Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Nguyễn Ngọc Luật. Show all posts
Showing posts with label Nguyễn Ngọc Luật. Show all posts

Sunday, April 13, 2014

NGÀY TẾT ĐI CHỢ TỈNH - Nguyễn Ngọc Luật





Làng tôi là một miền quê hiền hòa nằm ven bờ sông Vĩnh, cái nghèo lưu cửu ngự trị nơi đây từ bao đời với những mái nhà tranh xơ xác ẩn mình sau những rặng tre xanh. Thế nhưng tuổi thơ tôi đã trãi qua những năm tháng thật êm đềm và mái tranh nghèo, mãnh vườn nhỏ nơi chôn nhau cắt rốn đã cho tôi những kỷ niệm thật đẹp không bao giờ phai mờ trong ký ức, mặc dù tôi chỉ được vui sống ở quê nhà mười mấy năm. Phần còn lại của đời người là những năm tháng lưu lạc nơi xứ người, mang kiếp tha hương nhưng lòng vẫn canh cánh một nỗi niềm hoài niệm về cố hương và những năm  tháng đẹp nhất của đời người. Thế cho nên mỗi lần nghe tiếng hát Thái Thanh cất lên cao vút “làng tôi không xa kinh kỳ sáng chói, có những cánh đồng cát dài, có lũy tre còm tả tơi…” là lòng tôi như chùng xuống và nỗi nhớ cứ tuôn trào…

 Trong cái se se lạnh của một sóm mai những ngày cuối đông nơi miền Nam nắng cháy này bổng nhiên có những cơn gió hiu hiu lành lạnh, có sương mù bảng lãng buông xuống làm cho cảnh vật như lung linh, mờ ảo khiến cho nỗi nhớ quê nhà như thôi thúc, réo gọi. Ký ức mù sương những tháng ngày thơ ấu xa xưa chợt hiện về như thực, như mơ…

… Những ngày giá rét cuối đông cũng đã bớt đi đôi chút khi có nắng ấm  và những cánh én báo tin xuân về chao lượn trước hiên nhà, những cánh mai vàng đang hé nụ chào đón gió xuân, mùa xuân đang đến thật gần nơi làng quê nghèo. Chị tôi ngoài những lúc phụ cha mẹ công việc đồng áng còn có thêm một nghề phụ nữa là “đổ giá”, tức là ngâm đậu xanh vào những cái thùng, cái đôộc bằng sành, hàng ngày cho nước vào và đổ nước ra khoảng năm bảy bữa chi đó thì đậu xanh trong thùng đã ra mộng và trở thành cây “giá”. Khi “giá” đã đúng ngày chị tôi đổ ra  thúng và gánh ra chợ tỉnh bán. Công việc tưởng chừng như đơn giản nhưng thực ra cũng lắm công phu và phải chắc tay nghề mới làm được, trước hết đậu xanh mua về phải huy động cả nhà chia nhau đổ ra sàng lượm thật kỷ những hạt bị sâu, mọt, teo tóp hay bị bể v.v…nếu để sót những hạt đậu xấu nó sẽ làm hư cả thùng giá, nước đổ giá phải trong và sạch, nếu trời lạnh quá phải đun nước vừa đủ ấm, cho nước vào ra phải đúng thời gian và còn nhiều bí quyết nữa… Cây giá khi đổ ra bán phải dài chừng chỉ một lóng tay, mập mạp trắng ngần như bắp chân em bé, rể không có hoặc thật ngắn và lá mầm chưa lè ra khỏi hạt đậu, nếu không khéo hoặc tay nghề lơ mơ thì giá sẽ hư thối, to đầu hoặc ốm tong teo thì xem như hỏng bán chẳng ai mua thì sẽ lỗ vốn là cái chắc!. Sau này vào miền Nam mỗi lần ăn phở hoặc hủ tiếu nhà hàng mang ra dĩa giá dài ngoằng ốm tong teo và hai chiếc lá mầm xanh lè thò ra ngoài hạt đậu như lưỡi rắn tôi chợt nghĩ.

Miền Nam ăn sang hơn miền Trung nhiều thứ, nhưng về khoản giá sống thì dân Trung “hào hoa” hơn nhiều! 

(Về cái nhận xét này thì tôi đoan chắc hầu hết dân miền Trung đều đồng tình với tôi).

Những ngày giáp tết nhà trường đã cho học sinh nghỉ học, tôi lại có những ngày vui chơi thoái mái và vùi mình trong chăn ấm ngủ nướng mà không sợ bị dựng dậy chuẩn bị đi học, riêng chị tôi thì phải “tăng năng xuất” đổ thêm nhiều lứa giá để có đi bán hàng ngày và có tiền mua sắm tết cho gia đình. Vì quá ao ước được lên tỉnh nên tôi cứ đi theo xin chị cho đi chợ tỉnh, chị thì không muốn tôi đi theo  vì sợ làm vướng chân, nhưng trước sự năn nỉ của tôi cũng như mẹ cũng nói phụ thêm vào nên chị đành xiêu lòng chấp nhận với điều kiện là lên chợ tỉnh không được đi đâu (vì sợ lạc) và không được đòi hỏi mua bất kỳ thứ gì, dù không vui mấy nhưng dĩ nhiên là tôi chấp nhận.

  Thế là suốt hôm đó tôi cứ trằn trọc không ngủ được lòng cứ nôn nao trông chờ trời sáng, phần thì sợ ngủ quên chị tôi sẽ bỏ lại, cứ trăn qua trở về cho đến lúc mệt quá tôi thiếp đi lúc nào không hay. Gà gáy sớm là nhà tôi đã thức dậy, tôi cũng được mẹ kêu dậy, mặc dầu còn ngái ngủ và sợ lạnh không dám tung mền nhưng khi nghe dọa cho ở nhà là tôi bật dậy như có lò xo, vội vàng đi rửa mặt và thay bộ quần áo đẹp vào. Nói cho tội chứ áo đẹp hồi đó là cái áo vải phin trắng có thêu con chim màu xanh nơi túi áo mới được mẹ mua, còn quần thì vẫn chiếc quần dài xanh may đã lâu nhưng khá mới vì chỉ được đem ra mặc vào những ngày “trọng đại”.  Cả nhà người nào việc nấy tất bật, mẹ thì thổi cơm, chị thì đổ giá ra thúng, người khác thì chuẩn bị quang gánh, còn tôi thì cứ ngồi co ro ngắm nhìn con chim xanh trên túi áo một cách thích thú. Chị và tôi ăn qua loa chén cơm nóng với cá kho, sau khi sắp xếp gọn gàng đâu vào đó chị xếp chiếc áo dài bằng phin trắng cho vào thúng rồi quảy gánh ra khỏi nhà, tôi cất bước theo sau.

 Trời vẫn còn tối lắm, trong màn trời đêm giá lạnh những vì sao nhấp nháy và ánh trăng hạ tuần bàng bạc soi đường cho hai chị em tôi.  Hai chị em mò mẩm đi trong đường làng quanh co nhỏ hẹp độ hai cây số thì đến chợ Ngô Xá và lên đường số 8 thì nghỉ lại để chờ những người trong xóm cùng đi. Đây là một giao ước đã có từ lâu, bất kỳ ai trong làng đi chợ tỉnh cũng nghỉ lại khi bắt đầu vào đường số 8 để chờ nhau cùng đi. Làng tôi cách thị xã Quảng Trị chỉ độ 7, 8 cây số là cùng nhưng thời đó sao mà thấy xa lắc, chị tôi cùng bạn bè trong làng quảy gánh đi thật mềm mại, tiếng đòn gánh kêu kẻo kẹt đều đều theo nhịp chân bước, còn tôi thì phải chạy lúp xúp mới theo kịp.

Ra tới cầu Ba Bến thì trời mờ sáng nhưng vẫn chưa rỏ mặt người, chị em dừng lại nghỉ ngơi trò chuyện rôm rả không ai thấy mệt nhọc gì cả, riêng tôi thì mồ hôi đã vã ra ướt lưng áo và bàn chân đã thấy đau ê buốt vì mang dép không quen, tuy thế khi nghe chị hỏi “ Em mệt không” thì tôi tươi cười đáp “Dạ không mệt” cho chị yên lòng.  
 Nghỉ ngơi chốc lát, chị tôi lấy chiếc áo dài trắng trong thúng ra mặc vào, mấy chị em khác cũng thế. Cái thời đó đàn bà, con gái đi ra đường là phải mặc áo dài, cho dù đi ăn giỗ, đi chợ hay đi buôn cũng thế, dù chỉ là chiếc áo dài cũ kỷ bằng vải phin hay popoplin nhưng không có là không được!

Trời sáng dần, trên đường đã có nhiều người đi bộ và xe cộ qua lại, tôi vẫn chạy lúp xúp sau lưng chị và được thấy cái dáng thật mềm mại, uyển chuyển của chị trong tà áo dài, những bước chân đều đặn với đôi quang gánh trên vai.

Vào tới Góc Bầu đặt chân lên đường nhựa là đã bước vào địa phận thị xã Quảng Trị. Hồi đó  thị xã Quảng Trị thật ra rất nhỏ bé nhưng dưới cặp mắt của đứa bé nhà quê mười tuổi như tôi lần đầu lên tỉnh thì thấy nó lạ lẫm và to lớn lắm, chân bước mà mắt cứ nhìn chớp ngớp bên nọ sang bên kia. Ở nhà ngày qua ngày chỉ thấy toàn nhà tranh núp dưới những lũy tre già và đường làng nhỏ hẹp quanh co với đồng lúa, nương khoai, bạn học thì áo quần tềng toàng, nhếch nhác, đi chân đất lấm lem bùn. Ra đây như lạc vào một thế giới khác trông cái gì cũng sang trọng, nhà cửa thì san sát bán hàng hóa đủ thứ và chất đầy nhà, phố xá thì  xe cộ tấp nập, người ngược kẻ xuôi áo quần đẹp đẽ. Đoạn đường từ Góc Bầu đến cửa chợ không biết bao xa nhưng tôi cứ vừa đi vừa ngó ngang ngó dọc nhiều lúc muốn đâm sầm vào người đi ngược chiều, chị tôi sợ bị  xe đụng cứ nhắc nhở tôi hoài.

 Hồi đó hàng giá của chị tôi bán ở cửa chợ đường Phan Bội Châu, khi chị tôi đến nơi ngồi bán hàng thì tôi chỉ được phép di chuyển trong bán kính mười mét, tức không được ra khỏi tầm mắt của chị vì chợ tết tấp nập kẻ bán người mua đông đúc nên tôi mà đi lớ ngớ lạc mất thì khốn! Vậy là trong lúc chị bận bán hàng thì tôi đứng bên cạnh ngắm nhìn các cửa hiệu chung quanh. Tôi còn nhớ hiệu ảnh LIDO phía bên tay phải có chưng thật nhiều ảnh lớn có nhỏ có mà cô cậu nào trông cũng thật đẹp, có một dãy nhà lầu đề tên là “Trung Hoa hội quán” với những cửa hiệu bán bia, nước ngọt và hàng tạp hóa. Phía sau lưng hàng giá là tiệm tranh kiếng Phúc Thịnh treo đầy những tranh vẻ vào gương thật đẹp và lạ mắt, tranh vẽ hai con chim có hình trái tim và dòng chử “sắt cầm hòa hiệp” hay “loan phụng hòa minh” người ta mua để đi tặng đám cưới, còn tranh vẽ những chú nai uống nước bên dòng suối dưới ánh trăng vàng đề chử “tân gia đại cát” người ta mua để đi tân gia…Phía trước mặt là hai tiệm vàng Kim Yến và Tân Mỹ nhìn vào thấy chóe mắt vì nào là nhẫn, giây chuyền, vòng vàng… sáng lóa trong tủ lại thêm các mặt kiếng tủ đều tráng thủy nên nhìn vào thấy trùng trùng, điệp điệp cơ man nào là vàng. Hồi đó trong trí óc non nớt của tôi chỉ nhìn ngắm mà trầm trồ thôi chứ chưa hề nảy sinh sự ao ước được sở hửu những nữ trang quý giá này.

Cứ thế, thời gian dài nên tôi tha hồ ngăm nhìn và để cho trí tưởng tượng bay bổng và thấy thật thích thú, có lúc trí tò mò thôi thúc không cưởng được tôi mon men đến trước mấy hàng vàng hoặc hiệu ảnh LIDO mà xem cho đã. Có lẽ thấy bộ dạng ngố ngáo của thằng bé nhà quê không có gì nguy hiểm nên những người đàn bà sang trọng môi son má phấn, tóc phi-dê quăn tít ngồi trong quầy không thèm đuổi đi chăng?!

 Khoảng mười giờ là chị tôi đã bán hết sạch mấy thúng giá và kéo tôi đi theo mua một ít hàng tết cho gia đình, sau cùng là đem tôi đến nơi bán xi-rô xanh xanh, đỏ đỏ ở góc chợ mua cho tôi một ly. Tôi uống ly xi-rô ngọt ngọt, chua chua với cái lạnh của nước đá làm buốt răng nhưng mà cũng thật thích thú “ngậm mà nghe” vì ở nhà cả năm cũng không biết mùi vị nước đá như thế nào! Tiếp theo là mua hai ổ mì xíu gói trong giấy đem về để hai chị em ăn dọc đường, ghé vào ông già bán  tò he mua cho tôi mấy con tò he nho nhỏ được nhuộm màu vàng xanh tím đỏ trông thật bắt mắt để tôi chơi trong mấy ngày tết và hãnh diện đem khoe với mấy đứa bạn nhà quê hàng mua tận chợ tỉnh!, cuối cùng là một cây cà-rem đá vừa đi vừa mút trên đường theo chị về nhà…

 Một buổi đi chợ tết thuở bé thơ của tôi chỉ có vậy mà sao mỗi lần được chị cho đi theo là tôi cứ nôn nao mong ngóng. Giờ đây đường đời đã ngã bóng về chiều, mấy mươi năm lưu lạc đất khách quê người mỗi lần nhớ lại chuyện đi chợ tỉnh ngày tết lòng tôi lại nôn nao một nỗi nhớ nhung khó tả…

                                                        Nguyễn Ngọc Luật
                                                     pt.tamle@yahoo.com.vn

READ MORE - NGÀY TẾT ĐI CHỢ TỈNH - Nguyễn Ngọc Luật

Thursday, December 6, 2012

CÁI TÌNH CỦA VÕ VĂN HOA TRONG “PHÙ SA TÌNH” - Nguyễn Ngọc Luật


Tác giả NGUYỄN NGỌC LUẬT

            

Tháng 11 năm nay Võ Văn Hoa vào dự đám cưới cháu đang dạy học ở trường THPT Trần Phú, luôn tiện có ghé nhà thăm và tặng tôi một tập thơ của anh mới xuất bản: “Phù sa tình”.

Là bạn thân của Hoa nên thơ của anh tôi đã đọc nhiều từ “Còn ta với mình” đến “Gió cuối mặt sông” và những bài thơ đăng trên các báo, tạp chí…Thật tình mà nói thích cũng nhiều mà không thích cũng có.

Đọc hết 90 bài thơ trong “Phù sa tình” mới cảm nhận cái tình của Võ Văn Hoa bàng bạc trong hầu hết những bài thơ ngắn, kiệm lời nhưng hầu như bao phủ hầu hết các đề tài mà anh đề cập trong tập thơ.

Tình yêu trong thơ của Hoa không nồng cháy mãnh liệt mà tinh tế, thâm trầm, đọc thơ của Hoa chúng ta dễ cảm nhận một điều là anh thường đối cảnh sinh tình hay mượn cảnh tỏ tình để diễn đạt cảm xúc của mình. Rất nhiều địa danh được đề cập trong thơ anh, nhiều nhất là ở quê hương anh như Diên Sanh, Thi Ông, Hải Lăng, Cam Lộ, An Thơ, Ngô Xá, Hội Yên, Lương Điền… xa thì ra tới miền Bắc như “Khúc ca sông Hồng” cho đến nơi tận cùng cực Nam của đất nước như “Lý chờ mong đất Mũi”, lên tận cao nguyên như “Pleiku”

Chủ đề của mỗi bài thơ Võ Văn Hoa thường đề cập đến một miền quê  nào đó nhưng lại khéo lồng ghép cái tình của mình vào từng câu chữ nên tình đất, tình người trong thơ anh hòa quyện lẫn nhau làm cho cái tình trong từng bài thơ tuy đằm thắm dịu dàng nhưng rất nồng nàn sâu lắng. Ta hãy nghe anh bắt đầu từ một con sông nơi đất Bắc.

                                    Tôi mê say
                                    Nón thúng quai thao, áo tứ thân giã bạn
                                    “Người ơi, người ở đừng về…”
                                    Khi xa rồi bên nớ bên tê
                                    Giọng miền Trung em hiểu rồi anh đừng phiên dịch!
                                                                        (Khúc ca sông Hồng)

Cho đến tận đồng bằng sông Cửu Long cái tình của anh mênh mang nơi miền sông nước, đầy vơi theo con nước lên, ròng…

                                    Đêm hoang tưởng sông phù sa chín nhánh
                                    Đêm nghe đuôi cá quẫy con nước ròng lành lạnh
                                    ………………………………………………….
                                   “Cù lao tràm” một thời để nhớ
                                    Sông Tiền trong anh bên bồi bên lở
                                                                        (Sông phù sa chín nhánh)

Trở lại với quê hương nơi mảnh đất miền Trung gió cát, đất đai khô cằn sỏi đá, thời tiết khắc nghiệt, mùa đông rét như cắt thịt, mùa hè gió Nam Lào khô khốc, nắng cháy da người, tình của anh càng sâu đậm, mặn mà, được biểu hiện hết sức chân chất, mộc mạc không điệu đàng, bay bướm.

                                    Dẫu qua tháng nắng ngày mưa
                                    Ô Lâu trầm mặc thuở chưa biết buồn
                                    Sông dài hút phía hoàng hôn
                                    Lở bồi bến gió, bồn chồn bờ vai
                                                                        (Bờ sông phía Lương Điền)

Với dòng sông Vĩnh Định quê anh thì cái tình lại càng mênh mang, thấm đẩm tình quê nhưng lại bàng bạc một nỗi buồn sương khói như khói sóng trên sông của Thôi Hiệu trong “Hoàng hạc lâu”.

                                    Ấu thơ gan ruột bời bời
                                    Ai còn tắm mát? Ai lời giao duyên?
                                    Ai còn lỗi một lời nguyền
                                    Bến sông ngấn nước, khói tuyền mờ xa
                                                   (Nghe em hát “Vĩnh Định ơi ta về”)

                                    Thơ bay lên em về ghép nhạc
                                    Như hồng hoang sương khói quê nhà
                                                                        (Đường xưa)

Với bài “Em như mây trắng bềnh bồng” thì còn nguyên chất thô mộc, chân quê, cái tình của thơ anh rất nồng nàn, hồn nhiên và cũng rất thắm đượm cái chất quê không lẩn vào đâu được. Lời nhắn gởi ở hai câu cuối để lại cho người, cho ta một thoáng hoài niệm về cố hương.

                                    Về quê “canh ám làng Lam”
                                    Còn nghe hương vị “mắm đam Trà Trì”
                                    Tôi người gốc gác làng Thi
                                    Chung dòng sông Vĩnh thiên di nụ hồng
                                    Còn đây cỏ nội hương đồng
                                    Em như mây trắng bềnh bồng về đâu?
                                                            (Em như mây trắng bềnh bồng)

Khi viết về quê hương, tình cha mẹ, nghĩa thầy trò, tình bằng hữu, Võ Văn Hoa cũng tuy kiệm lời nhưng rất giàu cảm xúc. Một cảm xúc rất thật của một người sinh ra từ một làng quê nghèo khó, bao nhiêu năm tháng chứng kiến tình cảnh của cha mẹ chịu thương chịu khó, tảo tần một nắng hai sương để cho con cái được cắp sách đến trường và hôm nay anh đã thành danh, thành nhân.

                                    Mỗi lần qua chợ Diên Sanh
                                    Dừng chân
                                    Mua quà cho mẹ
                                    Nước
                                             mắt
                                                    tràn!
                                                            (Mỗi lần qua chợ Diên Sanh)

                                    Nhớ ngày đến trường
                                    Mẹ thổi cơm sớm
                                    Cha đưa các con qua truông Cu Hoan hằng năm trời
                                    Mong con học cái chữ làm người!
                                                            (Lai rai cùng chú em Võ Văn Luyến)

                                    Đêm nay con về với mẹ
                                    Lúa ngậm sữa, sương rơi thật khẽ
                                    Đêm làng Thi chan chứa đời người
                                                                        (Sinh nhật)

Đối với bạn bè, Võ Văn Hoa sống chân thành và nhiệt tình, không cầu kỳ, đưa đãi.

                                    Này bạn nâng ly ngày tao ngộ
                                    Mừng đất quê nhà bao đổi thay
                                    Tạm gác chuyện xưa nhiều gian khổ
                                    Lên ngựa ta đi trọn kiếp này!
                                                                        (Bạn từ miền Nam)

Với bạn bè đã khuất thơ anh chất chứa nhiều tâm sự, những lời thì thầm như sự kết nối truyền thông giửa người còn và kẻ mất, mặc dù âm dương cách biệt.

                                    Sống khôn ta đã từng say
                                    Thác thiêng nào dễ chia tay hồng trần
                                                            (Viếng mộ “Đạo sĩ” Võ Thìn)

Tôi cho bài thơ “Viếng mộ ‘Đạo Sĩ’ Võ Thìn” là một bài thơ rất hay, ngắn gọn nhưng súc tích chan chứa tình cảm, bàng bạc trong mỗi câu thơ lẩn khuất một nỗi ưu tư về sự vô thường của kiếp nhân sinh.
        
                        Vây quanh nấm mộ tần ngần
                                    Khói hương quyện giửa phù vân kiếp người
                                                            (Viếng mộ “Đạo sĩ” Võ Thìn)

Thỉnh thoảng Võ Văn Hoa cũng vượt qua cái ước lệ “tức cảnh sinh tình” mà có những câu thơ bay bổng, phiêu bồng, bãng lãng như mây trắng cuối trời.

                                    Ta còn lại tháng ngày thơ bé
                                    Chùm thơ xuân mộng mị bên trời
                                    Em còn không lá rụng ven đồi?
                                    Tình áo trắng phai mùa xa vắng!
                                                                        (Thơ xuân ngày cũ)

                                    Gửi em một đóa trà mi
                                    Một hương tóc biếc một thì xôn xao
                                                                        (Thu đã sang mùa)

                                    Miền sương ngọt đã xoay vần
                                    Tôi nghe đồng vọng bước chân ai về…
                                                                        (Tháng tư về Cam Lộ)

Đời thường Võ Văn Hoa là một nhà giáo mô phạm, nhưng những lúc chén tạc chén thù cùng bạn bè anh bộc lộ là một người thích đùa, nghịch ngợm, dí dỏm pha chút tinh quái và anh đã đem vào trong trang thơ của mình.

                                    Tôi về trong cõi mù sương
                                    Một vầng trăng khuyết, một đường cong khuya!
                                                  (Nghe Uyên Linh hát “Đường cong”)

                                    Nghe phụ nữ Hội Yên ghê lắm
                                    Chẳng thua gì sư tử Hà Đông
                                    Tôi bươn chải ghé về cho biết
                                    Hóa ra là sắc sắc không không!
                                                                        (Đàn bà Hội Yên)

Cao hứng anh còn làm thầy bói, nói nhăng nói cuội rồi tự trào:

                                    Mai kia về hưu nhiều việc
                                    Làm thầy coi cưới…nghêu ngao
                                                                        (Thơ đùa mùa cưới)

Về bút pháp thể hiện Võ Văn Hoa sở trường với những bài thơ ngắn, với những câu thơ ít chữ, kiệm lời. Thơ anh chân chất, dung dị, hồn nhiên mà thâm trầm sâu lắng. Trong tập “Phù sa tình” anh có thử nghiệm thơ văn xuôi với những câu thơ dài như trong bài “Hình thức mới” hay “Nốt nhạc trầm” nhưng xem ra không được thành công lắm!

   Với Võ Văn Hoa, tôi là bạn từ thuở chung trường chung lớp từ thời học cấp ba trường Nguyễn Hoàng, lại là đồng hương cùng uống chung dòng nước sông Vĩnh Định, cùng đi chung trên con đường rợp bóng tre xanh bên bờ dòng sông tuổi thơ ấy. Là bạn nên tôi đọc thơ Võ Văn Hoa và ghi lại đôi dòng cảm nhận mà không hề có ý định phê bình, nhận định gì cả (việc này đã có các nhà lý luận phê bình văn học) mà nghĩ sao viết vậy, chân tình, mộc mạc, không hoa mỹ, cầu kỳ hay văn chương trau chuốt, bóng bẩy. Dĩ nhiên những cảm nhận này có người đồng tình, có người không, cũng như thơ của Hoa có người thích có người không. Nhưng suy cho cùng thì cái nghiệp văn chương, thơ phú nó như thế, tất cả chỉ còn lại cái TÌNH còn hay, dở; khen, chê…cũng chỉ là phù vân hư ảo, biến hóa giữa đôi bờ mộng, thực, mà “chung quy mộng, thực cũng vô thường!”

Cho nên đành phải dùng chính lời của Võ Văn Hoa mà nhắn lại cùng bạn, ưu tư làm gì khi mà.

                                    Ai người trong cõi vô minh,
                                    Mạc sầu tiền lộ nhân sinh cuối trời
                                                                        (Cây da)

                       Thế cho nên đành phải tự an ủi
                       Chuyện đời bao kiếp hư vinh
                                   Riêng người thơ của chúng mình…can chi
                                                                        (Thu đã sang mùa)
                                                                                  
                                       Những ngày chớm Đông Nhâm Thìn
                                       Nguyễn Ngọc Luật

------------------
* PHÙ SA TÌNH - Tập thơ của Võ Văn Hoa - NXB Hội Nhà văn- 2012
READ MORE - CÁI TÌNH CỦA VÕ VĂN HOA TRONG “PHÙ SA TÌNH” - Nguyễn Ngọc Luật

Tuesday, November 20, 2012

DẤU ẤN KHÓ PHAI - Nguyễn Ngọc Luật

Tác giả NGUYỄN NGỌC LUẬT


        Năm 1970 tôi bước chân vào lớp 10C trường Nguyễn Hoàng, mặc dầu đã có bốn năm đệ nhất cấp ở trường, tức là thuộc hàng ma cũ nhưng tôi vẫn thấy ngỡ ngàng và rụt rè không khác mấy với cái ngày đầu tiên bước chân vào lớp đệ thất 2 năm 1966. Bạn cũ từ lớp đệ tứ2 lên cùng lớp chỉ có một số ít, còn lại là có quá nhiều khuôn mặt mới, một số bạn từ các lớp dưới lên, một số khác từ các trường quận và trường tư mới chuyển vào. Vì tính chất đặc thù của dân ban C nên lớp tôi thật muôn màu muôn vẻ, trăm hoa đua nở.
         Quý thầy cô dạy chúng tôi hồi đó rất được học trò yêu mến vì sự tận tâm tận lực giảng dạy và sự thương yêu học trò. Những thầy cô ghi dấu ấn sâu đậm nhất lớp tôi hồi đó ngoài cô giáo chủ nhiệm dạy văn ra còn có thầy dạy Anh văn: Thầy Trần Ngọc Cư
         Bốn mươi năm trôi qua, giờ nhìn lại, hồi tưởng về một thời dấu yêu ngày ấy cho dù kỷ niệm có sâu đậm đến đâu cũng đã nhạt nhòa theo năm tháng, cái nhớ thì ít, cái quên thì nhiều. Nhưng nhắc đến thầy thì điều đầu tiên ai cũng cảm nhận được thầy là một thầy giáo dạy giỏi, tận tụy với nghề, ở trường thầy luôn được phân công dạy các lớp ban C và lớp tôi được học với thầy hai năm liên tục 10C và 11C tức là từ năm 1970 đến ngày tan đàn xẻ nghé năm 1972.
         Lớp 10C của chúng tôi hồi đó ở dãy E nằm gần trại MACV tựa lưng vào sân vận động có cửa sổ thật lớn, khung cửa kẻ ô vuông sơn màu xanh lục. Vì lớp học nằm sát sân vận động đã bị chiếm dụng làm bãi đáp trực thăng phục vụ chiến trường nên mỗi lần máy bay lên xuống thì việc học hành bị ngưng lại, thầy trò ngồi chịu trận bị tra tấn bỡi tiếng kêu đinh tai nhức óc của động cơ máy bay.
         Đầu năm học, thầy Kinh giám thị dẫn thầy giáo dạy Anh văn đến giới thiệu với lớp. Gần bốn mươi cặp mắt đều chăm chú nhìn thầy giáo trẻ dáng người đầm đậm, đặc biệt là mái tóc cắt ngắn để lòa xòa ngang trán như các thành viên trong ban nhạc The Beatles lừng danh và trông thầy khá giống với nhạc sĩ Jo Marcel (Em xin thầy thứ lỗi  vì sau này chúng em thường gọi thầy với nickname như thế không rỏ thầy có biết hay không!)
        Thầy làm quen với lớp bằng một tràng tiếng Anh, cả lớp ngẩn tò te trố mắt nhìn thầy, tôi cũng chỉ hiểu lỏm bỏm đại ý là thầy đang giới thiệu “thân thế và sự nghiệp” của thầy với lớp nhưng không thể dịch nguyên văn được, biết cả lớp không tiếp thu được nên thầy đành chuyển ngữ sang tiếng Việt. Thầy đã có một buổi ra mắt học trò hết sức ấn tượng như thế.
         Thầy có một phong cách dạy học rất đặc biệt, thầy khuyến khích chúng tôi đàm thoại bằng tiếng Anh trong lớp, chú trọng thực hành những câu phức tạp gồm nhiều mệnh đề và cách sử dụng thành ngữ vốn rất phong phú trong tiếng Anh. Bằng phương pháp dạy học sinh động của thầy chúng tôi tiến bộ trong việc học tiếng Anh rất nhanh, những bạn hơi yếu cũng phải nổ lực để bắt kịp chương trình. Cũng nhờ vốn liếng tiếng Anh được học rất bài bản với thầy mà sau này khi ở trong quân ngũ thời gian học ở trường Sinh Ngữ Quân Đội để chuẩn bị du học tôi tiếp thu bài học khá thoải mái.
         Thầy có một điểm rất khác với quý thầy cô khác là hầu hết thầy cô đều xem chúng tôi là học trò (dĩ nhiên!) nên ít ai bàn luận chính trị hay bày tỏ chính kiến với chúng tôi, nhưng thầy thì khác, trong lúc dạy học thầy hay tìm cách bày tỏ chính kiến hay quan điểm của thầy về cuộc chiến tranh đang diễn ra hết sức tàn khốc trên quê hương. Trong khi hướng dẫn thực hành đặt câu tiếng Anh thầy hay nhắc đến quân số của các bên tham chiến, số người thương vong của mỗi trận đánh, số dân thường bị chết trong lúc chiến trận xảy ra. Thường thì thầy nói đến điều đó với một thái độ đau xót cho thân phận dân tộc, quê hương đang ngày đêm bị bom cày đạn xới, nhất là những lúc đang giảng bài thì bị cắt ngang bỡi tiếng máy bay lên xuống sau sân vận động, những lúc như thế thầy thường ra cửa đứng chau mày với vẻ kham nhẫn và sau đó thế nào cũng có một lời phê nào đó rất sâu sắc mà trí óc non nớt của chúng tôi không hiểu hết.
         Mùa xuân năm 1972 cơn lốc của chiến cuộc cuốn chúng tôi mỗi người một ngả, chỉ có một ít bạn tiếp tục việc học hành là có dịp gặp thầy, còn đa số chúng tôi thì xem như chia tay thầy mà không một lời từ giả, sau đó vài năm tôi được bạn bè cho biết thầy đang du học tại Mỹ…
          Thời gian thấm thoát thoi đưa, mới đó mà đã bốn mươi năm trôi qua,mấy năm trở lại đây với sự nhiệt thành của một số cựu thầy trò Nguyễn Hoàng có tâm huyết, cầu nối giửa những người muôn năm cũ được nối lại qua những trang sách, những ban liên lạc CHS NH được hình thành ở những nơi có học trò NH cư ngụ. Thầy trò NH đã có nhiều cơ hội để họp mặt hàn huyên tâm sự, tình thầy trò cũ trường xưa lại thắm đượm hơn bao giờ hết, tôi cũng có đi dự họp mặt nhiều lần nhưng chưa một lần gặp lại thầy. Tôi được bạn bè cho biết thầy đang ở cách đây nửa vòng trái đất, thỉnh thoảng thầy có về gặp được một số học trò cũ trong đó có một số bạn lớp 11C chúng tôi đang ở Sài Gòn có duyên may gặp gở thầy.
         Tôi chỉ được đọc một số bài thơ bằng tiếng Anh của thầy được chuyển Việt ngữ trên những trang sách của trường NH, thời gian gần đây nghe nói sức khỏe thầy giảm sút nên thầy ít về nước. Bao nhiêu năm xa cách giờ đây nhìn lại cả thầy lẫn trò tuổi đời đều đã chồng chất, dòng đời đã bãng lãng bóng hoàng hôn, không biết có còn cơ hội gặp lại thầy không nhưng ký ức về thầy vẫn rất sâu đậm không bao giờ phai nhạt trong tôi.

                                                                          Nguyễn Ngọc Luật

Cù Bị 3, Châu Đức, BRVT. 
ĐT: 01687027065

(Võ Văn Hoa gởi đăng)
READ MORE - DẤU ẤN KHÓ PHAI - Nguyễn Ngọc Luật