Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, November 28, 2008

ĐÔNG HÀ

Đông Hà
Những lá thư tình


Những lá thư tình như những nhát dao

Chuôi dao đã tuột về quá khứ

nhiều khi trong cơn mê ngủ

tôi bàng hoàng



Những thư tình viết từ thuở hồng hoang

Có yêu thương cuồng điên thời trẻ tuổi

( Yêu như thể không yêu là chết mất

chẳng hiểu sao lại sống dậy trong lòng )



Những lá thư tình như những nhát dao

Chuôi dao đã quay về quá khứ

cầm sao không chảy máu bây giờ???


CHUYỆN ĐỜI XƯA

TRONG NHÀN ĐÀM HOÀNG PHỦ


ĐÔNG HÀ




Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trong những cây bút ký tiêu biểu của Huế và cả nước. Anh tung hoành trên nhiều dải đất khác nhau của đất nước nên những trang viết của anh ngồn ngộn chất sống cộng thêm với sự uyên bác vốn có khiến giọng văn của anh càng thêm sang trọng. Anh không chỉ tài hoa trong thể ký mà còn thành công trong lĩnh vực thi ca bởi đây là một người không hề dễ dãi với con chữ chút nào. Với thể loại thơ, Hoàng Phủ Ngọc Tường là người làm thơ luôn bị ám ảnh bởi “cõi chết”. Thân phận và Con Người, Tình yêu và Cái chết luôn xuất hiện trong thơ anh như trực quan về cuộc sống của riêng mình. Thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường đẹp như nỗi buồn đọng lại. Ở đấy, người ta thấy thơ anh đã được sinh ra giữa sự sống và cái chết, niềm vui và nỗi buồn, giữa cái cô đơn ầm ào tuyệt vọng. Những câu thơ hay của anh thường buồn tha thiết “Mai kia rồi cũng xa người/ Tôi về ngủ dưới khung trời cỏ hoa/ Có nàng xoã tóc tiên nga/ Quỳ hôn cát bụi khóc oà như mưa”. Buồn đến dại khờ, đến đê mê đắm đuối. Nhưng khi đến với Nhàn đàm, dường như anh lại tỉnh táo bình tĩnh đến không ngờ. Vẫn giọng điệu tài hoa sang trọng nhưng bình tĩnh, khác hẳn cái chất giọng đa tình của thể thơ và hoài mang của thể ký.

Đến bây giờ có thể nói người viết nhàn đàm trong văn học Việt Nam chưa nhiều, đây vẫn là một lĩnh vực mới mẻ trong khi trên thế giới thể loại này đã khá phổ biến. Giả Bình Ao ở Trung Quốc đã rất thành công ở thể này. Ở Việt Nam, người viết Nhàn đàm có thể kể ra một vài người tiêu biểu như Thanh Thảo, Tiêu Kim Thuỷ… Và nổi trội, viết đều đặn, đầy tay hơn cả vẫn là nhà thơ, nhà văn Hoàng Phủ.

Nếu trong thơ, Hoàng Phủ làm thơ như thể “viết di chúc để mà chết” theo nhận xét của Nguyễn Trọng Tạo, viết tuỳ bút như để “trằm” cả gương mặt mình vào đất Thần kinh như lời của Tô Hoài thì trong Nhàn đàm anh lại bình tĩnh “lẩy” lên từng hạt cát của cuộc đời để chiêm nghiệm, trở trăn. Những bài Nhàn đàm nhỏ bé, xinh và giàu chất suy tư trăn trở với cuộc phù sinh. Đôi khi chỉ là một điều rất giản đơn nhưng Hoàng Phủ đã khiến người đọc phải giật mình ngẫm ngợi. Và hình như để đạt được cái “ vỗ vai” đầy thâm hậu ấy, thấp thoáng trong những trang viết của mình, nhà văn đã rút tỉa những chất liệu có từ khởi thuỷ xa xưa để nhắc nhớ con người ngày nay, đó là chất liệu đã hàng nghìn năm tích tụ từ kho văn học cổ Trung Quốc.

Điều dễ nhận thấy là trong rất nhiều bài Nhàn đàm của anh thường xuất hiện các tư tưởng triết học phương Đông, mà điển hình vẫn là tư tưởng triết học Nho- Phật – Lão của Trung Quốc. Vốn là một giáo sư triết học nên việc vận dụng những tư tưởng triết học trong những bài viết của mình là điều dễ hiểu. Ngay trong những sáng tác ở thể loại ký, cũng chính chất triết lý sâu xa ấy đã làm nên tầng vỉa lớp mạch cho tác phẩm của anh.

Với Nhàn đàm cũng vậy, cũng những câu chuyện triết học nhưng ngắn gọn vô cùng, đôi khi câu chuyện có thể chiêm nghiệm cả một đời lại nằm vỏn vẹn trong đôi câu nhẹ nhàng quá thể. Bàn về triết học Khổng Tử đôi khi với Hoàng Phủ chỉ là sự tình cờ “Ngẫu Hứng”: “Trải gần suốt đời người dâu bể, thú thật cho tới nay, tôi vẫn chưa đi hết cuộc chuyện trò ngẫu hứng của thầy trò họ Vương trong buổi chiều xa xôi ấy nơi sườn núi. Có ai giúp tôi hiểu tường tận cái Tâm là gì? Có lẽ cũng chỉ cách thô sơ ấy thôi, như lời thầy Nguyễn Đăng Thục, đêm khuya nằm thật yên, nghiêng tai trên gối và nghe tiếng đập trong lồng ngực”. Lời của triết nhân từ xa xưa vọng về, đi hết cuộc đời dâu bể vẫn chưa “ngộ” được đạo, mà giản đơn chỉ lắng nghe tiếng đập của trái tim mình, ấy là đạo. Thuyết Tâm học của Dương Vương Minh sao phải đi dài đến thế khi lại gần ta trong gang tấc đến thế, phải chăng nhà văn đã tìm ra con đường ngắn nhất giúp người đọc “ngộ đạo” khi bản thân mình đã đi suốt chặng đường dài nhân thế?

Hay trong một bài Nhàn đàm khác, nhan đề tưởng chừng vu vơ tính tình tang “Ai đem con sáo sang sông”, anh lai lấy tích xưa của thầy trò Tam Tạng về chuyến qua sông luỵ dò, luỵ đò xong lại quên ngay đấy. Phải chăng đó là một tâm tính xấu con người hay mắc phải? Người đời gọi đó là “qua cầu rút ván”. Còn Hoàng Phủ lại thấy cái ông “Ngô Thừa Ân là một nhà văn thâm Nho”. Quả thế thật, nhân tình thế thái, ở đâu mà chẳng giống nhau, thời nào mà chẳng mang tâm tính con người. Đã là tâm tính, khó có gì lay chuyển nổi. “Non sông dễ đổi, bản tính khó dời”. Nhưng câu chuyện Đường Tăng nợ con rùa trên chuyến sang sông kia vẫn còn đó, gieo cho người đời một nỗi hoài nghi về thế thái nhân tình. Mượn chuyện xưa để nói chuyện nay, Hoàng Phủ đã gieo vào lòng người đọc một nỗi niềm bâng khuâng pha lẫn cái gì đó chát chua khó tả.

Cũng lại mượn tích xưa, câu chuyện Trang Tử mổ rồng, hoá ra Rồng có đâu mà mổ? Con người ta thường tự huyễn hoặc mình bằng những điều vu vơ kỳ quặc. Và tin như thể đó chính là cứu cánh của cuộc sống. Tự đánh lừa mình, hay cũng là đánh lừa nhân thế. Hoàng Phủ đành thú thật, một sự thật dễ làm “mệt tim” những người đa đoan trót đam mê nghiệp dĩ “Tưởng rằng đọc Trang Tử để tìm chút thư nhàn. Hoá ra vẫn thế, ngọn đèn khuya, trang sách cũ, và mái tóc hoa râm rối bời…” ( Sát Long chi bối). Hoá ra con người từ truyền kiếp, vẫn hay mơ tưởng chuyện xa xôi, khi giật mình tỉnh lại, vẫn là thực tại cũ, những niềm hụt hẫng cũ, những nỗi niềm chát chua xưa cũ… Vậy mà sao vẫn đi tìm, vẫn huyễn hoặc mình dù biết đó là điều không có thật? Hoàng Phủ là người biết điều ấy, khổ thay lại biết điều mà con người ta bao lâu nay không thể nào tránh khỏi, cả khi biết rồi cũng không thể nào tránh khỏi, nên chuyện cũ tích xưa vẫn còn nguyên, mới rợi.

Hay một câu nói của người xưa, “xích tử chi tâm”. Có lẽ, khi Mạnh Tử chiêm nghiệm điều này, hẳn Ngài cũng không ngờ hậu thế lại cứ mãi trở trăn muộn phiền đến thế đâu. Vậy nhưng với Hoàng Phủ, dường như trong con người này, lúc nào đụng đến chữ “Tâm”, lại như không hề yên ổn. “Thế giới mãi trầm luân trong lửa và máu, chính bởi con người đã đánh mất “ xích tử chi tâm”, để đổi lấy hận thù làm quyền sống” (Bài học vỡ lòng của tôi). Trái đất ngày một nóng lên, bởi môi trường, bởi bầu khí quyển, bởi vòng xoay ngày một vội vã, và cả bởi chiến tranh. Quyền lực, tiền bạc, tham vọng, mưu đồ…tất cả như trộn lẫn, nhào nặn lên làm thành một khối “hận thù” để đổi lấy hai chữ Hoà Bình. Cổ nhân đã từng thấy điều đó, đã “khuyến cáo” chúng ta điều đó, vậy tại sao lại quên khi lẽ ra không được có quyền quên? Hoàng Phủ đã chỉ ra cho chúng ta điều ấy, liệu mấy ai trên thế gian này một lần nữa lĩnh hội ra? Khi mà quyền lực, đồng tiền vẫn còn ở ngôi vì thống lĩnh?

Kinh Dịch vốn là kho tàng thi liệu, văn liệu tuyệt vời và bất tận cho các văn nhân đời sau khai thác. Cũng từ kho báu chữ nghĩa đó, Hoàng Phủ đã khai phá cho người đọc những cơ hội lĩnh hội diệu kỳ. “Quẻ Vị Tế” là một trong những điều kỳ diệu đó. Bàn về Kinh Dịch, không cao tay sẽ rơi vào sự sợ hãi về chữ nghĩa. Nhưng với Hoàng Phủ, người đọc “ngộ” ra những điều thật sâu sắc mà lại đơn giản vô cùng, Vị Tế là một thông điệp vĩnh hằng về phận người: “Hỡi người, người sinh ra không phải để yên nghỉ mà lên đường, lên đường bằng tất cả âu lo của kẻ vượt sông”. Tất cả những lời giải trình về thân phận con người dường như chỉ vỏn vẹn trong chuyến vượt sông đầy định mệnh ấy. Có người đã nói rất buồn rằng “Đời người là quán trọ/ Ung dung nào mấy ai”. Nói về thân phận cuộc đời, không hiểu sao thường ám ảnh về một dòng sông. Heraclit có câu nổi tiếng “Không ai tắm hai lần trên một dòng sông”. Sau này, những chuyến đi của con người cũng trên dòng sông. Mà có phải ai cũng biết bơi và bơi giỏi đâu. “Lỡ bước sang ngang” thôi mà. Nên hầu như đã là người, chuyến sang sông nào mà không thấm đẫm âu lo? Đến bây giờ, nhân loại vẫn từng phút giây chen chúc nhau sang sông, trên chuyến đò Bát Nhã. Và quẻ Vị Tế kia, như Hoàng Phủ đã chỉ ra, rằng đời người là một cuộc hành trình không ngơi nghỉ, còn ôm theo nỗi thắc thỏm của kẻ vượt sông…

Không hiểu sao, ở thể ký nhiều lúc giọng văn Hoàng Phủ còn có chỗ tươi, thì trong thơ lại buồn đến đứt ruột, và ở Nhàn đàm cũng vậy, những bài viết ngắn chút xíu, vậy mà vẫn lộ ra giọng buồn da diết. Cái “tạng” nó thế, hay bởi những câu chuyện anh viết thường buồn? Có lẽ tại cả hai. Như câu chuyện “ Cừu Dolly và câu chuyện kiếp sau”. Bàn về công nghệ sinh học hiện đại hẳn hoi, vậy mà trong anh vẫn mang mang câu chuyện cổ xa xưa từ … Trung Hoa cổ đại, rằng “nếu có một kẻ tình si nào đó bị buộc phải chia lìa trong cõi đời này (thí dụ như anh Trương Chi chẳng hạn), thì vào đêm trước khi chết, chàng xin được uống nước sông Hoàng Hà, để kiếp sau gặp lại, chàng sẽ nhớ và nhận ra người yêu dấu của mình trong tiền kiếp. Phút “nhận mặt người quen” đó thường xảy ra trong một cuộc gặp gỡ tình cờ, bằng một sức mạnh làm choáng váng, gọi là “tiếng sét ái tình” (Coup de foudre)”. Những cuộc tình đẹp trên thế gian thường là những cuộc tình buồn. Nhưng điều an ủi giúp những kẻ buồn tình ấy là khái niệm về “kiếp sau”. Có lẽ, ảo vọng về cái kiếp sau ấy giúp họ sống tốt hơn ở kiếp này khi đã trót có cuộc đời buồn đến thế chăng? Trịnh Công Sơn cũng đã từng quan niệm về cuộc đời chỉ là thân phận của con chim di, con phù du bay ngang cõi trần thế, chỉ là “ở trọ’ thôi mà. Bàn về cái mới nhưng lúc nào tâm trạng Hoàng Phủ cũng vấn vương những điều muôn năm cũ…

Trong “Một chuyến tàu” cũng vậy,“Mạc sầu tiền lộ vô tri kỷ” (Đừng buồn rằng con đường trước mặt không có ai là người tri kỷ). Những chuyến tàu xuôi ngược ngang qua, thật khủng khiếp nếu đó chỉ là chuyến đi đơn độc. “Những chuyến tàu từ Đông sang Tây, từ Tây sang Đông” quả thật khiến “Một ngày dài hơn thế kỷ”. Từ xưa, cổ nhân đã cần người tri kỷ, bây giờ con người vẫn cần điều ấy hơn hết, khi mà ngồi trong căn phòng tiện nghi, chỉ một cái nhấn nút có thể với tay ôm cả thế giới vào lòng, nhưng lại bơ vơ vô cùng khi muốn chia sẻ một điều gì đơn giản, khó đến đau lòng.

Mượn chuyện xưa để nói chuyện nay, khó ai có thể tài tình khéo léo như Hoàng Phủ. Những triết luận về cuộc đời từ những câu chuyện cổ được anh giãi bày thật nhẹ nhàng mà mang sức nặng ngàn cân của con chữ. Vì vậy văn phong anh ngắn gọn mà cô đọng hàm chứa biết bao điều.Thiết tưởng không phải ai cũng có được một “nội công thâm hậu” ấy, nhất là khi đang ở trong cơn bạo bệnh tưởng chừng không thể nào gượng lên được. Vậy mà anh không chỉ “gượng” qua cơn bệnh, hơn thế nữa, với những gì anh làm từ con chữ, chúng tôi gọi đó là một sự “tái sinh”, như thể cuộc đời anh là hai kiếp người cộng lại, bây giờ anh đang sống tiếp kiếp thứ hai của mình. Nên văn chương anh vẫn mới mẻ, tràn đầy ngữ nghĩa trong mỗi câu chữ anh góp nhặt để lại cho đời, như con chim oanh vũ mỗi sáng tinh khôi vẫn tha về từng hạt gội, nhảy nhót tưng bừng trong “thành phố vườn” thơ mộng của anh.


ĐÔNG HÀ

READ MORE - ĐÔNG HÀ

CAO HẠNH


BÀI CA ĐIỆU LÝ

Truyện ngắn của CAO HẠNH


Tôi sinh ra ở làng quê, lớn lên cũng ở làng quê. Tôi là hạt máu đỏ rơi xuống bùn đất mọc lên một thằng người cùng với ngọn cỏ lá rau cây lúa và những sinh linh khác. Tôi cùng chịu đựng chia sẻ với chúng ngọn gió Lào cát trắng và những trận mưa dầm dề của xứ miền Trung khắc nghiệt.


Nhìn trên bản đồ Việt Nam tôi biết quê tôi chỉ là một cái chấm xanh rất nhỏ, không biết so với toàn cầu thì quê tôi còn nhỏ tới đâu nữa, vì quê tôi chỉ có ba trăm héc ta đất thôi. Nhưng dù nhỏ đến bao nhiêu, quê tôi vẫn là một cộng đồng có mặt trên địa cầu từ thuở hồng hoang với những nét văn hoá riêng góp vào cuộc sống nhân loại.

Đứng trên cầu Sa nhìn xuống thấy một vật xanh kéo dài từ chân núi Tá đến hồ Mây, đó chính là nới tôi đã cất tiếng khóc chào đời. Mẹ ru tôi bằng điệu lý. Ôi điệu ru suốt một đời khắc khoải giữa hồn tôi. Sau này lớn lên tôi được nghe lại điệu ru ấy từ núi Tá vọng về - Nơi bố con lão Sáu mù ngồi đàn hát giữa chín tầng mây. Người con gái ấy tên là Sen có nước da nõn trắng, đôi mắt như hai giọt nước, nhìn tôi với cái nhìn thanh khiết đến lạ thường. Cứ mỗi buổi chiều khi mặt trời sắp tắt, tôi thường lẻn ra ngồi dưới chân núi Tá để nghe tiếng đàn rơi buốt trong mây và giọng ca cô gái nhỏ chuốt giữa không trung, lúc vút lên đến vô cùng tưởng như đẩy cả trời xanh lên cao vời vợi, có lúc rơi hẫng đến tận cùng khiến nước hồ Mây lăn tăn gợn sóng.


Mẹ tôi nói: “Thằng này phải lòng con bé của lão Sáu mù rồi, phải đi ăn hỏi gấp không có dễ sinh chứng si tình”. Phải lòng hay không tôi chẳng biết, tôi chỉ thấy mình rất thích nghe đàn hát, ngắm cảnh sương khói hồ Mây núi Tá bốc lên hoà quyện vào nhau để luỹ tre làng đẹp như ảo ảnh. Các cụ xưa nói đó là nguyên khí của đất và nước. Nguyên khí mạnh thì làng quê vững “Đá trôi mà làng không trôi”. Sau này vào nghiệp văn chương, đọc sách cổ tôi mới biết được nguyên khí có giá trị như thế nào. Tôi biết ở Trung Quốc nhờ có đỉnh Kai-las (phía Ấn Độ) mang nguyên khí vào hồ Ras-ka-tal và được dòng sông Hoàng Hà và Dương Tử mang đi để tạo nên nền văn minh Trung Hoa. Chẳng biết cụ tổ làng tôi có thạo sách pháp địa không mà chọn nơi đây dựng xây cơ nghiệp. Các cụ nói quả không sai, quê tôi trải qua bao biến động thăng trầm của thiên nhiên và lịch sử, màu tre xanh ấy có lúc lụi tàn, tàn lụi rồi trở lại xanh rức, tạo thành một tấm màn xanh dựng ở chân trời. Tấm màn xanh ấy đã mở ra cho bao nhiêu cuộc đời, bao nhiêu số kiếp, người ở, người đi, sinh tồn cùng nhân lại. Và dù đi đâu, ở đâu sung sướng đến mấy, người quê tôi vẫn không mất đi cái chất trần ai khắc khoải của điệu Lý. Đất này là đất trăm họ. Mỗi dòng họ có gốc gác khác nhau, nhưng người quê tôi có chung dòng máu thượng võ pha chất phóng đãng của thi nhân. Hùm beo không sợ, giặc giã không kiềng chỉ sợ điều nhân nghĩa.


Thuở xưa quê tôi có nghề bắt cọp. Nguyên nhân sinh ra nghề này cũng đơn giản thôi. Chả là thời bấy giờ làng tôi năm trên cánh rừng từ chân núi Trường Sơn chạy dài về biển. Hổ, báo nương theo cây cối lau lách tìm về, lấy làng tôi làm nơi trú ngụ. Người buộc phải ở chung với hổ. Cuộc sống hằng ngày xảy ra biết bao cảnh chết chóc tang thương. Không chịu đựng nổi, người làng tôi phải tìm mọi cách để trừ khử chúng. Đó là luật sinh tồn. Họ đã vào rừng lấy vỏ cây làm mác! Quyết liều một phen với loài hung thú. Cuộc chiến đấu làm cho biết bao chàng trai phải chết, cuối cùng thì họ cũng bắt được hổ. Từ chỗ bắt được một con, đến hai con dần dần trở thành kinh nghiệm truyền kiếp. Tiếng tăm lẫy lừng khắp nơi lan đến tận cung đình, nhà vua bèn sai các quần thần về xem xét, thấy có thật, từ đó nhà vua có chiếu chỉ sai làng tôi đi bắt hổ nộp triều đình. Chuyện được vua sai đi bắt hổ, người làng tôi chẳng lấy gì làm vẻ vang, họ chỉ sung sướng một điều là đuổi được hổ ra khỏi làng.....


Thời chiến tranh, dù là chiến tranh chống Pháp hay chống Mỹ thì làng tôi vẫn là mục tiêu huỷ diệt của kẻ thù. Nhưng người làng tôi “một tấc không đi, một ly không rời!” họ quyết bám làng bám đất. Giặc đến là đánh! Giặc đi là tiếp tục sản xuất. Cuộc sống thời chiến bộn bề công việc làm người ta phải dồn hết sinh lực có khi quên ăn. Nhiều lúc đang làm đồng, máy bay đến ném bom, mọi người phải tạm gác cuốc cày vào vị trí chiến đấu. Cha vác đạn, mẹ tải thương, con bám chặt bệ pháo. Máu cha đẫm trên ngực con, máu con đầm trên tóc mẹ. Gian khổ đau thương là thế mà người ta vẫn sống lạc quan. Đêm đến, anh đàn chị hát, tiếng hát vượt lòng đất bay lên lung linh cả sao trời.

Điều lạ thay sau ngày giải phóng, cuộc sống quê tôi không còn được sôi động như trước nữa. Sau buổi hò reo mừng chiến thắng, nét mặt người ta dần dần trở nên ỉu xìu. Họ sống trong tâm trạng tính toán lo âu. Hằng ngày thấy họ thơ thẩn trên các mảnh vườn, hoặc rải trên các đồi hoang ngó ngàng tìm kiếm, cầu nhặt được một cái gì đó, một tí mảnh bom hay một cái ống liền đem về đổi gạo. Công việc nhà nông một năm sản xuất hai vụ lúa, chỉ thực hiện hết một phần hai quỹ thời gian còn lại họ chẳng biết làm thêm việc gì để tăng thu nhập, buộc phải lao vào những việc không tên, bận bịu suốt mà chẳng có hiệu quả kinh tế.

Ông Sáu mù là người suốt một đời cào cấu với đất đai, kết quả vẫn hai bàn tay trắng. Những ngày đó tính tình ông thay đổi hẳn.

Từ một người vui vẻ sảng khoái ông trở nên trầm buồn. Nghe nói đêm đang nằm ngủ, ông vùng dậy đốt đèn hút thuốc than thở một mình “Đất nước đã hoà bình rồi, người dân trở thành ông chủ - Nhưng ông chủ không biết làm gì để mà ăn....Tức thật!”. Ông đấm tay vào trán dằn vặt cho đến sáng. Hàng ngày người ta thấy ông lang thang trên các ngọn đồi, tối đến leo lên núi Tá ngồi khóc dưới trời. Mấy năm sau ông đổ bệnh mù cả hai mắt. Ông sai đứa con gái dắt ông lên núi Tá đàn hát giải sầu “Chiều ơi chiều......chiều ơi chiều....”. Mẹ tôi nói đó là tiếng gọi hồn. Cha con nhà ông Sáu đã điên không khéo làm cho nhiều kẻ điên theo. Mẹ chỉ tay ra ngọn đồi nơi có mấy người đang ngó ngàng tìm kiếm mẹ bảo: “Con thấy chưa, nó hút hồn người ta bắt người ta phải thất thuể bơ vơ, lẩn quẩn khắp đó đây, cả sương khói cũng cuốn tròn theo”. Từ đó mẹ sinh ra thù ghét bố con nhà ông Sáu, tuyệt đối không cho tôi gần gũi với cô Sen. Buồn chán tôi bỏ nhà ra đi.


*

Lũ chúng tôi gồm bốn thằng: tôi, Khánh, Kha, Công. Chúng tôi xuyên rừng vượt suối mà đi vào tận “Thâm sơn cùng cốc”. Những nơi mà chưa hề có ai đặt bàn chân đến.

Mọi sinh vật ở đây chưa hề được tiếp xúc với con người. Tôi nhìn thấy lũ bươm bướm đủ các loại đen tím vàng đậu kín bờ khe, nghe động bước chân người, chúng khua nhắng cả lên làm chúng tôi rối cả mắt. Bốn đứa chìm ngập trong đàn bươm bướm.

Ếch nhái và những loại côn trùng khác cũng kêu lên inh ỏi. Hình như chúng tôi đã vi phạm đến thế giới của chúng. Bỗng thằng Kha kêu lên: “Ối giời ơi!”. Nó chỉ tay vào một bờ đá. Một con rắn có mào đỏ như mào một chú ngan đực vỏng cao đầu, xỉa xỉa cái nọc độc về phía chúng tôi. Bên cạnh nó là một chú ốc sên bình yên vặn mình trên tảng đá một cách chậm rãi. Luật rừng rất dữ dội, nhưng chắc cũng có một độ mềm để cho những sinh linh nhỏ tồn tại. Chúng tôi vừa đi vừa giật lùi, đưa cao gậy thủ thế, hễ có rắn kia lao đến là quật liền. Nhưng chú rắn thấy chúng tôi rời xa, nó ngoắng ngoắng cái cổ mấy cái rồi rụt lại trong hang im ỉm. Thằng Kha lại cười lên sằng sặc khi nó nhìn lên thấy một chú khỉ mù ngồi múc nước bên khe. Chú khỉ này có thể do bệnh tật hoặc do chiến tranh, bị chất độc hoá học mà mù. Ở rừng té ra cungx có những số kiếp đáng thương như vậy. Một tiếng quát to làm chúng tôi giật mình. Một gã tóc quăn mình mẩy trần truồng mặt mày đen nhẻm như người thị tộc da đỏ, từ suối rượt lên, hai tay lăm lăm hai đá chực ném, mắt trợn dọc nhìn chúng tôi.

- Đứng lại! Ai cho chúng mày vào đây.

Thằng Công tái mặt ú ớ “Khu....vực....này cấm hở anh?” - “Cấm! Đây là địa bàn của chúng tao khai thác mày hiểu chưa?” Gã kia nói như hét. Mặt thằng Kha đỏ phừng. Tôi biết nó đang điên tiết, liếc vội mắt ra hiệu cho nó phải dừng. Ở rừng, chỉ cần chạm lòng nhau một tý là có thể xảy ra chuyện binh đao ngay, tốt nhất là chịu nhịn. Tôi ôn tồn bảo hắn: “Xin lỗi, bọn em bị lạc đường sa vào địa phận của các anh, bọn em sẽ đi ngay”. Gã kia ngoảng lại, lầm lũi xuống suối. Chúng tôi ghé mắt nhìn theo. Thấy gã ngồi xuống bên hai người đàn ông cũng trần truồng như gã. Hình như bọn chúng thịt một con gì. Nhìn kỹ té ra đó là một thây ma. Họ lấy dao xẻo từng miếng thịt vứt xuống suối, lấy xương bỏ vào bao tải. Tôi biết số phận của người đi trầm, không may bị chết thì đồng bọn không còn cách nào khác là phải phân thây xẻ thịt lấy xương đem về mai táng. Vì đường xa xôi, cây cối chằng chịt, làm sao mà khiêng xác về được. Trông thấy họ mà tay chân chúng tôi cứ bủn rủn, tâm thần hoảng loạn, gắng nhấc từng bước. Chúng tôi đi chệch về phía Tây, leo lên một ngọn núi cao. Trên đó chỉ thấy những cây to chết đứng. Dưới gốc của một cây già nua có một chồng dây mây khoanh tròn, tưởng như có một bàn tay ai buộc chặt. Ba thằng ngạc nhiên phán đoán. Thì ra, cây mây kia leo lên cây đa, lâu ngày nó không còn độ bám, hàng năm cứ rơi xuống một vòng và cứ như thế sắp thành một đống, như buộc chặt lấy cây kia. Chúng tôi leo dần. Đói. Mệt. Dưới chân chúng tôi đá tai mèo lởm chởm. Xương trắng rơi đầy. Xương nhỏ - xương to. Xương của động vật vừa mới chết. Xương đã cách đây hàng trăm năm bạc phếch màu vôi. Bước chân chúng tôi cứ ríu lại, không còn đi được nữa. Cả bốn đứa ngã kềnh xuống đá chẳng kể gì hôi hám bẩn thỉu. Vừa nằm được một lúc thằng Kha kêu nhức đầu, lát sau nghe nó rên hừ hừ. Trán nó nóng hầm hập, miệng mồm khô rát, chân tay cứ co rúm lại. Tôi nghĩ số phận thằng Kha không khéo cũng sẽ như thây ma nọ. Tôi bật dậy “Thôi về bọn bay!” Thằng Công hùa theo “Nửa tháng trời rồi, trầm trà chẳng có cóc xơ gì, lại ốm đau nữa....Thôi về!”.

Chúng tôi dìu thằng Kha xuống núi lúc chiều tà. Bỗng tôi nghe văng vẳng đâu đây bài ca điệu Lý. Không rõ bài ca từ đâu vọng đến hay từ hồn tôi vẳng ra mà nghe sao da diết buồn thương:

“Chiều ơi chiều.....chiều ơi chiều.....
Dắt ơ bạn....
Đèo qua đèo
Mà là đèo qua đèo....”

*

Chị Bảy tôi nói: Em ra Hà Nội với chị, chị sẽ nuôi em ăn học. Nghe chị nói tôi như mở cờ trong bụng. Tôi biết từ hôm chị về thăm nhà đến nay, đêm nào mẹ cũng trầm trồ: “Con phải bằng mọi cách đưa thằng Huỳnh ra Hà Nội để thoát khỏi cha con Sáu mù. Mẹ thấy từ dạo nó đi trầm về đến nay, chẳng chiều nào mà không ra đứng ở hồ Khe Mây để nghe cha con lão kia đàn hát, mặt mày cứ trông ngây ngô, ngơ ngơ ngác ngác, nó si tình thật rồi con ơi”.


Tôi chẳng nghe chị trả lời. Tôi biết hoàn cảnh chị đang rất khó, vừa mới theo chồng ra Hà Nội một năm, kinh tế gia đình chưa ổn định lấy đâu ra mà nuôi tôi. Bây giờ chị nói với tôi như vậy, có lẽ chị đã đắn đo, tính toán kỹ rồi. Tôi gật đầu với chị tỏ vẻ rất mừng. Mặc dù ra Hà Nội sẽ xa Sen, nhớ nhung vô vàn, nhưng tôi phải đi vì tương lai sự nghiệp.


Trước ngày ra đi, tôi tìm mọi cách để gặp Sen. Tôi đi lại thẩn thơ dưới chân núi Tá đến nửa tiếng đồng hồ mà chẳng thấy em đâu. Một lúc sau thấy có một bàn tay hồng đưa lên trong sương, tiếp theo là một tiếng gọi “anh Huỳnh”. Em từ trong sương chạy ra, mặt mũi tóc tai còn đầm đìa sương lạnh, nở một nụ cười trông thánh thiện ngây thơ:

- Nghe nói anh đi Hà Nội hả?
- Ừ
- Đi ở lại hay đi rồi về.
- Ở lại để học nghề.
- Học nghề xong anh ở luôn ngoài đó à?
- Chưa biết nữa.

Nghe tôi nói, nụ cười trên môi em vụt tắt. Đầu em cúi xuống, tay khẽ vày vò cái đuôi tóc đang xoã xuống trước ngực. Tiếng em khe khẽ:

- Thế ....chuyện của chúng mình thì sao?

Anh cũng chưa biết tính thế nào. Nhưng tóm lại tình cảm vẫn như cũ.

Em hất mái tóc ra sau lưng, cầm tay tôi:

- Anh phải ở lại đi. Ở lại với em....em đã lớn rồi, từ nay em không dắt cha đi hát nữa....Em sẽ đi làm việc.....và.....nếu như anh thương em thật lóng thì chúng mình sẽ cưới nhau, sẽ làm ruộng, sẽ đẻ con, xây dựng tổ ấm gia đình mình.
- Anh cũng mơ ước như thế. Nhưng Sen ạ, anh phải ra đi, đi....trước hết để giải thoát cho mình sau đó là cho em.
- Em không tin.
- Tin hay không thì tuỳ em, nhưng việc anh đã quyết.

Sen ngoảnh về phía núi. Khói sương từ trên cao oà xuống như hút lấy bóng em. Tôi chỉ thấy đôi gót chân hồng đặt lên phiến đá, nhấc từng bước, từng bước, nhoà dần và mất hút.

Em chẳng để lại một tiếng khóc, một lời chào. Mãi đến khi tôi lầm lũi bước ra về, nghe tiếng đàn ca từ trên núi vọng xuống - da diết một nỗi buồn. Tôi biết đó là lời giã biệt.

“Lòng ơi lòng....Lòng ơi lòng....
Trách ơ bạn.....Trách ơ bạn
Đành sao đành
Mà là đành sao đành”

*

- Cậu cố gắng mà học đi chứ. Cậu có biết không? Mẹ đang lo cho cậu lắm đấy....

Tính chị tôi là thế, hay cáu gắt, được cái thương em. Từ ngày tôi ra Hà Nội đến giờ, chị cứ bám sát một bên bày cho tôi học. Anh Nam chống chị đi làm đến tám chín giờ đêm mới về. Tôi hỏi chị “anh là nhà thơ sao chẳng mấy khi anh rảnh rỗi thảnh thơi?” Chị cười “Từ ngày có chị ra đến giờ, anh phải tranh thủ viết thêm nhiều bài để lấy tiền nhuận bút, ngoài ra còn phải quan hệ với các nhà xuất bản, để lấy bài về cho chị đánh máy”. Chị còn kể: lúc đầu chị mới ra, gia đình cũng chật vật lắm. Con gái nhà quê học hành chẳng biết làm gì, hàng ngày chỉ ngồi nhìn ra đường thấy người xe đi như nước chảy, để đêm về bứt rứt tâm gan. Thấy chị buồn anh mua cho chị cái máy chữ, bắt học đánh máy và nhận bài về cho chị nhập. Một tháng, các nhà xuất bản trả cho chị đến ba trăm ngàn đồng như vậy cũng bằng tiền lương cán bộ. Nếu quy ra thóc thì đã hơn một tạ so với nông dân thì sướng xa. Tôi có ao ước trở thành như chị. Trong lúc nhân loại đang tiến xa mà tôi chỉ muốn được như chị tôi thôi, thế mới biết tôi thấy mình nhỏ bé đến từng nào. Hàng ngày tôi lao vào công việc học tập, gõ lên bàn phím đau nhức mười đầu ngón tay, thế mà có lúc nghe chị quát tháo om sòm. Mặc kệ, tôi chẳng tự ái phải cố gắng như chị. Ôi! Một tạ thóc! Một tạ thóc chỉ cấy bằng phím máy, cấy bằng con chữ chứ đâu phải vất vả một nắng hai sương trên đồng....


Khi tôi thành thạo công việc, cũng là lúc một cái tin sét đánh đến với chị tôi, rằng anh rể tôi bị tông xe ngoài ngã ba đường phố. Chúng tôi chưa kịp chạy ra, thì có người đã dìu anh tôi về. Đó là hai người đàn ông dáng vẻ trần ai. Một người dìu anh tôi còn một người dắt chiếc xe Bảy tám của anh đã vỡ hết mang. Họ đặt anh xuống giường mặt mày anh xây xát, đầu tóc bù xù trông thiểu não. Chị tôi chạy vào buồng mở tủ lấy cồn xoa vào các vết xước cho anh, hỏi anh có làm sao không. Anh lắc đầu: “Chẳng việc gì”. Hai người đàn ông cho hay rằng: Anh là bạn xe thồ với họ, thấy anh mắc nạn giữa đường họ đem về. Chị tròn xoe mắt hỏi: “Làm sao lại có chuyện này”. Anh chẳng nói chẳng rằng, nằm ngửa xuống giường thở dài thườn thượt.


Sáng hôm sau anh mới nói chuyện anh đi thồ là có thật. Vì thấy chị không có việc làm buồn bã suốt ngày nên anh phải đi thồ để kiếm tiền mua máy chữ cho chị đánh giải khuây. Và số tiền ba trăm ngàn đồng hàng tháng là anh trả cho chị, chứ không phải nhà xuất bản nào trả cả. Nghe nói, chị bàng hoàng, vừa bực tức vừa thương người chồng tốt bụng. Chị dúi mặt vào vai anh khóc rưng rức. Chị khóc như mưa lũ. Còn tôi tròn xoe mắt nhìn hai người. Thế ra anh tôi thương chị tôi đến mức như vậy? Thế ra lâu nay tôi hoài công đi học với một người không có việc làm? Bao nhiêu nỗi chán chường bi quan, lo lắng ập vào lòng tôi. Đêm ấy, tôi không thể nào chợp được mắt. Sáng mai tôi quyết định ra về. Anh chị tôi phải níu kéo mãi, bắt ở lại. Nhưng tôi nhất quyết không nghe. Chị tôi dúi vào tay tôi một trăm ngàn đồng, vít đầu tôi xuống khóc nức nở. Tôi ra ga một mình. Bây giờ tôi cũng không biết đi về đâu. Nếu về quê thì thật hổ mặt mà đi nữa thì không khéo thành kẻ giang hồ. Tôi la cà ở sân ga suốt một buổi sáng. Trong lúc đang buồn, nhìn thấy mấy ông cửu vạn càng buồn thêm. Họ mặc áo lính bạc màu, đầu đội mũ cối, ngồi chờ chực trên sân ga, hễ ai gọi người làm tất cả bu đến. Phần lớn họ là người Thanh Hoá, cũng miền Trung quê tôi cả đấy. Nhìn họ, tôi chạnh lòng nhớ đến điệu ca:

“Chiều ơi chiều....chiều ơi chiều...”

*

Sài Gòn, đêm mùa đông lãng vãng hơi sương. Sương rất mỏng vừa đủ để người ta có cảm giác đến mùa đông. Ánh điện sáng rỡ làm cho mảnh trăng bạc phếch, đứng vô duyên giữa trời. Nhìn trăng, tôi nhớ quê. Chẳng hiểu sao, ông cụ tổ làng tôi thời đó không vào đây lập nghiệp. Ở đây không thấy một tí nguyên khí nào sao người ta tấp nập đến vậy? Phải chăng thời bấy giờ ông cụ không đủ điều kiện để vào đây, hoặc đã vào nhưng lại bỏ ra thì thật là điều quái gở. Ở đây địa hình cũng chẳng có gì bằng phẳng. Những con đường như gồng mình lên với hàng vạn người, xe. Cuộc sống xô bồ như một cuộc đuổi bắt. Tôi nhìn thấy bên góc sân ga có ba người cứ lò dò ngó ngàng khắp nơi. Thằng Khánh! Đúng là thắng Khánh rồi cả thằng Kha thằng Công nữa, cái dáng người làng tôi lẫn vào đâu được, đi trên thành phố mà dò dẫm theo lối bước ở đồi hoang....Tôi la lên: “Khánh, Kha, Công! Bọn chúng mày đó hả?” Chúng nó nhìn ra tôi mừng rơn. “Huỳnh!....” Chúng tôi ập vào nhau.

- Mày vào đây từ bao giờ?
- Đi một mình hả?
- Từ Hà Nội đi tuột vào đây chứ?

Chúng hỏi rối rít làm tôi không trả lời kịp, chỉ gật đầu. Tôi vỗ vai thằng Khánh:

- Các cậu làm nghề gì ở đây?
- Đủ thứ, bốc vác hàng thuê, xách giùm hành lý, kiêm cả cò mồi.

Chúng tôi cười rộ. Thằng Khánh nhảy tưng tưng hoan hô người làng - Người làng vạn tuế! Vạn vạn tuế! Cả bọn lại được một trận cười tức bụng. Chúng nó vào đây mới một năm mà nom thằng nào cũng ngáo. Thằng Khánh từ một đứa lém lỉnh chuyển sang xạo. Thằng Kha lúc ở nhà thật thà ít nói bây giờ tạo thành kẻ lầm lì. Còn thằng Công to khoẻ đẹp, bây giờ để râu tóc dài, ra tay võ biền. Chúng nó đều đóng vai hợp cả. Tôi vỗ vai thằng Công: “Chúng mày làm gì mà nom mặt mày thằng nào cũng ngổ ngáo?”. Thằng Khánh cười toe toét, chỉ tay vào từng đứa:

- Công là đại ca, Kha là đệ tử, còn mình là quân sư. Đố thằng nào dám động.

Thì ra chúng phải dị dạng như thế mới làm ăn được. Tôi nhớ những lúc đi rừng thằng Khánh bảo phải sống cho ra người thì hung thú nó mới sợ. Còn bây giờ chúng nó phải làm cho ra thú thì con người mới sợ. Cuộc sống bắt người ta xù lông cánh ra là thế.

- Thôi đi nhậu - Thằng Kha nói như ra lệnh.

Chúng tôi cầm tay nhau rảo bước trên đường. Đêm đã khuya, Sài Gòn vẫn nhộn nhịp. Hàng hoá trưng đầy. Tôi để ý đến những biển hiệu có ghi: “Hương đồng”, “Gió đồng”, “Đồng nội” vv....

Chao ôi! Đồng quê sao bị người ta lạm dụng đến thế, những hương sơ tinh tuý của đồng quê đều được đưa ra để khêu gợi lạc thú người đời. Thằng Khánh bảo: “Lâu ngày gặp nhau, hôm nay nhân có thằng Huỳnh vô, cả đời nó chưa nếm mùi thành phố, hôm nay chiêu đãi một bữa bia ôm cho nó đã”. Công và Kha gật đầu tán đồng. Chúng kéo tôi vào một quán trong hẻm, gọi là quán “Hương Sen”. Bên ngoài ánh điện sáng trưng, bên trong nhấp nháy ánh sáng màu tím hồng. Chúng tôi như lạc vào chốn bồng lai. Những cô gái từ trên cầu thang bước xuống như những nàng tiên đi trên cầu vồng bảy sắc mồm đon đả chào mời, mà đôi mắt trống hoang lạnh lẽo. Mùi phấn son thơm ngậy toả ra từ da thịt các cô. Chưa nói đến chuyện ăn uống gì ba cô gái đã sà vào lòng của ba chàng trai. Thấy tôi đang cô đơn thằng Khánh bảo: “Ông yên tâm lát nữa sẽ có một em đặc biệt phục vụ”. Có lẽ nó bấm chủ hàng rồi. Tôi hồi hộp chờ đợi. Lại trên cầu thang kia xuất hiện một cô gái có vóc người thon nhẹ. Khuôn mặt trái xoan của cô làm tôi hơi ngờ ngợ. Cô dừng lại trước mặt tôi cúi đầu chào. Cô ngước nhìn tôi, đôi mắt cô như hai giọt tối ngủ quên dưới đôi lông mày rậm bỗng sáng bừng lên, hút vào tôi hết thảy một linh hồn. Đúng là em rồi. Tôi chưa kịp thốt lên thì em đã quay đi, bước tất bật lên cầu thang. Tôi thảng thốt gọi theo:

- Sen! Sen!

Em luồn lủi vào bóng tối không quay lại. Tôi nói với bọn bạn: “Đúng là cái Sen làng ta - Các cậu có nhận ra không?

- Có. Đúng là nó.
- Chẳng biết nó vào đây từ bao giờ?

Mấy thằng đều ngỡ ngàng nhìn nhau. Tôi như kẻ mất hồn, người chìm sâu trong im lặng. Em đúng là người của tôi rồi. Người con gái có vóc người thanh thoát, và khuôn mặt trái xoan hiền lành. Thuở ấy tôi yêu em lúc em mười sáu tuổi. Em đẹp và hiền như một nõn sen. Chúng tôi nguyện thề sẽ lấy nhau, sẽ sinh con đẻ cái trên làng quê này. Đứa con đầu lòng của chúng tôi phải là đứa trẻ nõn nà, thơm như hương lúa. Thế mà bây giờ, giấc mơ ấy không còn nữa. Cuộc sống đã làm tôi mất em.

- Phải đưa người đẹp của làng mình về lại thôi.

Thằng Kha đập tay xuống bàn nói, làm tôi sực tỉnh. Ba cô gái kia bĩu môi:

- Có mà của trời. Ở đây người tứ xứ, biết ai người làng ai không?
- Biết chứ, nó là con ông Sáu mù người làng tao rõ ràng.
- Ở đây chỉ có làng chơi, chứ không có làng xóm đâu! Cho xin tiền.
- Bao nhiêu?
- Hai trăm ngàn đồng.
- Mấy chai?
- Hai mươi chai.
- Cứa khiếp thế!
- Còn miễn tiền bo đấy.
- Này cầm lấy. Thôi đi ăn thịt chó bọn mày. Uống bia ôm gặp người làng thật xui xẻo, đi ăn thịt chó vậy!

Chúng tôi kéo nhau vào quán thịt chó ở ngay bên cạnh.Thằng Công gọi hai đĩa và một xị. Thịt thơm ngậy, nhưng tôi không nuốt nổi. Thấy tôi buồn, thằng Khánh bảo: “Ăn đi mày. Không việc gì phải buồn phiền cả. Lúc nhỏ, thịt nó đang thơm tho mày không hôn được, bây giờ báu lắm đấy à? Mày có ưng ngửi mùi nước hoa tí nữa tao mua cho mày một lọ”. Cả bọn cười toé. Tự nhiên tôi thấy ghét thằng Khánh. Nó là thằng thực dụng, chẳng hề có chút tình gì.

Ăn nhậu cong chúng tôi tìm về chỗ sân ga trải ni lông nằm ngủ. Thằng Khánh gác chân lên tôi nằm thủ thỉ:

- Bọn tao sắp về rồi mày ạ.
- Về à? Tôi chột dạ hỏi.
- Ở đây cũng chẳng biết làm gì. Về quê còn có ruộng nương mà cày cấy.

Nghe nó nói, tôi thấy mình hẫng hụt chẳng khác nào một người từ trên không rơi xuống vực thẳm. Chúng nó mà đi thì tôi còn ở lại đây làm gì. Nhưng còn em, liệu em có về với tôi không?

Sáng hôm sau tôi quay lại nhà hàng. Tôi đợi suốt một buổi để được gặp em. Có lẽ thấy tôi đứng mãi ngoài hành lang đến tội nghiệp nên nàng phải ra.




Bây giờ nàng không còn được như xưa nữa. Ngày ấy nước da nàng nõn nà thơm như cánh sen, bây giờ son phấn không che lấp được sự vàng võ của da thịt nàng. Nét mặt nàng u buồn và đôi mắt khắc khoải một niềm đau. Nàng nói trầm buồn: “Cho em xin lỗi chuyện hôm qua”. Nàng vịn tay vào cửa mà khóc. Tôi bảo nàng: “Hãy về với anh đi”.

Nàng lắc đầu:

- Em không thể nào về được nữa rồi.....- Tiếng nàng tắc nghẹn rồi lại oà lên: - Em đã trở thành một con quỷ. Em không muốn anh trở thành một con quỷ nữa. Anh hãy về đi, về một mình ở nhà có con Quyên em gái em đang đợi. Em đã viết thư cho nó rồi.....

Đôi bờ vai nàng run lên lẩy bẩy. Tôi nghe lòng tê buốt như có ngàn kim châm. Tôi khẽ khàng nắm tay nàng kéo vào mình: “Không....về với anh đi. Dẫu thế nào anh vẫn thương em....”

Nàng buột tay tôi chạy ù vào phòng. Bóng đèn màu nhấp nháy, và tiếng nhạc xập xình nổi lên loạn xạ.


*

Chúng tôi lên tàu. Con tàu rúc lên một hồi còi dài rồi khẽ rùng mình chuyển bánh. Thôi tạm biệt nhé Sài Gòn - Mảnh đất phồn hoa, tạm biệt em - Người con gái tôi yêu, có thể mãi mãi không bao giờ gặp lại....



Con tàu vun vút lao đi trong nắng sớm, qua bao nhiêu cánh đồng, bao nhiêu làng mạc. Ở đâu chúng tôi cũng thấy hình bóng những người dân cặm cụi một nắng hai sương trên đồng. Chẳng biết nơi ấy có bài ca điệu Lý như ở quê tôi không?.....



Ba ngày sau chúng tôi về đến ga Rồng. Làng tôi kia vẫn luỹ tre xanh như tấm màn nhung buông xuống chân trời vẫn hồ Mây núi Tá mờ trong sương. Cái nguyên khí ngàn đời không thể nào mất được như các cụ xưa thường nói. Ngước nhìn lên núi, tôi thấy một người con gái đang dắt tay một ông già rẽ sương khói đi lên. Tôi biết đó là Quyên em gái nàng đang thay chị dắt cha lên núi đàn hát. Ngày mai, người con gái ấy có thể cùng tôi xây dựng tổ ấm hạnh phúc, sinh con đẻ cháu trên mảnh đất này. Dẫu đói no, vui buồn, sướng khổ, tôi vẫn có một làng quê để lúc chết được khóc thương. Nhưng còn em....em đã rời luỹ tre xanh, đã đi khỏi đời tôi....


“Chiều ơi chiều....Chiều ơi chiều...”. Lòng tôi như con cuốc kêu thương, quay quắt gọi hồn em. “Chiều ơi chiều....Chiều ơi chiều”. Bài ca ấy lại tiếp tục cất lên với điệu ngân ai oán muôn thuở. Trước mắt tôi mọi cảnh vật như đang chuyển động theo. Sương khói cuộn tròn, luỹ tre xanh nhẹ lướt, những con người trên vạt đất mới vỡ họ cũng cặm cụi bước theo điệu hát “Chiều ơi chiều....Chiều ơi chiều” có lẽ họ đang tỉa hạt. Thôi thì nắng hay mưa cũng chưa biết nữa nhưng dẫu sao cũng có một mùa hạt đã gieo. Tôi quỳ xuống cầu trời: xin hãy thương đến hạt giống của người nông dân.
READ MORE - CAO HẠNH