Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Thursday, October 23, 2025

THĂM PHỦ ĐỆ NHỚ NGƯỜI XƯA - Hoàng Thị Bích Hà

(Gặp gỡ trò chuyện với hậu duệ của cụ Mai Khắc Đôn, nghe kể một vài kỷ niệm về Hoàng Phi Mai Thị Vàng, vợ vua Duy Tân, con gái của quan thượng thư Bộ Lễ Mai Khắc Đôn.) 




Đầu tháng 10/2025, tôi có dịp về Huế và lên thăm chị Mai Thị Thanh Xuân, Chị năm nay đã 87 tuổi nhưng vẫn minh mẫn, nhanh nhẹn. Tôi quên biết chị đã hơn 30 năm nay, chị em chơi thân với nhau. Chị coi tôi như đứa em nhỏ. Thực ra thì chị còn lớn tuổi hơn cả mẹ tôi. Nhưng chị bảo gọi chị cho thân mật gần gũi. Chị khéo tay, biết nấu một số món đặc trưng trong cung đình, làm các loại bánh và rất rành ẩm thực truyền thống Huế. Từ thuở nhỏ, chị đã được mẹ, cô dì dạy cho bí quyết chế biến các món và làm các loại bánh, tôi thích nhất là loại bánh đậu xanh trái cây. Còn gọi là bánh “quý tộc” bởi có nguồn gốc từ nền ẩm thực cung đình, dùng tại các yến tiệc trong Hoàng Cung, hoặc trong dịp lễ tết của gia đình quan lại và quý tộc, thời xưa. Nguyên liệu từ đậu xanh, làm thành những trái cây như: trái khế, trái ớt, trái cà chưa, trái ớt,…y hệt về màu sắc và kiểu dáng.Thoạt nhìn tưởng trái cây, chỉ khi bạn cầm cái bánh lên ngắm nghía và cắn một miếng thì mới biết bánh đậu xanh vừa ngọt vừa bùi.

Nhưng tôi không biết chị là cháu nội của Cụ Mai Khắc Đôn (Quan Thượng thư bộ lễ dưới triều vua Duy Tân). Và cũng là cháu gọi Hoàng Phi Mai Thị Vàng bằng cô ruột. Hôm nay có dịp lên nhà thăm, chị mới kể cho tôi nghe. Thế là tôi làm một cuộc phỏng vấn nhỏ: Xin chị kể lại một vài kỷ niệm với người cô ruột Hoàng Phi của mình!

Đôi mắt chị nhìn xa xăm vào khoảng không như ngược miền ký ức chị bắt đầu chậm rãi kể (điềm đạm, chỉnh chu và từ tốn là phong cách của chị và cũng là của phụ nữ Huế xưa). 

Chị kể lúc nhỏ thì mỗi lần đi chạp giỗ đều gặp bà Phi. Bà Phi đẹp và hiền lành. Bà sống qua các thời đại thì thời đại nào bà cũng có được hưu bổng. Nhưng cũng eo hẹp sống giản dị. Hồi đó mình lấy chống rồi cũng bận rộn công việc và chồng con, chỉ mỗi khi kỵ giỗ Hiệp Kỵ các vua Dục Đức, Thành Thái, Duy Tân thì bên Hoàng tộc mời con cháu qua. Mình giờ nghĩ lại thật tiếc: “Có ngọc mà không biết trau” Lúc còn nhỏ có cơ hội gần bà Phi mà không thường xuyên gần bà để học hỏi. Bà hiền thục, giỏi dang lại chung thủy và hiếu đạo”. Có dì em là dì Yến (Trần Thị Yến Tuyết con người em gái của Hoàng phi Mai Thị Vàng, (cháu ngoại của cụ Mai Khắc Đôn). Bà Mai Thị Vàng là chị cả, có hai anh trai và 3 em gái là Mai thị Khánh, Mai Thi Quế và Mai Thị Hường) Dì Yến khi lập gia đình rồi vẫn ở với ba mẹ. Bà Phi thường ghé thăm em gái của mình nên dì Yến có cơ hội gặp gỡ bà Phi nhiều hơn”. 

Rồi chị Thanh Xuân đưa tôi lên thăm dì Yến ở đường Lê Ngô Cát (Huế) 

Dì Yến năm nay cũng đã 89 tuổi, vẫn minh mẫn, hồng hào và khỏe khoắn. Tôi gọi chị Xuân quen rồi nên chị Yến bảo gọi chị như Chị Xuân cũng được, cho gần gũi thân thương. Ở các chị là con cháu của Cụ Mai Khắc Đôn phong thái toát lên sự nho nhã, có kiến thức, am hiểu của những người phụ nữ dòng dõi trâm anh, gắn bó với vùng đất Kinh Kỳ, với các món ăn Huế, rành rõi từ nguyên liệu  đến cách chế biến, nghệ thuật trang trí,...

Nghe hai chị hỏi nhau rằng:

- Chị Trà đã mời dì qua đám giỗ chưa?

Hóa ra nghệ nhân Mai Thị Trà là chị em họ của hai chị và cũng là cháu nội của Cụ Mai Khắc Đôn. (Chị Mai Thị Trà là giáo viên văn của trường Đồng Khánh, sau 1975, chị được phân công dạy thêm môn Nữ công gia chánh. Từ đó chị nổi tiếng với nấu các món Huế từ cung đình đến bình dân và chị trở thành nghệ nhân ở lĩnh vực này. Chị Trà năm nay cũng đã 91 tuổi,cũng còn minh mẫn và khỏe mạnh. Hai chị kể, chị Trà bây giờ làm việc còn nhanh nhẹn hơn cả hai chị nữa. Các chị được gia đình cho học chữ, rồi được mẹ, cô, dì dạy cho cách làm các loại bánh, nấu các món để cúng tổ tiên. Riêng nghệ nhân Mai Thị Trà thì có duyên gắn bó với bộ môn ẩm thực. Năm 1991, sau khi nghỉ dạy văn hóa ở trường, chị Trà dành trọn tâm huyết để truyền đạt kinh nghiệm, bí quyết chế biến những món ăn cung đình, truyền thống Huế cho các thế hệ học viên.

Các chị: Mai Thị Thanh Xuân,  Trần Thị Yến Tuyết,  Mai Thị Trà,… con cháu của quan Thượng thư, xuất thân trong gia tộc quyền quý. Nay đều ở ngưỡng trên dưới 90, nhưng vẫn minh mẫn, đằm thắm, ân cần khi tiếp chuyện, trong phong thái của những người phụ nữ vốn dòng dõi trâm anh thế phiệt. Giọng Huế ngọt ngào, điềm đạm và dịu dàng. Nét đẹp duyên xưa vẫn còn lưu lại trên khuôn mặt, dẫu đã ghi dấu ấn thời gian, cuối mùa thu của cuộc đời. 

Được các chị giới thiệu, hôm 5/10/2025 tôi lên thăm phủ đệ (nay là nhà thờ) của cụ Mai Khắc Đôn ở đường Lý Nam Đế thuộc hậu thôn Kim Long. Được thăm lại nơi ở, nơi thờ tự của cụ và Hoàng Phi Mai Thị Vàng. Lòng tôi rưng rưng tràn đầy xúc cảm khi nhìn cảnh cũ nhớ người xưa, những con người đã để lại dấu ấn tốt đẹp trong lịch sử. Tôi quyết định ghi lại một chút gì đó của lớp người hậu thế, góp một phần nhỏ nhoi để tri ân và tưởng nhớ về những vị tiền nhân đã lưu lại tiếng thơm cho một giai đoạn lịch sử, đầy biến động.

Phủ đệ của cụ Mai Khắc Đôn là một ngôi nhà cổ giản dị, lợp bằng ngói liệt xưa. Tọa lạc tại một mảnh vườn xanh tươi cây trái, ở  một vùng quê thanh bình thuộc phường Kim Long, TP Huế. Ngôi nhà chịu ảnh hưởng của mưa nắng thời gian, được con cháu trùng tu năm 2009. Căn nhà trên kiểu nhà rường bằng gỗ, đẹp thanh nhã. Tôi được gặp bà Nguyễn Thị Mai (cháu dâu) thường gọi là bà Lưu. Bây giờ là chủ nhân của phủ đệ. Chồng bà là ông Mai Khắc Lưu (đã mất) là cháu nội của cụ Mai Khắc Đôn, Bà Mai năm nay đã 89 tuổi, nhưng bà vẫn minh mẫn và ân cần vui vẻ tiếp chuyện. Bà là người gần gũi với bà Phi Mai Thị Vàng trong những năm tháng cuối đời. Bà Mai kể:  “Bà cô tôi đẹp mà hiền lắm! Ít nói, sống giản dị và rất thương con thương cháu”. Tôi cũng được gặp gỡ, trò chuyện với chị Mai Thị Nhàn con gái bà Lưu, chắt nội của cụ quan thượng thư Mai Khắc Đôn. 

Trong nhà thờ còn lưu giữ nhiều sắc phong được vua ban tặng cho cụ Mai Khắc Đôn và song thân của cụ. Các chị kể là các con dâu của cụ khi nói về bố chồng là cụ Mai Khắc Đôn rằng: Ông hiền như Phật. 

Bà Mai Thị Vàng sinh trưởng trong một gia tộc quyền quý như thế, được thừa hưởng truyền thống văn hóa, nền giáo dục nghiêm cẩn của gia đình, bà thông minh, đức hạnh, đẹp người và đẹp nết.

Qua câu chuyện của các chị Mai Thị Thanh Xuân, Chị Trần Thị Yến Tuyết, bà Nguyễn Thị Mai và chị Mai Thị Nhàn và tìm đọc thêm tư liệu trên Wekipedia tôi xin tóm tắt lại như sau: 

Cụ Mai Khắc Đôn (1853-1930) thân phụ là ông Mai Bá Hanh, quê ở hậu thôn Kim Long, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên-Huế. Ông là một nhà nho yêu nước, làm quan nhà Nguyễn dưới hai triều đại vua Thành Thái và vua Duy Tân. Từng làm quan tuần phủ (còn được gọi là tuần vũ),  tỉnh Khánh Hòa,  sau đó cử đến làm quan tuần phủ Quảng Trị, là một vị quan thanh liêm, biết lo cho dân. Rồi ông được mời về Kinh dạy vua Duy Tân. Mặc dù Tòa Khâm sứ đã cử các thành viên trong Phủ phụ chính làm thầy dạy chữ Hán cho vua Duy Tân, nhưng ông từ chối, ông chọn viên Tuần phủ Quảng Trị Mai Khắc Đôn làm quan phụ đạo của mình.  Sau đó cụ được thăng chức Lễ bộ Thượng thư và được đánh giá là có ảnh hưởng sâu sắc tới tư tưởng vị vua này. Việc dạy học cho vua là một trọng trách rất lớn, chứa đựng cả một sự ký thác của cả triều đình. Không những dạy chữ Hán cho vua mà còn dạy về truyền thống yêu nước, thương dân, ý chí kiên cường để cứu nước,… Vua Duy Tân rất yêu quý và kính trọng thầy.

Vì sao vua chọn thầy dạy cho mình là Cụ Mai Khắc Đôn?

Trong lúc trong phủ phụ chính có nhiều người học vị tiến sĩ còn cao hơn học vị của cụ lúc bấy giờ (cô Mai Thị Trà kể). Lúc trước cụ Mai Khắc Đôn làm quan tuần phủ tỉnh Khánh Hòa (vị quan đầu tỉnh), theo lệ lúc này tỉnh nào lớn như Đà Nẵng, Nghệ An,… thì có quan Tổng đốc đứng đầu, có hai vị phó là: quan bố chánh (quan võ) còn một vị phó nữa là quan án sát (quan văn). Còn các tỉnh nhỏ như Khánh Hòa, Quảng Nam, Quảng Trị, thì chỉ có một vị quan đứng đầu tỉnh là quan tuần vũ và thêm một vị phó nữa gọi là án sát). Sau đó cụ Mai Khắc Đôn được điều động ra làm quan tuần phủ tỉnh Quảng Trị. Lúc này ở các tỉnh miền Trung nhân dân nổi dậy chống sưu thuế (chỉ trừ Huế là gần triều đình nên họ sợ không nổi dậy, còn Quảng Nam, Quãng Ngãi nhân dân nổi dậy chống đối sưu thuế. Có một ông quan (không tiện nêu tên) lúc bấy giờ dùng vũ lực, đưa quân đến trấn áp nhân dân. Ở tỉnh Quảng Trị lúc đó nhân dân cũng nổi dậy, nhưng khi quan tuần phủ mai Khắc Đôn ra nhận chức thì ông không dùng vũ lực mà chỉ mời người thủ lĩnh nổi dậy đến nói chuyện. Ông phân tích phải trái, có nên nổi dậy hay không? Khi nào thì nên, khi nào thì không nên, có lợi, hại gì,…Như vậy cụ đã khéo léo giải quyết vấn đề một cách thông minh, ôn hòa êm đẹp, chí tình chí lý và sống vì dân, sau đó tình hình êm đẹp, nhân dân đoàn kết, lo chí thú làm ăn và rất kính trọng yêu quý quan tuần vũ Mai Khắc Đôn. Nghe được chuyện này, vua Duy Tân dù lúc đó còn nhỏ nhưng được đặt lên ngay vàng, vua cũng sớm bộc lộ bản lĩnh, thông minh và trọng nhân nghĩa. Ông chọn thầy vì như vậy. Tất nhiên vua còn phải học thêm tiếng Pháp, văn học, lịch sử, triết học,…với các vị quan khác nữa, nhưng theo chị Trà bài học làm người, yêu nước thương dân và khơi gợi chí lớn từ người thầy dạy chữ Hán của mình là cụ Mai Khắc Đôn. Cô Trà kể: có lần hai thầy trò đi biển cửa Tùng, vua Duy Tân nói: “Ngồi trên nước mà không ngăn được nước”. Thầy trả lời: Buông câu ra đã lỡ phải lần. Tôi nghĩ rằng ý cụ là động viên tinh thần, của một chí lớn, trước khó khăn như vậy khi đã khởi sự thì cứ bình tĩnh, nghĩ cách và tuần tự tháo gỡ,.. (cô Mai Thị Trà tiếp tục kể) Khi vua chạy trốn cùng với các cộng sự kháng chiến của mình bị Lính Pháp bắt được ở Ngũ Tây. Vua cũng mặc áo dân thường như những người khác, lúc này có lẽ là cụ Thái Phiên và cụ Trần cao Vân.  Nghe tin vậy cụ Mai Khắc Đôn tới, khi đi lên đó có qua một cái cầu nhỏ, xe không đi được, nhìn thấy vua Duy Tân bên kia cầu, cụ Mai Khắc Đôn liền bước xuống xe (cụ mặc dù là thầy dạy và là cha vợ nhưng vẫn giữ đạo vua –tôi, liền quỳ xuống hành lễ, thì bên kia vua Duy Tân cũng bái lạy thầy. Khi đó lính Pháp mới biết ai là vua Duy Tân, từ đó đối xử khác, có vẻ nhẹ nhàng hơn. Họ mời ngài lên xe và chở đi.

Cuộc gặp gỡ và gắn bó của vua Duy Tân với người thầy dạy học của mình là cụ Mai Khắc Đôn, ngoài đức độ và tài năng, có lẽ còn có một mối nhân duyên trời định, sau này ngoài quan hệ vua tôi, thầy trò còn có quan hệ gắn bó hơn nữa.

Khi lên 16 tuổi hai người mẹ vua là bà Nguyễn Thị Định thứ phi của vua Thành Thái, (gọi là bà Sanh). Hoàng quý phi Nguyễn Gia Thị Anh chính thất của vua Thành Thái, vua Duy Tân gọi là mẹ đích. Hai mẹ và các quan thúc hối việc nạp phi để có người nối dõi thì vua đã chọn tiểu thư Mai Thị Vàng. Mặc dù trước đó, vua thường hay hỏi thầy là: Thầy có con gái lớn không? Thầy bảo: Con thần đều còn nhỏ dại cả”. Ý là cụ không muốn gả vì biết làm vợ vua sẽ khổ. Vua nói: Thầy yên tâm! Thầy gả em Vàng cho con, con sẽ yêu quý em để đền ơn thầy dạy bảo. Vua muốn đền ơn giáo dục của thầy Mai Khắc Đôn vì đã dạy cho ông những điều mà không một đại thần nào dưới sự điều khiển của Pháp dám dạy.

Thường ngày thì tiểu thư Mai Thị Vàng và các anh chị em ở Kim Long với mẹ. Còn Quan thượng thư ở lục bộ (sáu ngôi nhà dành cho sáu vị quan đầu triều ở trong thành) một hôm Tiểu thư Mai Thị Vàng về phủ lục bộ chơi. Đang chơi ở sân các chị em, tình cờ vua Duy Tân cùng ngồi xe song mã với thầy Mai Khắc Đôn ghé qua. Vua hỏi: “đây có phải là con gái lớn của thầy không? Vậy mà thầy cứ giấu tôi”. Thế là từ đó vua đem lòng yêu mến. 

Những giai thoại về việc lấy vợ của vua: Khi nghe triều đình chuẩn bị nạp phi cho vua các quan đại thần và các mệnh phụ đều muốn con gái mình có cơ hội làm vợ vua, nhưng vua nói với hai người mẹ là “con có người yêu rồi!”. Hỏi người yêu đâu? Thì vua bảo: mời mẹ ra biển cửa Tùng. Thế là đoàn đi biển cửa Tùng, qua 4 ngày rồi, không thấy bóng hồng nào. Mà chỉ thấy ngày nào vua cũng ngồi vốc cát lên chơi. Hỏi thì vua bảo: Đãi cát tìm vàng. Nếu mẹ không thấy thì ngày MAI vô Huế sẽ thấy. Người mẹ đích mới hiểu và nói với mẹ đẻ vua rằng: Vậy là vua đã chọn ý trung nhân họ Mai: Tiểu thư Mai Thị Vàng (con quan Thượng thư Bộ lễ) 

Cuối năm 1915, lễ hỏi giữa Hoàng đế Duy Tân và Mai Thị Vàng được cử hành, ngày 12 tháng chạp năm Ất Mão tức ngày 16 tháng 1 năm 1916, lễ nạp phi được tổ chức trọng thể ở bộ Lễ. Bà Mai Thị Vàng năm đó 17 tuổi được phong làm đệ nhất giai phi của Duy Tân. Theo lệ cũ từ thời vua Minh Mạng nhà vua không lập Hoàng hậu. Danh hiệu Đệ nhất giai phi là cao quý lúc bấy giờ.

Bà Phi họ Mai đẹp, thanh thoát, dịu dàng, đặc biệt đôi mắt rất đẹp. Bà được vua Duy Tân sủng ái, thường cho ngồi ăn chung. Vua còn so đũa, đưa muỗng cho vợ, nói chuyện thân mật cùng nhau bên mâm cơm. Đây là điều trái với điển lệ triều Nguyễn, vốn quy định các bà phi không được ngồi cùng mâm với Hoàng đế. Hai bà mẹ gọi vua lên quở trách. Nhưng vua bảo: Mẹ bảo con ngủ với vợ, sao lại không được ăn chung với vợ để trò chuyện tâm tình,..”.Từ đó về sau không ai nói về việc này nữa. 

Cuối năm 1916, Duy Tân khởi nghĩa chống Pháp không thành nên bị thực dân Pháp đày sang đảo Réunion, một thuộc địa của Pháp ở Ấn Độ Dương.  Đức vua Duy Tân đi đày qua Reunion với vua Thành Thái, Thân mẫu Nguyễn Thị Định (gọi là Ngài Sanh)  cùng bà Phi Mai Thị Vàng và công nữ Lương Nhàn, lúc đó 12 tuổi (tên thường gọi ở nhà là mệ Cưỡi- em ruột vua Duy Tân). Lúc theo chồng lên đường, bà Hoàng Phi đã có thai 3 tháng nhưng bị sẩy thai.

Sau hai năm ở đảo Réunion, vì không hợp thủy thổ, khí hậu, bị đau ốm luôn. Bà cùng mẹ chồng là bà Định cùng em ông trở về Huế. Lúc này bà mới 19 tuổi.

Theo Wekimedia: Nói về cuộc sống ở đảo Réunion, bà Mai Diệu Phi từng chia sẻ: "Ở đảo Réunion rất dễ chịu. Người dân toàn làm một nghề chài lưới. Họ vui vẻ lắm, mua bán cũng tử tế. Nhưng tôi không biết làm sao, ở đó phong thổ tuy tốt nhưng mà hình như sức khoẻ tôi không hợp, nên hay đau. Vì thế, tôi xin Ngài cho tôi về... Ngài còn cho phép tôi tự ý đi bước nữa... Con nhà nề nếp như tôi dầu thế nào cũng phải giữ danh giá. Vẫn biết tuổi trẻ chưa dám chắc ở mình, nhưng bây giờ có nói đến việc gì cũng là khó. Thôi thì tôi tưởng chỉ có hy sinh cái đời tôi cho Ngài cho trọn". 

Nhưng theo cô Mai Thị Trà (cháu nội của cụ Mai Khắc Đôn, gọi Hoàng Phi Mai Thị Vàng bằng cô ruột là:  không phải bà Hoàng Phi tự ý xin vua về mà do vua phái vợ về để phụng dưỡng mẹ và chăm sóc em trai.Tại đảo ngài Sanh có thai và sinh Hoàng Tử Vĩnh Hòe. (hồi đó đi bằng đường biển, lênh đênh hàng tháng trời, vất vả) . Như vậy nguồn Wekimedia có những chi tiết cũng chưa thật sự chính xác. Do ở đảo khí hậu, thổ nhưỡng không hợp, bà sanh lại vừa sinh con nhỏ là Hoàng Tử Vĩnh Hòe- (ở nhà thường gọi là Mệ Hên) nên Vua Duy Tân đã cho bà phi Mai Thị Vàng cùng về để hầu mẹ chồng và phụ chăm sóc em trai (khi đó mới 1-2 tuổi).

Chị Công Tôn nữ Như Thanh (con gái của Hoàng tử Vĩnh Hòe) kể “Năm 1916 Đức vua Duy Tân cùng vua cha Thành Thái bị đày thì người em ruột cùng mẹ với Ngài đi theo là em gái, công chúa Lương Nhàn, tên thường gọi ở nhà là Mệ Cưỡi. Ba của mình là là hoàng tử thứ 19 của Đức Ông nội Thành Thái, em trai ruột cùng mẹ duy nhất của vua Duy Tân, hoàng tử Vĩnh Hoè thì đến năm 1919 mới được bà nội Nguyễn thị Định, tài phi của Đức vua Thành Thái sinh ra ở đảo Réunion. Mình may mắn được ở chung nhà với bà nội và bác gái ờ ngôi nhà đó nên mình biết khoảng thời gian cuối đời hai bà sống vọng phu cô đơn lặng lẽ , bởi vì ba người con của bà nội đều mất sớm, bác gái thì không có con. Đức Bác Duy Tân mất năm 1945, ba của mình là con trai út của bà thì mất 1953, Đức Cô công chúa Lương Nhàn mất 1956. Bà nội, tài phi của Đức Ông Thành Thái mất 1971. Bác gái Mai thị Vàng mất 1980.”

Cô Trà kể: “năm 1945, Pháp đồng ý cho vua Duy Tân trở về nước. Nhưng đồng thời sau đó ông mất vì tai nạn máy bay năm 1945, cái chết của vua Duy Tân vẫn còn là một bí ẩn”.

Vì vậy khi nghiên cứu về các nhân vật lịch sử chúng ta sẽ tra cứu nhiều nguồn thông tin, đặc biệt dựa vào nguồn thông tin của hậu duệ , bà con trong thân tộc và người hiểu rõ về nhân vật lịch sử để có độ xác tín cao nhất có thể. 

Khi thực hiện bài này thì tôi được gặp được một số hậu duệ của cụ Mai Khắc Đôn Và sau khi bài viết đăng trên fb thì cô Mai Thị Trà và chị Công tôn nữ Như Thanh cho biết thêm một một vài chi tiết như đà nói ở trên.  

Cô Mai Thị Trà cho biết thêm:

Thời gian mới về, không có nhà ở nên bà Nguyễn Thị Định (bà sanh của vua Duy Tân) và Hoàng Phi Mai Thị Vàng cùng em chồng ở gần bà con bên bà Sanh ở Long Thọ, gần khu vực Hổ Quyền, sau đó ổn định rồi mới thuê nhà khác để ở chuyển đi một vài nơi nữa. Chi tiết cấp nhà sau đây là do cô Yến kể và cô Trà cũng xác nhận là đúng như thế: Sau một thời gian về nước, thấy các bà mẹ vua và vợ vua không có nhà ở chính quyền miền Nam  lúc đó cấp cho bà Sanh và bà Phi căn nhà (căn nhà có 3 phòng) ở kiệt 1 đường Âm Hồn, sau đó đổi thành đường Nguyễn Hiệu  (sau 1975 đổi tên đường Lê Thánh Tôn cho đến nay). Bà Phi rất hiếu để, hằng ngày chăm sóc mẹ chồng và em chồng. Khi em trai của chồng (hoàng Tử Vĩnh Hòe) trưởng thành vô Saigon học hành và lập nghiệp. Năm 1971 mẹ chồng mất. Lúc này bà Hoàng Phi đã 72 tuổi, bà xin hồi tôn về lại Kim Long sống cuộc đời còn lại ở phủ của cha mẹ ruột.

Theo chị Yến thì lúc về Huế bà vẫn được nhận hưu bỗng, Ngài tòa Khâm Pháp rất mê bà: Nói với bà là: “bà lấy vua không sướng bằng tôi đâu, nếu bà đồng ý làm vợ tôi, tôi sẽ đưa bà đi khắp thế giới”

Nhưng bà từ chối. Bà nói: “Xin lỗi ông, đời tôi chỉ có vua là chồng, vua là thiên từ, không ai có thể hơn vua”

Mỗi lần đến kỳ lãnh lương, ông tòa khâm lại sai người cho xe đến tận nơi rước bà về và mời vào phòng làm việc tiếp đãi, rồi cho xe chở về, bà biết giữ mình nên khi nào bà cũng đi cùng người anh trai của bà để tránh sự thân mật của khâm sứ Pháp. Đúng tinh thần như câu Kiều:

“Gìn vàng giữ ngọc cho hay 

Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời”

Theo lời kể hậu duệ của gia tộc Hoàng Phi và tham khảo ở nguồn Wikimedia, 

Tôi xin tóm tắt các mốc thời gian quan trọng của Hoàng Phi: 

Đệ nhất Giai Phi nguyên danh Mai Thị Vàng sinh năm 1899, tại thôn Kim Long, Huế, năm 1915 đám hỏi, đám cưới ngày 16/1/1916, tức là đầu năm 17 tuổi đám cưới. Cuối năm 17 tuổi phải theo chồng đi đày, 19 tuổi trở về Huế. Khi ở đảo Réunion, Duy Tân vẫn thường gửi thư về cho bà. Năm 1925, Duy Tân đã gửi thư về cho hội đồng hoàng tộc kèm giấy ly hôn bà Mai Diệu phi, xin Hội đồng chứng nhận để bà đi lấy chồng khác. Khi đó, bà mới 27 tuổi nhưng bà không ly hôn mà vẫn ở vậy nuôi mẹ và em chồng. Cô Trà còn cho biết là vua Duy Tân rất thương nhớ bà Phi Mai Thị Vàng. Vua có làm một bài thơ nói lên tâm sự của mình đăng lên báo bên Pháp và ông Trần Viết Ngạc (em của người bạn thân của cô Trà) sang bên đó đọc được, và còn đọc thêm một số tài liệu liên qua đến vua Duy Tân và bà Hoàng Phi Mai Thị Vàng bằng tiếng Pháp. 

Cụ Mai Khắc Đôn đức cao vọng trọng nhưng cụ sống giản dị, thanh liêm. . Cụ là một nhà nho yêu nước, một vị quan thương dân và là một người thầy đáng kính của vua Duy Tân. Sau 8 năm học với thầy Mai Khắc Đôn, Vua Duy Tân trưởng thành, trở thành vị vua yêu nước và đứng lên chống Pháp. Tư tưởng của vua có ảnh hưởng tốt từ tư tưởng của thầy dạy và là nhạc phụ Mai Khắc ĐônCon cháu cụ kể lại là lúc làm quan, về nhà ông còn dạy học cho học trò trong địa phương, làng Trúc Lâm không biết lấy gì để đền ơn cụ nên đã hiến một sào ruộng làm nơi an nghỉ cho cụ. Trải qua làm quan hai triều vua Thành Thái và vua Duy Tân, cụ đã để lại những dấu ấn tốt đẹp. Năm 1930 cụ an nghỉ, mộ cụ được xây giữa một cánh đồng lúa xanh rờn, khung cảnh yên bình, như tính cách và cuộc sống sinh thời cụ đã gần dân, yêu thương dân như thế!



 Hoàng Phi Mai Thị Vàng là ý trung nhân vua đã chọn: xinh đẹp, hiền thục, chung thủy và hiếu để.  Bà xuất thân quyền quý, bước lên danh vọng đỉnh cao là đệ nhất Hoàng Phi nhưng lại sống giản dị. Là người có tấm lòng trung trinh, thủ tiết với chồng cho đến khi qua đời (1980) tại Kim Long. 

Cuộc đời cụ Mai Khắc Đôn là tấm gương về tài năng, đức độ, yêu nước và thương dân, từ những tư tưởng tốt đẹp và kiến thức uyên bác của mình đã truyền dạy, đào tạo một vị vua trẻ tuổi thành vị vua yêu nước thì cuộc đời Hoàng phi con gái cụ là một người phụ nữ Huế tiêu biểu cho nhan sắc và đức hạnh.Nếu vua không bị đi đày thì cuộc đời bà là hạnh phúc viên mãn bên vua và sẽ là một mẫu nghi chuẩn mực trong triều lúc bấy giờ.

Thời gian ở đảo như đã nói ở trên bà thường đau ốm do không hợp thổ nhưỡng, khí hậu, sợ bà có bề gì, trước đó cũng vì vất vả nên bị sảy thai, vua để bảo toàn sức khỏe cho vợ, mẹ và em trai, đã cho Hoàng Phi cùng mẹ là bà Định và em trai về Việt Nam sinh sống.

Sau này, vua cũng có con với 3 người phụ nữ châu Âu. (Chị Như Thanh kể) “Đức Bác Duy Tân hồi còn ở đảo Réunion, Ngài có 3 người vợ không chính thức và có 6 người con. Bà thứ nhất có 1 con trai, Bà thứ 2 có 3 trai một con gái, Bà cuối cùng có 1 gái” . Các Hoàng Từ có trở về thăm quê cha. Năm 1987, họ đưa thi hài của vua Duy Tân từ Pháp về Huế an táng tại An Lăng (Huế). Các con vua Duy Tân cũng thường được nghe cha kể về Hoàng Phi Mai Thị Vàng (cũng xem như mẹ đích vì bà Phi vẫn là vợ vua hợp pháp) các con của vua Duy Tân cũng yêu quý và kính trọng bà Hoàng Phi nên dù lúc mất 1980, Hoàng Phi an nghỉ tại Kim Long, nhưng sau này các hoàng tử về xin đưa Mộ phần bà Hoàng Phi Mai Thị Vàng về cải táng tại An Lăng, gần mộ vua Duy Tân. (Năm 1994),

Bà Nguyễn Thị Định mất năm 1971 tại Huế, được táng trong khuôn viên lăng Dục Đức cùng với vua Thành Thái và Duy Tân. Bà Hoàng quý phi Nguyễn Gia Thị Anh cũng được táng tại đây.

Mời bạn đọc xem 2 video người viết bài có một cuộc phỏng vấn nhỏ với Chị Mai Thị Thanh Xuân (cháu nội của cụ Mai Khắc Đôn), chị Trần Thị Yến Tuyết (cháu ngoại của cụ Mai Khắc Đôn) một số hình ảnh thăm phủ đệ, gặp gỡ bà Mai (cháu dâu) và chị Mai Thị Nhàn, chắt nội của cụ Mai Khắc Đôn). Xem một số hình ảnh của Công Tôn nữ Như Thanh cung cấp, (con gái của Hoàng Tử Vĩnh Hòe- Hoàng tử thứ 19 của vua Thành Thái) hiện sống tại Canada. Chị Như Thanh đã về dự Huý Nhật ba vua Dục Đức Thành Thái Duy Tân tại An lăng ngày 16/2/Ất tỵ (5/3/2025).

Saigon, ngày 15/10/2025

Hoàng Thị Bích Hà

Video gặp gỡ trò chuyện với chị Mai Thị Thanh Xuân https://www.youtube.com/watch?v=pzDPN6BtgDE


Video gặp gỡ trò chuyện với chị Trần Thị Yến Tuyết

https://www.youtube.com/watch?v=jMfQWmQd-s0




READ MORE - THĂM PHỦ ĐỆ NHỚ NGƯỜI XƯA - Hoàng Thị Bích Hà

SỢ EM GIẬN - Mai Hoài Thu phổ thơ Đỗ Vẫn Trọn - New Version (Pop Ballad...) - YouTube

READ MORE - SỢ EM GIẬN - Mai Hoài Thu phổ thơ Đỗ Vẫn Trọn - New Version (Pop Ballad...) - YouTube

ĐÊM ẤY / SỢI TÓC / DỐI GIAN - Thơ Sông Ngàn (Lê Thi)


 

Đêm ấy 

Sau đêm ấy cà phê 

Em về off điện thoại 

Tôi nhắn tin em mãi 

Nhận thiệp hồng tháng sau 

 

Sợi tóc 

Sợi tóc buông nhẹ nhàng 

Nằm bên bờ gối trắng 

Em ơi bao đêm vắng 

Ta hao gầy thương em !

 

Dối gian

Anh về với biển chiều qua 

Nắng vàng quyện sóng vỡ òa niềm đau 

Nhớ chiều xưa ấy có nhau 

Giờ đây bóng vắng nát nhàu gót tiên 

Sóng  ôm lên sóng triền miên 

Rách từng thớ thịt xay nghiền nhớ nhung

Dối gian người hẹn đi cùng 

Anh về biển vắng mịt mùng bão giông

 

Sông Ngàn, thu 2025.

 

READ MORE - ĐÊM ẤY / SỢI TÓC / DỐI GIAN - Thơ Sông Ngàn (Lê Thi)

CON DỐC - Thơ Trần Hữu Thuần

 

Nhà thơ-Nhạc sĩ Trần Hữu Thuần



Con Dốc 

Thơ Trần Hữu Thuần

 

Kiếp con người mỏi mòn như dốc đá,

Con dốc dài hứng chịu gió thời gian,

Cát sỏi nối nhau vào cõi hoang tàn,

Phiền muộn héo hon thân băng giá.

 

Đã biết thế, trần đời là cõi tạm,

Sống hôm nay không biết được ngày mai,

Thân nhục thể đời phù vân dâu bể,

Cuộc nhân sinh chỉ một thoáng hình hài.

 

Cây sừng sững đứng đầu dốc phơi phới,

Đỉnh vinh quang ta chiếm giữ bầu trời,

Dưới chân ta mọp quỳ bao rừng thẳm,

Ta nghênh ngang, ta ngạo nghễ với đời,

Bỗng từ đâu dập vùi trời mưa bão

Trốc gốc, gãy cành, tàn lá ngã nghiêng.  

 

Đời vênh vang công hầu rồi khanh tướng,

Lúc xuôi tay, nấm đất hoang bên đường.

Triền dốc lên sẵn sàng triền dốc xuống,

Đỉnh núi cao, thung lũng vực đang chờ,

Mộng giàu sang, giấc kê vàng tan vỡ,

Như mây trôi trăm sự cũng bằng không,

Trần hoàn con dốc chênh chông.

 THT

(Grand Rapids, Michigan 21 th. 10, 2025)

jbtranthuan@hotmail.com





READ MORE - CON DỐC - Thơ Trần Hữu Thuần

ĐÊM TỰU TRƯỜNG / BẾN SƯƠNG CHIỀU / GIOT TƯƠNG TƯ - Thơ Nguyễn Trung Giang

 



Nguyễn Trung Giang

Đêm tựu trường

Kỷ niệm lần họp mặt chs Hải lăng tại nhà Trịnh Kỳ 

ở Dầu Tiếng.


Đêm tựu trường đám học trò tóc trắng

Trắng bờ khuya thức trọn khoảng trời xưa

Âm vòng tay nghe tiếng lòng mở cửa

Thắm thiết trong nhau thương mấy cho vừa

Giua dòng trôi trót làm thân viễn xứ

Năm mươi năm thương nhớ cũng hao gầy

Tróng tan trường phượng nở rời tay

Tình vương vấn trên dặm dài phiêu bạt

Thày cô ơi ! giờ chúng con họp mặt

Lệ đoàn viên trong vắt giọt bình minh

Muối mặn gừng cay thấm đãm ân tình

Hồn áo trắng lung linh màu kỷ niệm

Đêm hôm nay giữa khung trời Dầu tiếng

Tiếng chim mọi miền hòa khúc hát

Hải Lăng ơi!


NTG


Bến sương chiều

 

Ta đứng lặng bên bờ chiều sương lạnh

Dòng sông đời con nước gợn hoàng hôn

Mây trắng xưa bay về phương cố quận.

Bến cô liêu u uẩn khói sương buồn

Thơ chạm khẽ vào nỗi niềm nhân thế

Men giang hồ vương hơi thở trầm luân

Lòng đi hoang qua bãi biền dâu bể

Bàn tay khô in đậm vết phong trần.

Mộng tàn khuya miên man hồn vó ngựa

Giot nắng mưa thầm lặng trĩu vai đời.

Ôm ước mơ băng qua miền bão tố.

Thương cánh buồm phiêu bat đẫm buồn vui.

Trắng tóc mây nghe hồn còn thơ dại

Gác phong ba thuyền đậu bến sông chiều.

Ngày xưa ơi! ta và người vẫn mãi.

Thủa ban đầu xanh ngắt khoảng trời yêu.


 NTG


Giọt tương tư

 

Tình đọng trong nhau những giọt buồn

Hai làn tóc đẩm một màu thương

Đời không chung lối trăng chung mộng

Duyên dẫu chia lìa nợ vẫn vương

Em có bâng khuâng sầu bến lạ

Ta còn khắc khoải nhớ trăm đường

Tương tư nhuộm trắng màu dâu bể

Nhung nhớ lên vầng quyên khói sương.

 

NTG

READ MORE - ĐÊM TỰU TRƯỜNG / BẾN SƯƠNG CHIỀU / GIOT TƯƠNG TƯ - Thơ Nguyễn Trung Giang

THU ĐI - Thơ Nguyễn Huy Vụ

Tác giả Huy vụ

 

THU ĐI

 

Thu đi thương cúc võ vàng

Ngùi trông cánh nhạn miên man lưng chiều

Gót mòn lữ khách phiêu diêu 

Vẳng đâu như tiếng sáo diều ngày xưa

Quê nhà em có về chưa

Phận tôi trời bắt gió mưa bình bồng

Ta Bà một cõi mênh mông

Mấy ai giữ được mặn nồng trăm năm

Tri âm khuất phía mù tăm

Mảnh trăng vườn cũ còn rằm không em

Thơ giờ chả có người xem

Bao năm lỡ để mực lem giấy sầu

Mơ ngày Hợp phố về châu

Bút nghiên lại nối nhịp cầu cho thơ

Phận tằm trời bắt buông tơ

Hư danh đeo đuổi đã phơ mái đầu

Làm gì lời nói mà đau

Làm gì lỡ để nhạt mầu thu xưa

Ta về mơ tiếng đò đưa

Hồ trường có đủ dỗ thừa cơn say

Dường như thu sắp cạn ngày

Ai làm cho giọt lệ cay đắng lòng.

                      HV 22/10/2025

                                                           nguyenhuyvu62@gmail.com

READ MORE - THU ĐI - Thơ Nguyễn Huy Vụ

TRỞ VỀ - Truyện ngắn - Nguyễn Thị Thu Sương

 

Tác giả Nguyễn Thị Thu Sương

Truyện ngắn

TRỞ VỀ

 

Giới thiệu và xuyên không.

 

      Lan sinh ra ở làng Vĩnh Lại thuộc huyện Triệu Phong tỉnh Quảng Trị. Quảng Trị là một tỉnh nhỏ, vùng giới tuyến của đất nước, lúc nào cũng có nhiều quân đội và nhiều lính tráng với nhiều quốc tịch.

      Sau Mùa hè Đỏ lửa 1972, dân Quảng Trị chạy loạn vào các tỉnh Miền Trung, lưu lạc khắp Miền Nam Việt Nam, và nhiều nhất là ở thành phố Đà Nẵng. Hiệp định Paris 1973 được ký, quân đội Mỹ rút quân về nước, các căn cứ Mỹ bỏ lại ở Non Nước và Hòa Cầm trở thành nơi tạm cư của dân chạy loạn Quảng Trị. Gia đình Lan ở trại tạm cư Hoà Long, Non Nước Đà Nẵng trong vòng hai năm.

      Sau 1975, Lan học cấp ba tại trường Phổ thông cấp ba Hàm Tân, tỉnh Thuận Hải. Lan đã vượt qua nghèo khổ của cuộc sống sau chiến tranh, nàng đã đậu vào trường đại học Y Khoa Sài Gòn năm 1977.

      Năm 1983, Lan là sinh viên năm cuối trường Đại học Y khoa thành phố Hồ Chí Minh.

       Lan luôn là sinh viên chăm chỉ của trường Đại học Y Dược , mới sáng sớm đều bắt chuyện xe buýt quen thuộc đến trường. Nhưng hôm nay, một sự cố nhỏ với cuốn tập thất lạc khiến nàng suýt trễ giờ. May mắn thay, chị Yến tốt bụng đã cho Lan mượn chiếc xe đạp, giúp nàng kịp giờ đến lớp.

       Tan học, Lan xe đạp về trên con đường Nguyễn Trãi rợp bóng me, lác đác những chiếc lá vàng rơi, tạo nên một khung cảnh yên bình lạ thường . Nàng thích cảm giác tự do, ung dung khi lướt qua chợ Bến Thành nhộn dịp, vòng qua bùng binh Quách Thị Trang. Phía trước là những đường ray ngang dọc dán vào đường Trần Hưng Đạo. Đang mải mê ngắm nhìn khung cảnh quen thuộc, bất chợt một tiếng “cạch” khô khốc vang lên. Bánh xe của Lan lọt vào đường ray. Nàng loạng choạng, mất lái, và mọi thứ bỗng chốc đảo lộn. Đầu nàng va đập mạnh, hình ảnh cuối cùng in vào mắt là chiếc xe buýt khổng lồ đang lao tới. Rồi, một bóng tối thăm thẳm ập đến, nuốt chửng tất cả.

         Lan tỉnh lại, thấy mình nằm trên một con đường làng ở một vùng quê nào đó, con đường làng đất đỏ, những mái tranh lúp xúp, mùi rơm rạ thoang thoảng và có vẻ xa lạ. Lồng ngực nàng thắt lại, Lan không biết mình đang ở đâu?. Nàng nhớ mình bị xe buýt tông vào , giờ sao mình ở đây ?, Nàng tự hỏi: “Không lẽ … không lẽ đây là âm phủ thật sao? Nhưng sao lại bình yên đến lạ lùng thế này, không có những cảnh rùng rợn của địa ngục.”  Nàng cảm thấy bàng hoàng, sợ hãi và lo lắng không biết mình lạc vào nơi nào.? Nàng hoài nghi, tự véo mình, nhìn xem có dấu vết quen thuộc thời hiện đại của mình đang sống, nàng hoàn toàn mất phương hướng.

          Có một bác nông dân đi qua, bác ấy kêu:

      - Sao tiểu thư lại ngồi ở đây, quan ông kêu con đi kiếm tiểu thư về, ông nói gặp có chút chuyện .

        Lan nhìn lại mình, nàng không còn mặc bộ đồ Tây mà mặc áo quần của một tiểu thư của thời thế kỷ mười chín. Nàng lại càng ngạc nhiên và nghĩ không lẽ mình đã xuyên không về đây.

          Lan đứng dậy và theo người gia nhân về nhà. Trên đường về nhà, nàng nhận ra đường làng đất, hai bên nhiều ruộng lúa, đằng xa là lũy tre làng, khung cảnh có nhiều nét quen thuộc. Tuy nhiên, nhà cửa có vẻ nghèo khổ, đa số nhà tranh, có ít nhà ngói, nhưng thiết kế theo kiểu thật xưa.

     Người gia nhân dẫn nàng đến một ngôi nhà ngói kiểu xưa, trước có một cổng lớn có bức bình phong xây bằng đá hoa văn trạm trổ tinh xảo. Đi vòng qua bức bình phong, nàng thấy một sân rộng, có vài hòn non bộ và nhiều cây cảnh thật đẹp, cắt tỉa công phu. Có một ông quan mặc áo quần xưa, dáng vẻ oai phong, cao lớn, nhưng có khuôn mặt hiền và đẹp. Ông từ tốn nói:

     - Con đi đâu vậy, ta muốn gặp con nói một chuyện quan trọng.

       Ánh mắt nàng chợt dừng lại trên khuôn mặt người đàn ông. Một cảm giác quen thuộc đến lạ thường ập đến, như thể nàng đã gặp ông ở đâu đó rồi. Bỗng, một tia xẹt qua tâm trí nàng: bức ảnh cũ kỹ trên bàn thờ của gia đình! Người đàn ông này chính là ông vải, vị quan tri huyện Thành Hoá xưa kia của nàng. Nàng đã thật sự xuyên không về đây, trở thành tiểu thư con quan tri huyện xứ Quảng Trị xưa ở thế kỷ mười chín.

       Nàng cúi đầu vâng dạ và bước vào nhà. Nàng bây giờ là con gái út của ông.

        Nàng vổ vai người hầu gái:

       -“Này em, Hôm này ngày mấy mà mẹ ta đi lễ chùa vậy? Ta tự nhiên thấy đầu óc lơ mơ, quên béng mất ngày tháng.”  Giả vờ như đang đãng trí.

     Cô hầu gái trả lời :

     - “Thưa tiểu thư, ngày 14 gần rằm rồi ạ.”

Lan gãi đầu nói tiếp:

     - “Ta hỏi thật, năm nay là năm con gì, và năm bao nhiêu ấy nhỉ ? Tự nhiên ta thấy trong người không khỏe, đầu óc cứ luẩn quẩn.”

Cô hầu gái ngạc nhiên, rồi nhanh nhảu trả lời:

       -“Ôi tiểu thư! tiểu thư sao lại quên? Năm nay là năm Ất Mùi , năm 1895 đó ạ! Tiểu thư có cần con pha trà an thần không ? Giọng hồn nhiên, có chút lo lắng cho chủ.

Lan vuốt đầu cô gái và khen cô hầu gái:

      -“Hôm nay em giỏi quá!”

      Như thế, Lan xuyên không về thế kỷ 19 thời vua Thành Thái nhà Nguyễn, cách thời đại cô sống gần một thế kỷ.

        Cô con gái út của quan tri huyện có nhan sắc diễm kiều. Nàng là con của người thiếp thứ ba.

       Ngày nhậm chức về vùng Cam Lộ, phu nhân không theo hầu hạ được vì bận quán xuyến gia đình và ruộng nương ở quê nhà. Phu nhân đồng ý để ông cưới thêm thiếp , để lo nâng khăn sửa túi cho ông. Con gái của ông hội đồng trong vùng có nhan sắc nổi trội, nàng vừa mới đôi mươi. Ông quan tri huyện đánh tiếng và đã được ông hội đồng chấp thuận. Cô gái trẻ xinh đẹp về làm thiếp thứ ba của quan tri huyện, người đó là mẹ của nàng.

       Nàng thừa hưởng nét đẹp của mẹ và sự thông minh của cha. Nàng được cha cho học hành, mời gia sư đến dạy chữ Nho, nàng đọc thông viết thạo và có thiên hướng về ngành y học . Nàng được một danh y trong vùng dạy dỗ và truyền lại những bí truyền. Với sự thông minh sẵn có, nàng tiến bộ nhanh và biết nhiều y học . Nàng biết nhiều loại thuốc trị bệnh, hái từ những lá cây mọc chung quanh nhà và vùng quê . Nàng có khả năng châm cứu kết hợp với những bài thuốc học từ sư phụ. Nàng đã tham gia chữa bệnh cùng sư phụ, nên tay nghề dần dần nâng lên.

      Nàng cũng lo lắng không biết cha nàng hôm nay kêu nàng vào để nói chuyện gì?

     Vào phòng khách, nàng vòng tay kính thưa và nhỏ nhẹ nói:

       - "Thưa cha, cho gọi con."

      Cha: “Con gái, vào đây ngồi cạnh cha.”

       Lan nhỏ nhẹ, cung kính: “Dạ, con xin vâng ạ” Nàng khẽ khàng tiến lại, nét mặt vẫn còn chút lo lắng, hồi hộp không biết chuyện gì.

     Cha nhìn Lan âu yếm, pha chút nghiêm nghị: “Con cũng đã lớn khôn rồi, chẳng mấy chốc đã trở thành thiếu nữ. Phụ thân có chuyện quan trọng muốn bàn với con hôm nay.”

     Lan cúi đầu, giọng vẫn nhỏ: “ Con xin lắng nghe lời phụ thân chỉ bảo ạ”

     Cha giọng từ tốn, nhưng kiên định: “ Cha đã nhận lời cầu hôn từ phía quan Hồng lô Tự khanh ở làng An Cư, cháu nội của quan Thượng thư Kỳ Vỹ quận công Nguyễn Văn Tường. Đây là một mối phúc lớn cho con và gia tộc ta.”

     Lan ngước nhìn cha, ánh mắt thoáng chút ngạc nhiên xen lẫn e thẹn: “ Dạ…con…” Nàng có thể hơi lúng túng, không nói nên lời, hoặc chỉ khẽ gật đầu, má ửng hồng.

     Cha nhìn Lan, có thể nở một nụ cười hiền hậu: “ Con hẳn cũng nghe tiếng về cậu ấy. Là một người tài đức vẹn toàn, lại xuất thân danh giá. Cha tin đây sẽ là một tấm chồng tốt, một bến đỗ bình yên cho con.”

     Lan khẽ cắn môi, suy nghĩ trong chốc lát, rồi cuối cùng vẫn vâng lời: “ Dạ, con xin tuân theo sự sắp đặt của phụ thân ạ.”Thể hiện sự phục tùng của người con gái thời xưa, nhưng vẫn có chút nội tâm riêng tư.

     Cha báo cho con biết để chuẩn bị .

     Tối hôm đó, sau khi bình tâm trở lại, Lan nhớ lại lời kể của cha nàng (ở thế kỷ 20), bà cố em ruột của cố Lan có một đời sống hôn nhân hạnh phúc và là một người nhân đức được mọi người yêu mến và tôn trọng. Lan nghĩ chắc mình may mắn sống cuộc đời của bà cố, đó là phúc phận của nàng. Lan yên tâm sống tiếp cuộc đời hiện tại của mình. 

 

     Thích nghi và nhận thức

 

      Nàng có nghe tiếng về vị quan Hồng Lô Tự Khánh. Người đó học hành đỗ đạt cao, con cháu một gia đình danh gia vọng tộc, cao ráo đẹp trai. Chàng là hình mẫu mơ ước của nhiều cô gái. Nàng là người được chọn, nàng cảm thấy mình thật diễm phúc.

     Cha nàng là bạn đồng hương của quan thượng thư, làng Vĩnh Lại của nàng gần làng An Cư. Trước đây anh cả của nàng đã cưới con gái trưởng của ngài thượng thư. Do mối thông gia cũ đã biết nhau nên nàng được chọn cưới cho cháu nội của thượng thư quận Công.

      Vào một ngày tốt lành, vị quan trẻ Hồng lô Tự Khanh cùng phu nhân quận Công đến thăm nhà nàng. Cha nàng tiếp đón khách quý với hình thức trang trọng nhất. Sau khi người lớn nói chuyện xong, nàng được mời ra cho bên nhà trai gặp mặt. Hôm đó, nàng mặc bộ trang phục đẹp nhất và khuôn mặt được trang điểm trang nhã.

     Nàng bước ra thật xinh đẹp và dịu dàng. Chàng quan trẻ nhìn nàng không chớp mắt, nàng ngượng ngùng nhìn xuống tuy nhiên cũng đã nhìn rõ được khuôn mặt đẹp và hình dáng lịch lãm của chàng. Nàng thấy tim đập nhanh và xúc động.

      Sau đó khi nào phù hợp, chàng liền đến thăm nàng. Do có mối hôn sự, chàng đã đến gia đình xin phép đưa nàng đi tham quan một vài cảnh đẹp trong vùng.

     Chàng đưa nàng đi chơi trên một đồi sim tím ở quê nhà.

    Trời chiều, nắng bớt chói chang, trên đồi cao lộng gió, màu tím hoa sim trải dài tít tắp, hút mắt, cảnh thật đẹp và thơ mộng. Lan, với vẻ đẹp của mình, nổi bật giữa rừng sim tím. Lan đứng giữa rừng sim tím bạt ngàn, mái tóc dài bay trong gió càng thêm phần diễm lệ. Màu tím hoa sim bát ngát cả một vùng. Chiếc áo trắng của Lan nổi bật giữa màu tím ngút ngàn của hoa sim. Chàng kết một vòng hoa sim thật đẹp và đội lên mái tóc Lan, trông nàng chẳng khác nào một cô dâu xinh đẹp giữa rừng hoa. Hai người cùng ăn những trái sim chín, miệng ai cũng tím rịm, trông thật ngộ nghĩnh và đáng yêu.

    -“Ngọt quá !chàng ơi!” Lan thốt lên, đôi mắt lấp lánh.

    -“Ngọt bằng tình yêu của chúng ta không Lan?” Chàng mỉm cười, ánh mắt đầy ý tình.

    Trời đã xế chiều, mặt trời như trái cam đỏ từ từ lặn xuống. Cả đồi sim tím bỗng trở nên rực rỡ lạ thường dưới ánh nắng chiều tà, khi hoàng hôn dần buông xuống, nhuộm tím cả một góc chân trời. Chàng đưa Lan về nhà, trời cũng kịp tối.

    Chàng cao lớn, dáng đi thẳng và khoan thai, gương mặt toát lên sự cương nghị và thông minh. Bên chàng, nàng luôn cảm giác bé nhỏ bên chàng và được che chở bởi những cử chỉ ân cần, yêu thương. Nàng thầm cảm ơn trời Phật đã ban cho mình một người chồng hoàn hảo.

    Mẹ thấy Lan chăm chỉ học hành, đặc biệt là quan tâm đến y học, một điều không phổ biến đối với con gái thời đó.

    Mẹ: “ Yên Nhi, con lại đang đọc sách thuốc sao? Con gái thì nên học nữ công gia chánh, thêu thùa may vá để sau này còn lo tề gia nội trợ. Cứ chúi vào mấy quyển sách chữ Nho, sách thuốc này, e rằng mắt lại hỏng mất thôi“

    Lan ngước lên, đôi mắt sáng: “Mẹ à, con thích lắm ạ. Sư phụ dạy con nhiều điều hay, con thấy y học có thể giúp được nhiều người. Con muốn học để sau này có thể cứu chữa cho bà con trong làng, cho những người nghèo khổ.”

    Mẹ khẽ thở dài, nhưng ánh mắt đầy yêu thương: “Mẹ biết con có lòng nhân ái, lại thông minh. Nhưng con đường y học đâu phải dễ dàng, lại càng khó hơn cho phận nữ nhi. Thôi, con cứ học những gì cha con cho phép, nhưng cũng đừng quên những việc con gái mà người đời mong đợi.”

    Lan: “Con sẽ không quên đâu ạ, mẹ cứ an lòng.”

    Thời gian đám cưới sắp đến gần, mẹ lo lắng và dặn dò Lan trước khi con gái về nhà chồng, một gia đình danh giá.

    Mẹ nắm tay Lan, giọng run run: “Yên Nhi à, con sắp về nhà chồng rồi. Gia đình quan Hồng Lô là danh gia vọng tộc, nề nếp gia phong nghiêm cẩn lắm. Con về đó phải biết giữ ý tứ, ăn nói nhỏ nhẹ, hành xử phải phép. Đừng làm mất mặt cha con và gia đình mình.”

    Lan ôm lấy mẹ, trấn an:“Mẹ đừng lo lắng quá. Con sẽ ghi nhớ hết lời mẹ dạy, sẽ cố gắng học hỏi và làm tròn bổn phận của một người con dâu, một người vợ .”

    Mẹ: “Con có tài có đức, mẹ tin con sẽ được yêu quý. Nhưng nhớ lấy, con gái đã xuất gia thì theo chồng. Phải một lòng một dạ lo cho nhà chồng, cho phu quân. Mọi việc lớn nhỏ trong nhà, hãy cố gắng nhẫn nhịn, đừng để lời ra tiếng vào.”

Lan ánh mắt thoáng buồn vì lời dặn dò đầy áp lực của người mẹ, nhưng vẫn cố mỉm cười: “Dạ, con hiểu mà mẹ. Mẹ cha cứ giữ gìn sức khoẻ. Con sẽ thường xuyên về thăm nhà.”

Một thời gian ngắn sau, đám cưới của đôi trẻ được tổ chức long trọng, nàng về làm vợ chàng . Cuộc sống của hai vợ chồng trẻ rất hạnh phúc, năm sau nàng sinh một bé trai kháu khỉnh. Cháu trai giống y hệt chàng. Chàng và cả gia đình rất mừng và vui vẻ .

    Cuộc sống của nàng với chồng rất hạnh phúc. Được về làm dâu một gia đình danh gia vọng tộc là ước mơ của bao cô gái trẻ.

    Nàng sống thật hạnh phúc bên chồng và các con. Chàng thỉnh thoảng đi công cán xa, vì công việc đòi hỏi như thế, lần nào nàng cũng đi theo hầu hạ chồng.

    Nàng vẫn lo lắng cho sức khỏe của người anh trai . Anh trai nàng là người trang nhã và lịch thiệp, thừa hưởng nét đẹp của mẹ và sự tuấn tú của cha. Nhưng trong kiếp này nàng biết được anh nàng phải chết vì một căn bệnh hiểm nghèo và ra đi khi mới ngoài bốn mươi. Anh chết đi, gia sản khánh kiệt và con cái khổ sở, nàng sẽ là hậu duệ của anh trai nàng trong kiếp sau.

    Bây giờ trong kiếp này, nàng muốn làm gì đó giúp anh và mong được cải nghiệp của người anh thân yêu.

    Nàng chú ý sức khỏe của anh. Nàng biết rằng anh nàng sau này chết vì một căn bệnh mà y học thời đó không chữa được: bệnh mạch lươn. Nàng là người có học y học , nàng nghĩ sẽ tìm hiểu nghiên cứu thuốc để chữa trị cho anh trai. Với điều kiện thiếu thốn của thời nàng đang sống, chưa có kháng sinh Penicillin thì các bệnh như ho lao và mạch lươn đành chịu chết.

   Nàng trở về từ thế kỷ 20, có học y học hiện đại, nàng có cứu nổi bịnh cho anh trai nàng không? Trước tiên, nàng cố nhớ lại những kiến thức nàng đã học, nàng chuyên học về khoa phẫu thuật, còn nghiên cứu về chế tạo thuốc nàng chỉ biết ít về sách vở.

    Cụ thể thuốc kháng sinh Penicillin được sản xuất từ nấm Penicillium - một loại nấm mốc mọc trên bánh mỳ.

Chính Alexander Fleming đã tình cờ phát hiện được ra năm 1928, nhưng đến 10 năm sau mới nghiên cứu tiếp được.

    Đó là sự sáng tạo mà phải có phòng thí nghiệm hiện đại mới tổng hợp được nấm mốc Penicillin, điều đó không dễ dàng đối với nàng trong hoàn cảnh hiện tại. Nàng suy nghĩ rất nhiều về vấn đề này. Bây giờ điều tốt nhất là ngăn chặn được mầm mống xảy ra bịnh tật.

    Mỗi khi về thăm nhà, có dịp gặp anh, nàng nói xa gần căn bịnh anh sẽ gặp phải sau này. Nàng nói những điều kiện vệ sinh thông thường để tránh binh tật, khuyên mọi người giữ vệ sinh , đó là những điều mới mẻ mà họ nghe được. Nàng khuyên mọi người phải uống nước đun sôi để tránh những bệnh về tiêu chảy và sán . Nàng khuyên mọi người mang dép, guốc không đi chân đất để trành đạp gai, những sắt thép rỉ, để trành những bệnh về sán móc, có thể lây nhiễm qua da. Dân làng cũng thấy lạ lẫm về nhung lời khuyên y tế này. Nàng gọi mọi người đến nhà và giải thích cặn kẽ và khuyên mọi người nghe theo. Nhưng điều đó, cũng không được đa số nghe, người dân vẫn còn nghèo, đun nước sôi thì tốn củi, không có tiền mua dép, guốc,…

    Nàng cứu giúp nhiều người dân trong thôn làng trong khả năng y khoa nàng biết và làm được. Dân làng rất yêu quý nàng và gọi nàng là “cô tiên cứu người”.

    Có một chuyện xảy ra trong thôn, người nông dân đi làm đồng về vô ý đâm vào một cọc nhọn, cây cọc đâm xuyên qua bàn chân, máu chảy rất nhiều, đau đớn lắm. Người nhà chạy đến nhà nàng cầu cứu xin giúp đỡ. Nàng kêu đưa nạn nhân đến nhà nàng. Nàng để nạn nhân trên bàn dài, nấu dụng cụ dao kéo và chỉ may. Nàng cho nạn nhân uống một ít rượu nặng và trói người đau lại vì không có thuốc gây tê ở đây. Với bản tay khéo léo và chuyên nghiệp, nàng mổ bàn chân và kéo cọc cây ra, sau đó nàng khâu lại vết thương. Nạn nhân tỉnh lại, sau đó nàng thay băng và chữa trị, người nông dân dần dần bình phục. Mọi người trong làng ai cũng thán phục tài năng phẫu thuật của nàng, không hiểu sao nàng có thể chữa khỏi vết thương cho thân nhân họ.

    Phu quân ngạc nhiên không hiểu nàng học phẫu thuật khi nào mà có tay nghề cao vậy. Trong một lần trò chuyện với nàng, nhắc đến việc phẫu thuật cứu người, phu quân nàng âu yếm :

- “Phu nhân cứu người giỏi thật, ta vẫn thắc mắc không biết nàng học nó ở đâu và khi nào?”

    Nàng cười ra hiệu:”Bí mật, sau này tiện thiếp sẽ nói cho phu quân.” Chàng vui vẻ gật đầu. Nàng nhanh chóng nói qua đề tài khác.

Nàng suy nghĩ nhiều đến cách thức phẫu thuật sau này để cứu anh trai mình

Nàng thấy thương người dân sống trong thế kỷ này, có rất nhiều căn bệnh rất dễ dàng chữa trị trong thế kỷ 20 như ho lao, mạch lươn, bạch hầu, thương hàn, uốn ván nhưng trong thế kỷ 19 đành chịu chết. Nàng rất lo lắng cho anh trai và đang tìm cách nào đó để cứu giúp anh trai thân yêu, cũng như cứu giúp cho các thế hệ sau này.

Cả chồng và gia đình chồng ai cũng yêu quý và hãnh diện vì có một con dâu xinh đẹp, tài ba và nhân đức.

Lan vui hưởng hạnh phúc hiện tại của mình bên chồng con. Nàng có một cuộc hôn nhân hoàn hảo. Lan gặp được một người chồng giỏi giang việc nước, chàng là Hồng Lô Tự Khanh, trật Chánh tứ phẩm . Hồng lô tự là cơ quan phụ trách việc tiếp đón và thể thức lễ nghi với những sứ đoàn từ các triều hoặc nước khác. Gia đình chàng là gia đình danh gia vọng tộc, ông nội là quan Thượng thư quận công Kỳ Vỹ. Chàng được hưởng một nền giáo dục tốt, chàng đã được học nho học lẫn văn hoá Pháp hoàn chỉnh, vì thế chàng mới là Hồng Lô tự Khanh. Hấp thụ nền văn hóa phương Tây nên có nhiều cử chỉ rất ga lăng.

Một hôm chàng dẫn nàng đi một quán ăn sang trọng. Quán kiến trúc theo kiểu xưa : kết lồng đèn rất đẹp, khung cảnh sang trọng và ấm cúng. Sau khi chàng kéo ghế cho nàng ngồi. Chàng về cho ngồi của mình, cô một nhân viên quán mang đến một bó hoa Hồng Nhung tươi và thơm ngát.

Chàng đưa bó hoa hồng nhung, ánh mắt trìu mến nhìn nàng: “Phu nhân, tặng nàng. Hôm nay là sinh nhật của phu nhân, ta cầu chúc nàng mãi trẻ đẹp, rạng rỡ như đóa hồng nay, và luôn là niềm tự hào của ta.”

Lan nhận lấy bó hoa, khuôn mặt ửng hồng, ánh mắt ngập tràn hạnh phúc: “Chàng… thiếp thật sự đã quên mất ngày sinh nhật của mình. Cảm ơn chàng đã luôn nhớ đến thiếp, yêu thương và dành cho thiếp những điều bất ngờ.”

Chàng khẽ nắm tay nàng, vuốt ve nhẹ nhàng: “Làm sao ta có thể quên được ngày thiếp chào đời, ngày mà sau này đã mang nàng đến bên ta? Nàng là phu nhân của ta, là báu vật mà ông trời ban tặng.”

Lan tựa nhẹ vào vai chàng, giọng thủ thỉ: “Có chàng bên cạnh mỗi ngày đều là một ngày đặc biệt đối với thiếp.”

Sau chuyến công cán xa trở về, chồng đã cho gia nhân sửa soạn lại nhà cửa, treo thêm đèn lồng, chưng vài chậu hoa hồng tuyệt đẹp. Điều đó, khiến ngôi nhà trở nên vui tươi và sống động hơn. Chàng tổ chức một tiệc ấm cúng trong gia đình. Hôm nay là ngày kỷ niệm kết hôn của vợ chồng nàng.

    Chàng cầm hộp quà cho Lan, ánh mắt ấm áp: “Tặng phu nhân yêu quý của ta. Cảm ơn phu nhân đã luôn lo toan, vun vén cho sự êm ấm hạnh phúc của gia đình. Nàng là người vợ hiền thảo , một người mẹ mẫu mực, luôn yêu thương chồng con và phu nhân là niềm hãnh diện lớn nhất của ta cùng gia tộc.”

Lan mở hộp quà, reo lên vui vẻ khi thấy chiếc áo đẹp: “Ôi! chiếc áo đẹp quá, chàng ơi! Chàng thật khéo chọn“ Lan nguớc nhìn chàng, ánh mắt lấp lánh yêu thương và xúc động. 

Chàng say đắm nhìn vợ, khẽ vuốt tóc nàng: “ Chỉ cần nàng vui là ta mãn nguyện rồi. Mỗi khi xa nàng, ta luôn nhớ về bữa cơm ấm nóng, tiếng cười con trẻ và vòng tay êm ái của nàng. Nàng chính là động lực để ta hoàn thành tốt mọi công việc và trở về “

Lan nắm chặt tay chàng, dựa sát vào người chàng: “Chàng đi công cán xa, thiếp ở nhà cũng luôn ngóng trông, lo lắng cho chàng. Chỉ mong chàng bình an trở về. Có chàng bên cạnh, thiếp mới cảm thấy trọn vẹn và an lòng.”

Chàng siết nhẹ vòng tay, giọng ấm áp: “Ta cũng vậy, phu nhân. Có nàng và các con, ta mới biết thế nào là hạnh phúc trọn vẹn.”

       Hôm nay, trời trong xanh, mây trắng lững lờ trôi, từng cơn gió mát thổi qua, mang theo hương thơm hoa hồng thoang thoảng. Hai vợ chồng đi tản bộ trong vườn.

Lan nhìn chàng, khẽ hỏi: “ Hôm nay công việc ở bộ có làm chàng mệt mỏi lắm không?”

Chàng đặt tay lên má nàng, mỉm cười nhẹ: “ Có chút bận rộn, nhưng khi về đến nhà, nhìn thấy nàng và các con, mọi mệt mỏi đều tan biến hết. Nàng là liều thuốc tốt nhất của ta “

Lan khẽ cười: “Chàng lúc nào cũng nói lời ngọt ngào“

Chàng siết nhẹ tay nàng: “Những lời ta nói đều xuất phát từ trái tim. Nàng biết không, từ khi có nàng, cuộc đời ta dường như mới thật sự có ý nghĩa. Nàng không chỉ là vợ hiền, mà còn là tri kỷ, người ta có thể chia sẻ mọi buồn vui “

Lan ngả đầu vào vai chàng: “Thiếp cũng cảm thấy vậy. Gặp được chàng là phúc phần lớn nhất trong cuộc đời thiếp. Chúng ta sẽ mãi bên nhau như thế này, chàng nhé?”

Chàng (ôm nhẹ nàng vào lòng): “Mãi mãi, phu nhân của ta.”

Chàng luôn chăm sóc lo lắng vợ con: yêu thương nàng, luôn giữ thể diện cho nàng khi ra ngoài công chúng, có những cử chỉ ân cần và âu yếm, yêu thương sủng ái nàng.

Đối với gia đình nàng, chàng giúp đỡ anh trai nàng trong cuộc sống về kinh tế và công việc. Chàng lúc nào cũng tỏ ra người hào phóng và tốt bụng. Ai cần giúp đỡ, chàng sẵn lòng nếu yêu cầu đó hợp lý và trong khả năng giải quyết của chàng.

 

Cao trào và đấu tranh

 

Lan vẫn tiếp tục ý nguyện giúp đỡ những người chung quanh với khả năng y học của mình.

Nàng vẫn ưu tư không biết phải làm sao để giúp anh ruột của mình. Lan trở về từ thế kỷ 20, nàng là hậu duệ tương lai của anh nàng . Lan biết anh sẽ mang bịnh Mạch lươn và sẽ chết trẻ ở tuổi bốn mươi bẩy. Con trai trưởng của anh sẽ sa vào cờ bạc và phá nát gia sản của anh nàng để lại.

Đó là cái nghiệp của anh nàng. Nàng phải làm gì để chuyển hóa được cái nghiệp kia?

Theo đạo Phật, nghiệp (karma) không chỉ là hành động mà là tổng thể gồm ý định, lời nói và hành động của chúng ta, cùng với những hậu quả mà chúng mang lại. Nghiệp không phải là sự trừng phạt hay thưởng phạt từ một đấng siêu nhiên, mà là quy luật nhân quả tự nhiên và tất yếu. Có thể hiểu là “gieo nhân nào, gặt quả nấy.”.

Không biết kiếp trước, anh nàng đã làm gì mà kiếp này phải chịu nỗi khổ nạn kia.

Lan nói xa gần khuyên anh mình nên làm nhiều điều thiện, giúp đỡ bà con chung quanh, giúp những người yếu thế trong xã hội. Lan biết không thể xóa bỏ được nghiệp trong quá khứ một cách nhanh chóng. Chúng ta cố gắng làm nhiều điều tốt, hy vọng những việc làm thiện đó, có thể làm giảm nhẹ tác động của ác nghiệp và tạo thêm Phước báo để “chuyển hóa“nghiệp .

Trong một lần về thăm nhà và có dịp trò chuyện riêng với anh Thức, có thể nàng đã tìm hiểu kỹ hơn về “nghiệp” của anh và gia đình

Lan nói: “Anh à, dạo này các cháu có khỏe không? Cháu trưởng cũng đã lớn rồi, anh có thường xuyên dạy dỗ cháu không?

Anh Thức cười hiền: “Các cháu vẫn khỏe mạnh, ngoan ngoãn. Anh cũng thường kèm cặp thằng bé học chữ nghĩa. Muội lo xa quá rồi. Mà muội ở nhà chồng có vui không? Có khỏe không?

Lan: “Em vẫn ổn, anh ạ. Em có điều này muốn thưa với anh, mong anh đừng giận. Anh thấy đấy, cuộc sống đôi khi có những điều không thể lường trước. Người ta nói 'gieo nhân nào gặt quả nấy', không biết kiếp trước chúng ta đã làm gì mà kiếp này lại có những nỗi khổ, niềm vui khác nhau."

    Anh Thức ánh mắt có chút suy tư: “Muội nói gì lạ vậy? Chuyện nhân quả là do trời định, người phàm sao mà hiểu thấu?”

    Lan nhìn thẳng vào anh, giọng chân thành: “Không phải do trời định đâu anh. Con người ta cũng có thể ‘ chuyển nghiệp ‘ của mình bằng cách làm nhiều điều thiện, giúp đỡ những người chung quanh, nhất là những người yếu thế. Em nghĩ, nếu chúng ta làm được nhiều việc có ích cho cộng đồng, cho bà con làng xóm, thì phước lành sẽ đến, và những điều không may có thể hóa giải phần nào “

    Anh Thức nhíu mày, có vẻ ngạc nhiên nhưng cũng lắng nghe: “ Làm việc thiện thì tốt, nhưng sao lại liên quan đến ‘chuyển nghiệp’?”

    Lan nói: “Đó là cách tích đức cho bản thân và cho con cháu mai sau đó anh. Em cũng lo lắng cho cháu trưởng. Anh biết đấy, con trai lớn thường dễ bị cám dỗ bên ngoài. Anh nên nghiêm khắc dạy dỗ cháu, hướng cháu đến những trò chơi lành mạnh, đừng để cháu sa vào những tệ nạn như cờ bạc. Em thấy nhiều gia đình chỉ vì cờ bạc mà tan nát." Lan cố gắng nói khéo để anh hiểu sự nghiêm trọng.

    Anh Thức thở dài, gật gù: “Muội nói cũng phải. Anh sẽ chú ý hơn đến thằng bé. Dù sao thì, lời muội nói cũng có lý, làm nhiều điều thiện thì chẳng bao giờ sai cả.”

    Trong làng không có giếng sạch, dân làng nhà khá giả thường uống nước mưa. Làng Vĩnh Lại gần Cửa Việt, sông chảy qua làng là cửa sông chảy ra biển. Vì thế, nước sông không ngọt mà nước lợ, không thể uống được. Thế nên, đa số nhà trong làng thường uống nước ao, nước ao thường không sạch. Lan cùng anh góp tiền xây giếng nước công cộng ở sau đình làng tặng dân làng. Giếng được xây bằng những viên đá to rất chắc chắn. Nước giếng rất trong và ngọt. Dân làng rất vui mừng, từ đây có nước sạch uống, không phải đi gánh nước xa. Có nước giếng sạch, giảm đi những bệnh tiêu chảy và đường ruột.

    Anh nàng hướng dẫn dân làng trồng thêm tre chung quanh vườn nhà và các cây dương liễu ở các bìa làng để che gió cát - làng nàng gần biển Cửa Việt. Chúng tạo hành lang che cát xâm thực vào đất làng và có thêm nhiều cây khô làm củi đốt. Khi gặt lúa xong, cắt các gốc rạ về xây đống rơm cao để dành nấu ăn, đun nước sôi .

    Hai anh em huớng dẫn dân làng xây cầu vệ sinh từng nhà, thông thường xây cuối vườn nhà, dùng tro bếp để phủ sạch hầm vệ sinh, tránh ruồi bay lượn mất vệ sinh. Đời sống dân làng được cải thiện, bệnh tật như dịch tả ít xảy ra. Khi có bệnh dịch tả, Lan khuyên dân làng giữ vệ sinh, uống nước pha muối đường bù nước. Tỷ lệ tử vong giảm bớt đi rất nhiều.

    Anh nàng là một Thừa phái của chính phủ Nam triều, cao lớn, dáng vẻ sang trọng, gương mặt đẹp thanh tú, cặp mắt to, hiền hậu . Anh hơn nàng tám tuổi, anh đã kết hôn sớm, hiện có một gia đình hạnh phúc, cậu con trai đầu đã gần mười tuổi. Cậu con trai cả có dáng vẻ và gương mặt giống cha y hệt. Sau này, cậu thanh niên này sẽ là kẻ “phá gia chi tử”.

    Nàng khuyên anh phải chú ý và giáo dục nghiêm khắc con cái . Không phải lúc nào cũng chiều theo yêu cầu của trẻ nhỏ, hướng con trẻ đến các trò chơi lành mạnh và có tính giáo dục cao. Không được chạy theo các trò chơi vô bổ như cờ bạc. Chỉ có giáo dục khuyên răng trẻ mới hy vọng thoát ra các thói xấu hư tật xấu.

    Lan ở xa, thỉnh thoảng về thăm nhà, nàng luôn theo dõi sức khỏe của anh và hỏi han việc học hành của cháu. Nàng thấy cháu cũng có vẻ hiền và biết nghe lời. Tuy nhiên chuyện tương lai được báo trước không tốt đẹp của anh nàng luôn làm nàng buồn và lo lắng.

 

    Một ngày kia, nàng vào phòng làm việc của cha dọn dẹp, tình cờ nàng bắt gặp một quyển gia phả của dòng họ. Tò mò cầm lên đọc, nàng thấy cuốn hút vào việc tìm hiểu gốc tích dòng họ của mình.

    Gia phả của một gia tộc đều nằm trong bối cảnh lịch sử của đất nước. Gia tộc họ Nguyễn làng Vĩnh Lại, xã Triệu Phước, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị cũng không nằm ngoài quy luật đó.

    Cha Lan - ngài Nguyễn Văn Bổn (1818-1904), đời thứ 10 sinh hạ nhánh Bốn - Chi Một - phái Nhất thuộc gia tộc họ Nguyễn làng Vĩnh Lại. Ông làm quan trong triều là Hàn lâm viện Thị giảng Học sĩ, tặng Tòng Tứ phẩm Cung Nhơn Thuỵ Trai Thần Vị , Cáo thụ Triều liệt Đại phu Đoan Lương vị Nguyễn Trọng.

    Lan có nhiều điều không hiểu, nàng sẽ đợi một cơ hội nào đó thuận lợi để hỏi rõ hơn về hoạt động của cha nàng.

    Vào một ngày, thân phụ ngồi ăn mứt gừng uống trà, ngắm hoa thược dược khoe sắc trong không khí se lạnh của mùa Xuân, Lan đến gần và nói chuyện với cha vài câu về thời tiết. Nàng nhỏ nhẹ hỏi rằng:

    - “Thưa cha, con muốn hỏi cha vài câu về thời gian cha làm việc ở huyện Thành Hoá, sao cha đang làm việc trong cung lại chuyển về làm tri huyện Thuận Hoá?”

    Cha nàng thông thả giải thích cho nàng hiểu :

    -“Năm 1853, huyện Thành Hóa thuộc tỉnh Quảng Trị được thành lập, (bao gồm cả huyện Cam Lộ và một phần huyện Gio Linh) (* ) ngài quận công Kỳ Vỹ Nguyễn Văn Tường đã làm tri huyện ở đó trong 9 năm. Thành Hóa là một nơi xung yếu, “hậu lộ của kinh đô”, chỉ những người tin cậy mới được giao trọng trách. Nhất là trong thời điểm Pháp tấn công Đà Nẵng, Gia định, kích động nội phản ở Bắc kỳ, sứ bộ Phan Thanh Giản ký Hòa ước Nhâm Tuất 1862. Tại đây ông xây dựng một căn cứ địa tốt cho kinh đô Huế. Năm 1862 ông vào kinh đô Huế giữ chức biện lý Bộ Binh, rồi vào Quảng Nam làm Án sát.”

    Lan vẫn chưa hiểu biết hết, lại nhẹ nhàng hỏi cha:

    -“Thưa thân phụ, sao triều đình lại tin tưởng giao cha cai quản huyện Thành Hoá?, chắc chắn cha con thật giỏi giang?”

    Cha nàng nhìn xa xăm rồi trả lời con gái:

    -“Như con biết đó, Ngài quận công Kỳ Vỹ Nguyễn Văn Tường và cha cùng đồng hương Quảng Trị và thông gia với nhau. Trưởng nữ của ngài quận công Kỳ Vỹ được gã cho trưởng nam của cha. Vì thế, ngài quận công đã đề đạt ý kiến lên triều đình cho cha về làm ở huyện Thuận Hoá.

    “Với sự tin cậy của triều đình, cha đã được cử làm Tri huyện Thành Hóa (trong đó có căn cứ địa Tân Sở (Cam Lộ). Tại đây, cha đã cưới mẹ con và sinh con trai thứ sáu Nguyễn Hữu Thức vào năm 1871), con trai thứ bẩy Nguyễn Hữu Điền (1876) và con gái út Nguyễn Thị Yên (1879)”

    Cha nàng trầm ngâm kể tiếp: “Năm 1866 đến 1868, ngài quận công Kỳ Vỹ Nguyễn Văn Tường trở lại huyện Thành Hoá với chức trách tham mưu, tiếp tục xây dựng căn cứ địa Thành Hoá (Tân Sở).

    “Năm Quý Mùi (1884), ngài quận công Kỳ Vỹ Nguyễn Văn Tường và ngài Tôn Thất Thuyết cùng Tôn nhân phủ đưa vua Hàm Nghi lên ngôi. Hai vị phụ chính thuộc phe chủ chiến, phò vua Hàm Nghi chống lại quân Pháp. Chính phủ Pháp quyết tâm xâm lược toàn bộ Đại Nam. De Courcy được cử sang với mục đích hoàn tất việc chiếm trọn Bắc kỳ và bắt đầu tấn công kinh đô Huế.

    “Cuộc kinh đô quật khởi và bị thất thủ ngày 5 tháng 7 1885. Ngài quận công Kỳ Vỹ Nguyễn Văn Tường và ngài Tôn Thất Thuyết đã rước vua Hàm Nghi ra thành Quảng Trị. Sau đó, đưa lên Tân Sở (Cam Lộ) thuộc huyện Thành Hóa tránh quân xâm lược Pháp , đồng thời phát Dụ Cần Vương. Trong thời gian này, cha là quan tri huyện Thành Hoá tham gia bảo vệ vua Hàm Nghi.”

    Trong giai đoạn Cần Vương cha Lan có công đóng góp rất lớn và thầm lặng cho phong trào Cần Vương, vua Hàm Nghi và đất nước.

    Cha Lan sinh hạ bẩy người con trai và ba người con gái.

    Chánh thất sinh ba người con trai:

    Anh đầu Nguyễn Duy Tân sinh năm 1844- Chánh Cửu phẩm ty bộ Hộ, Anh là con rể của ngài quận công Kỳ Vỹ Nguyễn Văn Tường . Anh ấy là một người rất nhân đức, mỗi khi về làng, anh thường đi bằng đường thủy. Thuyền qua vùng đất làng nào, anh hay đem tiền bạc giúp đỡ những dân nghèo gặp nhiều khó khăn. Những người theo đạo Ki tô giáo thời ấy đa số bị triều đình bắt và giết, anh cho gia nhân kín đáo giúp đỡ và tìm cho họ một đường sống. Gần làng Vĩnh Lại, có làng Giáo Lý (Nhu Lý) đa số theo đạo Ki Tô giáo. Sau này con cháu làng này, mỗi dịp Tết đến thường có các bộ lão ghé thăm. Họ kể lại cho con cháu ông nghe những việc làm giúp đỡ cho họ trong những ngày đen tối. Từ đó, con cháu mới biết việc cứu người của ông ngày trước. Sau này, vào thế kỷ 20, các con cháu học hành đỗ đạt cao.

    Lan về thăm nhà, có dịp trò chuyện riêng với anh Tân, có thể sau khi nghe được những câu chuyện về lòng nhân ái của anh.

    Lan: “Anh cả à, em nghe nói mỗi khi anh về làng, anh đều mang tiền bạc giúp đỡ những người dân nghèo khó. Anh còn kín đáo giúp cả những người theo đạo Kito giáo hồi xưa bị triều đình truy bắt nữa. Chắc hẳn anh đã làm rất nhiều việc thiện phúc."

    Anh Tân ánh mắt hiền từ, khẽ cười: “Yên Nhi, muội quá lời rồi. Đó chỉ là chút lòng thành của ta thôi, có đáng gì đâu. Thấy bà con lầm than, ta không đành lòng. Huống chi, dù theo đạo Ki Tô giáo, thì họ cũng là con người, cũng cần được sống và được giúp đỡ trong lúc hoạn nạn.”

    Lan: “Nhưng những việc đó rất nguy hiểm thưa anh. Triều đình đang truy lùng gắt gao những người theo đạo Ki Tô giáo, nếu bị phát hiện, anh có thể gặp hoạ lớn."

    Anh Tân nhìn xa xăm, giọng điềm tĩnh: “Hoạ phúc tại tâm, muội à. Ta tin rằng nếu lòng mình ngay thẳng, làm điều thiện lương, trời đất sẽ chứng giám. Vả lại, ta làm việc này cũng kín đáo, không muốn người đời biết đến, chỉ mong tâm mình được thanh thản.”

    Lan: “Anh cả là người nhân đức bậc nhất trong gia đình mình. Em hy vọng phúc đức của anh sẽ phù hộ cho con cháu đời sau được học hành đỗ đạt, thành công.”

    Lan đến thăm anh cả khi anh đã có tuổi, và vẫn miệt mài với công việc xây dựng.

    Lan: “Anh cả, công việc xây dựng các dinh thự trong hoàng cung vẫn bận rộn lắm sao? Em thấy anh dạo này có vẻ gầy hơn trước.”

    Anh Tân xoa xoa thái dương, khẽ nhíu mày: “À, cũng còn nhiều việc cần lo lắm, muội à. Hoàng cung là nơi trang nghiêm, mỗi viên gạch, mỗi mái ngói đều phải được tính toán tỉ mỉ. Mà gần đây, triều đình lại có nhiều biến động, công việc cũng bị ảnh hưởng ít nhiều.”

    Lan lo lắng: “Anh nên giữ gìn sức khoẻ. Dù sao thì công việc cũng quan trọng, nhưng sức khoẻ là vàng. Anh cứ làm việc quá sức như vậy, con cháu sẽ lo lắng.”

    Anh Tân nhìn Lan bằng ánh mắt trìu mến: “Muội nói phải. Nhưng ta là người phụ trách, phải làm cho tới nơi tới chốn. Hơn nữa, đây cũng là công việc mà ta yêu thích, được đóng góp chút sức lực nhỏ bé cho triều đình, cho đất nước, ta thấy mãn nguyện rồi.”

    Lan thở dài trong lòng, biết rằng anh mình sẽ không dễ thay đổi thói quen: “ Anh hãy nhớ lời em. Em mong luôn khỏe mạnh để còn chỉ bảo con cháu nhiều điều.”

    Người anh thứ hai - Nguyễn Hữu Nghi sinh năm 1847 là Lãnh binh Quảng Nam - lãnh binh là quan võ bậc thứ ba - Chánh tam phẩm triều nhà Nguyễn . Anh là một người quan võ có tài, tự lực trong con đường công danh. Sau này, các con của anh rất thành đạt, có người theo con đường võ bị . Con trai đầu - ông Nguyễn Hữu Đàm làm Hàn lâm viện điển tịch. Con trai thứ tư - ông Nguyễn Hữu Thuỳ làm Lãnh binh ở Phan Thiết. Ngoài ra, có cháu nội - Nguyễn Hữu Mô làm tri huyện ở Thanh Hoá. Các con cháu của anh sau này có rất nhiều người học hành đỗ đạt cao, có chức vụ trong xã hội.

    Trong một lần Lan có dịp thăm anh, và có cuộc nói chuyện riêng với anh mình.

    Lan: “Anh hai à, dạo này anh có khỏe không? Công việc Lãnh binh hẳn bận rộn lắm?"

    Anh Nghi cười hiền: “ Ta vẫn khỏe. Công việc cũng chỉ tàn tạm thôi, không sao. Mà muội dạo này xem ra càng thêm đằm thắm, phúc hậu. Muội sống ở nhà chồng có thuận lợi không?”

    Lan: "Dạ, em vẫn ổn ạ. Cha mẹ và phu quân đều rất thương em. Em có điều này muốn thưa với anh, mong anh đừng thấy phiền.”

    Anh Nghi nhìn em gái đầy yêu thương: “Muội nói đi, anh sẽ lắng nghe. Muội giờ là phu nhân quan Hồng lô, lại có kiến thức rộng, chắc chắn lời muội nói đều có lý. “

    Lan ngần ngừ một chút, rồi hạ giọng: “Em nghe nói dạo này trong làng có nhiều người bị đau bụng, tiêu chảy. Em nghĩ một phần là nguồn nước và việc giữ gìn vệ sinh chưa được chú ý Anh xem… nếu có thể, mọi người nên đun sôi trước khi uống. Dù tốn củi một chút, nhưng sẽ tránh được nhiều bệnh tật hơn.”

    Anh Nghi khẽ nhíu mày, suy nghĩ: “Đun sôi nước ư? Từ xưa đến nay vẫn uống nước sông, nước giếng. Có lẽ muội nghĩ xa quá rồi. Dân làng quen nếp cũ, lại nghèo khó, lấy đâu ra củi mà đun mãi?”

    Lan nhấn mạnh, cố gắng thuyết phục: “Em hiểu, nhưng bệnh tật thì không chừa ai, anh ạ. Em cũng mong mọi người đi đứng nên mang guốc dép, tránh dẫm phải vật nhọn hoen rỉ. Những vết thương nhỏ, nếu không cẩn thận cũng có thể gây họa lớn. Em đã từng thấy những vết thương nhỏ lại dẫn đến bệnh nặng không cứu được." Nàng có thể ám chỉ những kiến thức về uốn ván, nhiễm trùng mà anh trai không hiểu.

    Anh Nghi vẫn giữ vẻ hiền từ, nhưng có vẻ chưa hoàn toàn tin tưởng: “Muội lo xa quá rồi. Dân làng quen đi chân đất từ nhỏ, có ai bị sao đâu. Thôi được, lời muội nói, ta sẽ ghi nhớ và xem xét. Nhưng để thay đổi nếp đã ăn sâu thì không dễ chút nào.”

    Lan thở dài trong lòng, nhưng vẫn cố gắng giữ nụ cười: “Dạ, em chỉ mong mọi người được khỏe mạnh thôi ạ. Anh hai cũng phải giữ gìn sức khoẻ.”

 

    Bà chánh thất mất sớm khi bà mới 33 tuổi.

    Bà Kế thất có hai con trai mất từ mới lọt lòng, còn có hai người con gái.

    Bà thứ thất: sinh hạ hai người con trai và một người con gái.

    Người anh thứ sáu Nguyễn Hữu Thức sinh năm 1871 làm Thừa phái của chính phủ Nam triều . Anh sau này mất vì bệnh Mạch lươn, anh là người Lan lo lắng nhất.

    Người anh thứ bẩy Nguyễn Hữu Điễn 1876, sau này anh mất vì căn bệnh thương Hàn. Mặc dù, Lan có cố gắng bao nhiêu đi nữa, nàng cũng không cứu được anh mình . Vì thời này chưa có thuốc kháng sinh không thể chữa được. Lan thật đau lòng, thương xót anh. Nàng buồn và nhận ra mình thật bất lực, không thể cứu anh . Anh mất đi để lại hai đứa con thơ, sau này Lan giúp đỡ tiền bạc cùng anh kế nuôi dưỡng các cháu, các cháu xinh đẹp và thật đáng yêu.

    Cô con gái út Nguyễn Thị Yên sinh năm 1879 - tức Lan vợ quan Hồng Lô Tự Khanh , cháu nội quận công Nguyễn Văn Tường.

    Trong gia đình, Lan là con gái duy nhất rất được cha nàng yêu thương.

     Thời phong kiến của thế kỷ 19, các con của bà chánh thất thường được ăn học đến nơi đến chốn. Riêng con vợ thứ thất thường không được học hành nhiều, tham gia làm nông, quản lý ruộng nương của gia đình.

     Anh em Lan dù con vợ thứ thất , nhưng nhờ ở gần cha nên được ăn học đàng hoàng.

 

 Chấp nhận và chuyển hóa

Cha Lan - ông Nguyễn Văn Bổn đã sống một cuộc đời tốt đẹp và đầy ý nghĩa.

Với quốc gia đất nước, ông làm quan trong triều là Hàn lâm viện Thị giảng học sĩ, tặng tòng tứ phẩm cung nhơn Thuỵ trai thần vị , Cáo thụ Triều liệt đại phu Đoan lương vị Nguyễn trọng. Vì một nhiệm vụ cao cả, quận công Kỳ Vỹ Nguyễn Văn Tường đã thuyết phục ông về làm tri huyện Thành Hóa ( Cam Lộ), nơi có căn cứ địa Tân Sở . Ông đã tận tụy với công việc, luôn chăm lo cho đời sống dân chúng trong huyện và lo xây dựng căn cứ địa Tân Sở. Cuộc quật khởi kinh đô và bị thất thủ ngày 5 tháng 7, 1885, Ngài quận công Kỳ Vỹ và ngài Tôn Thất Thuyết phò vua về căn cứ địa Tân Sở (Thành Hoá, Cam Lộ ) , đồng thời phát dụ Cần Vương. Trong thời gian này, cha nàng là tri huyện Thành Hoá tham gia bảo vệ vua Hàm Nghi. Cha nàng đã trung thành cả đời với vua và đất nước.

Cha nàng đã có một gia đình lớn với ba người vợ và mười người con. Ông đã có những người con trai có sự nghiệp hiển hách trong cuộc đời:

- Anh cả - ông Nguyễn Duy Tân là con rễ của ngài quận công Kỳ Vỹ, tham gia xây dựng các dinh thự trong hoàng cung.

- Anh trai thứ hai- ông Nguyễn Hữu Nghi là Lãnh binh của Quảng Nam.

- Con gái út - bà Nguyễn Thị Yên là phu nhân của Hồng lô Tự Khanh, cháu nội của ngài quận công Kỳ Vỹ.

- Cháu nội - ông Nguyễn Hữu Đàm là Hàn lâm viện điển tịch; ông Nguyễn Hữu Thùy là Lãnh binh tỉnh Bình Thuận.

- Cháu cố- ông Nguyễn Hữu Mô là tri huyện Nghệ An, Thanh Hoá tước Hàn Lâm viện học sĩ.

Ông có sức khỏe tốt chịu đựng vượt qua những trận bệnh mà những người đương thời mắc phải. Ông sống thọ đến tám mươi sáu tuổi . Ông đau khổ đưa tiễn ba người vợ thân yêu của mình ra đi về chín suối: bà chánh thất mất khi mới ba mươi ba tuổi vì bạo bệnh. Bà kế thất về với tổ tiên trước ông mười ba năm, ngay cả người vợ thứ thất nhỏ hơn ông hai mươi sáu tuổi cũng mất trước ông bốn năm.
Năm 1898, khi tiết trời chuyển từ xuân sang hạ, những cơn nóng bức đầu mùa cũng kéo theo dịch bệnh thương hàn hoành hành. Anh trai thứ hai của nàng, ông Nguyễn Hữu Nghi, trong một lần đi thăm bạn bị ốm, đã không may lây bệnh. Thời bấy giờ, thương hàn được coi là nan y, bởi y học chưa có thuốc đặc trị. Người dân cũng thiếu hiểu biết về con đường lây nhiễm qua tiếp xúc hay chất thải.
Nàng đã nhắc nhở các anh và người mọi người dân trong làng về những kiến thức này, nhưng họ ít để ý. Anh hai Nghi nhiễm bệnh thương hàn, thiếu thuốc đặc trị nên không thể qua khỏi. Anh mất đi lúc năm mươi mốt tuổi. Anh hai -Nguyễn Hữu Nghi đang là Lãnh binh Quảng Nam, công danh đang trên đà thuận lợi. Cha nàng đau khổ vô cùng. Ai cũng xót xa cảnh người đầu bạc khóc kẻ đầu xanh cũng như lá già chưa rụng, lá xanh lìa cành. Đây là một nỗi đau tột cùng của đấng sinh thành và sự trái ngược và bất thường của quy luật tự nhiên.

Sau cái chết của mẹ nàng và anh trai thứ hai, sức khỏe của cha ngày càng giảm sút. Năm 1904, cha ra đi về với tổ tiên, cả gia đình, bà con quyến thuộc và bạn bè đồng lưu rất đau buồn.

Những cái chết của cha mẹ và các anh làm nàng vô cùng đau xót, vì không làm gì giúp được họ. Mẹ và anh mắc những bệnh hiểm nghèo như thương hàn, thời ấy không có thuốc chữa. Lan đứng đó bất lực nhìn những người thân yêu lần lượt rời bỏ nàng. Kiến thức y khoa hiện đại của Lan giống như một ngọn nến, nhưng không đủ sức soi sáng hay thay đổi được thực tế khắc nghiệt của thời đại thiếu thuốc men và dụng cụ y tế. Ngọn nến ấy quá nhỏ bé, vô dụng trước bóng tối dày đặc của bệnh tật và cái chết. Lan đã cố gắng hết khả năng của nàng mà không thể giữ lại được mạng sống của họ. Với thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, kháng sinh đặc trị không có, các bệnh thương hàn, ho lao, mạch lươn trở thành nan y.

Bốn năm sau ngày ra đi của cha, anh trai thứ bẩy-ông Nguyễn Văn Điễn mất vì bệnh thương hàn. Lan lại một lần khổ sở nữa vì chưa có được thuốc chữa bệnh cho anh . Anh qua đời khi mới ba mươi hai tuổi để lại hai đứa con thơ, nàng thương cháu sớm mồ côi cha. Sau này anh trai thứ sáu và nàng phụ nhau chăm sóc và nuôi dưỡng các cháu. Cháu trai có khuôn mặt khôi ngô , cháu gái rất xinh đẹp.
Điều lâu nay Lan lo lắng cũng đã đến, anh trai thứ sáu - ông Nguyễn Hữu Thức ( ông cố trong tương lai của nàng) đã mắc bệnh mạch lươn. Lan cũng không rõ nguyên nhân nào đưa anh nàng đến bệnh đó. Bệnh mạch lươn gây đau đớn và khó chịu cho anh nàng. Lan đã biết bệnh này không thể chữa khỏi được nếu thiếu kháng sinh. Tuy nhiên, gia đình vẫn đưa anh đi chạy chữa nhiều nơi, tiền mất mà tật mang. Lan đã dùng thảo dược Đông y để giảm viêm nhiễm các mụt mạch lươn. Lan suy nghĩ nhiều cách để phẫu thuật cho anh, nhưng không có kháng sinh đặc trị, thiếu dụng cụ y khoa, tất cả đều không khả thi. . Nàng cảm thấy bất lực, căm giận thời kỳ nàng đang sống, hận sự yếu kém của chính mình.

Lan đến thăm anh, lòng đầy đau xót và bất lực.

Lan quỳ xuống cạnh giường anh, nắm lấy tay anh, giọng nghẹn ngào: “Anh ơi…anh thấy trong người thế nào rồi? Vết thương có đỡ đau hơn không?”

Anh Thức khẽ mở mắt, giọng yếu ớt: “Yên Nhi… muội đến rồi sao? Anh … vẫn vậy thôi. Cứ đau nhức, hành hạ liên miên. Bao nhiêu thầy lang, thuốc thang đều thử… nhưng dường như bệnh này … vô phương cứu chữa rồi.” Ánh mắt anh đầy tuyệt vọng.

Lan nước mắt lăn dài, nhưng cố kìm nén: “ Anh đừng nói vậy! Anh phải cố gắng lên. Em sẽ tìm mọi cách, em sẽ…Lan nghẹn lại, biết rằng mình bất lực với kiến thức hiện đại mà không có công cụ. Em sẽ luôn ở bên anh. “

Anh Thức cười buồn: “ Muội cứ lo lắng cho anh làm gì. Số kiếp đến đây thì đành chịu. Chỉ thương cho các cháu còn nhỏ dại…Anh ho khẽ.

Lan ôm chặt lấy tay anh, lòng đau như cắt: “ Không đâu anh. Em sẽ lo cho các cháu, anh cứ yên tâm. Anh là người tốt, đã làm rất nhiều điều phúc đức. Anh hãy tin rằng mọi chuyện rồi sẽ ổn thôi.” Dù biết là nói dối, Lan vẫn muốn an ủi anh mình.

Anh Thức: “ Cảm ơn muội… Có muội bên cạnh, anh cũng thấy an lòng hơn nhiều…”

Khi Lan nhận ra mình không thể cứu anh trai khỏi bệnh mạch lươn:
Lan nắm chặt tay anh: “Anh ơi, em xin lỗi... Em đã cố gắng, nhưng em không thể... Em có kiến thức, nhưng em lại không có cách nào... Em lại vô dụng đến vậy..."

Anh Thức mỉm cười yếu ớt, vuốt tóc Lan: “Đừng nói vậy, Yên Nhi. Muội đã làm rất nhiều rồi. Chỉ cần muội ở bên, anh đã thấy an ủi lắm rồi. Nghiệp đã định, muội không thể thay đổi được đâu. Muội đã cho anh và mọi người thấy được một cách sống tốt hơn, một cách phòng bệnh mới mẻ. Chừng đó đã là một điều phi thường rồi."

Đêm về nàng trằn trọc lo lắng cho anh, không thể ngủ được. Lòng Lan đau khổ có kiến thức y khoa mà không thể chữa bệnh cho anh. Vì không có thuốc đặc trị và phòng mổ hiện đại để giải phẫu cứu sống anh. Nàng bất lực trước hoàn cảnh của mình, về thế kỷ trước nên không có phương tiện cứu anh và người cần giúp đỡ.

Trước đây, có nhiều lần, Lan đã nuôi cấy nấm mốc từ bánh mì, nàng thu lại và tổng hợp nấm penicillin. Tuy nhiên, Lan đều thất bại, nàng thấy mình thật kém cỏi. Lan cảm thấy giận dữ với hoàn cảnh và số phận của mình. Nỗi bất lực như một sợi dây thừng siết chặt trái tim nàng, kiến thức nàng có chỉ là một ngọn nến le lói giữa đêm tối của thời đại này.
Năm 1917, anh thứ sáu Nguyễn Hữu Thức đã vĩnh viễn ra đi . Lan đau khổ và nhận thấy việc trở về của nàng đã không giúp đỡ gì cho gia đình, cho anh. Các anh vẫn mất khi còn trẻ khi sự nghiệp đang lên, căn bệnh hiểm nghèo không thể khống chế được, nghiệp vẫn trổ, con người không ai có thể chống lại “nghiệp“ được.

Nàng cảm thấy mình thật nhỏ bé trước vũ trụ bao la và số phận nghiệt ngã của người thân. Mọi nỗ lực của nàng dường như vô nghĩa trước quy luật tự nhiên và "nghiệp" đã định, khiến nàng cảm thấy mất phương hướng và tuyệt vọng.

Những hình ảnh này làm nổi bật sự mâu thuẫn và đau khổ của một người mang tri thức hiện đại nhưng bị giam cầm trong hoàn cảnh của một thời đại lạc hậu, nơi mọi nỗ lực của nàng đều trở thành vô vọng.
Lan tự an ủi rằng: chắc là duyên nghiệp đến đó, hy vọng gặp lại nhau ở kiếp lai sinh

Phần kết

Sau khi anh Thức của Lan mất đi. Nàng vô cùng đau khổ, cảm thấy tuyệt vọng . Cảm giác bất lực, đau khổ khi chứng kiến người thân ra đi mà không thể làm gì được, nó giống như sợi dây thừng siết chặt lấy trái tim nàng, làm nàng nghẹt thở và đau đớn đến cùng cực. Nỗi bất lực ấy trở thành một gánh nặng tâm lý khủng khiếp, không chỉ là sự tiếc nuối mà còn là sự dằn vặt. Mặc dù đã biết kiến thức y khoa chữa bệnh, nhưng thiếu thốn thuốc men và dụng cụ y khoa phẫu thuật cứu anh. Ở thời đại này thiếu nhiều phương tiện hiện đại, thuốc kháng sinh đặc trị. Các bệnh như thương hàn, mạch lươn, ho lao và uốn ván không thể chữa khỏi được. Nếu như ở giữa thế kỷ 20, các bệnh này nếu phát hiện sớm có thể chữa trị được.

Lan cảm thấy mình có tội với các anh và mọi người chung quanh . Trong khi mình biết kiến thức y khoa hiện đại mà không cứu chữa được cho họ. Cảm giác ray rức và đau khổ làm nàng trở nên buồn bả. Phu quân nàng nhận thấy điều đó, chàng dò hỏi:

- “Phu nhân!ta thấy nàng kém vui, bản thân ta có làm gì nàng buồn bực và thất vọng không?”

Nàng lắc đầu, buồn phiền nói:

- “Thiếp không cứu được anh trai sống sót nên buồn thôi. Phu quân rất tốt với thiếp, thiếp cảm động vô cùng."

Chàng gật đầu yên lòng và ôm nàng vào lòng vỗ về an ủi.

Cuộc sống của gia đình nàng vẫn hạnh phúc và êm ấm. Các con lớn lên học hành giỏi giang. Lan vẫn giúp đỡ mọi người khi họ cần như chữa trị vết thương, hoặc những căn bệnh thông thường. Nàng kết hợp giữa Đông y và Tây y để chữa bệnh cho dân làng.

Nàng tuổi ngày càng lớn, phu quân nhận một công cán xa nhà. Công việc gia đình ngày càng bận rộn, cần nàng quán xuyến. Con cái lớn lên phải vào Huế học tập, nàng theo dõi việc học của các con. Lan không thể theo chồng về Nghệ an để nâng khăn sửa túi được.

Chung quanh có rất nhiều gia đình gia thế muốn gả con gái cho chàng làm thiếp. Lan đang sống thời kỳ phong kiến, không phải là thế kỷ của nàng với chế độ “một vợ một chồng”. Vì thế, đàn ông ở thời kỳ này “năm thê bẩy thiếp“ là chuyện bình thường. Đa số đàn ông chung quanh nàng, chẳng hạn như cha và các anh của nàng, ai cũng có nhiều thê thiếp. Nàng suy nghĩ rất nhiều, lòng thấy đau khổ vô cùng, không dễ gì chia xẻ tình yêu của chồng mình cho người đàn bà khác-một người chồng hoàn hảo ai cũng ngưỡng mộ.

Nàng nhìn phu quân ngủ say, đêm nay nàng trằn trọc không sao ngủ được, nàng nhẹ nhàng ngồi dậy, sợ đánh thức chàng. Nàng mở cửa phòng bước ra ban công, hàng triệu ngôi sao sáng lấp lánh trên bầu trời đêm. Dãy ngân hà đục màu trắng sữa chứa đựng hàng triệu triệu ngôi sao vắt qua bầu trời, trời cao thăm thẳm. Lan thấy bé nhỏ trước vũ trụ bao la, cảm giác bất lực chiếm lấy tâm hồn nàng. Nàng nghe những làn gió nhẹ thổi qua mang theo hương thơm của hoa Bạch trầm hương nhẹ nhàng quyến rủ. Nàng cảm thấy lòng trĩu nặng, khổ tâm khi nghĩ đến cảnh chàng ôm và âu yếm một người phụ nữ khác. Cảm giác đau nhói trong tim và tim đập dồn dập, nỗi ghen tuông dâng cao như cuốn hết tinh thần của nàng. Nàng cảm thấy mắt mờ, nước mắt chảy dài trên má. Nàng chỉ là một phụ nữ bình thường, không phải là một vị thánh. Lan vẫn mang trong tâm hồn tinh thần của phụ nữ thế kỷ 20, không dễ dàng chấp thuận như phụ nữ thời phong kiến. Nàng muốn phản kháng lại cái suy nghĩ phải cưới thiếp cho chồng khi không thể nâng khăn sửa túi được. Một phần trong nàng muốn vùng lên, muốn chống lại cái định kiến lạc hậu này. Nhưng một phần khác lại nhắc nhở nàng về bổn phận, về sự yên ổn của gia đình. Nàng phải hy sinh hạnh phúc cá nhân để đổi lấy sự bình yên cho tất cả. Nàng xuất thân là tiểu thư con nhà quan gia , nàng phải làm tròn bổn phận với chồng và gia nương nhà chồng. Lan phải giữ êm ấm của gia đình, dù nàng phải hy sinh hạnh phúc của riêng mình.

Cháu gái con anh Điễn của nàng lớn lên xinh đẹp tuyệt trần-cô cháu gái mà nàng đã cưu mang khi cha mất mới lên tám tuổi. Lan rất yêu thương cháu vì thiếu tình thương của cha, nàng xem cháu gái như con gái của mình. Nàng cũng mong muốn cháu có một đời sống hạnh phúc, có một người chồng hoàn hảo. Lan quyết định đưa cháu gái yêu của mình tiến cử làm thiếp cho chồng mình. Đó là một lựa chọn khó khăn đối với nàng. Nàng là phụ nữ cũng có lòng ghen tức, nhưng nàng nghĩ thà chọn cháu gái, nàng còn kiểm soát được. Phu quân nàng thuộc gia đình danh gia vọng tộc. Lan không muốn người đàn bà khác chia sẻ những hạnh phúc về tình yêu và của cải gia đình mình. Nàng nghĩ thà rằng để cháu gái mình hưởng phúc sẽ tốt hơn nhiều người đàn bà khác.

Khi nàng đưa ra đề nghị, phu quân nàng ngạc nhiên và hỏi lại nàng:

- “Phu nhân quyết định như thế sao? Phu nhân không còn yêu thương ta nữa sao?”

Nàng buồn trả lời chàng:

- “Nếu thiếp không làm như thế, gia đình chàng có cho thiếp yên không? Bảo rằng thiếp ích kỷ, không biết lo cho chồng con, phu quân đi xa mà không có người đi theo chăm sóc miếng ăn giấc ngủ."

Nàng nói tiếp:

- “Vả lại, cháu gái - thiếp đã nuôi dưỡng lâu nay, bây giờ lớn lên xinh đẹp và ngoan hiền, đủ tiêu chuẩn để làm thiếp và chăm sóc phu quân thay thiếp khi xa nhà."

Sau những lời phân tích của nàng, chàng nói:

- “Ta sẽ suy về lời đề nghị này của nàng."

Thời gian công cán của chàng sắp đến, lòng nàng buồn và rối như tơ. Nàng lo sợ các bạn đồng liêu của chàng lôi kéo, dụ ngọt để gả con gái của họ cho chàng. Nhiều người muốn gả con gái họ vào gia đình danh gia vọng tộc để hưởng phước.

Vào buổi chiều, sau một ngày làm việc dài, chàng về nhà, bảo nàng lại gần và nói nhỏ với nàng nhưng ánh mắt không được vui lắm: “Ta đồng ý với quyết định của nàng."

Nàng gọi cháu gái vào và nói chuyện với cô, giải thích nhiệm vụ của cô với phu quân và gia đình nàng.

Cháu gái đã biết rõ tình cảm thân thiết của hai vợ chồng nàng. Cô cũng yêu quý chồng nàng nên dễ dàng chấp thuận đề nghị của nàng.
Đêm đó, chàng ôm nàng thật chặt và âu yếm nàng. Phu quân vuốt tóc nàng nói rằng: "Ta sẽ không bao giờ quên nàng, người vợ đầu tiên và duy nhất trong tim ta." Tuy nhiên, Lan cảm nhận vòng tay và nụ hôn không còn trọn vẹn, mai đây chàng sẽ hôn cháu gái nàng như thế. Nàng thấy mình thật mâu thuẫn, mong phu quân chấp nhận cháu gái mình. Tuy nhiên, khi chàng đồng ý với quyết định của nàng, Lan thấy không hài lòng và buồn bực. Nói cho cùng, nàng chỉ là một người đàn bà với tình cảm ghen tuông bình thường của con người.
Ngày hôm sau, Lan tiễn chồng và cháu gái ra xe đi về Nghệ An. Lòng xót xa, nhưng nàng phải nuốt lệ vào trong. Lan phải chấp nhận hoàn cảnh này, vì nàng đang ở thời kỳ phong kiến.
Lan nhìn căn nhà thấy thật lạnh lẽo khi vắng bóng chàng, chăn nệm còn vương mùi thân thể chàng. Hai vai Lan rung lên, nàng tủi thân khóc rưng rức, nước mắt chảy dài trên má. Lan muốn thả lõng, không kềm nén nỗi đau của mình. Trong một xã hội phong kiến, quyền lợi người phụ nữ còn hạn chế, vẫn còn trọng nam khinh nữ. Nhưng Lan là người con gái của thời hiện đại, nàng là người con gái có học và độc lập, nay phải chịu cảnh chia sẻ chồng sống chung với người phụ nữ khác. Nàng nằm khóc thiếp đi, khi tỉnh dậy trời cũng về chiều. Hoàng hôn dần buông xuống, vài con chim lẻ bạn gọi bầy, vạn vật chìm trong màu tím u buồn.

Một năm sau, Lan nhận tin một cậu con trai khỏe mạnh và tuấn tú ra đời. Nàng chấp nhận tin vui này và dù có thêm thiếp nhưng phu quân vẫn yêu thương và tôn trọng nàng.

Cháu gái Lan vẫn tuân theo những dạy dỗ của nàng, thủ phận làm thiếp trong gia đình lớn của nàng. Phu quân của nàng hài lòng với nề nếp của gia đình theo sự sắp xếp của nàng: “trong ấm ngoài êm".

Các con trai của Lan thừa hưởng sự khôi ngô tuấn tú, cao lớn và thông minh của cha. Các cháu được giáo dục theo tiêu chuẩn của gia đình danh gia vọng tộc. Sau này, các con trai trở thành những người có chức sắc trong xã hội. Các con trai của thiếp chàng cũng đẹp trai, cao ráo được ăn học đến nơi đến chốn, thành đạt trong đời.

Các cháu nội của Lan được giáo dục theo truyền thống của gia đình. Trong đó đặc biệt có cháu trai áp út, con của trưởng nam. Cháu có năng khiếu ca hát, rất đam mê loại nghệ thuật này. Con trai nàng không đồng ý cho con theo nghề ca hát, bảo đó là nghề nghiệp mà người ta thường nói “xướng ca vô loài “ , không xứng đáng với gia đình của mình. Cha con xung đột gay gắt, cháu đậu tú tài xong, không đi Pháp du học như các anh, mà bỏ học đi theo nghề ca hát. Con trai nàng giận dữ muốn từ con. Nàng đã biết trước rằng cháu sau này là một ca sĩ nổi tiếng nhất nước, nên nàng hòa giải với con trai:

-“Cháu Diệp có năng khiếu đặc biệt về ca hát. Mẹ khuyên con để cháu theo đuổi ước mơ của mình. Con đừng bắt buộc cháu từ bỏ, biết đâu sau này cháu trở thành một ca sĩ nổi danh nhất nước thì sao?

Trưởng nam của nàng vẫn chưa đồng ý, vẫn thấy bực bội vì con trai không làm theo sự sắp đặt của mình.

- “ Thân mẫu xem, ai lại bỏ học đi theo nghề ca hát, dù tài giỏi đến đâu, vẫn bị người đời gọi “thằng này, thằng nọ “, thiếu sự tôn trọng, cháu có đáng bị như thế không?”

Nàng ôn tồn bảo con trai:

- “Con trai à, trong cuộc đời này, mọi việc không phải lúc nào cũng theo ý mình. Chúng ta phải biết chấp nhận và hãy để tùy duyên con nhé.”
Trưởng nam vẫn còn giận dữ:
- "Nhưng thưa mẹ, mẹ nghĩ xem, một người trong gia tộc chúng ta mà lại đi làm 'xướng ca'? Điều đó sẽ làm mất mặt cả dòng họ!"

Lan nhìn con trai bằng ánh mắt điềm tĩnh, ấm áp:

- “Con à, danh vọng của một gia tộc không nằm ở nghề nghiệp mà con cháu theo đuổi. Nó nằm ở lòng nhân đức, ở tài năng và sự cống hiến. Nghề nào cũng cao quý nếu làm bằng cả trái tim. Ca hát là một nghệ thuật, là món quà mà ông trời ban tặng cho Diệp. Hãy để cháu sống với đam mê của mình, con sẽ thấy cháu hạnh phúc và thành công biết bao."

Trưởng nam nàng là ông Nguyễn Văn Triển- một trợ giáo có uy tín và là đại biểu Hạ nghị viện của tỉnh Quảng Trị. Người cháu trai mê ca hát, đó là ca sĩ Duy Khánh, người sau này làm mưa làm gió trên sân khấu với giọng ca Ténor cao vút ngân dài được 21 nhịp.

Nhạc sĩ Phạm Duy nhận xét:”Trong giọng ca Duy Khánh, nghe âm hưởng tiếng trống cổ thành, tiếng thông reo trên đồi Vọng Cảnh “.
Lan sống một đời viên mãn, chứng kiến sự thành công của con cháu, đặc biệt là ca sĩ Duy Khánh.

Gia đình nàng sống hạnh phúc bên nhau, nàng sống rất thọ, năm 1964, nàng ra đi trong thanh thản ở tuổi tám mươi sáu. Cái chết của nàng không phải là một sự thất bại mà kết thúc một cuộc đời hạnh phúc mà bao phụ nữ mơ ước.

Nguyễn Thị Thu Sương
10/8/2025

thusuong1959@gmail.com


Ghi chú:

Huyện Thành Hóa được thành lập năm 1853, là một đơn vị hành chính của tỉnh Quảng Trị dưới triều Nguyễn. Huyện Thành Hóa bao gồm cả huyện Cam Lộ ngày nay và một phần của huyện Gio Linh.
Trước khi giải thể vào năm 1888, Thành Hóa quản lý tổng cộng 5 tổng, bao gồm:
* Tổng An Thạch: Ngày nay là các xã ở phía bắc huyện Gio Linh.
* Tổng Bái Ân: Ngày nay là một phần của các xã ở phía nam huyện Gio Linh và phía bắc huyện Cam Lộ.
* Tổng Cam Lộ: Ngày nay là trung tâm huyện Cam Lộ.
* Tổng Cam Vũ: Ngày nay là phần còn lại của huyện Cam Lộ.
* Tổng Cổ Mỹ: Ngày nay là các xã ở phía đông của huyện Gio Linh.

 

READ MORE - TRỞ VỀ - Truyện ngắn - Nguyễn Thị Thu Sương