Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Đỗ Tư Nhơn. Show all posts
Showing posts with label Đỗ Tư Nhơn. Show all posts

Tuesday, December 5, 2023

HAI ANH EM HỌ ĐỖ - Thơ Đỗ Tư Nhơn

 
  
            Hai anh em Đỗ Tư Nhơn, Đỗ Tư Nghĩa


HAI ANH EM HỌ ĐỖ
 
Anh em nhà họ Đỗ
Mồ côi cha từ nhỏ
Sống với mẹ, chị, bà
Thời chiến tranh gian khổ
 
Cùng mê say văn chương
Chọn sách gối đầu giường  
Phạm Công Thiện, Ý thức...    
Gạch chân đỏ nhiều trang 
 
Anh theo nghề gieo hạt  
Ươm mầm cho tuổi xanh    
Em miệt mài dịch thuật    
Minh triết của hiền nhân   
 
Thỉnh thoảng anh ghé thăm em    
Lưng chừng dốc Nhà Chung   
Căn phòng trọ trong hẻm  
Một mình sống an nhiên  
 
Rủ nhau ra ngồi quán  
Trước nhà thờ Chánh tòa   
Ly cà phê buổi sáng    
Ngồi lặng yên nhìn xa  
 
Từ lúc em giã biệt   
Vẫy tay chào trần gian  
Đà Lạt nghe trống trơn 
Anh bước đi cô tịch    
 
Hẹn một lần gặp lại   
Nơi sông suối cỏ lau   
Nắm chặt bàn tay nhau   
Tình anh em còn mãi.
 
Đỗ Tư Nhơn
Thị xã Quảng Trị, 4-12-2023.

  

 
        Chỗ ngồi năm xưa/Chỉ còn ghế trống/
        Em về cõi không/Anh buồn lệ ứa!

READ MORE - HAI ANH EM HỌ ĐỖ - Thơ Đỗ Tư Nhơn

Tuesday, November 14, 2023

TÂM TÌNH CỦA DIỄN VIÊN, ĐẠO DIỄN LÊ CUNG BẮC (1946-2021) QUA TẬP HỒI KÝ "BỤI CÁT CHÂN MÂY" – Đỗ Tư Nhơn



Đại thi hào Nguyễn Du đã viết bài thơ Độc Tiểu Thanh Ký nhằm bày tỏ mối thương cảm, tri âm cùng ngƣời con gái đời Minh, tài hoa bạc mệnh, oan khiên, đau đớn. Khi kết thúc, ông đã không khỏi ngậm ngùi tự hỏi:
 
“Bất tri tam bách dư niên hậu,
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?”
 
Sự đồng cảm, tri âm là điều cần thiết vô cùng đối với văn nghệ sỹ, nghệ thuật. Hơn 70 năm sống giữa cuộc đời, gần 40 năm dấn thân, đam mê đi vào con đường sân khấu, điện ảnh, diễn viên - đạo diễn Lê Cung Bắc như chưa muốn dừng bước. Nhưng căn bệnh trầm kha, đột ngột cắt đứt dự phóng nghệ thuật của anh. Một tập hồi ký cuối đời đã được vội vàng kể ra bằng lời, đứt quãng, hụt hơi vì hóa trị, nhức nhói, đuối sức. Nhưng anh vẫn kiên cường chiến đấu cho đến hơi thở cuối cùng . Đó là tác phẩm BỤI CÁT CHÂN MÂY, được nhà văn Hồ Sĩ Bình trân quý biên tập để nhà xuất bản HNV ấn hành vào tháng 5 năm 2023, gần đến ngày giỗ lần thứ 2 của anh.
Chính trong thời gian ngắn, từ ngày 5-4-2021 cho đến trước khi anh từ giã trần gian, chỉ hơn hai tháng quằn quại trong cơn đau, anh đã kể lại cho diễn viên Hồng Ánh, Võ Sông Hương và chị Bùi Thị Giang (vợ anh) ghi âm.

Cuối cùng, chính người vợ của anh phải chấp bút, ghi lại trong tâm cảm yêu thương vô cùng, trong phần “Lời thưa” chị đã bộc bạch: “... đó cũng là cách tôi được đối thoại với hương linh của anh nên tôi đã miệt mài viết, và đôi lần dừng lại tôi có cảm tưởng mình viết trong mộng du”. Trong bản ghi âm đầu tiên anh đã nói lên tâm sự chân thành của mình như sau:

“Tôi nói những dòng này để Võ Sông Hương ghi lại trong lúc tôi biết rằng dòng đời của tôi đã cạn, tôi không biết ngày nào sẽ rời khỏi thế gian. Cổ nhân thường nói : tiếng hót của con chim sắp chết rất đáng thương..., lời nói của người sắp chết rất chân thành.Tôi ghi lại trất cả những gì tôi đã nhìn thấy, đã trải qua, đã sống trong suốt cuộc đời , từ lúc sinh ra ở một ngôi làng nhỏ miền trung...”
 
Tập hồi ký có tất cả 6 chương và 3 phần phụ, đây là nơi anh đã trải lòng, dòng sông tâm tình bắt đầu cội nguồn quê hương, tổ tiên, đại gia đình. Sau đó là hồi ức về tuổi thơ, thời hoa niên học tập, con đường hình thành sự nghiệp, phận đời sau 1975, gia đình yêu quý, hành trình đi tới đam mê.
 
* Nghĩ Về Nguồn Cội, Tổ Tiên.

Anh đã ghi lại câu nói của Bruce Weil như một nguyên tắc sống: “Một người không yêu nguồn cội của mình thì sẽ không yêu ai cả”. Đó là tình yêu quê hương, nơi tổ tiên tạo dựng, hình thành những truyền thống đạo lý, tri thức cao đẹp để con cháu về sau tiếp tuc phát huy.
Với Lê Cung Bắc, làng Xuân Thành, xã Triệu Độ của anh thật là nhỏ bé, như một cù lao, sông nước bao quanh, đi hết một vòng e chưa tàn điếu thuốc, nhưng là đất văn hiến, khoa bảng đáng tự hào. Chính ông nội anh, ngài Lê Phát đỗ Đệ tam giáp Tiến sĩ, làm chức quan tại Quốc sử Quán, sau thăng Thừa Lĩnh Thị độc, sung vào Nội các Sự vụ. Các đời sau, con cháu của ngài cũng nhiều người đỗ đạt. Cha anh làm Hàn Lâm Viện Thị Giảng. Dân chúng Quảng Trị đã ghi nhận truyền thống vẻ vang trên bằng câu ngạn ngữ “Họ Hoàng Bích Khê, họ Lê Xuân Thành”
 
* Hồi Ức Tuổi Thơ

Những hồi ức về tuổi thơ tại làng quê gian khổ trong chiến tranh, người dân phải sống giữa hai làn đạn. Giữa một đêm tối mịt mùng, cha anh bị một nhóm người lạ bắt đi và giết chết đau đớn tức tưởi ! Anh cho biết gia đình anh có bốn ông anh đi bộ đội Việt Minh. Anh mồ côi cha từ đêm hôm đó, vừa được 10 tháng tuổi, để lại cho ngƣời mẹ trẻ tần tảo nuôi 3 đứa con. Từ đây anh côi cút giữa cuộc đời, lúc thì vào tận SG, nhờ gia đình người anh trai để được học. Mấy năm sau về lại làng quê bên mẹ. Anh làm cho mẹ vui lòng nhờ kết quả học tập, luôn luôn giỏi cho đến ngày lên tỉnh, bước vào tuổi hoa niên.
 
* Tuổi Hoa Niên.
 
Niên học 1959-1960 anh thi đỗ vào trường trung học Nguyễn Hoàng, ngôi trường trung học công lập danh tiếng của Quảng Trị và miền Trung một thời.Ở nơi đây anh bắt đầu được hưởng nền giáo dục mang tính chất Dân tộc – Nhân bản - Khai phóng. Chính môi trường này đã cung cấp kiến thức, kỹ năng để tiếp tục đi trên con đường tương lai. Ở đây anh bắt đầu tập dượt các vở kịch lịch sử cùng bạn bè để sau này lên Đại học Đalat, SG phát triển đích sau cùng. Trường Nguyễn Hoàng cho anh 5 năm học trập, nhưng đã để lại trong anh biết bao kỷ niệm đẹp. Một mối tình học trò trong trắng, nhưng cũng cho anh nhiêu thương nhớ khi chia xa. Bài thơ ngắn đã ghi lại tình yêu dang dở đầy xúc động của chàng thư sinh Lê Cung Bắc:
 
“Mười năm nữa có khi về phố cũ
Cổng nhà em in nửa dấu hài rêu
Trông từng chiếc lá vàng bay bỡ ngỡ
Buồn xa xưa Kim Trọng nhớ nhung Kiều”

(Trích bài viết “Thư gởi H.D nữ sinh lớp đệ tam C Nguyễn Hoàng (NK 63-64)” của LCB).
 
Những người bạn thân thiết, sau này tìm lại nhau, ngồi bên nhau qua dâu bể, như Lê Văn Trạch, Lê Quang Ngân, Lê Đình Lộng Chương... Anh cho rằng: “trung học Nguyễn Hoàng luôn ở trong trái tim tôi.” Điều đó đã được chứng thực từ những năm 90 của thế kỷ 20, khi thầy trò Nguyễn Hoàng đã nối kết, sinh hoạt do BLL NH SG được hình thành. Anh Lê Cung Bắc đã tham gia từ những ngày đầu cho đến khi anh qua đời, chị Bùi Thị Giang đến dự thay anh.
Kế tiếp là 2 năm anh học trường Quốc Học –Huế, được học và giao tiếp thêm, anh bắt đầu định hướng cho tương lai sau khi đỗ tú tài 2, lên Đalat học Đại học. Anh từng xác định: trường Quốc Học – Huế là cái nôi hình thành nhân sinh quan.
 
* Con Đường Định Hình Sự Nghiệp (trước 1975).

Tại Đalat, anh theo học trƣờng Chính trị - Kinh doanh của Viện đại Học Đalat, anh cùng các bạn đam mê nghệ thuật sân khấu thành lập ban kịch, diễn được 3 tháng rồi tự giải tán.Một nhóm kịch mới anh và bạn bè xây dựng mang tên TRƯỜNG GIANG. Bởi lúc này anh vừa tìm thấy một người đẹp từ Nha Trang lên học Văn khoa, năm đó là chị Bùi Thị Giang! Ban đầu anh khá vất vả để chiến thắng nữ thần Tình yêu. Nhưng cuối cùng cũng đưa nhịp tim hai người về một chỗ. Nhóm Trường Giang đã diễn nhiều vở của GS Vũ Khắc Khoan nổi tiếng. Thầy đã quý mến trò, nên đã đến dự lễ cưới của anh chị tại SG năm 1972. Mối tình thầy trò qua kịch nghệ- sân khấu đó kéo dài cho đến khi thầy qua đời, anh cùng vài bạn làm giỗ nhớ thầy xưa. Sau khi tốt nghiệp cử nhân Chính Trị  - Kinh Doanh anh về Sài Gòn học Cao học Luật. Rồi anh bị động viên, đi các chiến trường cho đến ngày thống nhất đất nước. Một trang đời mới bắt đầu.
 
* Phận đời sau 30 tháng 4 năm 1975.

Tâm trạng của Lê Cung Bắc sau 1975 khi được hỏi đến, anh trả lời thành thực: “Buồn vui lẫn lộn, vui vì đất nước thống nhất, chiến tranh chấm dứt nhưng lo sợ mình sẽ làm gì, số phận mình sẽ bị xử lý thế nào…”. Lúc bấy giờ anh và nhà văn Cung Tích Biền đạp xe ba gác đi bán mía, chiều về uống cốc bia, nhìn nhau và khóc.
Cũng như mọi quân nhân chế độ cũ tại miền Nam sau 75, anh đi học tập cải tạo, lúc đầu gian khổ, nhưng cũng được ra về nhờ người anh ở Hà Nội bảo lãnh sau 2 năm sáu tháng học tập cải tạo. Đoạn đời đi kinh tế mới đầy gian lao, hai anh chị cùng nhau chịu đựng, không thể nào kể cho hết được.
 
Gia Đình Yêu Quý.

Ôn lại tình yêu của anh và chị Bùi Thị Giang, anh cho tình yêu đó là định mệnh. Hai người, suốt thời thanh xuân đã có rất nhiều kỷ niệm lãng mạn, đó là hành trang, gia tài để gắn bó với nhau, dù trong đời sống không thiếu gì những sóng gió, chông chênh...
Chị Giang theo đạo Thiên Chúa, nhưng anh theo đạo Phật, lúc kết hôn anh phải rửa tội. Nhưng về sau không đi nhà thờ. Chị trách một hồi thì cũng chấp nhận. Và những bóng hồng không ngừng đi qua đời anh, có người lặng lẽ giúp làm nhà, anh giấu vợ, bảo là bạn bè hỗ trợ. Cũng có người quá đáng, muốn tham dự “chuyện tình ba người” nhưng anh không ngã lòng, chung thuỷ. Vợ anh cảm thông chất nghệ sĩ đa tình của anh, cùng nhau vun đắp hạnh phúc. Thật đáng trân quý! Kết quả vườn tình của anh đơm hoa kết trái, hai cậu con trai xinh xắn, khoẻ mạnh lớn khôn, học tập thành tài. Sau những năm tháng khó khăn, ở nhà trọ, anh chị đã mua đất làm nhà đặt tên Tĩnh Tâm Cốc – là không gian cho tâm thức lắng đọng, tu tâm, buông bỏ theo lời Phật dạy cho đến ngày cơn bệnh trầm kha đến, anh chấp nhận, chịu đựng trong lời niệm Phật. (Một điều bất ngờ là anh được một gia đình ở Thái Bình nhận anh làm nghĩa tử ví anh giống một người con trai của họ bị thất lạc do nạn đói năm 1945 lúc cậu ấy 11 tuổi. Anh đã ra thăm, chia sẻ buồn vui với bà con mới nhận ra, ghi nhiều hình kỷ niệm).
 
* Hành Trình Đi Tới Đam Mê.

Khi cô thư ký Võ Sông Hương hỏi Lê Cung Bắc: 
Khi chú nổi tiếng nhờ nghề diễn viên, đạo diễn, chú có bao giờ mặc cảm vì chú làm cái nghề “xướng ca vô loại” theo định kiến không chú ?.

Anh đã thành thật trả lời: “Có chứ con. Con nói đúng…Chú nổi tiếng kể mà đôi lúc chú buồn… Đa phần trong xã hội, người ta coi những người trong giới showbit này rất tầm thường, là những người ‘mua vui cũng được một vài trống canh’…”.

Nhớ về ngày đầu bước chân vào điện ảnh thật sự, anh kể về lần gặp đạo diễn Lê Dân năm 1982, tình cờ trên đường đi, ông mời anh nhận vai nhạc sĩ phản chiến trong phim Pho tượng. Đây là vai diễn đầu tiên. Tính đến năm 1992 anh đã tham gia hơn 200 vai diễn điện ảnh, video, truyền hình. Năm 19991, anh lập nhóm kịch Lê Cung Bắc trên sân khấu Ca nhạc kịch Điện ảnh cùng các nghệ sĩ Thương Tín, Minh Trang, Hồng Vân tham gia vở Lưỡi không xương của Henri Bardot được đón tiếp nồng nhiệt.
Rồi cùng nhà văn Nguỵ Ngữ, người viết kịch bản người đóng vai Trí trong phim Con thú tật nguyền. Rồi được đạo diễn Việt Linh chọn đóng vai Lão Cùi trong Dấu ấn của quỷ. Đó là những vai diễn để đời.
Bước sang nghề đạo diễn, anh nhận thấy máu đạo diễn đã manh nha từ khi còn là học sinh, sinh viên. Anh đã đọc sách, nghiên cứu, quan sát sau khi tham gia đóng phim của rất nhiều đạo diễn. Phim đầu tiên anh làm đạo diễn là Trên cả hận thù, đó là bài thi tốt nghiệp đạo diễn của anh được hội đồng nhanh chóng thông qua. Muốn có phim hay thì phải có kịch bản hay.Tuy nhiên tác phẩm điện ảnh là biểu lộ tư duy sáng tác của của người đạo diễn. Ngoài ra đạo diễn phải nắm được kiến thức kỹ thuật, có khả năng diễn đạt tâm lý nhân vật để lựa chọn diễn viên cho phù hợp. Là đạo diễn, anh quan niệm để cho diễn viên tự do thăng hoa cảm xúc, không gượng ép trong một khuôn khổ nào đó. Tôi rất ưng ý về diễn viên Việt Trinh vì cô ấy biết diễn bằng đôi mắt. Trong phim Vó ngựa trời Nam, diễn viên nam Huỳnh Đông xứng đạt giải nam xuất sắc trong liên hoan phim truyền hình toàn quốc năm 2010.

Cũng cần nói đến khuynh hướng làm phim, anh nặng về tính nhân bản, những nhân vật chính trong phim đều là những người mang nặng trên vai lòng nhân ái. Theo anh đạo diễn làm phim là cách lập ngôn của mình... Người đạo diễn phải trải lòng ra, chuyển tải tâm thức, mang cái đẹp đến người xem. Khuynh hướng làm phim của Lê Cung Bắc thiên về triết lý sống cao đẹp, tôn vinh giá trị Chân-Thiện-Mỹ. Qua trình hành nghề đạo diễn của anh đã đạt nhiều thành tựu, giả thưởng Phim Nhịp đập trái tim năm 1994, Giải thưởng đạo diễn phim đầu tay. Phim Không thể rẽ trái năm 1996 - Huy chương vàng trong LHPTHTQ. Phim Dòng đời Giải Đạo diễn xuất sắc (52 tập) năm 2001. Phim Duyên trần thoát tục (Phim nhựa) ghi vào Kỷ lục Phật giáo VN. Phim Những chiếc lá thời gian - Giải Đặc biệt của BGK trong LHPQG năm 2006. Phim Vó ngựa trời Nam- Huy Chương Vàng - PHIM XUẤT SẮC NĂM 2010 - Giải I Cánh Diều Vàng Đạo Diễn xuất sắc năm 2010 - Giải Cánh Diều Bạc năm 2010 cho phim Vó ngựa trời Nam

Bằng những thành tích đạt được, Lê Cung Bắc xứng đáng với danh hiệu Nghệ Sỹ Ưu Tú do nhà nước phong tăng năm 2001. Tuy nhiên niềm vui của anh chưa được trọn vẹn khi cuốn phim cuối đời do anh đạo diễn là GIÃ TỪ CÔ ĐƠN đã được làm xong nhưng chưa kịp phát hành thì anh đã từ giã trần gian – Về trong Cõi Tịnh ngày 13-6-2021. Chắc nơi cõi trăng sao đó, anh đã gặp thầy Vũ Khắc Khoan của khoa Kịch Nghệ - Đại học Đalat và các bạn Nguỵ Ngữ, Đỗ Tư Nghĩa một thời cùng học trường Nguyễn Hoàng Quảng Trị.

Bây giờ mọi người cầm trên tay tác phẩm Bụi cát chân mây của anh, nghe những tâm tình của anh. Tập hồi ký đã ra mắt gần đến ngày Đại Tường của anh như một bó hoa thơm tưởng nhớ anh - Hai năm xa lìa trần gian. Tất cả đọc và cảm thông, thương yêu và trân quý những gì anh đã đóng góp cho nghệ thuật, phong cách của người nghệ sĩ chân chính, ví lý tưởng, bằng cả tấm lòng nhân ái, hướng đến Chân - Thiện - Mỹ. Những tập sách của anh đã được người vợ thương yêu thay mặt anh ký tặng quý cô thầy, các bằng hữu từ Sài Gòn cho đến Quảng Trị, Đông Hà, Huế, Đà Nẵng... và các thư viện trường THPTTXQT, trường QUỐC HỌC, trường HAI BÀ TRƯNG – HUẾ như một lời cảm ơn chân thành của một ngƣời học trò năm xưa. Và cũng có ý nghĩa khơi gợi các lớp trẻ, hãy tư duy, sáng tạo đóng góp cho nghệ thuật và tri thức cho tương lai đất nước Việt Nam.
 
Kỷ niệm nhỏ của người viết.

Năm 1992, tôi vào Sài Gòn thăm bà con, qua bạn bè đồng hƣơng Quảng Trị, biết Lê Cung Bắc ở cư xá Bắc Hải. Tôi đến nhà chơi, anh em chúng tôi vốn biết nhau thời cùng học trường Nguyễn Hoàng, tôi hơn anh hai lớp, cùng tham gia văn nghệ, báo chí của trường. Hôm đó anh chở tôi đến rủ bạn Nguyễn Văn
Bổn, tìm quán nhậu lai rai. Khi về lại nhà, tôi nhìn lên tủ sách của Lê Cung Bắc, anh biết tôi thích sách, lấy xuống quyển Tất Cả Những Dòng Sông Đều Chảy của NANCY CATO. NXB Trẻ 1989. Anh ghi hết cả trang đầu, nét chữ lớn:
Thân tặng Đỗ Tư Nhơn để nhớ một thời đã qua. Quảng Trị, Nguyễn Hoàng những năm 60. Cung Bắc 92.

Tình cờ, trong chuyến về Quảng Trị vừa qua của chị Bùi Thị Giang và con trai, khi ghé nhà tôi thăm trước lúc đi viếng Đức Mẹ La Vang. Tôi lấy ra quyển sách có chữ ký của Lê Cung Bắc, hai mẹ con chị thật bất ngờ và cảm động.
Chúng tôi ghi mấy tấm hình kỷ niệm. Chắc nơi xa anh Lê Cung Bắc sẽ mỉm cười, vui nhận chút tình xưa, bạn cũ. Khi ra mắt tập hồi ký Cát Bụi Chân Mây tại SG cùng thầy cô và đồng môn, chị đã ký tặng vợ chồng tôi và gởi ra bằng bưu điện. Tôi xin cám ơn tấm lòng của chị, và từ đó gặp lại nhau bỗng thấy thân thiết, trao đổi tin tức và hình ảnh cho nhau.
 
Trong phần cuối của tập tự truyện Để Gió Cuốn Đi, chị Bùi Thị Giang đã giải bày những tình cảm sâu kín và yêu thương của người yêu - người vợ đối với anh Lê Cung Bắc thật vô cùng cảm động:
 
“Gần hai năm anh giã từ cõi tạm mà vẫn có những đêm tôi giật mình thức giấc, tôi bỗng thấy hốt hoảng như anh vừa rời xa tôi. Nỗi nhớ anh dâng trào và nước mắt tôi tuôn chảy...
 
Anh ơi, em khóc anh...
Mộng thiên thu đã phai tàn
Người ơi tình đã theo làn khói bay
Ôm đau thương sống qua ngày
Buồn vương theo gió chia hai ngả hồn
Cơ duyên nặng một lòng son
Từ phân ly ấy héo mòn tình chung
Dặm đời điệp điệp phế hƣng
Dấu đi người đã nghìn trùng biệt tăm
Cô đơn làm lạnh chiếu chăn
Hôn mê một giấc tơ tằm phù du
Còn đôi vầng nhật nguyệt mù
 
Lạc vào cõi mộng âm u gọi người
Hồn ta cánh én chơi vơi
Giữa trời hoang phế chưa nguôi cơn sầu
Não nề mấy trận tiêu dao
Đau thương đã nhuộm úa màu thời gian
Âm dương xưa cũ mê man
Đem sầu dựng mộ cho tàn cuộc mơ”
 
Giữa những con chữ nghẹn ngào tiếc thương không dứt bỗng hồn thơ trong chị Bùi Thị Giang tự nhiên tuôn chảy. Điều này không khiến chúng ta ngạc nhiên, bởi chị là một nữ sinh viên văn khoa của Đại Học Đalat xứ sở của sương mù và hoa dã quỳ vàng, với cuộc tình lãng mạn cùng anh sinh viên Chính trị - Kinh doanh đa tình Lê Cung Bắc những năm 70 của thế kỷ XX.
 *
Nén tâm hương, tưởng nhớ anh Lê Cung Bắc.
Thương tặng chị Bùi Thị Giang và gia đình nhân ngày Đại Tường của anh Lê Cung Bắc.
 
Đỗ Tư Nhơn

READ MORE - TÂM TÌNH CỦA DIỄN VIÊN, ĐẠO DIỄN LÊ CUNG BẮC (1946-2021) QUA TẬP HỒI KÝ "BỤI CÁT CHÂN MÂY" – Đỗ Tư Nhơn

Tuesday, September 19, 2023

RỖNG RANG PHỐ CŨ – Thơ Đỗ Tư Nhơn


   


RỖNG RANG PHỐ CŨ
 
Trở về với
dốc Nhà Chung
Ngồi
càfé sáng                                                       
một mình với tôi
Hai năm nước chảy hoa trôi
Tro hòa hồ nước
giữa trời
bao la
Trúc Lâm chuông vọng ngân nga
Dã Quỳ sẽ nở vàng hoa bên đường
Vắng Người
phố cũ rỗng rang
Thánh đường chiêu niệm hồn mang mang sầu!

 Đỗ Tư Nhơn
Dalat.16-9-2023


THE OLD STREETS ARE DESOLATE
 
I was back
to see Nha Chung slope
Sitting down
to enjoy a morning coffee
with myself
In wo years
water floating, flowers falling
Ashes mixed in the serene lake
of the open space
Truc Lam temple bell ringing
Da Quy will soon bloom, yellow on roadside
Without you
the old streets are desolate
The sanctuary calling up souls with such sorrow

Võ Thị Như Mai dịch

READ MORE - RỖNG RANG PHỐ CŨ – Thơ Đỗ Tư Nhơn

Saturday, March 25, 2023

GẶP NHAU GIỮA MÙA ĐẦU TIÊN – Thơ Trần Thoại Nguyên


 


GẶP NHAU GIỮA MÙA ĐẦU TIÊN
(Tặng anh Đỗ Tư Nhơn, anh trai của Bạn Vàng Đỗ Tư Nghĩa.)
 
Nửa thế kỷ đã già nua
Còn duyên nhau, gặp giữa mùa đầu tiên!
Hẹn nhau từ bữa sinh tiền
Đỗ Tư Nghĩa đã về miền Bồng Lai!
 
Bây giờ mới gặp nhau đây!
Đỗ Tư Nhơn hỡi! Sáng nay Hoa Vàng
Phạm Thiên Thư ngó nhìn sang
Cùng vui cười nói rộn ràng quán không!
 
Bây giờ tóc trắng như bông
Đỗ Tư Nghĩa! Nhắc Bạn! Lòng nhớ thương!
Trần gian ngọn gió vô thường
Bạn đi trước! Hẹn quán đường thiên thu!
 
Ở đây sương khói bụi mù
Vui từng khoảnh khắc theo phù hoa bay!
Chén tình rót uống hồn say
Cõi nhân gian mộng cỏ cây xanh bờ!
 
Gặp anh đây, tặng vần thơ
Chút tình lưu niệm giấc mơ cuộc đời!
Mai sau nhật nguyệt mù khơi
Còn xanh rêu đá mây trời nghìn thu.
 
Quán Hoa Vàng, sáng 27/9/2022.

BỤI ĐỜI THI SĨ Trần Thoại Nguyên

READ MORE - GẶP NHAU GIỮA MÙA ĐẦU TIÊN – Thơ Trần Thoại Nguyên

Wednesday, March 22, 2023

THĂM BẠN – Thơ Đỗ Tư Nhơn


 
              Cùng Nguyễn Văn Quang đến quán CAFE 
              ở Góc Bầu - Nguyễn Thị Lý

 
THĂM BẠN
 
Thỉnh thoảng ngồi một mình
Bỗng nhớ bạn xưa cũ
Cùng sống thời chiến chinh
Mồ côi cha từ nhỏ.
 
Ở làng quê cùng mẹ
Tần tảo , đời gian nan
Gắng học, quên tuổi trẻ
Giờ nghĩ lại, tiếc thầm!
 
Đất nước rồi xoay chuyển
Hết đạn bom - hoà bình
Bàn tay chai, xây dựng
Chờ một ngày bình minh!
 
Hai đứa cầm phấn trắng
Sáng chiều trước bảng đen
Có buổi phơi trong nắng
Cuốc ruộng tới thâu đêm.
 
Lại cùng đi lao động,
Lúc bờ mương, lúc rừng
Bánh xe đạp lăn tròn
Đường ngoằn ngoèo, dốc đứng!
 
Nuôi đàn con khôn lớn
Góp mặt với cuộc đời
Mong niềm vui cứ đến
Và tình người không vơi.
 
Thời gian vô tình qua
Tóc xanh, giờ đã bạc
Nhủ thầm quên tuổi tác
Rủ nhau, ngồi hát ca!
 
Như lá trên cành cây
Cứ vàng và rụng hết
Nhìn bạn bè quanh đây
Người  ở xa, người mệt.
 
Nắng mùa hạ bắt đầu
Qua những ngày rét lâu
Đạp xe đi thăm bạn,
Ngồi nói chuyện bên nhau.
 
Đỗ Tư Nhơn
Thị Xã Quảng Trị, sáng 23-3-2023

READ MORE - THĂM BẠN – Thơ Đỗ Tư Nhơn

Sunday, November 27, 2022

NHỮNG KỶ NIỆM CÙNG ĐỖ TƯ NGHĨA - Đỗ Tư Nhơn

 

Những kỷ niệm cùng Đỗ Tư Nghĩa

ĐỖ TƯ NHƠN

 

LTS TC CỬA VIỆT: 

Nhà giáo, dịch giả Đỗ Tư Nghĩa người Quảng Trị, từng sinh sống và làm việc lâu năm ở Lâm Đồng. Sống lặng lẽ, song ông đã dịch nhiều tác phẩm văn học nước ngoài nổi tiếng đã được xuất bản; và còn nhiều tác phẩm dịch thuật ở dạng bản thảo, hoặc được đăng tải trên mạng. Một năm sau ngày mất của Đỗ Tư Nghĩa, thương tiếc người em tài hoa, nhà giáo Đỗ Tư Nhơn có bài viết gửi cho tòa soạn Cửa Việt.

Giờ đây Nghĩa đã về với tổ tiên, ông bà, thầy mợ nơi cõi vĩnh hằng sau 75 năm Bước lững thững qua trần gian một bận / Đã thấy sầu in vết dưới chân im (Bi khúc 1-1972 trong tập Gởi tình Yêu- Gởi Cuộc đời của Đỗ Tư Nghĩa). Những kỉ niệm với gia đình, bè bạn còn trong ký ức của những người thân,từng gắn bó kết giao tình cảm.

Ba chị em chúng tôi: Đỗ Thị Như Mai, Đỗ Tư Nhơn, Đỗ Tư Nghĩa vốn nguyên quán là làng Cui, Tuy Lộc, Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Bố chúng tôi vào Quảng Trị làm viên chức thừa phái dinh Tuần Vũ đóng tại Thành Cổ, nhưng mất sớm lúc tôi vừa lên ba, Nghĩa còn trong bụng mẹ.

 

Chân dung Đỗ Tư Nghĩa qua nét ký họa của Thanh Trí

Nghĩa cất tiếng chào đời ở làng ngoại Quảng Điền, Triệu Phong, Quảng Trị khi gia đình tản cư về đây, sống trong căn nhà của ông bà ngoại đã qua đời. Biết bao kỷ niệm giữa bom đạn chiến tranh, với những mùa mưa lụt nước mênh mông mà ba chị em chúng tôi cùng chịu đựng nơi miền quê này.

Khoảng 7,8 năm sau, gia đình tôi chuyển lên thị xã Quảng Trị, mẹ buôn bán kiếm sống nuôi con ăn học. Chúng tôi có chung kỷ niệm ấu thời. Từ lúc nhà ở gần trạm điện cho đến khi sống giữa làng Thạch Hãn cùng bạn bè chơi bi, đánh đáo, ù mọi, đánh căng và làm báo viết tay.

Những năm học trung học Nguyễn Hoàng, Nghĩa nổi tiếng giỏi Văn, Anh Văn. Tôi và Nghĩa đều yêu thích văn chương, sách báo. Khi quyển sách Ý thức mới trong văn nghệ và triết học của Phạm Công Thiện ra đời, anh em chúng tôi tìm mua cho mình mỗi người một tập, Nghĩa đọc kỹ, gạch đỏ những đoạn văn tâm đắc. Sau này chính Nghĩa cho biết đã chịu ảnh hưởng của Phạm Công Thiện khá đậm.

Mẹ của chúng tôi tần tảo, thương yêu các con vô cùng, mà chưa thể nào chúng tôi báo đáp thì mẹ đã qua đời. Đó là mùa xuân năm 1971, Tết đó, sau những ngày buôn bán cuối năm vất vả, mẹ tôi nhuốm bệnh. Vợ chồng tôi, Nghĩa, Thắng ở một bên giường mẹ lo lắng, rồi nhờ chị Định, y tá truyền nước biển. Ngày mồng một, mẹ tôi còn nhận biết, nhưng tờ mờ sáng mồng hai, mẹ ra đi không lời trăng trối. Anh em chúng tôi vô cùng buồn đau, thương tiếc. Ở tầm hồn Nghĩa, bắt đầu có sự hụt hẫng vì Đìu hiu trái đất đâu còn mẹ / Sông núi xanh còn ta lãng du (Bi khúc 3).

Một biến cố thứ hai “đã ném” Nghĩa và người dân Quảng Trị ra khỏi quê nhà, đó là mùa hè đỏ lửa năm 1972. Tất cả chạy loạn vào trại tạm cư Đà Nẵng - Quảng Nam. Nghĩa đưa bà nội vào Đà Lạt nương náu tại nhà người cậu ruột một thời gian rồi về Bảo Lộc dạy học. Tâm thức Nghĩa buồn đau vô vọng, đã gởi vào 4 bài Bi khúc được sáng tác vào năm này.

Suốt 9 năm dạy học tại Bảo Lộc đã để lại trong tâm hồn Nghĩa những kỷ niệm đẹp. Đó là mối tình với Hoài An, cô giáo Đà Lạt xa nhà. Năm 1976, lễ cưới được người cậu tổ chức cho Nghĩa - An đàng hoàng, chúng tôi không vào dự được chỉ gởi quà mừng.

Năm 1981, vợ chồng Nghĩa được chuyển lên dạy trường Nguyễn Du Đà Lạt, Nghĩa bắt tay vào việc dịch thuật. Cuộc sống mỗi lúc một khó khăn đã tác động vào tâm hồn Nghĩa, những bài thơ nhức nhói, trăn trở được viết vào năm 1983, 1984 sau này in vi tính thành tập thơ Gởi tình yêu - Gởi cuộc đời.

Đôi ba niềm vui đã đến, là khi các tập sách dịch được xuất bản từ năm 1986 như: Khi bố còn thơ, Như cơn mưa bay đi, Những cuộc phiêu lưu của Sherlock Holmes… Nghĩa đã gởi về cho chúng tôi và bạn bè với chữ ký tặng. Bạn bè chia sẻ niềm vui cùng Nghĩa qua những bức thư hồi âm.

Cuộc đời không phải bao giờ cũng yên ả, gia đình Nghĩa bỗng phải chia hai. Vào năm 1992, Nghĩa quyết định ở lại Việt Nam, để cho vợ và hai con sang Mỹ định cư theo diện gia đình vợ bảo lãnh. Chúng tôi góp ý, khuyên Nghĩa rất nhiều lần nên cùng đi với gia đình. Sau này nghĩ lại, chúng tôi thấy Nghĩa đúng.

Ban đầu, lúc vợ con ra đi, Nghĩa đến ở với anh bạn Nguyễn Diệp, trong khu đất Sở Giáo dục Đà Lạt. Một thời gian ngắn sau, Nghĩa về thuê căn phòng trọ gần nhà cũ hẻm số 19 đường Nhà Chung, cạnh nhà thờ Con Gà, ở đó suốt 30 năm cùng những chồng sách cũ, mới ngập cả phòng.

Sống một mình, dạy trẻ học tiếng Anh, ăn chay trường và tiếp tục dịch sách. Các anh chị và các cháu thông cảm hoàn cảnh Nghĩa đã hỗ trợ một ít trong một thời gian ngắn, trước khi liên lạc với vợ con. Nghĩa nhận được quà và tiền để chi phí cho cuộc sống, sách báo, máy tính để làm việc.

Rồi Nghĩa gửi một bức tâm thư cho Hoài An sau 10 năm xa cách. Nghĩa chân tình nói với Hoài An rằng: Nếu có một người đàn ông biết yêu thương An và hai con, có trách nhiệm với gia đình thì nên đồng ý. Còn về phần Nghĩa, bấy lâu quen cuộc sống độc thân, không bị ràng buộc khó sống chung trong một gia đình.

Sống Đà Lạt với hoa dã quỳ thơ mộng, nhưng cũng có lúc tâm hồn Nghĩa chợt nhớ quê cũ Quảng Trị, với bạn bè người thân một thuở gắn bó. Mùa xuân 2004, con gái đưa Nghĩa về thăm chúng tôi, cùng hưởng một cái Tết đoàn tụ, trong khói hương, tưởng nhớ tổ tiên, ông bà, thầy mợ. Rồi tôi và Nghĩa vào Huế thăm mộ bố chúng tôi ở chân núi Ngự Bình, gặp các bạn thời sinh viên… Lần này chúng tôi muốn Nghĩa ở lại quê nhà, để anh em cùng sống bên nhau lúc già yếu, bệnh tật. Nhưng độ 2,3 tuần Nghĩa cảm thấy buồn, nhớ Đà Lạt, hơn nữa trời lạnh quá làm Nghĩa bị mệt, phải chia tay Quảng Trị.

Tôi lên Đà Lạt thăm Nghĩa nhiều lần. Có năm, lên Trúc Lâm thiền viện thỉnh kinh sách, Nghĩa mua tặng tôi nhiều tập, đĩa CD giảng đạo của quý thầy. Nghĩa nghiên cứu sâu xa và thực hành về đạo Phật cho nên sau này dịch sách của các đạo sư, ni sư thật rõ ràng, chú thích rất bổ ích cho người đọc.

Vốn liếng triết học Đông Phương và Tây Phương cũng tạo cho Nghĩa niềm say mê khi chuyển ngữ các tác phẩm mang giá trị tư tưởng: Nghệ thuật sống, Suy niệm mỗi ngày, Kahlil Gibran, Phiếm thần luận

Chẳng bao lâu Nghĩa bị tai biến lần hai, tôi và con trai lên thăm vào 27 tháng chạp, chuẩn bị đón Tết Tân Sửu. Bệnh tình của Nghĩa nặng hơn, tuy mắt còn sáng, trí óc hiểu biết nhưng chân tay bị liệt, Nghĩa cảm thấy buồn vô vọng.

Khi chúng tôi về lại Quảng Trị, được tin Nghĩa bị dịch tràn màng phổi, phải thở ôxy, giữa lúc dịch Covid đang lan tràn. Con gái Nghĩa bằng mọi cách đã về bên bố giai đoạn cuối đời. Chúng tôi thường liên lạc với nhau để biết tình hình sức khỏe của Nghĩa, khi nguy kịch, khi tạm ổn.

Nhưng rồi Nghĩa đã trút hơi thở cuối cùng vào lúc 6 giờ 15 phút sáng 16/9/2021, bên cạnh con gái và 3 cháu điều dưỡng, ông cậu tu sĩ. Bạn bè, bà con, học sinh cũ gần xa đã đến phúng viếng, gởi vòng hoa chia buồn cùng gia đình.

Nghĩa là một con người quen sống thầm lặng, ít giao tiếp nhưng khi từ giã cõi đời lại được nhiều người thương tiếc về nhân cách, tâm hồn, sự khiêm tốn và tài năng qua các tác phẩm dịch và thơ để lại cho đời.

Nhà thơ Bùi Minh Quốc và nhóm “người hiền Đà Lạt” mà Nghĩa từng kính phục, đã gởi đến hai câu đối:

Xe thiên cổ đưa người về cực lạc

Chốn hồng trần bè bạn luống đau thương

Bình tro được đặt trên bàn thờ. Con gái tiếp tục phóng sinh, làm từ thiện. Sau 49 ngày, tro sẽ được rải trên hồ nước trong xanh Tuyền Lâm, dưới chân của thiền viện Trúc Lâm của Đà Lạt. Trong dịp này, cháu Diễm Thư, theo lời dặn của bố đã trao trọn vẹn tủ sách quý giá của bố cho Trần quốc Vĩnh - làm thư viện Đỗ Tư Nghĩa để thân hữu và con cháu yêu thích đến đọc để tâm hồn được thăng hoa, điều Nghĩa luôn mong muốn.

_________________

Một số sách dịch thuật văn học nước ngoài của Đỗ Tư Nghĩa đã xuất bản:

1. Những cuộc phiêu lưu của Sherlock Holmes (Conan Doyler), Nxb Sở VHTT Lâm Đồng, 1985.

2. Khi bố còn thơ (Araskin), Nxb Sở VHTT Lâm Đồng, 1986.

3. Như cơn mưa bay đi (S. Krutilin), Nxb Sở VHTT Lâm Đồng, 1986.

4. Dưới ánh trăng (Guy de Maupassant), Nxb Sở VHTT Lâm Đồng, 1986.

5. Truyện phiêu lưu của Pick Wick (Charles Dickens), Nxb Thuận Hóa - Huế, 1994.

6. Con đường tuổi trẻ (Daisaku Ikeda), Nxb Trẻ, 2005.

7. Cuộc đời của luận sư Rajneesh Chandra (tự truyện Osho), Nxb Trẻ, 2007.

8. Tự thú ( Lev Tolstoy), Nxb Văn hóa Sài Gòn, 2007. 

9. Tìm lại nụ cười (Philip Martin), Nxb Văn hóa Sài Gòn, 2009.

10. Kahlil Gibran - ngọn lửa vĩnh cửu (Barbara Young), Nxb Văn hóa Sài Gòn, 2009.

11. Suy niệm mỗi ngày (Lev Tolstoy), Nxb Văn học & Khai Tâm, 2016.

12. Nghệ thuật sống (Epictetus), Nxb Văn học & Khai Tâm, 2016

13. Đời Tolstoy (Romain Rolland), Nxb Hồng Đức & Khai Tâm, 2017

14. Chuyện tình của các triết gia (Andrew Shaffer), Nhã Nam, 2018.

15. Chuyện tình của các nhạc sĩ thiên tài (Gustav Kobe), Nhã Nam, 2018.

16. Phiếm thần luận (Paul Harrison), Nxb Tri thức, 2018.

17. Đời Beethoven (Ramain Rolland), Khai tâm, 2021.

Ngoài ra còn gần 20 tác phẩm trong bản thảo, đăng trên mạng, chưa xuất bản.

ĐỖ TƯ NHƠN

Nguồn: Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 338, Đỗ Tư Nhơn gởi bản PDF qua Zalo.

READ MORE - NHỮNG KỶ NIỆM CÙNG ĐỖ TƯ NGHĨA - Đỗ Tư Nhơn

Friday, April 29, 2022

HÀNH TRÌNH THƠ TRẦN THƯƠNG BÁ, CHẶNG 3: “TẬP VÔ NGÔN KINH” – Đỗ Tư Nhơn

Như một lời cám ơn gởi về miền thiên thu vĩnh hằng – nơi yên nghỉ của nhà thơ Trần Thương Bá, người đã để lại cho cuộc đời những tập thơ có sức ngân vọng, gõ cửa trái tim những người đồng điệu tri âm. Ba tập thơ của anh hãy còn đây trên “Hành Trình Thơ Trần Thương Bá”, nén tâm hương tưởng nhớ Anh muộn màng, sau 20 năm anh xa lìa trần gian.

Nhà giáo - nhà thơ Trần Thương Bá
(1940- 2002)
 
Từ tập Tình Huế đến tập Thơ Ngây Ngô, hai chặng trên con đường thơ Trần Thương Bá trải qua 2 thi pháp: thi pháp của chủ nghĩa Lãng mạn đến thi pháp của chủ nghĩa Tượng trưng đều mang sắc thái phương Tây.
 
Giờ đây tập thơ Vô Ngôn Kinh (VNK) đang mở ra trước chúng ta một chặng mới, từ hình thức đến nội dung.
 
Góc nhìn về thể loại và nhịp thơ Vô Ngôn Kinh
 
Sau khi dùng nhiều thể loại thơ, đến Vô Ngôn Kinh anh hướng về thơ Lục bát (sáu-tám), một thể thơ bắt đầu từ Ca dao, Truyện Kiều, Nguyễn Bính …
 
Thi tập Vô Ngôn Kinh gồm 55 đoản khúc tứ tuyệt bằng thể Lục bát. Đi tìm nguồn gốc của loại tứ tuyệt, chúng ta thường gặp các hình thức: thất ngôn tứ tuyệt (7 chữ, 4 câu), lục ngôn, ngũ ngôn (6 chữ, 4 câu; 5 chữ, 4 câu). Riêng loại Lục bát tứ tuyệt đã được dung từ Nguyễn Du, Trần Tế Xương, Trần Tuấn Khải... Chế Lan Viên cho đến các nhà thơ hiện đại. Tuy nhiên hình thành một tập thơ hoàn chỉnh bằng loại Lục bát tứ tuyệt, thì chúng tôi nhận thấy có Động Hoa Vàng của thi sĩ Phạm Thiên Thư gồm 100 đoản khúc, được ấn hành năm 1971 tại Sài Gòn. Giờ đây tập Vô Ngôn Kinh nối tiếp thể loại trên ra mắt năm 1996 cũng tại Sài Gòn.
 
Một điều dễ nhận ra từ tập thơ Vô Ngôn Kinh là cách ngắt nhịp, xuống dòng (hay vắt dòng) của Trần Thương Bá thật uyển chuyển, đa dạng tạo những ấn tượng mỹ cảm mới lạ. Có thể ví anh như một nhà họa sĩ của trường phái Sắp đặt, một nhạc trưởng chỉ huy dàn nhạc, một nhà thư pháp tài hoa, sáng tạo.
 
Nếu nhịp thơ của Lục bát truyền thống đa số chọn nhịp dài, nhịp chẵn như trong câu Kiều sau:
 
“Cỏ non xanh dợn chân trời, 
Cành hoa lê trắng điểm một vài bông hoa”
                                                 (Nhịp 6/8).
 
Trái lại câu thơ Vô Ngôn Kinh thiên về nhịp ngắn, nhịp lẻ.
Câu lục (6 chữ) có nhịp lẻ, với nhiều chuyển biến phong phú, có đến 6 cách nắt nhịp khác nhau:

+ Nhịp 1 - 3 - 2: Trưa / ra đón bạn/ đầu làng.
+ Nhịp 1 - 5: Gởi / người ngàn dặm sơn khê.
+ Nhịp 3 - 3: Môi em thắm / tưởng em cười.
 
Kết hợp nhịp chẵn – lẻ như trong câu: nhịp 2-1-3:
Anh đi / còn / vết thương lòng
 
Cũng trong câu lục nhịp chẵn đặc biệt có 2 cách: 2-4 và 4-2:
 
Nhịp 2-4:
Sông sâu / bờ thẳm im lìm.

Nhịp 4-2:
Lần này thôi nhé/ về thôi.
 
Xuống câu bát (8 chữ), ngoài nhịp chẵn, Trần Thương Bá cũng tạo them nhiều câu thơ vắt dòng nhịp lẻ, có 13 cách.
 
Sau đây xin dẫn ra vài cách đặc biệt:
 
- Nhịp 1-3-1-3:
Em / qua suối nhỏ / hoa / tràn gót chân.
 
- Nhịp 3-1-4:
Con chim lạ / đến / ngủ trong tóc này.
 
Cũng có lúc nhịp chẵn kết hợp nhịp lẻ nhằm tạo nên sự đột ngột trong cảm xúc

- Nhịp 2-1-3-2:
Mơ hồ / rớt / tiếng vạc bay / ngoài thành.
 
- Nhịp 4-1-2:
Một câu lục bát / đủ / nàng ngẩn ngơ.
 
Việc đổi mới nhịp điệu câu thơ không phải là trò chơi hình thức, mà thuộc về ý thức cách tân câu thơ để tạo thêm những hiệu ứng thẩm mỹ, những xúc động, hay mở rộng liên tưởng cho người đọc, sau này trường phái Tân hình thức đã phát triển như trong bài Rượu cúc võ thìn của nhà thơ Phạm Nguyên Tường:
 
“rượu lúc cúc vàng hơi võ
thìn một thành cổ kiêu bạc
vần vũ tóc không dài hết
tiếng cười khan rũ một chiều.”
 
Nhà thơ Maiakovsky, nhà lý luân văn học Hartman đã từng khẳng định nhịp điệu là sức mạnh, là năng lượng cơ bản của thơ. Ở Việt Nam, thơ vắt dòng được dùng từ Văn Cao, Trần Dần, Phùng Quán cho đến các nhà thơ đương đại, cho nên Trần Thương Bá cũng thể nghiệm và tạo nên ấn tượng lạ. Chúng ta sẽ thưởng thức nhịp thơ Vô Ngôn Kinh hòa cùng hình tượng nghệ thuật để gởi đến độc giả thưởng ngoạn những hứng thú và nghĩ suy qua 55 đoản khúc Tứ tuyệt Lục bát.
 
Đi vào cảm nhận thơ Vô Ngôn Kinh.
 
Mỗi đoản khúc như một ký họa, trong đó có thiên nhiên hoa lá cỏ cây, có các mùa xuân, hạ, thu đông, sông nước mây trời, chim chóc. Nhân vật trữ tình hòa vào cảnh vật, với nỗi hoài hương không nguôi. Hình ảnh người nữ xuất hiện nhiều lần, mang đến hạnh phúc, lẫn xót xa. Và giữa cuộc đời đa đoan, nhiều mặt đó nhà thơ tìm cho mình một con đường.
 
+ Trước tiên, chúng ta bước vào thế giới của thiên nhiên và Em trong tập Vô Ngôn Kinh.
 
Trong Vô Ngôn Kinh, cứ mỗi bức tranh thiên nhiên từng mùa đều có hình ảnh của người nữ - Em ẩn hiện. Như thể thiên nhiên và Em là hình bóng của nhau, nằm trong nhau, cùng mang một bản thể. Hay cỏ cây, chim hoa là cái nôi ru em êm đềm. Cũng có thể là bối cảnh của tình yêu, là nhân chứng của cuộc tình khi gắn bó, lúc phôi pha…
 
Hãy cùng thưởng thúc từng bức tranh với hai nhân vật ấy:
 
“Tóc em phơi gió
bồng bềnh
nắng xuân lại đậu
trên từng sợi tơ”
(Đoản khúc 9)
 
- Em nghiêng tóc rối
trong cây
chim tha làm tổ
rắn vây
khoanh tròn.
Mùa đông ngủ
một giấc ngon
tỉnh ra
chợt ngứa chồi non
quanh mình”
(Đoản khúc 6)
 
Những bức chân dung Em giữa thiên nhiên trong trong trẻo, mang nét phiêu bồng, liêu trai khiến chúng ta liên tưởng đến tranh sơn dầu của họa sĩ Đinh Cường một thời ở Huế
 
“Em ngồi bên suối
có hay
đã bao nhiêu lá
rụng bay
theo dòng”
(Đoản khúc 34)
 
“Lưng trời
một chút sương rơi
cho em ướt áo
đem phơi gió vàng”
(Đoản khúc 24)
 
Hình bóng quê nhà trong tập thơ Vô Ngôn Kinh.
 
Phần viết về quê hương không nhiều nhưng cũng tạo nên những xúc động, ám gợi nơi tâm hồn chúng ta, thức tỉnh tìm về nguồn cội. Hình ảnh một chốn để trở về dường như xa xôi mờ ảo, chỉ thoáng qua giấc mơ của người con xa xứ vì miếng cơm manh áo:
 
- “tha hương
chẳng kịp thấy buồn
đảo điên cơm áo
cúi luồn mềm lưng”
(Đoản khúc 3)
 
Hay xa tít cuối chân trời, chỉ còn mượng tượng, từ đó trong tâm hồn xót xa, khắc khoải, như phạm tội lớn lao, như đã vong thân:
 
“Hay là ta đã quên ta
để quê hương
mãi mù xa
chân trời.”
(Đoản khúc 41)
 
Nhà thơ xứ Lebanon Kahlil Gibran (1883- 1931) đã viết trong tập PROSE POEMS: “Trên trần gian này tôi là người ly hương. Người ly hương là tôi...”. Ông giải thích ông là người cô đơn vì xa cách người thân, đồng bào. Ông cảm thấy ly hương với cả chính ông, thân xác ông. Ông là người ly hương vì không ai hiểu ngôn ngữ của tâm hồn ông. Qua so sánh, chúng ta cảm nhận rằng Trần Thương Bá đã gặp gỡ người xưa ở một chừng mực nào đó. Vì anh tin rằng đọc thơ anh chắc cũng có người đồng cảm.
 
 Khuôn mặt tình yêu trong tác phẩm Vô Ngôn Kinh.
 
Qua hình ảnh Em trong phần trên ta đã chiêm ngưỡng được vẻ đẹp của người tình- nàng thơ từng ám ảnh Trần Thương Bá. Đó là men của cuộc sống, là hương của tình yêu nhưng không phải bao giờ cũng mang đến hạnh phúc. Có khi trong thơ anh chúng ta bắt gặp “Ái ân tùng giọt / êm đềm” nhưng rồi “tủi hờn cơ cực / từng đêm ngậm ngùi” (Đoản khúc 28) hay “Ru em / ta chẳng một lời/ tay ta/ em gối / rã rời giấc trưa” (ĐK Đoản khúc 28). Có lúc quyến luyến “quen hơi / thuộc nết / tình chưa nỡ rời”  (Đoản khúc 30). Lúc khác thì chấp nhận nghịch lý “Lời thề nào / chẳng phôi pha nhớ / chẳng thưa thớt lòng” (Đoản khúc 21) và kết thúc cuộc tình trong thế “Tiễn em / héo hắt nụ cười. Em đi ta cám ơn đời từ đây” (Đoản khúc 30). Nhưng đâu đó trong tâm khảm vẫn hoài niệm cuộc tình mãi mãi không thôi:
 
“Ta thèm thở
chút hương xưa
trong tà áo cũ
ngẩn ngơ mỗi chiều”
(Đoản khúc 37).
 
Bàn về thơ Tình yêu, chúng ta không thể nào quên được thi hào R. Tagore (1861-1941) - Ấn Độ, bài thơ thứ 28 trong tập Người giữ vườn đã minh định rằng: “Tôi đã phơi bày cuộc đời mình, không che đậy, không dấu diếm. Đó là lý do tại sao em chưa hiểu ý nghĩa những lời tôi nói” Ông cho rằng tình yêu là sự đồng điệu, dâng hiến tâm hồn. Nhưng trái tim của con người lại mãi là một cõi bí mật lớn lao. Điều này cho thấy nhà thơ Trần Thương Bá không quá bi quan trong tình yêu, vì nói như HEIDEGGER “Con người là một hữu thể cô đơn”
 
Nẻo về của Tâm trong Vô Ngôn Kinh.
 
Trong thơ VNK, có nhiều bài nhắc đến nhà chùa, kinh kệ, ni cô, Quán thế âm, Ca Diếp... điều đó cho thấy đạo Phật đã ảnh hưởng đến tâm hồn nhà thơ Trần Thương Bá.Bởi thế chúng ta men theo dấu chân của thơ anh để hiểu được con đường trở về Tâm như thế nào ?
 
Chúng ta mang thân tứ đại, sống trong vô minh với nhiều tham sân si nên thường suy nghĩ, nói, hành động tạo nghiệp, ngụp lặn trong hạnh phúc lẫn khổ đau:
 
“Tâm này một niệm từ bi
Thân này
một cõi sân si
chưa rời”  
(Đoản khúc  46).
 
Rồi có những ngày “về chùa quét lá nghe kinh” một hôm chiêm bao nhớ lại tiền kiếp trong cảnh giới Tây phương Tịnh Độ, còn gọi là cõi của đức Phật A Di Đà:
 
“Tượng vàng khói tỏa
trên cao
bỗng dưng lại nhớ
kiếp nào
Tây phương”
 (Đoản khúc 52).
 
Nhà thơ của Vô Ngôn Kinh đã hiểu về luân hồi, vô thường nên trong thơ anh diễn đạt lời dạy của đức Phật một cách giản dị:
 
“Đi tìm
lửa ấm cho đời
gặp hoa chợt thấy lẽ đời
trong hoa”
(Đoản khúc Nhập).
 
Anh đã kể chuyện ngày xưa đức Phật thuyết pháp trên núi Linh Thứu bằng thơ, thật cô đọng mà chứa đựng nội dung sâu sắc vô cùng:
 
“Nói điều chẳng thể nói ra
nửa là tâm đạo
nửa là tâm kinh
Vô ngôn
ngậm miệng
làm thinh
quỳ
bên Ca Diếp
một mình cười khan”
(Đoản khúc 2)
 
Câu thơ giản dị, lối xuống dòng, ngắt nhịp, theo kiểu dàn trải trong câu lục để rồi đột ngột chuyển sang nhịp ngắn trong các câu sau nhằm thể hiện sự bất chợt trong tâm thức khi nhớ lại phút giây “tâm truyền, kiến tánh” giữa Đức Phật và Bồ Tát Ca Diếp, sơ đồ nhịp thơ: 6/4/4 và 2/2/2/1/3/4
 
Đó là pháp thiền, gợi lại chuyện xưa khi Đức Thế Tôn giảng đạo trên núi, ngài cầm một hoa sen đưa lên trước tăng chúng. Mọi người đều im lặng không hiểu ý nghĩa, chỉ có đệ tử Ca Diếp mỉm cười. Đức Phật liền trao tâm ấn. Trong sách Vô Môn Quan (cửa không cửa) của thiền sư Huệ Khai ghi lại bài kệ:
 
“Một cành hoa đưa lên
Và bí mật đã mở
Ca Diếp mỉm cười
Toàn bộ tín đồ đều hoang mang”
(Nguồn Thiền).
 
Trong lời tựa cho tập Vô Ngôn Kinh, GS Bửu Cầm (Viện ĐH SG) đã viết:
 
Chuyện có thế. Nhưng nhắc đến câu chuyện với cả tấm lòng chân thành ngưỡng mộ, muốn lấy đó làm gương cho việc tu dưỡng bản thân, Trần Thương Bá thật sự đã tiến vào Cõi Thiền là thế giới không thể dùng ngôn từ để diễn tả. Đó là lý do tác giả đã chọn ba chữ VÔ NGÔN KINH làm nhan đề tập thơ này”
 
VÔ NGÔN trong đạo học Đông phương là một đặc điểm tư tưởng đã chi phối hình thức lẫn nội dung văn học Đông Á, trong đó Nhật Bản với thơ Haiku, Trung Hoa có Thơ Đường, Việt Nam có thơ Thiền Lý - Trần. Đó tính hàm súc, cô đọng, ý nghĩa ẩn sau ngôn từ, ý tại ngôn ngoại, có sức gợi lớn, âm hưởng và dư ba…
 
Trần Thương Bá đã kế thừa chất Vô Ngôn đó trong Hành Trình Thơ chặng cuối của mình.
 
Trở lại chữ Tâm và làm cho tâm an định, không còn chạy lăng xăng như “tâm viên ý mã” (tâm như vượn, ý như ngựa), điều phục tâm qua nhiều bước để đi đến giải thoát, giác ngộ mà 10 bức tranh Chăn trâu là biểu tượng cho hành trình tu chứng. Trần Thương Bá vẫn luôn mong ước điều đó, cho tâm được an lạc:
 
“Bao giờ
an lạc tâm này
lên non
nằm ngủ
giữa bầy chim muông”
(Đoản khúc 53).
 
Hình ảnh trong bài thơ trên khiến ta liên tưởng đến thơ Phạm Thiên Thư trong tập Động Hoa Vàng:
 
“Ta về rũ áo mây trời,
gối trăng đánh thức bên đồi dạ lan.
rằng xưa có gã từ quan,
lên non tìm động hoa vàng ngủ say”
 
Gặp gỡ của hai nhà thơ khi cùng được tắm mát trong dòng suối đạo học phương Đông, trong thể thơ lục bát tứ tuyệt du dương, lại biến đổi nhịp điệu uyển chuyển đã góp vào thi ca dân tộc những bài thơ cô đọng nhưng có sức gợi lan xa, tạo cho người đọc sự rung cảm nhẹ nhàng nhưng sâu lắng. Đọc thơ của Phạm Thiên Thư và Trần Thương Bá ướp hương xưa là một liệu pháp điều trị chứng tâm bệnh thời đại nhiều thù hận, tham lam, tàn bạo này.
 
                                          ĐỖ TƯ NHƠN  
                               Thị Xã Quảng Trị, 14-4-2022 
*

Tài liệu tham khảo:
 
1. Thơ tình tứ tuyệt. NXB Đồng Nai.
2.Động Hoa Vàng (Phạm Thiên Thư). NXB VN 2006
3.Thơ văn xuôi (Kahlil Gibran). NXB.Đà Nẵng 1998
4.Tâm tình hiến dâng (R. Tagore). NXB. ĐN 1996.
5.Nguồn Thiền. NXB Tự điển bách khoa 2009
6. Thương nhớ Võ Thìn. NXB. HN 2016
7.Từ điển Danh từ Phật học thực dụng (Tâm Tuệ Hỷ)
NXB Tôn giáo. 2005

READ MORE - HÀNH TRÌNH THƠ TRẦN THƯƠNG BÁ, CHẶNG 3: “TẬP VÔ NGÔN KINH” – Đỗ Tư Nhơn