Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Võ Đình Hương. Show all posts
Showing posts with label Võ Đình Hương. Show all posts

Wednesday, January 18, 2017

ĐÔI BẠN LÀNG QUÊ - Võ Đình Hương



Ảnh tác giả
Võ Đình Hương

ĐÔI BẠN LÀNG QUÊ


        Những ngày cuối đông, trời năm nay thời tiết khác hơn những năm trước, mưa tầm tã và rét buốt da. Tuy vậy, tôi vẫn tất tả công việc sinh sống bất chấp thời tiết của ngày đông mà quên cả thời gian. Hôm nay ngồi nhìn trên tường tấm lịch đứa con đã thay mới (ngày 12/01/2017 – 15/12/Bính Thân), à thì ra mấy ngày nữa tôi đã bước sang 72 tuổi (Tuổi Bính Tuất). Chuỗi ngày đi qua trong đời cũng có nhiều cái để nhớ và nhiều việc để quên! Nhìn lên chỗ để sách vở, tôi thường đọc chỉ có mấy cuốn “Phật Học Phổ Thông”, “Kinh Nhật Tụng” và 3 tập thơ của nhà thơ Võ Văn Hoa (Người mà lâu nay tôi quí và xem như anh em ruột thịt, như người bạn đời) đã tặng tôi. Tập “Còn ta với mình” , Hoa gởi tặng tôi ngày 1/4/2014, tập “Gió cuối mặt sông” ngày 5/8/2008, tập “Phù Sa Tình” ngày 9/9/2012 (Những tập thơ này tôi đã đọc nhiều lần), ký ức tuổi thơ hiện về, thôi thì viết đôi dòng tâm sự dù dở dù hay gởi tặng  Hoa :
“Để mai kia hết xuân thì
Cái tình thân ấy mang đi đến cùng”

    Tôi và chú Hoa đều sinh ra và lớn lên ở làng Thi Ông. Một cái làng quê xa ngái thị thành. Con người làng tôi sống với nhau rất chân tình, mộc mạc. Còn tôi và Hoa đều con nhà nghèo. Thời thơ ấu cha tôi vì thời cuộc mà lên đường. Mẹ tôi ở nhà một mình phải nuôi 4 đứa con dại nên việc học hành của tôi vô cùng lận đận. Vào tiểu học, tôi phải nghỉ học 5 năm để chăn bò. Sau khi cha tôi về, tôi mới được đi học lại. Mặc dầu vậy, ở bậc tiểu học. tôi luôn đạt loại giỏi. Vì gia đình nghèo nên tôi vừa học vừa kiếm tiền bằng việc dạy kèm. Năm vào đệ Thất (lớp 6) Trường Trung học công lập Hải Lăng,  tôi thường mở lớp dạy hè ở quê ngoại. Năm đệ Lục, tôi được cô Đại úy Khuê ở chợ Diên Sanh nhờ dạy kèm cho các em Trần Thị Loan và Trần Xuân An (nhà thơ hiện nay). Lên cấp III , học ở trường trung học Nguyễn Hoàng – Quảng Trị, tôi được thầy Lê Quang Thái và cô Lê Thị Tránh nhờ dạy kèm cho Lê Quang Trung. Sau đó làm thư ký cho xưởng giặt Fatima Barry ở đường Phan Chu Trinh – Quảng Trị. Năm 1971, tôi thi đỗ Tú tài toàn phần (Tú tài II). Năm đó áp dụng tân toán học đầu tiên. Ban B của tôi chỉ đạt 18% đợt I, rồi sau đó tôi đỗ vào trường Sư phạm Huế và học thêm ở trường Đại học Luật khoa. (Bạn bè thường gọi tôi là ông Thôn trưởng do tôi tuổi lớn nên được chọn làm Trưởng lớp từ cấp I đến cấp III.)

      Còn chú Hoa cũng vậy:
        “Thời gian khó nhà đong từng bữa gạo
        Nếp gia phong từng mũi chỉ đường kim” ​
                             (Bố –   thơ Võ Văn Hoa)

Mặc dầu vậy, nhưng tuổi thơ của Hoa ít lận đận hơn tôi. Những năm tháng kinh tế khó khăn, khoai sắn độn cơm, rau lang chắm ruốc thay canh cá nhưng chú thím ở nhà vẫn tần tảo chịu thương, chịu khó để nuôi con cái học hành. Ở làng tôi,  gia đình chú Hoa bây giờ vẫn được mọi người công nhận là gia đình “Thật thà – Phúc đức” nhất. Tuổi nhỏ Hoa học trường tiểu học Thi Ông, lên cấp II học trường công lập Hải Lăng, cấp III vào trường trung học Nguyễn Hoàng - Quảng Trị, rồi vào trường Sư phạm Huế. Những năm tháng chiến tranh dân Quảng Trị phải di tản đi nơi khác, việc học hành đôi lúc bị bỏ dỡ, để có tiền tiếp tục việc học Hoa phải đi làm “Cai áo xanh” chương trình làm sạch thành phố (giống như công ty môi trường bây giờ). Tuổi thơ hai anh em ít chơi với nhau, nhưng mến thương nhau, vì ở làng thời ấy ít người đi học. Đặc biệt khi vào Huế tôi vào Sư phạm trước chú Hoa 1 khóa. Khi nghe tin chú Hoa đỗ vào trường Sư phạm tôi rất vui mừng, thời đó có giáo sư Lê Quang Thái người Cổ thành Quảng Trị dạy môn Sư phạm giáo dục, thầy rất thương và quí anh em chúng tôi. Người ta thường bảo “Những người cùng hoàn cảnh thì thương nhau”. Có lẽ như thế mà tôi và chú Hoa hoàn cảnh con nhà nghèo, cùng làng lại sống tha hương nên rất thương nhau. Mặc dầu không giúp nhau được gì nhưng trong lòng lúc nào cũng có nhau. Tôi ra trường trước Hoa, do thi tốt nghiệp đỗ cao nên tôi chọn nhiệm sở ở Huế để tiếp tục học thêm trường Đại học Luật khoa, còn Hoa ra trường thì về Quảng Trị và sau đó tiếp tục học ở trường Đại học Sư phạm Huế, tốt nghiệp Cử nhân khoa Ngữ văn, lúc đó anh em ít được gặp nhau. Năm 1975 đất nước hòa bình thống nhất. Bước đầu việc giáo dục chưa đi vào nề nếp, tôi được Phòng Giáo dục huyện Quảng Điền điều về phụ trách bổ túc văn hóa ở xã Quảng Phú. Đến đầu năm 1977 xếp bút nghiên trở lại quê nhà lao động sản xuất làm người nông dân chân lấm, tay bùn. Cái ngày ấy khi trở về nhà là điều đau buồn nhất của cuộc đời tôi. Nhưng cha mẹ tôi có lẽ cũng đau buồn như tôi. Mẹ tôi cố gượng cười và bảo con hãy về đây với cha mẹ, người ta sống được thì mình sống được, việc gì phải buồn. còn cha tôi thì đêm ấy cứ đi ra đi vào, rồi thở dài nhưng có lẽ sợ tôi buồn nên không nói điều chi. Đến hôm nay tôi vẫn thấm thía và hiểu tình thương của cha mẹ như non ngàn biển cả. Bạn bè lúc đó tan tác. Ở quê nhà chú Hoa đang dạy học ở đâu đó có viết cho tôi lá thư có mấy hàng. Tôi không nhớ rõ nhưng ý là rất thương tiếc cho tôi ! Tôi chỉ nhớ câu cuối cùng Hoa nói “Anh là quân tử thời nay”. Cuộc sống cứ thế mà trôi theo thời gian. Chú Hoa theo nghiệp “Kỹ sư tâm hồn”,  phấn đấu từ một giáo viên đến làm Quản lý trường học , sau đó về công tác ở Phòng Giáo dục và Đào tạo Hải Lăng giữ chức vụ Phó Trưởng phòng  và được Nhà nước phong tặng “Nhà giáo Ưu tú”. Đó là niềm tự hào của một nhà giáo!

        Trong cuộc sống Hoa còn  là một nhà thơ được rất nhiều người yêu mến, trong đó, có tôi kể cả thơ của thầy giáo – nhà thơ Võ Văn Luyến (em ruột của Hoa). Nhớ lần đến viếng lễ tang thân mẫu của hai chú, trong bài điếu văn tôi có viết “… con của cụ có người ăn học thành tài đã giúp ích cho đời, cho xã hội, đã đem tâm tình của cha mẹ nuôi dạy trang trải trên những vần thơ. Được mọi người yêu mến, xã hội ngưỡng mộ cái công lao sinh thành dưỡng dục của cụ đối với đàn con …”, “ … chín mươi mốt năm qua những giọt mồ hôi của cụ nhỏ xuống đã ươm mầm để những đóa hồng đang sinh sôi nảy nở…”.

      Tôi thích con người Võ Văn Hoa hiền từ giản dị, đó là hình ảnh kế thừa nền nếp của gia đình. Tôi yêu mến thơ của Hoa hồi còn học ở trường Sư phạm Huế. Nói đến thơ của Hoa và Luyến thì đã có rất nhiều người bình giải. Riêng tôi trong trình độ hạn hẹp cũng như ở chỗ anh em nên không nói nhiều. Có điều là từ nhỏ đến giờ tôi thích dọc thơ và hát nhạc trữ tình. Ở trong thơ chú Hoa mộc mạc, dễ hiểu lúc nào cũng nói lên được tình cảm, phong cảnh quê hương, làm cho tôi đam mê con người ấy. Có điều không nói ra nhưng trong Hoa, Luyến lúc nào cũng dành cho tôi tình cảm sâu đậm. Sống một mình ở cái chốn vùng sâu, vùng xa anh em bạn bè ít khi gặp gỡ, những lúc buồn vui trong cuộc sống tôi đều nhớ đến bạn bè. Cảm ơn những người bạn, người anh em đã thấu hiểu hoàn cảnh mà bây giờ vẫn nhớ đến hoặc đã quên tôi. Còn chú Hoa đối với tôi lúc nào cũng là một người em, một người bạn tâm tình!

      Tự hào thay cho làng Thi Ông đã sinh ra những con người đem vinh dự về cho quê hương trong đó có nhà giáo Ưu tú- nhà thơ Võ Văn Hoa, nhà giáo- nhà thơ Võ Văn Luyến. Một trong những ký ức tuổi thơ. Tôi viết đôi dòng về anh em, về đôi bạn từ trẻ đến giờ mãi là “Đôi bạn Làng Quê” làng Thi Ông xã Hải Vĩnh. ​ ​
                                Viết đêm 15/12 năm Bính Thân 12/01/2017
                                ​Võ Đình Hương






READ MORE - ĐÔI BẠN LÀNG QUÊ - Võ Đình Hương

Monday, December 10, 2012

LÁ LÀNH ĐÙM LÁ RÁCH - Phóng sự của Đài Truyền hình VTC về hoạt động từ thiện của ông Võ Đình Hương - hội trưởng hội CTĐ thôn Thi Ông, Hải Vĩnh, Hải Lăng, Q.Trị


Tốt nghiệp trường Sư phạm Huế và trở thành nhà giáo đúng như ước mơ từ hồi còn  là học sinh Nguyễn Hoàng nhưng vì thời cuộc và hoàn cảnh gia đình mà ông Võ Đình Hương đành đã phải bỏ nghề dạy học để về quê Thi Ông, xã Hải Vĩnh sinh sống. Rồi ông theo học khóa thú y và trở thành thú y viên của địa phương, giúp người dân chăm sóc đàn gia súc của họ và được bà con tin cậy. Cũng nhờ cái nghề thú y mà ông được đi khắp hang cùng ngõ hẹp của xã nhà, tiếp xúc với hầu hết bà con nông dân và nhận thấy nhiều hộ gia đình ở trong hoàn cảnh quá khó khăn, túng thiếu, thậm chí đói ăn; nhà dột, cột xiêu không thể chống chọi với thời tiết; ốm đau bệnh tật không có tiền thuốc thang chạy chữa…, hoàn cảnh của họ đều hết sức thương tâm. Ông cũng không giàu có gì nhưng thấy người ta còn khó khăn gấp bội mình khiến ông nghĩ mình phải làm gì đó để giúp đỡ họ. Thế là ông gia nhập Hội Chữ thập đỏ của thôn, trở thành chủ tịch hội và hoạt động từ thiện trên 30 năm nay không ngừng nghỉ. Ông và các hội viên đã vận động những nhà hảo tâm và bà con trong thôn thường xuyên cứu trợ những gia đình thiếu đói, xây nhà tình thương cho các hộ neo đơn, cứu trợ nạn nhân bão lụt, giúp đỡ nạn nhân chất độc da cam, tặng học bổng cho học sinh nghèo… Số lượng gia đình đã được giúp nhiều đến nỗi ông không nhớ hết. Hiện nay ở thôn Thi Ông có 45 hộ nghèo khó cần giúp đỡ, trong đó có 12 hộ quá khó khăn cần giúp đỡ thường xuyên. Mặc dù đã hơn 68 tuổi nhưng ông vẫn hăng hái hoạt động từ thiện và  mong được khỏe mãi để tiếp tục làm việc lành. Theo báo Quảng Trị Online, ông đã được Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, UBND tỉnh, Hội Chữ thập đỏ tỉnh, huyện và các ban, ngành nhiều lần tặng kỷ niệm chương, bằng khen, giấy khen như là một sự ghi nhận đầy trân trọng đối với những đóng góp thầm lặng của ông.


Sau đây là phim phóng sự của Đài Truyền Hình VTC về hoạt động từ thiện của ông Võ Đình Hương. Đĩa VCD do ông Võ Đình Hương gởi tặng VNQT, được chuyển thành MP4 và tải lên Youtube. Mời các bạn cùng xem.

(Trong phóng sự này, họ Võ của ông Hương được Đài VTC gọi là Vũ theo tên họ phổ thông của miền Bắc)







READ MORE - LÁ LÀNH ĐÙM LÁ RÁCH - Phóng sự của Đài Truyền hình VTC về hoạt động từ thiện của ông Võ Đình Hương - hội trưởng hội CTĐ thôn Thi Ông, Hải Vĩnh, Hải Lăng, Q.Trị

Wednesday, September 12, 2012

VƯỜN CỔ TÍCH - Thơ Võ Đình Hương


Bốn mùa, mùa xuân trước nhất
Mùa xuân đẹp bởi mai vàng
Vườn nhà hai cây mai nhỏ
Đặt tên mai anh mai em

Dần dà theo dòng thời gian
Mặc cho thanh bình, bão tố
Lớn dần giữa khu vườn nhỏ
Mai anh cũng như mai em

Thời gian qua thật là nhanh
Chẳng nhớ bao năm rồi nữa
Mai anh lớn lên như thế
Mai em vào độ dậy thì

Và rồi mùa xuân năm ấy
Mai em nở một nụ vàng
Gio lay cành xuân nhè nhẹ
Hương bay mùa xuân đầu tiên

Tôi là chủ nhân của mai
Cũng lớn khôn theo dòng đời
Và mơ một ngày xuân đẹp
Mai em hiểu cho lòng tôi...

Một chiều quê hương ly tan
Như bao người phải tha phương
Tôi ra đi tìm lối sống
Đành xa mai anh mai em

Xa quê đã bao nhiêu năm
Lòng luôn nhớ về chốn cũ
Mong ngày quê nhà đoàn tụ
Về thăm mai anh mai em

Ngày kia quê nhà bình yên
Tôi về thăm khu vườn nhỏ
Vườn cây tôi trồng năm cũ
Vẫn còn mai anh mai em

Vin cành mai em vào tay
Đưa qua mai em tôi cười
Từ nay không xa nhau nữa
Ta cứ lớn khôn với đời

Lòng người và cây hiểu nhau
Nên tiếp mấy mùa xuân sau
Mai em nở hoa rực rỡ
Mai anh vài cái lơ thơ

Nhưng mùa gió bão năm kia
Làm cây mai anh trốc gốc
Ngả thân vào cây mai em
Và chết sau mùa gió lốc

Mấy mùa xuân nay lại về
Mai em buồn không nở hoa
Mùa xuân trong khu vườn nhỏ
Thành VƯỜN CỖ TÍCH bao giờ

                      2/9/12
                 VÕ ĐÌNH HƯƠNG
Thi Ồng, Hải Vĩnh, Hải Lăng, Quảng Trị
READ MORE - VƯỜN CỔ TÍCH - Thơ Võ Đình Hương

Tuesday, March 13, 2012

ÔNG HƯƠNG TỪ THIỆN - Lê Đức Việt

Hơn 31 năm làm chi hội trưởng chi hội chữ thập đỏ thôn, bằng tấm lòng nhân ái và bầu nhiệt tâm, ông đã mang đến niềm vui cho rất nhiều gia đình có hoàn cảnh nghèo khó, những mảnh đời bất hạnh. Đã 68 tuổi nhưng dường như bước chân của ông vẫn chưa dừng lại...


Ông Hương và hai đứa cháu 

Về thôn Thi Ông, xã Hải Vĩnh, huyện Hải Lăng (Quảng Trị), hỏi ông Võ Đình Hương “Chữ thập đỏ”, một người dân sốt sắng chỉ giúp: “Chú đi thẳng, qua trường THCS một quãng nữa là tới. Ở đây ai cũng quý ông Hương, ông ấy tốt và uy tín với dân làng tôi lắm”.

Căn nhà nhỏ của ông Hương nằm giữa một khu vườn rộng, trước sân nhà, những cây mai nở muộn ươm một màu vàng rực. Đón chúng tôi bằng nụ cười hiền, ông Hương bảo nếu tôi đến chậm thì có lẽ giờ này ông đã đi công chuyện. Hỏi ra mới biết, ngoài việc đang giữ chức Chi hội trưởng Chi hội Chữ thập đỏ thôn Thi Ông thì ông còn là một thú y viên được bà con tín nhiệm.
Bên chén trà nóng, người đàn ông tóc đã hoa râm với dáng người quắc thước chậm rãi kể chuyện đời mình. Sinh năm 1944, từ nhỏ dù nghèo nhưng ông được gia đình cho theo học tử tế, và ông đặc biệt thông minh, học giỏi có tiếng thời bấy giờ. Năm nào ông cũng là học sinh giỏi toàn diện.

Những năm học ở Trường Nguyễn Hoàng ông là một trong những học trò xuất sắc của trường. Kỳ thi đại học năm 1971, ông xuất sắc đỗ cùng lúc hai trường đại học là Đại học Sư phạm, ngành Toán và Đại học Luật khoa Huế với số điểm cao. Ông quyết định học cả hai trường.

Năm 1974, ông tốt nghiệp loại ưu của Trường Đại học sư phạm Huế, còn Trường Đại học Luật khoa ông chỉ mới học đến năm 3 thì đất nước giải phóng nên ngừng học, chỉ được cấp chứng chỉ. Từ năm 1975 đến năm 1977, ông được phân về dạy môn Toán tại một số trường THCS ở huyện Quảng Điền, Thừa Thiên - Huế.

Sau đó, vì nhiều lý do nên ông xin nghỉ dạy học về quê ở thôn Thi Ông sinh sống, lập gia đình. Sau khi về quê ông làm ruộng, chăn nuôi để nuôi gia đình. Nhờ có vốn kiến thức rộng lại chịu khó ông làm ăn rất hiệu quả và trở thành một nông dân tiêu biểu.

Năm 1979, ông vinh dự được cử đi dự hội nghị nông dân sản xuất giỏi của tỉnh Bình Trị Thiên. Cùng thời gian này ông được tín nhiệm bầu vào làm ở bộ phận định mức của HTX Hải Vĩnh. Một thời gian sau, ông lại được bầu làm thêm chức Trại trưởng Trại giống chăn nuôi của xã Hải Vĩnh.

“Hồi đó trại giống xã Hải Vĩnh cùng với trại giống xã Triệu Thuận là hai trại giống lớn nhất tỉnh Bình Trị Thiên đấy. Trại giống xã tôi chuyên sản xuất lợn giống Móng Cái, cung ứng cho toàn tỉnh Bình Trị Thiên...”, ông Hương kể.

Lúc làm trại giống ông còn được cử đi học kế toán rồi kỹ thuật chế biến thức ăn chăn nuôi, công tác thú y do huyện Triệu Hải tổ chức. Làm trại giống một thời gian thì Chi hội Chữ thập đỏ thôn Thi Ông thành lập, ông lại tự nguyện xin vào làm chi hội trưởng. Năm ấy ông 37 tuổi.

“Tuy làm nhiều việc nhưng tôi đều cố gắng sắp xếp để hoàn thành. Và công việc mà tôi chuyên tâm và dành nhiều thời gian nhất có lẽ là làm từ thiện, giúp đỡ người nghèo. Tôi muốn dành sức lực còn lại cho công việc này, bởi người nghèo rất cần được sẻ chia, giúp đỡ. Họ cũng là bà con làng xóm, như là người thân của mình vậy...”, ông tâm sự.

Trong hơn 31 năm làm công tác từ thiện xã hội, ông không nhớ mình đã giúp đỡ được bao nhiêu người nghèo khó, bởi “làm từ thiện thì biết chừng nào cho đủ, ráng giúp được người ta bao nhiêu thì tốt bấy nhiêu. Có lúc mình còn phải tự bỏ tiền túi ra giúp thêm, vì nhiều gia đình có hoàn cảnh tội nghiệp lắm”.

Như gia đình bà Võ Thị Quý, năm nay đã sắp bước sang tuổi 80 mà vẫn đơn thân nuôi người con tâm thần hàng chục năm. Hai mẹ con bà sống trong căn nhà nhỏ với mái ngói rệu rã, tài sản chẳng có gì đáng giá. Bà Quý lúc khoẻ còn đi mót lúa, làm thuê nhưng từ ngày đau yếu thì chẳng làm được gì.

Cám cảnh trước hoàn cảnh này, ông Hương đã vận động những tấm lòng hảo tâm giúp đỡ thường xuyên cho gia đình bà mỗi tháng từ 200- 300 nghìn đồng để sinh sống qua ngày. Vừa rồi, ông Hương cùng với hội viên chữ thập đỏ thôn cũng đã trực tiếp lợp lại mái ngói, làm thêm tầng cấp trước hiên nhà rồi tặng quà cho gia đình bà Quý đón tết.

Hay như bà Bùi Thị Gấm ở đội 5, thôn Thi Ông sống một mình trong căn nhà được thưng bằng phên tre, bạt ni lông tạm bợ lại đau ốm triền miên. Tuy có 2 con gái nhưng do nghèo quá nên cũng bỏ xứ đi làm ăn rồi lấy chồng xa, chẳng đỡ đần bà được gì. Trước hoàn cảnh đó, vào năm 2004, ông Hương kêu gọi người dân trong thôn quyên góp được 600 nghìn đồng, riêng cá nhân ông vận động bạn bè thêm 200 nghìn đồng giúp đỡ bà Gấm.

Đó chỉ là 2 trong số hàng nghìn trường hợp được ông và Chi Hội Chữ thập đỏ thôn giúp đỡ. “Ngoài giúp đỡ tiền, anh em chúng tôi còn sữa chữa nhà, thường xuyên tặng quà, thăm hỏi những gia đình này, bởi họ gần như không còn khả năng lao động, hoàn cảnh lại quá bi đát. Trong hoạt động của mình, chúng tôi dành sự quan tâm đặc biệt cho những mảnh đời như vậy”, ông Hương nói thêm.

Hiện toàn thôn Thi Ông có khoảng 45 hộ cần sự giúp đỡ, trong đó cần giúp đỡ thường xuyên là 12 hộ. Đó là những hộ nghèo, neo đơn, người tàn tật, người nhiễm chất độc da cam có hoàn cảnh khó khăn... Ngoài những gia đình này, Chi hội Chữ thập đỏ thôn Thi Ông còn thường xuyên tham gia cứu trợ bão lũ, thăm hỏi những trường hợp tai nạn, ốm đau.

Với lòng nhiệt tình và những bước chân không mệt mỏi của mình, ông Hương đã mang đến niềm vui, sự an ủi cho rất nhiều mảnh đời kém may mắn. Những đóng góp thầm lặng và ý nghĩa ấy của ông đã được Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, UBND tỉnh, Hội Chữ thập đỏ tỉnh, huyện và các ban, ngành nhiều lần tặng kỷ niệm chương, bằng khen, giấy khen như một sự ghi nhận đầy trân trọng.

Lúc chia tay, tôi hỏi, hồi ấy bác học cao như vậy sao không đi dạy học hay làm việc gì đó nhàn nhã hơn mà về quê làm ruộng, chăn nuôi, làm từ thiện? Ông Hương lặng im trong chốc lát rồi tâm sự: “Làm gì không quan trọng, miễn sao thấy lòng thanh thản và tìm được niềm vui. Đã chừng này tuổi nhưng chưa bao giờ tôi thấy hối hận vì quyết định của mình, bây giờ tôi chỉ mong có sức khoẻ tốt để tiếp tục công việc đang làm. Thế là vui và hạnh phúc rồi”.


Lê Đức Việt 
Theo Báo Quảng Trị
(Võ Văn Hoa chuyển đăng)
READ MORE - ÔNG HƯƠNG TỪ THIỆN - Lê Đức Việt

Friday, August 12, 2011

VÕ ĐÌNH HƯƠNG - VU LAN VỀ RỒI MẸ ƠI!


Vu lan về rồi mẹ ơi
Chùa Làng rộn rịp bao lời cầu kinh
Con đi lễ Phật một mình
Thiếu vắng mẹ hiền giữa đám người đông
Đêm nay lễ cài hoa hồng
Phận con hoa trắng phải đành vậy thôi
Dẫu sao mẹ cũng đi rồi
Mà con cứ nghĩ mẹ ngồi bên con
Nhớ ngày vào độ thu sang
Mẹ hỏi chùa Làng làm lễ ngày mô
Bây chừ đã mấy mùa Thu
Con đi lễ Phật bơ vơ một mình
Mấy mùa hoa trắng, lá xanh
Ân đức sanh thành nguyện khắc tâm xương
Nguyện xin chư Phật mười phương
Tiếp độ mẹ hiền về chốn thảnh thơi
Vu lan về rồi mẹ ơi
Mấy mùa trăng sáng bao người cầu kinh
Ai ai cũng vầng trăng tròn
Riêng con trăng khuyết bao lần đầy vơi
Vu lan về rồi mẹ ơi!
4 gi 00 ngày 14.7.Tân Mo
13.8.2011
Nguyên Trm - Võ Đình Hương
READ MORE - VÕ ĐÌNH HƯƠNG - VU LAN VỀ RỒI MẸ ƠI!

Friday, July 15, 2011

CÂU HÒ QUẢNG TRỊ - VÕ ĐÌNH HƯƠNG sưu tầm




HÒ KHÁNG CHIẾN


1. Thà mất con không thà mất nước. Cúi đầu lạy thầy với mẹ con cất bước ra đi. Sá gì súng đạn bom bay. Sống thì dành nền độc lập, thác thì nhìn ngọn quốc kỳ có con.

2. Ngó lên trên trời ngọn cờ hồng bay lổ đổ (?). Ngó về Nam Bộ súng nổ liên thanh. Anh em chị em mình ơi tập luyện cho thành. Đuổi tụi Pháp Anh đế quốc, đồng bào nổi dậy giữ gìn Việt Nam.

3. Bom thả Đông Hà cầu rã móng tan. Khen nước Việt Nam mình quá tài, quá giỏi, quá gan. Ngày 7 tháng 7 đá đổ ba thằng quan mà dành quyền.

4. Hồ Chí Minh nên tình với nước. Hỡi đồng bào mình ơi tiến bước nhanh nhanh. Vào Nam Bộ đánh Pháp dẹp Anh. Xây thành đắp lũy dành quyền tự do.

5. Mẹ xa con vì bom vì đạn. Vợ xa chồng vì nạn chiến tranh. Kể từ ngày chàng xách gói ra đi, thiếp ở nhà sau hiu trước quạnh, khổ mấy bận ni hỡi chàng.

6. Ở Nam Bộ Tây đi tàn bạo. Ở Bác Bộ lụt bạo tiêu hao. Hỡi đồng bào mình ơi nhịn một ngày năm ba nắm gạo để cứu đồng bào lâm nguy.

7. Lúa tốt khoai tươi nhờ sức người vun xới. Hòa bình thắng lợi nhờ sức người tranh đấu giỏi dang. Anh không trở lui về với chính phủ cụ Hồ hòa giải khoan hồng, mà đi theo lũ giặc đau lòng vợ con.

8. Ngó lên trên trời tàu bay én liệng. Ngó về đường điện dây điên giăng xiên. Mấy lâu này giặc giã đã yên. Thư từ vắng gửi nên gái thuyền quyên đổi dời.

9. Lòng cứu quốc anh ơi em khuyên giữ trọn. Mau mau sửa soạn gấp rút tòng quân. Em khuyên anh lập được hai chữ chiến công. Mối ân tình em xin giữ trọn mấy thu đông vẫn chờ.

10. Đợi anh hai năm đêm nằm nghe gọi. Đợi anh bốn năm rồi trăng rọi đầu hiên. Đợi anh tám năm đêm nhớ ngày phiền. Dẫu còn đợi anh bao nhiêu năm nữa em vẫn giữ trọn lời nguyền với anh.

11. Em đứng bên ni Hiền Lương để thương để nhớ. Anh đứng bên kia Cửa Tùng nặng nợ nặng duyên. Vì quân Mỹ Diệm bạc đen nên chúng muốn dứt mối tình chung thủy hai miền Bắc Nam.

12. Nước Ba Lòng vừa trong vừa mát, tưới về đồng ruộng Triệu Hải thơm ngát lúa vàng. Quê ta tươi đẹp giàu sang. Nhờ ơn Bác Hồ lãnh đạo nên xóm làng được xanh tươi.

13. Hỡi đồng bào ơi quyết tâm bền chí. Nhìn ra chiến trường máu chiến sĩ còn nhuộm thắm chưa phai. Toàn dân xây dựng lâu dài, nước nhà thống nhất, tương lai muôn đời.

14. Lời cách mạng loan ra như màu hoa tươi thắm đượm. Khắp nẻo xóm làng như ong bướm tung bay. Nhờ ơn Bác Hồ lãnh đạo nên ngày nay được thanh bình.

15. Hỡi quân dân ta ơi ngày nay rõ tình thắm thiết. Ân huệ sâu dày ngàn kiếp không quên. Toàn dân hưởng ứng khắp miền. Cùng nhau giữa được nền độc lập được vững bền dài lâu.

READ MORE - CÂU HÒ QUẢNG TRỊ - VÕ ĐÌNH HƯƠNG sưu tầm

Monday, July 11, 2011

CÂU HÒ QUẢNG TRỊ - VÕ ĐÌNH HƯƠNG sưu tầm



HÒ ĐỐI ĐÁP


1. Nữ: Tiếng đồn anh học thợ đã lâu, cho em hỏi thử vài câu. Anh đâu chiếc xe ba mươi hai lá, rứa lá mô đầu, lá mô đuôi?

(Đâu= đóng; xe ba mươi hai lá= xe đạp nước, guồng)

Nam: Trước trục tiền, sau trục hậu, giữa thì địa và cầu. Em thong dây cho anh xỏ ngạt, anh chỉ lá mô đầu, lá mô đuôi.

2. Nữ: Tiếng đồn anh hay chữ, cho em hỏi thử mấy câu. Chữ chi chôn xuống đất? Chữ chi cất lên tran? Chữ chi mang không nổi? Chữ chi tạc đá bia vàng không phai?

Nam: Chữ triệu chôn xuống đất. Chữ hiếu cất lên tran. Chữ tình mang không nổi. Chữ tâm tạc đá bia vàng không phai.

3. Nữ : Đố anh con rít mấy chân, cầu Đông Ba mấy nhịp, chợ Dinh mấy người?

Nam: Con rít có bốn mươi hai chân, Cầu Đông ba mười hai nhịp, chợ Dinh có hai người.

4. Nữ: Bướm vàng đậu đọt cau tơ. Anh ơi không kiếm nơi mô nương tựa mà cứ ở lẳng lơ rứa hoài?

Nam: Bướm vàng đậu đọt câu còi. Ba o còn nhỏ mà đòi lấy dôông.

5. Nữ: Cây cao đại thọ, bóc vỏ còn da. Anh thương em thì đến cửa đến nhà. Đứng mần chi ngoài đàng ngoài ngõ mà hỏi có vịt gà bán không.

Nam: Cây cao đại thọ, bóc vỏ khó trèo. Em lui về thưa thầy với mẹ nuôi thằng rễ nhà nghèo có được không?

6. Nam: Ngó lên trển trời tàu bay như én liệng. Ngó về dưới biển sóng cuộn ba đào. Chiếc thuyền quyên em nho nhỏ ai đã cắm sào vô chưa?

Nữ: Chiếc thuyến quyên em nho nhỏ mụi đỏ lái lè. Hai bên hai con mạn giữa lại đề tên anh.

(Mụi = mũi)

7. Nữ: Ở bên trên có hai ngôi miếu, dưới có cái đồn lầu. Anh có đi ngang qua đó nhớ cất nón, cúi đầu, vòng tay.

Nam: Anh cho hai con tinh tinh lên phá hai ngôi miếu. Anh cho con quỷ vô phá cái đồn lầu. Tội gì phải cất nón, cúi đầu, vòng tay.

8. Nữ: Em thương anh khộng biết cho chi. Cho anh một cái lọng móc đồng, để che mưa tréng nắng để phòng ốm đau.

(Tréng = tránh)

Nam: Lọng móc đồng cho cha em đội, cho cố nội em che. Chơ anh đây nghèo khó, đội cái nón te quen rồi.

9. Nam: Con ai nho nhỏ, tóc bỏ ngang vai. Chưa có chồng mà đã có thai. Một mai búp lòa hoa nở biết con ai mà nhìn.

Nữ: Áo em năm khuy em cài sít rịt. Ướm em cột chặt như nịt đố đóng đinh. Chiều bữa qua anh cho thằng nó qua rình. Ý làm sao anh lại biết mình có thai.

10. Nữ: Anh đến đây mần chi cho đồng khô cỏ cháy. Anh về làng Đáy mà ăn tôm cho nhiều.

Nam: Tiếng đồn làng Đáy nhiều tôm, răng em không gắp năm ba dịa quảy cơm hôm cho mẹ bên nhà.

(Dịa = dĩa)

Những câu sau còn thiếu một vế, xin các bạn bổ sung:

11. Ong vàng châm trái bầu eo. O chê tui nhỏ cho tui trèo thử coi.

12. Súng trường nạp đạn hai viên. Họa may may họa bắn chiếc thuyền quyên cho xạc xài.

13. Em hỏi anh con rắn không chân sao rắn bò khắp hòn rú? Con gà không vú sao gà nuôi được chín mười con? Trai nam nhơn chàng đối đặng chàng dòn han (?) thiếp cũng về.

14. Bốn bề bàu biển khô khan, giữa một vùng thủy tụ, ban bốn con ngàn nó lượn bay.

15. Thê đích thì ở nhà dọc, tiểu thiếp thì ở nhà ngang. Thân anh hai nhà ngói sẵn sàng. Tiếng kêu hầu dạ, chớ rộn ràng mà bị roi.

READ MORE - CÂU HÒ QUẢNG TRỊ - VÕ ĐÌNH HƯƠNG sưu tầm

Saturday, July 9, 2011

CÂU HÒ QUẢNG TRỊ - VÕ ĐÌNH HƯƠNG sưu tầm



21. Em bước chân xuống thuyền em cầm mái chèo kêu ẹo. Nhớ tới cảnh chàng ruột héo gan khô. Chàng ơi một trăm năm thiếp chẳng bỏ chàng mô. Chàng chớ có ưu sầu trong dạ ruột héo gan khô tím bầm.


22. Núi Ngự Sông Hương thêm thương thêm tiếc. Trăng xanh nửa biếc muôn thảm ngàn sầu. Vì ai trọng Á kiều Âu. Để gái ngất ngơ đàng gái, trai lại thảm sầu đàng trai.

23. Thiếp khuyên chàng ở nhà lên rừng đốn triêng củi quế. Đem về cho thiếp đem ra ngoài chợ đổi bát gạo châu. Ở với nhau cho đến tuổi bạc đầu. Chàng ơi ở nhà theo thầy với mẹ cho đặng câu hiếu tình.

24. Anh ơi có thương thì thương cho chắc, có trục trặc thì trục trặc cho luôn. Đừng làm như con thỏ nọ đứng đầu truông, khi vui thì giởn bóng, khi buồn thì giởn trăng.

25. Sen xa hồ sen khô hồ cạn, lựu xa đào lựu ngả đào nghiêng. Vàng cầm trên tay rớt xuống em cũng không phiền. Mà xa người bạn cũ trong dạ ưu phiền ngàn năm.

26. Đứng xa xa cách ba que sáo. Nghe giọng hò ôm áo ra đi. Sâm hồ ngô đạo nhất dĩ quản chi (?). Tai nghe thầy với mẹ bán gả em đi. Bằng ai dơ dao vàng cắt ruột anh đi từng ngằn. (dơ = đưa)

27. Áo em khô ai ngờ áo ướt. Bởi vì anh chậm bước nên thầy mẹ gả trước em đi. Bằng ai dơ dao vàng cắt ruột em đi từng ngằn.

28. Đứng xa xa cách ba que sáo. Nay hết mùa lại đậu que say. Nợ nhà giàu vay trả trả vay. Còn tình chàng ý thiếp biết nói mấy ngay cho rồi. (ngay = ngày)

29. Ngọn gió mùa thu em sầu không ngủ. Đêm năm canh chàng thức đủ năm canh. Vì ai cắt đoạn đánh tình. Đêm nằm suy đi nghĩ lại biết chàng có thương đoạn nhớ đàng hay không.

30. Con cuốc lẻ đôi còn kêu cà kêu cuốc. Huống chi hai đứa mình trầu thuốc bấy lâu. Gặp lại nhau đây cho anh tỏ ngộ đôi điều. Kẻo mai tê xa ngái như cpn cuốc kêu giữa đêm trường.
READ MORE - CÂU HÒ QUẢNG TRỊ - VÕ ĐÌNH HƯƠNG sưu tầm

Wednesday, July 6, 2011

CÂU HÒ QUẢNG TRỊ - VÕ ĐÌNH HƯƠNG sưu tầm



11. Thuyền chèo sông Hương nghe giọng hò vang vảng. Dương trồng núi Ngự gió thổi vo vo. Bởi thiếp sai mấy lời ước hẹn, chàng lỗi mấy câu hò. Mấy mươi năm tình chồng nghĩa vợ chàng bỏ mấy lời thề ai mang.

12. Con chim đại bàng đậu hòn núi bạc. Con cá ngư ông ngóng nước giữa vời. Gặp nhau đây cho em phân giải một đôi lời. Kẻo mai kia con cá về sông vịnh, con chim nọ đổi dời non xanh.

13. Đường xa vạn dặm chân anh giờ thăm thẳm. Điệu cang thường không kể ra chơ kể ra thì thảm lắm chàng ơi. Anh xa em ra không phải vì trời. Bởi vì anh tham giàu phụ khó nên mới đổi dời duyên em.

14. Khi xưa anh nói với em như rìu chém xuống đá, như rạ chém xuống đất, như mật rót vào tai. Răng chừ anh lại nghe ai lưỡi mềm chuốt ngót, bỏ em lại giữa chốn non đoài thảm chưa.

15. Đứng bên ni sông ngó về bên tê sông thấy người ta như hội. Em đây một mình muốn lội qua sông. Sợ e sông dài nghỉn ngắn qua không tới bờ.

16. Đứng bên ni sông ngó về bên tê sông lòng trông vời vợi. Qua khỏi sông rồi gặp hội đờn ca. Tử Kỳ gặp lại Bá Nha. Đàn em đưa lên năm giây cho đúng bậc để em lại xướng hòa vài câu.

17. Nặng vì tình say mê vì ngãi. Vì ai thân dại mai tàn. Chuyện hò lắm lúc vương mang. Em đây nhớ đến mấy câu tình chồng nghĩa vợ lụy ứa hai hàng khôn lăn.

18. Thiếp gặp chàng tại đường xe lửa. Chàng gặp thiếp tại cửa nhà thương. Thiếp ngợ (ngỡ) cùng chàng kết vấn tơ vương. Không hay mô như đòn gánh gãy nửa chặng đường chàng ơi.

19. Thùng thùng cắc cắc, nón che tay ngoắt. Con chim chi kêu ngả bắc, con cá chi ngoắt ngả đông. Biết răng chừ cho vợ lại gặp chồng để phân phô lời nói kẻo lụy hồng tuôn rơi.

20. Thiếp xa chàng hái dâu quên giỏ. Chàng xa thiếp bứt cỏ quên liềm. Xuống sông gánh nước đôộc chìm gióng trôi. Bận chừ khổ lắm chàng ơi. Có nơi mô quạnh vắng chàng ngồi cho thiếp phân.
READ MORE - CÂU HÒ QUẢNG TRỊ - VÕ ĐÌNH HƯƠNG sưu tầm

Monday, July 4, 2011

CÂU HÒ QUẢNG TRỊ - VÕ ĐÌNH HƯƠNG sưu tầm

HÒ ÂN TÌNH

1. Ống quyển dài khen ai khéo thổi. Thả xuống giọng trầm nhiều nỗi mê man. Đêm khuya giấc điệp mơ màng. Tiếng ai hò iểu điệu hay là tiếng bạn cũ đồng sàng ngày xưa.
2. Núi Ngự Bình trước tròn sau méo. Sông An Cựu nắng đục mưa trong. Thiếp không thương chàng thì thôi chứ thương thì thiếp chí quyết một lòng. Dẫu có xa xuôi dặm thẳm thiếp để dạ trắng trong đợi chàng.
3. Ai vào trong ngả nguồn mây. Cho anh nhắn người bạn cũ giải khuây đừng buồn.
4. Đó buồn đây cũng chẳng vui chi. Đó sa nước mắt đây cũng có khi khóc thầm.
5. Sách có chữ rằng hữu xạ tự nhiên hương. Chàng ở ăn ở làm sao trong dạ cho thường. Trước khỏi mang câu sĩ nhục sau thá thường khỏi cười chê.
6. Bạn ơi, mãn mùa toóc rạ rơm khô. Bạn về quê bạn chàng biết nơi mô mà tìm.
7. Đi mô cho thiếp đi cùng, đói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp theo. Lạnh lùng ta đắp chiếu cho. Đừng nghe ai khiến dộ lại vày vò chiếu đi.
8. Đi mô bỏ mẹ ở nhà, gối nghiêng ai sửa, chén trà ai bơng. Tay bơng dịa mói chắm gừng. Gừng cay mói mặn xin đửng bỏ nhau.
9. Bạn tri âm phải tầm người tri kỷ. Muốn đặng điều chung thủy để cho chàng rày vảng mai lai. Chàng ơi chớ thấy cây cao mà sấp mặt, chớ thấy biển rộng sông dài mà xây lưng.
10. Thiếp với chàng vương mang câu tình tự. Trên thì núi Ngự dưới có sông Hương. Du du đêm thẳm ngày trường. Nghe con ve kêu trên hòn núi Ngự vắng mặt chàng chàng ơi.
READ MORE - CÂU HÒ QUẢNG TRỊ - VÕ ĐÌNH HƯƠNG sưu tầm

CÂU HÒ QUẢNG TRỊ - VÕ ĐÌNH HƯƠNG sưu tầm


Là một cựu nhà giáo hiện đang sinh sống tại Thi Ông, Hải Vĩnh, Hải Lăng, Quảng Trị, anh Võ Đình Hương luôn thao thức làm thế nào để bảo tồn văn hóa làng quê trong thời đại văn minh đô thị đang lan tràn và mang theo văn hóa tây phương xa lạ. Với trăn trở đó, anh đã bỏ công sưu tầm những câu hò ở vùng quê Hải Lăng, là nôi của những điệu hò mái nhì, mái đẩy, giả gạo, đối đáp… một thời nhộn nhịp sân đình, ngân vang trên cánh đồng vào vụ cấy hoặc đến kỳ làm cỏ và từ những con đò dọc của dân thương hồ ngày đêm xuôi ngược trên những giòng sông quê hương.
VNQT sẽ lần lượt đăng tải tất cả nhưng câu hò mà anh Võ Đình Hương sưu tầm được, mong rằng chúng sẽ trở thành di sản phi vật thể của quê nhà, là tài liệu quý giá cho những ai quan tâm và mong thế hệ sau còn có cơ hội được đọc và bảo tồn những câu hò mà cha ông chúng ta đã gởi gắm vào đó rất nhiều tình cảm, nhiều tâm sự, được diễn tả một cách dí dỏm, thông minh, và qua chúng, hiểu được đời sống lao động và văn hóa của người nông dân chân lấm tay bùn một thời ở làng quê.
CÂU HÒ QUẢNG TRỊ
VÕ ĐìNH HƯƠNG SƯU TẦM
Ngày xưa. ở miền quê, đa số người dân quanh năm suốt tháng lo việc cấy cày, chẳng mấy người có cơ hội đến trường. Trong một làng chỉ có vài người được đi học, nên đa số các cụ từ 80 trở lên nay còn sống đều không biết chữ, âm nhạc cũng sơ sài. Vào tuổi lập gia đình, mặc dù không thể gởi thư nhưng họ lại bày tỏ tình cảm với nhau qua những câu hò rất mộc mạc chân tình tự sáng tác hoặc đã được truyền khẩu từ bao đời.
Các cụ kể rằng sau một ngày công việc đồng áng trở về, cơm nước xong, đến tối, trai gái xóm này với xóm nọ hoặc làng này với làng khác tu tập, vừa cầm chày giả gạo vừa trao gởi tình cảm với nhau bằng những câu hò.
Không chỉ ở những buổi tụ tập về đêm mà trên đồng ruông, nương khoai, đồi sắn…, bất cứ nơi đâu, người ta cũng có thể cất lên những giọng hò để xua tan đi mệt nhọc. Những chuyện hò đó không cần phải khuôn mẫu như âm nhạc cung đình mà chỉ cần có vần điệu là được. Các điệu hò như hò giả gạo, hò maí nhì, hò khoan rất phổ biến và còn được chia ra các loại như hò ân tình, hò đối đáp, hò ru con, hò cách mạng, v.v.
Qua một thời gian ngắn, tôi đã sưu tầm trên 100 câu hò bằng cách tiếp xúc với một số cụ ở Hải Vĩnh, Hải Lâm, Hải Thiện. Vì đây là văn hóa truyền khẩu nên có sự tam sao thất bổn, cần thời gian để tham khảo thêm những dị bản của các cụ cao niên khác. Những bài ghi được ở đây cũng có thể sai từ ngữ, thiếu vần điệu, nhưng vì thiện ý muốn lưu lại loại văn hóa truyền khẩu mộc mạc và mang đậm cái hồn quê mà một mai trở nên mai một thì rất đáng tiếc.
Vậy tôi gởi những câu hò này đến các bạn, xem như là bản nháp, xin được nghe những góp ý, sửa đổi để cùng nhau gìn giữ nét văn hóa độc đáo của quê hương.
Rất mong được các bạn chỉ giáo.
Quý hạ Tân Mão 2011
Võ Đình Hương


ĐỌC TIẾP

CÂU HÒ QUẢNG TRỊ: Câu 1-10

CÂU HÒ QUẢNG TRỊ: Câu 11-20
READ MORE - CÂU HÒ QUẢNG TRỊ - VÕ ĐÌNH HƯƠNG sưu tầm

Tuesday, February 22, 2011

TIẾNG QUẢNG TRỊ - VÕ ĐÌNH HƯƠNG sưu tầm




BÀI CÙNG CHỦ ĐỀ


TIẾNG QUẢNG TRỊ

NGỮ ÂM TIẾNG VIỆT

TỰ TÔN TIẾNG NÓI DÂN TỘC

CHUYỆN LÀNG CHUYỆN XÓM

Ngủ dậy bựa mai xuống chợ bến đò mua chín cấy tréc.
Đêm về bắc lên lò:
Cấy kho ceng ngò, cấy kho ceng cải, nấu nải chuối xeng,
Nấu ceng dưa giá, kho cá, kho gà, kho cà, kho thù đủ, nấu cổ khoai tây.
Tai em nghe eng thi hỏng trường này.
Bâng khuâng bụng dạ bỏ quên chín cái tréc này eng ơi!

V.Đ.H
READ MORE - TIẾNG QUẢNG TRỊ - VÕ ĐÌNH HƯƠNG sưu tầm