Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Lê Thiên Minh Khoa. Show all posts
Showing posts with label Lê Thiên Minh Khoa. Show all posts

Thursday, August 19, 2021

VỊNH THI NHÂN - Thơ Châu Thạch

 
 


I- ĐẶNG XUÂN XUYẾN
 
Vần gieo như ánh sao sa
Cháy như thiên thạch bay qua vòm trời
Trải qua bất đắc cuộc đời
Tiếng thơ thành tiếng thành lời gió mưa.
Tái sinh tình tự xa xưa
Hiện dòng bút mới cho vừa tuyệt thi
Ghét cay bọn gối chân quỳ
Thù cay ác bá ngồi lỳ ghế cao 
Trăm chung rượu với má đào
Ngàn chung rượu với anh hào thời nay
Ý thơ càng thấm càng say
Tứ thơ lộng gió lung lay trăng vàng
Nỗi sầu non nước miên man
Luyến lưu vạn chuyến đò ngang giữa đời
Ngón tay ngồi tính vận Trời
Ngắm sao mà nói nhừng lời tuyết sương!

Châu Thạch
                           
 



II- LÊ THIÊN MINH KHOA
 
Mái tóc bồng bềnh mây xoắn
Quặn nghìn vạn sợi suy tư
Mắt buồn sau đôi kính trắng
Nhìn đời sương khói thật, hư 
 
Trán như khung chiều mặt biển
Nhọn cằm đỉnh núi đầy sương
Tâm hồn lộ ra hiển hiện
Thi tài trên khuôn mặt xương 
 
Người từ trăm năm với rượu
Thơ từ trăng xuống đầy chung
Văn từ ngàn be lóng lánh
Tình thi đẹp đến vô cùng! 
 
Túy lúy men đời men nhạc
Ngã nghiêng lối mộng tìm em
Hồn bay theo đường trăng tỏa. 
Nhà thơ Lê Thiên Minh Khoa.
 
Châu Thạch
 



III- TRẦN THOẠI NGUYÊN 
 
Tóc bay lộng gió bụi đời
Thuốc cầm tay lửa sao ngời mộng mơ
Mắt màu cô đọng ngàn thơ
Môi cười bát nhã tấp bờ Tây Phương
 
Người đang ở cõi vô thường
Thấy hình, thấy tịnh trong vườn Sa La
Thấy mây trắng ở trời xa
Thấy linh về ngự thiết tha trong hồn
Bỗng trong vạn sắc bồn chồn
Ngộ ra sa mạc ngựa bôn vó đời
Mắt nhìn vào cõi rong chơi
Ai như rằm nguyệt sáng ngời đường thơ 
Một đời tánh Phật tôn thờ
Tịnh thiền vào cõi mộng mơ chữ tình
Nghiệp còn vướng nợ ba sinh
Thuyền qua bờ giác chứa hình bóng em! 
 
 Châu Thạch
 
READ MORE - VỊNH THI NHÂN - Thơ Châu Thạch

Friday, July 9, 2021

HAI CÁI KHÙNG ĐẸP GẶP NHAU! - Tản mạn của Châu Thạch


Lê Thiên Minh Khoa và To Doan
 

Thơ là gì nhỉ? Có rất nhiều định nghĩa về thơ nhưng chưa có ai định nghĩa thật đúng về thơ. Châu Thạch cũng học đòi định nghĩa thơ theo ý riêng của mình. Thơ đối với tôi là cái đẹp. Những bài viết ra có vần có điệu thực chất nó không phải là thơ, nó chỉ diễn tả cái đẹp và chính cái đẹp mà nó diễn tả mới là thơ.  Như vậy thơ là bông hoa, là cánh bướm, là bầu trời, là tâm hồn con người, là tất cả cái gì trên thế gian nầy làm cho con người cảm động và khen ngợi, kể cả thứ tầm thường, nhỏ nhất như tấm ảnh của một ai kía, được chụp trong một cơ duyên nào đó.

Sáng hôm nay tôi đã thưởng thức thơ như vậy trong một tấm ảnh chụp hai người bạn tôi. Một người là nhà thơ đã có danh: Lê Thiên Minh Khoa. Người kia chưa phải nhà thơ và chưa có danh gì giữa cuộc đời: một phụ nữ có tên facebook To Doan. Họ chụp chung một tấm hình ngồi trên ghế đá ở một công viên nào đó tại thành phố Vũng Tàu. Nhìn hình tôi nghĩ, họ là hai bài thơ ngồi với nhau tạo nên một bài thơ khác. Bài thơ khác là tấm hình thật đẹp, đã khơi động thơ trong tâm hồn tôi cảm xúc. 
 
Lê Thiên Minh Khoa và To Doan


Tôi dùng cụm từ “Hai cái khùng” để nói về hai người ấy không biết có làm họ nổi giận không. Có lẽ tôi thêm chữ “đẹp” phía sau sẽ làm cho họ không nổi nóng được. Nhà thơ Bùi Giáng được đời gọi là điên. Chính cái điên của ông đã được đời tôn vinh ca tụng, biến ông thành thần tượng thi nhân. Vậy khùng có chi mà phải bất bình, vì khùng nhẹ hơn điên, vì khùng đây là khùng đẹp thì cũng là thơ, thì cũng được đời yêu mến. Những cặp tình nhân họ cũng thường gọi nhau là khùng đó vậy!  
 

Lê Thiên Minh Khoa 


Bây giờ nói về khùng của Lê Thiên Minh Khoa:
 
Trước đây Châu Thạch có viết bài “Thơ Ngắn Lạ Đời Của Lê Thiên Minh Khoa” đăng trên nhiều trang web. Trong bài viết đó tôi có viết về Khoa như sau: “Với tôi, Lê thiên Minh Khoa là nhà thơ lạ đời. Khoa lạ đời ở chổ có mái tóc bồng bềnh trên khuôn mặt toàn xương mà nhìn vào thấy ngay mình rất dễ làm thân, lại có giọng nói ngập ngừng… mà nghe thấy hay như những bài thơ”.  Bình bài thơ “Lên Cơn” của Lê Thiên Minh Khoa tôi đã viết: “Đọc bài thơ ta thấy chất nghệ sĩ khùng khùng thật đáng yêu, và trong ta biết bao xao xuyến trong lòng  khi liên tưởng cuốn phim quay cảnh đi, về của anh người rừng làm thi sĩ đang yêu”. Bài thơ ấy như sau:
                    
Từ trong góc núi lên cơn                     
Về góc phố hỏi em còn đó chăng                    
Ngó lên ngó xuống ngó quanh                      
Uống ly đen nóng lại băng về rừng                      
Hôm sau thèm được lên cơn                      
Về góc phố hỏi còn không cô nàng…
 
 Vậy ai muốn biết kỷ hơn cái khùng của Khoa thì tìm bài viết nói trên mà đọc.
Bây giờ xin bàn thêm về Khoa một chút:
Lê Thiên Minh Khoa bộc bạch cái khùng của mình:                   
 
Ta giờ nửa phật nửa ma                  
Đành xin hẹn để ta bà với em                   
Ru rồi, ru nữa, ru thêm                   
Ru thênh thang tóc ê hèm trắng phau                         
(Đùa với nhà thơ Quảng Trị)
 
Nửa Phật nửa ma thì đã nghi là khùng rồi, lại hẹn em ở cõi ta bà để ru nhiều như thế thì không khùng mới lạ, có thể là gọi là điên như Bùi Giáng nữa kia.                                    
 
Đi dọc rồi lại đi ngang                     
Đi lên đi xuống đi làng nhàng chơi                     
Bỗng người lạ mặt quàng vai                     
Thì ra tôi gặp thằng tôi ấy mà?                            
(ĐI…)
 
Không khùng nặng thì đi lang thang làm gì nhiều thế? Không khùng nặng mà lại thấy ảo tưởng mình ôm vai mình à?    
                
Ta ra giữa phố la làng                     
 
Từ trên hoang phế lạc đàng xuống đây…                      
Đi từ cõi giữa bao vây                       
Trở về như thể ngây ngây tà tà…
 
Thế thì hết chối rồi nhé! La làng giữa phố, ngây ngây tà tà chính là khùng chính hiệu. 
 

To Doan


Bây giờ nói về khùng của To Doan:
 
Trước đây tôi có viết bài “Đọc Truyện Đời Tôi của Nguyễn Thị Ngọc Diệp”. Nguyễn Thị Ngọc Diệp là tên thật của To Doan. Trong bài viết ấy có một đoạn như sau: “Bằng những lời văn không chuyên, lối văn chấm, phết, sắp xép câu từ không đúng cú pháp nhưng vẫn trôi chảy, mạch lạc, tác giả đã cuống hút người đọc say mê theo dõi câu chuyện, gây cảm xúc cho nhiều người phải rơi lệ. Nếu không nói quá thì một cách vô thức, Nguyễn Thị Ngọc Diệp đã tạo ra một phong cách viết độc đáo mà các nhà văn chuyên nghiệp cũng khó mà làm được như thế.”
 
Hồi ký “Chuyện Đời Tôi”của Nguyễn Thị Ngọc Diệp đã làm rơi nước mắt của không biết bao nhiêu bạn facebook. Ai đọc chắc cũng thấy cái khùng của một con bé rất nghèo, 1o tuổi còn ở truồng, với những trò chơi nghịch ngợm cùng chàng trai yêu bé đơn phương. Lớn lên cô bé ấy cũmg khùng nên mới không biết một chữ a,b tiếng Việt mà học được rành tiếng nước Đức, rồi trở thành một y tá đa tài của ngành y khoa nước họ. Thế nhưng cái khùng của Nguyễn Thị Ngọc Diệp là cái khùng của một tâm hồn vô tư chất phác, của bản năng vươn lên để sinh tồn. Nghịch cảnh của cuộc đời xảy ra cho một tâm hồn chơn chất đã tạo nên cái khùng đáng yêu và cao thượng. Vậy ai muốn biết cái khùng của cô bé nhà quê ấy nó đẹp ra sao xin mời vào dòng thời gian facebook có tên To Doan mà đọc.
 
To Doan tìm đến những người bạn như Lê Thiên Minh Khoa để những ngọn đèn sáng khác màu làm lung linh cuộc sống! Thế nhưng, tuy khác nhau về mọi mặt, chẳng phải To Doan không có gì giống Lê Thiên Minh Khoa. Họ ở xa ngàn dặm mà tìm đến nhau thì không tri kỷ cũng là tri âm. Nếu họ không có cái khùng tương ứng thì họ không gặp nhau rồi. Hãy đọc một vài câu cảm tác của To Doan, một phụ nữ chưa biết làm thơ. Đây chỉ là những cảm tác mà tác giả nói ra bất ngờ, chỉ để gởi đến bạn bè trên trang facebook:      
 
Khi đứng bên vách đá:                                                             
Chỉ cần gần đá                              
Đã thấy cứng như đá.                              
Hãy tin vào chính mình.                              
Không tin lời lẽ ngọt ngào.
 
Nhờ đá mới tin vào mình phải chăng là cái khùng ý vị?
 
Nơi thâm sơn cùng cốc:   
                                          
Rất hạnh phúc nơi này.                                             
Nơi mà em đã tìm kiếm bấy lâu nay...                                            
Danh lam thắng cảnh là đây...                                             
Chỉ một mái tôn và vách ván                                               
Lổ đổ mục theo thời gian.
 
Cái khùng vì trốn phồn hoa để tìm kiếm mình nơi rừng rú.
 
Ca hát viễn vông:                             
 
Cô gái quê lê thê đếm bước.                           
Cô gái quê tha thiết mộng ban đầu.                            
Cô gái quê ngỡ ngàng khi vỡ mộng.                            
Cô gái quê trân trọng câu duyên thề.                            
Và từ đó cô gái quê chỉ muốn về quê.                             
Quên câu thề, quên người đã hứa.                             
Quên phổ phường quên hết giàu sang.                             
Mang tâm hồn quê mùa chất phác                             
Về quê ta hát ta hò đồng xanh gốc rạ con cò bay bay.
 
Hãy tưởng tượng một cô gái áo quần bạc thếch, tay cầm một nhánh cây vừa đi vừa hát, sẽ thấy ngay một hình ảnh khùng hiện ra trước mắt.
 
 Ở Guten Morgen:                                        
 
Bình minh quê em...                                       
Một sáng mùa thu..                                       
Không có sương mù                                       
Không có anh bên em..
 
Bài nầy có khùng không? Chưa biết làm thơ mà ghép vần một bài tứ tuyệt hay đến thế thì chắc chỉ khi khùng lên mới nói được.
 
Và đây là khùng thật sự, đem mình so với bò:                                                                               
Bò quê có vợ có chồng.                                       
Em đây còn mãi độc thân quớ trời.                                        
Bởi anh lỗi hẹn đó thôi...                                      
Hay em xấu xí nên anh không thèm...
 
Người viết bài nầy chỉ cảm xúc tấm ảnh bạn mình chụp với nhau mà nói lan man dài dòng. Tất nhiên hai người họ không khùng, vì nếu họ khùng thì tôi mới chính là người khùng trước, bởi có khùng mới đi tôn vinh người khùng thế ấy. Gọi họ là khùng vì tính chất của họ đẹp hơn người thường. Thật ra, tôi yêu mến họ vì thật sự họ là hai tâm hồn nghệ sĩ. Thơ văn của họ hay, hay dở thì tùy theo nhận xét của mỗi người, nhưng tánh lãng mạn, nghệ sĩ trong nếp sống của họ thì không chê trách được, như một bài thơ hay để đời thưởng thức.
 
Cuối cùng tôi thành thật xin lỗi những ai không đồng tình với bài viết của tôi. Đời không có cái gì như ý cho tất cả mọi người.
                                      
Châu Thạch

READ MORE - HAI CÁI KHÙNG ĐẸP GẶP NHAU! - Tản mạn của Châu Thạch

Thursday, May 28, 2020

ĐỌC “CHÂN DUNG TỰ HOẠ 34” CỦA LÊ THIÊN MINH KHOA - Châu Thạch


      C:\Users\TTC\Pictures\IMG_0103-1.jpg
              Nhà thơ Lê Thiên Minh Khoa



VÀ EM…

Và em.
Và tôi.
Và thơ.
Và lung linh rượu.
Và chờ đêm qua

Và Không.
Và Phật.
Và Ma.
Hội nhau trong cõi ta - bà
Rong chơi

Và em.
Và tôi.
Và ai.
Và trăm năm
Vẫn nhớ hoài ngàn năm

Và ngàn năm
Nhớ xa xăm
Và xa xăm nhớ lầm
Than kiếp người!…

Nhà sáng tác Đà Lạt - 8.2006
Lê Thiên Minh Khoa



        
                    Nhà bình thơ Châu Thạch



ĐỌC “CHÂN DUNG TỰ HOẠ 34” CỦA LÊ THIÊN MINH KHOA
                                                                      Châu Thạch

Có lần tôi đã viết một bài cảm nhận về “Thơ Ngắn Lạ Đời Lê Thiên Minh Khoa”. Ngoài những bài thơ ngắn lạ đời đó, nhà thơ Lê Thiên Minh khoa còn có nhiều bài thơ “Chân Dung Tự Họa” cũng rất lạ đời. Hôm nay tôi xin bàn đến một trong những bài thơ ấy. Đó là bài “Và Em...”

“Và Em…” là một bài thơ mà Lê Thiên Minh khoa không tự họa chân dung của khuôn mặt mình. Nhà thơ tự họa chân dung của tâm hồn mình. Đọc “Và Em…”, ai mến Khoa thì gọi nó là thơ, ai ghét khoa thì gọi nó không là thơ cũng được. Bởi vì “Và Em …” như lời vu vơ của một tên khùng. Ngược lại “Và Em…” cũng như lời cao vời của một thi nhân:

Và em.
Và tôi.
Và thơ.
Và lung linh rượu.
Và chờ đêm qua

Em, tôi, thơ và rượu được hòa điệu trong nhau là những thời khắc hạnh phúc tuyệt vời. Chữ “Và” cho ta cảm nhận sự hội ngộ của 4 nhân vật đem đến niềm vui trác tuyệt. Em là một nhân vật, tôi là một nhân vật, thơ và rượu ở đây cũng được nhân cách hóa thành hai nhân vật để đáng ra, cuộc vui tồn tại thâu đêm.

Thế nhưng lạ thay, nhà thơ xuống một câu thơ nghịch lý vô cùng: “Và chờ qua đêm”.

Chờ ai qua đêm và vì sao phải chờ qua đêm?
Đọc câu thơ nầy tôi bỏ bài thơ xuống. Không hiểu! Ngày hôm sau đọc lại câu thơ nầy, tôi lại bỏ bài thơ xuống. Không hiểu! Rồi bỗng một lúc nào đó, sáng tỏ bừng lên trong đầu tôi khi đọc tiếp khổ thơ thứ hai của Lê Thiên Minh Khoa:

Và Không.
Và Phật.
Và Ma.
Hội nhau trong cõi ta - bà
Rong chơi

Hóa ra “Và em, và tôi, và thơ” chỉ là chữ “Sắc” trong đạo Phật. “Sắc tức thị không, không tức thị sắc”, chữ “Sắc” nầy biến thành chữ “Không” ngay trong tâm hồn vô thường của nhà thơ: “Và không”

Hình như trong khổ thơ thứ nhất chỉ có rượu là thật, còn tất cả chỉ là ảo ảnh, ảo ảnh ấy diển biến trong tâm trí nhà thơ mà thôi. Nhà thơ đang cô đơn giữa cuộc đời, đang bơ vơ lạc lõng trong hố thẳm trí tuệ, đang mất định hướng về đời, về thơ, về tình và về chính bản thân mình.

Đi với linh hồn Lê Thiên Minh Khoa lúc ấy, ở trong đầu Lê Thiên Minh Khoa lúc ấy, không những chỉ có bóng em, bóng thơ mà còn có bóng ma và bóng Phật. Tất cả các bóng đó chập chọa, ẩn rồi hiện, có mà không, không mà có. Những hình bóng đó cùng Lê Thiên Minh Khoa “Hội nhau trong cõi ta-bà/ Rong chơi”. Đúng ra, tất cả những bóng ấy ám ảnh trong tâm hồn nhà thơ, đích thị là chân dung của “tâm hồn Lê Thiên Minh Khoa” đã tự họa cho mình. Một tâm hồn đang khắc khỏi với những nan đề của tình yêu và của tâm linh khó giải trong cuộc sống.

Đọc hai khổ thơ trên ta thấy nhà thơ Lê Thiên Minh Khoa không rong chơi bình an bao giờ. Tác giả mang nặng trong tâm tư mình sự dằn vặt, thắc mắc, chạy đi tìm kiếm nhiều sự thật còn mập mở. Nhà thơ đang đuổi theo những bóng chân lý về đời, về tình, về thơ, về đạo và về cái “tôi” của chính nhà thơ. Có lẽ nhà thơ chỉ có thể rong chơi được trong rượu để “chờ qua đêm”. Chờ qua đêm để trông mong hội ngộ cái chân lý mình tìm kiếm. Chân lý ấy như bóng ma, chỉ chập chờn trong tư duy mà chẳng bao giờ lộ diện nguyên hình để nhà thơ bắt được nó trong trí óc của mình. Bởi thế nhà thơ “Chờ qua đêm” và sẽ còn “Chờ qua đêm” mãi mãi…

Và khi hoài nghi trong đầu lên đến độ cao, thật và ảo làm mờ đôi mắt tuệ, nhà Lê Thiên Minh Khoa không đi tìm cứu cánh trong đạo, trong thiền để định được tâm linh mình. Nhà thơ đi tìm cứu cánh trong thơ và rượu thì dễ lắm tinh thần tẩu hỏa, cái nhìn trở nên bấn loạn:

Và em.
Và tôi.
Và ai.
Và trăm năm
Vẫn nhớ hoài ngàn năm

Bây giờ Lê Thiên Minh Khoa không biết em, không biết tôi, không biết cả thời gian dài hay ngắn. Khổ thơ cho ta thấy sự nghi ngờ, sự lẩn lộn xảy ra trong tâm hồn tác giả. Mọi sự nhà thơ dồn vào trong một chữ “Và”. Chữ “Và” đó chứa em, chứa tôi, chứa ai nữa không biết, chứa nỗi nhớ gì không biết, chỉ biết là nhớ 100 năm cho đến 1000 năm còn nhớ.

Sau phút loạn thị đôi mắt của tuệ, những tưởng nhà thơ tẩu hỏa vi căn thẳng tư duy trong rượu. Nhưng không, Lê Thiên Minh Khoa còn tỉnh táo để cho ta biết nỗi nhớ trăm năm, ngàn năm, hay chính ra, là nỗi nhớ trải qua bao kiếp người. Bao kiếp người ấy nhà thơ đã nhận chịu những nỗi đau vật chất và tinh thần phi lý:

Và ngàn năm
Nhớ xa xăm
Và xa xăm nhớ lầm
Than kiếp người!…

Hóa ra cũng chỉ là nhớ nỗi đau của “Khổ Đế”, một chân lý trong bốn chân lý mà Đức phật tìm ra dưới gốc cây bồ đề. Đức Phật tìm ra nguyên nhân của sự khổ, Ngài ngộ được nhưng Lê Thiên Minh Khoa không ngộ được. Nhà thơ có thấy chăng cái nguyên nhân đó, thì cũng như sự thấy của triệu triệu sinh linh trong cõi ta bà nầy, nghĩa là thấy mập mờ hình bóng mà thôi, thấy như thấy vầng trăng Đức Phật chỉ, nhưng nó ở ngàn vạn xa không bao giờ đến được.

Là một thi nhân còn trong cõi tục lụy, mang nỗi đau của kiếp nhân sinh, con tim nhạy cảm, rung động trước hoan lạc và trước nỗi buồn, tìềm tàng trong linh hồn mập mờ hình ảnh những nhánh sông đời trong tiền kiếp, nhà thơ Lê Thiên Minh Khoa bật lên trong thơ tiếng kêu của mình, như tiếng con nai vàng lạc trong rừng rậm. Nhà thơ tự họa bằng thơ chân dung của linh hồn mình, như một con thuyền bơ vơ trôi giữa hư và thực, kể cả ngọn hải đăng của đời, của Thiên Đường hay của địa ngục cũng không có. Em và tôi và ma và Phật, và trăm năm đều nằm trong ly rượu. đó là thứ đạo chân lý mà Lê Thiên Minh Khoa làm giáo chủ, để vơi đi nỗi nhớ xa xăm, để quên đi những bài toán khó của cuộc đời không giải được như thần linh, như ma quỷ ám ảnh nhà thơ mãi mãi.

                                                                      Châu Thạch

READ MORE - ĐỌC “CHÂN DUNG TỰ HOẠ 34” CỦA LÊ THIÊN MINH KHOA - Châu Thạch

Tuesday, November 19, 2019

LÊ THIÊN MINH KHOA ! - Thơ Châu Thạch



                Nhà thơ Lê Thiên Minh Khoa



LÊ THIÊN MINH KHOA!

Mái tóc bồng bềnh mây xoắn
Quặn nghìn vạn sợi suy tư
Mắt buồn sau đôi kính trắng
Nhìn đời sương khói thật, hư

Trán như khung chiều mặt biển
Nhọn cằm đỉnh núi đầy sương
Tâm hồn lộ ra hiển hiện
Thi tài trên khuôn mặt xương

Người từ trăm năm với rượu
Thơ từ trăng xuống đầy chung
Văn từ ngàn be lóng lánh
Tình thi đẹp đến vô cùng!

Túy lúy men đời men nhạc
Ngã nghiêng lối mộng tìm em
Hồn bay theo đường trăng tỏa
Nhà thơ Lê Thiên Minh Khoa!

                            Châu Thạch

READ MORE - LÊ THIÊN MINH KHOA ! - Thơ Châu Thạch

Monday, July 8, 2019

Đọc sách: “CHÍN THẬP KỶ CA KHÚC TÂN NHẠC VIỆT NAM” (*)_ TƯ LIỆU QUÝ CHO GIỚI NGHIÊN CỨU, GIẢNG DẠY VÀ YÊU THÍCH ÂM NHẠC - Tường Vi


"… ĐÂY LÀ MỘT CÔNG TRÌNH LỚN, CÓ TẦM BAO QUÁT VÀ KHÁ TOÀN DIỆN VỀ CA KHÚC TÂN NHẠC VIỆT NAM.
PHẦN TƯ LIỆU PHONG PHÚ.
PHẦN NHẬN ĐỊNH XÁC ĐÁNG.  
  PHẦN TRÌNH  BÀY KHÁ KHOA HỌC.
CÓ THỂ COI LÀ MỘT CÔNG TRÌNH ĐÁNG TIN CẬY CHO NHỮNG  NGƯỜI ĐI SAU NGHIÊN CỨU VỀ CA KHÚC TÂN NHẠC VIỆT NAM…".
(Nhạc sĩ, Nhà văn, Nhà nghiên cứu Bùi Công Thuấn)


Cầm trên tay cuốn sách “Chín thập kỷ ca khúc tân nhạc Việt Nam” (9 TK.CK.TN.VN) các nhà thơ - nhà báo - nhà nghiên cứu Lê Thiên Minh Khoa, hội viên Hội VH-NT tỉnh BR-VT, hội viên Hội Khoa học Lịch sử VN, hội viên Hội Tâm lý - Giáo dục học VN, tôi vừa ngạc nhiên, vừa thán phục tác giả. Không ngờ một nhà thơ và nghiên cứu văn học lại hoàn thành được một công trình đồ sộ, có tầm bao quát và toàn diện về cả một nền ca khúc tân nhạc Việt hình thành, phát triển suốt non một thế kỷ nay. Bài viết này bàn về cuốn sách theo ba khía cạnh: Phương cách trình  bày, tư liệu và nhận định, như cách nhận định của Nhạc sĩ - Nhà văn - Nhà nghiên cứu Bùi Công Thuấn.
  1. CÁCH TRÌNH  BÀY KHOA HỌC. 
Trước hết, xin nói về hệ thống các dòng nhạc, các phong trào ca nhạc, các giai đoạn - thời đoạn  của ca khúc tân nhạc Việt được tác giả trình bày rất khoa học đồng thời phân định, gọi tên theo cách riêng của mình, nên rất mới mẻ, sáng tạo, có nhiều phát hiện nhưng rất hợp lý và toàn diện đầy đủ để không bỏ sót các dòng nhạc và các nhạc sĩ, nhạc phẩm tiêu biểu trong 9 thập niên qua. Theo tác giả, vì ca khúc tân nhạc Việt phát triển rất nhanh, có lúc bột phát, nên không phân chia ca khúc tân nhạc Việt theo từng thời kỳ, như một số nhà nghiên cứu khác đã làm, mà phân định theo từng giai đoạn, thời đoạn – “ thời đoạn” là tên tác giả đặt cho một “giai đoạn nhỏ, ngắn” thuộc về một giai đoạn. Trong mỗi giai đoạn, tác giả phân định và bổ sung các dòng nhạc dựa vào các tiêu chí phù hợp với từng thời điểm. Theo đó, ca khúc tân nhạc Việt được phân thành 4 giai đoạn: 1930-1945 (tiền chiến), 1946-1954; 1954-1975 và 1975 - nay (đương đại). Riêng giai đoạn tân nhạc đương đại (1975 - nay) được chia thành 2 thời đoạn: hậu chiến (1975-1985), đương thời (1986 - nay) và một dòng nhạc Việt hải ngoại 1975 - nay. Chỉ xin điểm qua những cái mới mẻ, sáng tạo mà sát hợp trong việc phát hiện và định danh các dòng nhạc ở từng giai đoạn. 
Chẳng hạn, trong giai đoạn tiền chiến (1930-1945), người ta chỉ thường nói đến 2 dòng nhạc: nhạc lãng mạn tiền chiến và nhạc cách mạng tiền chiến. Ở đây, tác giả đưa thêm một khái niệm mới “nhạc hùng tiền chiến” với những minh chứng cụ thể về nhạc sĩ, ban (nhóm) nhạc, ca khúc tiêu biểu cũng như quá trình hình thành của dòng nhạc hùng này.
Trong giai đoạn ca khúc 1946-1954, thì ngoài dòng ca khúc cách mạng và kháng chiến (nhạc đỏ), tác giả đã hệ thống hóa các tư liệu ít được biết đến về ca khúc, nhạc sĩ để khái quát thành một dòng nhạc mà tác giả gọi tên là “nhạc trữ tình vùng đô thị 1946-1954”. 
Trong giai đoạn ca khúc 1954-1975,  trong khi ở miền Bắc và vùng giải phóng Miền Nam chỉ có một dòng nhạc cách mạng, thì do am hiểu về sự phong phú, đa dạng của nền âm nhạc Miền Nam thời chiến, nên tác giả đã hệ thống một cách toàn diện, khi phân chia âm nhạc miền Nam thuở ấy thành 6 dòng nhạc sau: 1. Nhạc vàng 1954-1975; 2. Tình khúc 1954-1973; 3. Nhạc trẻ 1960-1975; 4. Nhạc phản chiến 1966-1975; 5. Nhạc du ca 1966-1975; và 6. Nhạc tâm lý chiến Việt Nam Cộng hòa 1954-1975. Như đã thấy, sự phân định các dòng nhạc trên có kèm theo khoảng thời gian cụ thể, chính xác khi dòng nhạc đó hiện hữu.
Ở phần đầu viết về mỗi dòng nhạc, tác giả đã nêu lên những đặc trưng của dòng nhạc đó, rồi sau đó đưa ra những dữ liệu minh họa đầy sức thuyết phục. Còn ca khúc tân nhạc giai đoạn đương đại, trong mỗi thời đoạn hậu chiến (1975-1985) hoặc đương thời (1986 - nay), tác giả trình bày các ca khúc theo khuynh hướng, chủ đề và đặc biệt ở mỗi thời đoạn đã tập trung, khắc sâu một phong trào ca nhạc nổi bật được công chúng yêu thích. Như trong thời đoạn hậu chiến là “ca khúc chính trị cuối thập niên 70” và trong thời đoạn đương thời là “ca khúc về biển đảo tổ quốc từ thập niên 90”. Không những thế, trong thời đoạn đương thời (1986 - nay), tác giả đã hệ thồng thành 2 dòng nhạc: “nhạc nhẹ chính thống đương thời” và “ca nhạc thị trường đương thời”. Trong đó, dòng nhạc thị trường đương thời được nghiên cứu cặn kẽ, với nhiều chuyên mục: nhạc sĩ - ca khúc thị trường; quảng bá ca khúc thị trường; ca sĩ thị trường; và công chúng ca nhạc thị trường. Mỗi chuyên mục lại có nhiều tiểu mục, như  chuyên mục “nhạc sĩ - ca khúc thị trường” có đến 9 tiểu mục để vạch ra những “vết chàm” và “khuyết tật” của ca khúc thị trường.
  1. KHO TƯ LIỆU PHONG PHÚ. 
Cuốn sách đầy ấp tư liệu đáng tin cậy về tân nhạc Việt Nam, không những về nhạc sĩ, ca khúc tiêu biểu mà còn quý giá về lịch sử, quá trình hình thành và phát triển của tân nhạc Việt qua các giai đoạn - thời đoạn ca nhạc, các dòng nhạc với hàm lượng thông tin phong phú và chuẩn mực.
Chẳng hạn, để chứng minh ca khúc “Cùng nhau đi  Hồng binh” là ca khúc cách mạng đầu tiên nhưng cũng là ca khúc mở đầu cho tân nhạc Việt, nhưng hiện nay, do các nguyên nhân ngoài âm nhạc, nhiều nhạc sĩ và người yêu âm nhạc không công nhận điều đó, cuốn sách đã thuyết phục người đọc bằng những bằng chứng rất đáng tin cậy:
“Theo nhiều tư liệu, trong đó có nhận định của GS-TS âm nhạc Trần Quang Hải, nhà nghiên cứu Dương Viết Á, nhà sử học Trần Huy Liệu và nhà văn Nguyên Hồng, trên văn bản “khai sinh”, ca khúc cách mạng được hình thành từ năm 1930, với bài ‘Cùng nhau đi hồng binh’ viết theo điệu March của tác giả Đinh Nhu, khi bị tù ở Côn Đảo (với số tù 3641) cùng với những chiến sĩ cách mạng khác sau trở thành lãnh tụ của cách mạng VN: Nguyễn Văn Cừ, Phạm Văn Đồng, Hoàng Quốc Việt,  Nguyễn Văn Linh… Sau này, bài hát được đưa vào ca khúc ‘Hồi tưởng’, chương 2 tổ khúc hợp xướng ‘Tổ quốc ta’ của NS Hoàng Vân” (trang 18)
Hoặc trong dòng nhạc trữ tình vùng đô thị 1946-1954, trong khi nhiều nhà nghiên cứu cho rằng cả trong 4 năm, sau  khi rời bỏ kháng chiến, Phạm Duy chỉ viết được một ca khúc “Đàn tôi”, cuốn sách đã đưa ra gần 10 tình khúc Phạm Duy viết từ 1951-1954, ông viết rất nhiều tình ca, như:  “Nụ tầm xuân” (phổ ca dao), “Đàn tôi”, “Tiếng sáo thiên thai” (thơ Thế Lữ), “Tình ca”, “Tình hoài hương” (1952), “Thuyền viễn xứ”, “Viễn du”, “Hẹn hò” (1954)…
Cũng về phần tư liệu, cuốn sách có chương “Bàn thêm về từ sến và nhạc sến” đã đưa ra sáu giả thuyết giải thích về “lai lịch” của hai từ ngữ này (trong khi hiện nay tồn tại phổ biến chỉ có 2,3 giả thuyết) trong đó có những giả thuyết mới lạ mà “nghe có lý” nhưng chưa từng được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng.
  1. NHẬN ĐỊNH XÁC ĐÁNG.
 Cuốn sách thuộc thể loại kép: “nghiên cứu” và “nhận định”. Cái độc đáo, đặc sắc của cuốn sách còn ở những nhận định, nhận xét, đánh giá rất riêng tư, rất sắc sảo, rất mới mẻ, có khi rất lạ lẫm và ý vị của tác giả. Điều nầy được thể hiện trong ở từng phần trong toàn bộ cuốn sách khi xen kẻ những tư liệu nghiên cứu khách quan với những nhận định chủ quan của tác giả, nhưng nổi bật nhất là ở chương “Phân cực và giao thoa giữa các dòng nhạc từ 1930 đến nay”, một chủ đề đặc trưng, “đặc sản” của cuốn sách mà các sách nghiên cứu về âm nhạc Việt cho đến nay chưa ai nghiên cứu. Trong chủ đề mới lạ này, cuốn sách đã minh chứng, lý giải các trường hợp hoặc đối lập, hoặc hòa nhập, hoặc hợp lưu, hoặc song song tồn tại, hoặc hỗ tương … với nhau giữa các dòng nhạc trong từng giai đoạn với những nhận xét, đánh giá rất xác đáng và sâu sắc. Như khi tác giả bàn về sự khác biệt giữa nhạc Tâm lý chiến Việt Nam Cộng hòa và tình ca về lính: “Phải xác định rõ rằng, trong dòng nhạc TLC của VNCH có nhạc lính, nhưng không phải tất cả nhạc lính đều là nhạc TLC, như một số nhà nghiên cứu âm nhạc hiện nay đã không khách quan khi quy kết, đồng hóa, do định kiến chính trị và cũng do chưa từng thâm nhập vào sự đa dạng, phong phú của các dòng nhạc Miền Nam thời chiến. Do hoàn cảnh khách quan tác động trực tiếp vào khung nhìn, tầm nhìn, trước hết và cụ thể là ở đâu cũng thấy bóng dáng người lính trong thời ly loạn nên hầu hết các nhạc sĩ Miền Nam thời đó đều có bài hát về lính, tuy số lượng ca khúc, giá trị tư tưởng - nghệ thuật, quan điểm chính trị, không gian nghệ thuật trong từng ca khúc, từng tác giả có khác nhau. Nhiều nhạc phẩm viết về người lính nhưng không phải ca ngợi họ mà qua đó nói lên tâm tư của con người trước cuộc chiến, thân phận con người trong chiến tranh. Hoặc do đề tài thời thượng về người lính, nên có nhạc sĩ viết về lính vô tình phục vụ cho chính sách dân vận của chế độ. Hoặc viết ra do mối ân tình riêng sâu đậm với một con người vừa khuất, mà người ấy là nhân vật có vai vế  trong quân lực VNCH. Thậm chí, cả NS phản chiến hàng đầu là Trịnh Công Sơn cũng có bài hát về lính: ‘Cho một người vừa nằm xuống’ viết về một người bạn của nhạc sĩ là đại tá không quân VNCH Lưu Kim Cương  tử trận trong trận Mậu Thân đợt 2…” (trang 68)
Thậm chí, trong một dòng nhạc, cuốn sách cũng vạch ra được sự phân cực và giao thoa nội bộ. Như bàn rất thẳng thắn, không ngại đụng chạm, nêu đúng bản chất của hiện tượng về “dòng nhạc phản chiến 1966-1975”, kể cả khi nhắc đến những nhạc sĩ tài danh được nhiều người ái mộ:
“Các nhạc sĩ được xếp chung vào dòng nhạc phản chiến có phần giao là chống chiến tranh, mong muốn hòa bình cho dân tộc, nhưng xét cho cùng, có một sự phân cực giữa các dòng nhạc này, nhất là quan niệm về chiến tranh và mục đích  chống chiến tranh không phải giống nhau. Các nhạc sĩ là các chiến sĩ cách mạng ‘nằm vùng’ như Trần Long Ẩn, Tôn Thất Lập, Trương Quốc Khánh, Nguyễn Văn Sanh… là chống chiến tranh xâm lược, đấu tranh cho hòa bình thống nhất Tổ quốc. Các nhạc sĩ theo chủ nghĩa dân tộc thuần túy (yêu nước không đảng phái chính trị) như Trịnh Công Sơn, Lê Hựu Hà, Nguyễn Phú Yên… là chống chiến tranh gây tang tóc cho quê hương, đau khổ cho đồng bào. Còn một số nhạc sĩ có quan điểm chính trị phức tạp như Phạm Duy thì đối cực rõ ràng với hai nhóm nhạc sĩ trên: vừa viết ca khúc phản chiến, nhưng lại vừa viết những bài hát ca ngợi chế độ, ca ngợi hình ảnh và chiến công của người lính cộng hòa. Phạm Thế  Mỹ, nhạc sĩ được hâm mộ trong dòng nhạc vàng lại viết cả nhạc phản chiến lẫn nhạc ca ngợi hình ảnh ‘oai hùng, phong sương của anh lính chiến’…” (trang 183-184)
 Hoặc phân định rạch ròi với cái nhìn thoáng đãng đối với dòng “nhạc Việt Hải ngoại 1975 - nay”. Sau khi dẫn ra những tư liệu và nhận định thông thoáng với mình về các thời đoạn phát triển của ca nhạc Việt hải ngoại, sự giao thoa giữa nhạc Hải ngoại và các dòng nhạc trong nước, sự đóng góp của dòng nhạc nầy đối với âm nhạc dân tộc, tác giả kết luận: “Hiện nay, dòng nhạc hải ngoại thực tế đã trở thành một bộ phận của nhạc nhẹ Việt đương thời…” (trang 194)
Cuốn sách còn dành hẳn một chương dài (gần 20 trang) để bàn về “Quá trình hình thành, phát triển của dòng nhạc nhẹ đương đại”,  trong đó dẫn ra và phân tích những ca khúc nổi tiếng tạo “bước ngoặc ca nhạc” từ những bước “khởi đầu nan” như “Gởi nắng cho em” (1975 – thơ Bùi Văn Dung) của Phạm Tuyên, “Tình em biển cả” (1975) của Nguyễn Đức Toàn, “Biển hát chiều nay” (1975) của Hồng Đăng, “Mùa xuân đầu tiên” (01.1976) của Văn Cao, “Nha Trang mùa thu lại về” (1978) của Văn Ký, “Chiều trên bến cảng” (1978) của Nguyễn Đức Toàn, v.v… đến tập trung lý giải hai hiện tượng âm nhạc được coi là khởi đầu cho dòng nhạc nhẹ Việt là Trần Tiến (ở phía Bắc) và Thanh Tùng (ở phía Nam), cũng như nêu lên và luận bàn về các sự kiện âm nhạc đặc biệt diễn ra trong giai đoạn nầy có tác động sâu sắc đến sự nhập cuộc của âm nhạc đương đại. Từ những tư liệu và lập luận đó, chương sách nêu bật quá trình chuyển hóa không phẳng lặng, suôn sẻ, thuận buồm xuôi gió từ “nhạc đỏ” (nhạc truyền thống cách mạng), qua “nhạc xanh”, “nhạc da cam”(da cam = màu đỏ chồng lên màu vàng), “nhạc trẻ”, “ca khúc chính trị” đến “nhạc nhẹ”chính hiệu, từ “không chấp nhận” nhạc nhẹ, qua “mặc nhiên chấp nhận”, đến “chính thức công nhận” sự tồn tại của nó! Khác với các công trình khác, thường là của nhạc sĩ nghiên cứu âm nhạc, ở đây là của một nhà thơ, người của văn chương nghiên cứu âm nhạc, và ca từ trong nhạc được nhìn như lời thơ, nên sự chuyển hóa “chậm dần đều” từ dòng nhạc chính thống thời chiến sang nhạc nhẹ chính hiệu, không những được tiếp cận, lý giải về mặt giai điệu thể hiện, mà cả mặt nội dung trữ tình và nhất là nhân vật trữ tình (cái “tôi” trữ tình): “Như vậy, các nhạc sĩ đã từ cái ‘ta’ để nói cái ‘chung’, rồi cái ‘ta’ có cái ‘tôi’ ẩn mình để nói cái ‘tôi’ trong cái ‘ta’, sau đó chuyển sang ‘anh - em’ để nói cái ‘ta’ cùng cái ‘tôi’ và cuối cùng dù nói đến cái ‘chung’ vẫn là cái ‘tôi’ chủ thể. Rồi cái ‘tôi’ cá thể này lại được cá biệt hóa trong ca nhạc thành những cái ‘tôi’ cao thượng, cái ‘tôi’ tội tình, cái ‘tôi’ đời thường…”(trang 80)
Cuốn sách dành nhiều “thời lượng” để phản ánh và nhận định về ca khúc thị trường đương thời mà chỉ tên tiểu “tít’ thôi cũng đã thể hiện rõ thái độ của tác gỉa đối với những “vết chàm”,  “khuyết tật”, “rối ren, hỗn độn, nhố nhăng” hiện hữu trong dòng nhạc nầy: “thợ làm nhạc”; ca từ, giai điệu “nhạc trẻ sến”; nhạc phạm luật; nhạc chế; nhạc chế Phật giáo; “nhạc sến đỏ”; ca sĩ “lên đời” đạo nhạc ngoại; nhạc sĩ thành “đạo sĩ” nhạc ngoại; và lạm phát chuyển ngữ nhạc ngoại…. Chẳng hạn, tác giả đã khái quát về loại “nhạc sến đỏ” với những phát hiện mới mẻ và thú vị: “Đó là loại nhạc, mà giá trị âm nhạc lẫn ca từ đều không cao, không có sự sáng tạo,  nhưng nội dung rất cách mạng. Giai điệu thì nghe quen tai như tiếng nói người thân, ca từ thì  ước lệ nghe như khẩu hiệu hô hào, nghe xong ca khúc tưởng gặp lại anh hàng xóm cũ. Có mấy mô típ như mấy lối mòn cho kết cấu ca từ dạng nhạc nầy: Hoặc mở đầu ca khúc bằng một sáo ngữ: ‘Tôi đã về đây Bà Rịa (hay một địa danh khác) ơi!...’, hay:  ‘Ai có về Bà Rịa - Vũng Tàu…’ rồi kể lể các địa danh trong tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu: Long Sơn,  Long Hải, Bãi Trước, Bãi Sau… cùng truyền thống, đặc sản của từng nơi được phân bố đều cho các câu, các phiên khúc, điệp khúc trong bài. Hoặc cũng viết về một vùng đất, con người, sự kiện cụ thể: Mở đầu bằng câu mẫu, như: ‘Anh đến quê em, Đồng Tháp anh hùng…’, hay: ‘Ai đã từng đi qua Sông Rây một thưở…’ rồi  ôn lại kỷ niệm, rồi yêu thương, luyến tiếc, tự hào… về vùng đất, sự kiện, con người đang viết. Hoặc tự sự theo lối ‘đi bộ’: Dùng ngôn ngữ chính luận, kết hợp với khẩu ngữ tự nhiên, không hình tượng để phản ánh, biểu hiện chủ đề. Hoặc ngược lại, dùng ngôn ngữ ước lệ, tương trưng quen thuộc và khẩu hiệu tuyên truyền cổ động gắn vào đề tài thành lời cho ca khúc v.v…” (trang 133-134)
Phần phụ lục cuốn sách, tập hợp những bài báo tác giả viết về âm nhạc cùng một số bài báo của tác giả khác viết về tác giả liên quan đến âm nhạc. Trong đó, theo tôi, có 2 bài tác giả viết về hai nhạc sĩ tài danh Trịnh Công Sơn (Lần cuối gặp nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, “NHƯ MỘT LỜI CHIA TAY”) và Trần Quang Lộc (Chuyện trò với Trần Quang Lộc, NHẠC SĨ “KỂ CHUYỆN TÌNH BẰNG LỜI CA DAO…” rất ý vị và rất có giá trị về mặt tư liệu.
Về mặt hình thức và trình bày, sách dày 258 trang, mỗi trang đều có 1-2 ảnh của nhạc sĩ, ca sĩ nổi tiếng, góp phần thu hút và thỏa mãn được nhu cầu tìm hiểu của độc giả yêu âm nhạc.
Có thể nói, “9 TK.CK.TN.VN” là công trình lớn đầu tiên ở trong và ngoài nước, nghiên cứu nghiêm túc và sâu rộng ở tầm bao quát và toàn diện về ca khúc tân nhạc Việt, thể hiện công phu, đam mê nhiệt huyết và am hiểu sâu sắc về âm nhạc nước nhà của tác giả. Cho nên, đây là kho tư liệu quý giá cho những người giảng dạy âm nhạc và người yêu âm nhạc, và “là một công trình đáng tin cậy cho những người đi sau nghiên cứu về ca khúc tân nhạc Việt Nam", như nhận định của nhà văn - nhà nghiên cứu - nhạc sĩ Bùi Công Thuấn.
TP Hồ Chí Minh, 05.7.2019.  
Tường Vi.
(*):“Chín thập kỷ ca khúc tân nhạc Việt Nam”, nghiên cứu – nhận định, Lê Thiên Minh Khoa, NXB Hội Nhà Văn 2019, Cty dịch vụ văn hóa KHANG VIỆT (71, Đinh Tiên Hoàng, Phường Đakao, Quận 1, TP.HCM -  https://khangvietbook.com.vn/) phát hành.


Độc giả có thể mua sách qua:
1. TRỰC TIẾP:
a.TP HCM: Cửa hàng sách của cty dịch vụ văn hóa KHANG VIỆT:
71, Đinh Tiên Hoàng, Phường Đakao, Quận 1, TP.HCM


b. TP Vũng Tàu: Nhà sách HOÀNG CƯƠNG:
102A, Lê Hồng Phong. P.4, TP Vũng Tàu


c. TP Bà Rịa: Nhà sách BẠCH ĐẰNG:
Vòng xoay CMT8, P. Phước Trung, TP Bà Rịa.


2. TRỰC TUYẾN (có giảm giá):
a. Cty KHANG VIỆT: 
- web: https://khangvietbook.com.vn/
- https://tiki.vn
b. : Nhà sách HOÀNG CƯƠNG:
- www.hoangcuong.online


3. LIÊN HỆ VỚI TÁC GIẢ (Sách có chữ ký lưu niệm của tác giả): Xin chuyển tiền vào tài khoản sau:
Tên chủ tài khoản: Lê Thiên Minh Khoa
Số tài khoản: 6000205360885 (6.000.205.360.885)
Chi nhánh ngân hàng AGRIBANK tỉnh BR-VT
Số tiền chuyển: 190.000 ĐVN theo giá bìa (tác giả chịu chi phí bưu điện)
Đồng thời, gởi địa chỉ nhận sách (và Số ĐT, theo yêu cầu của Bưu điện) về cho tác giả theo messenger hay comment qua Facebook, hoặc theo tin nhắn qua email hay điện thoại di động:
Email: lethienminhkhoabr@gmail.com
ĐTDĐ: 0908.274.494
Địa chỉ liên hệ: 117, Cách mạng Tháng Tám, P. Long Hương, TP Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.


ẢNH:

 1 -2: Bìa 1 cuốn sách.




3-4: Một trang đôi trong cuốn sách.




5-6: NS Trần Quang Lộc,  NS Nguyễn Trọng Tạo & tác giả.

READ MORE - Đọc sách: “CHÍN THẬP KỶ CA KHÚC TÂN NHẠC VIỆT NAM” (*)_ TƯ LIỆU QUÝ CHO GIỚI NGHIÊN CỨU, GIẢNG DẠY VÀ YÊU THÍCH ÂM NHẠC - Tường Vi