Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Lê Quang Thái. Show all posts
Showing posts with label Lê Quang Thái. Show all posts

Friday, January 16, 2026

TẢN MẠN VỀ CAM LỘ - Lê Quang Thái

Di tích Tân Sở tại Cam Ranh, Cam Lộ, Quảng Trị

Ảnh từ bachhoaxanh.com


 

TẢN MẠN VỀ CAM LỘ

Lê Quang Thái 


Bước vào thềm năm mới, tôi nhớ lại câu:

Mã đề dương cước anh hùng tận, Thân Dậu niên lai khiết thái bình

Đất nước đã thống nhất và hòa bình. Bây giờ cầu gì hơn là cầu thái bình, nghĩa cầu cho nước giàu dân mạnh, dân giàu nước mạnh. Những tháng ngày giáp Tết, người dân Cam Lộ khấp khởi mừng vui khi được biết huyện nhà lập lại và đang bắt tay vào việc tiếp tục khai phá một vùng đất trù phú, đầy triển vọng theo đúng quy hoạch đất có bề dày văn hóa lâu đời.

Thật thế, có một nền văn minh Cam Lộ, không nói ngoa theo lối đao to búa lớn đâu. Một số nhà khảo cổ, nhà sử học, nhà nhân chủng học, nhà địa chất đã chỉ rõ từ lâu rồi. Đó là: Linh mục L. Cadière, Khâm sứ Trung kỳ A. Laborde, Linh mục A. Delvaux (cố Vân), ký giả Henri Le Grauclande, R.P.H de Pirey; gần đây là Linh mục La Fontaine, học giả Hàn lâm viện Pháp Trần Minh Tiết (người Cam Lộ), Giáo sư Thái Công Tụng, Giáo sư Lê Trọng Vinh, giáo sư Sơn Hồng Đức, nhà ngôn ngữ Nguyễn Bạt Tụy.

1.Lịch sử hình thành đất Cam Lộ (một chút sử liệu)

Từ đời Lê cho đến đời Nguyễn, Cam Lộ có một quá khứ vàng lụa. Xa xưa lắm, đất này không dính líu nhiều đến chuyện tình của công chúa Huyền Trân. Người Cam Lộ không thừa hưởng sính lễ của Chế Mân dâng hai châu Ô - Lý để nàng công chúa nước Việt về thành Đồ Bàn (nay thuộc tỉnh Bình Định). Tuy vậy, Cam Lộ vẫn nhận hệ quả ít nhiều của mối tình Chiêm - Việt. Hai huyện Triệu Phong, Hải Lăng mới là đất Ô châu.

Nguyên xưa đất Cam Lộ là của người Man. Bờ cõi biên cương nước ta tiếp giáp với nước Xiêm, nước Vạn Tượng…

Theo sách Đại Nam nhất thống chí (tỉnh Quảng Trị), nguồn Cam Lộ xưa gồm hai châu: Sa Bôi và Thuận Bình. Châu Sa Bôi có 11 trang, 60 sách và châu Thuận Bình có 19 sách, 10 động. Đất Cam Lộ ngày xưa bao gồm cả đất Hướng Hóa ngày nay. Giáo sư Phan Khoang, tác giả sách Việt sử xứ Đàng Trong 1558 - 1777, lại nói châu Sa-bôi và châu Thuận Bình. Châu Sa-bôi gồm 10 tổng, 68 xã; châu Thuận Bình có 6 tổng, 26 xã theo bản đồ Thiên Nam dư hạ tập. Ở phần chú tác giả ghi đậm nét: “Xa-bôi [Sa-bôi], Thuận Bình là đất thượng nguồn Cam Lộ, nguồn Sái, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị ngày nay, dân cư là người Man”¹. Do phiên âm tiếng người Man, người nói Sa Bôi, người nói Sa-bôi.

Các triều Lê, Nguyễn có chính sách cai trị riêng đối với người dân tộc. Người Man gọi người Kinh là Cà-lơ chợ và họ tự xưng Cà-lơ động. Cà-lơ là danh từ chung có nghĩa là người (tiếng Pháp để nguyên là Les Ca-lơ). Người Man có tâm hồn chất phác. Buổi ban sơ người Man (tiền thân của người dân tộc Tà Ôi, Vân Kiều, Pa Hy) rất chơn chất. Sau này vì giao tiếp trong thương trường mà giữ “ngón nghề” và cũng biết “sơn quét” nên dần dần trở thành “lịch lãm”, giảm tính chân thật cho khỏi thiệt thòi quyền lợi trong buôn bán, giao tiếp.

Người bản địa biết giữ lễ nghĩa đối với triều đình và vua quan. Hàng năm họ giữ lễ cống trang trọng. Sách Đại Nam thực lục chép:
“Tháng Hai năm Đinh Mão, Gia Long thứ 6 (1807), bảy sách Man ở đạo Cam Lộ vào cống. Bộ Lễ tâu xin cho Thổ tù làm Sách trưởng các sách để thống nhiếp nhau và giữ việc tuế cống hàng năm”.

Trong quá khứ rất gần quan dân Cam Lộ đánh trả quân Xiêm (năm 1941 đổi thành Thái Lan) sang gây hấn, xâm phạm bờ cõi của châu Tầm Bôn dưới triều vua Minh Mạng. Thống chế binh Tượng Phạm Văn Điển, Vệ úy đạo Cam Lộ là Lê Văn Thụy đã chỉ huy cuộc đánh trả vào các năm 1828 và 1834 (sách Quốc triều chánh biên).


¹ Phan Khoang, Việt sử xứ Đàng Trong 1558 - 1777, (Sài Gòn, 1969), 115.

 

Cam Lộ trở thành đạo từ đầu niên hiệu Gia Long (1802). Đứng đầu có Quan đạo, giúp việc có Hiệp thủ. Theo Thực lục, tháng 11 năm Gia Long thứ 7 (1808) lấy Tri bá Nguyễn Văn Ngôn làm Hiệp thủ đạo Cam Lộ. Cùng thời điểm này triều đình Huế cũng đặt chức Hiệp thủ Cửa Eo tức là cửa Thuận An ngày nay. Nói thế để mà thấy rõ tầm quan trọng về mặt quốc phòng của đất Cam Lộ. Từ nơi đây có đường đi thông ra bốn phương, tám hướng, ra Bắc vào Nam, đi khắp cùng Đông Nam Á.

Khoảng đầu thập kỷ 50 của thế kỷ XIX, Nguyễn Văn Tường, người làng An Cư, xã Triệu Phước, huyện Triệu Phong đã giữ chức Tri huyện Thành Hóa, tức huyện Cam Lộ ngày nay. Đến năm 1867, Nguyễn Văn Tường lại được triều đình Huế giao lãnh chức Bang biện Cam Lộ, sang chức Khâm sai Kinh lý Cam Lộ.

Bang biện là lưu quan (chức quan do nhà nước cử đến) do vua sai phái để làm nhiệm vụ quan trọng về quốc phòng và ngoại giao.

2. Từ Nha sơn phòng Quảng Trị đến chiến khu Tân Sở Quảng Trị

Vì tính cách trọng yếu về mặt quốc phòng, năm 1867 triều đình Huế thiết lập Nha sơn phòng Quảng Trị.

Theo biên chế nhà nước, cơ sở cấp nha là thuộc quyền quản nhiệm của trung ương. Nha sơn phòng Quảng Trị được lập năm 1867 trước sơn phòng các tỉnh Quảng Nam, Quảng Bình và Hà Tĩnh. Vẫn theo sách Đại Nam nhất thống chí, nguyên Khâm sai Kinh lý Cam Lộ là Nguyễn Văn Tường xin đặt Nha Kinh lý ở xứ Đồng Mão. Năm Tự Đức thứ 29 (1876) cải làm Sơn phòng nha quản hạt Cam Lộ, gồm hai huyện Thành Hóa (nay là Cam Lộ) và Hướng Hóa.

Sách Đại Nam thực lục (đệ ngũ kỷ, quyển 11) cho biết rõ về chiến khu Tân Sở hình thành từ tháng Chạp năm Quý Mùi (1883) như sau:
“Di chuyển Nha đóng ở sơn phòng Quảng Trị cùng với Nha ở phủ Cam Lộ. Nguyên Nha sơn phòng và phủ Cam Lộ trước đặt ở địa phận xứ Đồng Ngang, huyện Thành Hóa. Quan mật viện lý chỉ ông Nguyễn Văn Tường tâu rằng: ‘Sơn phòng của Quảng Trị có thể làm hậu lộ cho kinh đô. Chuẩn cho quan sơn phòng này xem xét tường tận lại, tăng thêm kinh lý. Quan nói theo coi sơn phòng này cho rằng, địa thế ở đây chật hẹp, đã khảo sát được nơi liền với chỗ đất cũ này là ở trên địa phận xã Bảng Sơn”.

Vua chuẩn lời ý tấu của vị đạo thần. Tương truyền từ trong dân gian rằng xưa kia ở địa điểm mới, có con cầu hoạt động. Cầu là một loại rồng có hai ngà nên gọi là lang cầu. Địa thế nơi đây rộng rãi, có thể thiết lập thành một căn cứ quân sự chuẩn bị phòng khi kinh thành Huế hữu sự.

Một nhiệm vụ khác không kém phần quan trọng của sơn phòng là lo khai hoang lập ấp theo chính sách đồn điền đã có từ thời chúa Nguyễn.

Ban đầu, Nha sơn phòng Quảng Trị vào năm Tự Đức thứ 29 (1876) có đặt Chánh phó sứ, Nha thuộc, viên dịch và cơ lính Đinh Man (10 đội; 456 viên danh). Năm Giáp Thân (1884) lại đặt thêm Tham biện và quan Lãnh binh. Như thế mới biết tầm quan trọng về quân sự, quốc phòng của Tân Sở lớn lao như thế nào. Theo quan chức chế thì chỉ ở bộ mới có chức Tham biện, ở tỉnh mới có chức Lãnh binh hoặc Đề đốc.

Đến đời vua Thành Thái, thực dân Pháp đã “thành công” trong việc đặt nền bảo hộ, Nha sơn phòng Quảng Trị bị bãi bỏ. Còn ai phá chiến khu Tân Sở lần đầu tiên? Đại úy Le Pepit phá hủy san bằng vào tháng Chín năm Ất Dậu (1885). Pepit là quan cấp thấp nhưng dám triệt hạ Tân Sở theo De Courcy, không làm thì lột loong quan ba Tây như chơi.

Ôi! Xứ Cùa “ngọt mít thơm dầu”, nơi có chiến khu Tân Sở, ngày nay thuộc xã Cam Chính, huyện Cam Lộ. Tết này, tôi đăng ký trước xin xã cho ăn Tết để đi tắm làng Tân Sở, Tân Lâm, Tân Trúc, Tân Trại… May ra tìm được sắc phong của ông Nguyễn Văn Tường làm khai khẩn. Nơi đây dân có lập đền thờ Kỳ Vĩ bá quận công – Quận công tước vị cao nhất vì:

Tước hữu ngũ (công, hầu, bá, tử, nam) sĩ cư kỳ liệt

Dân hữu tứ (sĩ, nông, công, thương) sĩ vi chi tiên

 

3. Quê hương là rừng mít ngọt!

Từ miệt đồng bằng phủ Triệu Phong, ở Cửa Việt, Cửa Tùng nông dân, hào kiệt, sĩ phu vọng về Tân Sở, hướng đến Cùa, đến nguồn Cam Lộ:

         Ai lên nhắn với họ nguồn
          Mít non chở xuống, cá chuồn chở lên

Cam Lộ có măng giang, có mít nài. Đặc sản thì nhiều xin kể dọn món mít rất ngọt ngào tình thương. Cây mít có từ xứ Tây Trúc bên Ấn Độ. Chữ madhu là cây mít lan tỏa khắp năm châu thế giới.

Năm 1967, tôi tìm thăm học giả thượng thặng về ngữ học là Giáo sư Lê Ngọc Trụ. Thầy Trụ nói về từ mít. Nào là Việt Nam có tiếp vị ngữ “ít” như (bọ) xít, (nước) xít, (chăn) rít, xa (tít). Riêng từ mít thì gốc gác nó như sau: “Tiếng cổ Slave là MEDU, cổ Anh ngữ là ME(O)DU, cổ Đức ngữ miền Nam là METU, tiếng Ái Nhĩ Lan là MID, và do gốc MELI của Hy Lạp và MEL, MEDLIS của La Tinh mà tiếng Pháp có MEIL (mật ong), MEILLÉ (pha mật), MIELLEUX (ngọt ngào, lời đường mật) và tiếng MÉLASSE (mật mía); tiếng Ý có MEILLE, MELASSE, tiếng I Pha Nho có MIEL, MILOZA, tiếng Cao Ly có MIL, tiếng Nhật có MITU.

Tàu có MẬT, tiếng Quảng Đông là MẠCH; giọng Quan Thoại là , giọng HAKKA (tức nước Hẹ) là MÍT. MẬT tiếng Hán Việt được Việt hóa, âm thanh và có ý nghĩa không biến đổi” (Cour ngữ học của thầy Lê Ngọc Trụ).

Ngày Tết thì có thêm chàng, thêm cả xơ mít, nước mắm mít, cộ mít. Cộ mít là loại bánh có bỏ mít múi khô vào bột, đường mỡ rồi nén cho thành khúc bánh, xong đem cắt thành từng lát. Nếu đem chiêu đãi khách đến mừng tuổi sau khi đã cúng ông bà rồi thì tuyệt. Lẽ tất nhiên, đó chỉ mới một món, còn nhiều món nữa mặn lạt đều có. Người Cam Lộ hiếu khách lắm.

Viết cả đề kể ngông, lời quê chắp nhặt quá nhiều, làm độc giả mất thời gian du xuân, hưởng xuân bất tận. Cầu cho quốc thái dân an và đầu xuân Nhâm Thân như lời trích từ Kinh Thi:

Lạc thổ lạc thổ Viên đắc ngã sở

Dịch là:

Đất đạo đức, đất yên vui Là nơi ta đã được thích lòng

(Nguyễn Văn Mại)

Khí vận mới đã về với đất Cam Lộ, cho hay trời phải chiều người vì DÂN LÀ GỐC NƯỚC. Việc còn lại là làm sao cho huyện Cam Lộ giàu mạnh.

(Tạp chí Văn hóa Quảng Trị. Số 04.1992)

 

 

 

READ MORE - TẢN MẠN VỀ CAM LỘ - Lê Quang Thái

Tuesday, September 10, 2024

GIÁC HOÀNG PHẠM VŨ - Lê Quang Thái

 


Giác Hoàng phạm vũ

Lê Quang Thái

 

Vào tháng hai năm Kỷ Hợi (1839), vua Minh Mạng sai dựng chùa Giác Hoàng tại nơi ở của mình lúc còn là hoàng tử. Sơ đồ kiến trúc ban đầu là một đồ án lớn. Chùa lấy Ngự Bình làm tiền án, toạ lạc trong hoàng thành, cách cửa Đông Nam (Thượng Tứ) khoảng 100 mét. Mặt tiền quay về phía Đông Nam (kiêm Đông) - tức hướng toạ Càn hướng Tốn. Khuôn viên chùa xưa là mặt bằng Tam Toà ngày nay, mà di chỉ độc nhất còn lại là cái giếng cổ.

 

Theo dự hoạch, kiến trúc ban đầu của chùa gồm 6 hạng mục: điện Đại Hùng, điện Đại Bửu, nhà bên tả, nhà bên hữu, hai nhà Tăng, giếng cổ được sửa chữa và xây thêm đình che lợp ngói, rồi dựng bia bên cạnh. Triều đình chọn lựa 500 biền binh để làm.

 

Sách Đại Nam nhất thống chí, xuất bản trước năm 1875, đã miêu tả một cách cụ thể về ngôi chùa vua trên đất vua như sau:

 

"Ở phường Đoan Hà [sic!-Đoan Hòa] trong kinh thành, phía trước là điện Đại Hùng, phía sau là điện Đại Bửu, phía tả là thiền đường, phía hữu là tĩnh trai. Tương truyền địa điểm này là tiềm để của Thánh Tổ Nhân hoàng đế. Sau khi lên ngôi, vua ngự cung Thanh hòa, bèn cho Thiệu Hoá Quận vương Chẩn làm công phủ; năm Minh Mạng thứ 20 đổi cho con Thiệu Hoá Quận vương là Thiệu Khuê ở chỗ khác để lấy chỗ này xây dựng chùa. Bên cạnh chùa có giếng, gọi là Thanh Phương, có bia đá ghi dấu. Năm Thiệu Trị thứ 3, tập thơ Thánh chế vịnh 20 cảnh thần kinh, có một đầu đề "Giác Hoàng Phạn ngữ" khắc vào bia và dựng ở phía đông cửa chùa" (1).

 

Thiệu Hoá Quận vương Chẩn chính là hoàng tử Nguyễn Phúc Chẩn, con thứ 8 của vua Gia Long. Ông sinh năm 1803, mất ngày 05 tháng 9 năm Giáp Thân (26.10.1824), được vua Minh Mạng truy tặng tước Thiệu Hoá Quận vương. Thật ra, năm 1815, khi hoàng tử Đảm được phong Thái tử thì hoàng tử Chẩn được anh ruột cùng mẹ với mình nhường công phủ làm nơi cư trú. Hiện nay, chưa thấy có tài liệu nào nói về việc làm chùa tốn kém bao nhiêu và thi công trong thời gian bao lâu. Sách Đại Nam thực lục đã ghi lại lời tâu của Bộ Lễ vào tháng giêng năm Canh Tý (1840), nhân việc vua Minh Mạng ra Dụ cho đổi tên miếu Hội Đồng ở các địa phương trong nước thành miếu Thành hoàng và chấn chỉnh lại cách thờ phượng tại các làng xã trong nước:

 

“Vua nói năm nay gặp khánh tiết ngũ tuần của trẫm, thần và người đều vui, thần kỳ trong cả nước đều ban cho tế một tuần…"

 

Vua sai các địa phương từ Quảng Bình trở vào Nam hỏi kỹ trong hạt, có nhà sư nào đắc đạo, thông hiểu đạo giáo thì tỉnh cấp cho đến Kinh, kịp tuần tháng tư tụng kinh ở chùa Giác Hoàng 21 ngày đêm, ở Thuỷ Đàn 7 ngày đêm, ở quán Linh Hựu 7 ngày đêm. Rồi thì sư ở các chùa tỉnh Quảng Trị xin tập họp ở chùa Tĩnh Quang [cũng đọc Tịnh Quang] tụng kinh chúc hỗ 3 ngày đêm. Tỉnh thần đề đạt lên. Vua nói: “Khánh tiết năm nay, thần dân đều vui mừng, việc tụng kinh có điều gì mà không nên, hà tất phải tâu xin làm gì” (2) .

 

Tư liệu này đã gợi mở cho người đọc suy gẫm: tại sao lại tụng kinh 21 ngày đêm tại Quốc tự Giác hoàng, 7 ngày đêm ở Thuỷ Đàn (trước bến nước chùa Thiên Mụ), 7 ngày đêm tại quán Linh Hựu trong tháng tư âm lịch?

 

Vua Minh Mạng sinh ngày 23 tháng tư năm Tân Hợi (25.5.1791) tại làng Tân Lộc, tỉnh Gia Định. Năm 1840, triều đình và hoàng gia tổ chức lễ Khánh tiết ngũ tuần, còn gọi là Ngũ tuần đại khánh, tức lễ Vạn thọ mừng vua 50 tuổi. Trong ngày này, hết thảy thần dân trong nước đều vui mừng. Đồng thời, đền đáp ơn Phật, Khâm thiên giám đã chọn ngày Ngũ tuần đại khánh của vua để làm lễ khánh thành Giác Hoàng quốc tự. Chọn dịp tốt để làm lễ khánh thành ngôi Phạm vũ hướng ra mặt tiền kinh thành thì quả thật có ý nghĩa thiêng liêng. Bởi vào thời điểm ấy, việc chấn chỉnh lại cách thờ phượng ở các làng xã đang được nhân dân ủng hộ. Thứ đến là để chuẩn bị đón mừng ngày lịch sử trọng đại của nước Đại Nam: lễ Quốc khánh vào ngày 2 tháng 5 âm lịch. Như vậy, sau 14 tháng khởi công, trước ngày sinh nhật của vua Minh Mạng và ngày quốc khánh đương thời thì ngôi Phạm vũ Giác Hoàng được hoàn thành viên mãn.

 

Thiền sư Nhất Định (1784-1847), họ Nguyễn, người thôn Trung Kiên, tổng An Đôn, huyện Đăng Xương, tỉnh Quảng Trị. Ngài tinh thông Tam giáo, được vua Minh Mạng cung cử giữ chức Tăng cang đầu tiên của hai ngôi quốc tự danh tiếng Linh Hựu và Giác hoàng.

 

Ngoài ra, để dễ dàng nhận rõ diện mạo cảnh quang và vai trò hộ quốc an dân của ngôi Phạm vũ này, cần căn cứ thêm vào tranh mộc bản Đệ thập thất cảnh Giác Hoàng Phạn ngữ (3) và nội dung bia đá có khắc nguyên bài thơ ấy được dựng ở nhà bia bên hữu. Phần chính của bài minh là Ngự chế thi, được chia làm hai phần: văn và thơ.

 

Phần văn cũng là cổ phong, gồm 7 hàng, viết theo thể biền ngẫu. Lời mở đầu là danh hiệu chùa - “Giác Hoàng Tự”. Đoạn còn lại tạo thành 3 liên, mỗi liên gồm 2 câu, ghi lời tán dương công đức và ý nghĩa của việc lập chùa trên dấu xưa - Đô thành dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát. Phần này đọc lên nghe như lời tán trong nghi lễ thiền môn, tiêu biểu là hai câu cuối:

 

“Khai Tam thừa nhi giác ngộ quần sinh,

Văn Tứ đế nhi hoá thông vạn loại”.

(Mở Ba thừa để thức tỉnh quần sinh

Nghe Bốn đế mà hoá thông vạn loại)

 

 

Phần thơ là bài Đường luật bát cú thất ngôn, biến vần “ung” thành vần “ong” hoặc “ông”, để tả tiếng tụng kinh ở chùa Giác hoàng:

 

Phước địa trang nghiêm khởi pháp cung,

Chung tường thắng tích đối khung long

Viên linh bửu tướng quang minh ngoại,

Diệu đế kim cương tưởng tượng trung.

Chứng giác vô ngôn tâm tức Phật,

Chỉ quan nhập định sắc nhi không.

Từ nhân phổ bác quần sinh toại,

Trí tuệ hoằng thâm vạn loại thông.

 

Nghĩa là:

 

Đất phước trang nghiêm mở cửa thiền,

Điềm lành chung đúc cõi trần riêng.

Rạng ngời tướng tốt thường chiêm ngưỡng,

Mầu nhiệm kinh vàng ý tưởng chuyên.

Tâm, Phật miễn bàn người đắc đạo,

Sắc, Không đừng nghĩ lý đương nhiên.

Thương yêu rưới khắp sinh linh khổ,

Sáng suốt vô cùng tận vô biên.

(Trần Đình Sơn dịch)

 

Văn thơ của vua Thiệu Trị vừa là thơ, vừa là nhạc, vừa là tranh họa, vừa là nghi lễ. Người thưởng thức còn như ngửi được hơi văn, giọng thơ truyền cảm sâu lắng, hòa cùng tiếng chuông, tiếng mõ giải thoát.

 

Thần thái của Giác Hoàng Phạm vũ là thế. Tuy bia đá và nhà bia của chùa nay không còn nữa, nhưng Ngự chế thi của vua Thiệu Trị và tranh mộc bản liên quan là những di chỉ văn hoá quý giá hiện vẫn còn được bảo lưu trong thư viện quốc gia và ngoài dân gian.

 

Sách Đại Nam thực lục chính biên không gọi những ngôi nhà lớn nhỏ trong các quốc tự là “toà”, mà gọi là “sở”. Các điện thờ, lầu Hộ Pháp, nhà Tăng, nhà bia, tam quan đều được gọi chung là "sở" theo thuật ngữ quen thuộc mà Bộ Công thường dùng.

 

Bản tâu của Bộ Lễ đề ngày 19 tháng 6 năm Giáp Tuất (1874) chép trong Châu bản triều Nguyễn, đã ghi lại việc Bộ Công kiểm tra chùa Giác Hoàng và lên dự án tu bổ:

 

“Hai ngày trước tiếp phủ thần Nguyễn Hanh tư nói có phái khám 8 sở chùa Giác Hoàng (Đại Hùng điện, Đại Bửu điện, nhà Tăng bên trái, nhà tăng bên phải, Hộ Pháp lâu, nhà giếng, lầu cửa tam quan, nhà bia).”; và “… Chùa Giác Hoàng nên mướn 150 phu, 15 thợ làm trong 1 tháng 15 ngày, chiếu lệ cấp 680 quan tiền (mỗi phu ngày 1 bách, thợ 1 bách 20 văn) gạo 220 vuông (phu ngày mỗi bách, thợ mỗi bách 20 văn)…”

 

"... Các hạng chi [cho] chùa Giác hoàng: ngói miếng 12.700 miếng, âm dương 6.000 miếng, vôi ốc 12.000 cân, mật mía 240 cân, gạch 300 viên, 2.050 đinh sắt đủ loại”.(4)

 

Bản tâu này phải qua 8 chữ ký của các quan có ngôi thứ cao thấp ở Bộ Công, Nội các, Khoa đạo và Trực thần. Quy trình làm việc rất chặt chẽ và cách tính toán của Bộ Công cũng rất chi li.

 

Ngoài ra, các sử thần cũng không bỏ quên những hiện tượng bất thường do thời tiết như sấm sét, gió lốc, mưa bão làm hư hại. Tiêu biểu là vào giờ Thân ngày 19 tháng tư năm Tự Đức 20 (1868), dưới thời Tăng cang Bùi Tín Tại (5), sét đánh đổ đòn dông bên tả cửa điện Đại Bửu khiến cho đầu rồng và vôi gạch bể rơi vào chánh điện, nơi thờ Tam thế. Còn khám gỗ ở phía sau bị hòanh chấn bệ toét ra làm cho đổ vỡ, nhưng tượng Phật có phủ khăn đội đầu và khám gỗ thì vẫn y nguyên. Được tin báo, Bộ Công liền cắt cử thợ đến sửa chữa (6).

 

Ở đây, thiết tưởng chúng ta cũng cần biết thêm về mối quan hệ của Giác Hoàng Phạm vũ và các quốc tự khác với triều đình như thế nào.

 

Trước hết là chức Tăng cang và Trú trì. Tăng cang không chỉ là sắc bằng hoặc văn bằng kèm theo giới đao, độ điệp, mà còn là danh hiệu do vua cấp cho các thiền sư giữ chức Tăng cang hoặc Trú trì tại các quốc tự Linh Hựu, Giác hoàng, Diệu Đế và Thiên Mụ. Các quốc tự khác chỉ có Trú trì mà không có Tăng cang.(7)

 

Hằng ngày các vị Tăng cang bận rộn với công việc tiếp khách là hoàng thân quốc thích, sứ thần các nước, các quan Bộ Lễ…, nhất là vào những dịp có tổ chức các quốc lễ, các đại trai đàn cầu quốc thái dân an, trai đàn bạt độ chiến sĩ trận vong. Ngoài ra các tăng cang còn được Bộ lễ mời dự họp để bổ khuyết Tăng cang, Trú trì khi có nhu cầu. Điển hình như ngày 16 tháng 9 năm Thiệu Trị thứ 2 (1842): Bộ Lễ đã cung thỉnh Trú trì chùa Thiên Mụ cùng chư sơn môn các chùa quan đến họp để tìm một vị sư có đủ tiêu chuẩn về đạo hạnh, trí tuệ và tài năng, có thể đảm đang trọng trách tại quốc tự. Qua nhiều lần bàn thảo, khi đã thống nhất ý kiến thì một tờ trình được soạn thảo và sau đó lập thành bản tấu tâu lên vua. Cuối cùng, Thiền sư Tâm Đoan được tín nhiệm giữ chức Tăng cang chùa Giác hoàng, thay thế Đại sư Nhất Định, xin nghỉ vì bệnh.

 

Một việc khác đơn giản hơn, như chuyện đồ dùng, chén bát, muốn được cấp phát mới cũng phải thông qua Hội đồng do Bộ Lễ giám định. Nhưng cũng có khi không đề nghị cấp mà chùa lại được nhận thêm. Cụ thể: vào ngày mồng 6 tháng 12 năm Tự Đức 32 (1879), Tăng cang chùa Thánh Duyên, Long Quang là Phan Thuỵ Uyển và Nguyễn Đức Nhuận bẩm thưa việc hai chùa này từ trước đến nay chưa được ban cấp khí mảnh, nên Bộ Lễ đã tra cứu sổ đăng kí đồ dùng đã cấp cho các chùa quan, thì thấy rằng chùa Linh Mụ đã được cấp nồi đồng loại 1, 2, 3, 7 tuổi mỗi thứ 1 cái; 1 cái liễn (xanh) đồng 3 tuổi, 300 cái chén, 5 cái ché đất. Riêng chùa Giác Hoàng được cấp: nồi đồng loại 2, 3, 5 tuổi, mỗi thứ 1 cái; 1 cái liễn đồng loại 2 tuổi; 1 chảo đồng lớn; 1 chảo đồng vừa và 5 ché đất.

 

Sau khi các quan Bộ Lễ kiểm kê lại sổ sách thì thấy chùa Giác Hoàng chưa được cấp chén bát giống như chùa Linh Mụ. Tuy không đề nghị cấp thêm nhưng Giác Hoàng lại được châu phê nhận thêm 50 chén bầu; 200 chén thường dùng. Việc gìn giữ của công cũng được buộc rất chặt chẽ: giao trú trì và người bá hộ lãnh giữ, nếu thiếu mất thì phải đền bù (8).

 

Mỗi chùa quan lại gắn kết với một vị vua lúc còn sống cũng như sau khi đã băng hà. Hằng năm, Giác Hoàng Phạm vũ, ngoài việc tổ chức long trọng các ngày lễ, ngày vía Phật, chùa còn được Bộ Lễ giao đảm trách chuyên biện các ngày lễ chúc thọ và huý kỵ có liên quan đến cung vua, phủ chúa:

 

* Ngày 13 tháng 9 năm Thiệu Trị nguyên niên (1841): Quan Nội các Lâm Duy Nghĩa phụng Dụ sai phái cắt cử luân phiên hành lễ tại đại trai đàn một tuần truy tiến Thánh Tổ Nhân hoàng đế (vua Minh Mạng) trong tháng 10. Và vua truyền sắc chỉ:

 

- Phái Hùng Nhuệ doanh là Vũ Khuê tử Tôn Thất Bật (9), Tả Tham tri Bộ Lễ là Phan Bá Đạt chỉ đạo công việc cần bao nhiêu binh thợ, vật liệu, chuẩn cho nha môn ấy tùy nghi ứng xử để công việc được hoàn thành tốt đẹp.

 

- Vào ngày khai đàn, truyền Tôn Nhơn phủ chọn các hoàng thân, tôn thất cùng với hoàng gia luân phiên hành lễ cho thêm phần long trọng.

Đặc biệt, văn sớ dùng để đọc tại các đại trai đàn này đều do viện Hàn Lâm soạn. Đọc đoạn lời trích sau, ta mới thấy được sự cẩn trọng trong việc thảo văn sớ cũng như thể hiện sự am hiểu tư tưởng Tam giáo của các quan xuất thân khoa mục ngày xưa:

 

“... Dưới toà sen vàng, cung thỉnh Hộ Pháp Long Thiên, phong đô tiết chúng. Phục nguyện: bảo hộ mình rồng hằng lành tốt. Thường nguyện: tuổi tiên trường thọ biển vô cùng. Gia quyến hết thảy nhờ trời hộ giúp. Vui thay thừa thuận, phước thọ khương ninh, bách tánh cùng chung hưởng thái bình. Lại nguyện: Từ bi khắp độ, phò hộ rộng sâu. Tất cả chúng sinh đều được hằng sa phước đức. Bốn châu Tịnh độ, trời Cực lạc khắp che. Nghĩa nhờ ơn tế độ từ bi, đều được sức phò trì của Phật”. (10)

 

* Ngày 19 tháng 11 năm Kiến Phúc nguyên niên (1884), Bộ Lễ tâu:

 

“Theo lệ hằng năm gặp lễ Vạn thọ, các chùa quan đều có khai kinh chúc thọ một ngọ và nếu là ngày của Hiếu Ân điện thì hiến cúng tại chùa Giác hoàng, ngày của Long An điện thì hiến cúng ở chùa Diệu Đế, ngày của hòa Khiêm điện thì cúng ở chùa Bửu Sơn [còn đọc là Bảo Sơn], tiền cúng lễ đều do quan cấp (chùa Thiên Mụ thờ 41 án, hằng năm lễ vạn thọ được cấp 40 quan tiền, chùa Diệu Đế 46 án được cấp 32 quan 9 bách; Giác hoàng, Linh Hựu, Thánh Duyên, 8, 9 án hoặc 20 án được cấp đồng đều 20 quan; Long Quang, Từ Ân, Bửu Sơn đều 10 án được cấp 15 quan) do sư chùa ấy làm đơn nhận lãnh, Thị vệ xứ áp nhận hợp với Bộ xét phát. Đến ngày, thuộc viên của ty Thần hộ và Thị vệ xứ chia nhau đến kiểm, Tôn Nhân phủ phái quan Tôn Thất đến hành lễ tại án". (11)

 

 

Trích đoạn vừa dẫn cho thấy, vì lòng hiếu nghĩa, dẫu cho đất nước gặp buổi khó khăn thù trong giặc ngoài vào cuối niên hiệu Tự Đức, nhất là thảm cảnh "tứ nguyệt tam vương", triều đình vẫn tổ chức lễ Vạn thọ và ngày giỗ cho các vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Kiến Phúc, giữ đúng thông lệ đã làm tại 3 chùa quan Giác hoàng, Diệu Đế và Bửu Sơn (tức chùa Kim Sơn ở làng Lựu Bảo hiện nay).

 

Căn cứ bản tâu của Bộ Lễ, ngày 24 tháng 11 năm Tự Đức 36 (1883) thì chùa Bửu Sơn đã được trùng tu vào năm Tự Đức 32 và được xếp vào hàng quốc tự: “Hằng năm gặp đản nhật, xin cho chùa này cũng được chiếu lệ lãnh 15 quan, sắm sửa hiến cúng”.

 

Như vậy, đến năm Kỷ Mão, Tự Đức 32 (1879) thì tại Kinh sư có đến 8 quốc tự: Linh Hựu, Giác hoàng, Diệu Đế, Linh Mụ, Long Quang (tức chùa Vinh Hòa ở gần chùa Từ Ân hiện nay), Thánh Duyên, Từ Ân và Bửu Sơn.

 

Bản tâu của Bộ Lễ còn bổ sung nhiều tình tiết lý thú khác:

 

“Năm mới sắp đến, mồng 2 tháng giêng, ngày của Chấp Khiêm điện, xét ra chùa Từ Ân được trùng tu năm Tự Đức thứ 32 và đã liệt vào chùa quan. Vậy riêng xin chiếu lệ lãnh 15 quan tiền để sắm lễ cúng. Ngày 17 tháng 6, gặp lễ Vạn thọ xin tuân theo lệ cử hành ở hai chùa Linh Mụ, Diệu Đế; ngoài ra về các khoản chùa quan, gặp lễ Vạn thọ có lễ khai kinh chúc thọ xin đình miễn để bớt phiền phức…”.(12)

 

Như thế, quốc tự Giác Hoàng toạ lạc uy nghi tráng lệ ở trong kinh thành Phú Xuân, đã gắn kết thiêng liêng với Đô thành thời chúa Nguyễn Phúc Khoát và các vua Nguyễn.

 

Các hoàng tử Miên Trinh, Miên Thẩm lúc trưởng thành đã được vua Minh Mạng cho lập phủ ở phường Liêm Năng, phía sau lưng chùa Giác Hoàng vào năm 1839. Năm 1847, Tuy Lý Vương ra lập phủ riêng ở phường Tĩnh Phố (nay là phường Vỹ Dạ). Trước năm ấy, Tùng Thiện Vương ra lập Tiêu Viên ở cạnh dòng sông Lợi Nông - An Cựu, để rước mẹ về an dưỡng. Nhà thơ Ưng Bình (1877-1962), cháu gọi vua Minh Mạng bằng cố nội, nhân chứng một thời thấy được cảnh uy nghi của chùa Giác hoàng, năm 1952 đã tìm về chốn cũ mà nhớ lại dấu xưa:

 

“Đến sở Tam Toà thăm bạn mới,

Qua đường Lục Bộ nhớ quan xưa”.

(Dạo chơi trong kinh thành Phú Xuân)

 

Sự đời vô thường, sau đêm trắng lịch sử 22 rạng ngày 23 năm Ất Dậu (1885), kinh thành Huế biến động, quân giặc của tướng võ biền De Courcy đã chiếm cứ hai ngôi quốc tự Linh Hựu và Giác Hoàng để làm trại lính. Nước mất nhà tan, mỗi cảnh chùa phải gánh chịu một vẻ tang thương:

 

“Một mảnh vườn, một trời đêm,

Tiếc thay nhựa sống nỡ đem chôn vùi”.

(Nhất Như)

 

Tập Kinh sư của bộ Đại Nam Nhất Thống Chí, xuất bản năm 1910 dưới triều vua Duy Tân, đã dựa vào bản gốc và bổ sung thêm hai chi tiết:

 

- Niên hiệu Thành Thái triệt chùa, lấy chỗ làm viện Cơ Mật cũng có tên là viện Hội Nghị.

 

- Phàm việc quốc cơ vụ thuộc về quan yếu, cẩn mật thì đều do nơi viện này... Năm Thành Thái thứ 11 (1899) lại dời làm ở chùa Giác hoàng. Quy thức: một tòa chính 3 gian 2 chái có khắc 3 chữ "Cơ Mật viện"... Hai dãy nhà tả hữu đều 15 gian 2 chái.

 

... Toà chính làm chỗ cho quan Tây và quan Nam hội thương chính sự, hai dãy nhà tả hữu làm chỗ cho các quan Hội biện cùng nhau làm việc”.(13)

 

Cơ Mật viện đã bị biến chất. Tại đây có quan Tây, quan Nam luận bàn về chính sự, không phải việc quân cơ. Bảng tên viện được khắc bằng ba chữ quốc ngữ theo mẫu tự mới Latin A, B, C. Cả người viết lẫn người dịch tưởng như đã thấy rõ bản chất cho nên mới lột tả bằng cách đặt dấu nháy nháy (“...”) và đóng khung ba chữ ấy lại.

 

Thế thì viện Hội Nghị có từ năm nào? Dụ ra ngày 15 tháng 8 năm 1898, cho phép mỗi Bộ được đặt một viên chức cao cấp người Pháp để làm việc, gọi là Hội biện hay Hội lý. Mọi quyết định của Bộ phải được viên quan này thoả thuận rồi mới chuyển sang Toà Khâm, sau đó trình lên nhà vua ban Dụ thi hành. Năm 1897, Toàn quyền Paul Doumer gây sức ép, buộc vua Thành Thái bãi bỏ Hội đồng phụ chính, và phải nhận rằng trong các phiên họp của viện Cơ Mật mà không có vua dự thì Khâm sứ ở Trung Kỳ giữ vai trò chủ toạ.

 

Giác Hoàng Phạm vũ bị giặc Pháp chiếm dụng, về sau được trao trả lại thì cảnh chùa lúc này đã trở nên tiêu điều, tàn tạ. Tăng chúng trở về chùa cũ và đại hồng chung của chùa được chuyển giao sở Vụ khố cất giữ. Ngày 20 tháng 8 năm Giáp Ngọ, (1894) tức Thành Thái thứ 6, Thị vệ xứ truyền ý chỉ của đức bà Từ Dũ, giao chuông chùa Giác Hoàng cho Quốc tự Từ Ân. Nhưng không hiểu vì sao qua hơn 10 ngày sau lại có châu phê bắt đình lại. Đại hồng chung vẫn tiếp tục nằm im lìm trong Võ khố cho đến năm 1945 rồi không biết sau này lạc về phương trời nào? Còn 3 tượng Phật Tam Thế và các pháp khí khác thì được thỉnh về thờ và tôn trí tại chùa Diệu Đế. Dưới thời vua Bảo Đại, 3 pho tượng Phật này được Thượng thư Nguyễn Đình Hoè (1866-1944) xin thỉnh lên thờ ở chùa Vạn Phước. Về sau, toà nhà bên phải (nơi tiếp giáp đường Đinh Tiên Hoàng hiện nay) được sử dụng làm viện Bảo tàng Kinh Tế. Ba toà nhà với ba chức năng khác nhau nằm chung trong một khuôn viên bên cạnh Quốc Tử Giám với diện tích 29.069 mét vuông đã được xây thành bao quanh từ năm 1908. Tam Toà này hoàn toàn khác biệt với Tam Pháp ty ở Công Chính đường, một toà nhà ba gian hai chái, được dựng vào tháng 6 năm Minh Mạng thứ 13 (1832). Hai mặt tả hữu và đằng sau đều xây tường và phía trước có bảng khắc 3 chữ Hán "Công Chính đường" nằm ở góc Đông Nam kinh thành, phía Bắc đài Nam Xương và mặt tiền cũng quay về hướng này. Đây là cơ quan dành cho dân ở trong nước đến đánh trống "Đăng Văn" để kêu oan. Tại đây, quan Bộ Hình ngồi giữa, bên tả là quan Đô Sát viện, bên hữu là Đại Lý tự. Vào thời bấy giờ, dân gian cũng gọi dinh thự này là Tam Toà:

 

“Đất Thừa Thiên trai hiền gái lịch,

Non xanh nước biếc điện ngọc đền rồng.

Tháp chín tầng, Thánh miếu, Chùa Ông,

Chuông khua Diệu Đế, trống rung Tam Toà”.

 

Điều Ngự Giác Hoàng hay Giác Hoàng Điều Ngự là danh từ dùng để tôn xưng đức Phật. Để ví tiếng tụng kinh ở chùa Giác Hoàng như pháp âm được phát ra từ kim khẩu của đức Phật, vua Thiệu Trị đã cảm tác bài thơ "Giác Hoàng Phạn ngữ". Trong nhận thức ấy, Giác Hoàng Phạm vũ, một trong nhiều ngôi chùa được vua Minh Mạng dựng nên để thực hiện tâm nguyện loại trừ các tín ngưỡng tà giáo:

 

“Nếu để Tây dương đắc chí, ngũ Kinh không khỏi lửa Tần,

Bằng cho giặc Pháp hòanh hành, lục tặc bám đeo cửa Khổng”.

 

Tiến sĩ Tống Duy Tân, thủ lĩnh phong trào Cần Vương ở Thanh Hoá đã viết như thế trong một bài phú để kêu gọi nhân dân chống giặc ngoại xâm. Việc chọn tên mới Tống Duy Tân để cải đổi tên đường Quốc Tử Giám chạy ngang trước khuôn viên chùa Giác Hoàng cũ thật có ý nghĩa biết bao!

 

Tháng 6 năm 1842, Tùng Thiện Vương (1819-1870) nhân lần hộ giá vua Thiệu Trị ra thăm cảnh đẹp Hồ Tây, ông đã cảm đề bài thơ “Lên lầu Trấn Vũ” nổi tiếng qua một câu tuyệt bút: “Ngũ đại kim môn bán dĩ đồi” (Năm đời của quý đã đổ tuôn). Sỏi đá, vôi vữa, gạch ngói còn biết nói lên tiếng lòng thổn thức, huống nữa là nhân chứng của một thời, nhiều đời đã chứng kiến cảnh bể dâu đưa tiễn cổ kim.

 

Vẫn biết, Tâm đồng cổ tỉnh bất sinh lan, nhưng những người chưa đạt đến sự yên tĩnh của tâm hồn như Thầy Chu Văn An, ngày nay khi đi qua Tam Toà mới, đố ai còn giữ được lòng mình yên bình như giếng cổ. Bởi vì nơi ấy, trong tận cùng sâu thẳm của tâm thức, tiếng vọng của Pháp âm - Giác Hoàng Phạn ngữ, vẫn còn hiện hữu mãi cho đến ngàn sau.

 

L.Q.T

 

-------------------------------------------------

 

1. Quốc Sử quán, Đại Nam Nhất Thống Chí, tập 1, Viện Sử học dịch, Nxb. Thuận Hoá-1992, tr.81-82

2. Quốc Sử quán, Đại Nam thực lục, tập 5, Viện Sử học dịch, Nxb. Giáo Dục, Hà Nội, 2004; tr.464&643

3. Phạn và Phạm là hai cách đọc của chữ

4. Lý Kim Hoa sưu khảo & biên dịch, Châu Bản Triều Nguyễn, Nxb. Văn Hoá Thông Tin, Hà Nội, 2003; tr.432

5. Quốc Sử Quán chỉ ghi thế danh mà không ghi pháp hiệu

6. Lý Kim Hoa sưu khảo & biên dịch, Châu Bản Triều Nguyễn, Sđd, tr.301

7. Sách Ô Châu lận lục cho biết, kể từ thời Hậu Lê, các quốc tự còn được gọi là chùa công (công tự) hay chùa quan (quan tự).

8. Lý Kim Hoa, Sđd; tr.529

9. Tôn Thất Bật được phong tước Tử, một trong 5 tước: Công, Hầu, Bá, Tử, Nam. Doanh là một đơn vị bảo vệ kinh đô cấp Lữ đoàn

10. Lý Kim Hoa, Sđd; tr.113-114

11. Lý Kim Hoa, Sđd; tr.567

12. Lý Kim Hoa, Sđd, tr.567

13. Quốc Sử Quán, Đại Nam Nhất Thống Chí, tập Kinh Sư, Tu Trai Nguyễn Tạo dịch, Nha Văn hoá Bộ Quốc Gia Giáo Dục, Sài Gòn, 1960; tr.87&69,70

Nguồn: lieuquanhue.vn, 21/09/2009.

READ MORE - GIÁC HOÀNG PHẠM VŨ - Lê Quang Thái

Sunday, August 25, 2024

TÊN GỌI CHÙA TỪ ÂN XƯA NAY - Lê Quang Thái



 Tên gọi chùa Từ Ân xưa nay

Lê Quang Thái

 

Hướng về Nam, ở tỉnh Phú Yên, quê hương của Tổ Sư Liễu Quán có chùa Từ Quang, Từ Ân; tại Gia Định thành có chùa Từ Ân và đặc biệt ở cố đô Huế có chùa trùng hợp với tên gọi các danh lam cổ tự thân thương ấy. Từ một thảo am dưới thời Hồng Đức (1470 - 1497), chùa thôn Xuân Hòa trở thành chùa làng Hà Khê, chùa công và quốc tự trải qua 9 đời vua Nguyễn và đã đi vào khúc quanh ngặt ngoèo của lịch sử, rồi cuối cùng theo lối châu về hợp phố trở lại thành ngôi cổ tự soi bóng bên bờ Bắc sông Hương một cách tự tại và thanh thoát như trãi qua một giấc chiêm bao.

 

Chùa Từ Ân tọa lạc tại vị thế thoáng rộng theo địa chỉ số 108 đường Nguyễn Phúc Nguyên, cách đồi Thiên Mụ chẳng bao xa. Lúc sinh thời, cố Đại Lão Hòa thượng Thích Trí Thủ cử mỗi lần lên thăm chùa Linh Mụ, đều dừng chân ghé thăm chùa Từ Ân và ngỏ lời tán thán công đức của Đức Bà Từ Dũ, thế danh Phạm Thị Hằng Nga. Vì kiêng tránh tên húy nên quốc sử bỏ bớt chữ cuối cùng của phương danh ấy.

 

Đức Bà là bậc mẫu nghi, một Phật tử trung kiên để lại tấm gương sáng phụng đạo giúp đời cho con cháu nội ngoại giòng tộc Phạm Đăng ở đất Gò Công, Nam Kỳ đã có duyên lành chọn đất Phú Xuân làm quê hương thứ hai trong đời người. Có một quan hệ tình thâm về huyết thống và đạo thống giữa chùa Từ Ân Huế với các đền thờ Đức Quốc Công (thờ bên ngoại vua Tự Đức) và Diên Phước công chúa (thờ chị ruột vua Tự Đức) và Nam Châu Hội quán, nơi qui tụ những người Nam bộ lập thân, lập nghiệp ở đất Thuận Hóa từ bao đời nay.

 

Sách Đại Nam Nhất Thống Chí, Thừa Thiên Phủ, Tập thượng ở trang 85, ấn hành năm 1961 tại Sài Gòn đã ghi rõ về cội nguồn của chùa Từ Ân như sau:“Chùa Thiên Ấn ở xã Xuân Hòa, không rõ làm đời nào. Đầu niên hiệu Tự Đức, Chương Hoàng hậu quyên tiền trùng tu”(1).

 

Thiên Ấn Tự là tiền thân của chùa Từ Ân Huế ngày nay. Năm Nhâm Tuất, 1862 do vua Tự Đức kiêng tránh chữ “Thiên” cho hợp lẽ trời đất, nhà vua đã cho cải đổi tên chùa theo cách gọi hiện nay để “cầu tự”, có con trai nối dõi ngôi báu. Chương Hoàng hậu vừa là phẩm tước vừa là danh hiệu gọi tắt của Đức Bà Từ Dũ, vợ vua Thiệu Trị. Chùa Từ Ân được đại trùng tu vào đầu niên hiệu Tự Đức đầu năm Mậu Thân, 1848.

 

Về sự tích chùa lấy tên Thiên Ấn là do chùa được xây theo hướng Đông Nam, lấy đồi Long Thọ làm tiền án, sông Hương làm minh đường; nói cách khác là tọa Càn hướng Tốn. Long Thọ là cổng trời, dưới thời vua Minh Mạng có dựng đình Bát giác. Từ độ cao ấy, có thể nhìn rõ kinh thành Huế:

 

“Từ chùa Thiên Mụ đằng xa

Bên kia bến nước vẫn là chốn thân

Tiếng từng dằng dặc lâng lâng

Phá tan làn khói bay lần ra khơi” (2)

(Dạ Bạc Nguyệt Biều – Tùng Thiện Vương)

 

Đứng ở bờ Bắc nhìn về Nam cách ly bởi dòng Hương, đồi Long Thọ trông khác nào một quả ấn lớn do trời đất ban tặng. Vì vậy mà ngôi chùa thôn, chùa làng Xuân Hòa có tên là Thiên Ấn.

 

Vào cuối thế kỷ 15, ấp Xuân Hòa dưới thời Lê Thánh Tông đã trở thành thôn của xã Hà Khê, là tiền thân của làng văn hóa Xuân Hòa ngày nay. Làng này có ngôi chùa cổ tự Từ Ân đã nghiễm nhiên đi vào quốc sử bằng những dấu ấn lung linh gắn liền với những biến cố éo le và nghiệt ngã của lịch sử dân tộc, vào giữa thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20.

 

Tên gọi Từ Ân có nhiều nghĩa khó quên. Ngoài ý nghĩa thậm thâm vi diệu của thuật ngữ Phật học này, tên chùa còn biểu hiện vẻ thanh thoát, xuất phát từ căn nguyên của hai câu thơ ca ngợi cảnh đẹp vườn Thường Mậu, vườn ngự uyển liên quan đến sự tích của việc cày ruộng Tịch Điền (ở phường Tây Lộc), cảnh đẹp thứ 8 trong 20 thắng tích của đất Thần kinh. Vua Thiệu Trị đa tài, nhà vua là nhà thơ nổi tiếng đương thời vừa là nhà thiết kế đô thị tài ba, đã từng quán chiếu về chuyện thực tồn, để sáng tạo hai câu kết của bài “Thường Mậu quan canh” như sau:

 

ẤU TRI GIÁ SẮC GIAN NAN SỰ

HUẤN DỊCH TỪ ÂN PHÚC ĐẢO TỀ(3)

 

Tạm dịch:

 

Ấu thơ một thuở trông cày cấy

Thấm đẫm TỪ ÂN rạng núi sông

 

Trong quá khứ, có một sự kiện trọng đại liên quan đến chùa làng Xuân Hòa mà tiền thân với tên gọi Hà Khê mang tính cách vừa sử thi, vừa văn hiến, vừa tâm linh của cuộc đất dựng chùa.

 

Sách Đại Nam Thực Lục, Tập một do Viện Sử học dịch, ấn hành năm 2004, ở trang 561 đã ghi rõ: “Quý Hợi, năm Gia Long thứ 2 [1803] mùa hạ, tháng 5: Lập đàn ở CHÙA HÀ KHÊ để tế tướng sĩ trận vong”(4).

 

Chùa Hà Khê có phải là chùa Thiên Mụ như nhiều nhà biên khảo về lịch sử chùa Huế đã diễn giải không? Thiết nghĩ đó mới là điều cần suy xét để định vị cho hợp lẽ, hợp lý, hợp tình với văn cảnh cùng nghĩa lý và thực tiễn đời sống, sinh họat xã hội cách đây 206 năm tại miền đất thiêng liêng và trữ tình Hà Khê ở cố đô Huế.

 

Ở miền Hà Khê thời bấy giờ có ba ngôi chùa: 1. Quốc tự Thiên Mụ, 2. Chùa công Long Quang (nguyên được chúa Duệ Tông trùng tu năm 1770), 3. Chùa Hà Khê. Thực trạng hai chùa lớn Thiên Mụ và Long Quang đã bị hư hại nặng nề trong cơn binh lửa. Sách Đại Nam Nhất Thống Chí, Kinh Sư ở các trang 88,89 và 90 cho biết cả hai ngôi chùa lớn Thiên Mụ và Long Quang đều bị tàn phá nặng nề.

 

Bùi Huy Bích (1744 - 1818) đã từng chứng kiến cảnh điêu tàn, ngổn ngang của chùa Thiên Mụ với hai chi tiết tiêu biểu và đắt giá:

 

NGUYỄN GIA THẤT THẾ BÀI CÔNG TẠI

TĂNG XÁ THIÊN GIAN NGÕA BÁN LINH(5)

 

Tạm dịch:

 

Bài vị bảy đời Nguyễn Chúa trơ ra đó,

Tăng xá ngàn gian Già Lam tan nát rồi

 

Người đương thời với họ Bùi, Tiến sĩ Phan Huy Ích thấy cảnh tang thương của chùa chiền ở chốn sơn Khê mà quặn thắt đau:

 

Mùa Đông năm Bính Thìn [1796], tôi [Phan Huy Ích] vâng mệnh đi công cán ở Phú Xuân, từng vãng cảnh thăm chùa [Thiên Mụ]. Trước đây, quan quân triệt bỏ các đền chùa cũ, mùa xuân đem chiếc khánh quỉ vào trong điện, nền chùa còn lại thì san bằng đi để đắp đàn [tế thần đất]”(6).

 

Ranh giới hành chính làng xã thời ấy có thay đổi. Quốc sử thời nhà Nguyễn cho biết chùa Thiên Mụ ở gò núi làng An Ninh, còn hai chùa Long Quang và Thiên Ấn đều ở làng Xuân Hòa. Chùa Thiên Ấn là hậu thân của chùa làng Hà Khê; năm 1803 chùa Hà Khê (chùa làng lấy tên theo địa danh làng xã cũ). Trong những năm chiến tranh ác liệt, Tăng chúng chủ nhân hai chùa Thiên Mụ và Long Quang buộc lòng phải ly tán. Đất nước đại định, ba năm sau, niên hiệu Gia Long thứ 3, 1804 tình cảnh hai chùa công mới bước đầu ổn định sau khi vua Gia Long tôn phong Thiền sư Tổ Ấn - Mật Hoằng, thế danh Nguyễn Mật Hoằng (1735 - 1835), ở chùa Đại Giác ở trấn Biên Hòa làm Tăng Cang quốc tự Thiên Mụ(7).

 

Vậy thì việc các sử thần Nhà Nguyễn chép “LẬP ĐÀN Ở CHÙA HÀ KHÊ” là có dụng tâm dụng ý chỉ tỏ chùa làng Hà Khê là tiền thân của chùa Thiên Ấn. Và tên gọi Thiên Ấn phải có từ sau năm Quý Hợi 1803 mới phải lẽ.

 

Long vị Tổ ở chùa Từ Ân đã khắc ghi: “LÂM TẾ TAM THẬP THẤT ĐẠI LINH HỰU TRÚ TRÌ TRÙNG HƯNG THIÊN ẤN TỰ HÚY TIÊN AN TỰ KHÁNH TƯỜNG ĐẠI SƯ GIÁC LINH NGHÊ TỌA”.

 

Quán Linh Hựu ở phía bắc Ngự Hà trong kinh thành cũng là chùa, Tiền đường thờ Lão Tử, Hậu điện thờ Phật dựng năm Minh Mạng thứ 10, tức năm Kỷ Sửu, 1829.

 

Theo lịch sử quốc tự Thiên Mụ, từ năm 1825 đến 1833, vị Tăng cang điều hành công việc nhà chùa và quốc lễ liên quan đến triều đình Huế và Hoàng gia là Ngài Tiên Giác - Hải Tịnh. Vị Tăng sĩ cao cấp đứng đầu quản nhiệm Linh Hựu quán là Trú trì có quyền hạn và chức phận ngang hàng với vị Trú trì phụ việc cho Tăng cang.

 

Ngài Tổ Sư Tiên An đồng thế hệ với các Thiền sư Tiên Huệ, Tiên Giác đã từng kế tục giữ chức Tăng cang chùa Thiên Mụ từ năm 1823 - 1825 và 1825 - 1833.

 

Nay, dựa vào những cứ liệu lịch sử ấy, thì có thể suy đoán được rằng chùa làng Hà Khê được cải đổi thành Thiên Ấn phải trước năm dựng lập Linh Hựu quán, tức năm Kỷ Sửu, 1829 8.

 

Thực tế lịch sử là như thế, không có sử thần nhà Nguyễn nào khi rửa bút chép quốc sử cả gan dám chép tên gọi quốc tự Thiên Mụ thành chùa Hà Khê cả. Điều này khiến cho một số người viết lịch sử của các chùa ở miền Hà Khê vướng phải nhầm lẫn, làm cho các sinh viên viết luận văn cũng sai lầm theo vì đã nương vào người lội nước đi trước.

 

Đến đây, có thể chốt lại 4 thời điểm lịch sử liên quan đến tên gọi chùa cổ Từ Ân xưa nay. Chùa đã có tên gọi.

 

 

Chùa cổ Từ Ân đã hình thành trên khoảng 500 năm về trước để hôm nay có một diện mạo bề thế, một không gian thoáng rộng.

1. Chùa thôn ấp Xuân Hòa: từ thời Hồng Đức (1470-1497)

2. Chùa Hà Khê: Từ năm 1803 đến 1848

3. Chùa Thiên Ấn: Từ năm 1848 đến 1879

4. Chùa Từ Ân: Từ năm 1879 đến nay.

 

Và như thế, ngôi chùa cổ Từ Ân đã hình thành trên khoảng 500 năm về trước để hôm nay có một diện mạo bề thế, một không gian thoáng rộng.

 

Ngày nay đệ tử chùa và một số du khách xa gần còn ít người biết rõ chùa cổ Từ Ân đã từng là quốc tự.

 

Theo CHÂU BẢN TRIỀU NGUYÊN thì ngày 9 tháng 11 năm Tự Đức thứ 32, tức năm 1879, vua Tự Đức đã châu phê xếp chùa cổ Từ Ân trở thành Quốc tự thứ 7 ở chốn kinh sư.

 

Các quan hội đồng tại triều đã phối hợp làm bản tâu và được vua phê duyệt. Thành phần Hội đồng bao gồm:

 

- Thần Nguyễn Giảng, phụng khảo

- Thần Nguyễn Văn Trang, phụng thảo

- Thần Đỗ Đăng Đệ, thần Nguyễn Văn Thúy, thần Trần Thúc Nhẫn, phụng duyệt

- Phụng đối chiếu: Nội các thần Ngô Quí Đông (kí)

- Đương trực thần: Nguyễn Văn Thân (kí)

- Khoa đạo thần: Dương Quang Trí (kí) (9)

 

Chỉ 7 ngày sau châu phê của vua Tự Đức, triều đình Huế ban tặng cho quốc tự Từ Ân được hưởng quyền lợi và ân sủng như các quốc tự Long Quang và Thánh Duyên.

 

Thế thì, những tư liệu và sách vở đã viết về chùa Từ Ân là ngôi cổ tự được sắc phong “sắc tự Quốc tự” dưới triều vua Thành Thái vào năm Đinh Dậu, 1897 là không còn phù hợp nữa.

 

Thời gian đong đưa, khoa cử Hán học sắp cáo chung vào buổi chợ chiều ở cố đô Huế vào năm Mậu Ngọ, 1918 và cáo chung vào năm sau vào khoa thi Hội năm Kỷ Mùi, 1919. Hoàn cảnh đất nước ta vào thời bây giờ dồn dập chồng chất vô vàn khó khăn, lại thêm nội công ngoại kích, kinh phí nhà nước eo hẹp là một trong những lý do khiến cho triều đình Huế buộc lòng phải giảm thiểu các quốc tự. Năm Mậu Ngọ là thời điểm khó quên của lịch sử chùa Từ Ân trong bối cảnh đất nước đa đoan trăm mối sầu Tây. Nhà chùa được giao hoàn lại cho Sơn môn Tăng già và làng Xuân Hòa phối hợp tiếp quản để tự lo liệu lấy mọi Phật sự. Từ chùa làng trở thành quốc tự 40 năm tròn rồi trở lại theo lối châu về hợp phố là chuyện bình thường đối với các bậc Tăng già trong sơn môn và dân làng Xuân Hòa văn hiến thời bấy giờ rất liễu đạo vô thường. Trước sau, chùa vẫn là chùa, chùa làng, chùa công, quốc tự luôn luôn gắn kết với làng và nước. Lúc sinh thời cố Đại lão Hòa thượng thường nói chuyện bình dị nhưng rất có ý nghĩa: Làm vị Hòa thượng nổi tiếng cũng khổ chớ không phải không đâu. Niềm vui ngày lại ngày là “Tiến vi sư thối vi sư”. Đây là một quan điểm hoàn toàn khác biệt với nhận thức của Nho giáo một thời nổi tiếng: “Tiến vi quan thối vi sư”. Quan điểm triết học Phật giáo qua lời thoại của cố Hòa thượng đã nói lên tinh thần giải thoát của Phật giáo trong hành trình hiện sinh của cuộc sống. Chùa làng, chùa nước đều như nhau vì tất cả đều là chùa: Đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt.

 

Lời dạy của cố Hòa thượng thật thâm hậu, chúng tôi nhớ đời không bao giờ quên mỗi khi suy nghĩ về thuật ngữ “Tự” theo ý nghĩa thâm uyên. Năm trăm năm, hai trăm năm, bốn mươi năm rồi “chẳng sánh sơn tăng giấc mộng trường” (10) mà thôi.

 

Mùa Vu Lan, PL. 2553

L.Q.T

 

Chú thích và chú giải:

1. Đại Nam Nhất Thống Chí, Thừa Thiên Phủ, Tập thượng, Tu Trai Nguyễn Tạo dịch, Nxb, Nhà Văn Hóa, Bộ QGGD, Sài Gòn, 1961, tr.85.

Chùa Từ Ân ở Gia Định có từ năm 1744, Tổ Phật Ý - Linh Nhạc giữ chức trú trì đầu tiên năm 1802.

2. Tùng Thiện Vương (1819- 1870), Nguyễn Phúc Ưng Trình và Nguyễn Phúc Bửu Dưỡng, Nxb Sao Mai, Thủ Đức, 1970, tr. 267-268.

3. Thần Kinh Nhị Thập Cảnh, Thơ vua Thiệu Trị, Phan Thuận An và ctg, Nxb Trung Tâm Bảo Tồn Di Tích Cố Đô Huế & Thuận Hóa, Huế, 1997, tr. 129.

4. Đại Nam Thực Lục, Tập Một, Viện Sử học dịch, Nxb Giáo Dục, 2004. tr. 561.

5. Lịch sử Phật Giáo Đàng Trong, Nguyễn Hiền Đức, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1995, tr.219.

6. Lịch Sử Phật Giáo Đàng Trong, Nguyễn Hiền Đức, Sđd, tr. 220.

7. Đại Nam Nhất Thống Chí, Lục Tỉnh Nam Việt, Tu Trai Nguyễn Tạo dịch, Nxb Nhà Văn Hóa, Bộ QGGD, Sài Gòn, 1960, tr. 87,88,89.

9. Châu Bản Triều Nguyễn (Tư liệu Phật Giáo qua các Triều Đại Nhà Nguyễn 143 năm từ Gia Long 1802 đến Bảo Đại 1945), Lý Kim Hoa dịch, Nxb Văn Hóa Thông tin, 2003, tr. 516-521.

10. Vay ý từ hai câu thơ:

Khả liên nhị bách dư nghiệp

Bất cập sơn tăng giấc mộng trường

(Thường thay cơ nghiệp hai trăm lẻ,

Chẳng sánh sơn tăng giấc mộng trường)

 

Nguồn: loeuquanhue.vn, 26/08/2009

READ MORE - TÊN GỌI CHÙA TỪ ÂN XƯA NAY - Lê Quang Thái

Thursday, August 22, 2024

TRẤN HẢI TỰ, MỘT THỜI SOI BÓNG BÊN CỬA BIỂN TƯ HIỀN LỊCH SỬ - Lê Quang Thái

 

Ảnh từ:  cadao.me

Theo lẽ thường, người có lòng nhân ái ưa thích núi non; người giàu trí tuệ lại ưa thích cảnh sông nước, đầm phá và biển cả mênh mang. Danh thần Đào Duy Từ (1572 – 1634) vừa là thi hào nổi tiếng đầu tiên ở xứ Đàng Trong, đã sáng tác thi phẩm Tư Dung vãn ca ngợi cảnh đẹp của TRẤN HẢI TỰ trên đỉnh núi Quy Sơn có nhiều tên gọi mà phương danh sau cùng là LINH THÁI.

Dân gian ở vùng biển Tư Hiền thuộc xã Vinh Hiền, huyện Phú Lộc quen gọi núi Linh Thái là núi Rùa hoặc núi Cổ Rùa vì hình tượng của núi thiêng này khác nào hình ảnh một con rùa vĩ đại đang vươn mình ra biển Đông. Chùa tháp cổ xưa nay không còn nữa nhưng tàn tích vẫn còn, đặc biệt sử liệu dưới thời các chúa Nguyễn và vua Nguyễn đã ghi chép, miêu tả rõ nét nhất về nhiều hạng mục của ngôi phạm vũ vừa là vương đình qua tác phẩm Tư Dung vãn là một thực tế sinh động, giàu chất sống:

 

Xưa kia ba chữ tốt tươi,

Rằng chuông HẢI TỰ kết vời huyền đô.

 

Hoặc

 

Phật đình nào khác vương đình,

Ngũ vân tán lớn, cảnh tinh thoại trường.

 

Thật sự, hiển nhiên đã có từ lâu đời và xa xưa trên đỉnh núi Lĩnh Thái một ngôi quốc tự mà tên gọi có ý nghĩa rất thâm hậu và thuần túy. Nhưng nay, tiếc thay chùa đã trở thành phế tích tàn lụi theo bóng đổ thời gian, như ý nghĩa của lời vè còn truyền tụng: Đình chùa miếu vũ người ta/ Giao tranh một buổi vậy mà tan hoang trong ký ức hôm nay của người lớn tuổi ở miền duyên hải hôm nay ở cửa biển Tư Hiền lịch sử.

 

Người xưa nói thường thấy núi, nhưng mấy ai biết núi sâu và sâu lắng như muốn nói lên tiếng lòng thổn thức gây xúc động lòng người.

 

1. NÚI LINH THÁI VỚI NHIỀU TÊN GỌI THẦN KỲ

 

Trên núi cao có rùa núi, dưới biển có rùa biển. Linh Thái là con rùa thiêng có mai rùa dùng để bói toán, đoán biết chuyện cát – hung cho chủ nhân mà lo gìn giữ, đề phòng. Ý nghĩa của tên núi có từ năm Minh Mạng thứ 17 (1836), vào thời nước ta đang chuyển mình đổi tên gọi mới Đại Nam vào hai năm sau. Cái tên cũ Hãn Môn nghe ra có âm hưởng không thanh thoát, nhẹ nhàng. Vua Minh Mạng cho rằng tên gọi ấy “không nhã”!

 

Theo chính sử núi lấy tên Quy Sơn được cải đổi từ cái tên dân dã “núi Rùa”. Và núi đã từng được gọi với cái tên thật cao sang Hàm Rồng. Song hành với tên gọi Quy Sơn núi này còn được lấy tên Lệnh Sơn chỉ vì cửa biển ấy có xây đài Hỏa Phong (còn gọi là Hỏa Hiệu) để quân sĩ chuyên lo việc tuần tra cửa biển đốt lửa báo hiệu, mỗi khi thuyền buôn sắp nhập bến trở về, hoặc có việc bất trắc dòm ngó tỏ ý thách thức khiêu chiến của quân thù. Lúc lửa được đốt cháy, lính canh phòng bỏ thêm phân của loài chó sói vào đài lửa để cho khói quyện lên và bay cao như níu các tầng mây.

 

Sách Đại Nam thực lục cho biết hai chi tiết liên quan đến chiến lược và thế trận giữa Tây Sơn và Nguyễn Vương (tức Nguyễn Ánh lúc còn chưa lên ngôi): có chiến lũy ở vùng dưới chân núi Quy Sơn mà năm 1803 đã trở thành lũy cũ, tháng 5 năm Quý Dậu, 1813 vua Gia Long sai dựng đài đốt lửa báo hiệu, báo nguy và lấy tên mới đài Hỏa hiệu thay thế cho đài Hỏa phong ở hai núi Chu Mãi [Chân Mây] và núi Quy Sơn.

 

Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược đánh phá Đà Nẵng. Tháng 3 năm Kỷ Mùi, 1859, vua Tự Đức sai đắp lũy ở bờ bên hữu núi Linh Thái và đặt súng lớn 33 cổ với binh lính 320 để lo việc phòng thủ mặt biển. Nhà vua xem thao diễn trận Uyên Ương. Cuộc tập trận lớn thành tựu, Đại tướng Đoàn Thọ và quân sĩ đến hơn 576 người được ban thưởng, đãi lao trọng hậu.

 

Sau ngày vua Tự Đức băng hà 16 tháng 6 năm Quý Mùi (19-7-1883), Đô đốc Courbet kéo 8 chiến hạm đóng ở ngoài khơi bán đảo Sơn Chà hướng ra kinh thành Huế uy hiếp và đánh phá cửa Thuận An. Một cuộc chiến không mấy cân sức, thủy binh nhà Nguyễn đã bắn đại bác khá chuẩn và rất chuẩn là đằng khác. Đại bác của quân ta bắn trúng tàu chiến của soái hạm chỉ huy của tướng giặc Courbet. Chính người Pháp viết ký sự chiến trường phải thừa nhận. Tiếc thay các người viết sử, nghiên cứu sử không hiểu rõ về “thủy tĩnh học” để biết rõ về mực nước biển ở hai cửa biển Đà Nẵng và Thuận An khác nhau về độ nông sâu, họ (những người viết sử Việt xưa nay) lại tung bút tỏ ý chê trách hải quân nhà Nguyễn này nọ và lại vô tình tỏ lời như khen giặc. Nghe ra mà “khổ tâm” và thương hại cho những loại người ấy. Có đắc tội với lịch sử dân tộc không?

 

Tinh thần chiến đấu của quân sĩ rất cao, chỉ vì gặp lúc quốc tang vua Tự Đức, đình thần thiếu ý chí thống nhất; cầu hòa làm lướt quyết tâm chiến đấu. Tướng tài Ông Ích Khiêm cũng nao lòng trước vận nước, kẻ thù đánh trúng đòn hiểm. Tinh thần chiến đấu lúc lâm trận thật quả cảm, tiếc thay thiếu sự tiếp sức (lòng) đồng lòng. Vè thất thủ Thuận An đã nói lên thực trạng ấy:

 

Lựa người giáo dưỡng anh danh,

Võ cử tùy phái hậu hành rất hung.

Ra tài tả đột hữu xung,

Nhất sanh nhất tử kéo công theo thầy.

Phen này quyết đánh cùng bây,

Thuận An thất thủ trời này hại ta!

 

Từ năm 1858 đến 1883, phòng tuyến miền duyên hải Thuận An cho đến Chân Mây, Tư Hiền bị uy hiếp nặng nề và năm 1947 thực dân Pháp nuôi dưỡng mưu đồ tái chiếm Đông Dương lần thứ hai, chúng đổ bộ lên cửa Tư Hiền, nả pháo phá hoại phòng tuyến, đồn bốt. Đình chùa miếu vũ ở hai danh thắng trên núi Thúy Vân và Linh Thái. Bình phong quân sự, chiến lũy Quy Sơn, chùa Trấn Hải, tháp Điều Ngự… đều nằm trong tầm bắn của quân giặc thì làm sao mà không khỏi điêu tàn: 

 

Đình chùa miếu vũ người ta

Giao chinh một buổi vậy mà tan hoang

 

2. TRẤN HẢI TỰ UY NGHI, LẪM LIỆT THEO DÒNG SỬ VIỆT HÙNG ANH

 

Những danh xưng Quy Sơn, Lệnh Sơn, Hỏa Phong, Hỏa Hiệu, Bình Phong Quân sự, hành cung Linh Thái, tháp cổ Quy Sơn, Trấn Hải Tự như nói lên ý chí và niềm tự hào của dân tộc Việt bất khuất, sáng tạo, tự chủ và yêu chuộng cảnh thanh bình.

 

Núi Linh Thái, núi Thúy Vân, cửa Tư Hiền, chùa Hà Trung… đã nghiễm nhiên đi vào quốc sử: sử Việt và sử Phật hòa chung trong cuộc hành trình mở cõi đất phương Nam. Đền miếu, chùa tháp cổ đã có từ thuở bình minh của xứ Thuận Quảng và xứ Đàng Trong mà ranh giới kéo dài từ đèo Ngang cho đến đất mũi Cà Mau. Một thềm lục địa với vô số đảo, quần đảo với nhiều tài nguyên, tiếp giáp với biển Đông và kể cả Ấn Độ dương. Quốc sử đã khẳng định, sử và ký của vị thừa sai đến nước Đại Việt với nhiều sứ mạng ngoài việc mở đường gắn kết tình giao hảo trong bang giao quốc tế đã từng ghi chép.

 

Gió lành thâm nhập từ biển đã có cho nên vua chúa mới lập đài Huân Phong, gác Đại Từ, tháp Điều Ngự ở núi Thúy Vân. Trấn Hải Tự bao gồm nhiều hạng mục như Bình phong quân sự, đài Hỏa Phong, đền thờ thần núi, thần biển liên quan. Đã có gió lành thì đương nhiên phải có gió chướng, gió độc trái mùa.

 

2.1. Hình ảnh TRẤN HẢI TỰ DƯỚI THỜI CHÚA SÃI NGUYỄN PHÚC NGUYÊN (1613 – 1635)

 

Đào Duy Từ thể hiện thế giới quan của bậc trượng phu, sống theo quan điểm “Cư Nho mộ Thích”. Nho giáo, Lão giáo và thậm chí tín ngưỡng dân gian được sàng lọc, tinh tuyển từ Tam giáo là ánh sáng soi rõ cho bước đăng trình của họ Đào mang túi kinh luân, tài thao lược để giúp đời mà thi nhân đã gởi gắm tâm sự qua tác phẩm Tư Dung Vãn. Thực ra khi sáng tác, Đào Duy Từ không nghĩ rằng mình sẽ lưu giữ tư liệu về ngôi quốc tự trên đỉnh LINH THÁI cho đời sau mà tiền thân là núi Quy Sơn.

 

Sự thế đầy vơi những chuỗi vô thường. Ngày nay Tư Dung vãn còn là nguồn sử thi quý giá. Nếu không đọc đi đọc lại nhiều lần, thì không khéo chỉ biết chùa Trấn Hải vừa là vương phủ sẽ bị đóng khung một cách hạn hẹp:

 

“Là nơi từ vũ nghiêm trang,

Trung trinh hai chữ lửa hương muôn đời.

Đông Tây đều cách vãng lai

Rước ai nọ quán, đưa ai nọ đò

(Câu 51 – 54)

 

Hoặc:

 

Mưa hoa tưới khắp sân may,

Khói hương nghi ngút rồng bay ngất trời

Nghiêm thay tướng pháp Như Lai,

Cao giơ tuệ kiếm, sáng ngời thủy tinh.

Thời lành cả mở hội lành,

Reo đưa gió Phật, quét thanh bụi tà.

Vầy đoàn yếu múa canh ca,

Vượn xanh dâng trái, hạc già nghe kinh.

Phật đình nào khác vương đình,

Ngũ vân tán lớn, cảnh tinh thoại trường.

 (Câu 171 – 178)

 

Từ câu 145 đến 164, tác giả như muốn liệt kê các hạng mục từ cửa Tam Quan, gác Từ bi, đền Tiêu Diêu; có cổ thụ, có tiếng chim hót, có hồ thiên tạo mà được ví như chốn Thiến Thai, chốn Di Đà Tây Thiên, có tiếng chuông chùa Trấn Hải vang vọng đến thủ phủ Phước Yên của xứ Thuận Quảng kéo dài từ Đèo Ngang cho đến núi Thạch Bi ở phía nam Trung Bộ ngày nay.

 

Trong khuôn khổ của bài viết, không thể nào nói hết. Tiếc thay, chỉ mới giới thiệu món ăn khai vị trong bàn tiệc chay ở chốn vương phủ thời Sãi Vương.

 

2.2. TRẤN HẢI TỰ VÀO THỜI CHÚA HIỀN NGUYỄN PHÚC TẦN (1648 – 1687)

 

Phủ chúa thời này đóng tại làng Kim Long, huyện Hương Trà. Thời trị vì của chúa Hiền Vương, xứ Đàng Trong phồn thịnh, kinh tế phát triển, quân dội hùng mạnh; chúa quan tâm sửa chữa, tôn tạo các ngôi quốc tự bị xuống cấp nghiêm trọng vì đó là di sản thiêng liêng, là quốc hồn, quốc túy.

 

Nay đọc sách Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn viết năm 1776, thấy có 2 chi tiết nói rõ đến núi Qui Sơn và quốc tự Trấn Hải trên đỉnh núi thiêng ấy. Đặc biệt chùa vào thời thương còn có tên gọi là Hòa Vinh thuộc xã Hoài Vinh. Không biết xã Hoài Vinh được đổi thành Hòa Vinh vào năm nào. Phải chăng do vì kỵ húy không?

“Núi Qui Sơn ở về địa phận huyện Tư Vinh, gần xã Hoài Vinh.

 

Đại hải bao bọc phía Đông núi Qui Sơn, thiểu hải [biển cạn] ôm lấy phía Tây núi ấy, và phía Nam núi là cửa Tư Khách [nay là cửa Tư Hiền]. Trên đỉnh núi nầy có một cái tháp đá.” (Bản dịch của Lê Xuân Giáo, tr.143-144). Và chi tiết thứ hai cũng ở Sđd, tr.91:

 

“Năm thứ 4 niên hiệu Cảnh Trị (năm Bính Ngọ) [tức năm 1666 sau Công nguyên], chúa Nguyễn Phúc Tần đi chơi cửa biển Tư Dung, và cho xây cất chùa Hòa Vang tại núi Qui Sơn. Chùa này rất rộng lớn và tráng lệ”.

 

Nguyễn Khoa Chiêm viết sách “Nam Triều Công nghiệp chí diễn”, tác giả với danh thần Trần Đình Ân có mối quan hệ thông gia giữa hai họ Trần Đình – Nguyễn Khoa. Không hiểu vì sao, Đại Nam Thực lục chính biên, Tập 1, tr. 81 lại ghi tên chùa trên đỉnh Qui Sơn là HÒA VINH và trong Hải Ngoại Kỷ sự thì Hòa Thượng Thạch Liêm đã phác thảo và gọi tên chùa Hoài Vinh qua hai câu mở đề của bài vịnh cảnh cảnh quang chùa ấy:

 

Đỉnh xưa khắc chữ “VĨNH HÒA NIÊN”

Bên nước biển xanh, mở cửa chiều

 (Bài 3, Tức cảnh)

 

Hoặc như lời kết ở bài 4 cùng tựa đề, cảnh chùa Vĩnh Hòa trên núi Quy Sơn có sức hấp dẫn như muốn lưu luyến du khách hẹn ngày trở lại:

 

Thắng cảnh ngày nay ghi mấy nét

Đăng lâm biết có dịp nào không?

 

Mùa hạ tháng Tư, năm Đinh Mùi, 1667 (cũng là năm trị vì thứ 19 của Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần) niên hiệu Cảnh Thịnh thứ 7:

 

Trước là chúa đi chơi cửa Tư Dung (tên cũ Tư Khách, tức nay là Tư Hiền) thấy núi Quy Sơn (nay là Linh Thái) phong cảnh đáng yêu, trên đỉnh núi có một cây tháp cổ, nổi tiếng linh thiêng, sai Thư bạ Trần Đình Ân đốc xuất quân dân dời cây tháp ấy đi nơi khác, để lấy đất dựng chùa Phật, công việc xong, gọi tên chùa Hòa Vinh. Đến đây chúa ra chơi, mở hội chùa lớn 7 ngày đêm.

 

Đó là hình ảnh lễ Phật Đản vào năm Đinh Mùi, 1667, Phật lịch: 1681. Cách đây 373 năm. Thuở ấy Thiên Mụ vừa là vương phủ; Hà Trung, Trấn Hải là chùa công sách cùng với Sùng Hóa ở làng Lại Ân (gần ngã Ba Sình) đã hình thành một tuyến hành hương xứ Phật từ phía gần thượng nguồn sông Hương cho đến cửa Tư Hiền liên thông với đầm phá Hà Trung có ngôi quốc tự cùng tên gọi. Trước khi cư dân Thuận Hóa – Phú Xuân – Huế nghe chuông Thiên Mụ đúc xong năm 1710 thì diễm phúc tiếng chuông Hải Tự đã vang vọng đến các thủ phủ Phước Yên, Kim Long, thành cũ Hóa Châu soi bóng uy nghi bên sông Bồ của huyện Quảng Điền để cùng nhập lưu vào sông Hương đổ ra cửa EO tức cửa Thuận An lãnh tên gọi này vào năm Gia Long thứ 12 tức năm Quý Dậu, 1813.

 

2.3. CHÙA VĨNH HOÀI hoặc VINH HOÀI TRÊN NÚI QUY SƠN DƯỚI THỜI QUỐC CHÚA NGUYỄN PHÚC CHU (1691 – 1725)

 

Có thể xem chúa Nguyễn Phúc Chu là một nhà chấn hưng đạo phong Phật giáo của xứ Đàng Trong để cho Phật giáo xứ này có quy cũ và hưng thịnh như ý nghĩa Pháp danh của quốc chúa là HƯNG LONG, hiệu là Thiên Túng Đạo Nhân.

 

Bốn sử của Quốc chúa là Hòa thượng Thạch Liêm. Ngài đa tài mà cuối đời chịu nhiêu nỗi trầm luân và oan khiên, phải kham nhẫn chịu đựng thân phận mình một cách tự tại theo phong cách của một bậc hùng tăng. Nghiệp lực chăng?

 

Hòa thượng là quốc khách uyên thâm Tam giáo và còn là một nhà văn, nhà thơ nổi tiếng của Trung Quốc và nước Đại Việt nữa. Cuộc thăm viếng các ngôi danh lam Hà Trung, Vĩnh Hòa (hay VINH HÒA hoặc HÒA VINH) ở Thuận Hóa và Tam Thai ở Quảng Nam của Hòa thượng đã để lại trong dòng sử nước Đại Việt những trang sử lung linh hợp cùng với những năm tháng đẹp tạo duyên lành cho tứ chúng Phật tử xứ Thuận Hóa, từ nhà Chúa cho đến quan lại, con cháu ở các vương phủ Phú Xuân, giới Tăng già Sơn môn và Phật tử đã thọ giới tại chùa Thiền Lâm (tọa lạc ở vị trí đối chênh với chùa Ấn Tôn – Từ Đàm). Trong những tháng ngày huy hoàng ấy, Hòa thượng giữ chức Đường Đầu trong giới đàn lịch sử lớn lao mà Chúa Nguyễn Phúc Chu, Tổ Liễu Quán, các Đại thần và con cháu các vương phủ cùng các Phật tử ở cố kinh được lãnh thọ giới pháp do Ngài truyền tâm ấn trong 3 đợt kéo dài từ mùa sen nở với 7 ngày trước độ trăng tròn tháng Tư năm Ất Hợi, 1695.

 

Sau giới đàn trọng đại ấy, Ngài vân du thăm các chùa công nổi tiếng lâu đời ở Phú Xuân như Hà Trung, Hòa Vinh và Tam Thai ở Ngũ Hành sơn, Hòa thượng mong sớm trở lại quê hương, nhưng đất trời, núi sông và con người xứ Thuận Hóa đã giữ chân Ngài nán lại một thời gian để giữ chức Tăng Cang quốc tự Thiên Mụ và trú trì sắc tứ quốc tự Khánh Vân ở làng Lựu Bảo, xã Hương Hồ, huyện Hương Trà, soi bóng hình ngôi Tam quan và ngôi chùa cổ bên dòng sông Bạch Yến.


Theo lịch trình thì chính thức thăm viếng chùa vua Hòa Vinh ngày 30 tháng 4 năm Ất Hợi, 1695; Hòa thượng Bổn sử của Quốc chúa không ngờ, chiều hôm trước chúa Nguyễn Phúc Chu đến cửa biển Tư Dung cho cất một thủy các giữa dòng, bốn về có chiến hạm vây quanh, chỉ chừa một cửa đi ra để sáng hôm sau chúa vui mừng đón Hòa thượng mà lưu luyến tiễn biệt chia tay. Kẻ ở người đi, nào có buồn không? Hai bên tương đắc thanh đàm quốc sự vừa là Phật sự. Ở thời khắc lịch sử ấy, quốc chúa mới tiết lộ cho biết: “Kiếp trước của Chúa là thầy Tăng” và “Chúa dự định vài năm nữa truyền ngôi cho Thế tử rồi đệ tử đã thọ Bồ Tát giới Hưng Long xuất gia đầu Phật.” Ngôn từ trong bản dịch Hải Ngoại kỷ sự, ở trang 135 là: “Ta sẽ cạo đầu làm sãi vậy.” Một khoảnh khắc thật thâm tình đạo vị, chúa Nguyễn Phúc Chu chân thực trút bỏ được nỗi lòng của mình.

 

Qua cuộc đàm đạo lịch sử ấy, người đọc có một tình tiết lý thú: Quốc chúa Nguyễn Phúc Chu đã “hoát ngộ”, ngoài tên gọi chùa Hòa Vinh, chùa công này còn có tên Vĩnh Hòa và núi Quy Sơn còn có tên gọi là núi Khuê Phong. Ẩn tàng lung linh của ngôn từ chân tình và trung thực qua lời ghi của ký sự: “Lưu luyến thành khẩn, hẹn ngày mai lại thết tiệc tiến hành tại chùa Vĩnh Hòa ở núi Khuê Phong, ở đấy nhìn suốt biển cả, có thể nhìn theo đưa buồm về vậy.”

 

“Bóng mai mờ tỏ, đi lên một gò cao. Đi được một đỗi, sương mù buổi sáng chưa tan, người đứng cách nhau chừng vài thước, chỉ nghe ồn ào tiếng nói; trong tia nắng mặt trời, có lúc chỉ thấy nón đội không thấy nửa người phía dưới, lại có lúc chỉ thấy chân di động. Không thấy nửa người phía trên. Đường cát có nhiều gai giây muống. Đất ruộng phần nhiều trồng khoai. Dân làng có người đương bới khoai và dắt bò cho ăn giây khoai; khoai có củ rất lớn, đường kính độ 3,4 tấc, vì đất cát mềm trồng khoai rất hạp vậy. Đến chân núi, phu lính nghỉ xả hơi để trèo đèo. Theo đường quanh co đi lên, đường đèo làm tùy theo chỗ đất chỗ đá, ở triền núi dốc có trồng lan can để đề phòng nguy hiểm, đều phải quét dọn sạch sẽ. Bậc phu lau mồ hôi thở hổn hển. Trong rừng cây đã nghe tiếng chuông trống rất gần, nhưng đi quanh mất hàng giờ mới đến. Chùa Vĩnh Hòa cất trên chóp núi, tuy không mấy tráng lệ nhưng cũng kiên cố chỉnh tề, khuôn khổ ở núi chỉ phải làm như vậy. (Sđd, tr.135)

 

Tiếp nối đường đạo chân chính, con cháu có cái chủng tử giống tổ tiên của mình, vua Minh Mạng nhận biết kiếp trước mình cũng là “Tăng sĩ” như quốc chúa Nguyễn Phúc Chu vậy.

 

2.4. TRẤN HẢI TỰ DƯỚI THỜI VUA MINH MẠNG (1821 – 1840)

 

Tin tưởng và tin tấn tu hành thì sẽ tự nhận biết tiền kiếp cao sang, vua Minh Mạng đã xây chùa Giác Hoàng, quán Linh Hựu trong kinh thành Huế vào năm 1829 và năm 1839. Đó là hai ngôi quốc tự ở trong lòng Xuân Kinh, không những vua chúa, hoàng gia, đại thần mà sứ thần các nước trước khi được triều thần và hoàng đế nước Nam tiếp kiến đều được có duyên lành đến hành lễ, chiêm bái tại hai ngôi quốc tự này. Cho dù lòng dạ sứ thần không trong sáng, khéo ẩn tàng che dấu sự bất chính thì họ khó lòng vượt qua được lối quán chiếu soi xét của các bậc minh sư là Tăng Cang và Trú trì cùng Tăng chúng thường trú tại hai ngôi phạm vũ vừa như là vương đình ở chốn đế đô.

 

Trưởng thành trong gian lao, Thái tử Nguyễn Phúc Đảm sớm giác ngộ chính đạo. Trị vì ở tuổi 30 nhà vua đã xây dựng mới và tôn tạo các ngôi chùa vua ở chốn kinh thành và các trấn thành khác trong nước. Năm Minh Mạng thứ 17, tức năm Bính Dần, 1836 trùng tu chùa Thánh Duyên ở núi Thúy Hoa (Thúy Vân dưới thời Thiệu Trị), chùa Trấn Hải ở núi Linh Thái nằm về phía tây của biển Tư Hiền.

 

Vua Thiệu Trị vừa là nhà kiến trúc tài danh đã thuộc nằm lòng, sử sách cửa biển này có tên là Ô Long, Tư Dung, Tư Khách, lại Tư Dung và có tên mới Tư Hiền. Còn theo dã sử thì cửa biển này cũng lắm tên gọi, nào là Ông Hải, Biên Hải, Mù U vì ở thềm bãi biển được trồng nhiều cây mù u để lấy nguyên liệu phục vụ cho việc bắn súng các cổ đại bác chuyên lo việc phòng vệ sự xâm nhập trái phép của quân cướp biển làm hại dân lành mang dấu ấn lịch sử bang giao Chiêm – Việt và thời cận đại bang giao với nước ngoài.

 

Nhân duyên đi chơi núi Linh Thái và xem biển Tư Dung vào tháng Tư năm Bính Dần của vua Minh Mạng, sách Đại Nam thực lục chính biên đã ghi chép rõ nguyên nhân khiến nhà vua quan tâm tôn tạo cảnh chùa trên núi Quy Sơn đã bị binh lửa tàn phá:

 

“Dựng ở núi Linh Thái 1 chùa, 1 lầu. Chùa đặt tên là TRẤN HẢI TỰ, lầu đặt tên là VỌNG HẢI LẦU. Để cho sắc tướng tranh nghiêm, cùng lâu dài với núi biển.

 

Đó là việc cần làm ngay. Còn các hạng mục khác sẽ tiến hành sửa sang:

 

Lại còn 1 tòa cổ tháp ở gò núi Linh Thái, phái dưới có la liệt tượng đá, lâu ngày đổ gãy, rêu cỏ hoang vu. Tuy việc lâu ngày, dấu cũ mất đi, không khảo cứu được nhưng BÌNH PHONG QUÂN SỰ được gió mây hộ vệ cũng đợi có sự sửa sang. Vậy một phen sửa chữa cho tròn quả phúc. Đến khi làm xong, phái Vũ Lâm cấm binh đến canh giữ, mỗi tháng thay phiên một lần (hằng năm từ mồng 1 tháng 2 đến cuối tháng 10. Có dựng thêm hành cung để phòng khi vua đến chơi. Mỗi ban có 1 suất đội, 40 biền binh. Còn những tháng khác, chỉ có 20 biền binh).

 

Xuất phát từ việc đi chơi của nhà vua, cũng vào ngày tốt tháng 4 năm ấy nhà vua đã quan sát sự tình 2 việc lớn liên quan đến văn hóa và công nghệ nước nhà. Quốc sử ghi lại khá chi li mối quan tâm của vua Minh Mạng về việc dịch thuật cổ ngữ và nêu lên nhược điểm trong việc phiên dịch cổ tự một khi phải đối đầu với chuyện khảo cứu di tích lịch sử thời Champa để lại:

 

Trước đây, vua đi chơi cửa biển Tư Dung, lên xem núi Linh Thái, thấy tháp đá và cột hoa biểu có chữ Man, các thông ngôn ở kinh đều nói không phải chữ Xiêm, Lào, chẳng ai phiên dịch được. Vua nhân sắc cho Bình Thuận chọn phái một người thông thạo chữ Chiêm Thành và Bà Ni [Pali], hắn chỉ học chữ Chiêm Thành mà thôi, còn Ba Ni không dịch được.

 

Việc quan yếu thứ hai liên quan đến việc luyện kim. Phủ Thừa Thiên có mỏ chì, thổ thán là nguyên vật liệu đóng vai trò xúc tác trong việc tinh luyện quặng chì ra thành phẩm. Nấu chảy quặng đồng, phế liệu đồng thành đồng nguyên chất phải dùng đến vỏ con hải điệp. Thế mà xưa nay không biết tận dụng nguồn tài nguyên này có sẵn ở nguồn lợi hải sản của biển Tư Dung để luyện đồng. Các quan lại phủ Thừa Thiên không tư báo, rồi bộ Hộ cũng không biết cứ bắt tỉnh thần Gia Định tìm mua.

 

Vua Minh Mạng nhờ đi chơi để thâm nhập thực tế mà như phiền trách các quan địa phương và kể cấp bộ làm ăn theo lối máy móc, không tính toán:

 

“Từ nay có mua vật gì mà ở kinh kỳ không có, thì phải có giấy tờ cam kết rõ ràng mới chuẩn cho tư mua ở tỉnh xa. Mà địa phương được tư đến cũng phải xác nhận thổ sản ấy không có mới thôi.”

 

Bài học lịch sử từ chuyện xưa nay vẫn còn có giá trị thời sự. Làm quan phải năng động, sáng tạo tính chuyện lợi – hại cho dân, cho ngân sách nhà nước. Vua Minh Mạng là bậc minh quân, quan lại bên dưới khó lòng lấy vẻ thưa mà che mắt thánh che mắt thánh nhân.

 

*

* *

 

Cửa Tư Hiền, núi Thúy Vân, núi Linh Thái, đầm Hà Trung đều là những danh thắng nối kết với nhau theo một chuỗi liên hoàn với mũi Chân Mây, đầm Cầu Hai, Lăng Cô, Bạch Mã, Hải Vân... Ở các địa danh lịch sử ấy đều có nhiều kỳ tích, di tích văn hóa như đền miếu, tháp cổ, chùa thiêng... Hồn nước lung linh, núi thiêng, biển thiêng kết tụ lâu đời thành linh khí, phát sinh nhân tài và cả hùng tăng nữa.

 

Thuận lợi và cũng thuận duyên mà trong quá khứ đã từng nghĩ là chuyện viễn tưởng trong mơ: Cầu Trường Hà [Trừng Hà mới đúng], cầu Tư Hiền được  nhà nước đầu tư xây dựng tốn kém nhiều với mục đích lớn nâng cao đời sống cho dân cư vùng duyên hải và bảo vệ an ninh quốc phòng trong thời đại mới mà kẻ thù còn mưu toan với những tham vọng bất chính vương mùi tục lụy.

 

Ước gì chùa Trấn Hải, lầu Vọng Hải, bình phong quân sự và các đền miếu thờ thần biển, thần núi được sớm tôn tạo, phục dựng để khỏi nghe tiếng thổn thức của núi rừng, biển cả thì thầm than vãn: con cháu Tiên Rồng còn như thờ ơ với di tích, với núi non, sông biển đã ghi dấu nơi dừng chân trên đường mở cõi, du hóa của vua chúa đời Lý, đời Trần, của Huyền Trân Công Chúa, của Lê Thánh Tông và danh nhân các triều đại hơn 700 đến 1000 năm về trước. Bước đầu chờ đợi, sự điều nhhiên kỹ lưỡng của các ngành liên quan. Các giới khảo cổ, bảo tàng, văn hóa và giáo hội Phật giáo tỉnh Thừa Thiên Huế cùng ngồi lại tại các diễn đàn để khơi sáng ánh hào quang rực rỡ của lịch sử dân tộc. Trước mắt, ít nhất sơ bộ cũng cần có biển đề lớn được thiết dựng một cách trang trọng ở các địa điểm có di tích quý giá và linh diệu:

 

Linh Sơn một đỉnh tần ngần

Tám phương cõi thọ đài xuân sum vầy.

 (Câu 235 – 236, Tư Dung vãn)

 

Về với núi Linh Thái, với biển Tư Hiền sẽ khơi sáng bừng dậy một niềm tin mới mà cũ xưa như Đào Duy Từ đã viết trong danh phẩm ấy:

 

Thiên thai người khéo lang đang,

Dạ lăm cắp núi, chí toan vá trời.

 

Và mọi người dân Việt, kể thêm du khách nước ngoài sẽ lãnh thọ được khái  niệm đã trở thành quan điểm sống của người xưa, mà Lưỡng quốc Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi đã viết:

 

Thập khẩu tâm tư: tư quốc, tư gia, tư phụ mẫu,

Thấu thân ngôn tạ: tạ thiên, tạ địa, tạ quân vương.

 

Chúng ta, ngày nay còn tạ ơn chiến sĩ canh giữ biển trời, tạ ơn nhà nước, tạ ơn chiến sĩ trận vong và còn biết ơn du khách nữa. Vui lòng khách đến, được lòng khách đi để lần sau khách một lần còn lưu luyến muốn trở lại nhiều lần.

 

Xin gửi thêm một ý tưởng nhỏ để góp thêm, bàn rộng về ý nghĩa thâm hậu mà cũng thâm trầm của loại hình du lịch văn hóa tâm linh.

 

L.Q.T

Nguồn: Lieuquanhue.vn, 28/02/2012.

Rephrase with Ginger (Ctrl+Alt+E)
READ MORE - TRẤN HẢI TỰ, MỘT THỜI SOI BÓNG BÊN CỬA BIỂN TƯ HIỀN LỊCH SỬ - Lê Quang Thái