Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Đỗ Tư Nhơn. Show all posts
Showing posts with label Đỗ Tư Nhơn. Show all posts

Friday, September 25, 2026

TƯỞNG NHỚ BẠN XƯA: NHỚ ANH TRẦN VĂN LỮ - Đỗ Tư Nhơn



TƯỞNG NHỚ BẠN XƯA:

 NHỚ ANH TRẦN VĂN LỮ 

ĐỖ TƯ NHƠN

 

Mỗi khi tưởng nhớ những người bạn trân quý một thời dưới mái trường trung học Nguyễn Hoàng Quảng Trị đã sớm lìa cõi tạm về chốn vĩnh hằng, lòng tôi không tránh khỏi bồi hồi xúc động. Điều đó khiến tôi tìm lại trong ký ức từng khuôn mặt,dáng hình, mượng tượng từng cử chỉ, nụ cười…nhằm phác thảo bức chân dung tinh thần của bằng hữu.Tôi đã thắp nén tâm hương mỗi độ xuân về để thương tiếc các anh Phan Phụng Thạch, Trần Thương Bá, Đặng Sĩ Tịnh, Trần Đình Bé trong từng giai phẩm Hương Quê Nhà (SG) đặc san Nguyễn Hoàng (Huế) . 

Giờ đây, cùng với những trang Di cảo của anh Trần Văn Lữ, do người em trai là Trần Thiện Tài công bố, tôi xin gợi lại đôi nét về anh.

Trần Văn Lữ (tức Thạch) sinh năm 1942, xuất thân trong một gia đình nhà giáo, quê nội ở làng Quảng Lượng, Triệu Phong, Quảng Trị.Thân mẫu của anh thuộc dòng tộc lớn của làng Thạch Hãn. Khu vườn nhà anh rộng rãi với cây trái sum suê nằm cạnh con đường thẳng tắp, hai bên là những bức tường gạch dài, chiếc cổng bằng gỗ thường khép kín của một đại điền chủ giàu có. Con đường này rất đẹp, ban đêm mùi hoa dạ lan hương từ các sân vườn tỏa ra thơm ngát, phảng phất trên mái tóc những cô gái, chàng trai từng bước chân chầm chậm thầm thì câu chuyện trăng sao. Những anh em họ Đoàn có truyền thống học giỏi, mấy chị em họ Trần hiền thục duyên dáng đáng yêu cùng từ con đường này đến trường Nguyễn Hoàng. Gần đây, con đường này được mang tên của ngôi làng xưa, có biển đề Thạch Hãn, một chứng tích lưu giữ hồn quê giữa phố thị. Hồi đó, tôi học sau anh Trần Văn Lữ hai lớp nên chưa quen anh, chỉ biết cô em gái Dạ Hương ngày ngày đi học cùng các bạn. Anh theo học ở Viện Hán học - Huế khóa 1960-1965, đồng thời với Lý Văn Nghiên, Hoàng Đằng, Trần Văn Dật. Lúc mới ra trường, anh dạy ở trung học Quảng Phước, Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên. Năm 1969, thuyên chuyển về Nguyễn Hoàng. 

Năm 1970, tôi về dạy cùng trường, kết bạn với anh và Phan Phụng Thạch.Tính anh rất hiền lành và khiêm tốn, trên môi thường nở nụ cười, bạn bè và học sinh rất thương mến. Hằng ngày anh đi qua con đường trước ngõ nhà tôi để đến trường. Chúng tôi trao đổi cho nhau những sáng tác, các tài liệu văn học, tham gia Đặc san Xuân 1971, Hội mùa xuân 1972. Ngoài ra, với bút danh Trần Lãng Tử, anh đã góp mặt trên tạp chí Chim Việt do anh Hồ Thế Vĩnh chủ biên. Còn nhớ những ngày chuẩn bị giai phẩm HỘI MÙA XUÂN (HMX), chúng tôi đã chia nhau đọc bài của học sinh gửi đến thật phong phú, đa dạng. Các thầy cô Phạm Sữu, Phan Phụng Thạch, Trần Văn Lữ, Văn Chương, Trần Kiêm Đoàn, Võ Thị Hồng, Nguyễn Thiện…đã viết bài và giúp trưởng ban biên tập rất nhiều để chọn lựa những tinh hoa đưa vào vườn thơ văn HMX, đó là những ngòi bút tài năng đầy triễn vọng như Nguyễn Tùng, Thái Đào, Võ Thị Quỳnh, Nguyễn Đặng Mừng,Võ Văn Hoa, Đỗ Huy Sanh, Hoàng Văn Chẫm…, mà đến nay, ít nhiều đã khẳng định được vóc dáng của mình qua tác phẩm. Bên cạnh các đồng nghiệp, anh Trần Văn Lữ gởi đăng bài “Mùa xuân, hoa đào và ông đồ già trong thơ Vũ Đình Liên". Hãy lần giở giai phẩm H M X của 52 năm trước để nghe thầy giáo văn chương bình thơ thật tâm huyết :

‘’Nho học dần dần được thay thế bằng Tây học…Người ta quên “ông đồ”, trời đất dường như ngậm ngùi cho nhân thế. Vũ Đình Liên lại bày tỏ niềm thương cảm đầy bâng khuâng,lưu luyến ,băn khoăn về “cái di tích tiều tụy đáng thương một thời tàn” (Hoài Thanh- Thi nhân VN ).

"Năm nay hoa đào nở

Không thấy ông đồ xưa

Những người muôn năm cũ

Hồn ở đâu bây giờ? ‘’

Từ "Ông đồ già” của Vũ Đình Liên, anh Trần Văn Lữ đã liên tưởng tới những người đồng nghiệp trong sự cảm thông sâu sắc và ngậm ngùi xót xa: “Ngày nay, trong những năm dài chinh chiến, nhiều vị giáo viên, giáo sư đã âm thầm nằm xuống sau những năm tháng đem hết sức, tâm huyết giảng huấn, truyền đạt, hy sinh. Có người chết ngay cả khi đang làm “sứ mệnh” giảng dạy. Họ chết đi, không hiểu linh hồn họ có được thảnh thơi siêu thoát hay còn dật dờ đây đó buồn thương, chán ngán cho thế sự nhân tâm, "Hồn ở đâu bây giờ".  Họ đã chết đi để cho những mầm non do họ chăm sóc, lo lắng,uốn nắn từng ngày,từng giờ sẽ sống vươn cao nơi xứ mình, xứ người."

Cuối cùng là điều băn khoăn day dứt từ tâm khảm của thầy Trần Văn Lữ vô cùng chân thành thiết tha,nói hộ cho đồng nghiệp muôn đời.

"Có còn ai nghĩ tưởng về những vị ân sư trẻ trung hay già nữa không đây?!"

Tấm lòng đối với thầy cô NH năm xưa đã được các cựu học sinh thể hiện trong cuộc sống,trên trang viết tri ân thắm đậm tình nghĩa thầy trò của báo Nguyễn Hoàng khắp nơi.Xin quý thầy cô, anh chị yên lòng về truyền thống nhân văn cao đẹp ấy của đại gia đình mang tên Chúa Tiên.

Năm 1972, sau hội mùa xuân rộn ràng diễn ra trên sân trường Nguyễn Hoàng, lửa đạn chiến tranh đã ập vào Quảng Trị, người dân bỏ quê vượt đèo Hải Vân tỵ nạn, thầy trò bỏ lại ngôi trường thân yêu. Lúc này, hai địa điểm tạm thời để học sinh tiếp tục trau dồi kiến thức là trại tạm cư Hòa Khánh và Non Nước, thuộc Đà Nẵng. Làm sao diễn tả hết nỗi lòng của con người Quảng Trị khi nhìn về quê nhà xa xôi đang bị bom đạn cày xới. Không thể vô tư, nhà thơ Trần Lãng Tử, ngày đêm bồn chồn tiếc nhớ từng con đường, hàng cây, giáo đường, ngôi chùa, quán ca fe, góc chợ, hiệu sách, dòng sông, bến nước, cây cầu … Trong Di cảo của anh Trần Văn Lữ có hai bài viết dạng tùy bút-hồi ký, bây giờ chúng ta đọc lại, vẫn không tránh được niềm xúc động dâng lên trong lòng! Trước tiên, hãy cùng thưởng thức bài tản văn có nhan đề "Thương về Quảng Trị" được viết vào tháng 7-1972, sau ba tháng lìa xa quê nhà. Này đây hãy lắng nghe dòng cảm xúc tuôn trào trong từng câu chữ, để cùng ôn lại những hình ảnh, nơi chốn, kỷ niệm một thời dấu yêu:

"Thế là tôi xa xứ Quảng thân yêu ba tháng trời. Quảng Trị giờ đây mờ mịt lửa đạn. Đêm đêm nhìn về hướng Bắc xa xôi , tôi nghe nhiều nhớ thương dâng tràn.‘’…

‘’ Con đường Quang Trung thẳng tắp trong tháng ngày qua, mưa về sũng nước nhưng sao láng lẫy thế! Còn đâu những ngày đi ngang qua giáo đường Thạch Hãn, nhìn hàng cây bàng khoác áo màu xanh đầy hy vọng vươn cao….Nào đâu những chiều ngồi trong quán Văn, quán Quyên, quán Gió… thả hồn trong khói thuốc. Bún tai mụ Dư trong đình chợ, bún cô Ba, bún Nông Tín ngon thật là ngon khi chiều chiều ghé lại… Tìm đâu những lúc đứng ở quán sách Tùng Sơn, Lương Giang…

"Con đường, quán chợ, dòng sông, bến nước, chiếc cầu, cái gì cũng quá quý, cầu cho nó được còn mãi. Quảng Trị nho nhỏ như một chiếc áo ấm, nhưng nó che chở ta tháng ngày qua trong giá lạnh.

"Con sông Thạch Hãn nước vơi đầy, rồi lần mùa mưa lũ đến, nước đục ngầu lềnh bềnh củi rều… Khi mùa hạ về, nó trải lòng cho người ta chiêm ngưỡng. Lòng dân người Quảng Trị cũng chân chất như dòng sông Thạch Hãn trong mùa nước cạn.

"Nhà thờ La Vang, chùa Sư Nữ, hết rồi những ngày đại hội, rằm mồng một. Chắc giờ đây chỉ là đống gạch vụn vì chinh chiến.‘’

Đó là một bài tùy bút có giọng văn ngọt ngào, thấm đẫm tình yêu quê nhà, dẫn chúng ta về với thị xã Quảng Trị xưa thân thuộc đang quằn quại đau xót giữa bom đạn mịt mù! Ước mong được trở về Quảng Trị luôn cháy bỏng trong tâm hồn mọi người con của Non Mai, Sông Hãn, trở thành điệp khúc nguyện cầu thiêng liêng tha thiết trong từng câu văn ngân vang trong không gian,trong tâm hồn mọi người:

"Mong sao được trở về Quảng Trị sớm để nhìn lại thành phố thân yêu, mảnh vườn xanh lá cây, nương chè, lũy tre, ruộng lúa, chiếc cầu ao loáng nước, mồ mả cha ông.

Bà con xóm giềng còn bị kẹt, con chó quấn quit bên nhà không hiểu ra sao?...

Quảng Trị ơi, ta chờ mong ngày trở về…Ta sẽ trở về cúi hôn mặt đất xứ Quảng của ta.Từng kỷ niệm sống động trong ta khắc khoải từng ngày từng giờ nếu còn xa Quảng Trị. Nguyễn Hoàng, Bồ Đề, Thánh Tâm, Phước Môn… hay chờ dân Quảng Trị về xây dựng lại.

Quảng Trị ơi, muôn người đang rưng rưng lệ nhớ thương về người.‘’

Bên cạnh con người nặng tình với quê hương, còn có một con người luôn gắn bó thân thiết với bạn bè. Cho nên, khi cùng vào ở trại tạm cư Đà Nẵng, anh Phan Phụng Thạch đã viết  "Bài Thơ Làm Khi Say Rượu"  đề tặng nhóm bạn chí thân, anh chọn hình ảnh anh Trần Văn Lữ để khắc họa đầu tiên vì đã hiểu rõ nhau, chia sẻ cùng nhau những buồn vui trong phận người:

"Buổi tối tiêu sầu-chai rượu đắng/Tri âm !Này hãy uống cho say

‘’Lỡ mai có chết- không ân hận,/ Vì đã ngồi chung một chiếu này!

"Thằng bạn chưa già nhưng tóc bạc/ Bụng đầy Kinh Lễ với Kinh Thư

"Chuyện đời hư ảo xin mày gác/ Không lẽ mày là Ngũ Tử Tư?"

Mấy câu thơ trên đã giới thiệu khá rõ nét về người bạn với lối so sánh có chút đùa tếu khi nhắc đến “bụng đầy Kinh Lễ với Kinh Thư”. “Không lẽ mày là Ngũ Tử Tư?” Bởi anh Trần Văn Lữ xuất thân từ Viện Hán học, kiến thức về Nho giáo, sách sử xưa phong phú.Thêm vào đó là giống nhân vật Ngũ Tử Tư: “Một đêm suy nghĩ tóc bạc trắng!’’

Đây là nhóm bạn tham gia Hội Hồng Thập Tự, làm công tác xã hội từ thiện giúp nhân dân các vùng bị thiên tai, bom đạn, cho nên như anh em ruột thịt một nhà. Trong những ngày sống trong trại tạm cư Đà Nẵng, căn bệnh ác tính của anh Phan Phụng Thạch đến hồi trầm trọng, bạn bè cùng gia đình thay nhau săn sóc cho đến khi anh từ trần.Trong đó, anh Trần Văn Lữ, Lê Lợi là bằng hữu luôn ở bên cạnh nhà thơ họ Phan, cho nên anh đã ghi lại những giây phút cuối cùng của Gs Phan Phụng Thạch và đọc tại Lễ tưởng niệm một năm nhà thơ Phan Phụng Thạch về cõi thiên thu, gồm gia đình, nhà trường, thân hữu, đại diện học sinh. (Tôi được phân công giới thiệu thơ PPT).Trên tờ giấy A.4 gấp hai, viết trọn bốn mặt, anh Phan Ngọc Bích (em trai PPT) trao cho tôi là bút tích của anh Trần Văn Lữ kể lại từng chi tiết cuối cùng ở Bệnh viện Việt Đức của người bạn họ Phan, có đoạn như sau :

"Rạng ngày thứ bảy 24-2-1973, độ 4-5 giờ sáng, chúng tôi tự nhiên thấy bồn chồn xao xuyến.Từ trại Hòa Long, chúng tôi đi bộ lên trại 5 để rủ Lợi qua anh. Cũng vừa khi đó, một thân nhân của anh sang tin cho hay là anh đang hấp hối. Chúng tôi qua đến nơi thì anh đã yếu lắm.Thở đã cách khoảng. Đôi mắt đã trăng trắng và kéo sụp mi nhiều. Đêm qua anh đã chuyện trò cùng thân mẫu anh, không nói ra được nên anh đã lấy sổ ra để bút đàm cùng bà. Nghẹn ngào đau đớn, anh trút hơi thở cuối cùng lúc 7 giờ 25. Tiếng khóc của thân mẫu anh làm chúng tôi se thắt. Bào đệ của anh, Lợi và tôi cũng không cầm được sự xúc cảm tột cùng. Sau đó trên chiếc xe HTT của bệnh viện Đức, thân mấu anh và tôi đưa thi hài anh về trại 5. Ngồi trên xe giữ chiếc băng ca, tự nhiên nước mắt tuôn trào…’’

Trong lễ truy điệu nhà thơ Phan Phụng Thạch, cùng với bạn bè viết điếu văn, khóc bạn, anh Trần Văn Lữ nghẹn ngào đọc bài thơ Tiếc Thương: 

“Đại dương, sóng vỗ xôn xao/ Thạch ơi mầy chết biết bao đau buồn

Mây trời vẫn cứ bay luôn/ Bóng mầy đâu nữa những hôm chuyện trò

Nhạc còn huệ vẫn thơm tho/ Trà đây rượu đó nào giờ cụng ly…

Lá bay bay mãi im lìm / Mầy đi, đi biệt như chim tách đàn.

Hết rồi giây phút liên hoan / Yêu đời nghe hát dư vang đêm nào."

Bài thơ thể 6/8 dung dị, ngôn ngữ xưng hô thân mật, không khách sáo, hình ảnh gần gũi đã thể hiện tình bạn chân thành, sự tiếc thương vô hạn, nỗi mất mát lớn lao!

Để hiểu thêm tấm lòng của anh đối với bạn, chúng ta đọc hồi ký của anh Hoàng Đằng đăng trong Đặc san 60 NĂM NGUYỄN HOÀNG (- 2012): “Trần Văn Lữ rất quan tâm đến bằng hữu. Năm 1974, biết tin tôi sẽ đi vào Sở Học chánh Bình Tuy,Trần Văn Lữ đã sốt sắng tìm tôi, trao lá thư giới thiệu với anh Nguyễn Như Lộc, nguyên Hiệu trưởng trường Quảng Phước mới vào nhận chức Chánh sự vụ sở này. Trần Văn Lữ hy vọng nơi đất khách quê người, tôi sẽ có người che chở. Sau đó ít lâu, Trần Văn Lữ qua đời. Đến bây giờ, mỗi lần nghe nhắc đến tên Trần Văn Lữ, tim tôi lại rung động, mắt tôi lại rươm rướm!“

Nhìn lại bức chân dung tinh thần của anh hiện lên qua lời kể, cùng trang văn, câu thơ còn lại, chúng ta đều hiểu được tâm hồn anh giàu tình nghĩa, đa cảm, thật đáng trân trọng, mến yêu!

. Nhưng chắc không ít bằng hữu và học sinh cũ cảm thấy thiếu sót nếu bài viết này không nói đến một góc nhỏ của tình yêu trong thơ Trần Lãng Tử. Qua mấy lần giới thiệu thơ Trần Thương Bá, Phan Phụng Thạch, Triệu Phong, Đặng Sĩ Tịnh, chúng tôi đã cùng xao xuyến với nhiều cung bậc, giai âm của ái tình. Nhưng lần nầy lại khác. Có chút ái ngại khi nói về niềm đau, nỗi buồn, xót xa trong tận cùng của tâm hồn người bạn khả kính, cam chịu trong éo le của tình duyên. Tuy khá thân tình nhưng tôi cũng tránh né, không hỏi han chuyện riêng tư tế nhị của bạn. Hôm nay, đọc những bài thơ của anh - Trần Lãng Tử trên Chân Dung Và Kỷ Niệm, chúng ta sẽ mở cánh cửa lâu nay khép chặt đó để cảm thông và chia sẻ những nỗi niềm sâu kín cùng anh. Đây là những bài thơ có lẽ được sáng tác sau khi Chúa Trời đã xua đuổi anh ra khỏi căn vườn mang tên Hạnh Phúc vào năm 1969. Những câu hát đâu đây còn vọng lại: "Em đang tâm xé nát tim tôi…’’ như lời trong Niệm Khúc Cuối của Ngô Thụy Miên. Anh sáng tác bài LỜI NÀY CHO EM‘ trong thời gian bi kịch tình yêu đang gây bão tố quay cuồng. Hai khổ thơ hiện ra sự đối lập giữa hạnh phúc êm ấm với tan vỡ chia xa, nhưng giọng điệu dường như vẫn du dương vì tác giả dùng nhiều từ có thanh bằng. Bốn câu đầu là kỷ niệm đẹp, tháng ngày tay trong tay, tình nồng lên khơi:

‘’Qua bao tháng ngày / Trong đôi vai gầy /Tình ơi lên khơi/Trong đôi tay này.

Lại diễn ra sự khác biệt, mâu thuẫn giữa thiên nhiên bên ngoài với nội tâm nhà thơ, nắng ấm không sưởi được cõi lòng giá lạnh cô đơn vì đột nhiên bị xa cách ngàn trùng:

‘’Nắng lên khắp trời/Nắng lên chơi vơi/Nhưng tôi vẫn gào:Tôi xa em rồi.Tiếp theo tiếng gào thảng thốt đó là trạng thái tâm lý điên dại vì đau khổ trước nghịch cảnh phũ phàng, tan nát bao thề nguyền.

Câu thơ cuồng nộ như không thể chịu đựng được nữa: ‘’Xé nát mặt trời/Xé cả mặt trăng/Xé luôn thân nàng/ Lòng không ăn năn"

Giờ đây, nhà thơ họ Trần đã về cõi vĩnh hằng nhưng còn gởi lại những câu thơ ám ảnh day dứt về nỗi cô đơn trống trải trên dương thế để tìm sự đồng cảm và sẻ chia:

‘’Chết rồi thịt nát xương tan /Hồn bơ vơ nữa ai hàn huyên đây ? ‘ ‘

Sống mãi trong lẻ loi, nhà thơ Lãng Tử đã tìm đến cõi mộng như một liệu pháp, một cách hóa giải nỗi đau buồn nhức nhối không nguôi của những người bị tình phụ. Trong bài MỘNG gồm có 6 đoản khúc, như từng trang nhật ký để mình đối thoại với mình, thầm thì an ủi chính bản thân…

"Nhớ nhung mộng mới trở về/ Tỉnh ra mộng biến não nề tấm thân!

"Nhớ em dẫn mộng vào đêm/ Cuộc đời qua mãi như rèm chiêm bao.’’

‘’Ngủ say mộng lén vào hồn/Niềm vui phủ mắt, Dậy buồn tâm tư’’

‘’Trở mình- đêm lạnh- mộng nhiều/ Ước mơ- xa cách-bao điều em ơi

‘’Người đây hồn lạc về đâu/ Gieo bao nhung nhớ u sầu mộng tan.’’

‘’Nghĩ đời kể cũng nực cười/ Đêm đêm là mộng, ngày rời mộng thôi!

Đến đây, chúng ta liên tưởng đến câu chuyện tình giữa Hàn Mặc Tử và người đẹp Mộng Cầm, với bao lần hẹn hò, say đắm,gắn bó thiết tha thế nhưng kết cục thật buồn. Khi biết nhà thơ họ Hàn bị bệnh nan y, nàng đành đoạn tình, bước lên xe hoa để cho họ Hàn đau khổ khôn nguôi, có lúc tự nhủ: ‘’Làm sao giết được người trong mộng, để trả thù duyên kiếp phụ phàng!" Nhưng khi lòng lắng xuống,hồn thơ trở nên dịu dàng chịu đựng ông viết bài Những Giọt Lệ :

‘’Họ đã xa rồi khôn níu lại /Tình thương chưa đã mến chưa bưa

Người đi một nửa hồn tôi mất /  Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ!

Và: 

Dẫu đau đớn vì điều phụ rẫy/ Nhưng mà ta không lấy làm điều

(Muôn năm sầu thảm)

Bản tính anh Trần Văn Lữ vốn hiền lành, thương người, cam chịu, cho nên tuy những cơn đau trong lòng có khi khiến anh muốn gào thét xé nát cả vũ trụ, nhưng cũng như Hàn thi sĩ, anh tìm được sự cân bằng nhờ thi ca và cuộc sống. Anh góp phần vào sự nghiệp khai nguồn trí tuệ cho thế hệ trẻ, vỗ về an ủi người dân bị thiên tai, bom đạn qua hoạt động từ thiện cùng bạn bè.Năm 1973 anh khóc thương tiễn nhà thơ Phan Phụng Thạch về nơi an nghỉ cuối cùng trên đồi cát trắng Non Nước, thì năm sau gia[1]đình, đồng nghiệp và học trò lại đưa anh đến chỗ nằm bên cạnh bạn thân bao ngày gắn bó. Một thời gian sau, hài cốt của hai anh về với làng quê của mình bên tổ tiên. Trong dịp cùng thầy Nguyễn Văn Thị về Bồ Bản thăm mộ thầy Lê Đình Ngân, chúng tôi đã ghé Quảng Lượng thắp hương cho anh trong khu nghĩa trang của gia đình. Hiện nay, anh Trần Thiện Tài cho biết gần đây đã cải táng toàn bộ các phần mộ nội thân về Nha Trang.Tôi thầm hứa sẽ vào viếng anh trong một ngày thuận tiện không xa. Mong anh tha thứ cho tôi vì đã chạm vào vết thương của những ngày tháng dương gian xa xưa ấy!

Viết tại làng Thạch Hãn cuối xuân Giáp Ngọ. 2014

Thắp nén tâm hương tưởng nhớ anh Trần Văn Lữ 50 năm xa đời.

ĐỖ TƯ NHƠN

.


READ MORE - TƯỞNG NHỚ BẠN XƯA: NHỚ ANH TRẦN VĂN LỮ - Đỗ Tư Nhơn

Tuesday, December 5, 2023

HAI ANH EM HỌ ĐỖ - Thơ Đỗ Tư Nhơn

 
  
            Hai anh em Đỗ Tư Nhơn, Đỗ Tư Nghĩa


HAI ANH EM HỌ ĐỖ
 
Anh em nhà họ Đỗ
Mồ côi cha từ nhỏ
Sống với mẹ, chị, bà
Thời chiến tranh gian khổ
 
Cùng mê say văn chương
Chọn sách gối đầu giường  
Phạm Công Thiện, Ý thức...    
Gạch chân đỏ nhiều trang 
 
Anh theo nghề gieo hạt  
Ươm mầm cho tuổi xanh    
Em miệt mài dịch thuật    
Minh triết của hiền nhân   
 
Thỉnh thoảng anh ghé thăm em    
Lưng chừng dốc Nhà Chung   
Căn phòng trọ trong hẻm  
Một mình sống an nhiên  
 
Rủ nhau ra ngồi quán  
Trước nhà thờ Chánh tòa   
Ly cà phê buổi sáng    
Ngồi lặng yên nhìn xa  
 
Từ lúc em giã biệt   
Vẫy tay chào trần gian  
Đà Lạt nghe trống trơn 
Anh bước đi cô tịch    
 
Hẹn một lần gặp lại   
Nơi sông suối cỏ lau   
Nắm chặt bàn tay nhau   
Tình anh em còn mãi.
 
Đỗ Tư Nhơn
Thị xã Quảng Trị, 4-12-2023.

  

 
        Chỗ ngồi năm xưa/Chỉ còn ghế trống/
        Em về cõi không/Anh buồn lệ ứa!

READ MORE - HAI ANH EM HỌ ĐỖ - Thơ Đỗ Tư Nhơn

Tuesday, November 14, 2023

TÂM TÌNH CỦA DIỄN VIÊN, ĐẠO DIỄN LÊ CUNG BẮC (1946-2021) QUA TẬP HỒI KÝ "BỤI CÁT CHÂN MÂY" – Đỗ Tư Nhơn



Đại thi hào Nguyễn Du đã viết bài thơ Độc Tiểu Thanh Ký nhằm bày tỏ mối thương cảm, tri âm cùng ngƣời con gái đời Minh, tài hoa bạc mệnh, oan khiên, đau đớn. Khi kết thúc, ông đã không khỏi ngậm ngùi tự hỏi:
 
“Bất tri tam bách dư niên hậu,
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?”
 
Sự đồng cảm, tri âm là điều cần thiết vô cùng đối với văn nghệ sỹ, nghệ thuật. Hơn 70 năm sống giữa cuộc đời, gần 40 năm dấn thân, đam mê đi vào con đường sân khấu, điện ảnh, diễn viên - đạo diễn Lê Cung Bắc như chưa muốn dừng bước. Nhưng căn bệnh trầm kha, đột ngột cắt đứt dự phóng nghệ thuật của anh. Một tập hồi ký cuối đời đã được vội vàng kể ra bằng lời, đứt quãng, hụt hơi vì hóa trị, nhức nhói, đuối sức. Nhưng anh vẫn kiên cường chiến đấu cho đến hơi thở cuối cùng . Đó là tác phẩm BỤI CÁT CHÂN MÂY, được nhà văn Hồ Sĩ Bình trân quý biên tập để nhà xuất bản HNV ấn hành vào tháng 5 năm 2023, gần đến ngày giỗ lần thứ 2 của anh.
Chính trong thời gian ngắn, từ ngày 5-4-2021 cho đến trước khi anh từ giã trần gian, chỉ hơn hai tháng quằn quại trong cơn đau, anh đã kể lại cho diễn viên Hồng Ánh, Võ Sông Hương và chị Bùi Thị Giang (vợ anh) ghi âm.

Cuối cùng, chính người vợ của anh phải chấp bút, ghi lại trong tâm cảm yêu thương vô cùng, trong phần “Lời thưa” chị đã bộc bạch: “... đó cũng là cách tôi được đối thoại với hương linh của anh nên tôi đã miệt mài viết, và đôi lần dừng lại tôi có cảm tưởng mình viết trong mộng du”. Trong bản ghi âm đầu tiên anh đã nói lên tâm sự chân thành của mình như sau:

“Tôi nói những dòng này để Võ Sông Hương ghi lại trong lúc tôi biết rằng dòng đời của tôi đã cạn, tôi không biết ngày nào sẽ rời khỏi thế gian. Cổ nhân thường nói : tiếng hót của con chim sắp chết rất đáng thương..., lời nói của người sắp chết rất chân thành.Tôi ghi lại trất cả những gì tôi đã nhìn thấy, đã trải qua, đã sống trong suốt cuộc đời , từ lúc sinh ra ở một ngôi làng nhỏ miền trung...”
 
Tập hồi ký có tất cả 6 chương và 3 phần phụ, đây là nơi anh đã trải lòng, dòng sông tâm tình bắt đầu cội nguồn quê hương, tổ tiên, đại gia đình. Sau đó là hồi ức về tuổi thơ, thời hoa niên học tập, con đường hình thành sự nghiệp, phận đời sau 1975, gia đình yêu quý, hành trình đi tới đam mê.
 
* Nghĩ Về Nguồn Cội, Tổ Tiên.

Anh đã ghi lại câu nói của Bruce Weil như một nguyên tắc sống: “Một người không yêu nguồn cội của mình thì sẽ không yêu ai cả”. Đó là tình yêu quê hương, nơi tổ tiên tạo dựng, hình thành những truyền thống đạo lý, tri thức cao đẹp để con cháu về sau tiếp tuc phát huy.
Với Lê Cung Bắc, làng Xuân Thành, xã Triệu Độ của anh thật là nhỏ bé, như một cù lao, sông nước bao quanh, đi hết một vòng e chưa tàn điếu thuốc, nhưng là đất văn hiến, khoa bảng đáng tự hào. Chính ông nội anh, ngài Lê Phát đỗ Đệ tam giáp Tiến sĩ, làm chức quan tại Quốc sử Quán, sau thăng Thừa Lĩnh Thị độc, sung vào Nội các Sự vụ. Các đời sau, con cháu của ngài cũng nhiều người đỗ đạt. Cha anh làm Hàn Lâm Viện Thị Giảng. Dân chúng Quảng Trị đã ghi nhận truyền thống vẻ vang trên bằng câu ngạn ngữ “Họ Hoàng Bích Khê, họ Lê Xuân Thành”
 
* Hồi Ức Tuổi Thơ

Những hồi ức về tuổi thơ tại làng quê gian khổ trong chiến tranh, người dân phải sống giữa hai làn đạn. Giữa một đêm tối mịt mùng, cha anh bị một nhóm người lạ bắt đi và giết chết đau đớn tức tưởi ! Anh cho biết gia đình anh có bốn ông anh đi bộ đội Việt Minh. Anh mồ côi cha từ đêm hôm đó, vừa được 10 tháng tuổi, để lại cho ngƣời mẹ trẻ tần tảo nuôi 3 đứa con. Từ đây anh côi cút giữa cuộc đời, lúc thì vào tận SG, nhờ gia đình người anh trai để được học. Mấy năm sau về lại làng quê bên mẹ. Anh làm cho mẹ vui lòng nhờ kết quả học tập, luôn luôn giỏi cho đến ngày lên tỉnh, bước vào tuổi hoa niên.
 
* Tuổi Hoa Niên.
 
Niên học 1959-1960 anh thi đỗ vào trường trung học Nguyễn Hoàng, ngôi trường trung học công lập danh tiếng của Quảng Trị và miền Trung một thời.Ở nơi đây anh bắt đầu được hưởng nền giáo dục mang tính chất Dân tộc – Nhân bản - Khai phóng. Chính môi trường này đã cung cấp kiến thức, kỹ năng để tiếp tục đi trên con đường tương lai. Ở đây anh bắt đầu tập dượt các vở kịch lịch sử cùng bạn bè để sau này lên Đại học Đalat, SG phát triển đích sau cùng. Trường Nguyễn Hoàng cho anh 5 năm học trập, nhưng đã để lại trong anh biết bao kỷ niệm đẹp. Một mối tình học trò trong trắng, nhưng cũng cho anh nhiêu thương nhớ khi chia xa. Bài thơ ngắn đã ghi lại tình yêu dang dở đầy xúc động của chàng thư sinh Lê Cung Bắc:
 
“Mười năm nữa có khi về phố cũ
Cổng nhà em in nửa dấu hài rêu
Trông từng chiếc lá vàng bay bỡ ngỡ
Buồn xa xưa Kim Trọng nhớ nhung Kiều”

(Trích bài viết “Thư gởi H.D nữ sinh lớp đệ tam C Nguyễn Hoàng (NK 63-64)” của LCB).
 
Những người bạn thân thiết, sau này tìm lại nhau, ngồi bên nhau qua dâu bể, như Lê Văn Trạch, Lê Quang Ngân, Lê Đình Lộng Chương... Anh cho rằng: “trung học Nguyễn Hoàng luôn ở trong trái tim tôi.” Điều đó đã được chứng thực từ những năm 90 của thế kỷ 20, khi thầy trò Nguyễn Hoàng đã nối kết, sinh hoạt do BLL NH SG được hình thành. Anh Lê Cung Bắc đã tham gia từ những ngày đầu cho đến khi anh qua đời, chị Bùi Thị Giang đến dự thay anh.
Kế tiếp là 2 năm anh học trường Quốc Học –Huế, được học và giao tiếp thêm, anh bắt đầu định hướng cho tương lai sau khi đỗ tú tài 2, lên Đalat học Đại học. Anh từng xác định: trường Quốc Học – Huế là cái nôi hình thành nhân sinh quan.
 
* Con Đường Định Hình Sự Nghiệp (trước 1975).

Tại Đalat, anh theo học trƣờng Chính trị - Kinh doanh của Viện đại Học Đalat, anh cùng các bạn đam mê nghệ thuật sân khấu thành lập ban kịch, diễn được 3 tháng rồi tự giải tán.Một nhóm kịch mới anh và bạn bè xây dựng mang tên TRƯỜNG GIANG. Bởi lúc này anh vừa tìm thấy một người đẹp từ Nha Trang lên học Văn khoa, năm đó là chị Bùi Thị Giang! Ban đầu anh khá vất vả để chiến thắng nữ thần Tình yêu. Nhưng cuối cùng cũng đưa nhịp tim hai người về một chỗ. Nhóm Trường Giang đã diễn nhiều vở của GS Vũ Khắc Khoan nổi tiếng. Thầy đã quý mến trò, nên đã đến dự lễ cưới của anh chị tại SG năm 1972. Mối tình thầy trò qua kịch nghệ- sân khấu đó kéo dài cho đến khi thầy qua đời, anh cùng vài bạn làm giỗ nhớ thầy xưa. Sau khi tốt nghiệp cử nhân Chính Trị  - Kinh Doanh anh về Sài Gòn học Cao học Luật. Rồi anh bị động viên, đi các chiến trường cho đến ngày thống nhất đất nước. Một trang đời mới bắt đầu.
 
* Phận đời sau 30 tháng 4 năm 1975.

Tâm trạng của Lê Cung Bắc sau 1975 khi được hỏi đến, anh trả lời thành thực: “Buồn vui lẫn lộn, vui vì đất nước thống nhất, chiến tranh chấm dứt nhưng lo sợ mình sẽ làm gì, số phận mình sẽ bị xử lý thế nào…”. Lúc bấy giờ anh và nhà văn Cung Tích Biền đạp xe ba gác đi bán mía, chiều về uống cốc bia, nhìn nhau và khóc.
Cũng như mọi quân nhân chế độ cũ tại miền Nam sau 75, anh đi học tập cải tạo, lúc đầu gian khổ, nhưng cũng được ra về nhờ người anh ở Hà Nội bảo lãnh sau 2 năm sáu tháng học tập cải tạo. Đoạn đời đi kinh tế mới đầy gian lao, hai anh chị cùng nhau chịu đựng, không thể nào kể cho hết được.
 
* Gia Đình Yêu Quý.

Ôn lại tình yêu của anh và chị Bùi Thị Giang, anh cho tình yêu đó là định mệnh. Hai người, suốt thời thanh xuân đã có rất nhiều kỷ niệm lãng mạn, đó là hành trang, gia tài để gắn bó với nhau, dù trong đời sống không thiếu gì những sóng gió, chông chênh...
Chị Giang theo đạo Thiên Chúa, nhưng anh theo đạo Phật, lúc kết hôn anh phải rửa tội. Nhưng về sau không đi nhà thờ. Chị trách một hồi thì cũng chấp nhận. Và những bóng hồng không ngừng đi qua đời anh, có người lặng lẽ giúp làm nhà, anh giấu vợ, bảo là bạn bè hỗ trợ. Cũng có người quá đáng, muốn tham dự “chuyện tình ba người” nhưng anh không ngã lòng, chung thuỷ. Vợ anh cảm thông chất nghệ sĩ đa tình của anh, cùng nhau vun đắp hạnh phúc. Thật đáng trân quý! Kết quả vườn tình của anh đơm hoa kết trái, hai cậu con trai xinh xắn, khoẻ mạnh lớn khôn, học tập thành tài. Sau những năm tháng khó khăn, ở nhà trọ, anh chị đã mua đất làm nhà đặt tên Tĩnh Tâm Cốc – là không gian cho tâm thức lắng đọng, tu tâm, buông bỏ theo lời Phật dạy cho đến ngày cơn bệnh trầm kha đến, anh chấp nhận, chịu đựng trong lời niệm Phật. (Một điều bất ngờ là anh được một gia đình ở Thái Bình nhận anh làm nghĩa tử ví anh giống một người con trai của họ bị thất lạc do nạn đói năm 1945 lúc cậu ấy 11 tuổi. Anh đã ra thăm, chia sẻ buồn vui với bà con mới nhận ra, ghi nhiều hình kỷ niệm).
 
* Hành Trình Đi Tới Đam Mê.

Khi cô thư ký Võ Sông Hương hỏi Lê Cung Bắc: 
Khi chú nổi tiếng nhờ nghề diễn viên, đạo diễn, chú có bao giờ mặc cảm vì chú làm cái nghề “xướng ca vô loại” theo định kiến không chú ?.

Anh đã thành thật trả lời: “Có chứ con. Con nói đúng…Chú nổi tiếng kể mà đôi lúc chú buồn… Đa phần trong xã hội, người ta coi những người trong giới showbit này rất tầm thường, là những người ‘mua vui cũng được một vài trống canh’…”.

Nhớ về ngày đầu bước chân vào điện ảnh thật sự, anh kể về lần gặp đạo diễn Lê Dân năm 1982, tình cờ trên đường đi, ông mời anh nhận vai nhạc sĩ phản chiến trong phim Pho tượng. Đây là vai diễn đầu tiên. Tính đến năm 1992 anh đã tham gia hơn 200 vai diễn điện ảnh, video, truyền hình. Năm 19991, anh lập nhóm kịch Lê Cung Bắc trên sân khấu Ca nhạc kịch Điện ảnh cùng các nghệ sĩ Thương Tín, Minh Trang, Hồng Vân tham gia vở Lưỡi không xương của Henri Bardot được đón tiếp nồng nhiệt.
Rồi cùng nhà văn Nguỵ Ngữ, người viết kịch bản người đóng vai Trí trong phim Con thú tật nguyền. Rồi được đạo diễn Việt Linh chọn đóng vai Lão Cùi trong Dấu ấn của quỷ. Đó là những vai diễn để đời.
Bước sang nghề đạo diễn, anh nhận thấy máu đạo diễn đã manh nha từ khi còn là học sinh, sinh viên. Anh đã đọc sách, nghiên cứu, quan sát sau khi tham gia đóng phim của rất nhiều đạo diễn. Phim đầu tiên anh làm đạo diễn là Trên cả hận thù, đó là bài thi tốt nghiệp đạo diễn của anh được hội đồng nhanh chóng thông qua. Muốn có phim hay thì phải có kịch bản hay.Tuy nhiên tác phẩm điện ảnh là biểu lộ tư duy sáng tác của của người đạo diễn. Ngoài ra đạo diễn phải nắm được kiến thức kỹ thuật, có khả năng diễn đạt tâm lý nhân vật để lựa chọn diễn viên cho phù hợp. Là đạo diễn, anh quan niệm để cho diễn viên tự do thăng hoa cảm xúc, không gượng ép trong một khuôn khổ nào đó. Tôi rất ưng ý về diễn viên Việt Trinh vì cô ấy biết diễn bằng đôi mắt. Trong phim Vó ngựa trời Nam, diễn viên nam Huỳnh Đông xứng đạt giải nam xuất sắc trong liên hoan phim truyền hình toàn quốc năm 2010.

Cũng cần nói đến khuynh hướng làm phim, anh nặng về tính nhân bản, những nhân vật chính trong phim đều là những người mang nặng trên vai lòng nhân ái. Theo anh đạo diễn làm phim là cách lập ngôn của mình... Người đạo diễn phải trải lòng ra, chuyển tải tâm thức, mang cái đẹp đến người xem. Khuynh hướng làm phim của Lê Cung Bắc thiên về triết lý sống cao đẹp, tôn vinh giá trị Chân-Thiện-Mỹ. Qua trình hành nghề đạo diễn của anh đã đạt nhiều thành tựu, giả thưởng Phim Nhịp đập trái tim năm 1994, Giải thưởng đạo diễn phim đầu tay. Phim Không thể rẽ trái năm 1996 - Huy chương vàng trong LHPTHTQ. Phim Dòng đời Giải Đạo diễn xuất sắc (52 tập) năm 2001. Phim Duyên trần thoát tục (Phim nhựa) ghi vào Kỷ lục Phật giáo VN. Phim Những chiếc lá thời gian - Giải Đặc biệt của BGK trong LHPQG năm 2006. Phim Vó ngựa trời Nam- Huy Chương Vàng - PHIM XUẤT SẮC NĂM 2010 - Giải I Cánh Diều Vàng Đạo Diễn xuất sắc năm 2010 - Giải Cánh Diều Bạc năm 2010 cho phim Vó ngựa trời Nam…

Bằng những thành tích đạt được, Lê Cung Bắc xứng đáng với danh hiệu Nghệ Sỹ Ưu Tú do nhà nước phong tăng năm 2001. Tuy nhiên niềm vui của anh chưa được trọn vẹn khi cuốn phim cuối đời do anh đạo diễn là GIÃ TỪ CÔ ĐƠN đã được làm xong nhưng chưa kịp phát hành thì anh đã từ giã trần gian – Về trong Cõi Tịnh ngày 13-6-2021. Chắc nơi cõi trăng sao đó, anh đã gặp thầy Vũ Khắc Khoan của khoa Kịch Nghệ - Đại học Đalat và các bạn Nguỵ Ngữ, Đỗ Tư Nghĩa một thời cùng học trường Nguyễn Hoàng Quảng Trị.

Bây giờ mọi người cầm trên tay tác phẩm Bụi cát chân mây của anh, nghe những tâm tình của anh. Tập hồi ký đã ra mắt gần đến ngày Đại Tường của anh như một bó hoa thơm tưởng nhớ anh - Hai năm xa lìa trần gian. Tất cả đọc và cảm thông, thương yêu và trân quý những gì anh đã đóng góp cho nghệ thuật, phong cách của người nghệ sĩ chân chính, ví lý tưởng, bằng cả tấm lòng nhân ái, hướng đến Chân - Thiện - Mỹ. Những tập sách của anh đã được người vợ thương yêu thay mặt anh ký tặng quý cô thầy, các bằng hữu từ Sài Gòn cho đến Quảng Trị, Đông Hà, Huế, Đà Nẵng... và các thư viện trường THPTTXQT, trường QUỐC HỌC, trường HAI BÀ TRƯNG – HUẾ như một lời cảm ơn chân thành của một ngƣời học trò năm xưa. Và cũng có ý nghĩa khơi gợi các lớp trẻ, hãy tư duy, sáng tạo đóng góp cho nghệ thuật và tri thức cho tương lai đất nước Việt Nam.
 
Kỷ niệm nhỏ của người viết.

Năm 1992, tôi vào Sài Gòn thăm bà con, qua bạn bè đồng hƣơng Quảng Trị, biết Lê Cung Bắc ở cư xá Bắc Hải. Tôi đến nhà chơi, anh em chúng tôi vốn biết nhau thời cùng học trường Nguyễn Hoàng, tôi hơn anh hai lớp, cùng tham gia văn nghệ, báo chí của trường. Hôm đó anh chở tôi đến rủ bạn Nguyễn Văn
Bổn, tìm quán nhậu lai rai. Khi về lại nhà, tôi nhìn lên tủ sách của Lê Cung Bắc, anh biết tôi thích sách, lấy xuống quyển Tất Cả Những Dòng Sông Đều Chảy của NANCY CATO. NXB Trẻ 1989. Anh ghi hết cả trang đầu, nét chữ lớn:
Thân tặng Đỗ Tư Nhơn để nhớ một thời đã qua. Quảng Trị, Nguyễn Hoàng những năm 60. Cung Bắc 92.

Tình cờ, trong chuyến về Quảng Trị vừa qua của chị Bùi Thị Giang và con trai, khi ghé nhà tôi thăm trước lúc đi viếng Đức Mẹ La Vang. Tôi lấy ra quyển sách có chữ ký của Lê Cung Bắc, hai mẹ con chị thật bất ngờ và cảm động.
Chúng tôi ghi mấy tấm hình kỷ niệm. Chắc nơi xa anh Lê Cung Bắc sẽ mỉm cười, vui nhận chút tình xưa, bạn cũ. Khi ra mắt tập hồi ký Cát Bụi Chân Mây tại SG cùng thầy cô và đồng môn, chị đã ký tặng vợ chồng tôi và gởi ra bằng bưu điện. Tôi xin cám ơn tấm lòng của chị, và từ đó gặp lại nhau bỗng thấy thân thiết, trao đổi tin tức và hình ảnh cho nhau.
 
Trong phần cuối của tập tự truyện Để Gió Cuốn Đi, chị Bùi Thị Giang đã giải bày những tình cảm sâu kín và yêu thương của người yêu - người vợ đối với anh Lê Cung Bắc thật vô cùng cảm động:
 
“Gần hai năm anh giã từ cõi tạm mà vẫn có những đêm tôi giật mình thức giấc, tôi bỗng thấy hốt hoảng như anh vừa rời xa tôi. Nỗi nhớ anh dâng trào và nước mắt tôi tuôn chảy...
 
Anh ơi, em khóc anh...
Mộng thiên thu đã phai tàn
Người ơi tình đã theo làn khói bay
Ôm đau thương sống qua ngày
Buồn vương theo gió chia hai ngả hồn
Cơ duyên nặng một lòng son
Từ phân ly ấy héo mòn tình chung
Dặm đời điệp điệp phế hƣng
Dấu đi người đã nghìn trùng biệt tăm
Cô đơn làm lạnh chiếu chăn
Hôn mê một giấc tơ tằm phù du
Còn đôi vầng nhật nguyệt mù
 
Lạc vào cõi mộng âm u gọi người
Hồn ta cánh én chơi vơi
Giữa trời hoang phế chưa nguôi cơn sầu
Não nề mấy trận tiêu dao
Đau thương đã nhuộm úa màu thời gian
Âm dương xưa cũ mê man
Đem sầu dựng mộ cho tàn cuộc mơ”
 
Giữa những con chữ nghẹn ngào tiếc thương không dứt bỗng hồn thơ trong chị Bùi Thị Giang tự nhiên tuôn chảy. Điều này không khiến chúng ta ngạc nhiên, bởi chị là một nữ sinh viên văn khoa của Đại Học Đalat xứ sở của sương mù và hoa dã quỳ vàng, với cuộc tình lãng mạn cùng anh sinh viên Chính trị - Kinh doanh đa tình Lê Cung Bắc những năm 70 của thế kỷ XX.
 *
Nén tâm hương, tưởng nhớ anh Lê Cung Bắc.
Thương tặng chị Bùi Thị Giang và gia đình nhân ngày Đại Tường của anh Lê Cung Bắc.
 
Đỗ Tư Nhơn

READ MORE - TÂM TÌNH CỦA DIỄN VIÊN, ĐẠO DIỄN LÊ CUNG BẮC (1946-2021) QUA TẬP HỒI KÝ "BỤI CÁT CHÂN MÂY" – Đỗ Tư Nhơn

Tuesday, September 19, 2023

RỖNG RANG PHỐ CŨ – Thơ Đỗ Tư Nhơn


   


RỖNG RANG PHỐ CŨ
 
Trở về với
dốc Nhà Chung
Ngồi
càfé sáng                                                       
một mình với tôi
Hai năm nước chảy hoa trôi
Tro hòa hồ nước
giữa trời
bao la
Trúc Lâm chuông vọng ngân nga
Dã Quỳ sẽ nở vàng hoa bên đường
Vắng Người
phố cũ rỗng rang
Thánh đường chiêu niệm hồn mang mang sầu!

 Đỗ Tư Nhơn
Dalat.16-9-2023


THE OLD STREETS ARE DESOLATE
 
I was back
to see Nha Chung slope
Sitting down
to enjoy a morning coffee
with myself
In wo years
water floating, flowers falling
Ashes mixed in the serene lake
of the open space
Truc Lam temple bell ringing
Da Quy will soon bloom, yellow on roadside
Without you
the old streets are desolate
The sanctuary calling up souls with such sorrow

Võ Thị Như Mai dịch

READ MORE - RỖNG RANG PHỐ CŨ – Thơ Đỗ Tư Nhơn

Saturday, March 25, 2023

GẶP NHAU GIỮA MÙA ĐẦU TIÊN – Thơ Trần Thoại Nguyên


 


GẶP NHAU GIỮA MÙA ĐẦU TIÊN
(Tặng anh Đỗ Tư Nhơn, anh trai của Bạn Vàng Đỗ Tư Nghĩa.)
 
Nửa thế kỷ đã già nua
Còn duyên nhau, gặp giữa mùa đầu tiên!
Hẹn nhau từ bữa sinh tiền
Đỗ Tư Nghĩa đã về miền Bồng Lai!
 
Bây giờ mới gặp nhau đây!
Đỗ Tư Nhơn hỡi! Sáng nay Hoa Vàng
Phạm Thiên Thư ngó nhìn sang
Cùng vui cười nói rộn ràng quán không!
 
Bây giờ tóc trắng như bông
Đỗ Tư Nghĩa! Nhắc Bạn! Lòng nhớ thương!
Trần gian ngọn gió vô thường
Bạn đi trước! Hẹn quán đường thiên thu!
 
Ở đây sương khói bụi mù
Vui từng khoảnh khắc theo phù hoa bay!
Chén tình rót uống hồn say
Cõi nhân gian mộng cỏ cây xanh bờ!
 
Gặp anh đây, tặng vần thơ
Chút tình lưu niệm giấc mơ cuộc đời!
Mai sau nhật nguyệt mù khơi
Còn xanh rêu đá mây trời nghìn thu.
 
Quán Hoa Vàng, sáng 27/9/2022.

BỤI ĐỜI THI SĨ Trần Thoại Nguyên

READ MORE - GẶP NHAU GIỮA MÙA ĐẦU TIÊN – Thơ Trần Thoại Nguyên

Wednesday, March 22, 2023

THĂM BẠN – Thơ Đỗ Tư Nhơn


 
              Cùng Nguyễn Văn Quang đến quán CAFE 
              ở Góc Bầu - Nguyễn Thị Lý

 
THĂM BẠN
 
Thỉnh thoảng ngồi một mình
Bỗng nhớ bạn xưa cũ
Cùng sống thời chiến chinh
Mồ côi cha từ nhỏ.
 
Ở làng quê cùng mẹ
Tần tảo , đời gian nan
Gắng học, quên tuổi trẻ
Giờ nghĩ lại, tiếc thầm!
 
Đất nước rồi xoay chuyển
Hết đạn bom - hoà bình
Bàn tay chai, xây dựng
Chờ một ngày bình minh!
 
Hai đứa cầm phấn trắng
Sáng chiều trước bảng đen
Có buổi phơi trong nắng
Cuốc ruộng tới thâu đêm.
 
Lại cùng đi lao động,
Lúc bờ mương, lúc rừng
Bánh xe đạp lăn tròn
Đường ngoằn ngoèo, dốc đứng!
 
Nuôi đàn con khôn lớn
Góp mặt với cuộc đời
Mong niềm vui cứ đến
Và tình người không vơi.
 
Thời gian vô tình qua
Tóc xanh, giờ đã bạc
Nhủ thầm quên tuổi tác
Rủ nhau, ngồi hát ca!
 
Như lá trên cành cây
Cứ vàng và rụng hết
Nhìn bạn bè quanh đây
Người  ở xa, người mệt.
 
Nắng mùa hạ bắt đầu
Qua những ngày rét lâu
Đạp xe đi thăm bạn,
Ngồi nói chuyện bên nhau.
 
Đỗ Tư Nhơn
Thị Xã Quảng Trị, sáng 23-3-2023

READ MORE - THĂM BẠN – Thơ Đỗ Tư Nhơn

Sunday, November 27, 2022

NHỮNG KỶ NIỆM CÙNG ĐỖ TƯ NGHĨA - Đỗ Tư Nhơn

 

Những kỷ niệm cùng Đỗ Tư Nghĩa

ĐỖ TƯ NHƠN

 

LTS TC CỬA VIỆT: 

Nhà giáo, dịch giả Đỗ Tư Nghĩa người Quảng Trị, từng sinh sống và làm việc lâu năm ở Lâm Đồng. Sống lặng lẽ, song ông đã dịch nhiều tác phẩm văn học nước ngoài nổi tiếng đã được xuất bản; và còn nhiều tác phẩm dịch thuật ở dạng bản thảo, hoặc được đăng tải trên mạng. Một năm sau ngày mất của Đỗ Tư Nghĩa, thương tiếc người em tài hoa, nhà giáo Đỗ Tư Nhơn có bài viết gửi cho tòa soạn Cửa Việt.

Giờ đây Nghĩa đã về với tổ tiên, ông bà, thầy mợ nơi cõi vĩnh hằng sau 75 năm Bước lững thững qua trần gian một bận / Đã thấy sầu in vết dưới chân im (Bi khúc 1-1972 trong tập Gởi tình Yêu- Gởi Cuộc đời của Đỗ Tư Nghĩa). Những kỉ niệm với gia đình, bè bạn còn trong ký ức của những người thân,từng gắn bó kết giao tình cảm.

Ba chị em chúng tôi: Đỗ Thị Như Mai, Đỗ Tư Nhơn, Đỗ Tư Nghĩa vốn nguyên quán là làng Cui, Tuy Lộc, Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Bố chúng tôi vào Quảng Trị làm viên chức thừa phái dinh Tuần Vũ đóng tại Thành Cổ, nhưng mất sớm lúc tôi vừa lên ba, Nghĩa còn trong bụng mẹ.

 

Chân dung Đỗ Tư Nghĩa qua nét ký họa của Thanh Trí

Nghĩa cất tiếng chào đời ở làng ngoại Quảng Điền, Triệu Phong, Quảng Trị khi gia đình tản cư về đây, sống trong căn nhà của ông bà ngoại đã qua đời. Biết bao kỷ niệm giữa bom đạn chiến tranh, với những mùa mưa lụt nước mênh mông mà ba chị em chúng tôi cùng chịu đựng nơi miền quê này.

Khoảng 7,8 năm sau, gia đình tôi chuyển lên thị xã Quảng Trị, mẹ buôn bán kiếm sống nuôi con ăn học. Chúng tôi có chung kỷ niệm ấu thời. Từ lúc nhà ở gần trạm điện cho đến khi sống giữa làng Thạch Hãn cùng bạn bè chơi bi, đánh đáo, ù mọi, đánh căng và làm báo viết tay.

Những năm học trung học Nguyễn Hoàng, Nghĩa nổi tiếng giỏi Văn, Anh Văn. Tôi và Nghĩa đều yêu thích văn chương, sách báo. Khi quyển sách Ý thức mới trong văn nghệ và triết học của Phạm Công Thiện ra đời, anh em chúng tôi tìm mua cho mình mỗi người một tập, Nghĩa đọc kỹ, gạch đỏ những đoạn văn tâm đắc. Sau này chính Nghĩa cho biết đã chịu ảnh hưởng của Phạm Công Thiện khá đậm.

Mẹ của chúng tôi tần tảo, thương yêu các con vô cùng, mà chưa thể nào chúng tôi báo đáp thì mẹ đã qua đời. Đó là mùa xuân năm 1971, Tết đó, sau những ngày buôn bán cuối năm vất vả, mẹ tôi nhuốm bệnh. Vợ chồng tôi, Nghĩa, Thắng ở một bên giường mẹ lo lắng, rồi nhờ chị Định, y tá truyền nước biển. Ngày mồng một, mẹ tôi còn nhận biết, nhưng tờ mờ sáng mồng hai, mẹ ra đi không lời trăng trối. Anh em chúng tôi vô cùng buồn đau, thương tiếc. Ở tầm hồn Nghĩa, bắt đầu có sự hụt hẫng vì Đìu hiu trái đất đâu còn mẹ / Sông núi xanh còn ta lãng du (Bi khúc 3).

Một biến cố thứ hai “đã ném” Nghĩa và người dân Quảng Trị ra khỏi quê nhà, đó là mùa hè đỏ lửa năm 1972. Tất cả chạy loạn vào trại tạm cư Đà Nẵng - Quảng Nam. Nghĩa đưa bà nội vào Đà Lạt nương náu tại nhà người cậu ruột một thời gian rồi về Bảo Lộc dạy học. Tâm thức Nghĩa buồn đau vô vọng, đã gởi vào 4 bài Bi khúc được sáng tác vào năm này.

Suốt 9 năm dạy học tại Bảo Lộc đã để lại trong tâm hồn Nghĩa những kỷ niệm đẹp. Đó là mối tình với Hoài An, cô giáo Đà Lạt xa nhà. Năm 1976, lễ cưới được người cậu tổ chức cho Nghĩa - An đàng hoàng, chúng tôi không vào dự được chỉ gởi quà mừng.

Năm 1981, vợ chồng Nghĩa được chuyển lên dạy trường Nguyễn Du Đà Lạt, Nghĩa bắt tay vào việc dịch thuật. Cuộc sống mỗi lúc một khó khăn đã tác động vào tâm hồn Nghĩa, những bài thơ nhức nhói, trăn trở được viết vào năm 1983, 1984 sau này in vi tính thành tập thơ Gởi tình yêu - Gởi cuộc đời.

Đôi ba niềm vui đã đến, là khi các tập sách dịch được xuất bản từ năm 1986 như: Khi bố còn thơ, Như cơn mưa bay đi, Những cuộc phiêu lưu của Sherlock Holmes… Nghĩa đã gởi về cho chúng tôi và bạn bè với chữ ký tặng. Bạn bè chia sẻ niềm vui cùng Nghĩa qua những bức thư hồi âm.

Cuộc đời không phải bao giờ cũng yên ả, gia đình Nghĩa bỗng phải chia hai. Vào năm 1992, Nghĩa quyết định ở lại Việt Nam, để cho vợ và hai con sang Mỹ định cư theo diện gia đình vợ bảo lãnh. Chúng tôi góp ý, khuyên Nghĩa rất nhiều lần nên cùng đi với gia đình. Sau này nghĩ lại, chúng tôi thấy Nghĩa đúng.

Ban đầu, lúc vợ con ra đi, Nghĩa đến ở với anh bạn Nguyễn Diệp, trong khu đất Sở Giáo dục Đà Lạt. Một thời gian ngắn sau, Nghĩa về thuê căn phòng trọ gần nhà cũ hẻm số 19 đường Nhà Chung, cạnh nhà thờ Con Gà, ở đó suốt 30 năm cùng những chồng sách cũ, mới ngập cả phòng.

Sống một mình, dạy trẻ học tiếng Anh, ăn chay trường và tiếp tục dịch sách. Các anh chị và các cháu thông cảm hoàn cảnh Nghĩa đã hỗ trợ một ít trong một thời gian ngắn, trước khi liên lạc với vợ con. Nghĩa nhận được quà và tiền để chi phí cho cuộc sống, sách báo, máy tính để làm việc.

Rồi Nghĩa gửi một bức tâm thư cho Hoài An sau 10 năm xa cách. Nghĩa chân tình nói với Hoài An rằng: Nếu có một người đàn ông biết yêu thương An và hai con, có trách nhiệm với gia đình thì nên đồng ý. Còn về phần Nghĩa, bấy lâu quen cuộc sống độc thân, không bị ràng buộc khó sống chung trong một gia đình.

Sống Đà Lạt với hoa dã quỳ thơ mộng, nhưng cũng có lúc tâm hồn Nghĩa chợt nhớ quê cũ Quảng Trị, với bạn bè người thân một thuở gắn bó. Mùa xuân 2004, con gái đưa Nghĩa về thăm chúng tôi, cùng hưởng một cái Tết đoàn tụ, trong khói hương, tưởng nhớ tổ tiên, ông bà, thầy mợ. Rồi tôi và Nghĩa vào Huế thăm mộ bố chúng tôi ở chân núi Ngự Bình, gặp các bạn thời sinh viên… Lần này chúng tôi muốn Nghĩa ở lại quê nhà, để anh em cùng sống bên nhau lúc già yếu, bệnh tật. Nhưng độ 2,3 tuần Nghĩa cảm thấy buồn, nhớ Đà Lạt, hơn nữa trời lạnh quá làm Nghĩa bị mệt, phải chia tay Quảng Trị.

Tôi lên Đà Lạt thăm Nghĩa nhiều lần. Có năm, lên Trúc Lâm thiền viện thỉnh kinh sách, Nghĩa mua tặng tôi nhiều tập, đĩa CD giảng đạo của quý thầy. Nghĩa nghiên cứu sâu xa và thực hành về đạo Phật cho nên sau này dịch sách của các đạo sư, ni sư thật rõ ràng, chú thích rất bổ ích cho người đọc.

Vốn liếng triết học Đông Phương và Tây Phương cũng tạo cho Nghĩa niềm say mê khi chuyển ngữ các tác phẩm mang giá trị tư tưởng: Nghệ thuật sống, Suy niệm mỗi ngày, Kahlil Gibran, Phiếm thần luận…

Chẳng bao lâu Nghĩa bị tai biến lần hai, tôi và con trai lên thăm vào 27 tháng chạp, chuẩn bị đón Tết Tân Sửu. Bệnh tình của Nghĩa nặng hơn, tuy mắt còn sáng, trí óc hiểu biết nhưng chân tay bị liệt, Nghĩa cảm thấy buồn vô vọng.

Khi chúng tôi về lại Quảng Trị, được tin Nghĩa bị dịch tràn màng phổi, phải thở ôxy, giữa lúc dịch Covid đang lan tràn. Con gái Nghĩa bằng mọi cách đã về bên bố giai đoạn cuối đời. Chúng tôi thường liên lạc với nhau để biết tình hình sức khỏe của Nghĩa, khi nguy kịch, khi tạm ổn.

Nhưng rồi Nghĩa đã trút hơi thở cuối cùng vào lúc 6 giờ 15 phút sáng 16/9/2021, bên cạnh con gái và 3 cháu điều dưỡng, ông cậu tu sĩ. Bạn bè, bà con, học sinh cũ gần xa đã đến phúng viếng, gởi vòng hoa chia buồn cùng gia đình.

Nghĩa là một con người quen sống thầm lặng, ít giao tiếp nhưng khi từ giã cõi đời lại được nhiều người thương tiếc về nhân cách, tâm hồn, sự khiêm tốn và tài năng qua các tác phẩm dịch và thơ để lại cho đời.

Nhà thơ Bùi Minh Quốc và nhóm “người hiền Đà Lạt” mà Nghĩa từng kính phục, đã gởi đến hai câu đối:

Xe thiên cổ đưa người về cực lạc

Chốn hồng trần bè bạn luống đau thương

Bình tro được đặt trên bàn thờ. Con gái tiếp tục phóng sinh, làm từ thiện. Sau 49 ngày, tro sẽ được rải trên hồ nước trong xanh Tuyền Lâm, dưới chân của thiền viện Trúc Lâm của Đà Lạt. Trong dịp này, cháu Diễm Thư, theo lời dặn của bố đã trao trọn vẹn tủ sách quý giá của bố cho Trần quốc Vĩnh - làm thư viện Đỗ Tư Nghĩa để thân hữu và con cháu yêu thích đến đọc để tâm hồn được thăng hoa, điều Nghĩa luôn mong muốn.

_________________

Một số sách dịch thuật văn học nước ngoài của Đỗ Tư Nghĩa đã xuất bản:

1. Những cuộc phiêu lưu của Sherlock Holmes (Conan Doyler), Nxb Sở VHTT Lâm Đồng, 1985.

2. Khi bố còn thơ (Araskin), Nxb Sở VHTT Lâm Đồng, 1986.

3. Như cơn mưa bay đi (S. Krutilin), Nxb Sở VHTT Lâm Đồng, 1986.

4. Dưới ánh trăng (Guy de Maupassant), Nxb Sở VHTT Lâm Đồng, 1986.

5. Truyện phiêu lưu của Pick Wick (Charles Dickens), Nxb Thuận Hóa - Huế, 1994.

6. Con đường tuổi trẻ (Daisaku Ikeda), Nxb Trẻ, 2005.

7. Cuộc đời của luận sư Rajneesh Chandra (tự truyện Osho), Nxb Trẻ, 2007.

8. Tự thú ( Lev Tolstoy), Nxb Văn hóa Sài Gòn, 2007. 

9. Tìm lại nụ cười (Philip Martin), Nxb Văn hóa Sài Gòn, 2009.

10. Kahlil Gibran - ngọn lửa vĩnh cửu (Barbara Young), Nxb Văn hóa Sài Gòn, 2009.

11. Suy niệm mỗi ngày (Lev Tolstoy), Nxb Văn học & Khai Tâm, 2016.

12. Nghệ thuật sống (Epictetus), Nxb Văn học & Khai Tâm, 2016

13. Đời Tolstoy (Romain Rolland), Nxb Hồng Đức & Khai Tâm, 2017

14. Chuyện tình của các triết gia (Andrew Shaffer), Nhã Nam, 2018.

15. Chuyện tình của các nhạc sĩ thiên tài (Gustav Kobe), Nhã Nam, 2018.

16. Phiếm thần luận (Paul Harrison), Nxb Tri thức, 2018.

17. Đời Beethoven (Ramain Rolland), Khai tâm, 2021.

Ngoài ra còn gần 20 tác phẩm trong bản thảo, đăng trên mạng, chưa xuất bản.

ĐỖ TƯ NHƠN

Nguồn: Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 338, Đỗ Tư Nhơn gởi bản PDF qua Zalo.

READ MORE - NHỮNG KỶ NIỆM CÙNG ĐỖ TƯ NGHĨA - Đỗ Tư Nhơn