Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Hoàng Hữu Chiểu. Show all posts
Showing posts with label Hoàng Hữu Chiểu. Show all posts

Saturday, August 1, 2020

CUỐN SÁCH VÀ CHAI RƯỢU - Hoàng Hữu Chiểu





CUỐN SÁCH VÀ CHAI RƯỢU

Chiếc tủ của nhà nọ chưng, bên trong, một chai rượu và một cuốn sách. Chủ nhà muốn khoe mình thuộc hạng dân trí thức và chịu chơi.

Hằng ngày, do gần gũi, chai rượu và cuốn sách thường trò chuyện với nhau. Chuyện trên trời dưới đất, chuyện trên rừng dưới biển.
Một hôm, cuốn sách than vãn với chai rượu :
- Này ông bạn, ta buồn lắm, ông bạn à! Ta chẳng hiểu vì sao mà chủ nhà này lâu lắm rồi không đoái hoài gì đến ta, đến nổi bây giờ cái thân ta phủ dày một lớp bụi. Ngược lại, ta nhìn qua, thấy bạn luôn luôn được ông chủ quan tâm, lấy ra cất vô, nhất là mỗi lần có khách thăm, có tiệc tùng, bạn được chiều chuộng, nâng lên đặt xuống không biết bao nhiêu lần. ta thèm thuồng được như bạn, ganh tỵ với bạn và buồn lắm!

Nghe cuốn sách nói vậy, chai rượu vênh mặt, đắc chí, cựa quậy một lát rồi thủng thẳng trả lời :
- Thế mới biết bây giờ ai giá trị hơn ai! Chuyện đó dễ hiểu thôi! Mình sinh ra là để tiếp khách, tiệc tùng; mình tạo niềm vui, niềm phấn chấn, đưa người và người tới với nhau. Khi uống mình vào, con người thăng hoa, có khi như bị kích động; bạn bè thân mật thêm nhờ mình mà xích mích cãi vã nhau cũng tại mình. Còn bạn chỉ là một tập giấy có in chữ; dư luận cho rằng thời nay người ta ít đọc sách, văn hóa đọc sách giảm dần, không chừng có ngày biến mất không kèn không trống! Bạn để ý xem: từ trẻ con đến người lớn, ai cũng chúi mắt vào cái smart-phone, hay dán mắt vào màn hình ti-vi; sách không chuộng nữa; thậm chí, học sinh cũng ít xem trong sách giáo khoa có gì. Bạn đừng buồn vì chuyện ấy, nên tìm cách chấp nhận đi là vừa.

Nói xong, chai rượu cười kha khả, lòng tràn ngập niềm vui sướng.
Cuốn sách im lặng, không nói gì, buồn thối ruột. Vốn điềm đạm, ngẫm thấy những gì bạn chai rượu nói có phần đúng.

Nhớ lại thuở xưa, sách luôn quan trọng đối với con người. Học hành thi cử cần đến sách, giấy tờ văn bản trong cuộc sống cần đến sách, có gì không biết muốn tra cứu cần đến sách; thế mà bây giờ cái thằng rượu lắm lúc làm người ta say khướt, đi đứng chệnh choạng, mất trí, đánh vợ đuổi con lại lên lớp với sách. Sách không tức bực và không tủi thân, sao được?

Rồi sực nhớ lại, cuốn sách ôn tồn nói với chai rượu :
- Này bạn chai rượu ơi! Bạn có biết bạn nhờ đâu mà bạn hiện hữu trên đời này không. Ta nói cho bạn biết nhé! Công thức pha chế ra rượu đã được ghi trong sách; quy trình sáng chế thuỷ tinh hay nhựa để làm ra cái chai đựng rượu đã ghi ở sách; cách thức làm cái hộp đựng chai bằng giấy cứng được trang trí đẹp mắt cũng được ghi trong sách … Nói tóm lại, không có ta thì không có bạn; thôi, bạn đừng làm trạng nhé!
Chai rượu nghe, chưng hửng, im lặng.

Ngoài cổng, chủ nhà rước mấy người bạn đi vào, mắt chằm chằm dán vào chai rượu.
Cuốn sách xoay mặt vào trong, buồn, tủi vì thân phận sách đang vào thời mạt vận …

                                                              Hoàng Hữu Chiểu
                                                                     1.6.2020
                                                         (Ngồi buồn viết cho vui)

READ MORE - CUỐN SÁCH VÀ CHAI RƯỢU - Hoàng Hữu Chiểu

Friday, July 24, 2020

KÍ ỨC TUỔI THƠ - Hoàng Hữu Chiểu






KÍ ỨC TUỔI THƠ
Tác giả: Hoàng Hữu Chiểu


Đời người …

Có lẽ ai cũng nghĩ rằng thời thơ ấu là cái thời đáng nhớ nhất, cái thời mà sự vô tư, hồn nhiên, trong trẻo luôn luôn ngự trong tâm hồn; để rồi, khi thời gian làm bạc mái đầu, da hằn sâu những dấu chân chim, con người ta còn nhớ mãi về những kỉ niệm thuở ấy. Và ngậm ngùi hoài niệm !....
Tuổi thơ của tôi gắn liền với những lũy tre làng, những ao cá, cây đa, bến nước, sân đình, đặc biệt những cánh đồng của làng ...

Cánh đồng làng tôi, phần lớn, trồng lúa.

Đầu tháng 11 âm lịch, dân làng tôi ra đồng cày ải, “làm giường” (“phạng” cỏ bờ ruộng và bồ thêm đất vào bờ để giữ nước), chuẩn bị cấy lúa vụ Đông Xuân.

Thời ấy, chưa có máy cày bừa, việc làm đất phải cậy đến sức trâu. Bác nông dân đứng trên chiếc bừa làm bằng gỗ, con trâu kéo chiếc bừa xé đất cho tơi và bàn đất cho phẳng; chiếc bừa tiến lên, nước dạt ra hai bên; lũ trẻ chúng tôi đi theo để bắt cá và đam (cua đồng). Cá hay đam trôi theo dòng nước; phát hiện chúng tôi chồm xuống tranh nhau, ngã chúi mũi xuống bùn, mặt đứa nào đứa nấy lấm lem rồi nhìn nhau cười toe toét.
Hết buổi, cá và đam đem về nhà; có đứa trong chúng tôi ghé hàng xóm xin mấy quả khế chua; thế là mạ chế biến cho một bữa gồm cá đồng kho gừng, đam nấu với khế chua … Ăn với cơm độn sắn khô hay khoai khô, ngon chi lạ!

Vào mùa đông, đang tuổi ăn, tuổi ngủ, bụng đủ no, chúng tôi leo lên giường nằm co mình trong chiếc chăn cũ, rách; mùi hăng hăng, tanh tanh của bùn bốc lên làm thổi dậy những giấc mơ đẹp.

Rồi Tết qua, giêng, hai, ba vụt tới, dân làng tôi chuẩn bị nào liềm, nào hái để giữa tháng ba âm lịch, thấy lúa chín đều, ra đồng thu hoạch.

Lũ trẻ chúng tôi cũng háo hức ngóng chờ mùa gặt không kém. Người lớn thì phấn khởi vì sau mấy tháng trời chân lấm tay bùn, vất vả vì dãi nắng dầm mưa, thành quả lao động sắp được gánh về nhà. Còn chúng tôi thì nôn nóng mong mùa gặt để được ra đồng chạy nhảy, thả diều, tìm bắt những tổ chim "chắt chắt" gắn chặt giữa những chẽn lúa trĩu hạt, những tổ chim chiền chiện khéo giấu mình dưới gốc lúa, hay theo tiếng kêu, lần tìm, đào những chú dế mọi, dế lửa, dế pha nép mình dưới những đường nẻ hay hang giữa ruộng khô về nuôi trong những chiếc thùng các-tông, cho đá nhau, xem … thích lắm!
Dế được bắt giữa cánh đồng lúa lúc nào đá cũng mạnh mẽ, dẻo dai, hấp dẫn hơn dế bắt được giữa nương khoai, cồn bắp … Chắc nhờ môi trường sống … Ruộng lúa có hàm lượng đất sét cao, khi lúa chín, người ta tháo nước để dễ gặt, đất sét khô nên rất cứng, dế phải thích nghi với môi trường ấy, muốn đào hang, phải có sức mạnh và nhất là phải có đôi hàm khỏe .

Mùa gặt, cánh đồng làng tôi như một bức tranh của tạo hóa. Cả cánh đồng mênh mông toàn một gam màu vàng óng dưới ánh nắng đầu hè, vọng lên tiếng hò xen lẫn tiếng nói cười râm ran của mấy toán thợ gặt.

Lũ chúng tôi thì thả lên không trung xanh biếc, lúc chiều về,  những chú diều màu sắc sặc sỡ. Mỗi chiếc diều mang theo những ước mơ hồn nhiên của chúng tôi bay lên trời cao, chúng tôi hi vọng ông Trời ở trên tầng cao ấy nắm bắt được, soi xét, thoả mãn những ước mơ ấy để chúng tôi có tương lai tươi đẹp hơn.
Xa ở đằng kia, tiếng máy tuốt lúa (thời ấy máy tuốt thủ công quay bằng sức chân người đạp) ầm ầm, người thì tuốt, người thì đứng cạnh hốt những hạt lúa đã tuốt cho vào bao chất lên chiếc xe bò đang đợi sẵn, í ới vang đồng hối nhau kéo mau về kẻo trời sắp mưa…
Chừ nhớ lại, thấy vui vui! Và tiếc tiếc vì không còn chi nữa!

Bây giờ, ở quê tôi, đà đô thị hóa diễn ra nhanh lắm. Những cánh đồng làng tôi bị lấp để làm khu dân cư.

Còn đâu những cánh đồng xanh mướt khi lúa đang thì con gái!
Còn đâu những cánh đồng vàng ươm khi lúa đang kì thu hoạch.
Còn đâu những cánh đồng mà ở đó bao thế hệ dân làng tôi đều gởi gắm kỉ niệm thời thơ ấu vô tư, hồn nhiên!
Còn đâu cái mùi hăng hăng tanh nồng của bùn mà tôi và đám bạn ngày nào đem theo vào giấc ngủ để có những giấc mơ đẹp!
Còn đâu cái vị của nồi canh khế nấu với đam ngon miệng!
Còn đâu tiếng dế kêu báo hiệu bình minh hay hoàng hôn mỗi ngày!
Còn đâu trò chơi bắt dế, đá dế của trẻ thơ!

Đồng ruộng không phải tự nhiên mà có; đồng ruộng nên hình nên dáng là do công sức của bao thế hệ dựng nên. Tổ tiên đã đổ bao mồ hôi nước mắt, thậm chí cả máu đương đầu với ma thiêng, nước độc, thú dữ để khai hoang, lên bờ vùng, bờ thửa, Các Ngài lao động bất chấp hiểm nguy vì các Ngài ôm ấp kỳ vọng là tạo nguồn sống muôn đời cho con cháu mai sau. Các Ngài chắc không bao giờ nghĩ ruộng đồng sẽ bị san lấp ồ ạt như bây giờ …

Không biết hồn thiêng các Ngài nghĩ thế nào khi thấy ruộng đồng biến mất nhanh đến thế!

                                                              Hoàng Hữu Chiểu

READ MORE - KÍ ỨC TUỔI THƠ - Hoàng Hữu Chiểu

Monday, December 25, 2017

NGƯỜI EM KẾT NGHĨA *Truyện ngắn của Hoàng Hữu Chiểu



NGƯỜI EM KẾT NGHĨA
 *Truyện ngắn của Hoàng Hữu Chiểu

Tôi gặp và quen, sau này trở thành thân thiết với Sứt trong một lần qua Lào làm cho một công ty chuyên trồng cao su. Tôi cho đó là cái duyên trong đời hơn là một sự tình cờ. 
Mới đó mà đã hơn 10 năm rồi! Thời gian cứ như con thoi vậy, nhanh thật! Năm đó, ở quê công việc thất thường, thêm thời tiết lúc mưa lúc nắng, tôi vốn làm công việc thợ xây nên nhiều ngày có việc, nhưng không làm được. Một thằng bạn thân đã qua làm tại nước Lào “thâm niên” gọi: 
-Nếu không có việc thì qua đây làm với tao. Bên này nhiều việc lắm. nếu đồng ý thì làm hộ chiếu, đầu tháng qua nhé! 
Tôi chần chừ, chưa trả lời ngay; rốt cuộc, tôi cũng đồng ý với bạn. Bởi ở nhà lâu, không có việc làm đâm chán, phần nữa, tôi cũng muốn xuất ngoại một chuyến xem sao. Ngày trước, tôi đã bỏ lỡ một cơ hội rồi. Đó là thời gian làm nghĩa vụ quân sự, sau khi hoàn thành 3 tháng quân trường, và chuẩn bị đưa qua nước Lào để bù vào quân số thiếu hụt thì trên lệnh xuống rút toàn bộ sư  đoàn về nước. 
Lần này, tôi háo hức lắm, vì đây là lần đầu tiên tôi đi làm ăn xa nhà. Vợ tôi chuẩn bị cho tôi, nào là chăn màn, thuốc chống sốt rét, đến những vật dụng nhỏ nhất như bàn chải, kem đánh răng. Vợ tôi dặn: 
-Anh qua bên đó cần thận và coi chừng cái bệnh sốt rét, người ta nói bên ấy sốt dữ lắm; thời ở bộ đội anh đã mắc phải rồi; bây giờ càng phải phòng hơn, chứ đừng chủ quan. 
 Tôi cười, bảo: 
-Em làm như anh là đứa con nít không bằng, mà anh đi làm chứ có phải đi đày đâu mà lo dữ vậy. Hơn nữa, bên đó có thiếu thứ gì mà phải mua tại đây! Qua bên, mua vẫn được mà! 
Nói thì nói vậy, tôi vẫn ngoan ngoãn cho các thứ lặt vặt ấy vào túi xách gọn gàng. Đợi ngày lên đường…

***

Chuyến xe chở chúng tôi hướng về phía tây Quảng Trị, xuất phát khoảng 7 giờ sáng. Hôm đó, trời mưa tầm tã, cuộc “chia tay” nho nhỏ với gia đình thêm phần bùi ngùi hơn! Con đường từ Đông Hà lên cửa khẩu Lao Bảo ngoằn nghoèo như một con trăn khổng lồ uốn lượn theo những triền dốc thoai thoải. Những bản làng với những mái nhà sàn nấp sát vào những quả đồi chìm vào màu mưa trắng xóa. Người dân không đi rẫy được, tụm ba tụm bảy tán chuyện gẫu. Tôi cảm nhận người dân ở đây đang rất khó khăn. 
11 giờ trưa thì đoàn chúng tôi đi qua địa phận Lào. Một anh chàng quê ở Quảng Bình phá tan bầu không khí im lặng ở trên xe: 
-Bây giờ chúng ta đã qua đất nước Lào, thế là chúng ta trở thành người Lào rồi. “Noong” ơi! “Ải” đây rồi. 
Chuyến xe bắt đầu bỏ đường cái trải nhựa, rẽ vào con đường đất đỏ dẫn vào rừng, một lúc thì dừng lại ở một khu đất rộng mênh mông, ở đây, người ta phá rừng để trồng cao su. Những khúc gỗ to đùng được cho xuống vùng đất thấp và châm lửa đốt, khói còn đang âm ỉ; gỗ cháy xong, máy ủi lấp đất lên phiá trên. Nhìn những khu rừng mênh mông tít tắp, xa xa hơi đá núi bốc lên tạo thành những đám mây bay tà tà ở các thung lũng của mấy quả đồi, tôi cảm giác lành lạnh, buồn buồn. 
Những người quản lý sắp xếp chỗ ngủ nghỉ xong thì trời đã về chiều. Sau một cuộc hành trình dài 500 km, ai nấy mệt lả đang nằm nghỉ ngơi. Riêng tôi, tôi muốn đi một vòng xung quanh để khám phá vùng đất mới. Lòng vòng một lúc, tôi quay lại khu trại. Có tiếng ai gọi, rặt giọng Bắc: 
-Này người anh em, đến đây làm cùng tôi một ly cho ấm. Đầu lạ, sau quen mà! Cùng là dân làm thuê cả! Bác ngại gì! 
Tôi dừng lại, đưa mắt nhìn về phía sau; ở một góc lán, một anh chàng đen như cột nhà cháy, đang ngồi trên chiếc chiếu cói đã rách, trên đó, đặt một chai rượu đế, một dĩa đậu phộng rang. Mặt anh ta đỏ lừ như đầu gà chọi nhưng ánh mắt lộ nét chân thật. Tôi chần chừ một hồi. 
-Bác từ chối em à! Cũng là dân cày, sao bác lại ngại  em? 
Thôi, dù gì mình cũng là “lính mới” còn anh ấy là “lính cũ”, tôi tiến lại gần. 
-Này bác, rượu Lào đây bác nhé, tuyệt cú mèo luôn. Bác đã lần nào uống rượu Lào chưa? Vừa nói, anh ấy vừa với tay lấy cái ly thủy tinh đằng sau lưng và rót đầy rượu. Nếu chưa thì lần này bác thử xem nào. Tuyệt lắm! 
Thấy tôi lưỡng lự, nhìn chiếc ly thủy tinh sứt miệng và không sạch cho lắm - đục ngàu. Anh ấy lên tiếng: 
-Không sao đâu bác ơi! Ở đây rừng núi, cái gì cũng thế cả, đến con người cũng sứt lên sứt xuống, huống hồ là ly với bát! 
Tôi cười thầm, bụng bảo dạ: “Tính cách của mấy bợm nghiện rượu nặng đây rồi, đa số mấy bợm nghiện rượu đều có hơi hướng như thế này cả!” 
-Bác ở đâu? Anh ấy hỏi cộc lốc. 
Tôi cũng đáp cộc lốc: 
-Quảng Trị. 
-Bác lần đầu qua đây à? Làm ở bộ phận nào? 
-Tôi làm ở bộ phận thợ xây, nghe nói ở đây công nhân chưa có chỗ ở, phải không? 
Anh ấy mừng rỡ, đưa tay đập xuống đùi kêu cái đét. 
- Thế là bác và em cùng một công việc rồi. Ha ha!
Hơi men đã ngấm vào, anh ấy cứ lắc lư cái đầu, tóc tai bù xù che khuất vầng trán. Tôi tranh thủ hỏi: 
-Chú mày qua đây làm lâu chưa? 
-Em qua đây đã hai năm rồi, bác ạ! Hai năm qua em chưa hề về quê lần nào cả, mà em chả muốn về! 
Tôi tò mò: 
-Sao vậy? Hai năm rồi mà không về nhà à? Nhà là nhất chứ có đâu bằng! 
Hình như câu nói của tôi chạm vào lòng trắc ẩn của anh ấy thì phải. 
-Về làm gì hở bác? Gia đình của em nó tan nát như xáo bành? Ai đó bảo, quê hương là chùm khế ngọt nhưng đối với em nó là chùm khế chua…. Vợ em bỏ em đi rồi! Con cái thì đành phải gửi ông bà nội để em qua đây làm kiếm tiền gửi về quê cho nó ăn học. Đêm nay, bác ngủ với em nhé! 
Rồi anh ta chỉ tay về phía xa xa: 
- Ở đầu kia, em có “túp lều lý tưởng” em tự làm đấy. Làm để em ra đó ở một mình cho nó độc lập tự do, “không có gì quý hơn độc lập tự do” mà! Nếu bác không chê, mời bác đêm nay ở lại đó với em, em sẽ kể cho bác nghe cái gia đình của em. 

***

Đêm đã về khuya, tôi nhìn chai rượu đã hết. Chai rượu 0,7 lít, loại rượu của Lào nặng lắm, tôi uống độ 2 ly nhỏ, còn lại một mình anh ấy uống hết. Tôi bảo với anh ấy để tôi dìu về lều ngủ, anh ấy ngoan ngoãn vâng lời. 
Căn chòi theo như lời anh ấy nói là “túp lều lý tưởng” được làm sơ sài, tạm bợ, bốn góc chôn bốn cái cột gỗ. Loại cột gỗ này bên Lào sẵn lắm, tìm đâu cũng thấy, dân địa phương thường dùng làm củi đốt. Mái lợp bằng 4 tấm tôn phi-brô-xi-măng. Căn lều rộng chừng 4 m2, vừa đủ kê 1 chiếc giường, 1 cái tủ nhỏ. Tôi nhìn thấy trên tủ kê bức ảnh của một người phụ nữ khá xinh xắn. Tôi hỏi: 
- Ai đó hả chú? 
Anh ấy trả lời trong hơi men nồng nặc: 
- Vợ em đó bác à! Đã 5 năm em chưa gặp lại. 
Rồi anh ấy rưng rưng: 
- Đêm nay ngủ lại đây bác nhé! Bác mà về thì em buồn lắm. 
Thú thật, lúc đầu tôi định dìu anh ấy về đến lều thì về lại chỗ ngủ mà người ta đã sắp xếp cho tôi lúc chiều. Nhưng lúc này, tôi thấy trong lời nói của anh ấy có gì đó chân thật, tội nghiệp, tôi từ bỏ ý định ban đầu. 
Thời gian này, Lào đang là mùa khô, ánh trăng soi rõ mồn một vạn vật. Những chú tắc kè đang mùa động dục, kêu lên những tiếng “tắc kè, tắc kè” não nuột. Với tôi đêm đầu tiên xa nhà lại càng buồn thêm. Khi cả hai bắt đầu nằm xuống chiếc giường cũ kỹ, anh ấy bắt đầu thủ thỉ về gia đình, về người vợ và những đứa con, vùng quê ở tận phía Bắc của đất nước… 
-Bác à! Em kể, bác đừng ngủ nhé! Chuyện buồn bao giờ cũng làm cho người khác không muốn nghe và buồn ngủ. Thú thật mới gặp bác lần đầu, mà đem chuyện gia đình của mình ra kể cho bác nghe, thì cũng vô duyên thật, nhưng bác đừng chấp trách gì em là được. Từ khi mới gặp bác, em đã mến bác rồi… Đừng hỏi vì sao bác nhé! 
Anh ấy rào trước đón sau một hồi rồi bắt đầu: 
-Bác biết không? Cái số em nó khổ từ khi mới lọt lòng mẹ. Nó ám em từ lúc mới sinh, mới chào đời, em đã bị tật sứt môi nên bố em mới đặt cho cái tên là Sứt. Bác nhìn đây này! Lên 8 tuổi, được một tổ chức từ thiện phẫu thuật, giờ em mới được như thế này đây. Nhà em đông con, em là con trưởng nên em phải làm lụng từ sớm để kiếm cơm cho mấy đứa nhỏ. 22 tuổi, em lập gia đình, vợ em là người cùng xã. Cưới vợ được 1 năm, bố mẹ tách riêng, cho cái nhà trên nền đất hương hỏa. Xã cấp cho 3 sào ruộng cạn. Cuộc sống cứ dần dần trôi theo năm tháng, em làm thợ xây còn vợ em ngày ngày ra ruộng. Không dư dả gì nhưng cũng tạm ổn, cũng lo được con cái đến trường giống người ta. Em có 2 con, thằng đầu nếu còn sống thì năm nay đã 20 tuổi rồi, bác ạ! Đứa con gái năm nay được 17 tuổi… Đéo mẹ! Nếu không có vụ sân gôn sân ghiếc thì đời em có đến nỗi đâu! Đùng một cái, huyện thông báo thu hồi đất nông nghiệp để nhà đầu tư làm sân gôn. Dân mình thời nay ngu lắm bác à! Mất đất là coi như mất cái ao để mình câu cá, vậy mà họ mừng, họ quýnh cả lên vì sắp được cầm số tiền mà lâu lắm rồi họ không có, cả đời không mơ tới. Khắp nơi, từ đầu làng đến cuối làng, ở đâu cũng có người tụm ba tụm bảy bàn tán chuyện tiền nong. Người già thì lo xa hơn, ai đời còn sống sờ sờ ra đấy mà kêu thợ đến võ võ vẽ vẽ xây cho mình cái lăng mộ khi về với đất. Đám choai choai nam nữ bỏ bê công việc không đi làm gì hết, tóc đen, tóc đỏ, tóc vàng, tây không ra tây, ta không ra ta, người hay là ngợm chẳng ai hay. Tờ mờ sáng, chúng tụ tập ở những quán nhậu, say lên, đánh nhau toác đầu cả ra. Chiều về, lại ghi đề đóm, không ít gia đình tan nát vì cái nạn này bác ạ! Đứa nào cũng đòi bố mẹ mua xe loại xịn, phân khối lớn, ngày ngày chạy như bay trên những con đường gồ ghề để rồi tai nạn chập mặt. Nhiều hộ còn sắm cả những giàn karaoke công suất lớn, ngày nào, giờ nào cũng bật máy hát đinh tai nhức óc. Ở cạnh mấy hộ ấy, nhà nào có con đi học không tài nào học bài được. 
 Thằng con trai đầu của em mất cũng vì em chiều nó, đêm nào, đi đâu về, cũng đòi: “Ba mẹ mua cho con chiếc xe máy giống thằng Hùng con ông Dũng đầu làng đi, bố mẹ! Thua ai chứ con mà thua nó là con không chịu được!”. Lúc đầu, em một mực từ chối không mua, cái loại xe máy đó em biết, đã chạy là chạy như chớp, em sợ! Rồi có một lần nó dọa: “Nếu bố mẹ không mua cho con thì chiều nay đến đầu cầu ở huyện mà đem xác con về!”. Ôi chao, đời thuở nào con cái mà dọa, ăn nói với cha mẹ như thế, hả bác! Thằng này nó làm thật đấy, bác ạ! Em sinh ra nó, em biết mà! Hồi nó nhỏ, một lần bà cô nó để cái ví ở đâu đó, khi đi chợ thì phát hiện 100 nghìn trong ví không cánh mà bay, thế là một mất mười ngờ, nghi nó lấy trộm, nó làm toáng lên, xuống bếp lấy con dao phay hằng ngày thái thịt chạy lên nhà trên, mặt hằm hằm: “Cô bảo con lấy 100 nghìn của cô thì cô hãy giữ ngón tay của con làm kỷ niệm”, rồi hắn kê ngón tay trỏ lên bàn, đưa con dao sáng loáng bụp một cái nghe ngọt xớt. Ngón tay rơi xuống sàn nhà, máu ở bàn tay chảy ra lênh láng. Không nói không rằng, nó bỏ đi đâu đó 5 ngày không về… Thế là lần này, em phải chịu thua mà chiều nó. Chiếc xe máy mới toanh, mới lấy buổi sáng thì buổi chiều nguời ta báo tin nó bị tai nạn đầu cồng làng. Em đau lắm! Em ân hận mãi đến bây giờ. 
Rồi đến con vợ của em, từ khi mất ruộng, coi như mất nghề, thất nghiệp. Bởi ngoài việc đồng áng ra, vợ em chưa hề biết làm công việc gì cả. Người có nhà mặt tiền thì còn được, họ mở hàng tạp hóa hay quán hàng gì đó. Chứ nhà em ở cuối làng, trong ngõ nhỏ thì làm sao, hả bác! Cả gia đình chỉ dựa vào tiền công thợ xây của em thì làm sao mà ổn. Chừng độ một năm, tiền đền bù đất ruộng dần dần cạn. Gia đình em rơi vào cảnh khốn cùng. Nhiều đêm hai vợ chồng trằn trọc không sao ngủ được để bàn chuyện làm ăn, nhưng không tìm ra được lối thoát… Vợ em bảo: “Anh à! Hay anh để em làm giấy đi xuất khẩu lao động, chứ ở nhà thế này thì làm sao!”. Em hỏi: “ Qua bên ấy làm việc gì?” Vợ em đáp, tự tin: “Họ làm được thì mình làm được, em đi độ vài năm kiếm chút vốn liếng là về mở cái gì đó ở quê mà sinh sống”.  Vài tháng sau, vợ em qua Đài Loan làm osin. 
-Thế thím đi, kiếm được có khá không? Tôi hỏi. 
-Trong năm đầu tiên, tháng nào cũng gửi về cho em kha khá, đủ trang trải mọi việc trong gia đình và lo đứa con gái học lớp 10 tại trường huyện. Qua năm thứ 2 thì bặt vô âm tín. Em ở nhà lo lắng vô cùng, không biết vợ em bên kia xảy ra chuyện gì nữa. Hỏi những người đã từng qua bên ấy thì tất cả đều không biết. Em chán nản, đâm ra rượu chè từ đó. Rồi một ngày, có một cô gái ăn mặc có vẻ sang trọng tìm đến nhà em. Tưởng là cô ấy đem tin tức về vợ em đến cho em, em mừng lắm, mời cô ấy  vào nhà uống nước. “Xin lỗi, anh có phải là anh Sứt không ạ?” Em mừng rỡ: “Phải, tôi đây. Tôi là Sứt…” “Chị Liên (tên vợ em)  có gửi em cái này.” Rồi cô ấy đưa cho em một bọc vuông vuông được gói cẩn thận bằng một lớp giấy kèm theo một lá thư. Em chưa vội mở lá thư ra đọc, hỏi: “Chị làm ơn cho tôi hỏi vợ tôi bên đó thế nào rồi? Có chuyện gì mà mấy lâu nay tôi không liên lạc được?”  “Anh hãy mở lá thư này ra và đọc thì sẽ biết, tôi cũng mới gặp và biết chị Liên được mấy tháng nay thôi anh ạ!…Xin lỗi anh, tôi phải đi đây kẻo xe đang đợi ngoài cổng. Chào anh!” Cô ấy đi ra cửa. Ngoài đường, một chiếc ô tô bốn chỗ  đang bóp còi inh ỏi”… 
Đến đây, bỗng tôi vùng dậy, hỏi: 
-Thế trong thư nói gì? 
Sứt ngáp dài mấy cái, giọng bực tức: 
-Khốn nạn lắm, bác à! Trong thư, vợ em xin tha thứ vì đã phản bội em và con. Còn cái bọc giấy gói 50 triệu, vợ em bảo em hãy dùng số tiền này mà lo cho con ăn học. Hôm ấy, em cầm số tiền ấy, vung bay khắp nhà, như một thằng điên. Em hét toáng lên như thể muốn cho đất trời hiểu nỗi bất hạnh của cuộc đời em. 
Trong đêm thanh vắng của núi rừng âm u, tôi nghe rõ tiếng nấc của Sứt mà lòng quặn thắt. 
-Bác biết không? Sau đấy, em đâm ra đau ốm mấy tuần liền; nhờ đứa con gái nó động viên, em mới vượt qua được cú sốc ấy. Khốn nạn thật! Em đã tìm hiểu kỹ, hóa ra vợ em qua bên ấy chăm sóc cho một phụ nữ bị tai biến nằm liệt giường - vợ của một đại gia Đài Loan. Được một thời gian, bà ấy mất. Ông Đài Loan quay sang tán tỉnh vợ em - một người đàn ông mất vợ và một người phụ nữ xa chồng sống gần nhau. Vợ em đã ngả lòng. Oái oăm, phải không bác, nhưng đời là vậy! 
Rồi Sứt quay sang hỏi tôi: 
-Bác ngủ rồi à?

***

Sáng hôm sau, tôi thức dậy; ánh nắng xuyên qua mái lều đến chiếc giường tôi nằm. Những ngày tháng sau, đầu tôi cứ lẩn quẩn câu chuyện Sứt kể; dù lúc làm việc hay lúc nằm nghỉ, nó ám ảnh tôi hoài. Tôi càng thấy thương Sứt hơn. Trong công việc tôi thường an ủi, giúp đỡ, động viên để Sứt làm tốt công việc của mình. Tôi nhận thấy ở Sứt một con người tình cảm,  chân thật và có trách nhiệm. Mặc dù Liên, vợ Sứt phản bội tình nghĩa nhưng Sứt vẫn mãi thương và yêu vợ - đi đâu, Sứt cũng đem theo bức ảnh của vợ, thỉnh thoảng Sứt còn đem ra ngắm nghía, lau chùi.

***

Ở Lào được khoảng 6 tháng thì thời tiết chuyển sang mùa mưa, công việc xem ra khó khăn, không làm được, công ty đành thanh toán cho tất cả công nhân lao động để về quê. Tôi và Sứt phải chia tay. Kể từ đó, tôi không được gặp Sứt nữa. 
Thế rồi, một buổi sáng khi đang ngồi trong quán Café với mấy đứa bạn thân, bõng tiếng chuông điện thoại reo: 
- Alô, anh em mình lâu ngày, bác nhỉ? 
Tôi nhận ra tiếng của Sứt, mừng khôn xiết. 
-Ôi, lâu ngày thật! Thế bữa nay sao rồi, làm ăn có được không? 
-Tàm tạm thôi, bác ơi! Từ ngày về quê, em xác định rồi. Đời là vậy, không có gì là không vượt qua nếu ta có chí tiến tới. Em dành dụm và mua được một ao tôm, thành ra, bữa nay cũng ổn định rồi. À, báo cho bác biết, đứa con gái của em vừa mới lấy chồng tận Hà Nội đấy. Nó cũng ổn lắm. 
Tôi đáp, chúc mừng: 
-Thế thì chúc mừng chú mày nhé! Ông ngoại rồi còn gì!
-Mừng là mừng con gái có gia đình, nhưng bây giờ em vẫn chỉ sống một mình, buồn lắm bác à! À! Có chuyện này em muốn thưa với bác, nếu không chê thằng em Bắc kỳ nhiều chuyện này thì bác cho em làm thằng em kết nghĩa bác nhé! 
-Tưởng chuyện gì, hóa ra là chuyện tình cảm anh em. OK! Khi nào sắp xếp thời gian, anh em mình làm một bữa cho ra trò để mừng sự kiện trọng đại này chứ! Được không? 
Đầu máy bên kia cất tiếng cười thoải mái: 
-Vậy thì tốt quá đi, bác ơi! Thôi, chào bác nhé. Em sẽ thu xếp để vào với bác một chuyến. 
Sau câu chuyện này, tôi nghiệm ra rằng ở đời, niềm vui và nỗi buồn luôn song hành cùng nhau; và vui hay buồn cũng là phần của cuộc sống.

 Đông- 2017.
HOÀNG HỮU CHIỂU



READ MORE - NGƯỜI EM KẾT NGHĨA *Truyện ngắn của Hoàng Hữu Chiểu

Wednesday, May 3, 2017

CƠN LỐC XOÁY - Truyện ngắn của Hoàng Hữu Chiểu

VNQT trân trọng giới thiệu truyện ngắn do bạn  Hoàng Hữu Chiểu, con trai thầy Hoàng Đằng viết.




              CƠN LỐC XOÁY
                      Truyện ngắn của Hoàng Hữu Chiểu

Nồi cháo loãng trên mâm còn đang bốc khói nghi ngút. Nồi cháo chẳng có gì, chỉ một ít gạo nấu với mớ rau dền hắn hái ở vườn sau nhà; thế mà hắn và thằng em ăn ngon lành.
Lần này không phải là lần đầu tiên hai anh em hắn rau cháo qua bữa, mà đã rất nhiều lần như thế rồi.

Từ ngày mẹ mất, mới 16 tuổi, hắn trở thành trụ cột trong cái gia đình có hai nhân khẩu. Thằng em đã bước sang tuổi 12 mà thân hình như đứa trẻ lên bảy, mắc bệnh teo cơ bẩm sinh, chỉ biết lết lui tới trong ngôi nhà ọp ẹp. Gọi là nhà cho oai vậy thôi chứ có gì đâu! Vài ba miếng tôn fi-bờ-rô xi-măng làm mái, mấy cái cột gỗ bạch đàn sắp mục; chỉ cần một cơn gió hơi mạnh một tí là có thể đẩy cái gọi là nhà ấy đi tong.
Bữa trước, hắn có đi xin vào làm thử ở các khu công nghiệp trong tỉnh, nhưng người ta không nhận; lý do là hắn chưa đủ sức khỏe cộng thêm hắn không biết chữ. Hồi nhỏ, hắn có đi học hết lớp 3 trường làng, sau đó, hoàn cảnh khó khăn, hắn phải bỏ học. Hắn tái mù chữ dần theo thời gian.
Rồi hắn ra chợ xin làm một tay sai vặt cho các quán ăn; hắn bưng dọn tô, chén, đũa, muỗng ... cho các quầy trên tầng hai của chợ. Thu nhập đã ít ỏi lại không ổn định, tùy lòng tốt của chủ mướn – nhiều lắm cũng chỉ vài ba chục ngàn đồng mỗi ngày.
Hắn chẳng có người thân ở đây; lai lịch của hắn phức tạp lắm. Hai người thân duy nhất trên đời đều bỏ hai anh em hắn đi rồi; bố hắn mất vì sốt xuất huyết cách đây mấy năm; mẹ hắn cũng mất do căn bệnh quái ác - ung thư vú - gần đây thôi.
       
Qua lời kể của mẹ, hắn có gốc gác ngoài Bắc. Những năm sau đất nước giải phóng, mẹ hắn tham gia đoàn thanh niên xung phong đi kinh tế mới vào Nam, khai hoang đồi núi, lập ra những nông trường; mỗi nông trường được giao một vùng đất nhất định. Nông trường của mẹ hắn chuyên trồng hồ tiêu, nằm ở miền Tây một tỉnh nhỏ. Trong nông trường, có một số nam thanh niên làm cán bộ nòng cốt.
Năm xảy ra chiến tranh biên giới phía Bắc và biên giới Tây Nam, số nam thanh niên ấy phải cầm súng, lên đường, người thì ra lại miền Bắc, người thì vào Tây Nam chiến đấu; thành ra số nữ thanh niên ở lại, trong đó có mẹ hắn, khó lấy được chồng. Những lá thư của ông ngoại hắn từ ngoài quê gửi vào không bao giờ thiếu mấy chữ: “ Khi nào cô cho bà con ngoài này ăn trầu đây, lớn rồi còn gì? Định làm bà cô chắc!”. Những dòng chữ ấy mẹ hắn cảm nhận như một áp lực.
Rồi mẹ hắn gặp một thanh niên cũng quê ngoài Bắc vào đây trốn lính. Gã không có nghề gì ổn định cả, vạ vật ở các khu chợ quanh vùng, “đầu trộm đuôi cướp”, dân địa phương thường gọi nghề này là nghề “cà lê”. Với vẻ bên ngoài coi được - cao ráo, điểm nét phong trần, gã đã giáng xuống mẹ hắn cú sét ái tình nhanh lẹ dù chỉ mới gặp nhau đôi ba bữa, chưa đủ thời gian tìm hiểu ngọn nguồn. Hai người làm lễ cưới; lễ cưới chỉ có họ nhà nữ, không có họ nhà nam; gã nói dối là mồ côi, chẳng còn ai ngoài quê cả.
Vài tháng sau, mẹ hắn mới biết gã là một tên lưu manh; mẹ hắn cũng đành nhắm mắt chấp nhận tất cả; biết làm sao giờ! Đời như một cơn lốc xoáy; đã lọt vào tâm của vùng xoáy đó, người ta khó mà thoát ra nếu không được trang bị đủ bản lĩnh …
Rồi chẳng bao lâu mẹ hắn cũng theo cái nghề của gã, duyên nợ kiếp trước chăng? Ngày này qua ngày khác, hai người cùng nhau hành nghề từ chợ này sang chợ khác, khi thì kiếm được chút đỉnh, khi thì về không. Ít lần toàn thân hai người bê bết máu, mặt mũi tím tái bầm giập, ấy là do bị người ta bắt được và đánh.
Ở nơi cư trú, dù thằng em hắn tật nguyền cộng thêm gia sản chẳng có gì - vuờn tược không, nương rẫy cũng không, nhà cửa chả ra gì, chính quyền cũng không xếp hộ hắn nằm vào diện hộ nghèo. Người ta bảo: “Nghèo gì mà nghèo, nghèo thì phải lo quyết chí làm ăn, ai đời cứ đi ăn trộm, ăn cắp; khi nào bỏ nghề, mới xét duyệt cho hộ nghèo.” Nghe vậy, ba mẹ hắn cũng suy nghĩ dữ lắm, nghiệt nỗi không bỏ nghề “cà lê” được! Họ đã thử tìm công ăn việc làm hướng thiện - chuyển qua bán bánh mỳ ở đầu chợ nhưng chẳng có khách ghé mua. Nhiều người đi qua còn ngoái đầu lại, ánh mắt coi khinh, dè bỉu: “Eng ả này hoàn lương chắc? Ai dám cược  ngày nay có “bão” không?” Chắc họ tởm lợm cái quá khứ của ba mẹ hắn. Cuối ngày, ba mẹ hắn đành thu dọn hàng, chất lên xe, đẩy về nhà; thế là cả nhà phải ăn bánh mỳ trừ bữa, không những một bữa mà nhiều bữa.
      
Mẹ hắn mang bệnh nằm hấp hối trên giường rên rỉ - cơn đau đang dày vò thân thể từng ngày; ngoài trời, mùa đông đang đến gần, gió thổi từng cơn tung tấm phên rách che cửa. Ếch nhái, côn trùng thi nhau kêu râm ran. Một mùa đông dự báo cho anh em hắn những điều chẳng lành. Thằng em chẳng hiểu chuyện gì, cứ lết đến bên mẹ đòi kẹo như một thói quen; ngày chưa mắc bệnh, dù túng thiếu, mỗi lần đi chợ về, mẹ hắn không bao giờ quên mua cho 2 anh em hắn khi thì vài cái kẹo mút, khi thì vài gói bánh ram giòn vàng rộm.
Giờ này, mẹ hắn nằm đó, lim dim mắt, thằng em chưa đủ nhận thức để hiểu ra vấn đề. Chỉ có hắn đã rõ; hắn biết mẹ không thể sống với anh em hắn lâu nữa. Hắn thương mẹ vô cùng. Một viễn cảnh xấu xa đang dần vẽ ra trước mắt hắn. Hắn như con chim bị tổn thương trong cơn bão lớn. Bầu trời trước mắt hắn tối sầm lại; có lẽ nay mai, con chim ấy chẳng biết bay về đâu giữa không trung mênh mông, và mênh mông!
- Mẹ đau chỗ nào, hở mẹ? Chắc mẹ mệt lắm, phải không? Con phải làm gì đây, hả mẹ?
Mẹ hắn nằm im, chẳng nói chẳng rằng; hai hàng nước mắt tuôn dài trên hai gò má xương xẩu. Bên ngoài, trời có mưa; bỗng mẹ hắn nói trong hơi thở hổn hển: “Hai anh em đến đây mẹ dặn!” Khi anh em hắn đến gần, mẹ hắn nói, dáng cố hết sức, giọng đứt quãng: “Các con ơi! Ba mẹ có lỗi với các con nhiều lắm. Sinh các con ra mà không lo được cho các con như người ta, để các con sống kham khổ, không học, không hành gì cả; không chỉ thế, ba mẹ còn để lại cho con “điều tiếng” với thiên hạ nữa. Mẹ thật xấu hổ với các con.”. Rồi mẹ hắn nhìn chăm chăm vào hắn, nói tiếp: “Con phải cố gắng lên nhé! Đứa em tật nguyền của con quá tội nghiệp; con hứa với mẹ là đừng làm cái nghề như ba mẹ, nghe con! Hãy kiếm một cái nghề gì đó lương thiện mà làm để nuôi em con thay mẹ và ba.” Rồi mẹ hắn nấc lên từng tiếng: “Hứa với mẹ đi, con… Con hứa với mẹ đi, con!”
Hắn ôm choàng lấy mẹ, khóc toáng lên: “Mẹ ơi! Đừng bỏ con đi! Con hứa với mẹ, con hứa với mẹ.”
Hắn quỳ xuống bên chiếc giường ọp ẹp. Mẹ hắn nằm bất động, hai mắt nhắm chưa khít.
Mẹ hắn ra đi mang theo một ước mong mà ai trên đời này cũng ước: con cái sẽ sống lương thiện, được xã hội yêu thương. Trời vẫn mưa bên ngoài, hình như càng lúc càng nặng hạt.
      
Thời gian cứ trôi. Cuộc sống của hai anh em hắn lẩn quẩn, không lối ra. Nghe theo lời mẹ dặn, hắn cố xoay xở mua một chiếc xe máy, chạy xe ôm. Được đồng nào, hắn phải trang trải nhiều chi tiêu, nào là cơm gạo, nào là thuốc men cho thằng em tật nguyền; “tiền vào nhà khó như gió vào nhà trống”.
Mấy hôm nay, thằng em lại ốm, chẳng nuốt được muỗng cháo nào. Hồi sáng, thằng em tự dưng đòi ăn phở. Hắn ra đầu đường mua một tô phở hai mươi nghìn, với lại, ghé tiệm thuốc tây mua một vỉ thuốc ba mươi nghìn. Túi sạch trơn, hắn nghĩ chiều xách xe tới đầu ngõ, chờ khách, chạy, chắc cũng kiếm được chút đỉnh. Ai ngờ cơn đau của thằng em trở nặng, đành chịu! Thằng em bất ngờ nói với hắn một câu mà như dao cứa vào tim gan: “Bây giờ ba mẹ ở chốn nào, hở anh? Sau này, em chết có được gặp ba mẹ không, hở anh?”.Hắn đe: “Bậy nào, ngày mai anh sẽ đưa em đi bệnh viện, mà bệnh viện trung ương hẳn hoi. Ở đó, bác sĩ giỏi lắm, sẽ chữa cho em lành bệnh. Về nhà, em tha hồ chạy nhảy, nô đùa với đám bạn nhé!”. Em hắn thoi thóp cự nự: “Em có bạn đâu!”.Hắn ngớ ra; hắn quên là thằng em chưa hề lết ra khỏi căn nhà, thành ra, không có đứa bạn nào từ khi sinh ra đến giờ.
Đôi ba lần kẹt tiền trước đây, hắn đã thử đi “vay nóng”; nhưng chẳng ai cho vay dù là một cắc. Thấy hoàn cảnh của hắn, người ta sợ sau này hắn không trả nổi.
Ngồi ở góc nhà, hắn thở dài ... ngao ngán. Hắn biết thằng em hắn  ốm đợt này nặng rồi. Hắn nhìn quanh coi cái gì bán được không, chẳng có cái gì ngoài chiếc xe máy - đồ nghề mưu sinh của hắn. Hắn cảm thấy xấu hổ với thằng em, câu nói hồi nãy vô tình như một lời hứa của hắn với thằng em đang co ro như con mắm lẹp mà e không giữ được.
Làm sao bây giờ? Bây giờ và ngày mai, thời gian chỉ còn mấy tiếng đồng hồ nữa thôi, tiền đâu đem em đi bệnh viện đây? Hắn chắp hai tay sau lưng, đi lui đi lại, vẻ suy nghĩ. Hắn quay mặt đi để đưa tay lên quệt nước mắt vì sợ thằng em nhìn thấy.
Hắn nảy ra một ý định táo bạo trong đầu. Rồihắn đốt một bó hương to cắm lên bàn thờ của ba mẹ, miệng lẩm bẩm: “Con xin lỗi ba mẹ, con chỉ làm một lần này thôi! Con hứa với ba mẹ là chỉ một lần này thôi. Bây giờ, con không còn cách nào để cứu em con cả. Ở chin suối, ba mẹ tha thứ cho con.” Hắn vừa khấn xong, trời bắt đầu tối. Trời hình như giúp hắn một tay, đổ mưa to, sấm chớp lia lịa, gió thổi ào ào. Thời tiết thế này dễ làm cho thiên hạ ngồi yên trong nhà, không dám ra ngoài; hắn bước ra ngôi nhà nhỏ, đi như một kẻ mộng du, không chủ định về một hướng nào cả. Hắn cứ đi, cứ đi như thế một hồi lâu; những ngôi nhà xung quanh có vẻ yên lặng, hắn dừng lại ở một ngã ba lúc nào không hay, nhìn qua bên kia đường, ở đó ngoài sân một ngôi nhà cấp bốn đã cũ, một chiếc xe đạp điện đang dựng; nhìn thấy, hắn thắc mắc: không biết gia chủ quên đem vào hay đó là một thói quen. Hắn tiến lại gần. Ồ, hay quá! Cổng nhà không khóa. Hắn đi lom khom về phía một gốc tiêu rậm, nấp sát vào, quan sát, lắng nghe; chỉ có tiếng côn trùng kêu rả rích. Hắn bước nhẹ đến chiếc xe đạp điện, một tiếng nói đàn ông làm hắn giật thót người. Tiếng nói không to, không nhỏ đủ cho hắn nghe rõ mồn một:
- Mẹ nó coi sắp xếp ngày mai đem con nhỏ đi viện chứ nó sốt cao lắm, không tiền thì qua hỏi mụ Năm béo mà vay một ít; đem đi chứ để ở nhà lâu không ổn.
Tiếng người đàn bà đáp lại, thất vọng:
- Tui đã thử vay rồi mà không được; cái món cũ mình đã trả đâu mà đòi vay nữa. Mà giả sử họ cho vay thì được mấy đồng đây? Bệnh tim bẩm sinh phải mổ mới lành được, mổ tốn vài chục triệu chứ ít đâu!
- Thế thì làm sao bây giờ?” Tiếng đàn ông hét to, hỏi vặn.
- Ơ hay, ông nạt ai vậy? Để từ từ tôi tính!
Như một luồng điện cao thế chạy khắp cơ thể gầy guộc, hắn cảm thấy nặng cái đầu với một mớ suy nghĩ lông bông - hành động ngay hay dừng lại; một mớ âm thanh hỗn tạp, chen nhau, xô đẩy qua lại làm cho hắn mệt nhừ: “Thằng kia, không được hành động, phải dừng lại ngay”; “hành động đi, thằng em mày cũng sắp chết ở nhà kìa!”.
Trong trạng thái vô thức, hắn vùng chạy, chạy không định hướng như khi đi; con đường sao gồ ghề quá, hắn bước thấp, bước cao; sấm chớp bỗng lóe lên liên hồi, mưa vẫn không ngớt.
       
Sáng hôm sau, nhà hắn vang lên thứ âm thanh mà chẳng ai muốn nghe - tiếng búa đóng đinh vào gỗ va vào nhau lốc cốc. Thằng em hắn đã qua đời trong đêm. Chiếc quan tài, nghe đâu, có được nhờ ông thôn trưởng vận động một nhà hảo tâm cùng huyện. Cũng có một vài người hàng xóm qua giúp hắn, họ bảo nhau: “Nghĩa tử là nghĩa tận mà!”.
Từ rày, hắn trở thành người cô đơn đúng nghĩa.
Trời vào đông, từng cơn mưa, từng luồng gió như mang về hơi lạnh hơn.

                                                           Hoàng Hữu Chiểu
                                                                 23/04/2017

READ MORE - CƠN LỐC XOÁY - Truyện ngắn của Hoàng Hữu Chiểu