Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Tuesday, January 27, 2026

CÀ PHÊ CHIỀU BÊN SÔNG ĐỒNG NAI - Thơ Jos. Nhật Quang

 

Nhà thơ Jos Nhật Quang

Cà Phê Chiều Bên Sông Đồng Nai

                          Kính tặng nhà báo Lương Minh

 

Bóng chiều nghiêng

nắng trải vàng trên sóng nước

Giọt cà phê rơi như nhịp thở thời gian

Bên bờ sông gió thầm thì hát

Lòng dâng tràn niềm vui phút gặp nhau

 

Ly cà phê thơm sóng sánh bao kỷ niệm…

Gợi ta nhớ những ngày xưa thân ái

Đã mấy mùa đi qua

Còn thắm mãi trong tim

trong hơi ấm chiều nay nắng nhạt

 

Chiều bên sông Đồng Nai

thoang thoảng hương lan dịu mát

ấm áp từ những nụ cười

từ ánh nhìn thân thương

từ  những bàn tay từng nắm mà nay đã xa

 

Phút chia ly - gió nhẹ nhàng qua hàng ghế

hương cà phê thoảng bay theo gió mây

một mình - ta ngồi lại

nghe lòng mình lặng lẽ trôi

theo dòng sông

về phía hoàng hôn - không trở lại.

 

                               Jos.Nhật Quang

                                                   nhatquang18@gmail.com

 

READ MORE - CÀ PHÊ CHIỀU BÊN SÔNG ĐỒNG NAI - Thơ Jos. Nhật Quang

CHIỀU RƠI PHẬN NGƯỜI - Thơ Trần Thị Lan Anh

Nhà thơ Lan Anh

 

CHIỀU RƠI PHẬN NGƯỜI

 

Chiều rơi xuống đáy phận người
Bao nhiêu váy cưới rã rời gió mưa
Người đi quen nẻo gió lùa
Bỏ sau lưng mấy đời thừa đợi mong

Có người chửa cả mùa đông
Có người vá víu tấm chồng đã phai
Có người tóc rụng đêm dài
Chờ tin người cũ như ai chờ mò

Đàn ông quen những chuyến đò
Bến lạ nào cũng hẹn hò trăm câu
Đàn bà quen một nhịp câu
Đau sâu một chút là đau cả đời

Có người bưng kín nụ cười
Đêm ôm gối chiếu đẫm lời thề chôn
Có người đi giữa phố đông
Mà hồn lạc bước quên không lối về

Chiều ai chôn mấy lời thề
Chôn luôn tuổi ngọc, chôn mê muội tình
Có người một kiếp lặng thinh
Chưa từng oán hận, chỉ mình xót xa

Người thì cưới vội người ta
Để quên một kẻ hôm qua phụ mình
Người thì hoá kẻ vô tình
Để khỏi đau tiếp đoạn tình dở dang

Người thì trụ giữa lỡ làng
Làm mẹ đơn độc giữa ngàn cơn mưa
Thương nhất những kẻ ngày xưa
Yêu ai cũng mặc nắng mưa cuộc đời

Chiều trôi qua những phận người
Ai còn giữ nổi một lời yêu xưa
Chỉ còn gió thổi như mưa
Rơi vào những kẻ từng thừa niềm tin.

Lan Anh, 

Aschaffenburg, Germany

Email:  Wirtschaftskanzlei@dipl-kauffrau-tran.de

 


 

 

READ MORE - CHIỀU RƠI PHẬN NGƯỜI - Thơ Trần Thị Lan Anh

TOẠC - Thơ Lê Thi

 


TOẠC

 

Con nướng củ khoai giêng hai

Thoảng mùi thơm của mẹ

Giọt nước mắt giấu sau ngày xuân lặng lẽ

Mẹ về trước ngõ rét Nàng Bân

 

Con nướng con cá rô tháng mười

Thơm béo ngậy

Gắp cái đầu lại nhớ “nhường cha”

Giọt nước mắt nhạt nhòa

Đường cày toạc sương mai của bố!

                                         Lê Thi

READ MORE - TOẠC - Thơ Lê Thi

SÔNG TUYẾN - KHI LỊCH SỬ ĐI QUA TÂM THỨC CON NGƯỜI - Nguyễn Văn Trình

 


 

Sông tuyến 

- Khi lịch sử đi qua tâm thức con người

 

Nhà giáo - Nhà thơ: Nguyễn Văn Trình

 

Sinh ra và lớn lên bên dòng sông giới tuyến Bến Hải - Hiền Lương (Vĩnh Thành, Vĩnh Linh, Quảng Trị), mảnh đất mang trong mình tính biểu tượng cao nhất của lịch sử chia cắt dân tộc, chiến tranh cách mạng và khát vọng hòa bình, Văn Xương được giới nghiên cứu và bạn đọc đánh giá là một trong những gương mặt tiêu biểu của văn xuôi đương đại Việt Nam. Với hành trình sáng tác bền bỉ, miệt mài và giàu nội lực, ông đã để lại những dấu ấn đáng kể qua nhiều tác phẩm thuộc các thể loại khác nhau: Hoa gạo đỏ bên sông (tập truyện ngắn, NXB Hội Nhà văn, 2006); Hồn trầm (tập truyện ngắn, NXB Lao động, 2008); Búp lửa (tập thơ, NXB Thuận Hóa, 2011); Mạch nguồn tuyền lâm (tập bút ký, NXB Thuận Hóa, 2020); Lỗ thủng (tập truyện ngắn, NXB Văn học, 2021); Những chặng bay ký ức (tập truyện ngắn, NXB Quân đội, 2024); Thượng nguồn (tập truyện ngắn, NXB Quân đội, 2025) và đặc biệt là Sông tuyến (tiểu thuyết, NXB Hội Nhà văn, 2025).

Dù ở thể loại nào - truyện ngắn, thơ, bút ký hay tiểu thuyết - sáng tác của Văn Xương vẫn nhất quán ở chiều sâu nhân văn, ở khả năng phản ánh tinh tế đời sống con người cùng những trăn trở của thời đại. Ông không chỉ kể chuyện quá khứ, mà luôn đối thoại với hiện tại, góp phần làm giàu thêm diện mạo và chiều sâu tư tưởng của văn xuôi Việt Nam đương đại.

Việc được sống và trải nghiệm trong không gian từng là giới tuyến quân sự giữa hai miền đã góp phần hình thành ở Văn Xương một cái nhìn hiện thực đa chiều nhưng không cực đoan. Thay vì dừng lại ở sự phân định rạch ròi đúng - sai hay bạn - thù, văn xuôi của ông luôn chú trọng đến phương diện tâm lý, đạo đức và những tổn thương tinh thần của con người trong bối cảnh lịch sử dân tộc bị chia cắt Bắc - Nam đầy nghiệt ngã. Trong dòng chảy ấy, tiểu thuyết Sông tuyến nổi lên như một tác phẩm tiêu biểu, kết tinh đầy đủ tư duy tự sự, bản lĩnh nghệ thuật và chiều sâu tư tưởng của nhà văn. Nếu nhiều tiểu thuyết chiến tranh trước đây chủ yếu tập trung khắc họa chiến công, lý tưởng hoặc những nhân vật mang tính đại diện ý thức hệ, thì Sông tuyến lại chuyển trọng tâm sang bi kịch tâm lý của con người cá nhân khi bị lịch sử phân rẽ, buộc phải đứng về hai phía đối nghịch.

Sông tuyến có thể được xem như một diễn ngôn lịch sử mang chiều sâu tâm lý hiếm thấy. Bối cảnh tiểu thuyết trải dài từ sau Hiệp định Giơnevơ (Genève) năm 1954 đến tận thời hậu chiến, bao trùm những biến động lớn như cải cách ruộng đất ở miền Bắc, cuộc chiến tranh chia cắt hai miền và những hệ lụy kéo dài sau năm 1975, đặc biệt là khát vọng hòa hợp, hòa giải dân tộc. Lịch sử trong Sông tuyến không được tái hiện theo lối biên niên, sự kiện thuần túy, mà được nội tâm hóa thông qua số phận và những chấn động tâm lý của từng nhân vật. Ngay từ nhan đề, “sông tuyến” đã mang tính biểu tượng kép: vừa là đường ranh giới địa - chính trị, vừa là đường ranh giới tâm lý, nơi con người bị đặt vào tình thế phải lựa chọn căn cước, niềm tin và chuẩn mực đạo đức sống. Trong không gian nghệ thuật ấy, các nhân vật không chỉ đối diện với kẻ thù bên kia chiến tuyến, mà còn phải đối diện với chính mình - với những xung đột nội tâm âm ỉ, dai dẳng như một vết thương tinh thần khó có thể chữa lành.

Trung tâm của tiểu thuyết là hình ảnh một gia đình nhỏ gồm hai vợ chồng và bốn người con được xây dựng như một mô hình thu nhỏ của lịch sử chia cắt dân tộc Việt Nam trong chiến tranh và hậu chiến. Mỗi con người đại diện cho một hướng vận động khác nhau của lịch sử, song điểm chung là tất cả đều bị đẩy vào trạng thái tâm lý phức tạp, dồn nén và đầy tổn thương do hoàn cảnh lịch sử khắc nghiệt tạo nên.

Nhân vật người cha trong gia đình ấy vốn chỉ là một thầy thuốc lương thiện, sống bằng nghề chữa bệnh cứu người, nhưng lại bị đội cải cách ruộng đất quy kết là địa chủ, phản động. Ông bị kết tội chỉ vì có con gái lấy chồng là lính ngụy chạy vào Nam sinh sống, có con trai tham gia vệ quốc quân nhưng bị vu oan là làm chỉ điểm cho địch. Sau những vụ án oan nghiệt của ông thầy giáo Chương hiền lành chỉ biết gắn đời mình với phấn trắng bảng đen, và của ông Lê Nguyên - một cán bộ cách mạng bị quy chụp là trở cờ, phản động - người cha ấy cũng bị tòa án nhân dân tuyên án tử hình.

Biết mình mang án tử oan, trong một đêm tối, ông buộc phải cùng con trai bí mật vượt sông tuyến vào Nam để tạm lánh nạn. Thế nhưng, dù phải rời bỏ quê hương trong hoàn cảnh nghiệt ngã, lòng ông chưa bao giờ nguôi hướng về mảnh đất nơi mình sinh ra và gắn bó cả đời. Khi nghe tin tình hình quê nhà có phần lắng dịu, ông lại liều mình bí mật vượt sông tuyến trở ra Bắc, dù biết rằng bản án oan kia vẫn còn treo lơ lửng trên đầu. Qua số phận nhân vật này, Sông tuyến khắc họa một cách sâu sắc tâm thế của người dân vùng giới tuyến: dù bị đẩy vào những hoàn cảnh oan khuất đến tận cùng, họ vẫn một mực hướng về quê hương, về cách mạng và về Bác Hồ - như một niềm tin tinh thần son sắt, khó gì có thể dập tắt.

Nhân vật Thủy - người con dâu trong gia đình (vợ Quang) - là hình ảnh tiêu biểu cho kiểu số phận sống trong tâm thế cam chịu nhằm sinh tồn thầm lặng giữa hoàn cảnh lịch sử chia cắt Nam - Bắc. Có chồng đi lính ngụy, Thủy lựa chọn một cách tồn tại ít va chạm, tránh né xung đột trực diện về ý thức hệ. Tuy nhiên, chính sự lặng lẽ ấy lại che giấu một đời sống nội tâm bị giằng xé kéo dài. Ở Thủy không có những xung đột ý thức hệ bộc lộ ra bên ngoài, nhưng lại tồn tại một dạng xung đột âm thầm, dai dẳng, nơi ký ức mất mát và chia lìa luôn trở đi trở lại như một ám ảnh khó nguôi. Thủy mang trong mình nỗi đau của những con người bị chiến tranh tước đoạt quyền được yêu thương trọn vẹn: “Anh có nhớ không, hai dòng sông từng là chứng nhân của một thời chia cắt - Bến Hải và Thạch Hãn? Một dòng sông từng là lằn ranh nghiệt ngã, chia đôi đất nước, chia lìa bao gia đình, bao đôi lứa yêu nhau...” (Sông tuyến, tr. 260).

 Qua nhân vật Thủy, Văn Xương khắc họa một dạng bi kịch ít được chú ý trong văn học chiến tranh: bi kịch của những con người không cầm súng, không trực tiếp tham gia vào cuộc chiến, nhưng chiến tranh lại chiếm đoạt đời sống tinh thần của họ một cách triệt để. Đây là một kiểu nhân vật mới trong cách viết của Văn Xương, khác biệt rõ nét so với mô hình nhân vật chiến tranh - hậu chiến quen thuộc trước đó, vốn thường tập trung vào hành động và lựa chọn mang tính sử thi.

Nhân vật Minh người con trai thứ hai trong gia đình, anh là người lính vệ quốc quân thời kháng chiến chống Pháp. Nhân vật này tiêu biểu cho xung đột giữa lý tưởng cách mạng và những tổn thương tinh thần do bi kịch gia đình để lại. Ở giai đoạn đầu, tâm lý Minh mang tính nhất quán, hướng ngoại đặt cái “chúng ta” lên trên cái “ tôi” nhưng do hoàn cảnh lịch sử để lại, diễn biến tâm lý của nhân vật ngày càng đa chiều, trải nghiệm. Minh từ một chàng trai lạc giữa rừng sâu, anh đã tìm thấy lý tưởng và dân tộc: “Từ một chàng trai lạc giữa rừng sâu, tôi đã tìm thấy con đường của mình - con đường của lòng tin, của lý tưởng và của dân tộc” (Sông tuyến, Tra. 82). Minh khẳng định sự lựa chọn của mình là đúng đắn, và sẽ mãi trung thành với lý tưởng cách mạng. Sau chiến tranh, dù mất đi một phần thân thể, Minh vẫn tự hào vì đã hiến dâng cuộc đời cho Tổ quốc.    

Nhân vật Quang - người con trai thứ ba - theo cha vượt sông vào Nam sau biến cố gia đình, được học hành bài bản và trở thành sĩ quan Đà Lạt của quân đội Sài Gòn. Quang là nhân vật có diễn biến tâm lý phức tạp nhất trong gia đình, đại diện cho bi kịch của những con người đứng về phía thua cuộc của lịch sử. Ánh mắt trĩu nặng u uẩn của người cha bị kết án oan trong cải cách ruộng đất đã in dấu sâu sắc vào ký ức tuổi thơ của Quang: “Tôi nhìn sang cha. Ông thở dài, rất khẽ. Đôi mắt thăm thẳm, trĩu nặng những nỗi niềm mà tôi, một đứa trẻ, chỉ có thể cảm nhận bằng bản năng mơ hồ…” (Sông tuyến, tr. 16).

Từ khoảnh khắc ấy, Quang cảm nhận rõ sự rạn vỡ và chia lìa của gia đình. Khác với nhiều nhân vật trong tác phẩm mang diễn biến tâm lý khá đơn tuyến, Quang tồn tại trong trạng thái xung đột nội tâm phức hợp. Bi kịch của anh không chỉ nằm ở lựa chọn ban đầu đã trở nên vô nghĩa khi lịch sử sang trang, mà còn ở chỗ quá khứ không thể xóa bỏ hoàn toàn, trong khi tương lai lại mơ hồ và khó định vị. Những tổn thương chiến tranh để lại trên thân thể, cảm giác mặc cảm, tự vấn và bị bỏ rơi khiến Quang sống dai dẳng trong nỗi buồn của ký ức, dù đã được gia đình dang tay an ủi để xây dựng một đời sống mới. Qua nhân vật này, Văn Xương đặt ra một câu hỏi nhạy cảm nhưng cần thiết: trách nhiệm của lịch sử đối với những con người thua cuộc là gì? Đây cũng là một trăn trở xuyên suốt trong Sông tuyến, gắn liền với khát vọng hòa hợp và hòa giải dân tộc.

Nhân vật Giang, người em gái út. Sau biến cố của gia đình vẫn ở lại quê nhà, với mặc cảm bản lý lịch bị vu oan là con địa chủ, phản động, nhưng Giang vẫn hăng say công tác: Vừa lao động, vừa chiến đấu. Giang là nhân vật tiêu biểu cho ý thức phân mảnh và khát vọng hòa giải. Nhân vật Giang có chiều sâu triết luận rõ nét. Sinh ra và trưởng thành trong hoàn cảnh lịch sử bị chia cắt, Giang không sở hữu một trạng thái tâm lý ổn định, mà luôn sống trong trạng thái tâm lý bị phân mảnh. Giang không đứng về phía nào trong gia đình, mà nổ lực hiểu cả hai phía. Chính trạng thái tâm lý này khiến nhân vật rơi vào trạng thái cô đơn hiện sinh, nhưng đồng thời cũng mở ra khả năng hòa hợp, hòa giải trong gia đình: “Chiến tranh đã kết thúc, nhưng hậu quả của nó vẫn len lỏi vào từng ngõ ngách làng quê, từng mái nhà , từng số phận. Nó không chỉ để lại những vết thương trên thân thể, mà còn hằn sâu vào lòng người. Gia đình tôi cũng không ngoại lệ. Dù từ hồi chúng tôi còn nhỏ, mẹ tôi vẫn thường bảo: “Anh em ruột thịt, có chi mà không bỏ qua cho nhau được”. (Sông tuyến, Tr. 241). Giang là nơi hội tụ của ký ức gia đình và ký ức lịch sử dân tộc, là điểm tựa để tiểu thuyết hướng đến một thông điệp cốt lõi: Khát vọng và khả năng hòa hợp, hòa giải dân tộc sau chiến tranh.

Có thể khẳng định rằng, thành công nghệ thuật của tiểu thuyết Sông tuyến trước hết nằm ở cách tổ chức kết cấu truyện chặt chẽ, nghệ thuật xây dựng hệ thống nhân vật điển hình và việc sử dụng giọng kể tiết chế, tạo nên những cao trào kịch tính không bằng hành động bề mặt mà bằng các xung đột nội tâm âm ỉ. Cách tiếp cận này phù hợp với xu hướng tiểu thuyết tâm lý của văn học đương đại, đồng thời tạo nên giá trị bền vững cho tác phẩm. Về phương diện tư tưởng, Sông tuyến hướng đến khát vọng hòa hợp, hòa giải dân tộc không như một khẩu hiệu chính trị, mà như một tiến trình tâm lý - đạo đức lâu dài và phức tạp. Văn Xương cho thấy: khi chiến tranh đã kết thúc trên bản đồ, nó vẫn tiếp tục tồn tại trong tâm thức con người; vì thế, hòa hợp và hòa giải chỉ có thể bắt đầu khi mỗi cá nhân được thừa nhận như một chủ thể mang trong mình đau khổ, ký ức và phẩm giá.

Trong tiểu thuyết Sông tuyến, Văn Xương không chỉ tái hiện một giai đoạn lịch sử đầy biến động, mà còn thực hiện một cuộc “giải phẩu tinh thần” đối với con người Việt Nam trong và sau chiến tranh, thông qua bi kịch của một gia đình. Tiểu thuyết đã đặt ra những câu hỏi lớn căn bản về sự lựa chọn, trách nhiệm và khả năng hàn gắn, nối chiều sâu tâm lý với tư tưởng nhân văn sâu sắc. Với những đóng góp ấy, Sông tuyến xứng đáng được đánh giá là một tác phẩm có vị trí quan trọng trong dòng tiểu thuyết lịch sử - hậu chiến của văn học Việt Nam đương đại.

 

           Viết tại Phường Nam Đông Hà, ngày 20/1/2026.

                                                                           

                                                        NVT    

 Tác giả NGUYỄN VĂN TRÌNH

 Email: nguyenvantrinh58@gmail.com

Đ/C: 65B Đường Chu Mạnh Trinh, Phường Nam Đông Hà, tỉnh Quảng Trị       

READ MORE - SÔNG TUYẾN - KHI LỊCH SỬ ĐI QUA TÂM THỨC CON NGƯỜI - Nguyễn Văn Trình

NHỮNG NĂM BÍNH NGỌ ĐẶC BIỆT TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM - Vũ Thị Hương Mai

 

Ảnh Trúc Dương chụp tại Quảng Trị

Vũ Thị Hương Mai

NHỮNG NĂM BÍNH NGỌ ĐẶC BIỆT

TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM

 

Trong lịch sử Việt Nam, các năm Bính Ngọ (chu kỳ 60 năm một lần) thường gắn liền với những bước ngoặt quan trọng về chính trị, quân sự và văn hóa. Dưới đây là những năm Bính Ngọ tiêu biểu.

 

     Năm Bính Ngọ 946:

Thời kỳ hậu Ngô Quyền

Sau khi Ngô Quyền mất (944), năm 946 là giai đoạn đất nước rơi vào tình trạng bất ổn do cuộc tranh giành quyền lực giữa các con của Ngô Quyền và Dương Tam Kha.

Đây là giai đoạn mào đầu cho loạn 12 sứ quân, buộc lịch sử phải chờ đợi sự xuất hiện của Đinh Bộ Lĩnh để thống nhất lại giang sơn vào năm 968. 

Các đặc điểm nổi bật trong năm này bao gồm:

1. Sự bất ổn của bộ máy trung ương

Dương Tam Kha chiếm ngôi: Sau khi Ngô Quyền mất, Dương Tam Kha (anh/em vợ Ngô Quyền) đã cướp ngôi của cháu là Ngô Xương Ngập. Năm 946 nằm trong giai đoạn Dương Tam Kha xưng là Dương Bình Vương, trực tiếp điều hành triều đình tại Cổ Loa.

Mâu thuẫn nội tộc: Sự tiếm quyền này gây ra sự rạn nứt nghiêm trọng trong giới quý tộc và tướng lĩnh trung thành với nhà Ngô. Ngô Xương Ngập phải bỏ trốn về Nam Sách (Hải Dương), tạo nên sự chia rẽ sâu sắc ngay tại trung tâm quyền lực. 

2. Mầm mống của loạn 12 sứ quân

Sự trỗi dậy của các thế lực địa phương: Do triều đình trung ương tại Cổ Loa không còn đủ uy tín và sức mạnh để kiểm soát toàn bộ lãnh thổ, các hào trưởng địa phương bắt đầu tự xây dựng lực lượng riêng.

Hỗn loạn kéo dài: Năm 946 chính là giai đoạn "mào đầu" cho tình trạng phân rã của đất nước. Việc Dương Tam Kha không thể thu phục được lòng người đã khiến các thế lực cát cứ nổi lên mạnh mẽ hơn, dẫn đến sự hình thành của các sứ quân và đẩy đất nước vào cảnh loạn lạc kéo dài suốt 20 năm sau đó. 

3. Vị thế của quốc gia mới độc lập

Dù tình hình nội bộ rối ren, Việt Nam lúc này vẫn giữ được nền độc lập tự chủ vừa giành lại được sau trận Bạch Đằng (938). Tuy nhiên, năm 946 cho thấy một bài học lịch sử về sự nguy hiểm của việc tranh giành ngôi báu khi nền móng quốc gia chưa thực sự vững chắc. 

Tóm lại, năm Bính Ngọ 946 không phải là một năm thịnh trị mà là khúc dạo đầu của một thời kỳ khủng hoảng chính trị lớn trong lịch sử Việt Nam thế kỷ X.

 

Năm Bính Ngọ 1066:

Đổi tên nước thành Đại Việt

Trong lịch sử Việt Nam, năm Bính Ngọ 1066 (năm Chương Thánh Gia Khánh thứ 8) dưới triều vua Lý Thánh Tông là một dấu mốc đặc biệt quan trọng với những sự kiện định danh dân tộc và củng cố niềm tin tâm linh.

1. Đổi tên nước thành Đại Việt

Đây là sự kiện quan trọng nhất của năm 1066, có ý nghĩa lịch sử sâu sắc:

Sự kiện: Vua Lý Thánh Tông quyết định đổi quốc hiệu từ Đại Cồ Việt (có từ thời Đinh Bộ Lĩnh) thành Đại Việt.

Ý nghĩa: Tên gọi này thể hiện sự tự tôn dân tộc, khẳng định vị thế một quốc gia độc lập, hùng mạnh và ngang hàng với các đế chế phương Bắc. Quốc hiệu Đại Việt đã gắn liền với những thời kỳ huy hoàng nhất của các triều đại Lý, Trần, Lê và tồn tại bền vững suốt 738 năm (đến năm 1804).

2. Xây dựng tháp Báo Thiên - "An Nam tứ đại khí"

Năm 1066 cũng ghi dấu sự phát triển rực rỡ của Phật giáo và kiến trúc thời Lý:

Sự kiện: Vua Lý Thánh Tông cho khởi công xây dựng cây tháp lớn tại chùa Báo Thiên (nay thuộc khu vực Nhà thờ Lớn Hà Nội).

Đặc điểm: Tháp cao 12 tầng (khoảng 70m), đỉnh tháp đúc bằng đồng. Cùng với đỉnh tháp này, các báu vật khác sau này được dân gian xếp vào nhóm "An Nam tứ đại khí" (4 quốc bảo lớn của Việt Nam thời trung đại). Đây là biểu tượng cho sự thịnh trị và sự kết hợp hài hòa giữa quyền lực nhà nước và tôn giáo.

3. Sự kiện thiên văn: Sao chổi Halley xuất hiện

Sự kiện: Theo sử sách ghi lại, vào tháng 3 năm Bính Ngọ 1066, một ngôi sao lớn (sao chổi) đã xuất hiện trên bầu trời Thăng Long.

Ghi chú: Khoa học hiện đại xác nhận đây chính là lần xuất hiện của Sao chổi Halley. Trong bối cảnh thời bấy giờ, điềm báo này được coi là sự thông báo về những biến động lớn hoặc sự ra đời của những quyết sách vĩ đại (như việc đổi tên nước).

4. Ổn định và thịnh trị

Năm 1066 nằm trong giai đoạn hoàng kim của nhà Lý. Đất nước thái bình, kinh tế nông nghiệp phát triển mạnh mẽ, đời sống nhân dân ấm no. Sự ổn định này là tiền đề giúp Lý Thánh Tông xây dựng quân đội hùng mạnh để bảo vệ biên giới và mở mang bờ cõi về phía Nam sau này.

Tóm lại, năm Bính Ngọ 1066 là năm của sự định danh và tự cường, khi cái tên Đại Việt chính thức vang lên trên bản đồ thế giới, đánh dấu một kỷ nguyên mới của dân tộc.


Năm Bính Ngọ 1126:

Củng cố vương triều Lý

Đây là giai đoạn nhà Lý tiếp tục củng cố bộ máy quan lại và duy trì các chính sách an dân, khuyến nông vốn là đặc trưng của thời kỳ này. 

Năm Bính Ngọ 1126 (năm Thiên Phù Duệ Vũ thứ 7) dưới triều vua Lý Nhân Tông là một giai đoạn chuyển giao quan trọng, ghi dấu sự chuẩn bị cuối cùng cho việc duy trì sự thịnh trị của nhà Lý trước khi vị vua này qua đời.

Các đặc điểm nổi trội trong năm này bao gồm:

1. Sự kiện ngoại giao và lãnh thổ

Đòi lại đất đã mất: Đây là giai đoạn nhà Lý kiên trì đấu tranh đòi lại những vùng đất bị nhà Tống chiếm giữ sau cuộc chiến tranh Tống - Việt (1075–1077).

Bối cảnh khu vực: Trong năm này, phương Bắc chứng kiến sự kiện Tĩnh Khang chi biến (quân Kim đánh chiếm Biện Kinh, bắt sống vua Tống). Tận dụng sự suy yếu của nhà Tống, nhà Lý đã củng cố biên giới và khẳng định vị thế độc lập của Đại Việt. 

2. Chuẩn bị sự kế vị (Truyền ngôi cho cháu)

Lập Thái tử: Do không có con trai nối dõi, vua Lý Nhân Tông đã chọn con của người em trai (Sùng Hiền hầu) là Lý Dương Hoán làm con nuôi để nối nghiệp.

Dấu ấn thịnh thế: Năm 1126 là năm áp chót trong kỷ lục trị vì 56 năm của Lý Nhân Tông - vị vua ở ngôi lâu nhất lịch sử Việt Nam. Triều đình tập trung duy trì sự ổn định xã hội và các chính sách "văn trị" rực rỡ đã được xây dựng từ trước. 

3. Phát triển văn hóa và Phật giáo

Dấu ấn kiến trúc: Nhà Lý tiếp tục duy trì việc xây dựng chùa chiền và tháp lớn. Đây là thời kỳ tinh thần Phật giáo hòa quyện sâu sắc với đời sống chính trị, giúp duy trì sự đoàn kết và an định trong nhân dân.

Khoa cử: Mặc dù không có kỳ thi lớn diễn ra chính thức trong năm này, nhưng tinh thần giáo dục và tuyển chọn người tài theo nếp cũ vẫn được đề cao, chuẩn bị đội ngũ quan lại cho triều đại kế tiếp. 

Tóm lại, năm Bính Ngọ 1126 là năm của sự ổn định cuối triều Nhân Tông, một giai đoạn chuẩn bị kỹ lưỡng về mặt nhân sự và ngoại giao để giữ vững nền thái bình thiên hạ cho Đại Việt.

 Năm Bính Ngọ 1186:

Biến động cuối thời Lý

Trong lịch sử Việt Nam, năm Bính Ngọ 1186 (năm Trinh Phù thứ 11) dưới triều vua Lý Cao Tông là một năm đánh dấu sự bắt đầu suy yếu của nhà Lý, khi những dấu hiệu về một triều đại đang dần mất kiểm soát hiện rõ qua các hành động của người đứng đầu đất nước.

1. Sự sa đọa của vua Lý Cao Tông

Đây là đặc điểm nổi trội và mang tính bước ngoặt tiêu cực nhất trong năm này:

Mê đắm hưởng lạc: Theo sử sách ghi lại, từ năm 1186, vua Lý Cao Tông bắt đầu sa vào con đường chơi bời vô độ, thích nghe nhạc khúc u sầu và xây dựng các công trình cung điện xa hoa.

Bỏ bê chính sự: Việc nhà vua không chú trọng việc triều chính đã tạo cơ hội cho giới quan lại tham nhũng, hà hiếp nhân dân. Đây chính là mầm mống dẫn đến các cuộc khởi nghĩa của dân nghèo và sự trỗi dậy của các thế lực cát cứ địa phương trong những năm sau đó.

2. Sự biến động về nhân sự triều đình

Thái úy Tô Hiến Thành qua đời (trước đó vài năm): Đến năm 1186, sự thiếu vắng một vị quan đại thần cương trực và tài năng như Tô Hiến Thành (mất năm 1179) đã bộc lộ rõ hậu quả. Triều đình thiếu người đủ uy tín để răn đe nhà vua và duy trì kỷ cương phép nước.

Quyền thần lộng hành: Một số quan lại bắt đầu nảy sinh tâm lý tư lợi, làm suy yếu niềm tin của dân chúng vào vương triều.

3. Tình trạng xã hội và điềm báo

Lòng dân bất an: Sự hưởng lạc của tầng lớp trên tương phản hoàn toàn với đời sống ngày càng khó khăn của người dân lao động.

Dấu hiệu suy tàn: Sử cũ thường chép lại các hiện tượng lạ hoặc các sự kiện nhỏ trong năm này như những điềm báo cho sự kết thúc của một giai đoạn thịnh trị lâu dài từ thời Lý Thánh Tông và Lý Nhân Tông.

4. Bối cảnh chung

Mặc dù đất nước chưa rơi vào cảnh loạn lạc ngay lập tức trong năm 1186, nhưng đây được coi là "điểm khởi đầu cho sự trượt dài". Sau năm Bính Ngọ này, nhà Lý chính thức bước vào thời kỳ suy vong không thể cứu vãn, dẫn đến cuộc chuyển giao quyền lực sang nhà Trần vào năm 1225.

Tóm lại, năm Bính Ngọ 1186 không phải là một năm của những chiến công hay cải cách, mà là một "nốt trầm buồn" báo hiệu sự lụi tàn của một trong những vương triều rực rỡ nhất lịch sử Việt Nam.

Năm Bính Ngọ 1246:

Củng cố vương triều và khoa cử

Năm Bính Ngọ 1246 (năm Thiên Ứng Chính Bình thứ 15) dưới triều vua Trần Thái Tông là một năm quan trọng với nhiều cải cách về giáo dục, quân sự và hành chính nhằm củng cố nền móng của vương triều Trần:

a. Cải cách giáo dục và khoa cử

Đây là mốc thời gian then chốt định hình hệ thống tuyển chọn nhân tài cho đất nước:

Định lệ thi Thái học sinh: Nhà Trần chính thức đặt lệ thi Thái học sinh (sau này gọi là thi Tiến sĩ) định kỳ 7 năm một lần.

Chuẩn hóa học vị: Sự kiện này giúp ổn định việc học tập và thi cử, đảm bảo nguồn quan lại có thực tài cho bộ máy nhà nước thay vì chỉ dựa vào con em quý tộc. (Lưu ý: Sang năm sau - Đinh Mùi 1247, nhà Trần mới bắt đầu đặt danh hiệu Tam khôi gồm Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa). 

b. Củng cố và tổ chức quân đội

Nhà Trần thực hiện các bước chuẩn bị lực lượng quân sự tinh nhuệ, tiền đề cho các thắng lợi chống ngoại xâm sau này:

Định quy chế các quân: Vào tháng 2 năm 1246, vua Trần Thái Tông ban định quy chế cho các đơn vị quân đội.

Tuyển chọn binh sĩ: Nhà vua cho chọn những người khỏe mạnh, có năng lực thực sự để sung vào các quân hiệu như Tứ thiên, Tứ thánh, Tứ thần (các đơn vị quân cấm vệ bảo vệ kinh thành và hoàng cung). 

c. Cải cách hành chính

Lệ khảo công: Nhà Trần định lệ cứ 15 năm khảo công một lần để đánh giá năng lực và thành tích của quan lại. Dựa trên kết quả này, triều đình sẽ quyết định việc thăng chức, giáng chức hoặc bãi miễn quan lại, giúp nâng cao hiệu quả điều hành của bộ máy hành chính. 

Những quyết sách trong năm Bính Ngọ 1246 cho thấy tầm nhìn chiến lược của vua Trần Thái Tông trong việc xây dựng một quốc gia Đại Việt hưng thịnh, chú trọng cả văn trị (giáo dục) lẫn võ công (quân sự).

Năm Bính Ngọ 1786:

Tây Sơn tiến quân ra Bắc

Đây là mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc khi anh hùng áo vải Nguyễn Huệ chỉ huy quân Tây Sơn tiến ra Bắc Hà, đánh bại quân Trịnh, lật đổ nền thống trị kéo dài gần 300 năm của các chúa Trịnh, xóa bỏ ranh giới sông Gianh chia cắt đất nước kéo dài nhiều thế kỷ.

Năm Bính Ngọ 1786 là một cột mốc rúng động trong lịch sử Việt Nam với những sự kiện làm xoay chuyển hoàn toàn cục diện chính trị lúc bấy giờ.

1. Cuộc tiến quân ra Bắc "Thần tốc" của Nguyễn Huệ

Đây là sự kiện quan trọng nhất. Dưới danh nghĩa "Phù Lê diệt Trịnh", quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy đã tiến quân ra Bắc Hà. Chỉ trong thời gian cực ngắn, quân Tây Sơn đã tiêu diệt cơ nghiệp hơn 200 năm của chúa Trịnh, chiếm được thành Thăng Long.

2. Sự sụp đổ của quyền lực Chúa Trịnh

Trịnh Tông (Trịnh Khải) thất bại và tự sát trên đường bị áp giải, đánh dấu sự chấm dứt hoàn toàn thời kỳ "Vua Lê chúa Trịnh" át quyền kéo dài hàng thế kỷ. Sự kiện này mở ra cơ hội thống nhất đất nước sau hàng trăm năm chia cắt Đàng Trong - Đàng Ngoài.

3. Cuộc hội ngộ lịch sử giữa Nguyễn Huệ và Vua Lê Hiển Tông

Sau khi lấy được Thăng Long, Nguyễn Huệ đã vào cung yết kiến Vua Lê Hiển Tông, trao trả quyền lực cho nhà Lê. Để thắt chặt tình giao hảo, Vua Lê đã gả Công chúa Ngọc Hân cho Nguyễn Huệ. Đây là một trong những mối tình nổi tiếng nhất trong sử Việt.

4. Biến động lớn ở phía Nam

Trong khi Nguyễn Huệ bận rộn ở Bắc Hà, tại vùng đất phía Nam, lực lượng của Nguyễn Ánh bắt đầu có những bước hồi phục và củng cố thế lực sau những thất bại trước đó, chuẩn bị cho cuộc đối đầu dài hơi với nhà Tây Sơn sau này.

Tóm lại, năm 1786 là năm của những cú sốc quân sự và thay đổi thể chế kinh điển, khi bản đồ quyền lực của Việt Nam được vẽ lại gần như hoàn toàn bởi thiên tài quân sự Nguyễn Huệ.

Năm Bính Ngọ 1846:

Những biến động cuối triều Thiệu Trị

Dưới thời vua Thiệu Trị, năm 1846 là giai đoạn triều đình phải tập trung đối phó với sự xâm nhập của các tàu chiến phương Tây và các cuộc nổi dậy cục bộ. 

Hải chiến Đà Nẵng: Mặc dù trận chiến chính thức nổ ra vào năm sau (Đinh Mùi 1847), nhưng năm Bính Ngọ 1846 là thời điểm căng thẳng leo thang tột độ khi quân Pháp gây áp lực quân sự mạnh mẽ tại cửa biển Đà Nẵng, buộc triều đình nhà Nguyễn phải tăng cường phòng thủ nghiêm ngặt. 

Hạn hán và sâu bệnh thời Nguyễn

Dưới triều vua Thiệu Trị, năm Bính Ngọ 1846 ghi nhận nhiều vùng ở miền Trung và miền Nam gặp khó khăn.

Sự kiện: Tình trạng hạn hán kéo dài kết hợp với nạn sâu bệnh tấn công lúa mẻ ở các tỉnh phía Nam. Tuy không dẫn đến thảm họa chết người hàng loạt, nhưng triều đình đã phải liên tục mở kho thóc cứu tế và miễn thuế cho dân các vùng bị thiệt hại nặng để ngăn chặn nạn đói bùng phát.

Tóm lại, năm 1846 dù không có một "đại nạn đói" mang tên Bính Ngọ, nhưng năm 1846 vẫn là cột mốc gây ám ảnh nhất về sự đói kém do thiên tai (lụt lội) trong lịch sử cận đại Việt Nam.

Năm Bính Ngọ 1906:

Phong trào Duy Tân và bùng nổ dân trí

Năm 1906 đánh dấu sự trỗi dậy mạnh mẽ của khuynh hướng dân chủ tư sản tại Việt Nam với Phong trào Duy Tân. 

Sự kiện: Các sĩ phu yêu nước như Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng khởi xướng cuộc vận động đổi mới về văn hóa, giáo dục và kinh tế với khẩu hiệu "Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh".

Biến cố: Miền Bắc trải qua trận "Lụt năm Bính Ngọ" lịch sử, gây thiệt hại nặng nề cho đời sống nhân dân.

Trận "Đại hồng thủy" ở Bắc Bộ

Đây là năm thiên tai kinh hoàng nhất liên quan đến năm Bính Ngọ trong ký ức dân gian miền Bắc.

Thiên tai: Một trận lụt lịch sử với mưa lớn kéo dài khiến mực nước sông Hồng và sông Thái Bình dâng cao cực hạn.

Hậu quả: Nước làm ngập lụt diện rộng tại 20 trên tổng số 25 tỉnh miền Bắc lúc bấy giờ. Đê điều bị vỡ hàng loạt, mùa màng mất trắng, gia súc chết hàng loạt, dẫn đến nạn đói cục bộ kéo dài tại các vùng trũng.

Chứng tích văn học: Nhà thơ Trần Tế Xương (Tú Xương) đã ghi lại thảm cảnh này trong bài thơ Lụt năm Bính Ngọ, mô tả cảnh "Ruộng hóa ra sông cỏ vật vờ", "Bát gạo Đồng Nai kinh chuyện cũ" để nói về sự khan hiếm lương thực và giá gạo đắt đỏ. 

 Năm Bính Ngọ 1966:

Kháng chiến chống Mỹ quyết liệt.

Trong bối cảnh chiến tranh Việt Nam leo thang, năm 1966 là năm của những lời kêu gọi lịch sử và các chiến dịch quân sự quan trọng. 

Lời kêu gọi của Bác Hồ: Ngày 17/7/1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn dân chống Mỹ cứu nước với câu nói bất hủ: "Không có gì quý hơn độc lập, tự do".

Chiến sự: Diễn ra Chiến dịch Sa Thầy (Tây Nguyên) chống lại quân đội Hoa Kỳ và phong trào đấu tranh "76 ngày đêm làm chủ thành phố Đà Nẵng" của quân dân đất Quảng.

Hành quân Tết: Sự kiện Trung đoàn pháo cao xạ 210 thực hiện cuộc hành quân thần tốc vượt cầu Hàm Rồng ngay trong Tết Bính Ngọ để bảo vệ bầu trời Tổ quốc. 

Đói kém do chiến tranh leo thang.

Năm 1966 không phải là năm mất mùa do thiên tai nhưng là thời điểm cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn khốc liệt nhất, gây ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống nhân sinh.

Bối cảnh: Đế quốc Mỹ mở rộng ném bom phá hoại miền Bắc, nhắm vào các công trình thủy lợi (như đê điều, đập nước) để phá hoại sản xuất nông nghiệp.

Đời sống: Nhân dân phải sơ tán, việc canh tác gặp nhiều khó khăn dưới làn bom đạn. Lương thực được ưu tiên cho tiền tuyến, khiến đời sống người dân ở hậu phương rất thiếu thốn, phải ăn cơm độn ngô, khoai, sắn và sống theo chế độ tem phiếu nghiêm ngặt.

Năm Bính Ngọ 2026:

Cảnh báo về "Xích mã hồng dương"

Theo một số quan điểm văn hóa dân gian và dự báo hiện tại, năm 2026 (Bính Ngọ) được nhắc đến như một năm cần đề phòng các biến động về thiên tai do năng lượng Hỏa quá mạnh (Xích mã hồng dương), có thể dẫn đến các đợt nắng nóng kỷ lục hoặc cháy rừng diện rộng. Tuy nhiên, đây vẫn là những dự báo mang tính chất tham khảo, đòi hỏi sự chuẩn bị chủ động từ các cơ quan phòng chống thiên tai. 

 

VŨ THỊ HƯƠNG MAI

Địa chỉ: Khu tập thể Tổng công ty 319, quận Long Biên, thành phố Hà Nội.        

Email: huongmai8081@yahoo.com.vn

.

 

 

READ MORE - NHỮNG NĂM BÍNH NGỌ ĐẶC BIỆT TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM - Vũ Thị Hương Mai