Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Hoàng Dục. Show all posts
Showing posts with label Hoàng Dục. Show all posts

Sunday, November 21, 2021

GIÓ - SỰ CHIÊM NGHIỆM SÁNG TẠO - Hoàng Dục giới thiệu tập tập thơ của Hồ Sĩ Bình: NGÀY SINH CỦA GIÓ

 

NGÀY SINH CỦA GIÓ -Tập thơ của Hồ Sĩ Bình

 GIÓ - SỰ CHIÊM NGHIỆM SÁNG TẠO

Hoàng Dục

 

“Ngày khai sinh của gió” đã gấp lại rồi sao gió vẫn miên man. Có lạ gì khi gió xưa sau luồng theo câu chữ mà tượng hình trong những trang văn. Sao trong cõi thơ Hồ Sĩ Bình gió cứ nhoi nhói, cứ thao thức như một niềm riêng. Phải chăng ngọn gió ấy là niềm ưu tư sáng tạo, là chiêm nghiệm về nghệ thuật của anh.

Hình như là thế? Làm sao không xôn xao khi:

 

gió tẩm liệm những câu thơ

giấy trắng vẫn y nguyên thuở học trò

                                (Bài thơ viết giữa rừng)

 

Chạm vào câu thơ, bao câu hỏi trồi ra đến xốn xang. Gió tàn nhẫn đến thế ư? Cái đẹp sao có thể bị vùi lấp? Gió sắm vai kẻ nhà đòn hay là người thương vay nghệ thuật? Không. Hãy vứt đi những câu hỏi vô duyên ấy. Gió đang thực hiện quyền năng sáng tạo nghệ thuật của nó. Gió chỉ chôn cất những câu thơ héo rũ, thiếu linh hồn và thiếu cả sức ngân. Làm sao không “tẩm liệm” những bài thơ chỉ là tiếng hót của chim bách thanh:

 

Rừng lao xao rừng động những âm vang
mà giai điệu đã ngàn xa nỗi vọng
bản đồng ca ngời ngợp
những buồn vui nhợt nhạt
những con chim bách thanh
không có tiếng nói của riêng mình
rao giảng những điều không thật

                                (Mưa ngoài ngàn)

 

Ai có thể dung nạp những bài thơ như những bản sao mang màu cương thi nhợt nhạt vô hồn. Ai có thể mở lòng ra với những bài thơ thiếu vắng dấu ấn của người thơ. Lúc ấy, gió sẽ thay người ném vào khoảng vắng những mặt nạ xác chữ, những câu thơ giả hình:

 

đuổi hình bắt bóng
những câu thơ hai mặt
không thuộc về mình

                                (Bài thơ viết giữa rừng)

 

Và gió cũng sẽ cau mặt trước những người làm thơ chỉ để lại những dòng chữ như những luống cày xưa cũ. Đấy là những luống cày trên đất bạc màu, không đủ sức nuôi lớn một mầm xanh. Người viết thơ ấy khác nào người đàn ông hát bài ca mời rượu. Mặc đá cuội nằm im lơ đãng/ đứa trẻ bơi qua sông bẻ bắp/ người đàn bà vẽ đời mình trên bông lau nơi rừng cũ. Chẳng cần ngó ngàng rượu không còn hương chỉ còn mùi khói chín đầy chăn gối/ người phụ nữ Ê Đê bỏ lá cây gì gửi vào trong vò rượu nỗi nhớ/ dài rộng mênh mang đại ngàn đi đâu chồng cũng đừng quên về nhà/ chớ nghe gió rủ rê/ mà quên buôn làng. Có gì rời rã trong lời ca buồn như cầu kinh, như lời gọi hồn rừng núi sơ nguyên:

 

Người đàn ông cứ hát bài mời rượu

không cần biết mọi người đã ngủ 

                                (Uống rượu giữa rừng)

 

Người đàn ông Tây nguyên hát mãi một hòa âm trên những sân khấu không còn như cũ nữa. Ông ta không cần thính giả, khác nào như nhà thơ chối từ người thẩm thức văn chương. Trong khi đó thơ ra đời từ nhu cầu giao cảm giữa người hát thơ và người tiếp nhận của muôn đời. Thơ là sự trải lòng của nhà thơ được che đậy bởi lớp hiển ngôn giàu tính nghệ thuật đợi chờ người đọc giải mã diễn ngôn đó. Với ý nghĩa này có thể hiểu “Chờ” là một diễn ngôn như thế:

 

Nếu không còn ai chờ

tôi sẽ như con ve xẹp lép

không màng hát ca

tôi sẽ đánh mất tôi 

dưới mái nhà yêu dấu

                                (Chờ)

 

Không người tiếp nhận, không người đón đợi, thơ chỉ còn là con ve xẹp lép. Những câu thơ của gió chưa kịp hoài thai, chưa thấy ánh sáng đã bị ném vào bóng đêm hoang lạnh. Nhà thơ như kẻ lạ bị lưu đày trong căn nhà yêu thương của chính mình. Nhà thơ cô đơn ngồi với những câu thơ vắng bóng tiếng cười, một mình thương nhớ tiếng ve của khúc nhạc đồng ca mùa hè thị xã/ bóng mát đã bị đánh cắp/ tuổi thơ, tiếng ve, cánh phượng hồng lạc gió một trời xa (Ve và trí nhớ).

Gió trong “Ngày khai sinh của gió” mang trong mình phẩm chất và cá tính tính sáng tạo cái đẹp. Cho nên, tâm hồn gió luôn phập phù suy tư về sự tồn sinh của thi ca. Những suy tư này rải ra, loang thấm trong nhiều bài thơ và rồi hội tụ tạo thành cao trào trong bài thơ mà Hồ Sĩ Bình lấy tên làm tiêu đề của cả tập thơ. Vũ trụ uyên nguyên đã tồn tại cái đẹp. Từ cõi thẳm sâu huyền nhiệm ấy ngọn gió thơ ra đời. Nhưng để cho thơ thật sự có hình hài, có linh hồn, có sự sống riêng, phải cần có những nhà thơ mẫn cảm với cái đẹp, thực tài và có cá tính nghệ thuật. Nhà thơ không thể:

 

Trên cánh đồng chữ nghĩa nhập nhoạng

những bóng người chỉ là bóng từ bốn phía

giẫm lên những câu thơ của gió

còn lại những hạt lép mùa vàng

màu sơn đỏ thếp vàng cũ kỹ

                                (Ngày khai sinh của gió)

 

Không thể định danh nhà thơ khi chỉ là chiếc bóng người. Không có thi ca đích thực khi khuôn mình vào hình hài ngôn từ của người đi trước để thơ chỉ là bóng chữ mù mờ. Dẫu anh có đánh bóng tô màu lên con chữ thì thơ cũng chỉ là hạt lép ố vàng bởi lớp váng thời gian. Nhà thơ phải là người khai sáng cho mình trên con đường nghệ thuật. Anh có lối đi riêng của chính anh. Cái tôi trong thơ của anh là cái tôi trữ tình thực hữu của anh. Cảm nhận như thế để thấy, cái tôi của Hồ Sĩ Bình trong thơ là cái tôi chiêm nghiệm sáng tạo đầy day dứt. 

 

Cũng ở khổ thơ này, anh thác gửi suy tư sáng tạo qua hình ảnh “Cánh đồng chữ nghĩa nhập nhoạng” có nội hàm phong phú. Hình ảnh ấy gợi liên tưởng đến những câu thơ cùng trường nghĩa:

 

trên cánh rừng chữ nghĩa
đồng phục bạc màu u ám

                                (Mưa ngoài ngàn)

 

Có lẽ cũng không nên đi đến tận cùng các lớp nghĩa mà hình ảnh thơ gợi ra. Chỉ nên dừng lại ở hình ảnh hữu hạn “cánh đồng” hay “cánh rừng” thế thôi. Ngôn từ là một sinh ngữ, nhưng là một sinh ngữ có giới hạn và tiệm sinh. Cho nên, nhiệm vụ thiêng liêng trên hành trình sáng tạo của nhà thơ là phải sinh thành diễn ngôn trữ tình mới. Có thể phỏng lời nhà ngôn ngữ học Ferdinand De Saussure để diễn tả ý này, đó là thơ ra đời khi nhà thơ tạo ra “cái được biểu đạt” mới mẻ ứng với “cái biểu đạt” có thể không mới. Tạo được “cái được biểu đạt” mới thế nào là tùy thuộc vào xúc cảm thẩm mĩ, vào năng lực làm chủ ngôn ngữ,… của nhà thơ. Đó cũng là điều mà Roman Jakobson quan niệm: Cách đặt đối tượng vào ngôn từ, vào khối từ ngữ: tôi gọi đó là thời điểm duy nhất và thiết yếu của thơ (Thơ Mới tại Nga, 1919).

Không dừng lại ở đấy, “Ngày khai sinh của gió” còn gợi lên hình nhà thơ  biết cách làm mới sáng tác của mình:

 

Toát lên sự bất lực

gió không bay qua được chiếc bóng của mình

gió không qua hết đường làng

làm sao mà bay vào trời rộng

                                (Ngày sinh của gió)

Làm sao thơ có thể sống giữa cuộc đời rộng lớn khi nhà thơ ngủ vùi trong tâm lý thỏa mãn. Làm sao thơ được con người đón nhận hạnh phúc khi nhà thơ không bước qua được chiếc bóng của mình. Thơ sinh thành và đáng gọi là Thơ, đó là sự cố gắng không ngừng của con người để tự vượt lên mình (Johannes Becher).

Chính quan niệm như vậy nên Hồ Sĩ Bình qua thơ luôn lục vấn tâm thức sáng tác. Ngồi trong “Quán nhỏ lưng đèo, anh thấy mình lao đao giữa lưng chừng trong miền sáng tạo. Anh úp mặt vào thơ thở ra giọng điệu u trầm: tôi úp mặt vào khuya/ thấy mình là đám mây núi/ không xuống được mặt đất trần gian/ và không bay lên được/ cứ thế lưng chừng mãi sống mòn (Quán nhỏ lưng đèo). Gió còn ruổi rong đâu đó bỏ quên mây núi giữa lưng chừng đèo mòn mỏi. Thơ chưa về nên người viết cũng chênh chao trong nỗi sống mòn. Nỗi đau khổ của người thơ là ở đó. Nhưng đó lại là nỗi đau khổ hạnh phúc: 


tôi mãi ngồi chờ tôi
một câu thơ phía trước
chỉ một câu thôi
để đám mây kia bay lên
nhấc tôi khỏi mặt đất
                        (Quán nhỏ lưng đèo)

 

Hạnh phúc được chờ đợi. Hạnh phúc trong sáng tạo. Hạnh phúc của sự thăng hoa. Hạnh phúc khi những câu thơ của gió chở mùa vàng lên trang văn bát ngát (Nguyệt quế cho nỗi buồn). 

 

Cái miên man của gió trong “Ngày khai sinh của gió” hình như là vậy. Cái miên man ấy khẳng định niềm xác tín trong chiệm nghiệm sáng tạo thơ ca của Hồ Sĩ Bình. Nghệ thuật luôn có phong cách, thơ yêu cầu nghiêm ngặt hơn. Phong cách sáng tạo nghệ thuật là sự tiếp nối và đổi mới không ngừng bởi: Nghệ thuật bất tận như dòng sông mãi chảy/ Sông đi qua trở lại, là gương soi khuôn mặt xưa/ của Heraclitus, người thay đổi luôn luôn,vẫn như xưa/ và khác trước, như dòng sông mãi chảy (Jorge Luis Borges - Nghệ thuật thơ ca). 

 

                Nhưng làm thế nào để có được những câu thơ của gió, những câu thơ in đậm cá tính sáng tạo của nhà thơ. Chỉ có độc sáng mới thực sự tạo lập được phong cách nghệ thuật, mới khiến thơ có năng lực siêu việt thời gian.

                                                                               

                                                                                                                Hoàng Dục

hoangduclqd@gmail.com

READ MORE - GIÓ - SỰ CHIÊM NGHIỆM SÁNG TẠO - Hoàng Dục giới thiệu tập tập thơ của Hồ Sĩ Bình: NGÀY SINH CỦA GIÓ

Thursday, February 4, 2021

ĐỌC “HÀ NỘI CŨ” CỦA ĐINH TẤN PHƯỚC - Hoàng Dục

ĐỌC “HÀ NỘI CŨ” CỦA ĐINH TẤN PHƯỚC

Hoàng Dục


        Thời gian qua, tôi nhận nhiều thư của các em học sinh cũ đang ở Hà Nội.  Tình cảm các em dành cho Hà Nội thật sâu sắc và mãnh liệt làm tôi nhớ bài thơ “Hà Nội cũ” của tác giả Đinh Tấn Phước trong tập “Gió mùa” mà bạn đã tặng tôi từ lâu:

 

có một Hà Nội rất cũ

như bờ đê

chiều Yên Phụ

              lối mòn gót cỏ

gánh hàng hoa tan chợ đi về

 

có một Hà Nội rất xưa

như là cổ tích

những mái đình cong võng điệu thời gian

một Hà nội rêu phong

ven dòng sông Tô Lịch

ông đồ nho vẽ chữ

                             bán bên đường

 

có một Hà Nội mùa đông

những cây bàng đỏ bầm chết rét

tiếng dương cầm lạnh ngắt

rơi từng giọt khói sương

 

có một Hà Nội rất thơ

như mùa thu và giọng nói

một Hà Nội cửa ô, một Hà Nội ả đào

ba mươi sáu phố phường

                                       bờ hồ liễu rủ…

 

anh vẫn yêu Hà Nội cũ

chưa cầu Thăng Long

không xe cộ ngợp trời

không nhà mái bằng

không chợ người khổ lụy…

 

khi Hà Nội còn trong anh… rất trăng!               

 

 

Nhà thơ Đinh Tấn Phước

         Tập thơ “Gió mùa” của Đinh Tấn Phước do Nxb Hội Nhà Văn xuất bản vào tháng 12 năm 2003. Tập thơ có ba bài biểu lộ cảm xúc của tác giả về Hà Nội, đó là “Hà Nội cũ”, “Thu Hà Nội” và “Hà Nội”, nhưng tôi thích nhất là “Hà Nội cũ”, bởi tôi có cảm giác qua bài thơ này, tác giả nói hộ lòng tôi.

 

Ngay từ đầu, chỉ thoạt đọc tựa đề “Hà Nội cũ”, tôi cũng cảm thức được cảm hứng sáng tạo của tác giả. Xưa nay, nói đến cảm hứng sáng tác văn chương, người ta thường khẳng định chắc nịch rằng, sáng tạo văn học là một cảm xúc hoài niệm, hoài cổ. Có lẽ cũng không cần bàn cãi gì điều này vì cái lí nó sờ sờ ra đấy! Ngoại trừ những tác phẩm khoa học giả tưởng, còn tất cả mọi tác phẩm thuộc các thể tài văn học đều tái hiện – tái tạo hiện thực cả. Cho nên, không phải ngẫu nhiên chút nào khi cụ Nguyễn Du lại viết : “Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”. Viết là thể hiện tình cảm, bày tỏ thái độ của người tạo tác trước hiện thực đang phơi mở trước mắt nhà thơ.  Nói cho cùng, sáng tác là nhớ lại những gì đã diễn ra trong hiện thực qua cái nhìn của người cầm bút, rồi biểu hiện nó bằng hình tượng với công cụ là ngôn từ, nhằm gởi gắm một tình cảm thẩm mĩ nào đó đến người đọc ở tương lai. Nhưng với Đinh Tấn Phước thì có khác, đó là sự nhớ lại trong nhớ lại, đó là nỗi hoài nhớ được bao bọc trong hồi ức tuổi xưa. Không thế, sao lại có tựa là “Hà Nội cũ”!

 

       Tôi nghĩ, tác giả cũng như tôi đã có một Hà Nội cũ qua những tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn, qua thơ ca lãng mạn, qua những bài hát mang màu sắc hoài niệm khắc khoải của những người con Hà Nội đang sống ở miền Nam. Bởi chúng tôi cùng thế hệ, được học dưới mái trường trung học những năm 60 của thế kỉ XX và cùng đặt chân vào giảng đường đại học Huế năm 1971. Cho nên, khi tác giả đến với Hà Nội của thời điểm hiện tại, tâm thức bỗng có một Hà Nội xưa ùa về, chảy tràn thành thơ.

 

       Bài thơ, với cảm xúc ấy nên mới có cấu trúc đối lập một Hà Nội xưa và nay, một Hà Nội qua những trang viết, qua những giai điệu lãng mạn với một Hà Nội hiện thực không như là mơ. Và cũng vì thế mà cấu trúc đối lập ấy không cân đối chút nào. Cảm xúc thơ nghiêng về Hà Nội xưa, Hà Nội của kí ức đẹp; còn Hà Nội nay tác giả chỉ tái hiện qua một khổ thơ ngắn.

 

       Qua những khổ thơ đầu, những vẻ đẹp của Hà Nội xưa hiện hình cùng một kiểu lập ý : “có một Hà Nội rất… như là…”  và qua sự tăng tiến của ngôn từ : “rất cũ”, “rất xưa” và “rất thơ”. Chính những phương thức nghệ thuật này đã xếp bức màn thời gian lại cho ta chiêm ngưỡng một Hà Nội đẹp như cổ tích, mang màu sắc cổ điển. Để rồi ta cảm giác như lạc vào một mê cung Hà Nội thơ,  một Hà Nội của thi hứng, của cảm xúc trữ tình. Ta như bâng khuâng giữa “chiều Yên Phụ”, bâng khuâng thả hồn theo : “lối mòn gót cỏ – gánh hàng hoa tan chợ đi về”. Ta nghe hồn mình buông chùng mềm mại theo “những mái đình cong võng điệu thời gian” soi bóng xuống dòng Tô Lịch. Ta say mê ngắm nét bút “như phượng múa rồng bay” của ông đồ nho đang “vẽ chữ bán bên đường”.

 

Ta cũng thả hồn bay theo chiếc lá vàng thu bên Hồ Tây liễu rủ và :

… giọng nói

một Hà Nội cửa ô, một Hà Nội ả đào

 

                           ba mươi sáu phố phường

                                                            bờ hồ liễu rủ…

 

       Hà Nội lung linh trong kí ức được hình thành từ trang văn đã học đã đọc, từ ước mơ là thế! Bên cạnh Hà Nội rất thơ mà “anh vẫn yêu Hà Nội cũ”,  một Hà Nộ             

 

chưa cầu Thăng Long

không xe cộ ngợp trời

không nhà mái bằng

không chợ người khổ lụy…

 

Khổ thơ khẳng định để phủ định. “Anh vẫn yêu Hà Nội cũ” có nghĩa là anh không có một chút tình cảm nào với Hà Nội thực tại, của thời hiện đại, của buổi kinh tế thị trường. Nói như thế không có nghĩa là Hà Nội hiện đại không đẹp. Hà Nội ngày nay vẫn có nét đẹp riêng, nhưng không thể thay thế được vẻ đẹp đã  làm tổ rất lâu trong kí ức tác giả. Đọc khổ thơ này tôi càng thấy rõ cảm xúc của tôi qua tâm tình của tác giả. Năm 1978, tôi lần đầu đến Hà Nội và sau đó trở lại nhiều lần nữa, ngắn thì một tuần, dài thì một tháng, tôi đã ngỡ ngàng khi thấy một Hà Nội không trùng khít với  Thăng Long trong những trang văn tôi đã đọc, qua những giai điệu mượt mà tôi đã nghe. Những gì tôi chứng kiến là một Hà Nội thời bao cấp, một Hà Nội thời kinh tế thị trường, bùng nổ việc xây dựng cơ sở hạ tầng, nhà chóp, chợ người đường Giảng Võ,… Cho nên, dù tôi biết Hà Nội nay vẫn đẹp nhưng tôi vẫn đồng điệu với những chữ “không”, chữ “chưa” trong khổ thơ trên của tác giả. Và tôi vẫn giữ mãi một lòng yêu Hà Nội cũ như Đinh Tấn Phước, khi bạn khép lại bài thơ, cũng là chốt lại một thái độ, một cái nhìn nghệ thuật về Hà Nội trong thơ:

 

khi Hà Nội còn trong anh… rất trăng!

 

Câu thơ là một khổ thơ, nhưng không tạo cảm giác chông chênh, ngược lại vẫn cân bằng, bởi có sự thống nhất nhận định và tình cảm của tác giả. Cho dù, thời gian có chảy trôi, không gian có đổi dời, trong tâm hồn của tác giả vẫn luôn hằng hữu một Hà Nội “rất trăng!”

 

Và đó cũng là một Hà Nội trong tôi.

 

Hoàng Dục

(Trường PTTH chuyên Lê Quý Đôn – Đà Nẵng)

Nguồn: Thi Nhân Quảng Ngãi- thinhanquangngai.wordpress.com


READ MORE - ĐỌC “HÀ NỘI CŨ” CỦA ĐINH TẤN PHƯỚC - Hoàng Dục

Thursday, October 8, 2020

HỒI HƯƠNG NGẪU THƯ – Hoàng Dục dịch thơ Hạ Tri Chương

 

Hình minh họa từ trang DKN.TV

 

 Hạ Tri Chương tự Quý Chân là nhà thơ đời Đường, sinh năm 659 và mất năm 744. Ông là người Vĩnh Hưng, Việt Châu (nay là hợp Phố, Quảng Đông, Trung Quốc). Ông đỗ Tiến sỹ năm 695, làm quan trên 50 năm, rất được vua quan đương thời trọng nể. Ông thích uống rượu, tính tình phóng khoáng, có tài hùng biện, rất uyên bác và giỏi văn từ. Về thơ, ông chỉ để lại khoảng 20 bài, trong đó nổi tiếng nhất là  hai bài “Hồi hương ngẫu thư”.           

Dưới đây là hai bài “Hồi hương ngẫu thư ”, sáng tác khi từ ông quan về thăm quê nhà sau hơn 50 năm xa cách.

 

 Hồi hương ngẫu thư

 

(Thơ viết ngẫu hứng khi về quê)

 

             Bài I


回鄉偶書其一  

少小離家老大迴,
鄉音無改鬢毛摧
。
兒童相見不相識
,
笑問客從何處來
。

 (Phần chữ Hán chép từ thivien.net)


Phiên âm:

 

 Thiếu tiểu ly gia lão đại hồi,

Hương âm vô xải mấn mao tồi.

Nhi đồng tương kiến bất tương thức,

Tiếu vấn khách tòng hà xứ lai.

 

                        Hạ Tri Chương

 

 Dịch nghĩa:

 

 Lúc còn trẻ nhỏ rời gia đình khi già cả lại trở về,

Giong quê không hề đổi khác, chỉ có tóc rụng đi.

Các cháu trong làng gặp mặt nhưng không biết là ai,

Chúng cười hỏi ông khách từ đâu đến vậy.

 

 Dịch thơ:

 

 Tuổi trẻ rời nhà già lại về,

Giọng quê chẳng đổi tóc loe hoe.

Trẻ con gặp mặt không hề biết,

Cười hỏi, khách xa đâu đến hè?

 

                 Hoàng Dục dịch

 

            Bài II


回鄉偶書其二  

離別家鄉歲月多,
近來人事半消磨
。
惟有門前鏡湖水
,
春風不改舊時波
。

(Phần chữ Hán chép từ thivien.net)

 

 Phiên âm:

 

 Ly biệt gia hương tuế nguyệt đa,

Cận lai nhân sự bán tiêu ma.

Duy hữu môn tiền kinh hồ thủy,

Xuân phong bất cải cựu thời ba.

 

 Dịch nghĩa:

 

 Đã nhiều năm tháng xa biệt quê nhà,

Người làng gần đây một nửa đổi thay.

Chỉ có nước Kính hồ ở trước cửa,

Con sóng vẫn như xưa khi gió xuân về.

 

 Dịch thơ:

 

 Xa cách quê nhà cũng đã lâu,

Xóm giềng khác nửa biết ai đâu.

Chỉ nước Kính hồ ngoài song cửa,

Gió xuân chẳng đổi sóng ban đầu .

 

                        Hoàng Dục dịch

 

 Đà Nẵng, 03-10-2020

 

 

 

 

 

 


READ MORE - HỒI HƯƠNG NGẪU THƯ – Hoàng Dục dịch thơ Hạ Tri Chương

Wednesday, October 30, 2013

ĐỌC "HÀ NỘI CŨ" CỦA ĐINH TẤN PHƯỚC - Hoàng Dục


Nhà thơ ĐINH TẤN PHƯỚC


Mấy ngày này, tôi nhận nhiều thư của một em học trò cũ đang ở Hà Nội. Em bảo thích Hà Nội, có khi đang sống ở Hà Nội mà lại nhớ Hà Nội nữa. Tình cảm em dành cho Hà Nội thật sâu sắc và mãnh liệt làm tôi nhớ bài thơ Hà Nội cũ của Đinh Tấn Phước trong tập thơ “Gió mùa” mà bạn tặng đã lâu.
   
có một Hà Nội rất cũ
như bờ đê
chiều Yên Phụ
           lối mòn gót cỏ
gánh hàng hoa tan chợ đi về

có một Hà Nội rất xưa
như là cổ tích
những mái đình cong võng điệu thời gian
một Hà nội rêu phong
ven dòng sông Tô Lịch
ông đồ nho vẽ chữ
           bán bên đường

có một Hà Nội mùa đông
những cây bàng đỏ bầm chết rét
tiếng dương cầm lạnh ngắt
rơi từng giọt khói sương

có một Hà Nội rất thơ
như mùa thu và giọng nói
một Hà Nội cửa ô, một Hà Nội ả đào
ba mươi sáu phố phường
        bờ hồ liễu rủ…

anh vẫn yêu Hà Nội cũ
chưa cầu Thăng Long
không xe cộ ngợp trời
không nhà mái bằng
không chợ người khổ lụy…

khi Hà Nội còn trong anh… rất trăng!

         Tập thơ "Gió mùa" của Đinh Tấn Phước do Nxb Hội nhà văn, Hà Nội xuất bản vào tháng 12 năm 2003. Tập thơ có ba bài biểu lộ cảm xúc của tác giả về Hà Nội, đó là “Hà Nội cũ”, “Thu Hà Nội” và “Hà Nội”, nhưng tôi thích nhất là “Hà Nội cũ”, bởi tôi có cảm giác tác giả qua bài thơ này nói hộ lòng tôi.

        Ngay từ đầu, chỉ thoạt đọc tựa đề “Hà Nội cũ”, tôi cũng cảm thức được cảm hứng sáng tạo của tác giả. Xưa nay, nói đến cảm hứng sáng tác văn chương, người ta thường khẳng định chắc nịch rằng, sáng tạo văn học là một cảm xúc hoài niệm, hoài cổ. Có lẽ cũng không cần bàn cãi gì điều này vì cái lí nó sờ sờ ra đấy. Ngoại trừ những tác phẩm khoa học giả tưởng, còn tất cả mọi tác phẩm thuộc các thể tài văn học đều tái hiện – tái tạo hiện thực cả. Cho nên, không phải ngẫu nhiên chút nào khi cụ Nguyễn Du lại viết : “Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”. Viết là thể hiện tình cảm, bày tỏ thái độ của người tạo tác trước hiện thực đang phơi mở trước mắt nhà thơ.  Nói cho cùng, sáng tác là nhớ lại những gì đã diễn ra trong hiện thực qua cái nhìn của người cầm bút, rồi biểu hiện nó bằng hình tượng với công cụ là ngôn từ nhằm gởi gắm một tình cảm thẩm mĩ nào đó đến người đọc ở tương lai. Nhưng với Đinh Tấn Phước thì có khác, đó là sự nhớ lại trong nhớ lại, đó là nỗi hoài nhớ được bao bọc trong hồi ức tuổi xưa. Không thế, sao lại có tựa là Hà Nội cũ!

       Tôi nghĩ, tác giả cũng như tôi đã có một Hà Nội cũ qua những tác phẩm của “Tự Lực văn đoàn”, qua thơ ca lãng mạn, qua những bài hát mang màu sắc hoài niệm khắc khoải của những người con Hà Nội đang sống ở miền Nam. Bởi chúng tôi cùng thế hệ, được học dưới mái trường trung học những năm 60 của thế kỉ XX và cùng đặt chân vào giảng đường đại học Huế năm 1971. Cho nên, khi tác giả đến với Hà Nội của thời điểm hiện tại, tâm thức bỗng có một Hà Nội xưa ùa về, chảy tràn thành thơ.

      Bài thơ, với cảm xúc ấy nên mới có cấu trúc đối lập một Hà Nội xưa và nay, một Hà Nội qua những trang viết, qua những giai điệu lãng mạn với một Hà Nội hiện thực không như là mơ. Và cũng vì thế mà cấu trúc đối lập ấy không cân đối chút nào. Cảm xúc thơ nghiêng về Hà Nội xưa, Hà Nội của kí ức đẹp; còn Hà Nội nay tác giả chỉ tái hiện qua một khổ thơ ngắn.

     Qua những khổ thơ đầu, những vẻ đẹp của Hà Nội xưa hiện hình cùng một kiểu lập ý : “có một Hà Nội rất… như là…”  và qua sự tăng tiến của ngôn từ : “rất cũ”, “rất xưa” và “rất thơ”. Chính những phương thức nghệ thuật này đã xếp bức màn thời gian lại cho ta chiêm ngưỡng một Hà Nội đẹp như cổ tích, mang màu sắc cổ điển. Để rồi ta cảm giác như lạc vào một mê cung Hà Nội thơ,  một Hà Nội của thi hứng, của cảm xúc trữ tình. Ta như bâng khuâng giữa “chiều Yên Phụ”, bâng khuâng thả hồn theo : “lối mòn gót cỏ – gánh hàng hoa tan chợ đì về”. Ta nghe hồn mình buông chùng mềm mại theo “những mái đình cong võng điệu thời gian” soi bóng xuống dòng Tô Lịch. Ta say mê ngắm nét bút “như phượng múa rồng bay” của ông đồ nho đang “vẽ chữ bán bên đường”. Ta cũng thả hồn bay theo chiếc lá vàng thu bên Hồ Tây liễu rủ và :  
 
… giọng nói
một Hà Nội cửa ô, một Hà Nội ả đào
ba mươi sáu phố phường
                bờ hồ liễu rủ…

      Hà Nội lung linh trong kí ức được hình thành từ trang văn đã học đã đọc, từ ước mơ là thế.

      Bên cạnh Hà Nội rất thơ lại chen ngang một Hà Nội :

anh vẫn yêu Hà Nội cũ
chưa cầu Thăng Long
không xe cộ ngợp trời
không nhà mái bằng
không chợ người khổ lụy…

      Khổ thơ khẳng định để phủ định. “Anh vẫn yêu Hà Nội cũ” có nghĩa là anh không có một chút tình cảm nào với Hà Nội thực tại, của thời hiện đại, của buổi kinh tế thị trường. Nói như thế không có nghĩa là Hà Nội hiện đại không đẹp. Hà Nội ngày nay vẫn có nét đẹp riêng, nhưng không thể thay thế được vẻ đẹp đã  làm tổ rất lâu trong kí ức tác giả. Đọc khổ thơ này tôi càng thấy rõ cảm xúc của tôi qua tâm tình của tác giả. Năm 1978, tôi lần đầu đến Hà Nội và sau đó trở lại nhiều lần nữa, ngắn thì một tuần, dài thì một tháng. Tôi đã ngỡ ngàng thấy một Hà Nội không trùng khít với  Thăng Long trong những trang văn tôi đã đọc, qua những giai điệu mượt mà tôi đã nghe. Những gì tôi chứng kiến là một Hà Nội thời bao cấp, một Hà Nội thời kinh tế thị trường, bùng nổ việc xây dựng cơ sở hạ tầng, nhà chóp, chợ người đường Giảng Võ,… Cho nên, dù tôi biết Hà Nội nay vẫn đẹp nhưng tôi vẫn đồng điệu với những chữ “không”, chữ “chưa” trong khổ thơ. Và tôi vẫn giữ mãi một lòng yêu Hà Nội cũ như Đinh Tấn Phước, khi bạn khép lại bài thơ, cũng là chốt lại một thái độ, một cái nhìn nghệ thuật về Hà Nội trong thơ:
khi Hà Nội còn trong anh… rất trăng!

     Câu thơ là một khổ thơ, nhưng không tạo cảm giác chông chênh, ngược lại vẫn cân bằng bởi có sự thống nhất tư tưởng, tình cảm của tác giả. Cho dù, thời gian có chảy trôi, không gian có đổi dời, trong tâm hồn của tác giả vẫn luôn hằng hữu một Hà Nội “rất trăng”.

      Và đó cũng là một Hà Nội trong tôi.
  

   HD, 4-12-2011
READ MORE - ĐỌC "HÀ NỘI CŨ" CỦA ĐINH TẤN PHƯỚC - Hoàng Dục