Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Trương Đình Tuấn. Show all posts
Showing posts with label Trương Đình Tuấn. Show all posts

Thursday, February 2, 2012

DUYÊN NỢ - Truyện ngắn của Trương Đình Tuấn



Truyện ngắn đạt giải nhì (không có giải nhất)
của cuộc thi sáng tác văn học 
do Hội VHNT tỉnh Bình Phước 
tổ chức lần thứ 3 năm 2011.

                                                                                            
                                                                      
Email của anh gửi cho tôi: Tôi đã đọc bút ký: “Ngày tháng tả tơi” của cậu! Có phải cậu là Cận, ngày trước bị bắt làm tù binh trong trận Phước Long đầu năm 1974 đó không. Tôi là Viễn, đã từng ném cậu lên xe bò năm ấy đây. Nếu khi nào cậu rảnh rỗi hãy ghé nhà tôi chơi và liên lạc theo số điện thoại sau…

Tôi bàng hoàng xúc động khi đọc mấy dòng này của anh.

Tôi đang làm biên tập cho tờ báo của thành phố Hồ Chí Minh. Anh Viễn là cọng tác viên của báo nhưng lấy bút danh khác. Nên tôi không thể ngờ người thường xuyên có tên ký dưới những truyện ngắn rất hay, lại là người mà ngày còn trai trẻ đã từng cứu tôi thoát khỏi cái chết.

Tôi nôn nao gặp anh ngay, hơn ba mươi năm rồi còn gì.

Về nhà, tôi nói cho vợ con biết là ngày mai tôi sẽ lên Bình Phước để tìm gặp người tôi đã mang  ơn cứu tử, và kể cho vợ con nghe câu chuyện ngày trước của tôi và anh Cận.

Vũ, con trai đầu của tôi reo lên:

- Vậy ngày mai bố con mình đi chung nhé!

- Con lên Bình Phước cùng với Hương à

- Dạ

Tôi cười:

- Vậy là bố khỏi tốn tiền đò xe

- Chỉ tại bố mẹ không thích đi thôi. Chứ đi đâu tụi con cũng sẵn sàng bao tất

Cả nhà cùng cười vui

Hương là bạn gái của Vũ, nhà bố mẹ Hương ở thị xã Đồng Xoài, tỉnh lỵ của Bình Phước, Hương cùng làm chung công ty với Vũ.

Hôm sau chúng tôi khởi hành sớm. Rời thành phố lúc tờ mờ sáng, xe băng qua thị xã Thủ Dầu Một, đến ngã tư Sở Sao quẹo phải qua đường DT 741. Ngồi trên xe tôi cứ nôn nao, miên man về một nơi tôi sắp đến, một ân nhân tôi sắp gặp lại sau một thời gian dài biền biệt bặt tin.

Năm 1973 tôi vừa tròn 18 tuổi, vừa thi rớt tú tài là bị lệnh động viên vào quân đội miền Nam của chính quyền Sài Gòn. Rời quân trường với cái mặt non choẹt búng ra sữa, đơn vị tôi tăng cường về phòng thủ tỉnh Phước Long. Chỉ sau mấy tháng, từ một cậu học trò cắp sách đến trường, tôi đã biến thành một anh tân binh chân ướt chân ráo lên một tỉnh tiền biên chim kêu vượn hú, quanh năm sương mù bao phủ. Những ngày đầu nhớ nhà tưởng chừng như không thể chịu được, nhiều lần tôi có ý định đào ngũ để trốn về nhà, nhưng từ đoạn đường 120 km từ nơi tôi đồn trú trở về Bình Dương đã bị quân đội Giải Phóng kiểm soát khu vực Phú Giáo. Giao thông vận chuyển chỉ nhờ vào trực thăng vận.

Tôi luôn hoang mang giữa cảnh lính trẻ xa nhà nơi chốn đèo heo hút gió mịt mù đất đỏ, âm u rừng già.

Bố già thường vụ đại đội, nhiều lần nhắc nhở tôi: Lính tráng gì mà ủy mị suốt ngày ngơ ngơ ngẩn ngẩn như mày thì đánh đấm với ai được.Mà quả thật là tôi chẳng đánh đấm với ai được cả. Cùng như tất cả đơn vị phòng thủ tỉnh Phước Long đã tan tác sau hơn 20 ngày đêm tiến quân của các sư đoàn Giải Phóng.

Tiếng của chú tài xế cắt đứt dòng hồi tưởng của tôi:

-Thưa chú, mình dừng lại nơi đâu để uống nước nghỉ ngơi ạ!

- Em hãy cho dừng lại nghỉ gần cầu Sông Bé, tôi muốn nhìn lại cây cầu này

Cháu Hương tinh ý :

- Bác muốn ngắm lại cây cầu của một thời đáng nhớ phải không ạ?

Tôi nhìn con dâu tương lai của mình:

- Cháu thông minh thế!

Cây cầu đã gãy nhịp giữa nằm trơ vơ một bên đường như nhắc ta một thời chiến tranh. Cây cầu này cách đây hơn ba mươi năm tôi cũng đã từng đi qua, bằng chiếc xe GMC chở trung đội lính mới từ hậu cứ Bình Dương lên Phước Long. Những chú lính mới tò te không biết nơi dừng chân của mình đêm nay ở nơi đâu. Những khuôn mặt bơ ngơ báo ngáo quay nhìn hai bên đường, ngoảnh lại phía sau lưng là mù mù bụi đỏ. Sau lớp bụi mù kia là những đôi mắt lo lắng, những bàn tay vẫy tiễn đưa của người thân. Là phố phường có những hàng me xanh đơm lá ngoan hiền, là sân trường lung linh chùm phượng đỏ.Ánh mắt của cô bạn gái chung trường hình như cứ dõi theo ở sau cửa lớp hay một góc hè phố trên đường học trò dấu yêu mỗi bữa đi về.

Xe lại tiếp tục chuyển bánh, tôi nhìn đồng hồ:

- Khoảng gần một giờ nữa là chúng ta đến Đồng Xoài đấy

- Bố ơi! Bố kể thêm về chuyện bác bộ đội đã cứu bố đi

- Ừ, bố kể tiếp cho các con nghe nhé:

Ngày 06 tháng 1 năm 1974. Giải Phóng Quân đã chiếm lĩnh hết trận địa Phước Long. Đại đội của tôi ước chừng còn phân nửa tháo chạy ra rừng để đào thoát. Và khi đến bìa rừng thì chỉ còn lại mấy mống vì đạn pháo đủ loại đan dày khắp nơi. Bị thương ở chân, tôi không thể đi đâu xa được, chỉ nằm trong một bụi cây ven bờ suối, nằm một chỗ suốt một ngày một đêm, đói đến hoa con mắt.

Chắc chắn là mình trước sau gì cũng chết vì vết thương và đói, tôi nằm thu mình trong lùm bụi cây chồi kề bờ suối, mỗi lần khát là bò lết ra vục nước uống.

Đến sáng ngày thứ hai thì tôi đã kiệt sức, không còn bò ra kiếm nước uống nữa, mắt lờ đờ nhìn mặt trời phản chiếu dưới đáy suối. Lạ thay kề một bên vừng thái dương kia là một chiếc mũ tai bèo đang cúi xuống. Ôi trời! Một anh bộ đội đang lấy nước, lần đầu tiên tôi mới tiếp cận một đối phương  gần đến thế, khoảng cách rất gần tưởng như mấy xoải tay là đụng anh ta ngay. Tôi thò tay vào thắt lưng cầm trái lựu đạn cuối cùng. Bất giác anh bộ đội ngẩng đầu lên cao, khuôn mặt trẻ tươi nghịch ngợm trước màu bạt ngàn xanh thẩm của rừng. Anh ta còn quá trẻ, quá trẻ như tôi vậy. Bàn tay của tôi tôi bỗng lơi ra. Tại sao tôi có thể giết chết một người đang hồn nhiên vô tư dưới ánh nắng ban mai? Cũng như tôi, chàng trai trẻ này chắc cũng còn mẹ già ngày đêm mong ngóng con về. Chàng trai trẻ này chắc cũng chưa bao giờ dám nắm tay một người con gái trước khi khoác áo lính. Tại sao tôi có thể khai tử khuôn mặt ngời tuổi xuân kia,  khi anh ta vô tình không hề biết mạng sống của mình sắp bị tước đoạt bởi một đối phương ẩn núp trong bụi rậm. Tôi là một kẻ hèn hạ biết bao khi biết trước mình sẽ chết mà còn cố tình đem theo một cái chết của kẻ khác.

Quả lựu đạn vẫn chưa rút chốt, tôi liệng nó qua một bên và kêu lên:

- Cứu tôi…cứu tôi với!

Anh bộ đội liệng nhanh can nước và chỉa khẩu AK về phía tôi

- Ai đó! Bước ra nhanh không thì bắn bỏ!

- Tôi…sắp… ch…ết.

Nửa mê nửa tỉnh, tôi cứ e sau khi nhìn thấy sắc phục của tôi, anh ta sẽ cho tôi một viên kẹo đồng vào đầu. Nhưng lạy trời! Không phải vậy. Sau khi cẩn thận đến gần, xem xét thấy tôi bị thương thật. Anh bộ đội bỏ đi một lát rồi trở lại cùng các đồng đội với chiếc xe bò kéo được trưng dụng của dân làm rừng.  Tôi được chở về, anh vội vả băng bó cấp tốc vết thương và đem cho tôi một gà mên cơm.

Sau này tôi mới biết đơn vị của anh có nhiệm vụ ém quân vào cánh rừng phía Đông Phước Long để chờ đánh lính Sài Gòn từ hướng Đồng Xoài có thể đổ lên cứu viện. Đại đội của tôi vừa trốn thoát ra khỏi Phước Long, đã lọt vào trận địa của các anh.

Mấy ngày sau tôi được chuyển lên xe chung với một số anh em tù binh khác để về tuyến sau. Từ đó chúng tôi không còn gặp nhau nữa, nhưng tôi cũng đã kịp biết tên anh, cũng đã kịp tìm cách để từ giã, đưa tấm thẻ bài ghi tên họ của tôi cho anh:

- Tôi còn mạng sống đây là nhờ ơn anh, tôi không bao giờ quên. Sau này nếu tôi không được về thì nhờ anh giao giùm tấm thẻ bài này về báo tin cho gia đình tôi.

Anh cười trấn an:

- Chính sách đối xử với tù binh của Mặt Trận Giải Phóng rất nhân đạo. Anh cứ yên tâm cải tạo tốt, sau này sẽ trở về với gia đình thôi mà

Đúng như lời của anh. Sau ngày 30 tháng tư, tôi được trả tự do.  

Mãi mê kể chuyện, xe của chúng tôi đã vào thị xã lúc nào không hay. Phố sá trở nên sầm uất, con đường chính chính thênh thang dẫn vào nội ô rợp cờ hoa. Đã sắp đến ngày kỷ niệm 15 năm thành lập tỉnh. Trước khi thành thủ phủ của tỉnh, con đường này vẫn còn là đất đỏ, nhà của hai bên thưa thớt. Không ai có thể ngờ được một thời gian sau đã trở thành phố thị tấp nập, một sự thay da đổi thịt không chỉ riêng cho Đồng Xoài mà chung cho tất cả các thị tứ của đất nước thân yêu.

Con dốc thoai thoải nghiêng nghiêng. Ánh nắng vàng tươi trải màu mật vàng óng.

Vũ nhắc tôi:

- Nhà của bác Viễn ở đường nào hả bố? Để chú tài sẽ đưa ba đến đó trước.

- Đường Phú Riềng Đỏ con ạ.

Vũ reo lên. Ô hay quá, nhà của Hương cũng ở đường này bố ạ!

Khi nghe tôi đọc số nhà. Hương trố mắt nhìn tôi:

- Ôi bác ơi. Có phải người mà bác vừa kể là Hoàng Duy Viễn không?

- Đúng rồi. Mà sao con biết?

- Dạ…Vì…đó là bố của con.

Thật bất ngờ. Tôi xúc động lắp bắp nói không nên lời:

- Thật thế phải không cháu?

- Thật bác ạ. Cháu nghe bác nhắc đến tên của bố, cứ ngờ ngợ nhưng không thể ngờ lại có chuyện dun rũi cho bác đã gặp bố cháu như thế.

Tôi lặng người đi mấy giây. Người ngày xưa tôi đã thọ ơn sâu, tưởng là không thể gặp nhau nữa. Ai ngờ hơn ba mươi năm sau lại sắp hội ngộ, và lại sắp trở thành ông sui!

Xe dừng lại, anh Viễn đã đứng sẵn trước cổng để đón. Tôi dễ nhận ra anh vì dáng dong dỏng cao. Tóc đã bạc hoa râm nhưng tôi vẫn dễ nhận ra mái tóc cắt ngắn ba phân lộ ra vầng trán kiêu hãnh của anh ngày nào

Hương lao xuống xe ôm chầm lấy bố:

- Bố ơi! Bác Cận là ba của anh Vũ đấy

Đến lượt anh Viễn trố mắt đứng sững sờ. Tôi nắm lấy tay anh lay mạnh

- Đúng rồi anh Viễn ơi! Tôi chỉ biết cháu Hương là con của anh, mới đây thôi…mới đây thôi.

Sau phút xúc động. Trấn tỉnh lại, anh Viễn cười lên ha hả.

-Ôi ông trời sao khéo sắp đặt, nếu ngày ấy mà một trong hai chúng ta không kềm chế mà nổ súng. Thì đâu có được ngày hôm nay, cậu nhỉ!

Tôi quay lại nhìn Vũ và Hương:

- Như vậy đúng là duyên nợ thật anh nhỉ!

Anh Viễn gật gù:

- Duyên nợ như đã sắp đặt trước. Chắc là vậy!



TRƯƠNG ĐÌNH TUẤN
truonghuynhtth@gmail.com
READ MORE - DUYÊN NỢ - Truyện ngắn của Trương Đình Tuấn

Tuesday, January 31, 2012

GIẤC MƠ CỦA HOA VÀ NẮNG – Truyện ngắn của Trương ĐìnhTuấn


Anh thường vào blog của tôi comment bằng nick Nông Dân.Tôi thích cái nick này, thích luôn những comment nghịch ngợm dễ thương của anh.

Anh xin số điện thoại. Đối với người hâm mộ văn của mình, tôi không đắn đo mấy khi nhắn lại số cho gã đàn ông xa lạ chưa một lần gặp mặt ở ngoài đời. Lần đầu anh nhắn tin cho tôi:

- Mình chỉ nhắn tin thôi, đừng có gọi, em nhé!

- Sao vậy anh?

- Tại anh bị… cà lăm.

Tôi ôm bụng cười ngất.

Kệ, người ta có cà lăm hay không thì mặc kệ. Mà vậy cũng hay, ngoài công việc trợ lý cho mẹ, tôi dành hết thì giờ cho viết lách, không còn rỗi để tiếp chuyện với độc giả của mình, thật tai nạn nếu anh là người… già chuyện.

Anh nhắn tin cho tôi rời rạc. Tôi giữ thông lệ từ đầu tự mình đặt ra là chỉ trả lời anh chứ không bắt chuyện trước. Những dòng tin của anh thường đem đến cho tôi niềm vui như những dòng comment hài hước thông minh, chẳng Nông Dân chút nào cả. Nếu bẵng đi những tin nhắn này cả mấy ngày thì tôi như thiêu thiếu một điều gì quen thuộc.

Có  lần thức khuya để viết bài, chuông tin nhắn vang lên. Là anh ư, tôi lẩm bẩm, tưởng anh biến luôn rồi nữa chứ!

- Em còn thức phải không?

- Dạ.

- Em nghe anh đàn hát nhé!

- Ủa, nghe nói anh bị cà lăm mà.

- Mỗi lần say anh lại hết bị cà lăm.

- Xạo quá! Anh hát đi.

Anh vừa đệm đàn guitar vừa hát bài Xin còn gọi tên nhau:

- Tình trong cơn ngủ mê rồi phai trên hàng mi. Để khi mình nhớ về, mộng thành mây bay đi, còn gì trên đôi tay. Nên thầm hờn dỗi mình. Cho tình càng thêm say.

Ôi, làm sao mà anh lại biết tôi thích bài này, thích những đêm thức khuya, có tiếng hát của ai đó không phải là ca sĩ, không phải phát ra từ máy tính, mà từ một nơi nào đó trên bãi bờ của biển đêm, hay từ đồi cao vi vu tiếng thông reo.

Anh chỉ hát một khúc thôi rồi im bặt. Say mà sao khôn thế? Chắc là sợ… hết pin.

- Anh ca hay quá, mai mốt anh ca tiếp cho em nghe nhé!

Im lặng không nói, không một chữ trả lời. Người chi mà lạ lùng.

Có lần mới năm giờ sáng anh đã nhắn:

- Phượng Vỹ ơi, chắc là anh mê em rồi!

- Em tin là anh không xạo. Mà xin anh đừng manh động. Tội nghiệp em! Em đang run đây nè!

Tôi không run, chỉ nghe mình choáng váng.

Không biết anh đang ở nơi xó xỉnh nào, tôi tạm tin anh để nhắn cà phê với anh.

- Anh đang ở xa em lắm, lại sợ gặp mặt sẽ mê em thêm.

- Mê thêm thì sao?

- Khó dứt ra được!

- ???

Im lìm!

Lại có lần anh nhắn cho tôi mấy câu thơ:

Ta đang uống rượu một mình

Thấy tình ta tựa như hình mây bay

Thấy đời mòn mỏi cuộc say

Say từ tiền kiếp đọa đày yêu em.     

Là sao đây? Anh lại say nữa rồi. Cái ông Nông Dân này, mỗi lần say là toàn nhạc với thơ.

- Thơ của ai vậy anh?

Lại im lìm!

Đó là tin nhắn cuối cùng của anh gửi cho tôi.

Bỏ quy ước tự đặt ra cho mình, tôi nhắn tin rồi gọi trước cho anh. Tất cả đều bặt vô âm tín.

Người chi mà lạ kỳ, chắc là nông dân này về quê cày ruộng rồi! Hóa ra đàn ông ai cũng đều như cánh chuồn chuồn, khi vui thì đậu khi buồn… chuồn luôn.

Mỗi lần mở blog ra, tôi đều thầm chờ đợi anh xuất hiện. Vẫn trắng toát khung comment trống không nằm hoang vu lạnh lẽo. Vẫn đôi mắt quầng thâm hiền hiền của anh nhìn tôi từ một nơi nào rất xa lại rất gần. Vẫn tiếng hát anh còn vọng dư âm vương víu từ ngõ hồn tôi xôn xao. Và tôi cũng thấy mình quá ngu ngơ khi khù khờ gửi tin yêu đến cho người trên mạng ảo. Rồi nhơ nhớ, tiêng tiếc một điều gì dấu ái vừa vuột mất đi. Có thể nào mi lại nhớ người ta dễ dàng thế sao, này lòng kiêu hãnh của ta ơi?

Nhiều câu hỏi được đặt ra cho sự im lặng trống vắng này, và tôi hoảng hốt khi nghĩ có điều gì không may đã xảy đến cho anh.

oOo

Khí hậu Đà Lạt mùa này không lạnh như tôi tưởng, đủ se se dễ chịu cho những người quen chịu đựng cái nắng nóng bức của Sài Gòn như tôi. Lần đầu tiên đến, phố núi đối với tôi thật tuyệt. Nơi nào cũng hoa, đường nào cũng dốc. Nhà cửa phố xá quanh quanh theo sườn đồi. Sương mù không nhiều, chỉ thấy xa xa phía sau hậu viên khách sạn, mấy lớp sương mỏng như khăn voan hờ hững choàng qua vai đồi thông xanh thẳm.

Khuôn viên của khách sạn rộng. Tôi ngồi xuống chiếc ghế mây trong góc quầy cà phê, ngắm màu nắng nhàn nhạt dưới thung lũng dưới kia. Dây tầm xuân bò dọc theo lan can nở mấy nụ xanh rung rinh. Nhạc Phạm Duy mở vừa đủ nghe, tha thiết buồn buồn: Nghìn trùng xa cách, người đã đi rồi. Còn gì đâu nữa mà khóc với cười...

Một góc bên kia là bàn của mấy ông uống bia đang rôm rả nói cười. Hình như mấy ông thuộc hội văn nghệ của phố núi này. Qua loáng thoáng câu chuyện của họ, tôi đoán như vậy. Và dễ dàng nhận ra nhà văn trẻ Đinh Vũ, vì anh có bộ tóc dài thượt và râu quai nón. Chân dung anh thường xuất hiện trên báo chí.

Rượu vào thơ ra, họ hứng chí đọc thơ oang oang. Mấy ổng là vậy, có khi ngồi quán cóc bên đường cũng xua tay múa chân đọc thơ như nơi nào cũng là nhà của họ vậy.

- Ê Vũ, mày ngâm thơ không được thì hát hò đi chứ!

Cả bàn vỗ tay, cây đàn guitar được người phục vụ mang ra đưa cho Đinh Vũ. Anh vừa so lại dây vừa cười: Xin còn gọi tên nhau nhé!

Tôi quay phắt lại vì cái giọng hát tôi quen chứ không phải vì bài ca tôi thích. Đúng là anh rồi, không lầm lẫn đi đâu được. Vẫn chỉ một điệp khúc đó, vẫn tiếng đệm đàn đó, vẫn giọng trầm trầm đó. Tôi bước qua đứng trước mặt anh:

- Là anh Nông Dân đó phải không?

Anh ngẩng đầu lên nhìn tôi thảng thốt:

- Ôi, Phượng Vỹ!

Anh đứng dậy dựng cây đàn lên ghế, bối rối nhìn tôi:

-  Em lên đây bao giờ vậy?

Tôi không trả lời anh mà chỉ muốn khóc.

Các bạn của anh đồng loạt rộ lên:

- Hơ hơ, thằng Vũ đang bị em tầm nã!

Họ đứng dậy đùa bông lông thêm mấy câu nữa rồi ra về. Chỉ còn anh và tôi.

- Ngồi xuống đi em. Em uống gì nào?

-  Cho em ly rượu vang.

Nhìn vẻ mặt buồn buồn của anh, tôi không nỡ hỏi nhiều. Mà đối với anh, tôi có quyền gì để hỏi chứ? Tôi thật là con nít.

Uống nửa ly rượu vào, đứa con gái rụt rè trong tôi biến mất. Tay tôi níu tay anh, mắt tôi ngó sâu vào mắt anh:

- Có phải bốn câu thơ nhắn lần cuối cùng bữa đó cho em là thơ của anh làm phải không?

- Có gì quan trọng? Mà sao em biết hay vậy?

- Anh coi thường sự nhạy cảm của em rồi, mấy câu đó nói là anh đã… yêu em! Mà đã lầm lỡ rồi, sao không dũng cảm xưng tội, để phải… chạy trốn nhỉ?

- Dạ, tại quá ham chơi nên trốn học… mấy tháng thôi “cô cô” ơi!

Tôi phì cười. Trước đây anh cứ xưng mình là Dương Quá và gọi tôi là “cô cô” để nhờ tôi truyền nghề… viết văn. Người chi mà khôn quá. Trong truyện Thần điêu đại hiệp của Kim Dung, chẳng phải là học trò Dương Quá cứ đòi cưới cô cô Tiểu Long Nữ đó sao?

Đến lượt tôi đánh trống lảng:

- Quá giỏi ha, còn thêm một tội nữa! Nhà văn mà giả nai bái sư với con bé lơ tơ mơ mới vào nghề này nhé!

Và nhắc lại câu hỏi mà anh chưa trả lời:

- Sao anh trốn em?

Anh buông một câu rất sến:

- Anh viết văn không đủ nuôi thân mình, nên đành hẹn kiếp sau sẽ không trốn em nữa.

- Sao anh không nói rõ?

- Anh sợ nói ra em sẽ cho anh hèn nhát đào thoát! Anh khổ như con chó từ hồi bé đến giờ rồi, nên không muốn lây vạ cho em.

Đó là một trong nhiều điều mà tôi đã suy đoán, là điều làm tôi nhẹ nhõm hơn tất cả mấy điều.

- Anh có biết em lo cho anh đã có chuyện không may xảy ra không? Anh ác độc hơn cả… mụ phù thủy!

- Ô, mà trước đây anh nào thấy dấu hiệu gì em sẽ lo cho anh đâu?

- Anh xạo quá đi!

Người phục vụ nhắc chúng tôi đã đến giờ khách sạn đóng cổng. Tôi tiễn anh:

- Thôi anh về đi, em chỉ còn hai ngày ở lại đây thôi. Ngày mai anh phải chở em đi chơi cho khắp hết Đà Lạt. Chừng nào em về lại Sài Gòn rồi thì anh thích trốn tiếp thì cứ trốn. Chứ đừng trốn sớm. Bỏ em bơ vơ một mình ở xứ lạnh này, tội nghiệp.

Tôi cũng vừa buông một câu dài dòng rất sến! Ai đó đã nói thường khi yêu, đôi khi hai người sẽ trở thành sến tất!

Lúc này, trong tôi có hai nửa. Một nửa cuồng nhiệt muốn trì níu anh làm của riêng mình. Một nửa kia nhu mì lỏng tay cho anh muốn trôi đi đâu thì đi. Nửa sau yếu ớt này không còn là của tôi mà là của anh, tùy thuộc vào anh có đủ dũng cảm để dắt tay tôi đi về phía trước hay không.

Lúc này, tôi nhẹ tênh cả người. Chỉ cần ngày mai bên anh nơi phố núi này là đủ rồi. Cảm ơn thành phố của hoa, sương mù và tình yêu sẽ cho tôi có một giờ bên anh. Huống chi tôi sẽ có đến cả hai ngày!

Đêm bình yên. Tôi tưởng tượng ngày mai tôi sẽ ngồi sau chiếc xe máy Trung Quốc cà tàng của anh. Anh chở tôi lòng vòng hết những con đường của Đà Lạt. Cuối cùng dừng lại bên vệ đường có ngọn đồi thoai thoải bạt ngàn hoa dã quỳ vàng. Chúng tôi nắm tay nhau chạy băng trên cánh rừng này. Và tôi mơ tôi và anh từ từ bay bổng lên, từ từ tan loãng giữa khoảng không. Tôi hòa tan vào màu hoa, anh hòa tan vào màu nắng. Màu vàng hoa nắng không còn buồn bã nữa mà rực rỡ lên màu lạ thường. 

TRƯƠNG ĐÌNH TUẤN
truonghuynhtth@gmail.com
READ MORE - GIẤC MƠ CỦA HOA VÀ NẮNG – Truyện ngắn của Trương ĐìnhTuấn

Friday, October 7, 2011

TRƯƠNG ĐÌNH TUẤN - BÀI THƠ ĐẦU TAY


Truyện ngắn dự thi Tuổi Thanh Xuân 
đã đăng trên tập san Áo Trắng 
ngày 15-5 2010


Thúy Phương cùng học chung trường với tôi hồi tiểu học, hai đứa hai lớp sát vách với nhau. Không quen nhưng biết vì nhà hai đứa cùng chung một đường đi đi về về. Hình ảnh thơ ấu của em còn sót đọng trong tôi chỉ có thế, một cô bé chuyên mặc áo đầm trắng, tóc cột dây thun túm cái đuôi gà lủng la lủng lẳng theo nhịp chân sáo đến trường.

Hết cấp tiểu học, em đậu vào lớp sáu trường Nữ Trung Học, tôi đậu vào lớp sáu trường Trần Quốc Tuấn. Đi học chung đường với nhau, tôi vẫn dễ nhìn ra cái túm tóc cột đuôi gà ấy của em lẫn trong đám nữ sinh của ngôi trường con gái nỗi tiếng nhất tỉnh vì đã gom tụ hết anh thư nữ sĩ..

Mấy năm học đệ nhất cấp qua nhanh. Bỗng một ngày nọ em đến trường với chiếc áo dài trắng trông ngồ ngộ. A, người ta đã mang bảng tên thêu màu tím của đệ nhị cấp rồi, người ta đã lớn rồi. Tóc thề lưng lửng bờ vai và cặp mắt như đong đưa trộn lẫn màu mưa nắng. Buổi sáng ấy con đường từ ga Ông Bố dẫn đến trường em và trường tôi như khác lạ hơn mấy bữa. Hai hàng cây vẫn xanh, trong sắc lá như mới thêm màu mơn mởn non tơ. Tự nhiên mà tôi để ý màu sương mù lẫn trên ngọn cây. Tự nhiên mà tôi vừa đạp xe vừa huýt sáo. Và trời ạ, ai mà tin được trưa ấy về nhà tôi hì hục đẻo gọt ra được bài thơ đầu tay:

                                      Anh đứng lại trước sân trường của bé
                                      Hàng huỳnh anh nở vàng ngát trong sân   
                                      Nếu bé cười anh sẽ thấy thương thêm
                                       Màu nắng mới giao mùa trên khóm lá
                                       Bé có biết chiều nay chim không hót
                                       Buổi tan trường mắt biếc có bâng khuâng 
                                       Đường ta đi phượng bắt đầu nở đỏ
                                       Mai xa rồi ai biết có buồn không
                                       Những sáng vui như những chiều buồn
                                       Tình vẫn khép e dè như giấy vở...  

Suốt ngày hôm đó tôi lâng lâng mãi vì bài thơ này.  Cao hứng tôi đọc cho thằng bạn thân nhất là Nguyễn Dũng nghe, hắn chỏng tai lên rồi mù mờ hỏi: Thơ Xuân Diệu hả? Chao ôi tôi lại tưởng như mình có thể bay lên mây được...Không thể cho bạn biết bài thơ trên do tôi làm vì hắn mà biết tôi là tác giả sẽ chun mũi lên mà chê thậm thà thậm thượt. Và càng im lặng hơn nữa vì sợ hắn biết sẽ gặng hỏi con bé trong thơ là con bé nào...Tôi bước ra trước lan can căn gác của nhà hắn, ngó nắng chiều nhảy múa dưới con hẽm nhỏ. Không như mọi bữa, trong màu nắng như âm ỉ chực rộn lên bao lời vui khó tả..

Bài thơ ấy tôi đặt tên là Mắt biếc, vì em có đôi mắt buồn và đẹp ẩn nỗi vui bất ngờ sẵn sàng biếc lên. Đôi mắt ấy không còn ngây thơ như ngày nào mà đã gom gần hết mấy mùa nắng hạ mưa đông để đọng thành hai hồ thu lặng lẻ.

Bài thơ ấy tôi đã để quên trên bàn học của Dũng vì không có thừa đủ dũng khí để trao cho em. Coi như là cảm xúc bất chợt đến từ cơn gió lạ mùa thu tựu trường, thoang thoảng mùi giấy mới yêu thương bữa tôi vừa mới chớm biết ngẩn ngơ trước tà áo tinh khôi của cô bạn nhỏ.  Vừa biết thương màu khuynh diệp xanh lá sân trường. Vừa biết nao nao khi những cơn mưa rào chợt đến rồi chợt đi.

 Song Mai, em kế tôi, nó học thua tôi một lớp, một hôm vừa đi học về đã theo tôi gạ chuyện:
  -Anh có biết chị Thúy Phương không?
 Tôi ậm ừ giả vờ như không:
   -Phương phường gì ai hơi đâu mà để ý!
  -Ôi anh hai ngố ơi! Thúy Phương hoa khôi trường của em, đám con trai các anh ai mà không biết tiếng.
 Chỉ có nó ngố mới hỏi câu này thôi, tôi cười thầm và hỏi tới:
  -Mà sao đã chứ?
  -Chị ấy vừa học giỏi vừa hát hay nè. Em vào ban văn nghệ của trường mới quen được với chỉ.
 -Rồi sao nữa?
 -Tụi em đang tập điệu vũ cho bài hát Trống cơm, em giả trai để đưa chị ấy về dinh...
Tôi cười phá lên:
 -Cái nước da đen của mi thì thầy cô chọn giả trai là đúng rồi, hợp với vai nông dân lắm.
Con nhỏ ứ ứ trong miệng rồi nhào tới đấm lưng tôi thùm thụp.

Đêm hội diễn văn nghệ của các trường trong tỉnh được tổ chức trong trường của tôi. Tôi đến sớm đứng trước cổng để đợi em gái mình có mặt trong tiết mục múa bài Trống Cơm. Chiếc xe Renaul chở ban văn nghệ của trường Nữ vừa xịch đổ thì Song Mai đã nhảy xuống cười tươi giới thiệu từng bạn với tôi. Tôi cũng cười tươi chào đón lại, nhưng đứng trước Thúy Phương thì tôi bị luống cuống. Song Mai ghé tai tôi nói nhỏ:- Con trai gì mà dở òm, rồi nó quay qua Phương mà mắt thì nháy tôi - Anh xách giùm cho chị Phương cái nón ba tầm chút coi! Tôi lật đật đỡ cái nón to đùng trên tay em và nghe nhịp tim đập thình thịch từ tiếng lí nhí cám ơn.

Ngoài tiết mục múa ra, em còn đơn ca bài Thương Ca Mùa Hạ: "Hè về rồi đây tâm hồn xuyến xao. Nhắc đến biệt ly thương cảm nỗi sầu. Tiếng ve nức nở chan chứa, sân trường còn lại hai đứa ầm tay nhau nói gì cũng buồn"  

Từng nốt nhạc bổng trầm, lời ca buồn cắt ruột.  Em chọn hát ngay trong buổi chia tay cuối cùng của năm trung học. Bước lui sau cánh gà, đôi mắt của em đỏ hoe. Tôi đứng sẵn ở đó để được nhìn em cho rõ. Mùa hạ cuối cùng rồi, chúng tôi mai đây mỗi người mỗi ngã. Tôi không còn rụt rè ngô nghê như thường ngày nữa, bước lại gần tôi bạo dạn nắm lấy tay em. Em bất ngờ gục đầu trên vai tôi khóc nức nở. Cả hậu trường mọi người đều đổ xô nhìn hai đứa, kể cả em gái tôi cũng tròn xòe đôi mắt...
Không ai biết em chỉ mượn tạm bờ vai của tôi dể biểu lộ cảm xúc nhất thời chỉ vì bài hát, vì không khí chia tay của một đêm văn nghệ cuối của tuổi học trò. 

                                                                           o0o

Mấy năm sau tôi cùng em gái từ Sài Gòn về lại Quảng Ngãi để dự buổi họp mặt cựu học sinh trường Nữ trung học. Tôi muốn về lại miền đất dấu yêu đã nuôi dưỡng tôi lớn lên để được ngắm nhìn loanh quanh thị xã nhỏ bé êm đềm ngày xưa, và nhất là muốn được đi lại con đường Phan Bội Châu hai hàng phượng già tỏa cành xuống che mát một thời trẻ dại. Những chùm hoa đỏ màu ly biệt kia sẽ thầm thì nhắc tôi về tháng ngày mù tăm ký ức. Nơi đó có nhiều khi tôi đứng lại nhìn vào cổng trường em như một tên thường dân lén nhìn vào cấm cung nhốt đám học trò mỹ nữ.

Thúy Phương đã có chồng, chồng của em không ai xa lạ mà chính là Nguyễn Dũng bạn của tôi.Tôi và Dũng, Song Mai và em ôm chầm nhau sau bao ngày xa cách. Dũng vẫn hoạt bát khôn ngoan già dặn. Em vẫn đẹp và ngầm nghịch tinh như ngày nào.

Sau những nghi thức của buổi họp mặt là phần ban tổ chức tặng cho khách mời mỗi người mỗi quyển kỷ yếu của nhà trường. Tôi ngồi lơ đãng nhìn từ đại sảnh của khách sạn ra ngoài sông Trà đang im chảy một dòng xanh hoài niệm. Em cầm quyển kỷ yếu đến bên tôi khoe một trang thơ đã lật sẵn:
  -Anh Vũ ơi! Anh xem bài thơ của anh Dũng nè, bài thơ này ảnh làm hồi mới theo tán tỉnh Thúy Phương , và cũng nhờ nó mà Phương mới bị xiêu đổ đó.

Tôi ngạc nhiên nghĩ bụng, thằng Dũng hồi đó đâu có thơ thẩn gì đâu! Đọc bài thơ có tựa đề là Mắt biếc. tôi không thể tin nỗi bài thơ đầu tiên tôi làm cho Thúy Phương, nhưng vì nhút nhát tôi đã không dám đem tặng cho em ngày ấy, bây giờ lại được ký tên tác giả là Nguyễn Dũng!

Vô tình không để ý đến sự ngạc nhiên của tôi. Thúy Phương vẫn rạng rỡ nét mặt:
-Em lưu giữ bài thơ này như một kỷ niệm đẹp của"cái buổi ban đầu lưu luyến" Nay đem ra gửi đăng vào kỷ yếu của trường để nhớ lại một thời...
 Thoáng ngạc nhiên đã qua đi, tôi trở lại bình thường gật đầu với em:
 -Đúng vậy đó Thúy Phương. Bài thơ đầu tay của...một thời
Một thời, ừ một thời của tôi đó, đến bây giờ em vẫn chưa hay tiếng cười hồn nhiên em đã khuấy động từng con đường hoa niên xa cũ. Những sáng mai áo trắng học trò trắng đầy đường đến lớp, sương trắng bàng bạc trên ngọn cây. Những chiều ngồi trong lớp học cour Pháp văn ngó ra ngã ba Bồ Đề mưa bay bay mờ hai hàng khuynh diệp. Mơ hồ tiếng guốc em đi về gõ trên lối mòn Chấn Ký mênh mang...

Song Mai đã nhiều lần trách tôi quá khờ khạo không dám ngõ lời để vuột mất đi mối tình thơ. Tôi lại không tự trách mình, nếu là tình thơ thì sự không chiếm hữu được sẽ càng tăng thêm... thơ hơn. Quảng Ngãi và em đã cho tôi bấy nhiêu cũng đủ có kỷ niệm để nhớ về. Sợ là mình không còn gì để nhớ, sợ nhất là trong tâm tưởng ngày càng khô hạn mà thời gian cứ vô tình như thể bóng mây trôi.

Mà tôi nào có bị mất đâu, vẫn được đấy chứ! Thành phố tuổi thơ có dòng sông uốn khúc trôi hoài màu tà dương Thiên Ấn vào ký ức...Trong  tôi vẫn còn Thúy Phương từ hồi còn là cô bé tiểu học ngày ngày nhảy chân sáo đi đến trường. Cho đến ngày trở thành thiếu nữ ngượng ngùng diện cho mình tà áo dài trắng bay trong nắng là lụa reo vui. Vẫn còn Nguyễn Dũng, Phan Thẩm từ hồi còn bắn bi đánh đáo cho đến ngày mới lớn,  ngoài giờ học rủ nhau về vùng quê rong chơi với lúa ruộng mía đồng thân thương bát ngát.
Dũng cầm ly bia lại mời tôi: -Nào ta cạn ly mừng tình quê tình bạn của chúng mình mãi mãi bền lâu. Tôi đứng dậy hai tay choàng qua hai  vai hai bạn:- Nào nào mừng ngày hội ngộ, mừng hạnh phúc hai bạn. Bữa nay chúng ta phải say nhé!
Thúy Phương và Song Mai cùng chụm ly lại. Tiếng cười chúng tôi hòa chung với tiếng cười của bè bạn cựu học sinh khác. Như âm vang ngày vui trẻ dại của thuở thanh tân tự đâu đó vọng về. Như chưa hề cách xa, ngoài kia vẫn trời xanh mây trắng!
                      
  

Trương Đình Tuấn                                                                               
truonghuynhtth@gmail.com
0975654943
truonghuynh.vnweblogs.com
READ MORE - TRƯƠNG ĐÌNH TUẤN - BÀI THƠ ĐẦU TAY

Monday, October 12, 2009

TRƯƠNG ĐÌNH TUẤN - CHÙM THƠ



Trương Đình Tuấn sinh năm 1956
Quê Quán: Giáo Liêm, Triệu Độ, Triệu Phong, Quảng Trị
Hiện nay ở tại thị xã Đồng Xoài Tỉnh Bình Phước
Hội Viên Hội VHNT tỉnh Bình Phước





PHÍA KHÔNG NHAU

Còn chén rượu đào thì cứ nhấp
Ngày lơ mơ dễ được mấy lần
Mai hoàng hạc xa bay về núi
Lửa tàn hương nhạt lấy gì vui?
Còn rượu thì còn sa cánh nhạn
Còn thơ thì cứ ngất ngư say
Mai lỡ hồn khô như gỗ đá
Ngồi ngu ngơ tựa lấy bóng mình
Vẽ mắt phượng em nhìn bối rối
Ngày chưa nghe kỳ hạn giao mùa
Vẽ bóng chiều gùi buồn lên núi
Tay rú rừng vẫy gọi cơn mưa
Thôi kệ, buồn chi ngày tạm trú
Mua vui cho hết khúc sông hồ
Hề, giũ đi em tà gió bụi
Dắt nhau về một phía không nhau






GIẤC MƠ CỎ

Có khi thấy mình là rơm rạ
Nằm dưới mùa trăng nhớ mong manh
Thon thả tay ngà hằng gieo lụy
Níu tơ trời khâu vá ngày xanh
Có khi thấy mình là giun dế
Mải mê mùi đất dậy bên đường
Suối chảy tiếng cười đêm hạnh ngộ
Xanh từng lọn tóc cỏ hồi hương







NHỚ QUÊ

Ở đó còn lại con sông
Khúc thơ thẩn ngóng khúc tần ngần trôi
Bên bờ lở ngó bên bồi
Đò ngang chưa kịp bắc lời nhớ thương
Ở đó còn lại con đường
Sương giăng lá rũ phố phường ngủ quên
Nỗi buồn tuổi dại không tên
Vu vơ ghé lại đậu thềm mưa bay
Ở đó em chưa hề hay
Mối tình ta giữ để say với đời
Chân đi lòng gửi lại rồi
Áo cơm chi để nửa trời nhớ quê

TRƯƠNG ĐÌNH TUẤN


ĐỌC TIẾP



READ MORE - TRƯƠNG ĐÌNH TUẤN - CHÙM THƠ