Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Sunday, June 16, 2013

HẮN THÔI LÀM QUAN - Truyện ngắn Đinh Thanh Hải



Ngày sinh hắn ra đời, cả gia đình rất vui mừng vì từ nay đã có một thằng quý tử nối dõi tông đường, ông bà cùng cha mẹ luôn cầu mong cho hắn sau này ăn to, nói lớn, làm quan to chức trọng trong xã hội. Sau mấy ngày trời chọn lựa cái tên, cuối cùng gia đình đã đặt cho hắn cái tên Công Đắc, Công là làm việc công việc làng việc nước, Đắc là thành công.

Công Đắc càng lớn càng chăm chỉ học hành, nghe lời dạy dỗ của cha mẹ, thầy cô ... chẳng mấy chốc cậu cũng học hành đến nơi đến chốn, gia đình ai ai cũng vui mừng khi thấy con làm đúng theo ước nguyện. Năm tháng trôi qua, Công Đắc đã trưởng thành, ba mẹ cưới cho hắn một cô vợ ngoan hiền để về chăm lo, “nâng khăn sửa túi” cho hắn đúng theo nền nếp gia phong.

Năm 1975, Chiến tranh ở Việt Nam vừa kết thúc, tiếng súng thôi không còn nổ nữa, những người con quê lại trở về với làng với gia đình. Ở quê đất chật người đông, ruộng vườn đâu mà làm ăn sinh sống ... Trên tình hình đó, chính quyền tỉnh đã đưa ra quyết định khuyến khích người dân đi kinh tế mới ở các vùng miền Đông Nam Bộ, hắn vội xin ba mẹ cho hắn được đưa vợ con đi vào miền Nam lập nghiệp, chứ cứ ở quanh ngôi làng này làm sao mà thoát nghèo. Ba mẹ chỉ có mỗi mình hắn nên chẳng đành lòng cho hắn đi, nhưng cái tính hắn cứ nằng nặc một hai phải đi, thôi thì trời không chịu đất – đất phải chịu trời. Căn ngăn mãi mà không được, họ đành bấm bụng cầu chúc cho hắn đưa vợ con đến nơi xa đó ăn nên mần ra, ba mẹ chỉ dành dụm được có chút vốn liếng còm cõi cho hắn làm lộ phí đi đường, và thêm thắt vào trang trải cuộc sống ban đầu.

Những ngày đầu lập nghiệp ở nơi đây thật gian khổ, cơm sắn độn nhau ăn mới đủ no, hắn và vợ cứ quần quật làm nương rẫy, mặt trời vừa ló rạng đông là cả nhà hắn lại đi làm rẫy, tối mờ mịt mới trở về nhà. Có những lúc đói khổ bệnh tật liên miên, con cái nheo nhóc, hắn cũng chán nản lắm ... Nhưng phải gắng lên thôi, phải tỏ rõ ta là một người trụ cột trong gia đình, và xứng với cái tên Công Đắc mà ba mẹ đặt cho. Bên cạnh công việc làm nương rẫy, hắn còn là một cán bộ xã hẳn hoi, hắn khá nhanh nhẹn với cộng đồng văn hóa làng xã, nhiều người quý mến hắn vì sự nhiệt tình.

Mười năm ở vùng kinh tế mới này, gia đình hắn đã thôi đói khổ, con cái được cắp sách đến trường, hắn cũng đã lên làm chủ tịch xã. Hắn dần dần không đi làm nương rẫy nữa, những việc đó giờ là của vợ của con phải làm thay hắn. Còn hắn thì ngày đêm đi họp hành, công tác, tiệc tùng ... Người hắn bắt đầu phát tướng, và hình như suy nghĩ cũng khác xưa, trong hắn quên dần đi lời dạy của ba mẹ, sống phải biết đặt việc Công lên hàng đầu thì mới đắc đạo, mới thành công. Hình như không phải chỉ mỗi hắn thay đổi, mà cuộc sống ở đây cũng vậy, người ở khắp nơi kéo về đây ở, mua đất làm nhà sinh sống lập nghiệp. Rồi hắn được đút lót tiền của, từ một hai trăm ngàn đến bạc triệu, ban đầu hắn còn e ngại, nhưng tiền đã làm hắn mờ mắt, đi làm nương rẫy cả năm biết có thu lợi bằng hắn ký đôi ba chữ. Mà tiền này là họ tự nguyện đưa chứ nào phải hắn đòi !

Căn nhà của hắn từ mái lá tranh lụp sụp, nay đã trở thành căn nhà lầu khang trang, tivi tủ lạnh, chăn ấm nệm êm ... Bà con quê mỗi lần vô Nam thăm đều trầm trồ khen ngợi. Sao mà thằng Công Đắc giàu sang và chức cao danh vọng đến vậy. Thật nở mày nở mặt cho quê hương dòng họ. Nhưng bà con đâu biết rằng hắn nào có được ăn ngon ngủ yên trong căn nhà sang trọng đó, hắn bắt đầu lo lắng về những phái đoàn thanh tra của tỉnh của bộ, nhưng đã trót ăn rồi thì làm sao đây, thôi thì liều mạng đến đâu hay đến đó.

Hắn làm quan nên con cháu hắn cũng được nhờ, dựng vợ gã chồng và làm to ở huyện, con rể con dâu đều chẳng dám hành hạ hay chửi bới con trai con gái mình. Vì nhờ hắn mà có ra cơ ngơi như vậy, tinh tướng là hắn cho về vườn và trắng tay.

Năm tháng trôi qua, tuổi hắn cũng đã già, hắn đến tuổi phải về hưu và thôi làm quan chức, hắn cũng hạ cánh một cách an toàn, không bị phanh phui gì về chuyện tham ô hối lộ ... Nhưng những ngày về vườn là những ngày hắn đau khổ, dằn vặt hơn bao giờ hết. Lâu nay sáng ra đi làm, tối mù về nhà và hắn chỉ sống trong căn biệt thự được bao quanh bởi hàng rào lớn, hắn nào có đi thăm bà con chòm xóm bao giờ. Nay về hưu mặt mũi nào đi thăm họ, hắn đã lạc ra khỏi cái làng nhỏ của hắn rồi, lúc còn địa vị thì không ai dám nói đến hắn, giờ đây hắn cứ nghe người dân nói to nói nhỏ, nằm trên chiếc ghế gỗ lim mà như nằm trên gai nhọn. Hắn quanh quẩn với nỗi cô đơn gặm nhấm trái tim hắn từng ngày.

Cuộc sống của hắn giờ sao khó thở, hắn vội quay về thăm quê, cái làng quê nhỏ bé nơi hắn được cất tiếng khóc chào đời đã cho hắn những năm tháng tuổi thơ thật đẹp. Cái chốn quê mà hình như bấy lâu nay hắn cũng quên bẵng đi. Về đứng ở bến đò bên lũy tre xanh, bao nhiêu ký ức lại tràn về, mắt hắn nhòe đi và hắn tự trách mình, sao mình không về thăm nhiều hơn, quan tâm đến quê hương làng mạc. Bà con qua đò cùng hắn chẳng ai thèm chào hắn một tiếng, hắn lại tự hỏi: Hồi đó về hắn đã làm gì sai? Hay tại mỗi lần về gấp mình không đi hỏi thăm từng nhà nên họ giận? Ừ chắc là vậy rồi, hồi đó mỗi lần về quê toàn đi ô tô và phái đoàn này phái đoàn kia tiếp, mình đâu có thời gian đâu mà thăm được ?

Bước vào căn nhà của ba mẹ hắn, căn nhà cấp bốn vẫn như xưa, căn nhà mà đã bao lần hắn xúi ba mẹ đập đi để xây lên đó căn nhà xây gạch ốp đá nhưng ba mẹ hắn đâu có chịu. Ba mẹ hắn nói đây là căn nhà của ông bà tổ tiên để lại, phải gìn giữ mãi muôn đời, trừ khi nó sập đi thì mới xây mới. Hắn cũng còn nhớ hôm đó hắn la mắng ba mẹ mình: “Sao ba mẹ có đầu óc cổ hủ, lạc hậu như vậy” ... ba hắn nghe xong đập bàn mà chửi: “Đồ thằng mất dạy, mày dám ăn nói với cha mày như vậy hả, mày cút ra khỏi nhà tau ngay, tau không có đứa con nào như mày hết”. Hắn rất xấu hổ với đám lính lác của hắn, liền quay ngoắt bước ra xe ô tô và đi ra khỏi làng. Lần đó hắn giận lắm, một vị quan huyện chứ nào phải nhỏ, chưa ai dám la mắng hắn một điều gì.

Ba hắn đang ngồi ở cái bàn chữ H, mẹ hắn đang loay hoay dưới bếp, lấy từng nắm rơm đưa vào bếp để thổi cơm chiều, khói bay khắp nhà, mắt mẹ nó già nhưng khói cũng làm nước mắt tràn ra, nhìn cái cảnh đó hắn xúc động và cố kìm tiếng nấc. Lần này hắn về làng không giống như những lần trước: xe ô tô, các quan khách cùng những bàn tiệc chào đón long trọng. Hắn đứng mãi ở sân chẳng hề nhúc nhích. Mẹ hắn bất chợt quay nhìn ra sân, bà vừa thấy hắn đã lao ra ôm chầm lấy hắn " Ôi con của mẹ đã về đây ư, ôi con trai của mẹ, thôi về đây với mẹ nhé con, đừng đi nữa, mẹ biết hết rồi “ ... Hắn tự nhiên bật khóc nức nở: Mẹ ơi con khổ quá mẹ ơi”, hắn khóc như chưa bao giờ được khóc, tức tưởi nghẹn ngào. Ba hắn nghe tiếng ồn vội bước ra sân, ông cụ đứng nhìn con quay về mà không nỡ đuổi đi. Ông nói vọng ra: “Mẹ mi đưa nó vô nhà đi mà chuẩn bị ăn cơm, mấy chú bác họ hàng sắp sang rồi đó”.

Ba hắn rót cho hắn một ly nước chè xanh, nó cầm lên uống mà đắng ở đầu môi, cái thứ nước của vùng quê nước ngọt pha nước mặn, tạo ra vị lờ lợ. Hắn lại nhớ lần trước hắn đã nhổ toẹt ra sân và la toáng lên: “Lính đâu chạy đi mua cho tao mấy thùng nước suối, nước này uống làm sao mà nuốt”. Uống xong ly nước hắn vừa khóc vừa kể: Ba mẹ ơi, đời con khổ quá. Khi còn chức thì còn quyền, về hưu rồi ai ai cũng ghét, thậm chí ngay cả con rể con dâu chúng cũng bán đứng con... Ước gì ngày đó con nghe lời ba mẹ, không đi kinh tế mới ở miền Nam làm gì, chỉ ở bên gia đình có ba có mẹ, có người thân họ hàng.

Chiều buông, những người bà con sang nhà hắn ăn cơm, một bữa cơm nho nhỏ để chào đón hắn. Bữa tiệc đã về đêm, có đôi ba chén rượu, mấy chú bác bắt đầu nói chuyện: Công Đắc à, những ngày đầu con làm quan, ai ai cũng vui mừng, tự hào vì có người nhà làm chức to chức lớn. Nhưng con ngồi cao quá, chẳng thấy gia đình hay người thân, bà con vào Nam và tiện ghé nhà thăm, con chẳng thèm tiếp, thậm chí còn xua đuổi, mắng nhiếc coi khinh. Bà con của mình họ buồn lắm, ba mẹ con cũng nào có ăn ngon ngủ yên, khi hết người này đến người kia chửi rủa con mình. Nhưng làm sao mà bỏ được con à, con người chứ nào phải vị thánh đâu, phải có sai có đúng. Chắc giờ con đã biết ăn năn hối lỗi rồi, thôi đánh kẻ chạy đi chứ ai đánh người chạy lại... 

Sáng sớm, hắn đang đánh răng rửa mặt ngoài giếng, thì một đám bạn thân thời chăn trâu tắm sông kéo đến, đứa thì chai rượu, đứa thì con vịt ... tụi bạn hắn vừa đến trước ngõ đã la toáng lên: Thằng Đắc Công hay đồng cắc đâu rồi, tụi tau nghe mi về nên kéo nhau sang làm mồi nhậu đây, mà có phải mi là thằng Đắc Công của tụi tau không? Hắn đứng trân người ra, thằng Lợi béo chạy đến ôm chầm lấy hắn, mi nhớ tau không hè “ngày xưa vì hai thằng cùng cua con Thắm mà đánh nhau ngoài bãi chăn trâu đó”.

Rồi thằng Thịnh làng tay cầm chai rượu tới và nói: “Đây là rượu của trai làng ta khoái nè, tau biết mi thích nhất loại ni”Hắn lại khóc, sao mấy lần trước về chẳng có ai sang thăm hắn, nhưng giờ đây hắn có còn là gì đâu, sao bạn bè lại tìm đến đông như vậy ?

Thằng Trường coi bộ hiểu ra và nói với hắn: Tụi tau luôn nhớ mi Đắc tồ à, nhưng những lần trước mi không phải là thằng Đắc tồ bạn của tụi tau, mà mi là một ông sếp bự, tụi tau gọi mi Đắc tồ chỉ có chết chắc, xúc phạm cán bộ đâu có được, ha ha. Nói xong Trường cười ha hả và vỗ đánh tét một cái vào vai hắn: Thôi quên hết đi, tui tau luôn ở bên mi mà.

Sài Gòn 150/06/213
Đinh Thanh Hải
READ MORE - HẮN THÔI LÀM QUAN - Truyện ngắn Đinh Thanh Hải

Nhân Ngày Lễ Cha Chủ nhật 16 tháng 6: NGÀY LỄ CHA: NHỮNG VÌ SAO - Nguyễn Đức Tùng


Nguyễn Đức Tùng

Một giờ sáng, bác sĩ nội trú  gọi điện thoại báo tin bệnh nhân D. yếu dần, chắc không qua khỏi, hỏi tôi có đến không. Tôi có  thể đợi đến sáng mới vào nhưng lần này tôi vội đi ngay. Dãy lầu dành riêng cho bệnh nhân già yếu im vắng, tôi vẫn đến thăm ông vài ngày một lần. Tôi nhớ lại tiểu sử: 87 tuổi, gốc châu Âu, góa vợ, thiếu máu động mạch tim, sick sinus, rung nhĩ, máy tạo nhịp, ung thư tiêu hóa. Hồ sơ bệnh nhân có chữ no code, đó là một người bệnh không muốn cấp cứu giai đoạn cuối, muốn ra đi yên bình. Khi tôi đến thăm, bao giờ đầu giường cũng thấy hai bức ảnh của hai chàng trung niên, một người mang kính, nghiêm nghị, một người trán hói tươi cười, cả hai đều đẹp trai. Đó là hai người con của ông đang ở Hoa Kỳ. Mặc dù kín đáo, khi được hỏi, mặt ông tươi lên và kể chi tiết về các con. Cả hai đều là những nhà thiên văn học, say mê các vì sao từ khi còn học trung học ở Canada, nay đều đã có vợ con, và rất nổi tiếng. Ông kể cả hai có công phát hiện những tinh tú mới và tên của họ được đặt tên cho hai vì sao. Thỉnh thoảng vài năm các con và cháu cũng bay về thăm ông, và thỉnh thoảng gọi điện thoại. Ba năm gần đây họ không về nữa, điện thoại thưa dần, vì công việc bận rộn. Như thế cũng vô tình nhưng không tệ lắm so với nhiều gia đình khác, tôi thầm nghĩ.

Khi tôi đến, ông nằm im trên giường, màn hình monitor nhấp nháy các chỉ số mạch hô hấp huyết áp dưỡng khí. Tôi ngồi xuống. Ông nhắm mắt, thở nặng nhọc. Tôi bắt mạch, giữ tay ông trong tay mình một lúc rồi đứng lên. Khi tôi bước đi, có tiếng gọi khẽ, tôi quay lại, thấy ông mở mắt, bắt gặp tia nhìn sáng lên, tinh anh khác thường. Mấp máy môi. Tôi tiến lại gần, cúi xuống. Bỗng nghe ông nói tiếng nhỏ nhưng rõ ràng: con trai của ba?

Tôi giật mình. Ông hỏi lại lần nữa, nhỏ như nói thầm, nhưng từng tiếng: con trai của ba? Họng tôi nghẹn lại. Tôi ngồi hẳn xuống giường, cầm tay, cúi mặt xuống, trả lời: dạ, con trai của ba đã về. Ông lắng nghe, không phản ứng gì. Tôi nhắc lại. Rồi lần thứ ba. Lần này ông nghe được, khẽ gật đầu ra dấu, mặt thoáng nụ cười mỏng, rồi nhắm mắt lại. Ngọn đèn tàn bấc đã cháy bừng lên một lúc.

Tôi gọi nhiều lần nữa, có lúc ông mở mắt, nhưng tia nhìn đã hết tinh anh, rồi mờ dần. Bốn giờ sau, ông mất. Khi tôi được gọi trở lại để làm các thủ tục như tìm phản xạ đồng tử, và làm pronouncement, đã năm giờ sáng. Tôi điện thoại cho gia đình, không liên lạc được. Tôi chậm chạp vuốt mắt cho ông lần cuối, như thói quen của tôi những khi có thể.

Sau khi đã chết rồi, người ta vẫn còn tổn thương. Những việc làm như báo tin, vuốt mắt, khai tử, cầu nguyện, tang lễ, không phải chỉ là các thủ tục. Đối với tôi, đó là các nghi lễ. Nghi lễ mở đường cho sự chữa lành vết thương, làm chúng hồi phục.

Đi theo sau chiếc giường phủ drap trắng của ông một đoạn, rồi rẽ lối khác tới khu vực đậu xe, tôi bước thong thả dọc hành lang treo những ngọn đèn vàng đục nhỏ, trong không khí xanh, loãng, tối, lạnh, mơ hồ, trên bầu trời sắp sáng lác đác vài ngôi sao tít tắp, nghĩ đến bài thơ mới đọc. Có một niềm day dứt và nỗi nhớ thương vô hạn trong bài thơ ấy.

Tôi dừng bên cửa sổ, nhìn lên cao kỹ hơn, không, trên trời đêm nay không phải có vài vì sao, mà chỉ có hai vì sao thôi, nhấp nháy, gần nhau. Tôi nghĩ đến những người ở xa giờ này chưa biết tin, nhưng chắc họ đang có linh cảm nào đó, và nếu đang ngủ thì giấc ngủ bồn chồn. Tôi nghĩ đến ngày cha tôi mất, khi tôi vừa rời xa đất nước, không ở bên cạnh. Ông ở trong vòng tay của mẹ tôi, các chị tôi, em gái tôi. Nhưng đứa con trai thì ở xa. Ngày ấy, nhiều người như tôi ra đi không kịp nghĩ đến dịp trở về. Trên thế gian này, bao nhiêu người may mắn được ngồi bên cạnh giường của cha hay mẹ mình phút cuối. Và bao nhiêu người khác nữa vào giây phút ấy lặn lội nơi xa, đang cầu nguyện hay cãi vã, đang săn đuổi hay bị săn đuổi, đang sai và nghĩ mình đúng, đang đúng và nghĩ mình sai, đang hạnh phúc hay buồn rầu. Tất cả những người ấy nên đọc bài thơ của Robert Hayden.

Những Chủ Nhật Mùa Đông

Cha tôi dậy sớm ngay cả ngày chủ nhật
Thay áo quần trong tối lạnh xanh mờ
Bàn tay cha nứt nẻ vì công việc
Nhóm lửa lò cháy rực. Nhưng chẳng ai

Từng biết cám ơn. Tôi thức giấc, than hồng
Lách tách, bếp ấm dần, cha mới gọi tôi
Dậy mặc áo quần, nhưng tôi ngần ngại
Căn nhà  xiêu cột kèo kêu giận dữ

Tôi cũng chuyện trò ấm ớ với cha tôi
Ông dậy sớm không phải vì tôi sao?
Và  đánh bóng những đôi giày, cũng thế
Nhưng tôi có để ý gì đâu? Nào biết gì  đâu?
Mưa nắng dãi dầu, tình yêu khổ hạnh


Those Winter Sundays

Sundays too my father got up early
and put his clothes on in the blueblack cold,
then with cracked hands that ached
from labor in the weekday weather made
banked fires blaze. No one ever thanked him.

I’d wake and hear the cold splintering, breaking.
When the rooms were warm, he’d call,
and slowly I would rise and dress,
fearing the chronic angers of that house,

Speaking indifferently to him,
who had driven out the cold
and polished my good shoes as well.
What did I know, what did I know
of love’s austere and lonely offices?

Đang mê mải đi trên đường, đôi khi bạn nghe tiếng gọi từ phía sau. Bạn quay lại: không có ai cả. Tiếc thương không phải là cảm xúc u buồn trầm uất, trái lại nó có thể làm tình yêu trở nên sâu thẳm vững bền. Tiếc thương là một hành động, là tấm gương chiếu rọi bất ngờ, thách thức, vỗ về, nối kết, làm đầy một tình yêu chưa trọn vẹn.

 (Trích Nhật Ký)
Nguyễn Đức Tùng

(Canada)
READ MORE - Nhân Ngày Lễ Cha Chủ nhật 16 tháng 6: NGÀY LỄ CHA: NHỮNG VÌ SAO - Nguyễn Đức Tùng

CẢM HOÀI - thơ xướng họa - Lê Thiên Minh Khoa và các thi hữu: Hoàng Châu Ngọc, Lão Nông, Nguyễn Huy Vụ, HẠ THÁI Trần Quốc Phiệt, Tâm Lãng, Võ Nhựt Ngộ, Huy Phương, Ngọc Tuyền, VÂN TRINH Phan Kỷ Sửu







CẢM HOÀI



Có phải đi rồi đi mãi đâu !

Người đi để lại những đêm thâu

Mòn khuya chỉ một mình em thức

Nhầu tóc còn bao nửa sợi sầu

Nhìn ngọn Chứa Chan chan chứa nhớ

Trông dòng Thương Bạc bạc thương đau

Chừ tang thương quá, thương thương lắm

Chưa thấy trùng dương đã trắng đầu!  


                           Lê Thiên Minh Khoa

                                              

Các bài họa từ 24 đến 32:



Họa 24:



CẢM HOÀI



Tâm sự xưa còn ở đẩu đâu

Ngàn trùng cách trở tháng năm thâu

Nhìn vầng trăng khuyết đầy lòng nhớ

Thấy cánh bướm bay nặng dạ sầu

Bến hẹn vô cùng cùng nỗi xót

Lối thề bất tận tận niềm đau

Thời gian có thể quay vòng lại

Ta sẽ gặp nhau những buổi đầu



                      Hoàng Châu Ngọc

                      (Hòa Bình)





 

Họa 25:



NHỚ DALAT



Đà Lạt trông vời  Đà Lạt đâu !

Thâu đêm đêm nhớ  nhớ canh thâu

Hoa đào mến phố, hoa đào thắm

Tiếng suối thương ai, tiếng suối sầu

Thung lũng mộng mơ  mơ mộng dệt

Đồi thông ân ái  ái ân đau ! ...

Người xa có thấu lòng xa xứ

Nhuộm mái tang thương  nhạt mái đầu !



                         LÃO NÔNG

                         (LĐ)







 Họa 26:



 ĐI TÌM



Tìm em nhưng chẳng biết là đâu

Lệ nến nhỏ hoài nhỏ suốt thâu.

Nguyệt khuất , đâu riêng mình nguyệt vắng

Vân du , nào chỉ mỗi vân sầu.

Bạc lòng vẫn sợ mai lòng bạc

Đau ruột còn e mốt ruột đau.

Luyến nhớ ngồi thương, muôn luyến nhớ

Đầu phơ tìm mãi chắc phơ đầu.



                          Nguyễn Huy Vụ







Họa 27:



KHÔNG ĐỀ

(Bát cú vận họa)



Chưa gởi bài đi, hỏi họa đâu?

Có người trằn trọc suốt canh thâu

Dưới đèn nặn chữ dong dài... thức

Bên kệ tầm chương mệt mỏi... sầu

Viết một vần thơ trăm nỗi nhớ!

Đọc dăm cuốn sách vạn niềm đau!

Bao nhiêu chưa phải nhiều cho lắm

Chữ nghĩa theo ta đến bạc đầu!



                        HẠ THÁI Trần Quốc Phiệt

                        (Cali, USA)







Họa 28:



DẤU HỎI



Ngược dòng lịch sử lối về đâu?

Biết hỏi ai giờ  đêm trắng thâu?

Chén đắng đầy vơi còn đọng hận?

Đàn vang réo rắt có vương sầu?

Nam Quan cửa ải ai từng khóc?

Bắc Bộ biên thùy đất biết đau?

Gởi nỗi băn khoăn, chia sẻ với

Trả lời, ai đó? Thưởng công đầu!



                             Tâm Lãng



 

Họa 29:



CẢM HOÀI  



Đi mãi rồi ta sẽ đến đâu !

Để người mong đợi suốt canh thâu

Nửa khuya trằn trọc sôi niềm nhớ

Suốt tối nôn nao đếm giọt sầu

Xót kẻ ra đi ngoài dặm liễu

Thương người mãi đợi giữa hồn đau

Đông đoài mấy bận trăng tròn khuyết

Chỉ nhớ thương thôi cũng bạc đầu!



                          Võ Nhựt Ngộ

                          25/05/2013

                                     



Họa 30:



QUANH QUẨN

        

Đang ngồi. Đứng dậy. Biết đi đâu?

Quanh quẩn vào ra ngày tháng thâu

Nhớ bạn phương trời vò võ ngóng

Thương mình một xó mỏi mòn sầu!

Nọ hồ Than Thở than cùng thở

Kia núi Vọng Phu vọng nỗi đau!

Thế sự dở cười hay dở khóc?

Xô bờ, con sóng bạc phơ  đầu!



                            Huy Phương 
                           







 Họa 31:



 CẢM CHIỀU

 

 Mé tây bãng lãng ngả về đâu

 Nắng rớt hoàng hôn gió tóm thâu

 Dịu vợi mây trôi nhìn lá khó

 Mênh mang én liệng ngóng trời sầu

 Dòng xuôi khúc hát thêm niềm nhớ

 Nước ngược câu hò đượm nỗi đau

 Khúc khuỷ đường đê chân bước vội

 Chiều  nghiêng khói bếp tỏa trên đầu



                             Ngọc Tuyền









Họa 32:



HOÀI CẢM



Đường đời vạn lối biết tìm đâu?

Cánh nhạc kêu sương bạt gió thâu

Trong đục duyên tình  bao hạ úa

Rủi may số phận mấy thu sầu

Mơ dòng Vàm Cỏ khơi nhung nhớ,

Ngóng bóng Bà Đen chạm vết đau !

Biền biệt dáng hình ai biết nhỉ,

Bao giờ gặp lại thuở ban đầu!?



                  VÂN TRINH Phan K Sửu

                              (Tây Ninh )
READ MORE - CẢM HOÀI - thơ xướng họa - Lê Thiên Minh Khoa và các thi hữu: Hoàng Châu Ngọc, Lão Nông, Nguyễn Huy Vụ, HẠ THÁI Trần Quốc Phiệt, Tâm Lãng, Võ Nhựt Ngộ, Huy Phương, Ngọc Tuyền, VÂN TRINH Phan Kỷ Sửu