Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, January 18, 2013

ĐAU ĐÁU HOÀNG SA - Truyện ngắn của Phan Trang Hy

Kính tặng các chiến sĩ Hoàng Sa, Trường Sa… 

Trường Sa. Ảnh Vũ Anh Tuấn


        Lệ thường, ngày nào cũng vậy, lão Ban lại ra biển. Không nhìn thấy biển là lão cảm thấy sao sao ấy. Lão dễ nổi cáu với vợ. Chỉ cần nhìn thấy biển, nhìn ra ngoài khơi xa là lão mới dịu đi những cáu ghét của cuộc đời. Lão đi biển không phải để nhìn thiên hạ tắm, không phải tập thể dục dưỡng sinh, cũng không phải bông lơn chọc ghẹo những mụ hồi xuân. Lão nhìn biển như thể cho vơi bớt nỗi lòng của mình, khi chẳng biết tỏ cùng ai. Thường là lão đi một mình. Nhưng lần này lại khác. Lão cùng thằng cháu nội ra biển chơi.
        Nhìn thằng cháu đang lượm những vỏ ốc, vỏ sò, những con sao biển, lão thấy hồn mình như nhập vào sóng biển. Vẫn tiếng sóng vỗ bờ, vẫn tiếng rì rào của đại dương, của hồn biển Đông muôn thuở. Vẫn đâu đây từ cõi sơ khai nước mặn, trời nồng. Bỗng thằng Phong - thằng cháu nội của lão - lên tiếng :
        - Nội ơi ! Nội coi nè ! Vỏ ốc này đẹp quá, nội ơi ! - Vừa nói, nó vừa chạy tới khoe lão.
        - Ừ ! Đẹp quá !- Lão khẽ nói.
        Nhìn vỏ ốc trên tay thằng Phong, lão lại nhớ cái vỏ ốc mà lão đã tặng cho Vũ - ba của thằng Phong. Quá khứ ấy như hiện ra trước mắt …
        Lão làm sao quên được cái ngày lão được nghỉ phép về thăm gia đình ở Đà Nẵng. Được trở về đất liền, được thăm vợ, thăm con - thăm cái thằng con trai, cái thằng con mà lão chưa biết mặt, lão cảm thấy sao quá tuyệt vời. Nằm thao thức, nghe sóng, gió mang vị mặn trong đêm, lão không ngủ được. Ngày mai là có tàu vào đất liền. Mừng thật ! Vui thật ! Nghĩ đến vợ con, lão lục tìm trong đầu nên tặng vợ, tặng con những gì ? Ở trên quần đảo này có gì ngoài phân chim, cát vàng, san hô, ốc biển…Tặng gì đây cho vợ, cho con ?
        Vừa về đến nhà, lão chào mọi người. Vợ lão ôm chặt lão, khóc : “Sao anh không ở ngoài đó ? Anh về làm gì ?”. Lão biết vợ quá thương mình nên nói vậy thôi. Chính vợ lão đã khuyên lão ra đảo nhận công tác khí tượng kia mà.
        Nhìn thằng Vũ nằm trên nôi, lão giơ hai tay ra, vừa vỗ vỗ vừa kêu lên : “Ba đây con ! Cho ba bồng tí !”. Thằng Vũ nằm trong nôi khóc ré lên. Thương con, lão muốn bồng con, ôm con. Nhưng mỗi lần lão bồng nó thì nó không chịu. Một bữa, vợ lão lo sắm sửa một ít đồ dùng để lão ra lại đảo, bèn giao con cho lão. Thằng Vũ cứ khóc, không chịu cho lão bồng. Lão lấy những thứ đồ chơi bằng nhựa cho nó chơi, nhưng nó vẫn không chịu nín. Cực chẳng đã, lão bồng con và dỗ. Lão kêu kêu, cười cừời ; lão làm đủ trò ; nhưng thằng bé vẫn cứ khóc. Khóc miết rồi cũng mệt. Mệt nên nó nín. Rồi nó đưa mắt nhìn lão, nhìn khắp phòng. Lão thấy mắt thằng bé nhìn các thứ để ở trong tủ gương như muốn khám phá điều gì đấy. Nhìn con, lão lấy làm lạ. Những thứ trong tủ có gì lạ đâu. Toàn san hô, ốc biển…, những thứ lão mang từ đảo về. Lão bồng con đứng trước tủ. Thằng bé cười - lần đầu nó nhoẽn miệng cười. Lão lấy mấy thứ nhỏ xinh cho thằng bé chơi, nhưng nghĩ lại, lão sợ thằng bé chơi, rồi nuốt bậy, nên lão cất. Thằng bé lại khóc. Cuối cùng, lão chọn cho con một con ốc to bằng nắm tay. Đây là con ốc lão lượm trên đảo đúng vào lúc nghe tin vợ ở nhà sinh thằng Vũ. Thằng bé cầm con ốc, ngậm vào miệng ra chiều thích thú.
        Kể cũng lạ ! Từ khi chơi với con ốc, thằng bé lại muốn lão bồng, lão bế. Chỉ trừ lúc nó thèm sữa, còn thì nó đòi lão bồng chơi cùng con ốc cho bằng được. Nó cũng thích lão hát cho nó nghe, nó cũng thèm lão hôn nó…
        … Lão vẫn nặng nợ với đảo. Đảo là nhà, là phần cuộc sống của lão. Những lúc thương con, nhớ vợ, lão chỉ biết ngồi trên bãi san hô nhìn vào đất liền. Làm sao lão quên được những hoàng hôn. Màu sắc kỳ ảo vàng đỏ tím xanh cả biển. Mặt trời lặn dần xuống biển như thể thiên nhiên đang cất giấu viên ngọc hồng vào trong rương vũ trụ. Chỉ còn thứ ánh sáng diệu kỳ trên biển. Và trong lão sáng lên thứ ánh sáng của đêm, thứ ánh sáng gia đình, quê hương…Lão thèm được nhìn vợ, nhìn con, nhìn những gì thân thương của mình. Lão quên sao được những lần đem thư của con ra đọc. Ngó thế mà thằng Vũ cũng đã lớn rồi. Học lớp 11.Thư gửi cho lão, lúc nào nó cũng nhắc đến con ốc mà lão cho nó. Cũng từng ấy câu chữ, nó cứ viết vào những lá thư gửi cho lão : “Ba biết không ? Bạn bè con, đứa nào cũng trầm trồ vì con có con ốc đẹp. Con đã từng khoe với bọn chúng là con ốc mang cả hình hài của quần đảo Hoàng Sa. Bọn chúng không tin. Nhưng con tin là thế !”.
        Lão cũng tin là thế ! Lão tin quần đảo Hoàng Sa là máu thịt của quê hương. Làm sao lão quên được có lần lão đã dắt thằng Vũ về quê ở tận Quảng Ngãi. Trong lần giỗ chạp, ông tộc trưởng họ Đặng của lão đã từng nhắc rằng lão là kẻ hậu sinh đang kế nghiệp tiền nhân. Mở gia phả, lão rưng rưng đọc những dòng chữ ghi công tích của họ Đặng. Vua triều Nguyễn đã từng phái dòng tộc lão vượt đại dương trấn giữ Hoàng Sa. Lão cảm thấy như máu tiền nhân đang chảy trong cơ thể, tăng thêm nghị lực, tăng thêm tình yêu cho lão trên đảo Cát Vàng. Làm sao lão quên được lúc cúng tế, bà con tộc họ đã bỏ thức ăn, sau khi xong lễ, vào một chiếc thuyền làm bằng bẹ chuối, thả xuống biển. Mũi thuyền hướng về Hoàng Sa như thể rằng Hoàng Sa không thể quên trong hồn người đã khuất. Trong tâm tưởng lão, lúc nào chiếc thuyền bẹ chuối ấy cũng lớn như những chiếc thuyền của dòng tộc họ Đặng, họ Trần, họ Lê…ở quê lão vâng lệnh triều đình, tiến thẳng Hoàng Sa…Trong lão như trỗi dậy những bài văn tế các thủy binh thời ấy. Nhận lệnh vua, nặng nợ nước nhà, buổi ra đi đâu dễ dàng. Sóng gió trùng khơi, thủy quái dẫy đầy, đến Hoàng Sa đâu dễ. Các thủy binh được tế sống lúc lên đường như thể rằng quê hương vẫn nặng nợ với những người con. Lão bùi ngùi, run rẩy như có ai đang bóp nghẹt trái tim. Lão khóc…
Và lão đã khóc rất nhiều khi nghe tin thằng Vũ hy sinh trên Trường Sa năm 1988. Lão không ngờ như vậy. Kỷ vật cuối cùng của con lão là quyển nhật ký. Lão đã đọc đi, đọc lại hoài. Những dòng cuối cùng lão như thuộc lòng : “Ba ơi ! Biển đảo là biển đảo của quê hương do cha ông để lại cho con cháu đời sau. Phải giữ để khỏi có tội với tiền nhân, với con cháu. Dẫu có hy sinh, con vẫn không hối tiếc điều gì vì đã thực hiện theo lời ba dạy.”. Đến giờ, lão vẫn không biết mình dạy con điều gì. Lão chỉ nhớ những việc làm, những tình cảm gắn bó với Hoàng Sa. Không biết có phải những điều ấy là lời lão dạy với con ? Có lần thằng Vũ cầm con ốc đố lão - lúc nó vừa thi xong tú tài : “Đố ba, trên mình con ốc này có gì ?”. Lão ngạc nhiên sao con lão đố như vậy. Nhìn con ốc, lão cười đáp : “Thì chỉ những chấm, những chấm màu vàng nâu”. Thằng Vũ cũng cười, nói : “Rứa con đố làm gì !”. Rồi nó chỉ từng cái chấm, hỏi lão có giống những đảo mà lão đã từng ở không, nhiều chấm có phải là quần đảo không…Và rồi nó kết luận : “Trên mình ốc có in hình quần đảo Hoàng Sa”. Kể cũng hay hay. Từ đó, nó để con ốc vào chỗ trang trọng nhất. Khi nhập ngũ, đi bộ đội hải quân, nó xung phong đi Trường Sa. Lão không gàn con. Nó cũng có tình yêu đảo như lão kia mà !
       Kể từ ngày thằng Vũ mất, lão như mất hồn. Cứ những đêm rằm, mồng một, lão lại ra biển. Dù nắng, dù mưa, lão vẫn ra biển thắp ba cây nhang hướng về Hoàng Sa, Trường Sa mà vái. Ngoài kia, những con thuyền thả lưới, những chiếc tàu đánh bắt cá sáng rực những ánh đèn như thành phố nổi trên biển. Trước mắt lão hiển hiện những ngư dân cần mẫn, chăm chỉ, chịu khó chịu thương. Trước mắt lão hiện lên những chàng trai giữ đảo, có cả hồn của những người như con trai lão cùng tiền nhân giong thuyền xuôi ngược biển Đông. Nhiều lúc lão lẩm bẩm một mình như đọc thơ về Hoàng Sa…
        Và rồi thành phố Đà Nẵng bổ nhiệm Chủ tịch huyện đảo Hoàng Sa. Lòng lão trỗi dậy thứ tình yêu biển đảo mà bấy lâu nay ẩn trong tiềm thức. Người họ Đặng hôm nay lại nối tiếp họ Đặng, họ Trần, họ Lê… ở quê lão, như cái thuở cha ông vâng lệnh triều đình ra đảo, gánh trách nhiệm với Hoàng Sa. Lão thấy mình như trẻ lại, khỏe lại và vui hơn. Không vui sao được khi đất đảo quê hương được nhắc đến ? Không vui sao được khi có người dám nhận trách nhiệm nặng mang ? Lời thằng Vũ trong nhật ký sáng rực trong tâm trí lão : “Biển đảo là biển đảo của quê hương do cha ông để lại cho con cháu đời sau. Phải giữ để khỏi có tội với tiền nhân, với con cháu…”.
        Tiếng thằng Phong như đánh thức lão :
        - Nội ơi ! Mai con phải vào thành phố Hồ Chí Minh.
        - Ở thêm ít ngày, được không ? - Lão hỏi như trách .
        - Con phải vào để thầy hướng dẫn làm luận văn .
        - Thế thì phải vào thôi ! Mà này, con làm đề tài gì ?
        - Dạ ! Con làm đề tài về quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa trong mối quan hệ với biển Đông.
        Trầm ngâm một lúc, lão lên tiếng :
        - Gay đó con ! Nhưng phải gắng thôi.
        - Dạ ! Con nghe lời nội.
        Hai ông cháu cùng dắt tay xuống tắm. Nước biển tắm mát cơ thể lão, cơ thể cháu lão. Nước biển Mỹ Khê giống như nước biển Hoàng Sa. Lão nghe mằn mặn bờ môi. Lão đứng lên. Mặc từng cơn sóng đổ trên người, lão nhìn ra xa khơi. Đau đáu là Hoàng Sa trong nỗi nhớ…


                                                           Tháng Năm, 2009
                                                           Phan Trang Hy

(Trích từ tập truyện ngắn Người Thầy Dạy Búp Bê , Nxb Văn Nghệ, 2009
READ MORE - ĐAU ĐÁU HOÀNG SA - Truyện ngắn của Phan Trang Hy

Hoàng Yên Lynh - VỚI XUÂN



Nâng ly ơi ới bạn hiền
Xuân sang trước ngỏ chạnh niềm cố hương
Mấy mươi năm sống tha phương
Gỡ tờ lịch cuối mà thương phận mình
Bỏ quê xa bạn mất tình
Tàn cơn binh lửa cuối ghềnh đầu non
Sáu mươi cứ mãi long đong
Mỏi mòn phiêu bạt vẫn mong chốn về
Thêm ly ơi bạn cố quê
Bờ tre giếng nước chân đê sáo diều
Hương xuân quyện với hương yêu
Mà sao đời mãi quạnh hiu hỡi người
Ừ thì xuân, xuân muôn nơi
Chẳng riêng ai cả dẫu đời buồn vui
Sáu mươi một chút ngậm ngùi
Xuân khoe sắc mới tuổi đời buồn thêm
Bạn ơi trăng ngã bên thềm
Rượu chưa cạn hết đã mềm đắng cay
Cạn ly bạn nhé mình say
Một năm, năm nữa biết ai mất còn ...
"Trăm năm bia đá dẫu mòn ..."
Tình riêng còn lại tấc lòng ai ơi
Trăng đầy rồi trăng lại vơi
Lá xanh rồi lại lá rơi cuối mùa
Đường đời vinh nhục hơn thua
Có chăng nấm mộ nắng mưa bên đường ...

                      &

Ừ cũng xuân, xuân tha phương
Đốt ló hương cũ tìm hương thuở nào
Người đi cuối nẻo quan san
Để người lưu lạc nghẹn ngào giấc mơ
Hết năm mòn mỏi trông chờ
Ơi tình ơi bạn hững hờ ... Xuân qua
Cạn ly bạn uống cùng ta ...



HOÀNG YÊN LYNH
B'Lao,  01-2013
hoangmylinh@live.com
READ MORE - Hoàng Yên Lynh - VỚI XUÂN

CHÙM THƠ CẢM TÁC HOÀNG HẠC LÂU - Nhiều tác giả



 Bài xướng:

 LẦU HOÀNG HẠC


Hạc vàng bay mất tự bao giờ
Mà mái lầu xưa vẫn đứng trơ
Đôi cánh vút đi không trở lại
Ngàn mây lờ lững mãi mong chờ
Hán Dương gờn gợn cây lồng bóng
Anh Vũ mơn man cỏ phủ bờ
Sương khói trên sông, chiều bãng lãng
Quê hương vời vợi khuất xa mờ...

       Sông Thu dịch Hoàng Hạc Lâu, thơ Thôi Hiệu

Các bài họa:

LẦU HOÀNG HẠC

Hạc bay biền biệt tận đâu giờ
Lầu cũ buồn hiu mái lạnh trơ
Bận bịu người đi không hẹn lại
Hững hờ mây trắng mãi trông chờ
Hán Dương cây cảnh đà thay lá
Anh Vũ cỏ hoa đã rậm bờ
Lãng đãng trời chiều mây ảm đạm
Trên sông sầu muộn phủ giăng mờ

                                  Thanh Trương


ĐÂU CÒN NỮA

Loài hạc mất tăm tự bấy giờ
Đầm lầy chỉ thấy cỏ năn trơ
Môi trường ô nhiễm không về lại ( 1)
Cảnh vật cằn khô chẳng đến chờ ( 2)
Rừng núi thưa dần cây phủ bóng
Đồng bằng thiếu vắng cỏ che bờ
Chim trời cá nước đâu còn nữa
Thế giới tương lai tối mịt mờ

                                      16-01-2013
                                      Hoàng Từ

1.     Chim hạc bay đi không về lại
2.     Chim chẳng đến để chờ môi trường tốt hơn


 ĐỌC LẠI THƠ XƯA

Hoàng hạc xa bay tự bấy giờ
Ngàn năm cảnh vật vẫn còn trơ
Mây xưa trắng phủ màu thương nhớ
Mái cũ nâu che sắc  đợi chờ                  
Nắng biếc Hán Dương dài chiếc bóng
Cỏ xanh Anh Vũ rộng đôi bờ
Tìm đâu khói tỏa thời xa đó ?
Vời vợi quê hương, lệ ướt mờ...

                        THY LỆ TRANG
                        MASSACHUSETS


HOÀNG HẠC LÂU

Truyền mãi ngàn xưa cho đến giờ
Hạc vàng tung cánh để lầu trơ
Trần gian thưa thớt tiên còn hẹn
Nhân thế nhúc nhung tục vẫn chờ
Thắng tích gợi hồn thơ bất tận
Cảnh quang mở niệm ý vô bờ
Người đi đất ở tình son sắt
Sông rộng trời cao bóng tháp mờ

                             Nha Trang,17.01.2013
                             Võ Sĩ Quý


HOÀNG HẠC LÂU

Cái hạc bay xa tự bấy giờ                  
Lầu tình vắng chủ đứng buồn trơ
Trên trời Hạc-trắng không quay lại      
Dưới đất non xanh mãi ngóng chờ       
Cây cảnh Hán-Dương chồi nứt lá
Cỏ hoa Anh-Vũ nụ chen bờ                      
Người đi, chốn cũ nhiều nhung nhớ 
Mây nước từ nay khuất mắt mờ.

                                     Cao Bằng

  
THĂM LẦU HOÀNG HẠC


Cưỡi hạc vàng bay tự bấy giờ
Mà lầu kỷ niệm cũ còn trơ?
Người đi tìm lại hình mây đợi
Ta đến thấy đâu bóng nước chờ.
Dương Tử sông xanh ôm trọn bãi
Xà Sơn núi biếc ấp quanh bờ.
Nắng chiều lấp loá vờn trên sóng
Chợt nhớ cố hương  mắt lệ mờ.

                                Lương Thế Hùng 
                                17/01/2013


  CẢM TÁC HOÀNG-HẠC-LÂU
                          
  Hạc đi buổi ấy tự bao giờ
  Lầu vắng ngàn năm sương nắng trơ
  Ai đó chuyện xưa, hồn ngớ ngẫn
  Người đây tích cũ, ý mong chờ
  Hán-Dương cây nước chừ tan biến
  Anh-Vũ cỏ hoa đã rụi bờ
  Chỉ áng thơ hay lưu hậu thế
  Cảnh tình muôn thuở vẫn chưa mờ.

                             MẠNH-TRƯƠNG
                             Washington DC/USA


 CẢM TÁC ĐỌC LẠI THƠ XƯA

Hạc vàng người cỡi biết đâu giờ ?
Lầu cũ rêu phong mãi cứ trơ
Một thuở cánh xưa bay vút mất
Ngàn năm mây trắng vẫn trông chờ
Hán Dương ngần bạc trăng tràn bến
Anh Vũ xanh non cỏ ngút bờ
Chiều nắng nhẹ buông quê khuất bóng
Não lòng sóng biếc khói sương mờ.

                                Trần Văn Hạng
                                 


SÔNG THU biên tập
songthu195@yahoo.com.vn

READ MORE - CHÙM THƠ CẢM TÁC HOÀNG HẠC LÂU - Nhiều tác giả

XA NHAU KỶ NIỆM DÒNG NÀY - Dương Thế Kinh Luân


Tốt nghiệp Đại học với bằng kỷ sư xây dựng, có việc làm trong một công ty xây dựng lớn tại miền Trung, lấy vợ là một bác sĩ tại một bệnh viện ở trung tâm thành phố Đà Nẵng, tập tành làm thơ viết văn, cuộc đời của Dương Thế Kinh Luân - con trai nhà thơ Thế Lộc – quả là may mắn và  hạnh phúc mà không phải thanh niên độ tuổi 30 nào cũng có được. Thế nhưng ông trời thương không trót, cách đây đúng một năm, vào ngày 8 tháng Chạp năm Tân Mão, một tai nạn giao thông đã cướp mất cậu con út của nhà thơ Thế Lộc, để lại nỗi đau đớn vô hạn cho gia đình anh và nỗi tiếc thương cho bạn bè và đồng nghiệp, để lại hạnh phúc dở dang cho người vợ đang mang thai đứa con đầu lòng vừa tròn 8 tháng.

Nhân ngày giỗ đầu của Dương Thế Kinh Luân (ngày 8 tháng Chạp năm Nhâm Thìn), nhà thơ Thế Lộc gởi đăng hai tác phầm đầu tay và cũng là cuối cùng của người con quá cố của anh. VNQT xin chia buồn cùng nhà thơ Thế Lộc và trân trọng giới thiệu.


Dương Thế Kinh Luân


XA NHAU KỶ NIỆM DÒNG NÀY

            Hè! tiếng gọi quen thuộc của tuổi học trò, mỗi lần nhắc đến ai cũng vui mừng, phấn khởi vì mình có thể thư giản, vui chơi thỏa thích để trút bỏ mọi ưu phiền trong lòng cũng như trong học tập. Nhưng sao hè này mình chẳng muốn nó đến chút nào, làm sao mình có thể cản được, thời gian mà ! Nó trôi đi một cách phũ phàng và sẽ không bao giờ trở lại. Mình biết hè đến cũng là lúc mình, các bạn và thầy cô phải xa nhau mãi mãi, mình không muốn những gì bao năm có được bây giờ lại tan biến tất cả: Thầy, cô, bạn bè, tuổi học trò ư? Không, mình không đủ can đảm để lĩnh nhận sự thật ấy. Bao năm cùng bạn bè sống chung trong một mái trường, cùng nhau san sẻ mọi biến cố, dù trong mọi hoàn cảnh vui hay buồn thì bây giờ bỗng phút chốc trắng tay, mình không còn oán trách ai, mà chỉ trách tạo hóa hay trêu ngươi, thường trái ngược với cuộc đời. Bây giờ còn đây những gương mặt, cử chỉ, điệu bộ, mình phải biết trân trọng vì bước chân ra trường sẽ là mất nhau, không biết sau này sẽ như thế nào, nếu như năm năm, mười năm rồi hai mươi năm sau trong cuộc sống bận rộn, hối hả xuôi ngược của cuộc đời mình có thể gặp lại các bạn không? Có rảnh để ngồi lại hàn huyên nói chuyện, tán gẩu như ngày xưa không? Hàng loạt câu hỏi cứ tuôn ra, mình không biết, mình phó mặc tất cả, mình tự để cho thời gian trả lời. Nhưng mình vẫn mong và hy vọng các bạn một điều là vẫn luôn nhớ đến ngôi trương Hồng Đức nơi đã dạy cho chúng mình những tri thức để bước vào đời và cũng là nhịp cầu cho chúng mình quen nhau.
                        Ba năm là dài hay ngắn
                        Sao bỗng thẫn thờ giây phút chia tay
         Một việc nữa mà mình vẫn luôn giấu giếm bấy lâu nay, mình để nó trong tận trái tim này của mình, mình cảm ơn cô chủ nhiệm lớp 12/3 cô Nguyễn Thị Trinh, người đã tận tụy dẫn dắt và luôn có mặt kịp thời để giúp đỡ mình trong những tháng ngày qua,. Lúc ấy mình cảm thấy như một luồng hơi ấm của một người Mẹ dịu hiền. Bây giờ nghĩ lại mình thật có lỗi với cô, mình đã làm cho một người Mẹ phải buồn về đứa con ngỗ nghịch. Bao lần mình đã phạm hết sai lầm nầy đến sai lầm khác, nhưng cô vẫn từ tốn phân tích lời hay lẽ phải. Nhưng cũng có lúc cô chỉ buồn và lặng lẽ làm thinh, mình biết lúc cô lặng lẽ cũng là giây phút cô buồn nhất, cũng nhờ những lời trách móc, sự lặng lẽ buồn của cô đã làm cho đứa con này thay đổi.
       Cô ơi, nhờ cô mà em đã thay đổi, những lời này thật sự thốt ra từ đáy lòng của em, em không dối trá, em không muốn lời thú tội của một người con nói ra khi đã quá muộn màng. Em không định nói ra nhưng không nói sẽ không còn cơ hội nào để tỏ bày nữa. Có ai đó đã nói rằng "Nghề giáo như một nghề chèo đò, mỗi năm là một chuyến đò chở khách qua sông". Nhưng riêng em thì em không nghĩ như vậy. Dù sao đi nữa, bên em vẫn vang vọng tiếng của cô như lời nhắc nhở, bài giảng của cô như chắp cánh ước mơ cho em bay khỏi vùng trời cổ tích. Có những lúc lặng thầm em ngắm vầng trán cô đọng lại những nếp nhăn ... Tuổi thơ em như ánh trăng rằm, sao thấy được nỗi lòng cô cùng năm tháng. Đã đi qua một thời gian em đã lớn, bài học đầu tiên em hiểu được Thầy Cô. Lời giải đáp cho em không còn là ẩn số mà cả tấm lòng của gió, em gởi lòng mình thương kính đến Cô yêu .

DƯƠNG THẾ KINH LUÂN
Trích DƯ ÂM tuyển tập thơ văn lớp 12/3 trường PTTH HỒNG ĐỨC  năm 1999.


CON KHÔNG QUÊN

Ngày tôi về em ra đầu ngõ đón
Nước mắt lăn dài vai nhỏ run run
Em kể lể trong từng cơn nấc nghẹn
Mẹ qua đời giữa đêm lụt vừa qua

Xác Mẹ trôi theo cơn lũ băng nhà
Rồi vướng lại nơi hàng tre cuối xóm
Mấy ngày sau nước đi, xác Mẹ sạm
Dân làng mình chôn Mẹ đậm tình thương

Cơn lũ đi qua như bải chiến trường
Nhưng tình quê hương còn cao hơn lũ
Em lớn lên làm người dân xứ Quảng
Ngàn đời không quên nghĩa xóm tình làng.

DƯƠNG THẾ KINH LUÂN
(Trích Đặc san ĐỨNG TRÊN ĐỈNH LŨ, trang 130, do Ban Tuyên Giáo Thành Ủy và Hội Văn Học Nghệ Thuật TP Đà Nẵng xuất bản tháng 01 năm 2000 .

READ MORE - XA NHAU KỶ NIỆM DÒNG NÀY - Dương Thế Kinh Luân