn chữ, ráp vần
– sáo rổng, cứng đơ, vô nghĩa, lại không có mảy may xúc cảm chân thật nào! Ấy vậy
mà nghe nói họ không hề “chịu” thơ ai – ngoài thơ của mình! Ai đó có nói đùa: “Mấy
ông nhà thơ kiểu ấy, mỗi ông là một ông trời con mà!”
Liếc
nhìn đồng hồ đã hơn 9 giờ rồi mà “chương trình” thăm Xuân buổi sáng của tôi còn
đến 5 người bạn nữa – tôi châm một điếu thuốc, uống một tách trà – cười thân
tình: “Tôi rất vui được đọc qua tập thơ của anh. Hôm nào có dịp – tôi xin mượn
tập thơ, đọc tiếp nhé? Anh đã cho tôi một buổi sáng Xuân thật đầm ấm!”
Ông
dưa tay, có ý ngăn chưa cho tôi rút lui. Giọng vui vẻ: “Chú cũng phải đọc cho
tôi nghe một bài đi chứ?”
-
Tôi cũng muốn lắm, nhưng ngặt nỗi tôi “không biết làm thơ “ anh à! – Tôi cười.
Chẳng thà mình nói thật lòng với nhau, anh thông cảm!
-
Mấy ông bạn già của tôi thường nói chơi – dạo này, ra khỏi ngỏ - đã gặp… nhà
thơ rồi ! Sao chú không… làm thơ cho vui?
Chỉ
còn có một con đường để có thể chào từ giả êm thắm là phải đọc “cái gì” đó cho
ông để “đáp lại” tấm chân tình của ông đã dành cho mình - tôi nói: “Thơ vui thì
được! Anh nghe qua, rồi bỏ nhé?”
-Được
rồi! Chú đọc đi…
Tôi
chậm rải nhớ lại “bài thơ” không hề viết lên giấy - chỉ ngẩu hứng đọc cho một
người bạn văn phương xa nghe chơi khi anh ta ghé thăm cách nay đã hơn hai chục
năm rồi:
“Chữ
Thơ, chữ thợ một vần…
Làm
Thơ, làm thợ - ta mần cả hai!
Làm
thợ thì để sinh nhai,
Làm
Thơ thì để … lai rai, đỡ buồn!”
Ông
dứng dậy vỗ vào vai tôi: “Chú rất giống tôi! “
Hà
hà hà…
Mồng
8 Tết Tân Mão
MANG
VIÊN LONG
Sunday, October 13, 2019
THỬ TÌM MẪU SỐ CHUNG CHO THƠ & THẾ NÀO LÀ BÀI THƠ HAY? - Mang Viên Long
![]() |
| Tác giả Mang Viên Long |
THỬ TÌM MẪU SỐ CHUNG CHO THƠ
& THẾ NÀO LÀ BÀI THƠ HAY?
MANG VIÊN LONG
Trên tuần báo Giác Ngộ (số 119 /
01.12.95) tôi có đưa ra vài nhận định – có tính khái quát, để hiểu “Thế Nào Là
Một Bài Thơ Hay”. Gần đây, vài bạn thơ trẻ, lại nêu lên một thắc mắc – trước
các “trường phái” thơ đang được cổ súy, đang được vận động hoan hô. Vậy Thơ
(nói chung) – có gì chung nhất, hay nói nôm na là có “một mẫu số chung” nào
không – khi người đọc thưởng ngoạn, đánh giá ?
Theo tôi là có. Thơ – dầu là nhân
danh “trường phái nào” đi nữa- đều do “con người” viết ra cho “con người” đọc.
(Chứ không có người đọc thì viết ra để làm cái trò gì? ). Nhà thơ khao khát được
giải bày, tha thiết được tâm sự, sẻ chia – từ đó, có Thơ. Người đọc mong ước được
cảm nhận, học tập, cảm thông (…) – tìm đến với Thơ.
Do hai nhu cầu (viết/ đọc) gắn bó
mật thiết keo sơn như vậy – nên Thơ tồn tại trong đời sống. Có mặt bên loài người.
Để cùng xây dựng thế giới ngày một hoàn thiện, đem lại sự gần gũi, kết nối, cảm
thông và hạnh phúc.
Đặt trên nền tảng bất biến ấy,
chúng ta có thể “thử tìm” ra “một mẫu số chung” cho thơ . (cũng chỉ là tiêu biểu/
tượng trưng mà thôi):
Theo nhận định của vài nhà phê
bình lý luận văn học – và theo thiển ý của chúng tôi – “mẫu số chung” (hay có
thể hiểu là tiêu chuẩn căn bản) của Thơ là:
1. Cảm xúc: Không có tâm trạng
thực sự thúc bách, dồn nén – đến nếu không viết ra – thì anh sẽ rất khổ đau, rất
cô độc - thì sẽ không có thơ hay. Nhà thơ đã kinh qua. Đã thực chứng thực tại –
mới có xúc cảm tràn đầy bật thốt lên lời thơ một cách tự nhiên, hồn nhiên, chân
thật. Chính từ mạch nguồn cảm xúc cao độ, thiết tha này – Thơ đến với người đọc
nhanh chóng/ dễ dàng/ và được chấp nhận. Thơ mà vắng bóng cảm xúc – tức là “thơ
giả” (hay hoa giả /ni lon) . Thơ làm dáng. Thơ thách đố chơi (…)
2. Trí tuệ: Sự hiểu biết (tạm gọi
là tri thức / kinh nghiệm) của nhà thơ sẽ có quyết định căn bản cho giá trị của
tác phẩm. Trí tuệ được hiểu ở đây, bao gồm rộng rãi cả tri thức và kinh nghiệm
sống (tâm hồn nhạy cảm, trong sáng / khát vọng đến với thi ca (…) Một tác phẩm nông
cạn, hời hợt, lập lại; sẽ không thể tạo ấn tượng sâu đậm, mạnh mẽ cho người đọc
( và dĩ nhiên tác dụng, tầm ảnh hưởng của nó cũng giới hạn – nếu không muốn nói
là vô ích). Và, nếu một tác phẩm thô kệch, dung tục, trần trụi, làm dáng, trống
rỗng chữ nghĩa – thì lại càng tệ hại, nguy hiểm hơn.
3. Nhân bản: Yếu tố này – có thể
gọp chung ở phần (2) – Trí tuệ - nhưng chúng tôi cảm thấy cần lưu ý thêm, bởi
vì – trước “cơn sốt” hăm hở chạy theo các “trào lưu/ trường phái” ngoại lai một
cách rùm beng, mê muội – thì điều kiện cho “mẫu số chung” của Thơ – phải nêu
lên tính “Nhân văn/ nhân bản” cốt tử này. Thơ viết cho Người. Thơ tồn tại là vì
Người. Nên thơ phải “có tính Người” (chữ Người viết hoa/ đầy đủ ý nghĩa thiêng
liêng cao đẹp của nó). Mới đây, trong một bài có đề tựa “Nhập Lưu Hậu Hiện Đại
Cuối Cùng hay giải (minh/ oan) cho một từ” – Nhà Thơ Inrasara đã tâm sự nhiều
điều cần thiết cho bạn đọc – nhưng có điều, sự “Giải / minh oan” cho “một từ”
là cần phải xét lại. (Xin đọc Vanchuongviet.org – để hiểu rõ thêm): Nhà thơ đã
“Giải/ minh oan” cho “một từ” đã sử dụng trong bài “Chuyện 14 Thằng Hoang”
(trong tập thơ “Chuyện 40 năm mới kể / 18 bài thơ Tân hình thức”- NXB Hội Nhà
văn 2006): Đó là Chữ “Lồn”. Sau khi giải – minh oan cho từ “lồn” ấy – nhà thơ
đã ca ngợi, đã tăng bốc nó – “(…) Người ta đã mân mớ nó, hít hà nó, liếm láp nó
mỗi ngày mà cứ sợ nó làm dơ văn chương thanh tao ta – hỏi như thế có công bằng
không?”. Và trong phần “Ghi chú” Nhà thơ Inrasara còn thêm : “(…) Hậu Hiện Đại
quyết đánh tan mặc cảm đó” (!).
Vậy ra là nhà thơ đòi “công bằng”
cho từ “lồn”. Và cổ súy đệ tử “quyết đánh tan” (!). Đòi hỏi sự “công bằng” là một
thiêng trách của nhà Thơ (của Thơ) – nhưng đời sống chúng ta – có nhiều sự đòi
hỏi sinh tử hơn (từ “lồn”) – sao nhà thơ không thấy lên tiếng giúp cho dân đen
họ nhờ? Còn cụm từ “đánh tan mặc cảm” lại càng cho thấy sự trống rỗng, hời hợt,
và nóng vội của nhà thơ hơn nữa : Thưa anh, chính nhờ cái “mặc cảm” ấy – mà
chúng ta còn là “Con Người” đó anh à ! (Nếu không có “mặc cảm” ấy, sẽ là con gì
gì… nhỉ?). Anh hô hào “quyết đánh tan” cái gì kia – thì nghe còn hữu ý, chứ
“đánh tan” cái mặc cảm (từ ngữ của anh) – thì sẽ nguy hại không thể lường (…)
(sau cái “đánh tan” ấy thì sẽ có vô số từ ngữ thô tục, bẩn thỉu, đen tối, chán
chường (…) nhảy vào “Thơ” – thì “Thơ” sẽ là cái gì / cho ai / để làm gì nhỉ ?
Và xã hội, đời sống sẽ ra sao? (…) (Tôi không “nhất trí” từ mặc cảm anh dùng –
mà gọi là “Sự tự hổ thẹn” – Phật ngữ gọi là đức tính “tàm quý”. Nếu một con người
đánh mất đức tính ấy thì sẽ không từ bỏ một việc xấu xa nào mà không làm!)
Xin trở lại cái “Mẫu số chung”
đang đề cập : Mẫu số chung (cho một bài thơ) = cảm xúc + Trí tuệ + Nhân bản (ví
dụ MS = 100)
Tử số có thể di chuyển từ 1 –
100.
Tử số càng lớn (80/ 90 / 100) thì
tác phẩm càng có giá trị.
Đây chỉ là một cách ví dụ - rất
tương tương, không có gì là “tuyệt đối” cả! (Vì đời sống có khi nào đạt … tuyệt
đối đâu? ). Nhưng với riêng tôi – tôi luôn tôn trọng “công thức” ấy để đánh giá
một bài thơ để tìm đọc (…).
Th.6.08
Thế nào là một bài thơ hay?
Cách đây vài năm, người ta có tổ
chức một cuộc hội thảo, gồm một số người làm thơ –về đề tài “Thế nào là một bài
thơ hay?”- được trích giới thiệu trên một tạp chí văn nghệ xuất bản ở miền
Trung. Căn cứ trên những lời phát biểu tượng trưng ấy, chúng tôi chưa thật thỏa
mãn được sự tìm hiểu sâu xa của thơ ; vì hầu như tất cả đều vô tình (hay cố ý?)
không đề cập tới tự nhân của thơ và môi trường chung quanh nó.
Hôm nay, trong giới hạn một bài
“thử định nghĩa”, chúng tôi mong ước tìm hiểu thêm bên cạnh những lời phát biểu
ấy, để có một nhận thức chân xác, toàn vẹn hơn “thế nào là một bài thơ hay” –
dù biết rằng, đây là một vấn đề khá phức tạp và vô cùng tế nhị.
Chúng ta thử hỏi ngược lại : “Thế
nào là một bài thơ dở?”. Ông Dương Quang Hàm đã góp ý: “Tình ý không thể diễn đạt
được tự nhiên, lại nhiều khi các nhà thơ gia công gò các câu thơ, đọc lên rất
kêu mà không có tình ý gì hay, thành ra thơ chỉ có xác mà không hồn” (“Việt Nam
thi văn hợp tuyển” - “văn học Việt Nam” – 1939). Ông Phạm Thượng Chi đã có lần
phát biểu trên Nam Phong tạp chí (số 5/1917): “Thơ là tiếng kêu tự nhiên của
Tâm, nhưng phần nhiều nhân công nhiều mà vẻ tự nhiên ít, quả là một bức tranh cảnh
vật!”. Tác giả “Thi nhân Việt Nam”- Hoài Thanh, Hoài Chân- thì cho rằng: “Cái học
khoa cử, những bài hơ kiệt tác ngâm đi giảng lại hoài đã gần thành vô nghĩa. Nó
chỉ còn là những cái máy để đúc ra hàng vạn thí sinh, cùng hàng vạn bài thơ dở
(…). Cái khát vọng cởi trói cho thi ca chỉ là cái khát vọng rõ những điều kín
nhiệm u uất ; cái khát vọng được thành thục. Một nỗi khát vọng khẩn thiết đến đớn
đau (…). Cái bắt chước vô ý thức nó đương lưu hành trong làng thơ như một cái họa:
họ như những con thiêu thân chỉ nhảy vào lửa để mà chết (…)”. Alexandre
Mercerau cũng nhận định: “Thơ dở là thứ tư tưởng không chân thật, đó chỉ là thứ
nghệ thuật trang trí vô ích cho nhân loại”. Tóm lại, thơ dở là những bông hoa
giả, chỉ để dùng trang trí cho những hình nộm, hay những khán đài…
Như vậy, một bài thơ “hay” thì cụ
thể như thế nào?
45
Hai ông Hoài Thanh, Hoài Chân (đồng
tác giả “Thi nhân Việt Nam”) đã khẳng định: “… Từ bao đời cho đến bây giờ, từ
Homère đến kinh Thi, đến ca dao Việt Nam, thơ hay vẫn là sức đồng cảm mãnh liệt
và quảng đại. Nó ra đời giữa vui buồn với loài người và nó sẽ kết bạn với loài
người cho đến ngày tận thế (…). Mỗi bài thơ hay là một cánh cửa mở cho tôi đi
vào một tâm hồn (…). Đi sâu vào hồn một người, ta sẽ gặp hồn nòi giống, và đi
sâu vào hồn nòi giống, ta sẽ gặp hồn chung của loài người”. Nhà phê bình văn học
Bê-lô-rút-xi-a –ông Vla-đi-mia Go-nhi-lô-mê-đốp, cũng đã viết: “Cái hay, cái mới
trong thơ (văn học nói chung) – điều đầu tiên là tiềm lực mới của con người, sự
tìm tòi bóc trần hiện thực: xã hội, đạo đức, tâm lý, trạng thái (…). Sự nghiên
cứu thế giới tâm hồn của con người trong những tác phẩm tốt nhất đặc trưng nổi
bật lên điểm cao của tiêu chuẩn đạo đức, luân lý và thử thách luân lý (…). Thơ
hay là sự thành thục và hoàn hảo về nghệ thuật” (“Tinh thần sáng tạo của sự tìm
tòi”). Gần đây, Lâm Thị Mỹ Dạ trong một bài nêu lên “Vài suy nghĩ về quá trình
sinh thành của những tứ thơ” (Tạp chí Sông Hương, số 4, 12.1983) đưa ra nhận định:
“…để là một nhà thơ (dĩ nhiên là đúng nghĩa- NV) trước hết phải là một con người
có khả năng nhìn và nắm bắt những hiện tượng có ý nghĩa của môi trường sống- của
thiên nhiên, xã hội, con người, và nói rộng ra là toàn bộ thời đại của anh ta
(…), như một con ong phải làm mật từ những bông hoa có thật mà nó đã hút nhụy”
(hoa “có thật” mới có mật, ong mới hút nhụy – còn “hoa giả” làm sau hút nhụy?–
NV) . Armand Sully – Pruddhomme cũng chỉ rõ: “Ở đời không có chi nên đứng
nguyên một chỗ, và nghệ thuật sẽ tê liệt, nếu không đổi mới” . Như vậy, chúng
ta có thể ví von một chút: Thơ hay là những cánh hoa hương sắc đậm đà chơn thật,
để choàng vào cổ con người, và được đặt vào một nơi trang trọng trong trái tim
họ.
Qua sự tìm hiểu xa gần về Thơ,
chúng ta có thể kết luận một cách chắc chắn rằng: -Một bài thơ gọi là “dở” hoặc
“hay”, tùy thuộc vào một điều kiện tiên quyết là “con người” và một điều kiện
phụ thuộc là “ngoại cảnh” hay cuộc sống, xã hội, thời đại v.v…
Con Người - thi sĩ, là người sáng
tạo ra những bài thơ – tác phẩm, nên yêu cầu nơi Con Người của anh ta (hay chị
ta) là rất quan trọng. Tự thân người sáng tạo sẽ quyết định gần như phần lớn, để
có một tác phẩm có giá trị hay không. Con người – chỉ rõ là Trái Tim, trước hết
phải chân thật, trong sáng và đắm say thi ca mãnh liệt, tin yêu cuộc sống hết
lòng. “Tài sản quý báu nhất là Trái Tim. Trí tuệ và nhan sắc là những tấm khăn
choàng” (Alfred de Musset).
(Báo Giác Ngộ số 119 ngày
1-12-1995)
Mang Viên Long
Wednesday, December 21, 2016
CÓ MỘT ĐÁM CƯỚI NHƯ THẾ - Truyện ngắn Mang Viên Long
CÓ MỘT ĐÁM CƯỚI NHƯ THẾ
Truyện
Ngắn
MANG
VIÊN LONG
Ông
Mẫn liếc nhìn vẻ mặt buồn buồn của Kiệt – lòng
cảm thấy chua xót bỗng nhớ Lành. Đứa con mà nàng đã
ấp ủ bao ước mơ thật đẹp khi biết nó đang
tượng hình trong người nàng bây giờ đang buồn khổ vì
chuyện vợ con. Chỉ một ước mong nhỏ nhoi là có được
vài chỉ vàng để lo việc đám cưới cho thân mình cũng
không biết tìm đâu.
-
Ba dành dụm được năm chỉ định sửa lại nhà hết ba
rồi còn hai chỉ có đủ không? – Ông dò xét nhìn Kiệt.
-
Còn dì Hiên hứa cho con hai chỉ nữa mà ba? Kiệt quay lại
nhìn ông chờ đợi.
-
À – Ông cười vậy là được bốn chỉ…
Hiên- người vợ kế của ông
Mẫn từ nhà sau bước lên giọng vui vẻ:
- Dì
đã tính rồi con à! – Hiên đến ngồi đối diện Kiệt
– sính lễ cho ngày đại nạp là hai chiếc nhẫn hai chỉ
đôi bông tai một chỉ và sợi dây chuyền một chỉ…
-
Đôi bông tai một chỉ thì cũng coi được chứ dây chuyền
một chỉ làm sao em ? Ông Mẫn thở dài.
-
Tôi sẽ hỏi mượn thêm để lo phần trà rượu bánh trái
đám tiệc nữa – tổng cọng cũng gần bốn năm
chục ngàn đồng nữa mà…
Hiên
nhìn vào mắt Kiệt :
-
Áo quần giày dép thì con đến hiệu cho thuê mướn họ
hai ngày cũng không bao nhiêu tiền đâu – nàng do dự - dì
cũng sẽ liệu cho…
Ông Mẫn đến bên bàn thờ
Lành bật quẹt dốt ba cây nhang – chợt nhớ quay lại
hỏi Kiệt: “ À này bác Minh mày hứa trả cho bao nhiêu
?“.
-
Bác bảo trừ tiền ăn uống chi phí lặt vặt hai năm rồi
bác ấy sẽ trả cho con bốn chỉ nhưng đến ngày cưới
mới đưa ra giữa hai họ cho hai đứa làm vốn làm ăn -
Kiệt đáp lơ lửng.
-
Hai năm làm thợ mà chỉ trả cho bấy nhiêu thôi sao Kiệt?
– Ông Mẫn vừa cắm nhang vào chiếc lư sành vừa liếc
nhìn Kiệt lắc đầu.
-
Con nghe bác gái nói vậy thì biết vậy mà? – Kiệt nhếch
cười mà bác gái đã nói thì bác trai cũng bó tay!
Hiên móc trong túi áo ra một
tấm giấy nhỏ trao cho ông Mẫn “ Ba mầy thấy còn
thiếu sót gì thì ghi thêm vào đây! Chộn rộn rồi đến
ngày là quên trước quên sau hết đó! “.
Ông Mẫn vói tay lấy tờ giấy
chăm chú đọc.
-
Em đúng là cô giáo mẫu mực!- Ông liếc nhìn Hiên cười
ông trời có mắt đã thương cha con anh mà; nhà này không
nhờ có cái đầu và bàn tay của em thì cha con anh “
ở lính cả đời “..
-
Anh vẫn không “ chừa “ cái bản tính “
lính chiến đa tình “
ngày xưa mà! – Hiên vội chạy ra sau nhà khi nghe có mùi
khét của trách cá bóng kho tiêu .
Ông Mẫn đứng dậy vỗ
vào vai Kiêt: “ Con yên tâm đi! Ba và dì sẽ lo cho con chu
tất thôi! Còn gần hai tuần lễ nữa mới đến ngày
“ viếng gia bỏ lễ “ bên nhà gái theo lời thầy
Cửu dặn mà! “.
Kiệt
thương yêu Duyên trong một dịp rất tình cờ : Đang lui
cui sửa chiếc xe bị mất lửa đạp hoài không nổ của
ông khách đi xe thồ thì Duyên dắt xe vào tiệm.
Duyên vội nói : “ Anh sửa
giúp em gấp được không? “
-
Em đi đâu mà gấp dữ vậy?
-
Em phải về tận Gò Bồi trời tối lại sắp mưa rồi…
-
Trời tối anh sẽ đưa em về mà- Kiệt cười được
không?
-
Em sợ …” vợ anh “ chận đánh lắm - Duyên
lấy tay che miệng khúc khích cười.
-
Có ai thương anh thợ nghèo này đâu em? – Kiệt vừa thay
chiếc vít lửa vào xe vừa nói tỉnh bơ - Ai mà thèm để
mắt tới anh…
-
Nghèo giàu mà làm gì anh?
-
Sao lại “ không làm gì “ ? – Kiệt ngước lên nhìn kỹ
khuôn mặt Duyên một chút - cười em không nghe ngưởi ta
nói “
có tiền mua tiên cũng được
“ sao ?
-
Mua “ tiên ở ngoài đường “ chứ làm gì mua được …
Kiệt
vừa sửa xong xe cho bác xe thồ dắt xe ra sân – đến bên
chiếc xe Dream II của Duyên còn dựng ờ ngoài – nhìn
thoáng qua hỏi : “ Xe em bị “ bệnh” gì ? “
-
Em đạp đến chục lần vẫn không chịu nổ…
Kiệt
thử đạp vài cái anh cười : “ Bệnh nhẹ thôi mà! “.
-
Chắc là bị…cảm rồi? – Duyên lại che tay lên miệng
cười.
-
Xe em bị ngộp xăng thôi! – Kiệt loay hoay mở bộ lọc
xăng.
-
Vậy là đỡ tốn nhiều tiền rồi!
-
Anh sửa giúp em cũng được mà – Kiệt ngẩng lên nhìn
Duyên cười thoải mái - em chịu không?
-
Bộ em…khùng sao không chịu? – Duyên ngồi xuống chiếc
ghế xếp bên cạnh - sửa xe không lấy tiền sao không
chịu mà hỏi? – nàng lại cười thân tình chỉ sợ anh
“ không chịu “ thôi!
Kiệt súc rửa bộ hòa khí
lọc xăng – thong thả ráp vào – trong đầu chỉ nghĩ
đến câu sẽ trả lời sao để có thể tỏ tình với cô
khách hàng lạ lẫm vui tính này. Đã bao năm làm việc cho
tiệm sửa xe của bác Minh Kiệt gặp nhiều cô gái
nhưng lần nầy cảm thấy ở cô khách lại rất khác lạ:
Cô không tỏ ra xem thường ỷ vào đồng tiến sẽ bỏ ra
mà còn ăn nói rất thân thiện chân tình.
Duyên đang chăm chú nhìn Kiệt
cũng với vẻ gần gũi như đã được gặp nhau lâu rồi.
Nàng nhận ra trên khuôn mặt đầy đặn phúc hậu của
chàng sửa xe có đôi mắt rất đặc biêt nốt ruồi ở
trên bờ môi trái dễ thương mỗi khi anh cười.
Kiệt đứng dậy lau tay –
đạp thử. Xe nổ tiếng hơi rền to. Anh đưa que chỉnh
lại mức xăng ga – tiếng nổ êm dần. Xe đã sửa
gần xong mà Kiệt chưa tìm ra câu nói nào thật ưng ý để
“ gởi gắm “ cho nàng. Anh tắt máy – tiếp tục mở
bugi ra lau chùi. Kiệt bổng dừng tay – nhìn sững lên mặt
nàng giây lâu : “ Em đẹp mà ăn nói rất dễ thương nết
na lắm! “.
-
Anh đừng cho em mừng…hụt đó nhé?.
-
Anh nói thiệt mà!
-
Vậy sao mới biết em mà anh đã nói vậy?
-
Chỉ mới biết em thôi – nhưng anh đã biết…nhớ gặp
nhiều cô khách hàng đã đến đây. Họ tuy sang giàu chưng
diện vậy mà thua em xa!
Duyên đưa tay che miệng cười
– giọng ngập ngừng :
-
Anh nói thiệt thì em cũng nói thiệt nhé?
-
Em cứ nói đi - Kiệt vặn chiếc bugi vào xe – anh không
hề giận đâu!
-
Anh cũng thông minh đẹp trai lắm!
Lần đầu tiên nghe một cô
gái dạn dĩ khen mình Kiệt rất bối rối xúc động. Anh
đứng dậy – chỉ đắm đuối nhìn Duyên mà không thể
nói được lời nào nữa …
Rồi họ thường hẹn gặp
nhau. Yêu thương gắn bó.
Một năm sau…
Ông
Thanh – cha của Duyên nói : “ Con đẹp có học gia đình
ta đừng sựng vầy – sao lại chọn yêu thằng sửa xe
rồi mai đây ba biết ăn nói làm sao với bà con bạn bè ?
“.
Duyên ngồi ở giường với
mẹ - im lặng.
-
Bà nghĩ sao ? Sao bà cũng nín thinh vậy? – Ông Thanh xẳng
giọng.
-
Thì còn nghĩ sao nữa? – Bà thở dài con nó đã nói hết
tình rồi – ông không nghe thấy sao? Còn tôi? Tôi đã
bao phen nói thẳng với ông rồi – sao còn hỏi lại?
-
Nghe gì?
-
Không cho nó ưng thằng Kiệt nó đi tu hay …
-
Thôi thôi!- Ông Thanh đưa tay ra ngăn – bà còn “ bắc
thang” cho nó leo nữa rồi!
-
Ông mau quên - bà liếc nhìn chồng chứ ngày xưa ưng tui
ông có hơn thằng Kiệt chút nào?
-
Hồi đó khác bây giờ khác!- Ông lớn tiếng “
con hư tại mẹ “
là đúng rồi!
Sau lần bất hòa với vợ hôm
ấy ông Thanh biết mình không thể can ngăn được vợ -
nhất là Duyên nên thường yên lặng giao phó cho bà Thanh
quyết định. Nếu không bị thất hứa với vợ chồng
lão chủ doanh nghiệp Mười Thịnh thì có lẽ ông không
nhiều lần bất hòa nóng tính với vợ con như thế. Trong
một bữa nhậu lão Mười Thịnh đã ướm lời hỏi Duyên
cho cậu con trai đã bao phen làm cho vợ chồng ông điêu
đứng. Giải pháp “ cưới vợ “ cho Tùng là cách còn
lại có khả năng cứu vãn cho gia đình ông. Tùng học
không nổi lớp 10 chạy điểm mấy lượt cũng không xong
đành bỏ ngang la cà lêu lỏng. Hết bi da đến xì phé. Cá
độ. Suốt ngày dong ruổi trên chiếc Cami đời mới ăn
diện như tài tử xi nê tụ họp nhậu nhẹt ghi sổ nợ
làm vợ chồng lão Mười mất ăn mất ngủ. Lão muốn “
cột chân “ Tùng lại bằng cách “ cưới vợ” cho
Tùng. Vợ con sẽ cột chặt đôi chân Tùng hơn là
sợi dây xích sắt ông đã có lần xích Tùng vì thua cá
độ bóng đá phải thế luôn chiếc xe. Ông hỏi Tùng
: “ Mày chịu ưng con nào tao sẵn sàng cưới cho mà lo
làm ăn - chỉ trừ con ông trời là tao không cưới được
cho mày thôi! “. Tùng đáp gọn : “ Ba cưới con Duyên
cho tui! “. Lão Thịnh cười khà khà : “ Tưởng mày chọn
con hoa hậu hoa khôi – hay con quan nào tao cũng cưới
cho mày được - đằng này con gái ông giáo Thanh thì dễ
ợt ! Nhưng mầy cũng có cặp mắt tài tình đó. Con nhỏ
đẹp hấp dẫn lạ lùng… “.
Vợ chồng lão Thịnh đang coi
ngày giờ tốt để qua làm lễ hỏi không ngờ Kiệt đã
chở ông Mẫn đến “ viếng gia “ với cặp trà rượu
theo lời dặn của Duyên. Vợ chồng ông Thanh tiếp cha con
Mẫn một cách dè dặt – không dám hứa gì mà cũng không
dám trả trà rượu lại. Ông Thanh nhìn vợ yên lặng có
vẻ đắn đo suy tính – nên không thể mạnh dạn từ
chối. Cuộc gặp đầu tiên kết thúc đơn giản nhanh
chóng ngoài dự định của Kiệt. Trên đường về Kiệt
nói : “ Duyên có dặn riêng con nếu sau một tuần không
xảy ra chuyện gì thì con chở ba sang đi lễ hỏi ngay định
ngày đại nạp và cưới sau đó vài ngày..”.
Giọng ông Mẫn có vẻ bất
bình :
- Mày cưới vợ mà làm y như
đi đánh giăc vậy Kiệt?
- Thì lúc ba cưới má
con cũng y như …chạy giặc rồi mà? – Kiệt chợt cười.
- Thời chiến khác bây giờ
khác chớ?
- Thời nào cũng có…chuyện
của thời ấy mà ba?
Trong một tuần sau ngày nhận
lễ vật “ viếng gia “ của ông Mẫn – ông Thanh hai
lần gây gổ với bà Thanh và cả Duyên. Lần này ông
không thể dấu giếm chuyện đã hứa gả Duyên cho thằng
Tùng – con lão Mười Thịnh nữa Ông nói ngay: “ Bà thấy
gia đình tài sản của lão Mười Thịnh thế nào? “.
-
Sao ông lại đem chuyện của người ta vào nhà mình? - bà
Thanh ngạc nhiên.
-
Có chuyện tôi mới hỏi bà cứ trả lời đi rồi sẽ
biết…
-
Lão giàu nổi tiếng cả huyện này ai mà không biết!
-
Không phải cả huyện đâu – có thể cả tỉnh nữa đấy…
-
Thì kệ người ta lão giàu lão hưởng có mắc mớ gì đến
mình?
-
Bà chưa biết đâu : Vợ chồng lão muốn hỏi con Duyên
cho thằng Tùng đó…
Chuyện này thì Duyên cũng đã
nghe cô Tuyết nói xa gần từ sau bữa nhậu ở quán ăn
của cô rồi chỉ có bà Thanh thì chưa hay biết gì. Duyên
đôi lần gặp lão Mười Thịnh đến nhà rủ rê ba mình
đi nhậu – cùng cặp kè thân tình cũng đoán ra mọi
chuyện giữa hai người nhưng vẫn lẳng lặng .
-
Họ có chính thức đến đây với lễ lộc gì đâu mà
ông biết?
-
Lão Mười đã nhiều lần nói với tôi…
-
Ở đâu?
-
Ở quán cô Tuyết…
-
Trời chuyện vợ chồng mà mang ra quán nhậu đàm tiếu
vậy coi sao được ông?
Không
trả lời câu hỏi của vợ - ông Thanh cao giọng:
-
Nhà cửa tài sản ở cái thị trấn thành phố này là
chuyện nhỏ. Lão còn có mấy lô đất có nhà chung cư
villa đặc biệt ở Saigon nũa kìa!
Bà
Thanh ngồi yên.
Duyên
im lặng liếc nhìn mẹ.
-
Bà biết lão có chiếc xe con mấy tỷ không?
-
Đủ rồi!- bà sẵng giọng - con Duyên về nhà lão mới có
chỗ ở có cơm ăn hay sao?
-
Nhưng mà nhà cửa sang trọng xe hơi lộng lẫy ăn mặc đẹp
đẽ hơn – lại không lo nghĩ gì…Bà không muốn cho con
được sung sướng hay sao?
-
Ai nói với ông là “ không lo nghĩ gì ? “- Ông có
chắc là nó sẽ sung sướng hạnh phúc không? – Bà chợt
cười – nó có ăn thì một ngày cũng hai ba bữa vài mươi
bộ đồ nằm một cái giường nhưng muốn có vậy nó sẽ
biến thành…- Bà bỏ lửng câu nói chiếu tia nhìn sắc
vào mặt ông Thanh - ông không thấy ông Kỳ bà Phụ gả
con gái cho gia đình mấy tay áp phe buôn bán giàu sụ đó
sao?
Sau ngày nhận lễ hỏi và đại
nạp của cha con ông Mẫn ông Thanh vội cỡi xe qua nhà lão
Mười Thịnh ngay. Dường như lão Mười cũng đã nghe tin
đón ông Thanh với vẻ mặt lầm lì sắt đá. Chưa
đợi cho ông Thanh ngồi vào ghế salon đã to tiếng : “
Ông còn vác mặt sang đây gặp tôi làm gì? “.
-
Tôi có chuyện quan trọng muốn bàn tính với vợ chồng
anh chị…
-
Chuyện gì mà quan trong?
-
Chuyện của cháu Tùng và con gái tôi…
-
Lại định phỉnh phờ lường gạt tôi nữa sao ông?
-
Không phải vậy mà!
Lão
Mười gầm gừ xô ghế đứng phắt dậy : “ Mời anh ra
khỏi nhà tôi ngay! “. Lão Mười nhìn chằm chằm vào mặt
ông Thanh như muốn ăn tươi nuốt sống. Người bình
thường khi nổi giận đã khó chịu người giàu có quyền
thế như lão Mười lại càng gay gắt hung tợn hơn nhiều.
Tiền của sự sang giàu thường biến con người trở nên
rất dễ nóng giận cộc cằn. Ông Thanh vẫn ngồi yên
nhưng như chao đảo trên chiếc ghế rộng. Ông vịn hai
tay lên thành ghế.
Bà Mười bước ra khỏi phòng
riêng đến ngồi vào chiếc ghế đối diện với ông
Thanh – cuời nhạt : ‘ Anh có chuyện gì xin cứ nói! “.
Ông Thanh chồm người lại gần rầm rì một hơi dài. Bà
Mười mỉm cười khẽ gật đầu tỏ vẻ ưng ý..
Ông Thanh vội đứng dậy bước
lại đẩy cánh cửa kính giọng ngập ngừng : “ Xin chị
nói lại với anh Mười! Cứ y như vậy nhé? ”
- Anh yên tâm nơi nào tôi cũng
có sẵn nhà mà! Tôi thách bọn nó làm gì được tôi!
Ngày
đám cưới của Kiệt với Duyên đã đến như
dự tính : Bốn chiếc xe Honda chở họ trai gồm tám người
: Vợ chồng ông Mẫn vợ chồng bác Minh vợ chồng người
con trai trưởng của bác Minh và Kiệt chở theo một người
bạn thân. Bốn chiếc xe chạy vào ngõ nhà Duyên…
Trước cửa nhà ông Thanh cũng
đã dựng chiếc cổng “ Mừng
Vu Qui “
– giữa nhà bày một chiếc bàn dài với ly tách bình trà
lọ hoa - và hai chiếc bàn tròn đã dọn sẵn ly chén…Ông
bà Thanh quần áo chỉnh tề họ nhà gái sắn sàng đón
nhà trai nhập gia đúng giờ đại lợi.
Hai họ ngồi yên vị vào hai
dãy ghế người phụ việc rót trà ra tách mời khách. Ông
Mẫn cầm lấy điếu thuốc từ tay ông Thanh : “ Cám ơn
anh! “.
-Mời hai họ dùng trà – bà
Thanh vui vẻ.
Bác
Minh nâng tách trà hớp một ngụm liếc nhìn ông Mẫn –
đứng dậy: “ Thưa bà con hai họ! Được sự đồng ý
của hai họ hôm nay là ngày lành tháng tốt chúng tôi đến
xin được làm hai lễ cưới và rước dâu như đã
được thỏa thuận…”.
Ông Mẫn gọi Kiệt mang hai
cặp trà rượu hai quả bánh hộp trầu cau và hộp nữ
trang. Ông bày ra giữa bàn cẩn trọng rót hai ly rượu lẻ
: “ Tôi xin anh chị nhận cho lễ cưới…”.
Hai ly rượu được đại diện
hai họ nhận cùng cụng ly – uống cạn.
Theo
lời dặn của Duyên với Kiệt cố gắng hoàn thành mọi
thủ tục lễ nghi càng sớm càng tốt nên Kiệt kề tai
ông Mẫn nhắc lại. Ông Mẫn gật đầu.
Hai họ đã cạn ly rượu cho
lễ cưới – ông Mẫn lại đứng lên thưa xin làm tiếp
lễ rước dâu. Ông Thanh lầm lì im lặng. Bà Thanh thay
chồng đứng dậy đáp lời ông Mẫn nhận rượu rước
dâu. Vui vẻ mời hai họ cạn ly rượu…
Ông Mẫn xin phép cho hai con
làm lễ gia tiên. Ông Thanh giơ tay can ngăn : “ Thôi
miễn…”. Bác Minh nhắc lại giờ nhập gia bên nhà trai.
Chỉ còn một giờ nữa thôi. Bác nói : “ Rất tiếc
chúng ta còn rất ít thời gian nên xin phép nhà gái cho
chúng tôi rước dâu đi cho đúng giờ…”.
Tám chiếc xe Honda lần lượt
chạy thẳng ra liên tỉnh lộ. Xe của Kiệt chở Duyên ở
hàng thứ tư. Sau xe Kiệt là họ nhà gái. Đoàn xe quành
vào con hẻm đến ngõ nhà Kiệt trước giờ dự trù ba
mươi phút. Hai họ dựng xe đứng thư giãn ở sân chờ
giờ nhập gia. Ông Thanh liếc nhìn căn nhà ngói mới xây
lại chưa kịp tô vách ngoài của ông Mẫn nói vào tai vợ
: “ Bà thấy chưa? Nhà cửa tuềnh toàng kiểu này thì
con Duyên có nước khóc! “. Bà Thanh quay đi hướng nhìn
khu vườn trồng nhiều loại rau giàn bầu bí
sum suê mát mắt với vẻ thích thú.
Ông Thanh bước đến bên
người em họ. Người em gật đầu. Sau đó lật đật đến
chỗ Duyên. Ông Thanh tìm lại đứng bên bác Minh và
ông Mẫn đang ở hiên nhà chờ giờ đón khách – nói : “
Cháu nó không hạp tuổi với Kiệt ông thầy có dặn khi
đúng giờ chúng ta cứ vào nhà làm lễ trước – cháu nó
theo vào sau để tránh đi điềm xấu! “.
Họ nhà gái đã lần lượt
vào ngồi ở hàng ghế bên phải. Họ nhà trai đã ngồi
sẵn bên trái vui vẻ tiếp trà thuốc. Hai họ đang trò
chuyện mưa nắng mùa màng thoải mái vì lễ rước dâu
chỉ đơn giản một tuần rượu rồi sẽ mời vào bàn
tiệc đã chuẩn bị sẵn ở hai chiếc bàn tròn nơi góc
trái bên cạnh; bỗng tiếng la thét của Kiệt kèm theo
tiếng khóc ơi ới của Duyên ngoài ngõ vọng vào cùng lúc
tiếng xe máy gầm rú ào ào…
Người em họ ông Thanh đã
chở Duyên trên xe cùng với cô em gái ngồi sau kèm giữ
chạy băng ra ngõ vượt lên con lộ lớn. Kiệt chở theo
người bạn cố rượt đuổi – người bạn ngồi sau la
lớn : “ Bắt nó bà con! Bắt nó…quân ăn cướp! “.
Xe của người em họ ông
Thanh chúi vào một bờ giậu dâm bụt cách chiếc xe con
của lão Mười Thịnh đang chờ sẵn vài trăm mét cả ba
người cùng ngã lăn xuống đường. Chiếc xe vẫn nổ máy
gầm rú như con thú bị thương nặng. Vài phút sau xe
của Kiệt nhào đến. Anh bỏ xe cho bạn chạy đến đỡ
Duyên ngồi dậy…
Sau đó thì hai họ đều cùng
có mặt. Lúc này thì người đi đường bà con trong các
ngõ xóm kéo ra bu quanh khá đông.
Ông Thanh gạt đám đông ra
đứng ở ngoài một mình trên gò đất cao: “ Tôi tuyên
bố đám cưới bất thành! Gia dình nhà gái không công
nhận đám cưới này nữa! “.
-
Đi mời chính quyền công an xã đến đây xét xử - tiếng
bác Mính gầm lên.
-
Kìa công an đã đến rồi…
Trưởng công xã và hai du kích
mang súng tiến lại.
-
Mời tất cả về trụ sở !- ông quay lại người du kích
đang đứng bên cạnh – anh điện gọi thêm để áp tải
nếu ai chống lại..
Đám đông kéo theo hai họ
cùng về trụ sở . Kiệt chở Duyên trên xe chạy trước.
Người ta phẫn nộ bàn tán huyên náo về vụ “ bắt cóc
cô dâu “ của gia đình lão Mười Thịnh vì trước khi
chiếc xe con chạy thoát người ta đã nhìn thấy Tùng và
một bọn du đảng đậu xe chờ đợi cả giờ ở ngã rẽ
lên quốc lộ.
Tại trụ sở - có mặt đầy
đủ đại diện chính quyền ban tư pháp công an – và bà
con hai họ - sau khi lấy lời khai của hai họ nhà
trai và gái ông chủ tịch xã nhìn Duyên giây lâu - hỏi
: “ Cô có yêu thương anh Kiệt này không? “.
-
Thưa có! Duyên nói to.
-
Còn cậu Kiệt? Cậu có yêu thương cô Duyên này không?
-
Dạ thưa có! Nhiều lắm…- Kiệt đứng dậy trả
lời.
Mọi người đứng
bên ngoài theo dõi nghe rõ – cười rộ lên.
Ông chủ tịch quay lại nhìn
vợ chồng ông Thanh rồi liếc nhìn ông Mẫn : “ Quý vị
đã nghe rõ chưa? “.
Ông kết thúc biên bản : “
Tôi thay mặt chính quyền địa phương xác nhận hai cháu
Kiệt và Duyên được phép kết hôn theo luật định kể
từ giờ phút này… “.
Quê
nhà tháng 8 năm 2000
MANG
VIÊN LONG
Nguồn: mangvienlong.vnwweblogs.com.
Tuesday, January 26, 2016
NGHĨ TRƯỚC THỀM NĂM MỚI - tạp bút Mang Viên Long
NGHĨ TRƯỚC
THỀM NĂM MỚI
Tạp
Bút
Nhìn bloc
lịch mỏng dần - chuẩn
bị thay bloc lịch mới, tôi thường
bàng hoàng tự hỏi: "Một năm đã qua rồi ư?" Một
năm sắp hết rồi! 12 tháng - 365 ngày đã sắp kết thúc niên hạn
mà ta sao vẫn cứ ngồi yên lơ
ngơ với bao ước vọng
ngậm ngùi?
Thời trẻ, người
ta ít chú ý đến thời gian, ngày tháng; nhưng khi đã ở vào cái tuổi mà người xưa
gọi là "tri thiên mệnh" (và “xưa
nay hiếm) rồi, thì thời gian lướt qua luôn để lại bao nếp
hằn năm tháng khó quên! Quá
khứ, tôi "nhìn thấy" thời gian "đi" rất chậm - nhẩn
nha, thong dong - một năm
sao mà dài đến thế? Hiện
tại, tôi cảm thấy thời
gian không "đi" mà "chạy"
vùn vụt đến chóng mặt? Sáng mở mắt ra, loay hoay đã xế chiều? Thời gian trôi qua không
kịp cho chúng ta "trở tay"! Lẽ
nào thời gian cũng bị lôi kéo vào cuộc sống vội
vàng, hối hả của thời
đại?
Khoa học kỹ thuật
văn minh đến độ không những đã rút ngắn lại được
không gian mà còn "rút ngắn"
cả thời gian nữa sao?! Rút ngắn đời sống
tâm linh vào những tiện nghi vật chất hằng
ngày! Rút ngắn cuộc đời vào các chiếc
máy mà chúng ta chỉ biết bấm nút là xong! Cuối
cùng, thời
gian dành cho thiên nhiên, dành cho "phần
hồn" dường như cũng rất
ít ỏi hay không còn chỗ nào trong 24 giờ mỗi ngày?
Tôi luôn
dành một khoảng thời gian nào đó trong mỗi ngày chật
vật để "nhìn lại mình", nhất là vào những ngày gần
cuối năm, khi tẩn mẩn hạ
tấm lịch cũ xuống để treo vào tấm
lịch mới trên vách tường... Một năm sắp trôi qua, cuộc
đời rút ngắn lại dần. Cuộc đời ngắn hay dài không phải
chuyện ta quan tâm, nhưng điều đáng vui mừng
là trong lòng ta vẫn rổng rang nhẹ
tênh không hằn một vết đen ân oán nhọc
nhằn! Tôi đã luôn nhớ đến câu thơ
của Kahlil Gibran ghi đầu tiên trên blogs của mình: "Cám ơn đời mỗi
sớm mai thức dậy/ Cho tôi thêm ngày nữa để
Yêu Thương"! Một ngày đi qua trong đời nếu không "thêm" được "Yêu Thương"
thì không bao giờ để hận thù len vào đời
sống mình, khuấy nhiễu tâm mình! Nếu
chưa "đủ duyên" kết thân với ai, làm điều lành cho ai thì cũng không
sinh lòng nghi kỵ, thù
oán, hay gieo ác tâm với
bất cứ ai trên cõi tạm nầy! Sự
thù oán sẽ làm tâm hồn ta khô cằn đi, chết dần đi, và cuộc
sống trở thành tù ngục!
Chỉ trong một tháng 11 của năm 2009 tôi đã đưa tiễn ba người
ban văn ra đi. Trước là
chị Minh Quân, tiếp là Đặng Ngọc
Khoa, sau là Nguyễn Trung
Bình! Tháng 11 năm 2012 là nghệ
sĩ – nhà thơ Tô Kiều Ngân; rồi đến Nhạc
sĩ bác sĩ Trương Thìn (…). Cuộc
đời ngẫm lại chỉ
ngắn ngủi trong một hơi thở
- vậy mà sao còn lắm kẻ bon chen, tranh giành, thù hận? Nhìn lại
bao tháng năm qua- ta đã làm được
gì cho bản
thân, cho gia đình, cho bạn
bè? Đó là những câu hỏi thiết thân mà mỗi
chúng ta nên dành chút ít thời
gian của ngày bận rộn để
"nhìn lại". Tôi
cũng hiểu được rằng, tìm một
con người toàn hảo trên thế gian này là điều không tưởng! Là Người, ai cũng còn có những sai sót, khuyết
điểm cả. Biết "nhìn lại"
những lỗi lầm, khiếm
khuyết ấy là biết hướng đời
mình chuyễn hóa. đi lên!
Nếu mãi vội vàng, hấp tấp sống
mà quên “nhìn lại" là mất
cơ hội đổi thay, mất
giây phút sống thiêng
liêng mầu nhiệm của đời
người, và sau cùng là
đánh mất chính bản thân mà mình không hề hay biết! Nhờ
“sống lại”, chúng ta có cơ hội làm lớn
thêm lòng Từ Bi với mình. Với tất cả!
Năm mới lại đến,
tôi chợt nhớ lời thơ
của người bạn vong niên - cư
sĩ - thi sĩ Tống Anh
Nghi: "Mỗi lần Xuân/ Đời tôi - tôi lại bắt đầu
...". Lại bắt đầu thế
nào? Lại bắt đầu những
tháng ngày mới cho Yêu Thương, cho Cảm Thông, cho Chia Sẻ và cho niềm Hy Vọng nở
hoa...
Và, trước thềm năm mới,
tôi luôn dặn mình hãy bắt đầu năm mới
bằng những tình cảm thiêng liêng như thế - để
không còn cảm thấy cô độc mà tiến
bước...
Năm Mới đang đến, tôi chân thành gởi đến Quý Bạn
đôi điều suy nghĩ thô thiển. Cầu Chúc Tất
Cả Luôn Sống Trong Niềm Hỷ Lạc
Năm Mới Đang Đến Với Cuộc
Đời Mình!
MVL
Friday, November 27, 2015
Cuối Năm Nhớ TRỊNH CÔNG SƠN Và Tháng Ngày Lận Đận… -Tạp Bút: Mang Viên Long
Và Tháng Ngày Lận
Đận…
Tạp
Bút
Mang Viên Long
Ở quê,
khi nghe tin Trịnh Công Sơn mất tại
Saigon vì bệnh tiểu đường vào lúc 12 giờ
45 phút ngày 01 tháng 4 năm 2001 (nhằm
ngày mồng 8 tháng 3 Tân Tỵ), tôi không có điều kiện vào Saigon ngay để
được tiễn đưa anh lần
cuối. Một năm trước, tôi cũng được bạn văn thông báo một
ít tin tức về anh, nhất là về
tình trạng sức khỏe ngày mỗi
suy kém mà anh không giữ
được sự điều độ,
hay giới hạn trong sinh hoạt thường nhật.
Tôi cũng được biết anh bị bệnh
gan và thận khá lâu nhưng lại mất
vì bệnh tiểu đường.
Không vào Saigon được
trong ngày làm lễ tại chùa Vĩnh Nghiêm là một niềm ân hận
với tôi nhưng tôi lại nghĩ sẽ viết “đôi điều
về anh” để tỏ lòng thương
tiếc anh, như thắp một
nén tâm hương gởi theo anh cho lòng vơi bớt phần
nào sự ân hận, băn khoăn vì nghịch cảnh hiện
tại của mình!
Nghĩ là vậy mà
không viết được gì! Nhiều nhà nghiên cứu, phê bình, nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ lớn,
thân hữu của anh mọi miền
(trong và ngoài nước)
viết khá nhiều về anh, một
thiên tài âm nhạc Việt Nam; nhìn chung, toàn là những bài ngợi ca tài năng anh đã cống hiến cho nền
âm nhạc qua hơn 600 ca khúc trong suốt chặng đường
sáng tác (hơn 40 năm)
khởi đầu từ năm 17 tuổi (1956) với hai ca khúc
“Sương Đêm", “Sao
Chiều" và “Ướt Mi" (được An Phú XB năm 1959).
Trong không khí “vàng son của
tài năng Trịnh Công Sơn khi đã thành danh", tôi
không thể viết “lùi lại” về chặng
đời có thể gọi là “lận
đận” của anh như tôi đã từng biết về
anh những năm đầu thập niên 60.
Tôi lại
tự nghĩ: viết về cái quá khứ
gian khó, những tháng
ngày lận đận của tài năng TCS cũng là một điều
nên làm. Viết về một thiên tài không hẳn
chỉ nói đến các thành công, sự vinh quang mà cũng cần biết đến
chặng ngày trưởng thành vươn lên trong gian khó của tài năng ấy. Như một
kỷ niệm vui, một bài học cần
thiết để học hỏi..
Những ngày cuối năm, ngồi buồn lại
nhớ đến anh và chặng đời tuổi
trẻ của mình, tôi viết những dòng tuởng
nhớ này để ghi lại vài kỷ
niệm một thời…
Trịnh
Công Sơn đến Qui Nhơn học khóa đầu
tiên của truờng Quốc Gia Sư
Phạm (khoá 1, năm
1961-1963) khi tôi còn học
năm cuối của trường Trung học
Cường Đễ. Cũng xin nói thêm đôi điều về ngôi trường
Sư phạm đặc biệt
này: Trường nhận đào tạo giáo sinh cho 14 tình miền Trung và Cao nguyên (Bình Thuận, Ninh Thuận, Khánh Hòa. Phú Yên, Bình Định, Quàng Tín, Quảng Ngãi, Quảng Nam, Thừa Thiên, Quảng Trị, Kom Tum, Pleiku, Daklak, Phú Bổn). Điều kiện
văn bằng chỉ cần Tú Tài một, nhưng trên thực tế, hơn
50 phần trăm đã có văn bằng Tú Tài 2. 20 phần trăm đã học qua 1, hay 2 chứng chỉ đại
học. Quy định sau khi ra trường sẽ phân bổ
phục vụ ở các trưởng
tiểu học khu vực 14 tỉnh
trong thời gian hai năm tập sự. Sau 2 năm, qua kỳ thi dành cho những người có Tú tài 2, giáo viên trúng tuyển sẽ được
nâng bậc “giáo sư trung học đệ nhất
cấp”. Khi hoàn tất đủ các chứng
chỉ đại học, có văn bằng
cử nhân, sẽ được nâng bậc
tiếp theo “giáo sư trung học đệ nhị
cấp”. Như vậy, người
có chí tiến thủ mà có hoàn cảnh khó khăn (nhất là đang bị "kẹt" tuổi
quân dịch) có thể vừa đi dạy
để có thể tự nuôi sống
lại vừa có tiền chi phí cho chuyện
học tiếp theo của mình!
Vì quy chế
ưu đãi mở rộng cho con đường
tiến thân, và nhất là vì có thể giúp sớm giải
quyết giai đoạn khó khăn truớc mắt về
kinh tế và quân dịch đang là nỗi lo lớn cho tuổi
trẻ thời ấy nên trường
SP Qui nhơn đã “chiêu tập “ được nhiều
giáo sinh xin thi vào. Tuyển
chọn được nhiều người
tài năng trong dãi đất miền Trung-Cao Nguyên nghèo khó…
Tôi nghĩ TCS tìm đến
trường SP Qui Nhơn cũng có thể do 2 nguyên nhân chính ấy, bên cạnh mơ
ước của tuổi trẻ
là muốn “bay nhảy/ thay đổi không khí” cho cuộc sống thêm phong phú để
sáng tác của người nghệ sĩ như
anh. Trường SP Qui Nhơn không có khoa “Tâm lí Giáo
dục Trẻ em” như trang “Bách Khoa Toàn Thư Mở-
Wikipedia" đã viết về TCS. Tâm lí GD chỉ là một môn học
của chương trình 2 năm mà thôi.
Sau một
niên khóa Sơn theo học ở trường
SP / QN (61-62), tên anh đã được
hầu hết giới sinh viên, học
sinh Qui Nhơn-Bình Định biết đến
như “một thần tuợng
âm nhạc”. Qua mấy lần nhà trường
tổ chức những đêm trình diễn
để quyên góp quỹ cứu trợ
bão lụt, TCS luôn có mặt (bên tay guitar Thanh Hải, violon Văn Thanh, trống Quang Thùy…) với những bản
tình ca “mới rợi “ của anh. Các nữ
giáo sinh cùng khóa cũng đã được
Sơn tập luyện trình bày nhiều
bản nhạc của TCS rất
thành công (như các bài
Diễm Xưa/ Nhìn Những Mùa Thu Đi/ Nắng Thủy Tinh/ Hạ
Trắng…)
Tôi được
quen thân với TCS khi anh
vào học năm thứ 2 (62-63). Trong cái thị xã nhỏ bé ấy, đi
lòng vòng vài con đường
là gặp nhau nên chúng tôi
thường gặp nhau ở Hiệu
sách báo Việt Long hay Đại Chúng (lúc đó nằm trên đường Gia Long/ nay là Trần Hưng Đạo).
Thỉnh thoảng gặp anh ở
quán cafe Dung (góc đường
Phan Bội Châu). TCS rất giản dị, vui
tính, và dễ gần. Mái tóc dài bồng bềnh , đôi kính cận
dày cộm và tấm áo vest màu đà nhạt của anh lúc ấy
là “một hiện tượng lạ”
cho học sinh Qui Nhơn chú ý! Một hôm trên đường đi học về nhà trọ,
tôi trông thấy anh đang đứng tần ngần,
ngơ ngác bên lề đường (ngã ba Võ Tánh và Mãi Xuân Thưởng/ Hiện nay là Lê Hồng
Phong- Mai Xuân Thưởng),
tay còn giữ guidon xe đạp. Tôi dừng lại chào anh, cười: “Anh đang chờ ai vậy, anh Sơn?" Sơn
đáp, giọng bất bình: "Bọn du đảng lấy
mất chiếc kính của moi rồi!”. Mất
cặp kính cận rồi, TCS làm sao mà thấy
đường đi? Anh kể chúng gồm ba bốn tên, chận
xe anh lại, đưa tay gỡ cặp
kính của anh, cuời: “Cho mượn tạm chiếc
kính một chút, nghe bạn?" Tôi không quen với đám học sinh “cao bồi”
ấy, nhưng biết mặt
chúng. Hầu hết là vài học sinh lêu lỏng ở các trường
tư thục, con nhà giàu và quyền thế. Tôi đón mấy
người bạn cùng trường, nhiều người quen với
số học sinh “anh chị" ấy, nhờ
họ can thiệp vì uy tín chung của học sinh Qui Nhơn, và vì lòng yêu chuộng
nhạc TCS. Khoảng một giờ
sau, chiếc kính gọng đồi mồi
của Sơn đã được hoàn trả!
Người đem được kính về, đã cho biết chúng “chọc phá/ cảnh cáo TCS chơi vậy thôi - vì TCS được
lòng… yêu quý của nhiều nữ sinh..” ( ! )
Một dịp khác, TCS gặp tôi than thở về chuyện
tìm nhà trọ, nhà thuê và
ngỏ ý nhờ tôi tìm giúp.Tôi cũng không dấu anh, cho biết tôi cũng từ “miền quê nghèo” An Nhơn
lên phố trọ học, cũng rất
khổ tâm trong việc tìm nhà trọ vào đầu mỗi
niên khóa. Nếu có nhiều tiền, những
gia đình nhận nấu cơm tháng cho ăn ở
luôn cũng không thiếu, nhưng ngặt nỗi
nghèo nên việc tìm nơi ăn ở cũng rất
gay. Nhưng tôi hứa, sẽ tìm giúp anh (và 3 người bạn
cùng khóa, tất cả hình như đều ở
trong ban nhạc của trường SP).
Người
bạn cùng lớp rất thân ngồi
bên cạnh tôi nhiều năm, có năng khiếu đàn hát, thường đi hát cho các chương trình đài phát thanh, là
Truờng Hạnh, nghe tôi kể lại trường
hợp tìm nhà trọ của TCS, liền
đồng ý sẽ về xin “bố" cho TCS và 3 người bạn của anh đến
trọ vì nhà khá rộng. Hôm sau Trường Hạnh vui vẻ
báo tin lành. Tôi gặp
ngay TCS chiều ấy, thông báo và giới thiệu cùng anh địa
chỉ nhà của Hạnh (sau lưng
trường Cường Đễ cũ). Thế
là TCS và 3 người bạn được “bố" của Hạnh nhiệt tình cho "ở
không” 1 phòng tươm tất.
Chưa được 1 tháng, Hạnh báo tin "bố" của anh không chịu
cho TCS và bạn ở đó nữa vì “mấy
ông nghệ sĩ ấy đi chơi về
khuya quá, lại thường say khướt, kêu cửa làm cả nhà mất
giấc ngủ!”. Tôi chỉ biết cười vì
biết rằng những người
già và nghiêm tính như “bố" của Hạnh sẽ
khó mà “quen" được sinh
hoạt bất thường của
những người… nghệ sĩ trẻ!
Một kỷ niệm có lẽ
khó quên nhất với TCS, là vào một buổi sáng đầu
xuân năm 63, anh đến nhà
trọ tìm tôi rất sớm. Tôi thoáng ngạc
nhiên thì anh đã nói: “Cậu
đi với moi đến thăm ca sĩ Thanh Thúy nhé?"
- Anh quen à?
- Biết
chứ không quen thân lắm!
- Ở
đâu?
- Phòng ngủ
Thuận An…
Đoàn ca nhạc
mà Thanh Thúy tham gia hiện
đang lưu diễn tại thị
xã Qui Nhơn hai hôm nay
tôi biết, nhưng không nghĩ là mình sẽ có dịp đến
thăm người “nữ ca sĩ tài danh” đang được hâm mộ đông đảo này. Tôi vui vẻ
đi theo TCS…
Khi hỏi
thăm người quản lý, biết dược số
phòng trọ của Thanh Thúy trên tầng 2, chúng tôi lần mò lên ngay.
Đứng
trước cửa phòng dang đóng, TCS gỏ cửa gọi.
Có tiếng
Thanh Thúy đáp:
- Ai đó? Xin vui lòng chờ
chút, Thúy đang thay đồ…
Khoảng
vài phút sau, cửa mở. TCS và tôi được mời vào phòng.
- Tôi là Trịnh
Công Sơn, anh tự giới thiệu, và đưa tay vào túi áo
vest lấy ra mấy bản nhạc
chép tay nhờ Thanh Thúy
hát cho …
Thanh Thúy cầm
lấy mấy tờ nhạc, xòe
ra xem, tôi thoáng thấy đó là bản nhạc Diễm Xưa,
Nhìn Những Mùa Thu Đi và
Hạ Trắng..
- Được
rồi, anh Sơn để em tập
đã nhé?
Sau đó, Thanh Thúy hỏi
thăm nhà bưu điện Qui Nhơn, và mời chúng tôi cùng đi bộ đến
đó cho nàng gọi về nhà…
Khi đã đưa
Thanh Thúy trở lại phòng ngủ Thuận An, tôi và TCS ra về. Tôi thắc
mắc: “Sao anh không cho
xuất bản những bài hát hay ấy
đi mà nhờ Thanh Thúy hát
làm gì, cho mệt?". TCS
giải thích: “Nhạc không như thơ văn mà cần
phải được hát, thu băng, phát thanh
nhiều lần trước, nhà xuất
bản họ mới “đánh hơi" mà xin xuất bản!"
- "Anh tự
xuất bản không được sao?", tôi hồn nhiên hỏi.
- Không được
đâu cậu." Anh quay lại nhìn tôi cười hiền. "Thứ
nhất là mình không có tiền. Thứ hai, in ra ít ai biết mà mua…"
Vài hôm sau, TCS đem “tặng" tôi 2 bản nhạc “Diễm Xưa”
và “Nhìn Những Mùa Thu
Đi" do anh chép tay trên trang vở
học trò rất đẹp! Tôi đã giữ
chúng như một kỷ niệm
khó quên trong đời …
Một lần khác, tình cờ gặp anh ở
café Dung, chúng tôi có dịp
trò chuyện lâu. TCS có
nói với tôi: “Cậu theo moi đi! Moi sẽ dạy cậu
viết nhạc." Biết anh thành thật, nhưng tôi biết
rõ tôi hơn. Tôi cười, hơi ngạc
nhiên trước đề nghị đột ngột
mà tôi chưa hề nghĩ đến: “Tôi chỉ 'yêu nhạc' thôi, không
đủ điều kiện, khả
năng để 'theo nhạc' được đâu!”
Tháng 4 năm ấy,TCS
ra trường. Anh được phân bổ về tỉnh
Lâm Đồng, rồi đưa về
dạy ở một trường
tiểu học thuộc huyện Bảo
Lộc. Xa anh, tôi không có
dịp biết thêm về cuộc sống
mới của anh ở đó, chỉ
biết anh vẫn sáng tác đều, thường lên Đà Lạt
tham gia sinh hoạt ca nhạc ở quán café Văn. Về
Saigon tham gia ca hát cùng sinh viên tranh đấu
ở Vạn Hạnh, trường
Luật, Văn Khoa, rồi Khoa học. Nghe nhạc của anh đã được
thu băng, xuất bản, trình diễn trong những tụ điểm
Saigon, trong giới sinh
viên - học sinh, và nhất là được nghe Khánh Ly hát nhạc anh mỗi
ngày ở những quán café nơi tôi đang dạy học…
Rồi
nghe tin anh bỏ dạy về Saigon. Ra Huế.
Đi lang bạt nhiều nơi. Vì tự
ý bỏ nhiệm sở, nên giấy
“hợp lệ quân dịch" của
anh cũng bị hủy bỏ. TCS thường
bị quân cảnh “hỏi thăm sức
khỏe” bất ngờ trên đường
di chuyển. Có một “giai thoại vui” về chuyện này: TCS đang ngồi
trên xe đò ra Trung, xe bị
chặn lại đột ngột
để quân cảnh “kiếm soát giấy
tờ”. TCS tỉnh bơ chìa ra tấm
thẻ căn cước duy nhất còn lại bên mình cho người
quân cảnh xét hỏi. Sau khi đọc thẻ căn cước
rất kỹ, dù biết tuổi
của anh vẫn còn trong thời hạn phải
thi hành quân dịch nhưng người lính quân cảnh
đã vui vẻ hỏi: “Anh là Trịnh Công Sơn à?" “Phải!" “Nghe anh đang ở Saigon cơ mà?" “Tôi về thăm quê…” “Vậy anh Sơn đi nhé."
Khoàng cuối năm 69-70, tôi được
gặp Ông Cao Huy Thuận vừa được
Bộ bổ nhiệm về
làm Trưởng Ty GD Phú Yên.
Ông cho biết từ Ty GD Lâm Đồng về. Ông là người
Huế. Đã biết TCS từ ngày anh về
dạy ở Bảo Lộc.
Cũng rất biết tài năng âm nhạc của TCS…
Ông Cao Huy Thuận
kể lại: “Sơn thường
bỏ dạy không có lý do báo trước, hiệu trưởng
cứ trình báo vể Ty hoài! Một lần, tôi xuống
trường để “xem thử” thực hư
thế nào? TCS vắng mặt. Tôi dò hỏi
nhà trọ của Sơn, lặng
lẽ tìm đến. Sơn đang ở
trên gác trọ một mình. Tôi xin phép chủ nhà lên gác khẽ khàng. Tôi thoáng trông thấy Sơn đang mãi mê ôm đàn, ghi ghi chép chép, nơi chiếc bàn nhỏ
hướng ra cửa sổ …Tôi lại
lặng lẽ xuống gác, lên xe ra về. Tôi đã 'nói nhỏ' với gã hiệu trưởng từ
nay không nên trình báo gì về
Sơn nữa. Hãy phân công người dạy thay anh các buổi
vắng, nhé?"
![]() |
| Tác giả Mang Viên Long |
Hôm nay, những
ngày cuối năm, ngồi một mình bên tách café buổi sớm,
đón nghe từng dòng nhạc của anh, tôi càng hiểu
và thương anh hơn bao giờ…
Quê nhà, những
ngày cuối tháng 12/ 2010.
MANG VIÊN LONG
Subscribe to:
Posts (Atom)






